1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quá trình phát triển của bộ máy nhà nước triều nguyễn từ “trung ương tản quyền” đến “trung ương tập quyền” (1802 1840)

220 478 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 220
Dung lượng 1,98 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quá trình phát triển của bộ máy nhà nước triều nguyễn từ “trung ương tản quyền” đến “trung ương tập quyền” (1802 1840) Quá trình phát triển của bộ máy nhà nước triều nguyễn từ “trung ương tản quyền” đến “trung ương tập quyền” (1802 1840) Quá trình phát triển của bộ máy nhà nước triều nguyễn từ “trung ương tản quyền” đến “trung ương tập quyền” (1802 1840) Quá trình phát triển của bộ máy nhà nước triều nguyễn từ “trung ương tản quyền” đến “trung ương tập quyền” (1802 1840) Quá trình phát triển của bộ máy nhà nước triều nguyễn từ “trung ương tản quyền” đến “trung ương tập quyền” (1802 1840) Quá trình phát triển của bộ máy nhà nước triều nguyễn từ “trung ương tản quyền” đến “trung ương tập quyền” (1802 1840) Quá trình phát triển của bộ máy nhà nước triều nguyễn từ “trung ương tản quyền” đến “trung ương tập quyền” (1802 1840)

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

-

Huỳnh Văn Nhật Tiến

QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA BỘ MÁY NHÀ NƯỚC TRIỀU NGUYỄN TỪ “TRUNG ƯƠNG TẢN QUYỀN” ĐẾN “TRUNG ƯƠNG TẬP

QUYỀN” (1802-1840)

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LỊCH SỬ

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu riêng của tôi Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong Luận án là trung thực Những tƣ liệu mới và những kết quả của Luận án chƣa từng đƣợc ai công bố trong bất kỳ công trình nào

Tác giả Luận án

Huỳnh Văn Nhật Tiến

Trang 3

DANH MỤC VIẾT TẮT

Từ gốc Tên viết tắt Từ gốc Tên viết tắt

Khâm định Đại Nam hội

Thành phố Hồ Chí

Trang 4

MỤC LỤC

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Danh mục các chữ viết tắt

Mục lục

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 BỘ MÁY NHÀ NƯỚC TRIỀU NGUYỄN GIAI ĐOẠN 1802-1830 19 1.1 SỰ RA ĐỜI CỦA VƯƠNG TRIỀU NGUYỄN 19

1.1.1 Đất nước trải qua ba thế kỷ nội chiến và chia cắt 19

1.1.2 Nguyễn Ánh kết thúc nội chiến và thống nhất đất nước 20

1.1.3 Tình hình đất nước dưới triều Gia Long 21

1.2 CƠ CẤU TỔ CHỨC BỘ MÁY NHÀ NƯỚC TRIỀU NGUYỄN GIAI ĐOẠN 1802-1830 24

1.2.1 Cơ cấu bộ máy nhà nước ở trung ương 24

1.2.1.1 Hoàng đế 24

1.2.1.2 Hội đồng đình thần và các chức quan đầu triều 25

1.2.1.3 Lục Bộ 27

1.2.1.4 Nhóm cơ quan phụ trách công tác văn phòng và lưu trữ 30

1.2.1.5 Nhóm cơ quan phụ trách giám sát 31

1.2.1.6 Nhóm cơ quan phụ trách về giáo dục và khoa học 32

1.2.1.7 Nhóm cơ quan phụ trách về hoàng tộc và giúp việc ở cung đình 34

1.2.1.8 Nhóm cơ quan phụ trách về kho tàng và quân nhu 37

1.2.1.9 Nhóm cơ quan phụ trách về vận tải và liên lạc 41

1.2.1.10 Nhóm cơ quan phụ trách về nghi lễ và tế tự 43

1.2.2 Cơ cấu hệ thống hành chính trực thuộc Thành và trung ương 44

1.2.2.1 Cấp Thành (Bắc thành và Gia Định thành) 44

1.2.2.2 Cấp Trấn/Dinh 48

1.2.2.3 Cấp Phủ 51

1.2.2.4 Cấp Huyện/Châu 52

1.2.2.5 Cấp Tổng 53

1.2.2.6 Cấp Xã 53

Trang 5

1.3 CƠ CHẾ VẬN HÀNH BỘ MÁY NHÀ NƯỚC TRIỀU NGUYỄN GIAI ĐOẠN

1802-1830 54

1.3.1 Cơ chế vận hành của bộ máy nhà nước ở trung ương 54

1.3.1.1 Phạm vi tác động của đế quyền 54

1.3.1.2 Cơ chế làm việc của Lục bộ 55

1.3.1.3 Cơ chế liên kết giải quyết công vụ giữa các cơ quan 56

1.3.2 Cơ chế vận hành của bộ máy nhà nước ở địa phương 58

1.3.2.1 Hoạt động của cấp Thành và sự tương tác với trung ương 58

1.3.2.2 Cơ chế hoạt động của các cấp hành chính địa phương khác 60

1.4 NHỮNG BƯỚC CHUẨN BỊ ĐỂ CHUYỂN SANG TẬP QUYỀN 62

1.4.1 Chuyển đổi chức năng của Hội đồng đình thần và sắp xếp lại hệ thống trật hàm 62

1.4.1.1 Chuyển đổi chức năng của Hội đồng đình thần 62

1.4.1.2 Sắp xếp lại hệ thống trật hàm của quan chức 64

1.4.2 Điều chỉnh công tác của Văn thư phòng và thành lập Nội các 65

1.4.2.1 Điều chỉnh công tác của Văn thư phòng 65

1.4.2.2 Thành lập Nội các để thay thế chức năng của Văn thư phòng 66

1.4.3 Chấn chỉnh và tăng cường hoạt động kiểm tra giám sát 69

1.4.4 Nâng cấp vị thế kinh đô và bước đầu thống nhất hệ thống đơn vị hành chính 70 1.4.4.1 Điều chỉnh việc phân cấp quản lý hành chính khu vực kinh thành 70

1.4.4.2 Thống nhất cơ cấu hành chính, nhân sự địa phương, chế độ đãi ngộ 70

Tiểu kết chương 1 78

Chương 2 BỘ MÁY NHÀ NƯỚC TRIỀU NGUYỄN GIAI ĐOẠN 1831-1840 81 2.1 XÓA BỎ CẤP THÀNH VÀ THÀNH LẬP ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH TỈNH 81 2.1.1 Hoàn cảnh lịch sử có nhiều chuyển biến tích cực 81

2.1.1.1 Đất nước đi vào ổn định sau 30 năm đầu của triều Nguyễn 81

2.1.1.2 Yêu cầu của lịch sử và thời cơ cho việc chuyển đổi 83

2.1.2 Xóa bỏ cấp Thành và thành lập đơn vị hành chính cấp Tỉnh 84

2.1.2.1 Giải tán Bắc thành, lập đơn vị Tỉnh ở miền Bắc và khu vực Bắc Trung Bộ 84 2.1.2.2 Giải tán Gia Định thành, lập đợn vị Tỉnh ở miền Nam và khu vực Nam Trung Bộ 87

Trang 6

2.2 KIỆN TOÀN CƠ CẤU TỔ CHỨC BỘ MÁY NHÀ NƯỚC THEO HƯỚNG TẬP

QUYỀN TRIỆT ĐỂ 89

2.2.1 Kiện toàn cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước ở trung ương 89

2.2.1.1 Bổ sung các cơ quan quan trọng cho bộ máy nhà nước trung ương 89

2.2.1.2 Hoàn thiện về cơ cấu các cơ quan nhà nước ở trung ương 99

2.2.2 Thống nhất cơ cấu các cấp hành chính địa phương trên cả nước 106

2.2.2.1 Cấp Tỉnh 106

2.2.2.2 Cấp Phủ 109

2.2.2.3 Cấp Huyện / Châu 110

2.2.2.4 Cấp Tổng 113

2.2.2.5 Cấp Xã 113

2.3 CƠ CHẾ VẬN HÀNH CỦA BỘ MÁY NHÀ NƯỚC TRIỀU NGUYỄN SAU NĂM 1831 114

2.3.1 Cách thức vận hành của bộ máy nhà nước ở trung ương 114

2.3.1.1 Quyền lực tuyệt đối của Hoàng đế 114

2.3.1.2 Vai trò trung gian và hỗ trợ công vụ của các Bộ/Nha 115

2.3.1.3 Hoạt động giám sát và thanh tra 119

2.3.2 Cách thức vận hành của các cấp hành chính địa phương 123

2.3.2.1 Mối liên hệ giữa trung ương và địa phương 123

2.3.2.2 Mối liên hệ liên thuộc giữa các địa phương lớn (cấp Tỉnh) 124

2.3.2.3 Cách thức tương tác giữa địa phương với trung ương 126

Tiểu kết chương 2 128

Chương 3 TƯƠNG QUAN GIỮA “TẢN QUYỀN” VÀ “TẬP QUYỀN” TRONG QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG BỘ MÁY NHÀ NƯỚC TRIỀU NGUYỄN (GIAI ĐOẠN 1802-1840) 130

3.1 VAI TRÒ CỦA BỘ MÁY NHÀ NƯỚC “TRUNG ƯƠNG TẢN QUYỀN” VÀ “TRUNG ƯƠNG TẬP QUYỀN” TRONG QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG BỘ MÁY NHÀ NƯỚC TRIỀU NGUYỄN (GIAI ĐOẠN 1802-1840) 130

3.1.1 Con đường xây dựng nhà nước tập quyền của triều Nguyễn 130

3.1.2 Giai đoạn I với chính sách “trung ương tản quyền” (1802 đến 1830) 132

Trang 7

3.1.2.1 Lý do áp dụng 132

3.1.2.2 Luận giải về tính chất “trung ương tản quyền” 134

3.1.2.3 Đặc trưng của bộ máy nhà nước “trung ương tản quyền” 141

3.1.3 Giai đoạn II với chính sách “trung ương tập quyền” (sau 1831) 144

3.1.3.1 Lý do của sự chuyển hướng 144

3.1.3.2 Luận giải về tính chất “trung ương tập quyền” 147

3.1.3.3 Đặc trưng của bộ máy nhà nước “trung ương tập quyền” 149

3.2 TÍNH THỐNG NHẤT GIỮA “TẢN QUYỀN” VÀ “TẬP QUYỀN” TRONG TIẾN TRÌNH CỦNG CỐ ĐẾ QUYỀN TRIỀU NGUYỄN (GIAI ĐOẠN 1802-1840) 152 3.2.1 Thống nhất trong chủ trương xây dựng bộ máy nhà nước 152

3.2.2 Thống nhất trong các nguyên tắc xây dựng bộ máy nhà nước 153

3.2.3 Thống nhất trong nguyên tắc vận hành nhà nước 155

3.2.4 Thống nhất trong nguyên tắc và cách thức giải quyết công vụ 157

3.2.5 Thống nhất trong các biện pháp chế ước quyền hành 159

3.2.5.1 Biện pháp đối với bộ máy công quyền (bao gồm cả đế quyền) 159

3.2.5.2 Biện pháp đối với hệ thống quan lại 163

3.2.6 Thống nhất trong cơ chế và biện pháp tương tác 167

3.2.6.1 Tương tác thông qua hội bàn và trình báo công vụ 167

3.2.6.2 Tương tác thông qua các loại văn bản hành chính 169

3.3 HIỆU QUẢ VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM TỪ QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC TRIỀU NGUYỄN GIAI ĐOẠN 1802-1840 172

3.3.1 Hiệu quả từ quá trình xây dựng bộ máy nhà nước triều Nguyễn giai đoạn 1802-1840 172

3.3.2 Những bài học kinh nghiệm rút ra từ quá trình xây dựng bộ máy nhà nước triều Nguyễn giai đoạn 1802-1840 176

Tiểu kết chương 3 183

KẾT LUẬN 185

CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ 190

TÀI LIỆU THAM KHẢO 191

PHỤ LỤC PL.1 – PL.41

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Trong tiến trình lịch sử Việt Nam, sự ra đời của triều Nguyễn vào thế kỷ XIX có thể xem là

sự kết thúc của gần 300 năm nội chiến kéo dài từ đầu thế kỷ XVI cho đến tận cuối thế kỷ XVIII Đó

là ba thế kỷ biến động phức tạp với sự phế lập trong nội bộ triều Lê, nội chiến Lê-Mạc, nội chiến Trịnh-Nguyễn, khởi nghĩa nông dân, nội chiến Tây Sơn-Nguyễn Ánh Trong bối cảnh đó, dòng họ Nguyễn xuất hiện, ban đầu là một thế lực tôn phù nhà Lê, rồi dần vươn lên trở thành một lực lượng chính trị độc lập, sau đó biệt lập giang sơn, xây dựng triều đình riêng, đóng góp công lao vào sự nghiệp mở mang bờ cõi Nhưng sự xác lập của triều Nguyễn trong một giai đoạn lịch sử đầy biến động suốt từ thế kỷ XVI đến XIX, đã dẫn đến những nhận thức về vai trò và đóng góp của triều Nguyễn chưa được sự đồng thuận Sự khác nhau trong việc đánh giá xuất phát từ những di sản to lớn

mà triều Nguyễn để lại cũng như những hậu quả nặng nề về việc mất nước hồi nửa sau thế kỷ XIX Đây là phần lịch sử quan trọng và việc làm rõ những nội dung lịch sử trong giai đoạn này sẽ có tác động điều chỉnh đến nhận thức của nhiều sự kiện trọng đại khác

Triều Nguyễn là triều đại phong kiến cuối cùng ở nước ta, đã kế thừa và hoàn thiện cách thức

tổ chức bộ máy nhà nước của các triều đại trước Đặc biệt, trong giai đoạn 1802-1840, triều Nguyễn

đã quản lý một vùng lãnh thổ rộng lớn, tiếp thu nhiều kinh nghiệm trong việc điều hành và quản lý

xã hội Việc nghiên cứu tổ chức bộ máy nhà nước dưới vương triều Nguyễn nói chung và bộ máy nhà nước giai đoạn 1802-1840 nói riêng sẽ góp phần cung cấp một cái nhìn đầy đủ về tổ chức nhà nước phong kiến trong những năm đầu thế kỷ XIX, qua đó rút ra những bài học kinh nghiệm cho công tác quản lý nhà nước và quản lý xã hội hiện nay

Nghiên cứu về lịch sử phát triển bộ máy nhà nước phong kiến ở Việt Nam cho thấy, giai đoạn tồn tại của nhà Nguyễn có hai đóng góp rất quan trọng xét về khía cạnh nhà nước là sự hình thành bộ

máy nhà nước “trung ương tản quyền” với nguyên lý “tản quyền” được áp dụng trong khoảng thời

gian 1802-1830, và bộ máy nhà nước “trung ương tập quyền” với tính chất tập quyền được áp dụng

từ sau những năm 1831-1840 Từ việc mô tả và phân tích hai bộ máy nhà nước này, đề tài sẽ làm

