1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khoá luận tốt nghiệp thực trạng sử dụng phương pháp dạy học toán lớp 3 theo mô hình trường học mới (VNEN) ở trường tiểu học hữu hòa thanh trì hà nội

63 1,1K 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 63
Dung lượng 484,31 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chương trình môn Toán ở Tiểu học về cơ bản được xây dựng trên cơ sở các hoạt động của người học và người dạy, thể hiện quan điểm học theo phương pháp trải nghiệm.. Tuy nhiên vẫn còn nhiề

Trang 1

ĐẠI HỌC Sư PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC

so ca ca

NGUYỄN THỊ THÙY LINH

THƯC TRANG sử DUNG PHƯƠNG PHÁP DAY HOC TOÁN LỚP 3 THEO MÔ HÌNH TRƯỜNG HỌC MỚI ( YNEN)

Ở TRƯỜNG TIỂU HOC HỮU HÒA - THANH TRÌ - HÀ NÔI

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Giáo dục học

Người hướng dẫn khoa học: ThS Trần Thanh Tùng

HÀ NỘI, 2016

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới thầy giáo - ThS Trần Thanh Tùng, người đã luôn tận tình hướng dẫn, động viên và giúp đỡ tồi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn này

Qua đây, tôi xin gửi lời cảm ơn Ban giám hiệu, các thầy cô giáo cùng các

em học sinh trường Tiểu học Hữu Hòa đã nhiệt tình cộng tác, tạo điều kiện thuận lợi, giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu đề tài

Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới những người thân trong gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã luôn bên tôi, động viên, khích lệ và tạo điều kiện tốt nhất để tôi hoàn thành đề tài!

Hà Nội, thảng 5 năm

2016 Tác gi ả

Nguyễn Thị Thùy Linh

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là đề tài nghiên cứu do tôi thực hiện

Các số liệu và kết quả trong luận văn là hoàn toàn trung thực và chua đuợc công bố trong bất cứ công trình khoa học nào truớc đây

Hà Nội, thảng 5 năm 2016

Tác giả

Nguyễn Thị Thùy Linh

Trang 4

MUC LUC

• •

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Khách thể, đối tượng nghiên cứu 2

4 Giới hạn, phạm vi nghiên cứu 2

5 Giả thuyết khoa học 2

6 Nhiệm yụ nghiên cứu 3

7 Phưong pháp nghiên cứu 3

8 Kế hoạch nghiên cứu 3

9 Cấu trúc của đề tài 3

CHƯƠNG 1 Cơ SỞ LÝ LUẬN VÈ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC 5

MÔN TOÁN LỚP 3 THEO MÔ HÌNH TRƯỜNG HỌC MỚI 5

1.1 Tổng quan lịch sử vấn đề nghiền cửu 5

1.1.1 Những nghiên cứu về phương pháp dạy học 5

1.1.2 Những nghiên cứu về phương pháp dạy học môn Toán 6

1.2 Một số vấn đề về phưong pháp dạy học 8

1.2.1 Khái niệm về phương pháp dạy học 8

1.2.2

Phân loại phương pháp dạy học 9

1.2.3 Những nghiên cứu về phương pháp dạy học theo mô hình trường học mới 11

1.3 Những định hướng đổi mói phương pháp dạy học trong các trường Tiểu hoc 11

Trang 5

chương trình và phương pháp giáo dục 11

1.3.2 Định hướng về phương pháp dạy học Toán ở Tiểu học 12

1.4 Phương pháp dạy học môn Toán lớp 3 theo mô hình trường học mới 13 1.4.1

Vài nét về nội dung chương trình Toán lớp 3 theo VNEN 13

1.4.2

Đăc điểm day hoc môn Toán Tiểu hoc theo VNEN 13

1.4.3 Điều kiện thực hiện phương pháp dạy học môn Toán theo VNENIA 1.4.4 Lý luận về quy trình và kỹ thuật tiến hành phương pháp dạy học Toán lớp 3 theo VNEN 14

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG sử DỤNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TOÁN LỚP 3 THEO MÔ HÌNH TRƯỜNG HỌC MỚI ( VNEN) 19

2.1 Vài nét về trường Tiểu học Hữu Hòa - Thanh Trì - Hà nội 19

2.2 Thực trạng về việc sử dụng phương pháp dạy học Toán theo VNEN20 2.2.1 Tồ chức đánh giá thực trạng 20

2.2.2 Kết quả đánh giá thực trạng 21

CHƯƠNG 3.NGUYÊN TẮC, QUY TRÌNH VÀ KỸ THUẬT TIẾN HÀNH PHƯƠNG PHÁP DAY HOC TOÁN LỚP 3 THEO VNEN 29

• • 3.1 Các nguyên tắc 29

3.2 Quy trình và kĩ thuật tiến hành phương pháp dạy học Toán lóp 3 theo VNEN 29

29

Trang 6

38

dạy học Toán lớp 3 theo VNEN 45

KẾT LUÂN VÀ KIẾN NGHI 46

• •

TÀI LIỆU THAM KHẢO 49 PHỤ LỤC

DANH MUC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT

Trang 7

Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII đã khẳng định: “ Phải đổi mới phương pháp

giáo dục đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của học sinh Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh

Chương trình môn Toán ở Tiểu học về cơ bản được xây dựng trên cơ sở các hoạt động của người học và người dạy, thể hiện quan điểm học theo phương pháp trải nghiệm Mỗi kiến thức Toán trong chương trình được thiết kế dưới dạng cung cấp thông tin và chỉ dẫn các hoạt động học tập, nhằm làm cho người học, bằng hoạt động của mình, dưới sự điều khiển của giáo viên, tự xây dựng nên kiến thức cho bản thân Hiện nay, các trường tiểu học đang tích cực thực hiện dạy học theo mô hình trường Tiểu học mới ở Việt Nam Điểm nổi bật của mô hình này dạy học bằng trải nghiệm Với cách viết nội dung mới, hình thức tổ chức mới đòi hỏi giáo viên phải sáng tạo trong việc tổ chức hoạt động, sử dụng phương pháp dạy học Tuy nhiên vẫn còn nhiều giáo viên, đặc biệt là giáo viên những trường Tiểu học mới áp dụng mồ hình trường Tiểu học mới ( VNEN) ở ngoại thành của thành phố Hà nội như trường Tiểu học Hữu Hòa - Thanh Trì - Hà nội, vì nhiều lý

do nên còn gặp những khó khăn trong dạy học môn Toán, nhất là Toán lớp 3, dẫn đến hiệu quả của việc dạy và việc học chưa cao

Trang 8

2

Xuất phát từ những lý do trên tôi chọn vấn đề: “ Thực trạng sử dụng phương pháp dạy học Toán lớp 3 theo mồ hình trường học mới ( VNEN) ở trường Tiểu học Hữu Hòa - Thanh Trì - Hà Nội” làm đề tài nghiên cứu

2. Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu lí luận và thực trạng sử dụng phương pháp dạy học mồn Toán lớp 3 theo chương trình VNEN Từ đó, đề xuất một số quy trình và kỹ thuật dạy học nhằm nâng cao kết quả giảng dạy môn học này

3. Khách thể, đối tượng nghiên cứu

Thực trạng sử dụng phương pháp dạy học Toán lớp 3 theo mô hình trường học mới (VNEN)

Thực trạng sử dụng phương pháp dạy học theo mồ hình trường học mới ( VNEN)

4. Giới hạn, phạm vỉ nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu về thực trạng sử dụng phương pháp dạy học môn toán lớp 3 theo chương trình VNEN

Nghiên cứu tại trường Tiểu học Hữu Hòa - Thanh Trì - Hà nội

5. Giả thuyết khoa học

Việc dạy học mồn Toán theo mô hình trường học mới đã đạt được những kết quả nhất định, song bên cạnh đó vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế, thiếu sót, đặc biệt là về phương pháp dạy học Nếu việc dạy học mồn Toán lớp 3 theo mô hình trường học mới áp dụng những quy trình và kỹ thuật dạy học phù họp sẽ làm nâng cao kết quả dạy học

Trang 9

3

6. Nhiệm vụ nghiên cứu

- Hệ thống hóa cơ sở lí luận của đề tài

- Phân tích, đánh giá thực trạng sử dụng phương pháp dạy học môn Toán lớp 3 theo chương trình VNEN

- Đề xuất quy trình và kĩ thuật dạy học một số bài trong môn Toán lớp 3 theo mô hình trường học mới

7. Phương pháp nghiên cứu

_ Tổng quan các thành tựu lý luận về phương pháp dạy học, phương pháp dạy học tích cực, phương pháp dạy học VNEN

_ Khái quát hóa để xây dựng khái niệm, xây dựng cơ sở lý thuyết của đề tài

7.2.1 Phương pháp quan sát

7.2.2 Phưomg pháp điều tra

7.2.3 Phương pháp tổng kết kinh nghiệm giáo dục

7.2.4 Phương pháp phỏng vấn

- Tháng 12 : Nhận đề tài và lập đề cương nghiên cứu

- Tháng 2 - 3 : Khảo sát và tìm hiểu thực trạng

- Tháng 4 : Xử lý số liệu và hoàn thành khóa luận

- Tháng 5: Bảo vệ đề tài

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và kiến nghị, đề tài nghiên cứu gồm 3 chương:

Trang 10

4 CHƯƠNG 1: Cơ SỞ LÝ LUÂN VỀ PHƯƠNG PHÁP DAY HOC MÔN

• • •

TOÁN LỚP 3 THEO MÔ HÌNH TRƯỜNG HỌC MỚI

CHƯƠNG 2: THƯC TRANG sử DUNG PHƯƠNG PHÁP DAY HOC

• * • • •

TOÁN LỚP 3 THEO MÔ HÌNH TRƯỜNG HỌC MỚI ( VNEN)

CHƯƠNG 3: NGUYÊN TẮC, QUY TRÌNH VÀ KỸ THUẬT TIẾN HÀNH PHƯƠNG PHÁP DAY HOC TOÁN LỚP 3 THEO VNEN

• •

Trang 11

5

NÔI DUNG CHƯƠNG 1 Cơ SỞ LÝ LUÂN VỀ PHƯƠNG PHÁP DAY HOC

• • •

MÔN TOÁN LỚP 3 THEO MÔ HÌNH TRƯỜNG HỌC MỚI

1.1 Tổng quan lịch sử vấn đề nghiên cứu

Đổi mới phương pháp dạy học nhằm tích cực hóa hoạt động nhận thức của người học là một trong những vấn đề thời sự của giáo dục, được xã hội quan tâm, thường xuyên, được phản ánh trên tạp chí, phương tiện thông tin đại chúng và ở nhiều diễn đàn, hội thảo khoa học Trong lịch sử nhân loại, ý tưởng về phương pháp dạy học phát huy cao độ tính tích cực của người học đã được các nhà tư tưởng lớn, các nhà giáo dục của thời đại đề cập đến như một nguồn sáng soi rọi, dẫn đường cho giáo dục phát triển như: trong “ Đàm giáo” của Khổng Tử ( 551 -

479 ), trong “ Phương pháp đàm thoại” của Socrates ( 469 - 399 ), trong lý luận dạy học của Komensky ( 1592 - 1670 )

Trong thế kỉ XX, các nhà giáo dục Đông, Tây đều tìm đến con đường phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học cụ thể như: Kharlamop, nhà giáo dục Xồ Viết, trong cuốn “ Phát huy tính tích cực của học sinh như thế nào?”

đã viết trong phần lời nói đầu: “ Một trong những vấn đề căn bản mà nhà trường

Xô Viết hiện đang lo lắng và giải quyết là việc phát huy tính tích cực trong hoạt động nhận thức của học sinh trong quá trình dạy học

Ở nước ta, ngay từ những năm 60 của thế kỉ XX, dạy học tích cực đã bắt đầu được đề cập một cách trực tiếp hoặc gián tiếp trong giáo trình Giáo dục học, Tâm lý học, phương pháp giảng dạy bộ môn Trong các trường sư phạm đã xuất hiện các tư tưởng “ Phương pháp giáo dục tích cực”, khẩu hiệu “ Biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo” Năm 1979, tập thể cán bộ trung tâm thực nghiệm giáo dục phổ thông Giảng Võ - Hà Nội ( Trung tâm công nghệ giáo dục )

đã tiến hành nghiên cứu thực nghiệm đề tài cấp Nhà nước với tên gọi: Mô hình

Trang 12

6

nhà trường mới theo khả năng phát triển tối ưu của trẻ em Việt Nam hiện đại Đe tài do GS TSKH Hồ Ngọc Đại, giám đốc trung tâm làm chủ nhiệm đề tài Nhân vật trung tâm của mô hình nhà trường này là trẻ em Công trình nghiên cứu khoa học đã được Hội đồng khoa học nghiệm thu và đánh giá kết quả tốt