Trang 9

sáng tỏ nhiều vấn đề quan trọng thuộc về cơ cấu tổ chức, cơ chế hoạt động, cũng như mối quan hệ giữa hai bộ máy nhà nước kể trên, đặt trong tương quan với quá trình xây dựng bộ máy nhà nước triều Nguyễn ở nửa đầu thế kỷ XIX (1802-1840) Qua đó, đánh giá lại mối quan hệ giữa hai tổ chức nhà nước đó, cũng như vai trò của Gia Long và bộ máy nhà nước thời kỳ 1802-1830 trong quá trình tập quyền của triều Nguyễn từ năm 1802 đến năm 1840 Điều này sẽ góp phần làm phong phú thêm những hiểu biết về sự hình thành và đặc điểm của những mô hình nhà nước phong kiến khác nhau ở Việt Nam

Cũng qua quá trình nghiên cứu và khảo sát khi tìm hiểu về triều Nguyễn, chúng tôi còn nhận thấy rằng: Việc nghiên cứu bộ máy nhà nước triều Nguyễn giai đoạn 1802-1840 đang gặp những bất đồng nhất định, cụ thể là trong việc đưa ra các khái niệm và cách thức gọi tên hai bộ máy nhà nước

đó, đặc biệt là những nhận định về vai trò và tính kết nối của hai bộ máy nhà nước trong tiến trình tập quyền triều Nguyễn ở nửa đầu thế kỷ XIX, cũng như những tồn nghi trong việc đặt đúng vị trí từng bộ máy nhà nước trong qúa trình xây dựng bộ máy nhà nước triều Nguyễn Vấn đề này đặt trong bối cảnh đất nước đang trên đường đổi mới cơ chế quản lý hành chính để vừa phù hợp với tình hình cụ thể, vừa phù hợp với xu hướng chung của thế giới nhằm thúc đẩy tiến trình hội nhập thì càng trở nên cấp thiết

Từ những lý do trên, tôi đã chọn vấn đề: Quá trình phát triển của bộ máy nhà nước triều

Nguyễn từ “trung ương tản quyền” đến “trung ương tập quyền” (1802-1840) làm đề tài Luận án

Tiến sĩ Lịch sử, chuyên ngành Lịch sử Việt Nam

2 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ

2.1 Giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám 1945

Năm 1921, Trần Trọng Kim có tác phẩm Việt Nam sử lược, đây là bộ sử được biên soạn theo

phương pháp khảo chứng của Tây Âu Trong tác phẩm, tác giả có đề cập đến sự tồn tại của Bắc thành, Gia Định thành và khu vực ở “giữa nước” với những mô tả sơ khởi cũng như bước đầu đưa ra những đánh giá về bộ máy nhà nước triều Gia Long Giai đoạn trị vì của Minh Mạng với công cuộc điều chỉnh hành chính cũng được tác giả lưu tâm với những phân tích “Ở trong triều, thì ngài đặt thêm ra các tự và các viện Bấy giờ có Nội Các và Cơ Mật viện là quan trọng hơn cả” 41,192] Tuy những phân tích này còn dừng ở mức độ trình bày sự kiện và chưa đưa ra những sử liệu cụ thể, nhưng vào thời điểm mà Triều Nguyễn còn chưa được giới nghiên cứu trong nước quan tâm nhiều thì đây là những đóng góp quan trọng có tính mở đường

Trang 10

Năm 1922, ở Paris, Phan Văn Trường bảo vệ luận án Tiến sĩ Luật khoa với đề tài về bộ luật

Gia Long Essai sur le code Gia Long Trong bản luận án này, thông qua việc phân tích, đối chiếu có

so sánh những điểm tương đồng và dị biệt của bộ luật Gia Long với các bộ luật cùng thời (trọng tâm

là cổ luật Trung Hoa), tác giả đã làm rõ nhiều vấn đề về cơ cấu và cơ chế của bộ máy nhà nước triều Gia Long Ngoài ra, tác giả còn có nhiều nhận định và đánh giá về tình hình chính trị-xã hội lúc bấy giờ cũng như về cấu trúc của bộ máy nhà nước triều Nguyễn, tuy nhiên do đây là công trình nghiên cứu về luật học nên những vấn đề về nhà nước thời Gia Long vẫn chưa được tìm hiểu và lý giải sâu

2.2 Giai đoạn từ năm 1945 đến 1975

Bước sang giai đoạn 1945-1975, cùng với cuộc kháng chiến đang được đẩy mạnh trên mọi phương diện, thì trên lĩnh vực học thuật cũng có nhiều đổi mới, xuất hiện nhiều công trình lấy triều Nguyễn làm đối tượng nghiên cứu chính Nhưng thực trạng đất nước lúc này là đang bị chia cắt thành hai miền Nam-Bắc, làm hình thành nên hai phương thức tiếp cận với những đặc trưng nghiên cứu, động cơ chính trị và cơ sở phương pháp luận khác nhau, đây là nguyên nhân dẫn đến sự tồn tại của những quan điểm và nhận định khác nhau về triều Nguyễn lúc bấy giờ, cụ thể:

Ở miền Bắc có công trình của Minh Tranh là Sơ thảo lịch sử Việt Nam, Nguyễn Khánh Toàn với Mấy nhận xét về xã hội Việt Nam cuối Lê đầu Nguyễn, Trần Huy Liệu với Lịch sử 80 năm chống Pháp, Đào Duy Anh với Lịch sử Việt Nam – Từ ngu n gốc đến cuối thế I , Trần Văn Giàu với

bộ ba tác phẩm Chống xâm lăng, Hệ ý thức phong iến và sự thất bại của nó, Sự hủng hoảng của chế độ phong iến nhà Nguyễn trước năm 1858.v.v Về tổng thể, các tác phẩm này, với nhiệm vụ

phục vụ cho cuộc kháng chiến chống đế quốc, mà giai cấp phong kiến Nguyễn đầu hàng chính là tay sai của chủ nghĩa thực dân, gắn liền với giai đoạn lịch sử này là những con cháu trực hệ của Gia Long và Minh Mạng từ Dục Đức, Đồng Khánh, cho đến Khải Định, Bảo Đại, đã thay nhau đứng đầu

bộ máy triều đình bù nhìn Nam triều và còn tiếp tục tranh giành quyền lực sau năm 1945 đến 1954

Do đó, triều Nguyễn và các vấn đề của triều Nguyễn lần lượt được mổ xẻ dưới góc nhìn là một “tập đoàn phong kiến phản động”, “một bộ máy thống trị cực kỳ sâu mọt và càng ngày càng yếu ớt, suy đồi, mục nát” [33,30].v.v đây rõ ràng là một cách nhìn chưa thật khách quan và còn bị chi phối bởi các yếu tố chính trị Đặc điểm chung của các công trình này còn là phần lớn hướng đến đối tượng triều Nguyễn trong thời gian trị vì của các triều vua ở vào thời kỳ thực dân Pháp xâm lược (tức từ Tự Đức trở về sau) Riêng những nội dung của hai triều vua đầu về bộ máy nhà nước giai đoạn 1802-

1830, công cuộc điều chỉnh hành chính những năm 1832, bộ máy nhà nước giai đoạn

1831-1840, quá trình tập quyền của bộ máy nhà nước trung ương ở hai đời vua đầu v.v đã không được đề

Trang 11

cập đến với những dung lượng cần thiết dành cho một đối tượng nghiên cứu riêng biệt, mà thường được lồng ghép trong các vấn đề khác hoặc chỉ được trình bày một cách sơ lược, mang tính tiền đề

mở đầu hoặc là bối cảnh cho các biến cố lịch sử về sau Ở đây, không xét đến vấn đề về quan điểm

và cách đánh giá thì với những tác phẩm này, tổng quan về triều Nguyễn đã được tìm hiểu ở nhiều lĩnh vực về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội với nhiều nội dung quan trọng

Cùng chung hướng nghiên cứu trên là các tác phẩm: Lịch sử chế độ phong iến Việt Nam của Phan Huy Lê (chủ biên) và Sơ thảo lịch sử nhà nước và pháp quyền Việt Nam của Đinh Gia Trinh

Hai tác phẩm đã có nhiều đóng góp quan trọng trong việc tìm hiểu tiến trình phát triển của bộ máy nhà nước phong kiến Việt Nam từ lúc hình thành cho đến khi vươn lên đỉnh cao Trong toàn bộ lịch

sử phát triển đó, giai đoạn tồn tại của triều Nguyễn được các tác giả dành nhiều sự quan tâm và phân tích ở cả khía cạnh cơ cấu tổ chức hành chính lẫn cơ chế vận hành, đặc biệt có phần tìm hiểu thời Gia Long và Minh Mạng Các tác phẩm cũng dành nhiều mô tả và phân tích để làm rõ các khía cạnh của

hệ thống pháp quyền triều Nguyễn, đồng thời quan tâm đến cả tổ chức hành chính các cấp Về mối liên hệ của hai tổ chức bộ máy nhà nước, trên cơ sở những phân tích, các tác giả nhận định: Quá trình tập trung quyền lực của triều Nguyễn ở nửa đầu thế kỷ XIX diễn ra qua hai đời vua, trong đó bộ máy nhà nước Gia Long là một giải pháp mang tính tình thế tạm thời trong buổi đầu “quyền nghi tạm đặt”, khi quyền lực trung ương còn bị chi phối bởi các đối tượng khác, còn bộ máy nhà nước Minh Mạng nhờ thực hiện nhiều thay đổi nên đã có sự tập trung quyền lực ở một mức độ cần thiết, qua đó đạt đến một sự nhất thống và tập quyền cao Những nhận định này sau đó được các công trình đương thời tham khảo khi đánh giá về hai triều vua đầu thời Nguyễn Riêng đối với đề tài của Luận án, những tác phẩm này có giá trị tham khảo và đối chứng rất lớn, cung cấp một góc nhìn khác về tổ chức bộ máy nhà nước triều Gia Long, Minh Mạng nói riêng và triều Nguyễn giai đoạn 1802-1840 nói chung

Ở miền Nam, năm 1962, Nguyễn Sĩ Hải bảo vệ luận án Tiến sĩ Luật tại Trường Đại học Luật

khoa Sài Gòn, đề tài Tổ chức chính quyền Trung ương thời Nguyễn sơ (1802-1847) Với những quan

điểm và cách nhìn nhận mới về triều Nguyễn được trình bày trong luận án, đặc biệt là trong nhận xét

về tính chất của bộ máy nhà nước triều Gia Long và Minh mạng, mặc dù còn cần phải trao đổi thêm

về việc chọn mốc thời gian “thời Nguyễn sơ” (theo ý tác giả được xem là thời kỳ hình thành nên tính chất tập quyền của bộ máy nhà nước triều Nguyễn, kéo dài từ 1802 đến 1847 - tức là trải qua ba triều vua) và trong một số nhận định về việc phân tích tính chất của bộ máy nhà nước triều Nguyễn;

nhưng vào thời điểm mà các bộ sử của triều Nguyễn còn chưa được dịch và công bố rộng rãi, cũng

như sự thiếu hụt về tư liệu, đặc biệt là phần tư liệu gốc, thì tác giả đã thành công trong việc đưa ra

Trang 12

những hướng tiếp cận với cái nhìn mới Trong đó, lần đầu tiên, tác giả đưa ra khái niệm “tản quyền” khi nhận xét về tính chất của bộ máy nhà nước thời Gia Long và “tập quyền” khi nhận xét về tính chất của bộ máy nhà nước thời Minh Mạng Trong bản luận án này, tác giả cũng đã bước đầu chỉ ra mối liên hệ giữa hai tổ chức bộ máy nhà nước thời Gia Long và Minh Mạng khi kết luận: “Trong 45 năm của thời Nguyễn sơ, chúng ta thấy trước sau lần lượt xuất hiện 2 hình thái: “Tản quyền” trong

đó chính quyền Trung ương ủy thác một phần công việc và san sẻ một phần quyền hành cho các nhà chức trách đại diện cho mình ở các địa phương, và “Tập quyền triệt để” theo đó chính quyền Trung ương nắm trọn trong tay quyền quyết định về công vụ trong toàn quốc” 34,30-31] Tuy nhiên, là một công trình có khuynh hướng thiên về luật học, nội dung của nghiên cứu lại tập trung vào cơ chế

và cách thức hoạt động của bộ máy nhà nước Triều Nguyễn từ sau cuộc cải cách của Minh Mạng cho đến năm 1847, vì vậy mà Luận án chưa đề cập nhiều đến vai trò của bộ máy nhà nước giai đoạn 1802-1830 trong tiến trình tập quyền của triều Nguyễn, cũng như chưa lý giải cặn kẽ mối quan hệ của tản quyền và tập quyền trong quá trình xây dựng bộ máy nhà nước tập quyền triều Nguyễn Sau Nguyễn Sĩ Hải, hướng nghiên cứu này được Lê Kim Ngân ở ban Công pháp của chính quyền Sài Gòn tiếp tục triển khai và cho đưa vào phần nội dung trong quá trình biên soạn quyền sách giáo khoa

Sử Địa lớp 11 (xuất bản năm 1970, theo chương trình của Bộ Quốc gia Giáo dục Việt Nam Cộng hòa) Trong cuốn sách có phạm vi áp dụng rộng rãi này, tác giả viết “Vua Gia Long thi hành chính sách Trung ương tản quyền nhằm chia bớt quyền lực của mình cho các quan Tổng trấn và Hiệp trấn

ở Bắc thành và Gia Định thành để các vị này tùy nghi cai trị dân sao cho ổn định được tình trạng hỗn loạn của xã hội sau những cơn binh lửa hãi hùng vừa qua và trấn áp lòng hoang mang của dân chúng

đã từng chứng kiến cảnh thay ngôi đổi chủ liên tiếp trong vòng mấy chục năm” 56,10] Tuy nhiên, trong giới hạn là một quyển sách giáo khoa bậc trung học phổ thông, không cho phép tác giả đi sâu nên nhiều nội dung vẫn còn bỏ ngỏ Đây là một hướng nghiên cứu mới và có nhiều phân tích có giá trị khoa học cao, tuy nhiên có thể do tính “mới” này mà trong một thời gian dài về sau không thấy xuất hiện nghiên cứu nào tiếp tục

Cũng trong giai đoạn này, ở miền Nam và mở rộng thêm những vùng lãnh thổ, còn thấy xuất

hiện một số tác phẩm có cùng chung đối tương nghiên cứu triều Nguyễn là: 82 năm Việt sử 1884) của Nguyễn Phương, Kinh tế - xã hội Việt Nam dưới các vua triều Nguyễn của Nguyễn Thế Anh, Việt sử tân biên của Phạm Văn Sơn, The smaller dragon A political history of Vietnam của Joseph Buttinger (1958), A chaplain looks at Vietnam của John O’ Connor (1963).v.v Trong những

(1802-tác phẩm này, các (1802-tác giả đã có nhiều đề cập về tình hình kinh tế, chính trị, xã hội, luật pháp, văn hóa

ở thời Gia Long và Minh Mạng; cũng như có nhiều lí giải cụ thể về cơ cấu tổ chức cũng như cơ chế