Bên cạnh đó có thể kể đến những tác giả khác đã có những cuốn sách nghiên cứu về phương pháp dạy học theo hướng tích cực như: Trần Bá Hoành (

2001 ) với cuốn “ Bàn về phương pháp dạy học tích cực hiện nay” Nguyễn Ngọc Bảo ( 1995 ) “ Phát triển tính tích cực, tự lực của học sinh trong quá trình dạy học, hay Trần Bá Hoành ( 2002 ) Những đặc trưng của phương pháp dạy học tích cực Tạp chí Giáo dục số 32

Phương pháp dạy học theo VNEN thực chất là để học sinh tự học, tự khám phá Sự kiến tạo kiến thức cho học sinh được đặt lên hàng đầu Nghiên cứu về vấn đề kiến tạo kiến thức này đã được nhiều nhà khoa học quan tâm từ lâu

Theo những nghiên cứu của chúng tôi, đến thời điểm này, lý thuyết về kiến tạo được tiếp cận ở những góc độ sau:

Hướng thứ nhất: Tiếp cận nghiên cứu chỉ ra khái niệm về dạy học theo

quan điểm kiến tạo

Hướng nghiên cứu này có những kết quả của những tác giả sau đây:

Nguyễn Hữu Châu 2005 ) [2 ], Mebrien và Brandt (1997 ) đã chỉ ra “ Kiến tạo là một cách tiếp cận “ dạy” dựa trên nghiên cứu về việc học với niềm tin rằng: Tri thức được tạo nên bởi mỗi cá nhân người học sẽ trở nên vững chắc hơn rất nhiều so với việc nó được nhận từ người khác” Còn theo Brooks (1993 ) thì

“Quan điểm kiến tạo trong dạy học khẳng định rằng học sinh cần phải kiến tạo nên những hiểu biết về thế giới bằng cách tổng họp những kinh nghiệm mới vào trong cái mà họ đã có trước đó” Cụ thể hơn về hoạt động dạy học toán theo quan điểm kiến tạo, Trần Thúc Trình (2004 ) [13 ] và Glasersíeld ( 1991 ) cho rằng : “ Dạy có nhiệm vụ ủy thác cho học sinh những mô hình phỏng đoán và khái quát

Trang 13

7

hóa những giả thiết về tình hình học sinh có những cơ hội nào để tác động đến những cấu trúc của họ, sao cho dẫn đến những hoạt động toán học mong đợi và mục đích của người dạy”

Hướng thứ hai: Tiếp cận nghiên cứu nhằm xác định một số luận điểm cơ

bản của dạy học toán theo quan điểm kiến tạo

Một số nghiên cứu về hướng này của các tác giả đã thu được kết quả khả quan Cao Thị Hà (2006) [9], đã xác định được 5 luận điểm là nền tảng của lý thuyết kiến tạo trong dạy học môn toán ở bậc THPT như sau:

- Tri thức được học sinh chủ động sáng tạo và phát hiện, chứ không phải thụ động tiếp nhận từ môi trường bên ngoài;

- Học là một quá trình mang tính xã hội mà trong đó học sinh dần tự hòa mình vào hoạt động trí tuệ của những người xung quanh;

- Những tri thức mới mà cá nhân nhận được từ việc điều chỉnh lại thế giới quan của họ cần phải đáp ứng được những yêu cầu mà tự nhiên và thực trạng xã hội đặt ra;

- Học sinh đạt được tri thức mới do chu trình;

Tri thức đã có ỳ Dự đoán ỳ Kiểm nghiệm (thất bại) ỳ Thích nghi

-ỳ Kiến thức mới

- Tác giả Trần Anh Tuấn (2005) cũng đã xác định những luận điểm sau đây là nền tảng của dạy học môn toán theo quan điểm kiến tạo:

- Hoạt động là nguồn gốc nảy sinh và phát triển tri thức;

- Nhận thức là quá trình thích nghi và sắp xếp lại thế giới quan của chính người học;

- Mâu thuẫn là động lực của sự phát triển Con người nhận thức thế giới bằng các thao tác trí tuệ để giải quyết sự mất cân bằng giữa kiến thức kĩ năng của

họ với yêu cầu mới của môi trường sống Các thao tác trí tuệ này ở mức độ nào cũng thực hiện sự đồng hóa và điều tiết để tạo ra một sự cân bằng;

- Vai trò của cá nhân và vai trò của môi trường được coi trọng trong quá

Trang 14

8

trình kiến tạo tri thức của mỗi cá nhân;

- Lý thuyết kiến tạo dựa trên cơ sở tất cả các tri thức đều phải là snar phẩm của hoạt động nhận thức, bằng cách xây dựng tri thức mới trên những tri thức đã được kiến tạo;

- Hướng thứ ba: Tiếp cận nghiên cứu học sinh nhằm xác định các năng

lực kiến tạo kiến thức toán của học sinh

Ở hướng nghiên cứu này, tác giả Đào Tam (2007 ) [15 ], đã xác định, để kiến tạo kiến thức toán, học sinh cần có những năng lực sau đây:

- Năng lực phát hiện vấn đề, phương pháp dựa trên cơ sở các quy luật tư duy biện chứng, tư duy tiền logic, khả năng liên tưởng và di chuyển các liên tưởng;

- Năng lực định hướng tìm tòi cách thức giải quyết vấn đề, tìm lời giải các bài toán;

- Năng lực huy động kiến thức để giải quyết các vấn đề toán học ;

- Năng lực lập luận logic, lập luận có căn cứ giải quyết chính xác các vấn

đề đặt ra;

- Năng lực đánh giá, phê phán

Có thể nói, lý thuyết kiến tạo là một lý thuyết tương đối trừu tượng và hiện đang còn mới ở Việt Nam Các kết quả nghiên cứu của các tác giả trên đã có những đóng góp quan trọng trong việc lựa chọn, xây dựng các phương pháp dạy học toán hướng tập trung vào người học

1.2 Một số vấn đề về phương pháp dạy học

Trang 15

[ 16 ].

9

Phương pháp nói chung là con đường, cách thức để đạt mục đích nhất định

Từ khái niệm chung này có nhiều tác giả có định nghĩa khác nhau về phương pháp dạy học

Theo Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt thì phương pháp dạy học là tổ họp các cách thức hoạt động của thầy và trò trong quá trình dạy học được tiến hành dưới vai trò chủ đạo của thầy, nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ dạy [12 ]

Định nghĩa này được xây dựng từ quan điểm cho rằng phương pháp dạy học là phương pháp được xây dựng và vận dụng vào quá trình dạy học có tính hai mặt: Hoạt động dạy của thầy và hoạt động học của trò, vì thế phương pháp dạy học là tổ họp các cách thức dạy của thầy và cách thức học của trò

Theo Nguyễn Ngọc Bảo, Trần Kiểm thì phương pháp dạy học là hệ thống những hành động có chủ đích theo một trình tự nhất định của giáo viên để tổ chức hoạt động nhận thức và hoạt động thực hành của học sinh nhằm đảm bảo cho họ lĩnh hội nội dung dạy học và chính nhờ vậy mà đạt được mục tiêu dạy học Từ định nghĩa này ta thấy phương pháp dạy học là phương pháp dạy và phương pháp học tác động biện chứng với nhau, trong đó, phương pháp dạy đóng vai trò chủ đạo, quyết định phương pháp học, còn phương pháp học có tính độc lập tương đối chịu sự chi phối của phương pháp dạy đồng thời tác động trở lại phương pháp dạy

Trong đề tài này khái niệm phương pháp dạy học được hiểu là Tổ hợp các

cách thức hoạt động tương hỗ giữa thầy và trò, được tiến hành dưới vai trò chủ đạo của thầy trong quá trình dạy học, nhằm đạt được mục đích dạy học

Chúng ta cùng xem xét lại hệ thống PPDH đã được các tác giả trên thế giới

và ở Việt Nam phân loại dựa trên các tiêu chí khác nhau:

Ở Liên Xô trước đây có rất nhiều quan điểm khác nhau về phân loại hệ thống PPDH, có thể kể ra một số hệ thống phổ biến nhất

Trang 16

10

- Phân loại theo nguồn kiến thức và theo đặc điểm tri giác (S.I.Petrovski

và E.Ia.Golan): dùng lòi, trực quan, thực hành

- Phân loại theo các nhiệm vụ cơ bản lý luận dạy học (M.A Danhilo V, B.p Exipov) các phương pháp truyền thụ kiến thức, hình thành kĩ năng, kĩ xảo ứng dụng tri thức; hoạt động sáng tạo; củng cố; kiểm tra

- Phân loại theo đặc điểm hoạt động nhận thức của HS: giải thích, minh họa, tái hiện, giới thiệu vấn đề, tìm kiếm từng phần (hay ơristic ), nghiên cứu (M.N.Stakin, I.Ia.Lecne)

- Phân loại theo hoạt động dạy học: thông báo và thu nhận, giải thích và tái hiện, thiết kế thực hành và tái hiện thực hành, giải thích, kích thích và tìm hiểu (M.I.Macmutov)

- Năm 1983, Iu.K.Banbanxki đã đề xuất một hệ thống PPDH khác, phổ biến rộng rãi ở Liên Xô; bao gồm: Các phương pháp tổ chức và thực hiện hoạt động học tập nhận thức; các phương pháp kích thích và xây dựng động cơ học tập, các phương pháp kiểm tra

Ở nước ta, một số tác giả cũng đưa ra một vài cách phân loại các hệ thống PPDH, chẳng hạn như:

- Dựa vào bản chất bên trong của các phương pháp và cách thức tổ chức nhận thức, tác giả Lê Khánh Bằng đã chia PPDH thành:

+ Phương pháp dạy học thông báo tái hiện

+ Phương pháp dạy học nêu vấn đề

+ Phương pháp dạy học nghiên cứu

- Dựa vào dấu hiệu về nguồn tri thức, tác giả Đặng Vũ Hoạt đã chia hệ thống PPDH thành 3 nhóm:

+ Nhóm phương pháp dùng lời + Nhóm phương pháp dạy học trực quan + Nhóm phương pháp dạy học thực tiễn Sự đa dạng và phong phú về việc phân loại hệ thống các PPDH trên đây cho thấy, PPDH là một vấn đề vô cùng phức tạp và có nhiều khía cạnh nhìn

Trang 17

11

nhận, là trung tâm chú ý của các nhà giáo dục các nước Có thể nói cho đến nay đây vẫn là một hiện tượng sư phạm nhiều quan điểm, còn nhiều vấn đề đang được tranh luận, chưa có ý kiến thống nhất

mới Từ khi mô hình trường học mới ở Việt Nam ra đời có nhiều bài báo

viết về

phương pháp dạy học theo mô hình này điển hình như: “Dạy học bài toán về nhiều hơn ở lớp 2 theo hướng tổ chức cho học sinh trải nghiệm, khám phá” của tác giả Hoàng Mai Lê - Vụ Giáo dục Tiểu học Đăng trên Chuyên đề Giáo dục Tiểu học tập 50/2011; “ Dạy học mồn Toán ở tiểu học trên cơ sở tổ chức các hoạt động trải nghiệm, khám phá và phát hiện” của tác giả Đỗ Tiến Đạt - Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam Đăng trên Chuyên đề Giáo dục Tiểu học tập 51/2011, Tuy nhiên, việc nghiên cứu về thực trạng sử dụng phương pháp dạy học toán lớp

3 theo mồ hình trường học mới để đề xuất một quy trình và kĩ thuật chi tiết hỗ trợ cho các giáo viên tại trường tiểu học ở khu vực ngoại thành của thành phố Hà Nội vẫn còn là một khoảng trống

1.3 Những định hướng đổi mới phương pháp dạy học trong các trường Tiểu học

Đổi mói PPDH là đưa các PPDH mới vào nhà trường trên cơ sở kế thừa và phát huy mặt tích cực của các phương pháp truyền thống để nâng cao chất lượng dạy học, nâng cao hiệu quả đào tạo, góp phần đáp ứng những yêu cầu mới của mục tiêu giáo dục và đào tạo

chương trình và phương pháp giáo dục

Giáo dục và đào tạo là một lĩnh vực rất quan trọng của đời sống xã hội, nó liên quan đến nhiều lĩnh vực khác, cho nên Đảng ta rất chú trọng phát triển Giáo dục và đào tạo Những năm qua quan điểm của Đảng ta về đường lối phát triển

Trang 18

12

giáo dục và đào tạo chủ yếu tập trung ở Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII (Nghị quyết chuyên đề về Giáo dục và đào tạo ); Kết luận của Hội nghị lần thứ 6 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa IX; Nghị quyết Hội nghị lần thứ 9 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa IX; Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc làn thứ