Trang 13

hoạt động của guồng máy nhà nước Triều Nguyễn nói riêng và vị thế của quốc gia Đại Việt nói chung trong tương quan so sánh với các nước láng giềng Những kiến giải và phân tích trong các tác phẩm này có giá trị tham khảo rất lớn khi nghiên cứu về bộ máy triều Nguyễn giai đoạn 1802-1840 Tuy nhiên, nội dung của các nghiên cứu trên là có phần dàn trải với việc đề cập đến nhiều những nội dung khác của triều Nguyễn, dẫn đến những phần nghiên cứu của Luận án tuy đã được các tác phẩm

đề cập đến ít nhiều nhưng cũng như phần lớn những các tác phẩm khác ra đời trong thời gian này điều chưa được giải quyết một cách triệt để và có hệ thống

2.3 Giai đoạn từ năm 1975 đến nay:

Bước sang những năm sau 1975, nước nhà độc lập và thống nhất, giới Sử học hai miền có điều kiện gặp gỡ trao đổi chuyên môn, thảo luận, hội thảo, đối chiếu quan điểm trong việc đánh giá

về triều Nguyễn Đây là thời điểm ghi nhận có khá nhiều các công trình nghiên cứu về triều Nguyễn

ra đời, cũng như việc tổ chức hàng loạt các buổi tọa đàm, hội thảo khoa học về triều Nguyễn ở cả ba miền Nam-Trung-Bắc, đặc biệt là các Hội thảo được tổ chức vào các năm 1999, 2002, 2008,… nhằm đánh giá lại một cách toàn diện, khách quan những đóng góp và hạn chế của triều Nguyễn đối với lịch sử dân tộc Thành quả to lớn là đã góp phần làm thay đổi từng bước nhận thức của giới sử học hiện đại ở nước ta về triều Nguyễn, cũng như cung cấp thêm những hướng nghiên cứu, những tư liệu

và số liệu mới về thành tựu chính trị-văn hóa-xã hội-giáo dục của các đời vua Số lượng của các bài viết được tập hợp trong các hội thảo khoa học này là rất nhiều, thuộc về nhiều lĩnh vực của triều Nguyễn Về những nội dung liên quan đến đề tài Luận án, có thể kể ra một số bài viết tiêu biểu sau:

“Triều Nguyễn-sau 200 năm nhìn lại” của Đỗ Bang [7,33-38], “Một số ý iến về trách nhiệm của triều Nguyễn trong việc để mất nước ta vào tay Pháp cuối thế I ” của Đinh Xuân Lâm 42,71- 78], “Triều Minh Mệnh (1820-1841) đã tham hảo nền hành chính nhà Thanh như thế nào” của Trần

Thị Thanh Thanh [105,151-158].v.v Các bài viết là sự bổ sung những mảng ghép quan trọng để tạo thành bức tranh hoàn chỉnh về triều Nguyễn với những mảnh sáng tối, mang tính xen kẽ nhau Tuy nhiên, trong không khí đổi mới quan điểm và phương pháp tiếp cận, thì trong các Hội thảo vẫn còn nhiều bài viết với phần kết luận có phần “khắt khe”: “Sự thắng thế của Nguyễn Ánh trước Tây Sơn

có thể coi là sự thắng thế của những nhân tố bảo thủ lạc hậu đối với những yếu tố tiến bộ Nói cách khác sự phát triển của kinh tế xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XVIII chưa thể tạo ra được một lực lượng

xã hội mới, lớn mạnh, đủ sức gạt bỏ mọi chướng ngại trên con đường phát triển của nó Đến lượt nhà Nguyễn, phải chăng cũng chính những hạn chế lịch sử đó lại quy định và làm nảy sinh những mầm mống của sự suy sụp trong những năm đầu thế kỷ XIX” 16,12] Trong thời điểm chuyển giao

Trang 14

phương pháp và cách nhìn nhận về triều Nguyễn, khi những hướng nghiên cứu mới đang tìm kiếm tư liệu để chứng minh cho giá trị của mình thì những quan điểm tương tự thế này với cơ sở vững chắc

là hệ thống tư liệu và cách lý giải đã được hình thành và thừa nhận từ lâu, vẫn có có giá trị tham khảo cao và có vai trò nhất định trong việc tìm hiểu về triều Nguyễn

Bên cạnh các Hội thảo khoa học, trong giai đoạn này, cũng xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu cấp trường Đại học và Cao đẳng, cấp Bộ Giáo dục và Đào tạo, cấp Nhà nước, bao gồm những khóa luận tốt nghiệp đại học, những tiểu luận chuyên đề, những luận văn Thạc sĩ, luận án Tiến sĩ

mà các tác giả đã chọn triều Nguyễn làm đề tài nghiên cứu Khối lượng và số lượng các công trình này rất nhiều, có thể điểm qua một số công trình nghiên cứu tiêu biểu như: Nguyễn Minh Tường với

Cải cách nhà nước dưới triều Minh Mạng và Chân dung các vua Nguyễn (viết chung); Đỗ Bang với

Tổ chức bộ máy nhà nước triều Nguyễn giai đoạn 1802-1884, Khảo cứu inh tế và tổ chức bộ máy nhà nước triều Nguyễn-những vấn đề đặt ra hiện nay.v.v Tác giả của những công trình trên đã có nhiều đóng góp trong việc khai thác sâu các nguồn tư liệu gốc như Hội điển, Toát yếu và Thực lục.v.v để lý giải một số vấn đề mà Luận án đang quan tâm là: tính chất của bộ máy nhà nước Gia

Long, tính chất tập quyền của triều đại Minh Mạng, công cuộc điều chỉnh hành chính của Minh Mạng, cách thức tổ chức - quản lý và cơ chế hoạt động của guồng máy nhà nước triều triều Nguyễn,

quá trình tập quyền của triều Nguyễn.v.v Cụ thể: Nguyễn Minh Tường trong Cải cách nhà nước dưới triều Minh Mạng, đã có nhiều phân tích về cơ cấu tổ chức cũng như cơ chế vận hành của bộ

máy hành chính nhà nước thời Minh Mạng, đặc biệt là giai đoạn sau cuộc điều chỉnh hành chính 1831-1932, nhưng với việc chọn đối tượng nghiên cứu chính là cuộc điều chỉnh hành chính của Minh Mạng nên tác giả đã không có nhiều phân tích và liên hệ sâu với giai đoạn trước đó ở thời Gia Long, điều này làm giảm tính kế thừa và liền mạch trong cả quá trình xây dựng bộ máy nhà nước

triều Nguyễn giai đoạn 1840 Đề tài Tổ chức bộ máy nhà nước triều Nguyễn giai đoạn

1802-1884 của Đỗ Bang cũng là tác phẩm có sự nghiên cứu tỉ mỉ Tác giả đã thành công trong việc phục

dựng lại toàn bộ cơ cấu của bộ máy nhà nước triều Nguyễn từ trung ương cho đến địa phương Tuy nhiên, do trọng tâm vào việc phục dựng cơ cấu tổ chức chung của bộ máy nhà nước triều Nguyễn, vốn được tiến hành xuyên suốt từ vua Gia Long đến vua Tự Đức với nhiều chính sách lớn, nên tác giả có phần bỏ qua nhiều chi tiết và các đặc điểm riêng trong quá trình xây dựng bộ máy nhà nước ở từng giai đoạn cụ thể - vốn được xem là những đặc điểm góp phần làm nên những đặc trưng riêng của từng giai đoạn cụ thể ở mỗi đời vua, đó cũng chính là những vấn đề mà Luận án đang muốn

hướng đến để làm rõ Tác giả Đỗ Bang còn có công trình Khảo cứu inh tế và tổ chức bộ máy nhà nước triều Nguyễn; những vấn đề đặt ra hiện nay Ở công trình này, tác giả đã đưa ra nhiều phần

Trang 15

luận giải và phân tích về cơ chế vận hành của bộ máy nhà nước Nguyễn, cũng như dành ra dung lượng đáng kể đề cập đến những thành quả kinh tế được đem lại từ quá trình xây dựng bộ máy nhà nước triều Nguyễn Đối với nghiên cứu của Luận án, các công trình kể trên là những đóng góp rất quan trọng cả về mặt nhận thức lẫn lý luận, có tác dụng định hướng và gợi mở ra những hướng nghiên cứu đúng thuộc về nhà nước và pháp quyền triều Nguyễn trong bối cảnh những nhận thức về triều Nguyễn đang được đánh giá lại; qua đó đã lý giải được nhiều vấn đề về tổ chức chính quyền, quan chế, luật pháp, sự phát triển về kinh tế-chính trị-văn hóa-xã hội của triều Nguyễn.v.v Tuy nhiên, như đã phân tích, trong xu hướng chung của những công trình nghiên cứu về triều Nguyễn ở giai đoạn này, các tác phẩm phần lớn vẫn đi sâu vào phân tích bộ máy nhà nước triều Nguyễn từ sau những điều chỉnh về mặt hành chính của vua Minh Mạng (tức từ những năm 1831-1832 cho đến 1884), riêng giai đoạn trước đó cho đến năm 1802 - tức là phần lịch sử triều Nguyễn thời Gia Long

và 10 năm đầu triều Minh Mạng lại được trình bày khá “nghèo nàn” về nội dung và phần nhiều thường được lồng ghép trong phần khái quát về bối cảnh lịch sử hơn là một giai đoạn có vai trò cực

kỳ quan trọng trong việc xây dựng bộ máy tập quyền triều Nguyễn trong những năm 1802-1840 Bên cạnh đó, các tác giả cũng chưa có sự đầu tư cần thiết trong việc phân định rõ nội hàm và ngoại diên của các khái niệm nhà nước có liên quan mật thiết đến việc nghiên cứu bộ máy nhà nước triều Nguyễn là: tản quyền, tập quyền, phân quyền, quân quản.v.v Việc phân định và làm rõ ranh giới giữa các khái niệm này là điều khá quan trọng trong việc tìm hiểu quá trình xây dựng bộ máy nhà nước triều Nguyễn Từ nguyên nhân này dẫn đến, những mô tả về cơ cấu bộ máy nhà nước và những phân tích về cơ chế hoạt động của bộ máy nhà nước triều Nguyễn trong những nghiên cứu này chưa được tách biệt một cách rõ ràng mà thường được gộp chung vào phần mô tả cơ cấu và cơ chế chung của bộ máy nhà nước triều Nguyễn giai đoạn 1802-1840; mối liên kết của hai bộ máy nhà nước ở hai giai đoạn, vai trò của từng bộ máy nhà nước trong quá trình tập quyền của triều Nguyễn vì vậy cũng chưa được giải quyết triệt để, hoặc nếu có thì cũng được lồng ghép trong những nhận định chung có phần “chung chung” với mô-típ thường thấy “Với quan điểm trị nước theo định hướng chính trị của Nho giáo, triều Nguyễn đã tham khảo mô hình tổ chức bộ máy nhà nước thời Minh Thanh của Trung Quốc, nâng cao và hoàn thiện bộ máy nhà nước thời Trần, Lê… nhưng bộ máy nhà nước quân chủ chuyên chế đó ngày càng xa rời thực tế, bảo thủ, cố chấp, kém hiệu lực, trở nên lạc hậu trước những trao lưu canh tân và âu hóa vào nửa sau thế kỷ XIX” 6,235]

Bên cạnh các công trình nghiên cứu được biên soạn thành sách, trong giai đoạn này còn có nhiều công trình nghiên cứu của các học giả về triều Nguyễn được công bố dưới dạng là các bài viết được đăng tải trên các tạp chí chuyên ngành có uy tín, số lượng của các bài báo khá nhiều, có thể dẫn

Trang 16

ra một số bài viết có giá trị tham khảo với Luận án như sau: “Thiết chế cực quyền và các chế tài điều

tiết cực quyền” của Đỗ Bang đăng trên tạp chí Nghiên cứu lịch sử số 1 (369), “Tìm hiểu tổ chức

chính quyền trung ương nước ta thời phong kiến” của Nguyễn Cảnh Minh và Đào Tố Uyên đăng trên

tạp chí Nghiên cứu Lịch sử số 6, “Suy nghĩ về bộ máy nhà nước quân chủ trung ương tập quyền Nguyễn nửa đầu thế kỷ XIX” của Nguyễn Danh Phiệt đăng trên tạp chí Nghiên cứu lịch sử số 6

(271), “Về nền hành chính triều Nguyễn thời kỳ 1802-1883” của Trần Thị Thanh Thanh đăng trên

tạp chí ưa và nay số 65 B, “Từ ấn Công đồng và đình thần đến tiếng trống Đăng Văn” của Lê Nguyễn Lưu đăng trên tạp chí Nghiên cứu và phát triển (Sở Khoa học và Công nghệ Thừa Thiên

Huế), số 1 (84), “Các triều đại quân chủ Việt Nam với việc xây dựng tổ chức giám sát” của Ngô Đức

Lập đăng trên tạp chí Nhà nước và pháp luật số 1 (285).v.v Phần lớn những bài viết này là những

nghiên cứu và nhận thức mới của các tác giả dựa trên việc khai thác các nguồn tư liệu cổ đã được dịch và công bố rộng rãi Thông qua những bài viết này, đã cung cấp thêm cho Luận án những phương pháp tiếp cận và cách thức lý giải về các vấn đề liên quan đến nhà nước và pháp quyền triều Nguyễn

Về các khái niệm “tản quyền” và “tập quyền triệt để” đã được Nguyễn Sĩ Hải sử dụng vào năm 1962, một thời gian dài sau đó không thấy được sử dụng và khơi mở thâm, thì đến thời gian này thấy xuất hiện trở lại với một số điều chỉnh và kết hợp Nhà nghiên cứu Cao Tự Thanh trong bài

“Triều Nguyễn thời Gia Long với vận hội mới của lịch sử dân tộc đầu thế ỉ I ” đã lồng ghép tính

tản quyền của bộ máy hành chính nhà nước Gia Long với biện pháp quân chính “Trong lịch sử triều Nguyễn, triều Gia Long khác hẳn với các thời sau ở chỗ nó chỉ mới đạt tới chữ thống nhất quốc gia

về mặt chính trị và vẫn quản lý đất nước bằng hệ thống quân chính Phải đến 1832-1833, dưới thời Minh Mạng thì triều Nguyễn mới xóa bỏ được thiết chế tản quyền, giải thể Bắc thành và Gia Định thành để thống nhất đất nước về mặt hành chính, đồng thời đưa văn quan vào vị trí đứng đầu bộ máy cai trị các địa phương thay cho chế độ võ tướng trấn giữ” [190], như vậy theo tác giả thì nhà nước tản quyền thời Gia Long cũng chính là một kiểu nhà nước “quân chính” với đặc trưng là chế độ võ tướng trấn giữ Đây là một cách lý giải hay, nhưng vấn đề là có thể ghép chung khái niệm “tản quyền” với “quân chính” lại thành một thì cần phải phân tích và trao đổi thêm Nguyễn Đình Đầu

trong 100 câu hỏi đáp về Gia Định - Sài Gòn - TP H Chí Minh, tập Địa lý Gia Định - Sài Gòn -