IX, thứ X

Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng nêu rõ: “ ưu tiên hàng đầu

cho việc nâng cao chất lượng dạy và học Đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp dạy và học, nâng cao chất lượng đội ngụ giáo viên

(Đảng cộng sản Việt Nam: văn kiênh Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb CTQG, 2006, Tr.207)

Luật Giáo dục ghi rõ yêu cầu đổi mới là: “ Phương pháp giảo dục phổ

thông phải phát huy tỉnh tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm, rèn luyện lã năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thủ học tập cho học sinh” (Luật Giáo

dục 2005, Nxb LDD, 2005, Tr.30)

Tại Điều 27 Luật Giáo dục ( 2005 ) chỉ rõ mục tiêu của Giáo dục Tiểu học:

“ Mục tiêu giáo dục tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu

cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kĩ năng cơ bản nhất để học sinh tiếp tục học trung học cơ sở n(Luật Giáo dục

2005, Nxb LDD, 2005, Tr.28)

Định hướng chung của phương pháp dạy học toán Tiểu học là dạy học trên

cơ sở tổ chức và hướng dẫn các hoạt động học tập tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh Dưới sự hướng dẫn, giúp đỡ, điều khiển của giáo viên một cách đúng mức và đúng lúc, kết họp với việc sử dụng các đôg dùng dạy học toán để từng học sinh hoặc nhóm học sinh tự phát hiện và tự giải quyết các vấn đề của bài học, tự chiếm lĩnh nội dung học tập rồi thực hành, vận dụng các kiến thức vừa

Trang 19

13

học vào tình huống thực tế trên cơ sở năng lực của từng học sinh

Phương pháp dạy học toán giai đoạn hai ( các lớp 4, 5 ) kế thừa các phương pháp dạy học toán ở giai đoạn 1 ( các lớp 1, 2, 3 ) đồng thời tăng cường các phương pháp dạy học phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh, các phương pháp giúp học sinh tự tìm tòi, chiếm lĩnh tri thức, phát triển năng lực trừu tượng, khái quát hóa trong học tập ở giai đoạn đầu các lớp cuối cấp Tiểu học

1.4 Phương pháp dạy học môn Toán lớp 3 theo mô hình trường học mới

Nội dung chương trình toán 3 VNEN được phân chia thành 98 bài học ứng với 175 tiết học theo chương trình hiện hành Mỗi bài khoảng 1-2 tiết Thiết kế như thế để giãn thời gian học tập các bài học lý thuyết Tạo cho học sinh có sự thư giãn cần thiết và có thời gian thực hành Trong mỗi bài học từng đơn vị kiến thức, từng kĩ năng cơ bản được thể hiện qua các hành động học tập tương thích của học sinh Các hoạt động được tổ chức phù hợp với khả năng và đặc điểm tâm

lý của học sinh Tiến trình mỗi bài học gồm 3 phần: hoạt động cơ bản, hoạt động thực hành và hoạt động ứng dụng Mỗi hoạt động có logo thể hiện rõ yêu cầu và hình thức hoạt động (cá nhân, cặp đồi, nhóm, lớp, cộng đồng)

• • •' • •

- Quán triệt mục tiêu giáo dục Đảm bảo Chuẩn kiến thức, kĩ năng của chương trình môn Toán tiểu học hiện hành Có thể có những điều chỉnh về nội dung theo hướng cơ bản, tinh giản, thiết thực

- Thực hiện với những trường/lớp dạy học 2 buổi/ngày

- Tạo điều kiện đẩy mạnh đổi mói PPDH và các hình thức dạy học trên cơ

sở tổ chức các hoạt động phát huy tính tích cực, chủ động, khả năng tự học của học sinh

- Thể hiện quan điểm tích họp các nội dung giáo dục, trong đó môn Toán

hỗ trợ, gắn bó với việc dạy học các môn học khác Hạn chế những trùng lặp

Trang 20

14

không cần thiết; giảm mức độ khổ của các kiến thức lý thuyết; tăng khả năng thực

hành, vận dụng; chú ý tích họp với hoạt động phát triển ngôn ngữcủa HS

- Chú trọng khai thác và sử dụng những kinh nghiệm của HS trong đời sống hàng ngày Gắn kết giữa nội dung dạy học với đời sống thực tiễn của HS, cộng đồng

- Giáo viên chủ động, linh hoạt điều chỉnh nội dung dạy học, vận dụng phù họp với đặc điểm của HS và điều kiện, hoàn cảnh dạy học cụ thể của địa phương, của nhà trường

Thứ nhất, để học sinh thực sự trải nghiệm và kiến tạo kiến thức cho bản thân thì các em phải nhận thức tự giác về mục đích học tập đồng thời phải tự lực, tích cực thực hiện nhiệm vụ đó bằng hành động của chính mình

Thứ hai,học sinh phải được rèn luyện khả năng điều khiển, điều chỉnh hoạt động của bản thân

Thứ ba, giáo viên cần khéo léo hướng dẫn học sinh tự thực hiện các hoạt động trải nghiệm để từ đó rút ra những kết luận cần thiết phù họp với mục tiêu học tập [3]

lớp 3 theo VNEN

Theo từ điển Tiếng Việt thì quy trình là trình tự phải tuân theo để tiến hành một công việc nào đó Vậy quy trình thảo luận nhóm là trình tự phải tuân theo trong thảo luận nhóm

Kỹ thuật theo từ điển Tiếng Việt là những phương pháp, phương thức sử dụng trong một lĩnh vực nào đó của con người

Quy trình PPDH môn toán lớp 3 theo VNEN diễn ra theo 5 bước sau: ( 1 ) Gọi động cơ, tạo hứng thú -> ( 2 ) Trải nghiệm -> ( 3 ) Phân tích, khám phá,

rút ra bài học -ỳ ( 4 ) Thực hành -> ( 5 ) ứng dụng

Bước 1: Gọi động cơ, tạo hứng thú cho học sinh

Trang 21

15

- Kết quả cần đạt: Kích thích sự tò mò, khơi gợi hứng thú của học sinh về

chủ đề sẽ học; học sinh cảm thấy vấn đề nêu lên rất gần gũi với mình Không khí lớp học vui, tò mò, chờ đợi thích thú

- Cách làm: Đặt câu hỏi; đố vui; kể chuyện; đặt một tình huống; tổ chức trò chơi, Thực hiện với toàn lớp, nhóm nhỏ hoặc từng cá nhân học sinh

Bước 2: Tổ chức cho học sinh trải nghiệm

- Kết quả cần đạt: Huy động vốn hiểu biết, kinh nghiệm có sẵn của học sinh để chuẩn bị học bài mới Học sinh trải qua tình huống có vấn đề trong đó chứa đựng những nội dung kiến thức, thao tác kỹ năng làm nảy sinh kiến thức mới

- Cách làm:Tổ chức các hình thức trải nghiệm gần gũi với học sinh Nếu

là tình huống diễn tả bằng lời văn thì câu văn phải đơn giản, gần gũi với học sinh

có thể thực hiện vói toàn lớp, nhóm nhỏ hoặc cá nhân học sinh

Bước 3: Phân tích - Khám phá - Rút ra kiến thức mói

- Cách làm:Dùng các câu hỏi gợi mở, câu hỏi phân tích, đánh giá để giúp

HS thực hiện tiến trình phân tích và rút ra bài học Có thể sử dụng các hình thức thảo luận cặp đôi, thảo luận theo nhóm, hoặc các hình thức sáng tạo khác nhằm kích thích trí tò mò, sự ham thích tìm tòi, khám phá phát hiện của HS Nên soạn những câu hỏi thích hợp giúp HS đi vào tiến trình phân tích thuận lợi và hiệu quả Các hoạt động trên có thể thực hiện với toàn lớp, nhóm nhỏ hoặc cá nhân từng HS

Bước 4: Thực hành - Củng cố bài học

- Kết quả cần đạt:

Trang 22

16

+ HS nhớ dạng cơ bản một cách vững chắc; làm được các bài tập áp dụng

cơ bản theo đúng quy trình

+ HS biết chú ý tránh những sai lầm điển hình thường mắc trong quá trình giải bài toán dạng cơ bản Tự tin về bản thân mình

- Cách làm:

+ Thông qua việc giải những bài tập rất cơ bản để HS rèn luyện việc nhận dạng, áp dụng các bước giải và công thức cơ bản GV quan sát HS làm bài và phát hiện xem HS gặp khó khăn ở bước nào GV giúp HS nhận ra khó khăn của mình, nhấn mạnh lại quy tắc, thao tác, cách thực hiện

+ Tiếp tục ra các bài tập với mức độ khó dần lên phù họp với khả năng của

HS GV tiếp tục quan sát và phát hiện những khó khăn của HS, giúp các em giải quyết khó khăn bằng cách liên hệ lại với các quy tắc, công thức, cách làm, thao tác cơ bản đã rút ra ở trên

+ Có thể giao bài tập áp dụng cho cả lớp, cho từng cá nhân, hoặc theo nhóm, theo cặp đồi, theo bàn, theo tổ HS

Bước 5: ứng dụng

- Kết quả cần đạt:

+ HS được củng cố, nắm vững các nội dung kiến thức trong bài đã học + HS biết vận dụng kiến thức đã học trong hoàn cảnh mới, đặc biệt trong những tình huống gắn với thực tế trong đời sống hàng ngày

+ Cảm thấy tự tin khi lĩnh hội và vận dụng kiến thức mới

Trang 23

17

luận [4 ]

Học sinh học tập theo VNEN thực hiện 10 bước học tập như sau:

Bước 1: Chúng em làm việc nhóm Nhóm trưởng lấy tài liệu và đồ dùng

học tập cho cả nhóm

Bước 2: Em đọc tên bài học rồi viết tên bài học vào vở ồ li (lưu ý không

được viết vào sách )

Bước 3: Em đọc mục tiêu của bài học

Bước 4: Em bắt đầu hoạt động cơ bản (nhớ xem phải làm việc cá nhân hay

theo nhóm )

Bước 5: Kết thúc hoạt động cơ bản em gọi thầy, cô giáo để báo cáo những

gì em đã làm được để thầy, cô ghi vào Bảng đo tiến độ

Bước 6: Em thực hiện hoạt động thực hành:

+ Đầu tiên em làm việc cá nhân;

+ Em chia sẻ với bạn ngồi cùng bàn (giúp nhau sửa chữa những bài làm còn sai sót );

+ Em trao đổi với cả nhóm Chúng em sửa cho nhau, luân phiên nhau đọc ( lưu ý không làm ảnh hưởng đến nhóm khác)

Bước 7: Hoạt động ứng dụng (gắn liền với gia đình và địa phương )

Bước 8 : Chúng em đánh giá cùng thầy, cô giáo

Bước 9: Kết thúc bài, em viết vào Bảng đánh giá (nhớ suy nghĩ kĩ khi viết

và lưu ý về đánh giá của thầy, cô giáo)

Bước 10: Em đã học xong bài mới và em phải học lại phần nào

Kết luận chưong 1

Phưong pháp dạy học là tổ họp các cách thức hoạt động tương hỗ giữa thầy

và trò, được tiến hành dưới vai trò chủ đạo của thầy trong quá trình dạy học, nhằm đạt được mục đích dạy học

Trang 24

có nhiều sự quan tâm.

Trang 25

19 CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG sử DỤNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TOÁN LỚP 3

THEO MÔ HÌNH TRƯỜNG HỌC MỚI ( VNEN) 2.1 Yài nét về trường Tiểu học Hữu Hòa - Thanh Trì - Hà nội

Trường tiểu học Hữu Hòa thuộc xã Hữu Hòa , huyện Thanh Trì - ngoại thành của thành phố Hà Nội Mặc dù trường không nằm trong những trường tiểu học được đầu tư thí điểm, phát triển mô hình trường học mới của quốc gia nhưng vẫn cố gắng bắt kịp xu hướng của ngành giáo dục hiện nay

Tính đến năm học 2015 - 2016 là năm thứ 3 trường Tiểu học Hữu Hòa áp dụng mô hình dạy học theo VNEN Năm thứ nhất nhà trường mạnh dạn đưa một

số lớp của khối 2, 3 vào dạy theo mô hình trường học mới, đến nay tất cả các lớp khối 2, 3, 4 và 5 đều có lớp đã thực hiện theo mô hình này

Sau 3 năm thực hiện thí điểm mồ hình trường học mới VNEN, nhà trường

đã thu được một số kết quả như sau:

- Cơ sở vật chất các lớp học theo mô hình trường học mới ngày càng khang trang

- Giáo viên đã thích nghi và chủ động trong điều chỉnh phương pháp, điều chỉnh nội dung giáo án cho phù hợp với đối tượng học sinh