TP H Chí Minh viết: “Đời Gia Long (1802-1819) chính sách tản quyền được áp dụng: Bắc Thành

cai quản 11 trấn nội ngoại Bắc Kỳ và Gia Định Thành thống quản 5 trấn Nam Kỳ Minh Mạng (1820-1840) lại muốn theo chính sách tập quyền và trọng văn khinh võ, cho nên năm 1831, Minh Mạng đã bãi chức Tổng trấn Bắc thành và giải thể Bắc thành” 28,85] Chưa xét đến việc, khi sử

Trang 17

dụng những khái niệm này, các tác giả vẫn chưa đưa ra được những cơ sở lý luận và nội hàm đầy đủ, thì việc kết hợp tản quyền với tính quân quản hay quân chính cũng chưa có những sự lý giải thỏa đáng, tuy nhiên đây có thể xem là một sự kết hợp có giá trị tham khảo cao

Ngoài các nghiên cứu lấy cấu trúc bộ máy nhà nước triều Nguyễn làm đối tượng nghiên cứu chính, còn có thể kể đến các tác phẩm khác trong thời gian này có chung đối tượng nghiên cứu gần là

triều Nguyễn như: Trần Thanh Tâm với Tìm hiểu quan chức nhà Nguyễn, Lê Thị Thanh Hòa với Việc đào tạo và sử dụng quan lại của triều Nguyễn từ năm 1802-1884, Phan Đại Doãn với Một số vấn đề về quan chế triều Nguyễn, Trần Thị Thanh Thanh với Định chế quản lý nhà nước thời Nguyễn (Luận án Tiến sĩ sử học), Trần Bá Đệ (chủ biên) với Một số chuyên đề lịch sử Việt Nam, Vũ Thị Phụng với Văn bản quản lý nhà nước thời Nguyễn (giai đoạn 1802-1884) (Luận án Tiến sĩ Sử học), Nguyễn Phan Quang với Việt Nam thế I (1802-1884).v.v và gần đây, còn có Luận án Tiến sĩ

Sử học của Ngô Đức Lập với đề tài Cơ cấu tổ chức và cơ chế hoạt động của các cơ quan giám sát dưới triều Nguyễn (1802-1885) Các tác phẩm đã làm sáng tỏ thêm nhiều vấn đề của triều Nguyễn,

cụ thể là các vấn đề về quan chế (của Trần Thanh Tâm, Lê Thị Thanh Hòa, Phan Đại Doãn), cách thức quản lý và điều hành nhà nước trên lĩnh vực văn bản Nhà nước (của Vũ Thị Phụng), định chế về pháp luật và quản lý hành chính nhà nước (của Trần Thị Thanh Thanh), cơ cấu các hình thức tổ chức

bộ máy nhà nước trong lịch sử dân tộc (của Trần Bá Đệ), bối cảnh lịch sử và một số chính sách kinh

tế xã hội của triều Nguyễn (của Nguyễn Phan Quang), cơ chế giám sát của triều Nguyễn (Ngô Đức Lập).v.v Tuy còn rời rạc và chưa được sắp xếp theo hệ thống, nhưng từ thành quả khoa học của các công trình kể trên, Luận án đã rút ra được nhiều nội dung quan trọng để bổ sung cho các nghiên cứu của mình

Bên cạnh các công trình nghiên cứu có tính chất thuần về sử học, mở rộng phạm vi nghiên cứu sang lĩnh vực Hành chính và Luật pháp còn tìm thấy các tác phẩm có chung đối tượng nghiên

cứu hàng dọc về nhà nước, pháp quyền, tổ chức hành chính như: Giáo trình lịch sử nhà nước và pháp luật Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà Nội do NXB Công an nhân dân phát hành năm

2002, Tập bài giảng lịch sử Nhà nước và pháp luật Việt Nam (từ ngu n gốc đến thế ) của Vũ Thị Nga – Nguyễn Huy Anh, Lịch sử hành chính Nhà nước Việt Nam của Học viện Hành chính Quốc gia ấn hành năm 2002, Giáo trình lịch sử hành chính Nhà nước Việt Nam của Học viện Hành

chính Quốc gia năm 2008.v.v và một số các công trình nghiên cứu thuộc các lĩnh vực này Những tác phẩm kể trên với đặc trưng là nghiên cứu đối tượng triều Nguyễn theo phương pháp lịch đại nên

đã có nhiều sự liên hệ và so sánh trong việc tổng hợp các phần nghiên cứu riêng lẻ thành hệ thống với tính bao quát cao, qua đó sáng tỏ nhiều vấn đề của triều Nguyễn giai đoạn 1802-1840 Tuy nhiện,

Trang 18

đây vốn là nghiên cứu của những chuyên ngành gần với lịch sử, nên những tác phẩm thường dừng lại

ở việc đánh giá khái quát những nét cơ bản của bộ máy nhà nước triều Nguyễn cũng như không trọng tâm lí giải các vấn đề còn tồn đọng, cũng như chưa phân tích sâu tính chất của bộ máy nhà nước triều Nguyễn ở mỗi giai đoạn Tuy nhiên, cách tiếp cận và lý giải trong nhiều vấn đề của các tác phẩm này có giá trị tham khảo rất lớn

Thực trạng nghiên cứu cho thấy, từ khi đất nước đổi mới, các vấn đề thuộc bộ máy nhà nước triều Nguyễn đã và đang được nghiên cứu sâu Tuy nhiên, một số vấn đề mà Luận án đang quan tâm như cơ cấu tổ chức và cơ chế hoạt động của bộ máy nhà nước triều Nguyễn giai đoạn 1802-1840 đã được xây dựng như thế nào ở hai giai đoạn 1802-1830 và 1831-1840, vai trò và mối liên kết của hai

bộ máy nhà nước “trung ương tản quyền” và “trung ương tập quyền” trong việc hoàn thiện chỉnh thể nhà nước tập quyền thống nhất của triều Nguyễn, quá trình thực hiện chủ trương tập quyền triệt để của triều Nguyễn ở nửa đầu thế kỷ XIX.v.v vẫn chưa được giải quyết triệt để

3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu Quá trình phát triển của bộ máy nhà nước triều Nguyễn từ “trung ương tản

quyền” đến “trung ương tập quyền” (1802-1840) hướng đến các mục tiêu sau:

- Hệ thống tiến trình tập quyền của triều Nguyễn những năm 1802-1840, tương ứng với giai đoạn từ lúc giành được vương quyền, kiến thiết quốc gia đến khi vươn đến sự ổn định của tập quyền

- Mô tả bức tranh toàn diện về cơ cấu tổ chức cũng như cơ chế vận hành của bộ máy nhà nước “trung ương tản quyền” giai đoạn 1802-1830, cùng với những giá trị độc đáo và những hệ quả cần thiết làm tiền đề cho giai đoạn tiếp theo

- Phân tích những chuyển biến trong cách thức tổ chức và cơ chế vận hành của bộ máy nhà nước “trung ương tập quyền” giai đoạn 1831-1840, đặc biệt là những điều chỉnh về cơ cấu hành chính từ sau năm 1831-1832 Qua đó, lí giải căn nguyên cũng như bản chất của các thay đổi nói trên

- Làm rõ mối liên kết giữa hai bộ máy nhà nước triều Nguyễn ở hai giai đoạn trong kế hoạch tập quyền của triều Nguyễn giai đoạn 1802-1840, qua đó chứng minh quá trình tập quyền của triều Nguyễn trong nửa đầu thế kỷ XIX đã được tiến hành qua hai giai đoạn nhỏ hơn là 1802-1830 và 1831-1840, với sự chuyển tiếp từ bộ máy nhà nước trung ương tản quyền đến bộ máy nhà nước trung ương tập quyền, đó là sự chuyển tiếp liền mạch, có chủ định, hợp quy luật, đi từ tập quyền ở mức độ phù hợp đến tập quyền ở mức độ tập trung, từ sự thích ứng với tình hình thực tế ở Việt Nam vào đầu thế kỷ XIX cho đến việc hoàn bị của tổ chức nhà nước Nguyễn vào những năm 30

Trang 19

- Qua việc phân tích và đối chiếu với những cách đánh giá lâu nay về bộ máy nhà nước triều Nguyễn giai đoạn Gia Long và Minh Mạng, cũng như về quá trình tập quyền của triều Nguyễn trong những năm 1802-1840, đề tài sẽ làm rõ các khái niệm “tản quyền” và “tập quyền”, cũng như lý giải việc thực hiện mục tiêu tập quyền ở mỗi giai đoạn trong quá trình xây dựng bộ máy triều Nguyễn

- Tổng kết những bài học kinh nghiệm trong quá trình xây dựng bộ máy nhà nước, về mối quan hệ giữa trung ương với địa phương, về sự dung hòa những nhân tố con người với những nhân

tố thuộc về cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng Qua đó, bổ sung những nghiên cứu mới, hệ thống hóa nguồn tư liệu nhằm phục vụ cho công tác nghiên cứu phần lịch sử cổ trung cân đại nói chung và lịch sử Triều Nguyễn nói riêng

4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu chính của đề tài là quá trình xây dựng bộ máy nhà nước triều Nguyễn trong khoảng thời gian 1802-1840, trong đó tập trung vào hai đối tượng: cơ cấu tổ chức và cơ chế hoạt động của bộ máy nhà nước triều Nguyễn giai đoạn 1802-1830 từ trung ương cho đến địa phương; cơ cấu tổ chức và cơ chế hoạt động của bộ máy nhà nước triều Nguyễn giai đoạn 1831-1840

từ trung ương cho đến địa phương

Để làm rõ quá trình tập quyền của bộ máy nhà nước triều Nguyễn giai đoạn 1802-1840, Luận

án đi sâu phân tích tính chất cũng như vai trò và mối liên hệ giữa hai tổ chức bộ máy nhà nước trong quá trình tập trung quyền lực của nhà Nguyễn trên cơ sở so sánh và đối chiếu với những hướng nghiên cứu khác

Luận án cũng sẽ dành sự quan tâm cho một số vấn đề thuộc về pháp luật triều Nguyễn, trong

đó trọng tâm là những vấn đề về quan chế, về cách thức tổ chức và phối hợp hoạt động giữa các cơ quan, về luật pháp, và một số vấn đề về kinh tế-chính trị-văn hóa-xã hội-tư tưởng.v.v

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Về mặt không gian, phạm vi nghiên cứu của đề tài là tổ chức chính quyền và cơ cấu bộ máy nhà nước được áp dụng trên toàn lãnh thổ Việt Nam, tức không gian lãnh thổ nước Việt Nam được thiết lập từ thời Gia Long và sau đó được củng cố trong suốt thời Minh Mạng Tuy nhiên, Luận án sẽ tập trung trong cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước ở trung ương và mô hình tổ chức hành chính địa phương chung áp dụng trên toàn quốc, trên cơ sở có đề cập riêng trên từng khu vực lớn của đất nước, chứ không đi sâu vào chi tiết cụ thể ở từng địa phương Bên cạnh đó để có cái nhìn khái quát hơn, đề tài còn liên hệ đến cả những mô hình tổ chức bộ máy nhà nước lân cận và trước đó

Trang 20

Về mặt thời gian, đề tài tập trung vào giai đoạn trị vì của Gia Long và Minh Mạng, tức là khoảng thời gian từ năm 1802 đến năm 1840 Tuy nhiên trong quá trình tiến hành các phân tích và nghiên cứu, để có cái nhìn toàn diện, đề tài còn đối chiếu và đề cập đến các sự kiện diễn ra trước và sau đó

5 NGUỒN TƯ LIỆU

Nguồn tư liệu quan trọng nhất được tác giả sử dụng trong Luận án là nguồn tư liệu được biên

soạn bởi Nội các, Quốc sử quán và các sử thần triều Nguyễn, cụ thể đó là các bộ Hội điển, Thực lục, Hoàng triều luật lệ, Minh Mệnh chính yếu, Đại Nam nhất thống chí, Đại Nam chính biên liệt truyện

và các tài liệu châu bản còn được lưu trữ lại

Nguồn tư liệu quan trọng thứ hai là các tài liệu tham khảo chuyên ngành bao gồm các công trình nghiên cứu, các Luận án Tiến sĩ, sách chuyên ngành, các bài viết, bài tham luận, bài nghiên cứu được đăng trên các kỷ yếu Hội thảo, tạp chí chuyên ngành, báo mạng có uy tín.v.v

Nguồn tư liệu quan trọng thứ ba là từ internet, bao gồm các bài viết, bài nghiên cứu, báo cáo khoa học.v.v đã công bố và được cập nhập trên các website

6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đề tài của Luận án thuộc về chuyên ngành Lịch sử Việt Nam nên phương pháp nghiên cứu chủ yếu là phương pháp lịch sử, phương pháp logic và phương pháp hệ thống, được vận dụng trên nền tảng chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Bên cạnh đó, công trình còn sử dụng các phương pháp chuyên ngành khác của khoa học lịch sử là phương pháp nghiên cứu đồng đại, phương pháp nghiên cứu lịch đại nhằm tái hiện cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước triều Nguyễn dưới hai triều vua đầu, đồng thời tiến hành xâu chuỗi các sự kiện với nhau trong mối quan hệ tương tác hai chiều Đặc biệt, có sự kết hợp các phương pháp nghiên cứu trong việc phục dựng về cơ cấu tổ chức của bộ máy nhà nước thời kì 1802-1830 và 1831-1840, với việc phân tích và đối chiếu với những quan điểm trái chiều, những mối liên hệ tương đồng cũng như khác biệt giữa hai bộ máy nhà nước đó

Bên cạnh các phương pháp nghiên cứu đặc thù thuộc chuyên ngành nghiên cứu lịch sử, đề tài còn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu chuyên biệt khác, bao gồm: phương pháp thống kê, phương pháp sưu tầm và xử lý số liệu, phương pháp khai thác và hệ thống tư liệu, các phương pháp

so sánh và đối chiếu, phương pháp trình bày và xây dựng cấu trúc văn bản, phương pháp hệ thống hóa số liệu, phương pháp vẽ sơ đồ biểu mẫu.v.v

7 ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN ÁN

Trang 21

Với sự kế thừa có chọn lọc các kết quả nghiên cứu đi trước, việc nghiên cứu đề tài “Quá

trình phát triển của bộ máy nhà nước triều Nguyễn từ “trung ương tản quyền” đến “trung ương tập quyền” (1802-1840)” sẽ có những đóng góp:

Trên cơ sở hệ thống hóa, khái quát hóa và tiến hành phân tích, đối chiếu với các nguồn tư liệu, các công trình nghiên cứu, với cách tiếp cận và hướng nghiên cứu độc lập, Luận án góp phần hệ thống và mô tả toàn diện cơ cấu tổ chức cũng như cách thức vận hành của bộ máy nhà nước phong kiến triều Nguyễn giai đoạn 1802-1840 qua hai đời vua là Gia Long và Minh Mạng Quá trình nghiên cứu này được tiến hành trong sự đối chiếu và so sánh với các hướng nghiên cứu khác lâu nay

Việc phân tích và nghiên cứu bộ máy nhà nước triều Nguyễn giai đoạn 1802-1840 sẽ làm sáng tỏ những nét độc đáo của một nhà nước “trung ương tản quyền” giai đoạn 1802-1840 cũng như những đặc trưng về một nhà nước “trung ương tập quyền” được đánh giá là đạt tới sự tập quyền cao