- Số lớp và số học sinh theo mô hình trường học mới VNEN ngày càng tăng:

- Không chỉ tăng về số lượng mà chất lượng giáo dục cũng có những tiến bộ đáng kể: HS mạnh dạn, tự tin hơn trong giao tiếp; kĩ năng làm việc nhóm có nhiều

Năm hoc 2013 - 2014 • Năm hoc 2014 - 2015 • Năm hoc 2015 - 2016 •

Trang 26

20

tiến bộ, các thành tích khác về học tập, văn hóa vẫn được duy trì và phát huy

- Những e ngại ban đầu của phụ huynh về mô hình trường học mới không còn nữa Phụ huynh hiểu và tích cực ủng hộ nhà trường trong các hoạt động giáo dục HS

Tuy nhiên bên cạnh đó vẫn còn những khó khăn về cơ sở vật chất chưa đáp ứng nhu cầu dạy học; học sinh ở nông thôn nên vốn tiếng Việt và việc giao tiếp chủ động tự nhiên còn hạn chế; những buổi đầu GV rất vất vả do phương pháp dạy học theo VNEN có nhiều điểm mới so với phương pháp dạy học truyền thống

2.2 Thực trạng về việc sử dụng phương pháp dạy học Toán theo VNEN

2.2.1.1 Mục đích và quy mô đánh giá

- Mục đích : Nhằm xây dựng cơ sở thực tiễn cho việc đánh giá xác định quy trình và kỹ thuật dạy học theo VNEN trong việc dạy mồn Toán lớp 3

- Quy mô đánh giá: 5 giáo viên dạy lớp 3 cùng 11 giáo viên khác của các lớp dạy theo VNEN và 225 học sinh lớp 3 trong trường tiểu học Hữu Hòa mà đề tài nghiên cứu

2.2.1.2 Nội dung đánh giá

- Thực trạng về tính tích cực học tập của HS trong học tập môn Toán theo chương trình VNEN

- Thực trạng sử dụng PPDH môn Toán theo VNEN của giáo viên trường tiểu học Hữu Hòa - Thanh Trì - Hà Nội

2.2.13 Phương pháp và kỹ thuật đánh giả

- Quan sát hoạt động dạy và học hên lớp của GV và HS

- Điều tra bằng phiếu điều tra nhằm thu thập thông tin về vấn đề nghiên cứu của GV và HS

- Phỏng vấn, trao đổi với các GV về việc tiến hành 5 bước dạy, 10 bước học tập của học sinh và tính tích cực học tập của HS

Trang 27

Nhận xét chung : Đa số học sinh hứng thú học mồn toán ở mức bình thường nghĩa là không tỏ ra thích hoặc là chán (50,2%)

Qua tìm hiểu thấy đa số học sinh có hứng thú cao trong giờ học toán là những học sinh khá giỏi Tuy nhiên, một số học sinh trung bình, yếu, lười học chưa hứng thú cao vì hổng kiến thức, không có kỹ năng làm việc cá nhân, làm việc cặp đôi, nhút nhát trong thảo luận nhóm

Tìm hiểu mức độ tích cực của học sinh lớp 3, đề tài tiếp tục tìm hiểu mức độ tập trung chú ý trong giờ học Toán theo VNEN Kết quả thu được như bảng 2.2 dưới đây:

Bảng 2.1: Hứng thú trong giờ học môn toán của học sinh

Mức độ Nội dung

Rất thích

Bình thường Chán

1 Tích cực thảo luận nhóm, làm việc cặp đồi 89,7% 1

3 Chăm chú nghiên cứu sách khi làm việc cá nhân 66,7% 2

4 Đặt câu hỏi về vấn đề liên quan đến bài học 30,7% 4

5 Trao đổi vói thầy cô về vấn đề chưa hiểu 23,6% 5

Trang 28

22

Nhận xét chung: Trong giờ học Toán đa số các em tích cực thảo luận nhóm ( 89,7% ), chăm chú nghiên cứu sách khi làm cá nhân (66,7%) Tuy nhiên rất ít học sinh đặt câu hỏi liên quan đến bài học khi gặp khó khăn (30,7%), ít học sinh trao đổi với thầy cô về những điều chưa hiểu (23,6 %)

Đồ tài tiếp tục tìm hiểu về mức độ hiểu bài của học sinh thu được kết quả như bảng 2.3 dưới đây:

Nhận xét chung: Đa số học sinh sau mỗi tiết có khả năng hiểu bài và nhớ một số ý chính (70,2%), các em hiểu bài và giải được các bài tập ứng dụng

(68,9%) vẫn còn một số học sinh không hiểu bài (23,1%)

Kết họp với quan sát và phỏng vấn chúng tôi thấy đa số học sinh hiểu bài và giải được các bài tập ứng dụng là những học sinh khá giỏi và năng động Còn một

số học sinh hiểu bài nhưng không nhớ thì thụ động, ít tích cực trao đổi, trải nghiệm, những em này cũng học trung bình khá nhưng do thụ động không tích cực trao đổi nên kiến thức nắm được còn lơ mơ do đó ít nhớ bài Những học sinh trung bình, yếu, kém thì hầu như không hiểu bài, một số em ngồi chơi khi cô yêu cầu làm việc nhóm, cặp đồi hay cá nhân Một số em ngồi nói chuyện riêng khi không có giáo viên quản lý

Khi tìm hiểu nguyên nhân ảnh hưởng đến tính tích cực học tập của học sinh chúng tôi thu được kết quả như bảng 2.4 dưới đây:

Bảng 2.4: Những nguyên nhân ảnh hưởng đến tính tích cực học tập

Bảng 2.3: Mức độ hiểu bài của học sinh trong tiết học Toán

1 Hiểu bài và giải được các bài tập ứng dụng 68,9% 2

Trang 29

23

Nhận xét chung: Đa số học sinh cho rằng các em chưa tích cực học tập là do chưa có kỹ năng tự học, thảo luận nhóm, báo cáo kết quả học tập, (70,6%), do giáo viên ít quan tâm (48,9%) Một số ít học sinh cho rằng các em chưa tích cực học tập là do các em học yếu từ lớp dưới (31,1 % ), do chương trình theo VNEN khó đối với em (20 %)