độ ở giai đoạn 1831-1840

Việc nghiên cứu bộ máy nhà nước triều Nguyễn giai đoạn 1802-1840 cũng nhằm làm sáng tỏ những mối liên kết giữa hai bộ máy nhà nước “trung ương tản quyền” và “trung ương tập quyền”, cũng như là sự hỗ trợ và tương tác giữa nguyên tắc “tản quyền” và “tập quyền” trong chủ trương tập quyền của triều Nguyễn

Đất nước đang trong quá trình hội nhập thế giới với xu hướng đổi mới toàn diện Việc nghiên cứu tổ chức và cơ chế hoạt động của bộ máy nhà nước triều Nguyễn giai đoạn 1802-1840 còn nhằm rút ra những kinh nghiệm, những bài học về quá trình xây dựng bộ máy nhà nước, đóng góp vào quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa

Trang 22

Chương 2: “Bộ máy nhà nước triều Nguyễn giai đoạn 1831-1840” (từ trang 81-129) Chương gồm ba mục lớn với nội dung chính là: trình bày cơ cấu tổ chức và cơ chế vận hành của bộ máy nhà nước “trung ương tập quyền” (1831-1840), từ trung ương cho đến địa phương, trọng tâm là sau cuộc điều chỉnh hành chính những năm 1831-1832 Phần đầu chương có đề cập đến nguyên nhân, thời cơ

và những điều chỉnh về mặt cơ cấu và cơ chế vận hành của bộ máy nhà nước triều Nguyễn, đặc biệt

là trong việc xóa bỏ cách thức phân cấp cũ và thành lập đơn vị hành chính địa phương mới

Chương 3: “Tương quan giữa “tản quyền” và “tập quyền” trong quá trình xây dựng bộ máy nhà nước triều Nguyễn từ Gia Long đến Minh Mạng (giai đoạn 1802-1840)”, (từ trang 130-184) Chương gồm ba mục lớn với nội dung: lý giải và phân tích những nguyên lý, những mối liện hệ, cũng như vai trò giữa hai tổ chức bộ máy nhà nước “trung ương tản quyền” và “trung ương tập quyền” trong chủ trương tập quyền của triều Nguyễn ở nửa đầu thế kỷ XIX Chương cũng sẽ giành

ra một phần để tổng kết những hiệu quả đem lại từ việc thực hiện cơ chế “tản quyền” và “tập quyền” trong chủ trương tập quyền của triều Nguyễn và những bài học kinh nghiêm rút ra từ việc nghiên cứu

cơ cấu tổ chức và cơ chế hoạt động của tổ chức bộ máy nhà nước đó, cũng như quá trình hình thành

và hoàn thiện chủ trương tập quyền của Triều Nguyễn ở nửa đầu thế kỷ XIX đối với công tác quản lý đất nước quản lý xã hội hiện nay

Trang 23

Chương 1

BỘ MÁY NHÀ NƯỚC TRIỀU NGUYỄN GIAI ĐOẠN 1802-1830

1.1 SỰ RA ĐỜI CỦA VƯƠNG TRIỀU NGUYỄN

1.1.1 Đất nước trải qua ba thế kỷ nội chiến và chia cắt

Thời ỳ hủng hoảng kéo dài

Nửa đầu thế kỷ XVI, sau thời gian phát triển, những mâu thuẫn trong quá trình cai trị của tập đoàn phong kiến Lê triều dần xuất hiện Hệ thống quan lại dần trở nên quan liêu và công kềnh, các chính sách phát triển kinh tế tích cực nhường chỗ cho thuế khóa nặng nề và tình trạng kiêm tính ruộng đất, nội bộ giai cấp thống trị rạn nứt, các vua kế tục dần mất vai trò tích cực và bước trên con đường tha hóa, kinh tế sa sút, mâu thuẫn xã hội bùng phát, nông dân bị đẩy vào hoàn cảnh phá sản trên diện rộng, đất nước bị cuốn vào những cuộc khởi nghĩa và nội chiến

Nội chiến Nam – Bắc triều

Năm 1527, Mạc Đăng Dung phế ngôi vua Lê, lập ra nhà Mạc Sau đó, các thế lực ủng hộ nhà

Lê, đại diện là Nguyễn Kim đã lập Lê Duy Ninh lên làm vua (1533), trung hưng lại nhà Lê Hỗn chiến phong kiến tiếp tục diễn ra trong nửa sau thế kỷ XVI, kéo dài gần 50 năm (1545-1592), với khoảng 40 trận chiến lớn nhỏ Kết cục nhà Lê với sự giúp đỡ của họ Nguyễn và họ Trịnh đã đánh bại nhà Mạc

Phân tranh Đàng Trong – Đàng Ngoài

Khoảng thời gian hậu chiến Nam-Bắc triều cũng là thời điểm hình thành nên các thế lực phong kiến cát cứ mới Từ năm 1558 đến 1777, kể từ khi Nguyễn Hoàng vào trấn trị vùng đất Thuận Hóa, họ Nguyễn trải qua 9 đời Chúa, với chính sách liên tục mở rộng lãnh thổ về phía Nam, đã đưa vùng đất này tách khỏi những ảnh hưởng của chính quyền Lê-Trịnh Thực tế là ngay từ khi chiến tranh Nam-Bắc triều chưa kết thúc, đã có một sự đối đầu giữa chính quyền Lê-Trịnh với chúa Nguyễn Đến những năm 1627-1672, cả hai bên sử dụng chiến tranh để giải quyết mâu thuẫn Cuộc nội chiến diễn ra trong 45 năm Kết cục, không bên nào giành được thắng lợi, nhưng trên khía cạnh dân tộc là một thất bại trong tính thống nhất, đất nước lại lần nữa bị tàn phá

Khởi nghĩa nông dân

Nền kinh tế sau nhiều năm bỏ bê và bị chiến tranh tàn phá, lâm vào cuộc khủng hoảng toàn diện Đời sống của các tầng lớp nhân dân bị bần cùng hóa và phá sản hàng loạt, làm bùng nổ phong trào khởi nghĩa nông dân ở cả hai vùng Nam-Bắc, kết tinh của phong trào

Trang 24

nông dân rộng lớn đó là khởi nghĩa Tây Sơn Năm 1771, từ ấp Tây Sơn thuộc vùng Tây Sơn thượng đạo, ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ đã phất cờ khởi nghĩa, thực hiện quá trình đánh Nam dẹp Bắc, xóa bỏ các hình thái chính quyền ở cả Đàng Trong và Đàng Ngoài, đồng thời đánh bại quân Xiêm và quân Thanh, về cơ bản chấm dứt tình trạng chia cắt đất nước

Như vậy, từ năm 1527 đến 1789, đất nước bị cuốn vào những cuộc nội chiến và chia cắt kéo dài, sau đó kết thúc với thắng lợi của khởi nghĩa Tây Sơn, nhưng bản thân triều Tây Sơn không thoát khỏi kết cục chia cắt của sự phân phong và tinh thần cát cứ địa phương Có thể hình dung cục diện chính trị phức tạp lúc bấy giờ như sau: vương triều Tây Sơn bị phân tán thành ba vùng lãnh thổ gồm chính quyền của Trung ương Hoàng đế Nguyễn Nhạc từ Quảng Ngãi vào Nam, vùng đất Gia Định

do Đông Định vương Nguyễn Lữ trấn trị, vùng đất từ Quảng Nam ra Bắc thuộc Bắc Bình vương Nguyễn Huệ Về sự phân chia thành các khu vực này, cũng chính là việc tái lập một sự chia cắt mới, làm cản trở xu hướng thống nhất của đất nước Do đó có một thực tế là, cho đến trước khi Gia Long xác lập triều Nguyễn vào năm 1802, Đại Việt vẫn còn đang trong quá trình đấu tranh thống nhất

1.1.2 Nguyễn Ánh kết thúc nội chiến và thống nhất đất nước

Năm 1780, Nguyễn Ánh được tôn làm Đại nguyên súy nhiếp Quốc chính Từ năm 1782 đến

1786, Tây Sơn và Nguyễn Ánh thường xuyên đối đầu Năm 1792, Nguyễn Huệ qua đời, chính quyền Tây Sơn suy yếu dần, Nguyễn Ánh nhân đó ra sức Bắc tiến, năm 1801 vượt biển đánh Phú Xuân, giữa năm 1802 lại tiếp tục tiến đánh Thăng Long, vua Quang Toản thất bại, triều Tây Sơn kết thúc Sau khi làm chủ cả nước, ngày 1 tháng 5 năm 1802, Nguyễn Ánh lên ngôi, đặt niên hiệu là Gia Long, triều Nguyễn chính thức thành lập Nhưng lúc này tình hình chính trị chưa ổn định, các phái đoàn ngoại giao với triều đình phương Bắc còn chưa trở về nên các vấn đề về “danh phận” và quốc hiệu chưa được “thừa nhận” và thống nhất Đến năm 1804, vua Thanh cho tuyên phong, ban quốc hiệu Việt Nam Năm 1806, công bố rộng rãi đế hiệu Gia Long, và đến năm 1811 thì lấy lại tên nước là Đại Việt

1.1.3 Tình hình đất nước dưới triều Gia Long

Những hó hăn sau hi đất nước thống nhất dưới vương triều mới

(1) – Tình hình chính trị nhiều bất ổn: sự bất ổn này một phần đến từ hậu quả của thời kì dài đất nước bị chia cắt, một phần đến từ chính bản thân của vương triều mới Hậu quả của ba thế kỷ nội chiến là bức tranh chính trị hỗn loạn, mặc dù các thế lực vua Lê-chúa Trịnh và Tây Sơn đã bị loại bỏ,

Trang 25

nhưng những âm mưu khôi phục quyền lực của các thế lực này vẫn còn, tàn dư của những lực lượng chưa ủng hộ nhà Nguyễn vẫn công khai chống phá Bên cạnh đó, bản thân vương triều mới lại được thành lập từ trong thắng lợi trước một triều đại có nhiều yếu tố tích cực (triều Tây Sơn vốn là thành quả của phong trào khởi nghĩa nông dân to lớn ở thế kỷ XVIII, gắn liền với những chiến công sáng chói trong công cuộc thống nhất, đập tan các thế lực phong kiến cát cứ và chống giặc ngoại xâm); mà

để giành chiến thắng, Gia Long đã phải sử dụng gần như tất cả các biện pháp, kể cả việc nương nhờ vào các thế lực ngoại bang, đi ngược lại với tình cảm và suy nghĩ thông thường của dân tộc Điều này tạo cho triều Gia Long cái gọi là “yếu tính chính trị” trong việc củng cố quyền lực ngay sau khi vừa xác lập được vương quyền Biểu hiện của “yếu tính chính trị” này rất rõ ràng: quan lại cũ của nhà Lê không chịu hợp tác, các cuộc nổi dậy của những thế lực chống đối, “lòng người” thờ ơ với những lời kêu gọi của vương triều.v.v

(2) – Tình hình kinh tế kiệt quệ: đất nước vừa trải qua khoảng thời gian dài bị chia cắt Trong những thế kỷ này, các tập đoàn phong kiến đối đầu bằng vũ trang, xem nhẹ việc phát triển kinh tế, các vùng đất trù phú bị biến thành chiến trường, ruộng đất bị bỏ hoang nhiều, dân cư phân tán, sản xuất nông nghiệp bỏ bê, quá trình tư nhân hóa ruộng đất diễn ra chóng mặt, quy mô thủ công nghiệp nhỏ lại sản xuất cầm chừng, chỉ đủ “tự cung tự cấp” hoặc phục vụ nhu cầu của các chính quyền phong kiến cát cứ, các yếu tố của công trường thủ công lớn tuy đã xuất hiện nhưng không được tạo điều kiện phát triển, thương nghiệp giữa các vùng miền bị ngăn trở, các rào cản thuế quan và cấm thông thương được dựng lên, việc buôn bán với nước ngoài mặc dù được tạo điều kiện nhưng không được tự do phát triển, mà bị lèo lái giao dịch theo hướng phục vụ cho chiến tranh, việc các vùng miền bị chia cắt trong một thời gian dài làm cho hệ thống đơn vị đo lường cũng như tiền tệ không đồng nhất, gây cản trở cho sự phát triển Đó chính là bức tranh kinh tế nhiều màu xám mà Gia Long phải đối diện khi tiếp quản việc cai trị ở những năm đầu thế kỷ XIX

(3) – Tình hình văn hóa - xã hội đầy thương tổn: thực trạng xã hội khi triều Nguyễn mới tiếp nhận việc cai trị cũng tồn tại nhiều vấn đề khó giải quyết Chiến tranh dai dẳng và nội chiến kéo dài làm đời sống của các tầng lớp nhân dân khốn khổ, khoảng cách giàu nghèo giữa các giai cấp ngày càng lớn, tạo điều kiện cho mâu thuẫn xã hội nảy sinh Việc các tập đoàn phong kiến đối đầu, làm pháp chế rối loạn, lòng người biến động, tinh thần hòa hợp dân tộc bị tổn thương Khoảng thời gian chia cắt dài vô tình cũng tạo ra những sự khác biệt lớn giữa hai miền Nam-Bắc trên các phương diện: tình cảm, tư tưởng, nhận thức, hành vi, văn hóa.v.v

(4) – Tình hình nội bộ căng cứng: các tướng lĩnh trước đây cùng vào sinh ra tử với Gia Long trong cuộc chiến tưởng chừng vô vọng với Tây Sơn đều là những con người đầy tài năng, cả về năng

Trang 26

lực lãnh đạo lẫn năng lực chiến trận Với tính cách “võ biền” và cá tính mạnh mẽ, trong chiến trận,

họ là những tướng lĩnh đầy quyền uy, nắm quyền điều khiển những trận đánh có ảnh hưởng lớn đến

sự tồn vong của cả dòng họ Nguyễn Chính vì vậy, sau khi hòa bình thống nhất được lập lại, với tham vọng từ việc phân chia những lợi ích thắng lợi, các cá nhân này không dễ chấp nhận khuôn khổ, tuân theo sự điều hành của cả một hệ thống bộ máy nhà nước với nhiều điều luật và quy tắc áp chế bên trên, thậm chí việc đứng ngang hàng và nhận những quyền lợi như những quan lại thuộc thế

hệ thứ hai cũng dễ dẫn đến những xung đột nhất định Nguy cơ này vốn không biểu hiện rõ ràng nhưng lại là một trở ngại vô cùng lớn, nếu không giải quyết khéo léo và triệt để thì sự thống nhất của đất nước vừa mới giành được lúc này sẽ như một làn băng mỏng, kéo theo sự tan vỡ của tính hòa hợp dân tộc Theo dõi tiến trình phát triển của lịch sử dân tộc cũng như trên thế giới cho thấy điều đó

Trong bối cảnh thế giới những năm cuối thế kỷ XVIII đầu XIX, là thời điểm Chủ nghĩa đế quốc đẩy mạnh việc tìm kiếm thuộc địa và can thiệp thô bạo vào các quốc gia nhỏ yếu trên toàn thế giới thông qua các biện pháp thông thương và chiến tranh, sự kiện này cùng với những khó khăn toàn diện của một đất nước vừa thống nhất, càng làm cho việc cai trị càng trở nên khó khăn hơn

Những nỗ lực nhằm bình ổn tình hình đất nước của Gia Long

Để khôi phục đất nước từ đống hoang tàn đổ nát, vua Gia Long đã cho thi hành nhiều biện pháp, có thể khái quát những nỗ lực của vương triều mới như sau:

(1) – Thực hiện biện pháp ngăn chặn từ xa các âm mưu lật đổ và xâm lược từ bên ngoài thông qua việc ban hành và kết hợp đồng bộ nhiều chính sách về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, cũng như ngoại giao

(2) – Xây dựng bộ máy nhà nước mới với Lục bộ và hệ thống các Ty-Viện-Tự-Đài-Cục cùng những cách thức và cơ chế vận hành guồng máy nhà nước từ trung ương cho đến địa phương dựa trên những ý tưởng và cách thức sắp xếp mới

(3) – Xây dựng hệ thống luật pháp với bộ luật Hoàng Việt luật lệ có nội dung điều chỉnh lại

các mối quan hệ xã hội và các vấn đề của đất nước Qua đó tiến hành chấn chỉnh kỷ cương, luật pháp

và ổn định phong tục

(4) – Củng cố hệ thống giao thông vận tải và thông tin liên lạc giữa các vùng miền thông qua việc xây dựng các trạm dịch, hệ thống đường cái quan, các đội thuyền vận tải cùng các cơ chế vận hành và cách thức quản lý Đảm bảo cho sự liên tục trong việc luân chuyển thông tin, vật hạng và con người trên cả nước

(5) – Phục hồi nền kinh tế với các nhận thức tích cực về nông nghiệp, thủ công nghiệp và thương nghiệp Trong nông nghiệp, có những biện pháp khuyến nông, khẩn hoang, đê điều, bảo vệ

Trang 27

sức kéo; kết hợp cùng với các chế độ quân điền, miễn giảm thuế, phân chia dân đinh, công tác khai hoang được thực hiện tốt Trong thủ công nghiệp, nhà nước có chính sách phát triển công trường thủ công với chế độ công tượng và lương bổng có nhiều điều chỉnh, có đầu tư nghiên cứu kỹ thuật, ưu đãi các ngành nghề có thế mạnh, tạo ra những chế tài và cơ chế hợp tác thích hợp cho các ngành nghề, đặc biệt là trong việc khai thác các hầm mỏ Trong thương nghiệp, thống nhất hệ thống đo lường và tiền tệ, xóa bỏ rào cản giữa các miền, hỗ trợ cho các đội thương thuyền, có chính sách điều tiết luồng hàng hóa phù hợp, tạo điều kiện nâng đỡ nội thương và điều tiết ngoại thương phát triển với chính sách ưu tiên phát triển kinh thành

(6) – Ưu tiên việc bình ổn dân sinh và củng cố nhân tâm với những chính sách an dân Cho xây dựng kho thóc ở các địa phương để khi có thiên tai hoặc mất mùa sẽ kịp thời cấp phát Thực hiện các thay đổi chính trị cẩn trọng, hạn chế các điều chỉnh lớn làm kinh động lòng người, giai đoạn đầu vua thường xuyên cho miễn giảm thuế ở nhiều khu vực và nhiều đối tượng

(7) – Có sự định hình nền tảng văn hóa và các giá trị tinh thần thông qua các biện pháp củng

cố nền Nho học với hệ thống trường học và các kỳ thi cử được tổ chức đều đặn Đề cao tín ngưỡng truyền thống thông qua việc ban hành các văn bản có tính điều chỉnh đối với các tục lệ trong đời sống, thực hiện chính sách điều hòa tôn giáo với các biện pháp có tính dung hòa nhất định, duy trì việc phục hồi các giá trị văn hóa thông qua việc sưu tầm tài liệu, sách vở.v.v

(8) – Thi hành đường lối ngoại giao đa chiều với tình hình cụ thể của từng quốc gia: với Trung Hoa là sự nhúng nhường trong việc xưng thần, với Xiêm là sự kiềm chế trên thế mạnh, với Chân Lạp và Ai Lao là hai nước chấp nhận thuần phục thì thi hành chính sách bảo hộ, với người Pháp là sự biệt đãi cẩn trọng nhằm tránh những ảnh hưởng, với các nước phương Tây khác là việc hạn chế tiếp xúc

(9) – Cho xây dựng và hoàn thiện cơ chế vận hành của bộ máy nhà nước mới, trong đó trọng tâm là “trao quyền lớn” cho các chức Tổng trấn ở hai Thành Với biện pháp này, vua Gia Long vừa

xử lý được nguy cơ có thể phát sinh từ những “cá tính” và “tham vọng” từ việc phân chia quyền lợi sau chiến thắng cho các tướng lĩnh khai quốc, đồng thời tạo ra môi trường thuận lợi để giải quyết công việc ở hai khu vực vốn đang còn tồn đọng nhiều bất ổn

1.2 CƠ CẤU TỔ CHỨC BỘ MÁY NHÀ NƯỚC TRIỀU NGUYỄN GIAI ĐOẠN

1802-1830

1.2.1 Cơ cấu bộ máy nhà nước ở trung ương

1.2.1.1 Hoàng đế

Trang 28

Hoàng đế là “Đế vị của một ông vua tự xưng, đứng đầu một vương triều hùng mạnh, được nước nhỏ yếu khác thuần phục và cống nạp” 48,200], là “vua một nước, thường có các nước nhỏ xung quanh thuần phục” 138,825] Chữ “Hoàng đế” có nguồn gốc từ Trung Quốc Ở nước ta, được

sử dụng từ nhà Đinh, trải qua các triều tiền Lê-Lý-Trần-Hồ-Lê sơ cho đến nhà Nguyễn, những vua sáng nghiệp và kế nghiệp đều duy trì danh xưng Hoàng đế với ý niệm về một quốc gia độc lập Tuy nhiên trong các thủ thuật ngoại giao với Trung Hoa, để giữ hòa khí với nước lớn, chúng ta vẫn duy trì mối quan hệ triều cống và xưng thần Phương thức chuyển giao ngôi vị Hoàng đế ban đầu là

“truyền hiền”, về sau trở thành thế tập gọi là “truyền tử”, trong đó phải đảm bảo ba nguyên tắc: trọng nam, trọng trưởng và trọng đích

Đế quyền của Hoàng đế Gia Long được thể hiện trong các quyền sau: (1) – Quyền chuyên chế về lập pháp, hành pháp và tư pháp, (2) – Quyền độc tôn chỉ huy quân đội, (3) – Quyền quyết định về thuế vụ, (4) – Quyền tự quyết về ngoại giao, (5) – Quyền thân chính Với năm quyền lực cơ bản này cùng với sự mở rộng của nó thì phạm vi hoạt động của đế quyền là bao trùm tất cả quyền lực của nhà nước, bao gồm cả thần quyền và thế quyền

1.2.1.2 Hội đồng đình thần và các chức quan đầu triều

Hội đ ng đình thần

Được thiết lập từ năm 1788, với ý định “làm nơi các quan văn võ hội nghị Phàm theo chỉ vua

mà truyền thị và sai phái đều xưng là công đồng” 82,235] Khi mới thành lập, có tên là “thự công đồng” (nhà công đồng), cho đúc ấn riêng có chữ “Thiêm ngôn doãn hiệp” (đều bàn hiệp nhau) còn gọi là ấn “công đồng” để sử dụng Năm 1803, Gia Long quy định nhiệm vụ và cách thức làm việc của Hội đồng “Nước nhà mới định yên, công việc còn bề bộn, ta một ngày muôn việc, sợ không thể chu tất được cả Bọn khanh đều là người gần gũi, nên sáng suốt gắng làm để có ích cho chính trị Từ nay, quan võ từ thống chế, phó thống chế và phó tướng trở lên, quan văn từ tham tri trở lên, mỗi tháng cứ bốn ngày mồng 1,8, 15, 23 thì họp bàn ở Tả vu, phàm những việc mà các ty không giải quyết được thì phải bàn nhau mà xử định Đến như sự thể quan trọng thì cũng chước lượng bàn bạc trước, rồi sau tâu xin quyết định” 82,559-560] Năm 1805, vua nhấn mạnh tính chất công vụ của Hội đồng đình thần: “phàm việc quan trọng của các nha mà các quan phụ trách không giải quyết được, các án kiện tụng ở các địa phương, xử chưa rõ lẽ, cùng quân dân có oan khuất kêu lên thì hội đồng xử đoán” 82,627] Sau đó, định lại ngày hội họp là 2, 9, 16, 24 hằng tháng tại “công thự võ”

Như vậy có thể thấy, Hội đồng đình thần là một cơ chế có quyền lực lớn, được thay mặt vua giải quyết những công việc mà các Bộ/Nha không giải quyết được, được túc trực bên cạnh vua để bổ

Trang 29

khuyết những thiếu sót và cố vấn trong việc điều hành đất nước Điều đặc biệt, Hội đồng đình thần không phải là một cơ quan với những chức quan chuyên biệt được thiết lập riêng mà là một cơ chế tập hợp quyền lực, nhằm tận dụng sức mạnh và trí tuệ của những quan chức có phẩm trật cao trong triều đình Trong hoàn cảnh nhà nước mới thành lập, tình hình chính trị chưa ổn định, công cuộc xây dựng nhà nước đang bề bộn thì Hội đồng đình thần đã có vai trò hỗ trợ hiệu quả

Các chức quan đầu triều

Năm 1804, với việc ban hành chỉ dụ quan chế, vua Gia Long cho sắp xếp quan chức theo các bậc phẩm trật là “Tòng”, “Chánh” và “Tản giai” Dựa vào hệ thống phân cấp này1, các quan chức đứng đầu bảng phẩm trật chính là các quan đứng đầu triều:

(1) – Tam công (còn gọi là Tam thái): gồm ba chức: Thái sư, Thái phó, Thái bảo, là phẩm

hàm trên “nhất phẩm văn ban” Dùng để truy tặng cho những công thần có công lớn, nhưng rất hạn chế, chủ yếu dùng để truy phong cho người đã chết

(2) – Tam cô (còn gọi là Tam thiếu): gồm ba chức là Thiếu sư, Thiếu phó, Thiếu bảo Đều có

trật hàm 1a, cũng như ba tước Công, ba tước Cô cũng rất hạn chế phong cho quan lúc đang còn đương chức

(3) – Tham chính: là chức quan có quyền tham dự vào những việc chính sự quan trọng Thời

Gia Long, chức Tham chính thường mang trật 1b, là chức quan kiêm lãnh (gồm một chức vụ trong

bộ máy hành chính ở trung ương và chức Hiệp trấn hoặc Phó hiệp trấn ở địa phương)

(4) – Tham nghị: là chức đại thần trong triều Gia Long, được phép tham gia bàn bạc các việc

“quân quốc trọng sự”, có trật 1b văn ban

1 Xem thêm phụ lục 3

Trang 30

1.2.1.3 Lục bộ

Ở nước ta, Lục bộ được thành lập trên cơ sở học tập kinh nghiệm tổ chức nhà nước Trung Hoa Trải qua thời gian, đến thời điểm Triều Nguyễn thành lập thì tổ chức Lục bộ đã trải qua quá trình phát triển với nhiều biến đổi

Chức năng và nhiệm vụ

Thứ nhất, về chức năng và nhiệm vụ chung: là cơ quan chấp hành của triều đình, đảm nhiệm việc giải quyết các công vụ của quốc gia Có quyền nhân danh Hoàng đế để áp dụng luật lệ hoặc thi hành những mệnh lệnh được ban hành Giữ mối quan hệ mật thiết với các địa phương và các cơ quan nhà nước khác Có vai trò quan trọng trong việc điều hành và duy trì guồng máy hoạt động của Nhà nước Ngoài ra, Lục bộ được xem như là cơ quan tư vấn tối cao cho Hoàng đế trong việc điều hành đất nước

Thứ hai, về chức năng và nhiệm vụ cụ thể ở từng Bộ:

(1) – Lại bộ, là cơ quan quản lý quan chức “giữ những chính sự thăng giáng về quan văn trong kinh và ở các tỉnh, chỉnh đốn phương pháp làm quan để giúp chính sự trong nước” [63,13] Có thể khái quát ba nhiệm vụ của bộ Lại như sau: thứ nhất, tuyển dụng quan lại cho nhà nước và sắp xếp theo bảng phẩm trật, kiêm lĩnh việc ban hành sắc bằng, sắc phong, cáo sắc, thẻ bài cho quan lại; thứ hai, theo dõi tình trạng của viên chức đối với công vụ thông qua việc tổ chức các kì khảo hạch, sát hạch, đề nghị thăng thưởng đối với người có công và giáng phạt người có tội hoặc không làm tròn chức năng bổn phận; thứ ba, thiết lập, lưu giữ các sách tịch và hồ sơ lý lịch quan chức, quản lý việc phong tặng cho ông bà, cha mẹ và tập ấm cho con cái của các quan

(2) – Hộ bộ, là cơ quan chủ quản nền tài chính quốc gia “nắm giữ các chính sách điền thổ, hộ khẩu, tiền thóc trong nước bình chuẩn việc phát ra thu vào, để điều hòa nguồn của cải của nhà nước” [64,15], có nhiệm vụ: thứ nhất, thiết lập, tu chỉnh và lưu trữ các sổ Đinh bộ, sổ Đinh mỗi năm sửa một lần gọi là “Tiểu tu”, năm năm sửa gọi là “Đại tu”; thứ hai, quản lý việc xuất-nhập tài ngân của chính phủ, các khoản thu gồm có: chính ngạch (gồm thuế đinh và thuế điền thổ), tạp thu (gồm thuế sản phẩm, thuế khai thác khoáng sản, thuế nhập cảng), lãnh trưng (gồm các huê lợi trưng thâu khi cho lãnh trưng các chợ, bến đò, ao, hồ, đầm,…), các khoản chi gồm có lương bổng và phụ cấp cho hệ thống quan chức và binh lính, các khoản thưởng cấp trong các dịp khánh tiết và ban cấp, chi dùng cho triều đình và tiền quan mãi; thứ ba, quản lý tiền tệ, tiến hành thu mua nguyên liệu, kiêm việc đúc

và lưu hành các loại tiền, khai thác và đúc vàng bạc thành nén có dấu ấn của chính phủ để bảo quản; thứ tư, chỉ huy việc dinh điền, khẩn hoang và những công vụ kinh tế khác.v.v

Trang 31

(3) – Lễ bộ, là cơ quan “giữ trật tự năm lễ2, hai hòa giữa thần và người, trên và dưới để giúp việc lễ trong nước” 65,15] Các vấn đề bộ Lễ phụ trách gồm: thứ nhất, các điển lễ về quan phục, nghi vệ của Hoàng tộc, quan lại và thường dân, cũng như cách thức hành lễ ở triều đình; thứ hai, phụ trách các tiết lễ và tế tự3; thứ ba, lo giáo dục và văn hóa, đào luyện nhân tài gồm quản lý học hiệu (kiểm soát hệ thống giáo dục cả nước) và tổ chức khoa cử (gồm thi Hương, thi Hội, thi Đình, Chế khoa, Ân khoa); thứ tư, chỉnh sức phong tục trong dân gian, định lệ phong tục về tang tế, hôn nhân, phong tặng nhân thần, lễ hội, và tu thư (soạn sách vở, tài liệu)