Khi học theo chương trình VNEN các em HS lớp 3 học tập theo 10 bước học tập Các em được trải nghiệm với các hình thức học tập: cá nhân, cặp đôi, nhóm, lớp Một số kĩ năng như thảo luận, tự học, phân tích, tóm tắt, báo cáo kết quả học tập của các em chưa tốt Điều này thể hiện việc các em chưa tích cực học tập do chưa có phương pháp học tập Chính vì thế, đa số các em cho rằng giáo viên cần giúp đỡ thường xuyên để hình thành và rèn cho các em một số kỹ năng học tập theo phương pháp mới Nội dung học tập theo VNEN đã được giảm tải nhiều so với chương trình thường nên rất ít học sinh cho rằng nội dung toán 3 khó đối với mình Qua quan sát và phỏng vấn tác giả thấy sở dĩ một số em vẫn cho rằng nội dung Toán 3 khó với mình nên ít tích cực học tập vì việc nhận thức nội dung đó

2 Nội dung toán lớp 3 theo VNEN khó đối với em 45 20

3 Chưa có kỹ năng tự học, thảo luận nhóm, báo cáo kết quả

4 Giáo viên ít quan tâm, hướng dẫn từng cá nhân, cặp đôi,

Trang 30

24

thông qua trải nghiệm các em còn gặp nhiều khó khăn Nếu giáo viên giúp đỡ kịp

thời trong quá trình trải nghiệm thì các em sẽ tích cực hơn vẫn còn nhiều lý do

khác khiến các em ít tích cực trong học tập như do thiếu sách học tập, kỹ năng tự

học còn kém do khả năng đọc và viết Tiếng Việt còn chậm 2.2.22 Thực trạng sử

dụng phương pháp dạy học VNEN trong dạy học môn toán lớp 3

Đổ đánh giá thực trạng sử dụng phương pháp dạy học theo VNEN đề tài tiến hành khảo sát về mức độ nhận thức của giáo viên tại trường tiểu học mà đề tài nghiên cứu Kết quả thu được như bảng 2.5 dưới đây:

3 Hình thành và phát triển tốt kỹ năng giao tiếp cho HS 14 87,5

4 Tạo được sự đoàn kết giữa các thành viên trong nhóm 13 81,3

5 Tạo mối quan hệ gần gũi, thân thiện giữa GV và HS 14 87,5

Trang 31

25

Đa số giáo viên được khảo sát đều khẳng định học bằng phương pháp VNEN giúp HS có kỹ năng giáo tiếp, kỹ năng tự học, tạo mối quan hệ thân thiết Tuy nhiên để phát triển những kỹ năng này thì giáo viên cần có kế hoạch rèn kỹ năng này thông qua việc tổ chức hoạt động nhận thức cho HS

Sách giáo khoa toán lớp 3 theo chương trình VNEN được thiết kế bao gồm

cả sách giáo viên, học sinh, cha mẹ học sinh Sách cũng thiết kế theo hướng giúp giáo viên tổ chức hoạt động học tập cho HS Tuy nhiên việc chuẩn bị đồ dùng dạy học và dự kiến kế hoạch tổ chức, giám sát vẫn cần thiết cho tiết học hiệu quả Tìm hiểu về việc chuẩn bị cho việc tổ chức hoạt động cho HS khi dạy học một tiết học toán theo VNEN đề tài thu được kết quả như bảng 2.6 dưới đây:

Nhận xét chung: Đa số giáo viên đều chuẩn bị trước đồ dùng dạy học ( 87,5% ) Số giáo viên điều chỉnh nội dung chương trình cho phù hợp với lớp, trường có 50% số giáo viên thực hiện đầy đủ năm bước dạy học chỉ có 43,8% Việc dự kiến tổ chức cho học sinh trải nghiệm, học sinh hoạt động cá nhân, cặp đôi, nhóm, dự kiến việc chính xác hóa kiến thức đều có rất ít giáo viên thực hiện (Dưới 25 % )

Bảng 2.6: Mức độ chuẩn bị cho việc tổ chức tiết học Toán theo VNEN

Kết quả

SL %

2 Dự kiến điều chỉnh nội dung, các hoạt động cho phù họp

3 Dự kiến tổ chức các hoạt động cá nhân, cặp đôi, thảo luận

4 Dự kiến giám sát và giúp đỡ các hoạt động cá nhân, cặp

5 Dự kiến cách thức chính xác hóa các kiến thức cơ bản của

6 Thực hiện đầy đủ 5 bước dạy học theo VNEN 7 43,8

Ngày đăng: 13/12/2016, 10:32

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.2: Biêu hiện tính tích cực của học sinh trong giờ học toán - Khoá luận tốt nghiệp thực trạng sử dụng phương pháp dạy học toán lớp 3 theo mô hình trường học mới (VNEN) ở trường tiểu học hữu hòa   thanh trì   hà nội
Bảng 2.2 Biêu hiện tính tích cực của học sinh trong giờ học toán (Trang 27)
Bảng 2.4: Những nguyên nhân ảnh hưởng đến tính tích cực học tập - Khoá luận tốt nghiệp thực trạng sử dụng phương pháp dạy học toán lớp 3 theo mô hình trường học mới (VNEN) ở trường tiểu học hữu hòa   thanh trì   hà nội
Bảng 2.4 Những nguyên nhân ảnh hưởng đến tính tích cực học tập (Trang 28)
Bảng  2.5:  Nhân  thức  của giáo  viên vê  tác dụng  của  phươngpháp dạy  học  theo  VNEN - Khoá luận tốt nghiệp thực trạng sử dụng phương pháp dạy học toán lớp 3 theo mô hình trường học mới (VNEN) ở trường tiểu học hữu hòa   thanh trì   hà nội
ng 2.5: Nhân thức của giáo viên vê tác dụng của phươngpháp dạy học theo VNEN (Trang 30)
Bảng 2.6: Mức độ chuẩn bị cho việc tổ chức tiết học Toán theo VNEN - Khoá luận tốt nghiệp thực trạng sử dụng phương pháp dạy học toán lớp 3 theo mô hình trường học mới (VNEN) ở trường tiểu học hữu hòa   thanh trì   hà nội
Bảng 2.6 Mức độ chuẩn bị cho việc tổ chức tiết học Toán theo VNEN (Trang 31)
3  Hình thành và phát triển tốt kỹ năng giao tiếp cho HS. - Khoá luận tốt nghiệp thực trạng sử dụng phương pháp dạy học toán lớp 3 theo mô hình trường học mới (VNEN) ở trường tiểu học hữu hòa   thanh trì   hà nội
3 Hình thành và phát triển tốt kỹ năng giao tiếp cho HS (Trang 61)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w