(4) – Binh bộ, là cơ quan quản lý về quân chính “chuyên việc bổ nhiệm, tuyển dụng, các chức

võ trong ngạch, khảo duyệt khí giới, lương thực để giúp việc chính trị trong nước” 66,17], có chức năng và nhiệm vụ: thứ nhất, phụ trách các vấn đề quân chính, binh chế, nhung phục, kì hiệu và quân lệnh; thứ hai, chịu trách nhiệm về việc tuyển bổ, phong thụ, thưởng phạt và đào tạo võ quan, điều hành các kì thi võ khoa, mở các trường thi võ, kiêm lãnh việc quản lý các phân hiệu của quân đội và các binh chủng ở Kinh đô và địa phương; thứ ba, quản lý vấn đề trưng binh, ngạch tịch và quân số, thời bình cho luân phiên nhau về quê tăng gia sản xuất theo phép “ngụ binh ư nông” (triều Nguyễn còn gọi là lệ Biền binh); thứ tư, đảm bảo các công tác của quân đội như tuần phòng, thủ vệ, đảm bảo

an ninh, tổ chức các cuộc duyệt binh, thao diễn.v.v

(5) – Hình bộ, là cơ quan chủ quản về tư pháp “giữ việc pháp luật, án từ để nghiêm phép nước” [67,19], có chức năng và nhiệm vụ: thứ nhất, kiểm soát tình trạng hình án trong nước, theo dõi việc xử án ở các địa phương để tấu trình lên Hoàng đế (mỗi năm, các địa phương phải làm tờ phúc trình đầy đủ các bản án đã xử cùng với tình trạng kiện tụng của nhân dân trong hạt); thứ hai, phúc duyệt các bản án tử hình và xử quyết – đây là các bản án đã được địa phương xử quyết hai lần (lần sơ thẩm tại Phủ-Huyện và lần trung thẩm ở Thành hay Trấn/Dinh) rồi chuyển về trung ương cho bộ Hình phúc duyệt, sau đó trình lên Hoàng đế thỉnh chỉ; thứ ba, chuẩn bị xử phúc thẩm và lục tống thi hành các bản án đã xử tử hình nhưng chưa thi hành được (do khiếu nại hoặc do vua chưa quyết); thứ

tư, thụ lý các vụ án do Hoàng đế trực tiếp giao; thứ năm, chịu trách nhiệm về chế độ lao tù; thứ sáu, phối hợp với các cơ quan khác duy trì sự tuân thủ pháp luật của người dân

Trang 32

(6) – Công Bộ, là cơ quan chủ quản về sửa chữa và trang bị “coi giữ việc thợ thuyền đồ dùng trong thiên hạ, phân biệt vật hạng, xét rõ tài vật để sửa sang việc nước” [68,9], có chức năng và nhiệm vụ: thứ nhất, xây dựng, sửa chữa cung điện, hành cung, lăng tẩm, các đàn cúng tế, đền miếu, các đài, kiêm lãnh việc xây dựng các dinh thự, phủ đệ, kho trại, nhà cửa, đường xá, công đường, nhà ngự ở kinh sư và địa phương; thứ hai, chịu trách nhiệm về công tác thuyền chính, gồm chế tạo, sửa chữa các loại tàu thuyền, kiểm soát việc lưu thông, định ngạch và quy thức các hạng thuyền; thứ ba, chịu trách nhiệm công tác hà phòng gồm xây dựng, tu bổ, kiểm tra, giám sát hệ thống đê điều, kiêm lãnh việc đưa ra các phương pháp trị thủy; thứ tư, chịu trách nhiệm về công tác kiều lộ gồm chỉnh sửa, xây dựng và bảo trì hệ thống đường sá, cầu cống

Cơ cấu tổ chức chung

Tổng quan gồm một trưởng quan và các thuộc viên được tập hợp trong tổ chức Lệnh Sử ty, mỗi Bộ có một Lệnh sử ty riêng Năm 1821 vua cho đổi tên thành Thanh lại ty, nhân lực của Thanh lại ty chia nhau phụ trách các công việc trong từng Bộ, mỗi Bộ có từ 3-5 Thanh lại ty phụ trách các công việc chức năng Thượng thư giữ vai trò điều phối và phân công công vụ cho các bộ phận Năm

1804, vua cho đúc ấn triện của sáu Bộ Ấn của Bộ đường khắc chữ “Mỗ Bộ Đường Chi Ấn”, phân biệt gồm: của bộ Lại là “Lại Bộ Đường Chi Ấn”, bộ Lễ là “Lễ Bộ Đường Chi Ấn”, bộ Hộ là “Hộ Bộ Đường Chi Ấn”, bộ Binh là “Binh Bộ Đường Chi Ấn”, bộ Hình là “Hình Bộ Đường Chi Ấn”, bộ Công là “Công Bộ Đường Chi Ấn” Triện nhỏ của Bộ đường lần lượt: bộ Lại là “Khâm Tư Lại Chính”, bộ Lễ là “Khâm Tư Lễ Điển”, bộ Hộ là “Khâm Tư Hộ Chính”, bộ Binh là “Khâm Tư Binh Chính”, bộ Hình là “Khâm Tư Hình Chính”, bộ Công là “Khâm Tư Công Chính” [82,588] Về cơ sở vật chất: năm 1806, vua cho dựng dãy nhà dài gọi là “Trường giải” trong kinh thành để làm trụ sở cho các Bộ

Cơ cấu nhân sự và việc phân nhiệm công vụ

Năm 1802, Gia Long quy định cơ cấu nhân sự mỗi Bộ gồm: 1 Thượng thư đứng đầu, giúp việc có 2 Tham tri, 3 Thiệm sự, một số Câu kê, Cai hợp, Thủ hợp và các Ty lệnh sử (khoảng 60 người) Năm 1805, chuẩn định viên chức ở Ty lệnh sử của mỗi Bộ từ 50 đến 80 người tùy theo khối lượng công việc Năm 1808, đặt thêm 1 Thiệm Sự ở mỗi Bộ Cơ cấu nhân sự ở các Bộ phải đến năm

1809 mới bắt đầu ổn định và thống nhất, “Lấy Thượng thư Binh bộ là Lê Quang Định làm Thượng thư Hộ bộ, cải thụ Lại bộ Trần Văn Trạc làm Thượng Thư Lại bộ, Lễ bộ Đặng Đức Siêu làm Thượng thư Lễ bộ, Binh bộ Đăng Trần Thường làm Thượng thư Binh bộ, Hình bộ Nguyễn Tử Châu làm Thượng thư Hình bộ, Công bộ Trần Văn Thái làm Thượng thư Công bộ, Hình bộ Phạm Như Đăng làm Thượng thư Hình bộ vẫn lãnh công việc Hình tào ở Bắc thành Sáu bộ đặt chức Thượng thư bắt

Trang 33

đầu từ đây” [82,768-769] Như vậy, nhân sự mỗi Bộ ổn định với: 1 Thượng thư (2a) đứng đầu, giúp việc có 2 Tham tri (Tả-Hữu Tham tri, trật 2b), 4 Thiệm sự (4a), 2 Câu kê (5b), bên dưới là một số Cai hợp (6b), Thủ hợp (7b), và khoảng từ 50 đến 80 Lệnh sử ty bổn ty (8b) tùy theo khối lượng công

vụ ở mỗi Bộ (cụ thể: bộ Lại 70 viên, bộ Hộ 80, bộ Lễ 50, bộ Binh 70, bộ Hình 50, bộ Công 50)

1.2.1.4 Nhóm cơ quan phụ trách công tác văn phòng và lưu trữ

Tam nội viện

Tam nội viện được thành lập lúc Gia Long mới lên ngôi, gồm ba phòng là Thị thư viện, Thị hàn viện và Nội hàn ty, “Gia Long năm thứ 1 đặt viện Thị thư, viện Thị hàn, đặt chức Phụng chỉ và Thị thư ở viện Thị thư, lại lấy Thừa chỉ và Thị giảng, Thị độc, Chế cáo, Tu soạn ở viện Hàn lâm các chức hàm ở viện Hàn lâm, cống sĩ sung vào, đều không có định viên Lại đặt chức Thượng bảo khanh, hoặc lấy chức Phụng chỉ ở viện Thị thư, hoặc lấy Thừa chỉ ở viện Hàn lâm và viện Cống sĩ kiêm Lại chọn viên chức ở viện Hàn lâm, viện Nội hàn mà bổ nhiệm vào” 63,42] Tam nội viện được thành lập với nhiệm vụ giúp Hoàng đế giải quyết khối lượng công vụ đồ sộ được chuyển về Kinh dưới dạng các công văn và giấy tờ Chức trách chung là phụ trách việc khởi thảo, lục hành và coi giữ các loại giấy tờ, chiếu dụ Về phân nhiệm: Thị thư viện và Thị hàn viện chuyên trách việc khởi khảo, phân phát và coi giữ các chiếu dụ cùng các loại văn thư của triều đình; Nội hàn ty coi những ngự chế, thư từ riêng của vua; riêng ấn triện và các loại kim ngọc bảo tỉ thì do Thượng bửu khanh coi giữ Phụ trách Thị Thư Viên là chức Thị thư (5a), về sau đổi thành Hàn lâm viện thị thư, phụ trách Thị hàn viện là chức Thị Hàn (5a), phụ trách Nội hàn ty là chức Nội hàn (5a)

Tam nội viện là nhóm cơ quan chuyên về công tác văn phòng, trong trường hợp Hoàng đế đích thân xem xét việc chính sự toàn quốc thì đây là cơ quan rất quan trọng Trong những năm 1802-

1819, với chủ trương duy trì các Thành có phạm vị quyền lực lớn, nên khối lượng công vụ được chuyển về Kinh bằng công văn không nhiều Lí do, một phần công vụ được giao cho hai Tổng trấn tự giải quyết tại chỗ theo chức năng được quy định mà không cần trình báo, chỉ những công vụ quan trọng mới chuyển về Kinh Sau khi chuyển về Kinh, công vụ của Bộ nào giao cho Bộ ấy giải quyết, nếu không giải quyết được thì giao cho Hội đồng đình thần bàn bạc rồi mới trình lên, khối lượng công vụ mà Hoàng đế đích thân xử lý được giảm tối đa Do đó, trong giai đoạn đầu, Tam nội viện không thể hiện được nhiều vai trò

Thượng bảo ty

Được lập năm 1803, là cơ quan độc lập có nhiệm vụ cất giữ ấn tín của Hoàng đế, “giữ ấn quốc bảo, ngọc tỷ và ấn triện” [69,21], thuộc viên “kén học trò trúng khảo hạch sung vào” 69,22]

Trang 34

1.2.1.5 Nhóm cơ quan phụ trách giám sát

Đất nước thống nhất, ban đầu do việc kiến thiết còn bề bộn nên Gia Long mới chỉ đặt các chức Tả-Hữu Đô ngự sử (2a) và Tả-Hữu phó Đô ngự sử (2b) làm nhiệm vụ giám sát mà chưa thành lập cơ quan chủ quản Để thực hiện công tác thanh tra giám sát, vua cho thực hiện chế độ thanh tra tự phát và định kì4

với thể thức thành lập các chức quan và phái đoàn chuyên trách, gồm Khâm sai Đại thần và Kinh lược Đại sứ Đây là hai chức quan kiêm lãnh, được thiết lập trong những trường hợp đặc biệt, thay vua tiến hành các công vụ quan trọng như thanh tra, điều tra, giám sát, kinh lý.v.v

Bên cạnh đó, đối với Bắc thành là khu vực xa trung ương, tình hình chính trị có phần phức tạp nhưng “tài lực bằng một nửa thiên hạ” 82,751], vua Gia Long cho thiết lập riêng chức Đô sát viên ngự sứ để “Phàm quan lại không theo pháp luật, kẻ quyền thế ức hiếp người dưới, việc nhỏ thì xét xử ngay, việc lớn thì đàn hặc tâu lên, cho nghiêm phép làm quan” 82,752] Có thể thấy, trong giai đoạn đầu, mặc dù công việc còn bề bộn, nhưng Gia Long vẫn cố gắng để thiết lập một cơ chế

kiểm tra-giám sát phù hợp, không quá thặt chặt nhưng cũng không buông lỏng

1.2.1.6 Nhóm cơ quan phụ trách về giáo dục và khoa học

Quốc tử giám

Một năm sau khi lên ngôi, Gia Long cho lập Quốc tử giám với nhiệm vụ “đào tạo nhân tài để giúp chính trị văn hóa” 69,561], hằng năm tổ chức việc khảo khóa để chọn người có năng lực vào học Cùng với hệ thống các trường lớp khác trong Kinh thành là Tập Thiện đường, nhà Tôn học, trường Hậu bổ, trường Y sinh và hệ thống trường học các cấp, tạo thành nền học chính của nhà Nguyễn Về cơ cấu nhân sự, năm 1802, đặt 1 Đốc học (4a) và 2 Phó Đốc học (4b) để quản lý; về sau hoàn thiện với 1 kiêm quản đại thần, 1 Tế tửu (4a), 2 Tư nghiệp (4b), thuộc viên có 2 Học chính (6b) chuyên giữ việc dạy Tôn học sinh, Giám thừa (7a), Điển bạ (7b), Điển tịch (9b) đều một viên và 6 Vị nhập lưu Thư lại. Năm 1804 định quan chế, đặt chức Quốc tử giám Đốc học (4a) và phó Đốc học (4b), bên dưới có một số thuộc viên không định ngạch

Năm 1821, vua cho xây lại Quốc tử giám với quy mô lớn hơn Sau đó, thay Chánh-Phó Đốc học bằng chức Tế tửu và Tư nghiệp Năm 1827, định quan chế, cơ cấu gồm: 1 Tế tửu (4a), 2 Tư nghiệp (4b), 2 Học chính (6b), 2 Giám thừa (7a), 2 Điển bạ (8b), 2 Điển tịch (9b) và 10 Vị nhập lưu

4 “Khóa thanh tra 4 năm tỵ ngọ mão dậu, ở Bắc thành thuộc ty 30 người, trình hạn 3 tháng; khóa thanh tra 4 năm thìn tuất sửu mùi, từ Quảng Đức vào Nam đến Quảng Ngãi, ra Bắc đến Thanh Bình, thuộc ty 25 người, Quảng Đức, Quảng Ngãi trình hạn đều 1 tháng, Quảng Trị trình hạn 1 tháng 15 ngày, Quảng Nam, Quảng Bình đều 2 tháng, Nghệ An, Thanh Hóa, Thanh Bình đều 3 tháng Khóa thanh tra 4 năm dần thân tỵ hợi, từ Bình Định đến Gia Định, thuộc ty 24 người, Gia Định trình hạn 5 tháng, Bình Thuận, Bình Hòa, Bình Định đều 3 tháng, Phú Yên 2 tháng 15 ngày Gia Định và Bắc Thành mỗi nơi đều 1 đốc biện, 1 thiệm sự Phàm quan lại đi thanh tra đều được thêm lương tiền” 82,939]

Trang 35

Thư lại Về sau, quản lãnh Quốc tử giám là một kiêm quản đại thần văn ban, chức này không chuyên đặt và do vua chọn trong hàng ngũ các quan văn giỏi về văn học ở cơ quan khác qua kiêm lãnh

tế, dựng bia ghi việc, phàm việc quan hệ đến giấy tờ, đều chiểu cho bộ Lễ tư đi, trước nghĩ soạn thể văn, do bộ hội duyệt, dâng vua xem, kính đợi vua quyết định” 69,152] Về nhân sự, năm 1802 cho đặt các chức Thừa chỉ, Thị thư, Chế cáo Năm 1804, định quan chế, đặt ra các chức Hàn lâm gồm: Thừa chỉ, Thị giảng, Thị độc; cùng các chức Chế cáo, Thị thư, Tu soạn, Thị thư viện, Cống sĩ viện (trừ Thị thư viện và Cống sĩ viện trật 6b, còn tất cả đều có trật 5a) Năm 1820 vua đặt các chức Biên

tu (7a), Kiểm thảo (7b), Điển bạ (8b), Đãi chiếu (9b) và 2 chức Hàn lâm viện Thị độc học sĩ (4a), Hàn lâm viện Thị độc (5a) Năm 1821, đặt chức Hàn lâm viện Chưởng viện học sĩ (3a) và Hàn lâm viện Thị giảng học sĩ (4b) Năm 1827, định quan chế: quản lãnh là Hàn lâm viện Chưởng viện học sĩ (3a) và Hàn lâm viện Trực học sĩ (3a), bên dưới có: Thị độc học sĩ (4a), Thị giảng học sĩ (4b), Thị độc (5a), Thị giảng và Thừa chỉ đều 5b, Tu soạn (6b), Biên tu (7a), Kiểm thảo (7b), Điển bạ (8b), Đãi chiếu (9b) Năm 1830, bổ sung thêm chức Hàn lâm viện cung phụng (9a)

Khâm thiên giám

Được thiết lập năm 1805, tiền thân là Chiêm hậu ty Là cơ quan chuyên giữ việc “liệu đoán khí hậu, suy tính độ mặt trời, mặt trăng, các chòm sao, nghiệm tượng trời để bảo dân thì giờ làm ăn” [69,527] Chức năng chính là làm lịch, dự báo thời tiết, giữ đồng hồ báo canh, giữ sách Thiên văn, chọn giờ tốt để làm việc, báo giờ lành.v.v Đây là cơ quan chuyên trách nên các chức quan cũng chuyên trách Ban đầu đặt 1 Câu kê, 1 Cai hợp, 3 Chiêm hậu và 50 Chiêm hậu sinh Năm 1804, đặt các chức Giám chánh Chiêm hậu (tản giai 5a), Giám phó Chiêm hậu (5b), Chiêm hậu Lại ty và Bản

ty 8b Năm 1805, đặt 1 Khâm thiên Giám chính (5a) để quản lãnh và 3 Chiêm hậu (5b) phụ tá Nhân viên gồm 1 Thủ hạp (7a) coi việc văn phòng và 30 Chiêm hậu lại ty (7b) Năm 1813, đặt thêm chức Khâm thiên giám Giám phó và 8 Chiêm hậu Năm 1821, đặt thêm 2 chức 9a thư lại và Linh đài lang Khâm thiên giám (7b) Năm 1827, định quan chế, gồm: Giám chánh (5a) và Giám phó (5b), bên dưới

Trang 36

có các chức Ngũ quan chính (6a), Linh đài lang (7a) và các chức Bát Cửu phẩm Thư lại và Vị nhập lưu giúp việc

Quốc sử quán

Lập năm 1820, “Trẫm muốn lập Sử quán, sai các nho thần biên soạn quốc sử thực lục, để nêu công được về kiến, đốc, cơ, cần, làm phép cho đời sau” 83,66] Nhiệm vụ của Quốc sử quán ngoài việc biên soạn các sách sử, còn là nơi sưu tầm và lưu trữ tài liệu Quốc sử quán có trụ sở ở bên tả trong Kinh thành, là cơ quan chuyên trách nhưng các chức quan lại không chuyên trách, cơ cấu nhân

sự lấy từ những viên quan giỏi văn học sang kiêm lãnh, gồm Toản tu (2b), Biên tu (4a) và một số chức quan Hàn lâm được biên chế vào các khâu biên soạn, đọc khảo hay sưu tầm Ngoài ra, tùy vào từng thời điểm, khi nhà nước có nhu cầu biên soạn tài liệu sử thì sẽ bổ sung vào một chức Tổng tài

để quản lãnh, vị Tổng tài này có tính nhiệm kỳ

1.2.1.7 Nhóm cơ quan phụ trách về hoàng tộc và giúp việc ở cung đình

Tôn nhân Phủ

Là cơ quan quản lý các vấn đề của hoàng tộc, Tôn nhân phủ có nhiệm vụ thay vua phụ trách các sự vụ riêng của hoàng tộc như: khai sinh theo thứ bậc tôn thất, biên soạn ngọc phả, xét công, phong tước, sách ấm, bổ chọn quan lại; cùng viêc cấp phát trang phục, tiền bac và phẩm trật cho con

em hoàng tộc, tiến cử người giảng dạy, giáo dưỡng Hoàng tử, thay vua làm chủ tế trong một số buổi

lễ, phân xử tội trạng, tranh chấp giữa các người trong tộc Về cơ cấu nhân sự, ban đầu đặt chức Tôn nhân lệnh cùng 2 chức Tả-Hữu Tôn chính (1a) để quản lãnh, bên dưới có một số thuộc viên không định ngạch Năm 1823 đặt thêm 3 chức Tư vụ (lấy người Tôn thất có học và quen việc), lại lấy thêm

15 Vị nhập lưu Thư lại ở ty Thừa biên (lấy từ dân ngoại tịch ở bốn dinh trực lệ thạo viết và tính toán) Năm 1825, bổ sung thêm một 8a thư lại Năm 1827, đặt thêm một số lại dịch ty Thừa biện ở phủ Tôn nhân, gồm “8a - 9a thư lại, mỗi chức thêm 2 người, Vị nhập lưu Thư lại thêm 15 người” [83,649] [63,33-34] Năm 1827, triều đình định quan chế, đứng đầu Tôn nhân phủ là chức Tôn nhân lệnh với phẩm trật trên nhất phẩm văn ban - là hàm cực phẩm của triều đình, được nhà vua trực tiếp chỉ định trong hàng thân tộc Bên dưới có Tả-Hữu Tôn chính (1a) và Tả-Hữu Tôn nhân (2a) phụ tá,

“đều lấy những vị công tước là Hoàng tử, Hoàng thân kiêm việc coi sổ sách họ nhà vua, phân rõ hàng chiêu hàng mục, xếp đặt tước lộc, chia đều ân huệ đãi ngộ mà ban bố giáo dục mệnh lệnh” [62,73] Bộ phận quan chức bên dưới có: Tả-Hữu Tôn khanh (3a), có nhiệm vụ giữ tộc phả của Tôn thất và các việc thừa tự, tập ấm, phẩm trật, lương bổng; Tả-Hữu Tá lý (5a), thường là Lang trung ở hai Bộ Lại và Lễ cử đến, tùy ý phụ việc ở Tôn nhân phủ; các chức Tư giáo (6b), lấy người trong

Trang 37

Hoàng tộc, sung làm tộc trưởng các hệ từ 1 đến 9, giúp Tôn nhân lênh việc ở các phái-họ Bộ phận tùy viên bên dưới còn có 1 Lang trung (4a), 1 Viên ngoại lang (5a), 1 Chủ sự (6a), 2 Tư vụ (7a), 8a

và 9a Thư lại đều 2 người, Vị nhập lưu Thư lại 12 người Có thể thấy, các quan chức ở Tôn nhân phủ

có trật hàm khá cao so với mặt bằng chung, tuy nhiên đây lại là cơ quan ít can thiệp vào việc bàn bạc

và xử lý các công việc của quốc gia

ứ thị vệ, Nội lệnh sử ty và Cẩn tín ty

Xứ thị vệ gồm những người thân tín, hầu hạ bên canh vua (thành phần chủ yếu lấy từ tôn thất,

về sau ưu tiên dân ở vùng Thanh-Nghệ) Ban đầu, đây là các đơn vị vũ trang có nhiệm vụ bảo vệ Hoàng đế và nội cung, lấy những quân Túc vệ (nguyên là các đội Thị nội, Tửu sai, Tam trực) xung vào Sau đó, lại kiêm thêm chức năng giúp vua làm những công vụ nhỏ trong cung Bước sang những năm 1820-1830, Xứ Thị vệ được tổ chức quy cũ hơn, có văn phòng, có ấn triện, có chuyên viên, có các định chế chặt chẽ Năm 1828, vua đặt ra các Đẳng thị vệ, gồm: Nhất đẳng thị vệ (3a), Nhị đẳng thị vệ (4a), Tam đẳng thị vệ (5a), Tứ đẳng thị vệ (5b), Ngũ đẳng thị vệ (6a) Năm 1830, lại đặt ra các đội Tiểu sai, Thượng trà, Tam trực, Cẩm y, Thị nội, Nội hầu, Tài thụ thay nhau luân phiên ứng trực trong cung, lấy những hiệu úy, cai đội, đội trưởng ở các Viện bổ vào Về nhân sự, thành phần trưởng quan của Xứ thị vệ gồm 1 Thống quản đại thần, lấy quan văn-võ nhị-tam phẩm trở lên hoặc là Nhất đẳng thị vệ, phụ tá có 1 Quản lãnh binh đại thần; bên dưới có Hiệp lãnh Thị vệ trực ban

4 người (lấy quan văn-võ 3b, 4b hoặc Nhị đẳng thị vệ sung vào); ngoài ra còn có 1 Nhất đẳng thị vệ,

5 Nhị đẳng thị vệ, 14 Tam đẳng thị vệ, 15 Tứ đẳng thị vệ, 30 Ngũ đẳng thị vệ

Nội lệnh sử ty vốn trực thuộc Nội đồ gia, có trách nhiệm phụ trách vấn đề hậu cần cho vua khi ở nội cung và hầu hạ khi vua xa giá Nội lệnh sử ty thường kết hợp với Xứ thị vệ để đảm trách việc hầu cận vua lúc ở trong cung cũng như khi đi ra ngoài

Cẩn tín ty được đặt năm 1822 “Đặt ty Cẩn tín ở Nội tạo, sai bọn giám đốc Nguyễn Ức và Trần Văn Hiên mộ người sung vào” 83,246] Ty Cẩn tín có nhiệm vụ theo hầu vua khi xa giá và chầu hầu ở nơi Nội đình, chia thành hai ban thay phiên ứng trực một ngày hai buổi sáng chiều tại Duyệt thị đường để bẩm báo khi có công việc quan trọng đột xuất Đến năm 1827, vua đổi tên thành Thanh cẩn ty trực thuộc vào Nội vụ phủ Phụ trách Thanh cẩn ty là 2 Tư vụ, 2 Bát phẩm Thư lại, 2 Cửu phẩm Thư lại và 20 Vị nhập lưu Thư lại, chia làm hai ban thay phiên ứng trực ở cửa Hưng Khánh Về sau, vua giao cho viên cai quản Xứ Thị vệ kiêm lĩnh cả Thanh cẩn ty (ty vẫn thuộc Nội

vụ phủ) Thành phần của Cẩn tín ty gồm: 1 Viên ngoại lang (5a); bên dưới có 3 Chủ sự (6a), 5 Tư vụ

(7a), Bát-Cửu phẩm Thư lại đều 4 người và 20 Vị nhập lưu Thư lại

Thái y viện

Trang 38

Được lập năm 1802, là cơ quan y tế chuyên trách, có nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe cho vua, quan và người dân trong nước Tập hợp lương y giỏi, đào tạo thầy thuốc, tìm kiếm phương thức chữa trị các dịch bệnh bùng phát trong dân gian Hàng ngày chia làm hai ban ứng trực trong nội cung Về nhân sự, năm 1804, cho đặt các chức “Thái y Viện ngự y 5a, ngự y phó 5b, Thái y viện y chánh 6b, Thái y viện y phó 7b, y viện 8b.” 63,70] Năm 1820, định lại cơ cấu, nhân sự gồm “5a Ngự y chánh

1 người, 5b Ngự y phó 2 người, 7a Y chính 2 người, 7b Y chánh 2 người, 8a Y chính 10 người, 8b Y phó 10 người, 9a Y sinh 12 người, 9b Y sinh 30 người; ngoại khoa 8a Y chánh 2 người, 8b Y phó 2 người, 9b Y sinh 16 người Tất cả gồm 89 người đều cho thực thụ 8a Y chánh trở lên 19 người, cấp bổng theo trật”5

[83,100] Năm 1829, đặt Thái y viện Viện sứ trật tứ phẩm Năm 1835, đặt hai chức

Tả viện phán (6a) và Hữu viện phán (6b)

Thái bộc tự

Phụ trách nghi vệ và xe ngựa trong hoàng cung, cùng với Nội lệnh sử ty chăm lo nhu cầu đi lại của vua và nội cung Đứng đầu là chức Thái bộc Tự khanh (3a), phụ tá là Thái bộc tự Thiếu khanh (4a), giúp bên dưới là một số nhân viên không định ngạch

1.2.1.8 Nhóm cơ quan phụ trách về kho tàng và quân nhu

Nội đ gia (Nội vụ phủ)

Được thành lập lúc Nguyễn Ánh mới giành lại Gia Định, Nội đồ gia là cơ quan chuyên coi giữ tài sản quốc gia, kiêm việc thu nhận và phân phát những đồ cống phẩm, trao tặng, phần thưởng, lại kiêm quản 6 kho Sáu kho của Nội đồ gia lần lượt là: Kim khố, Tào khố, Y khố, Bố khố, Du khố, Thập vật khố

Về cơ cấu nhân sự: năm 1802, đặt chức Điển ty ty Đồ gia Lệnh sử, bên dưới có các Tào thừa biên tự chương lo việc quan phòng (chọn lấy từ các Chủ thư) và 18 Chủ thư (3 người quản lý một kho) trật Cửu phẩm Năm 1805, hạn định số lượng nhân sự 50 người Năm 1816, đặt chức Đồ gia Cai bạ (4b) làm trưởng quan Năm 1810, chia nhân viên chuyên biệt và nhân viên kiêm lãnh ra làm 3 phiên trực, lấy 3 năm làm một khóa, luân phiên theo thể cách: nếu là nhân viên kiêm lãnh từ các nơi khác đến thì khi thay phiên sẽ đổi người khác; nếu là nhân viên chuyên biệt thì chuyển sang kho khác, số nhân viên này được bổ sung từ “những Lệnh sử ở 6 bộ lệnh sử, và Lệnh sử tân Lại viên chiêm hậu, cộng 9 ty, mỗi ty chọn 1 viên thực thụ hiệp với 9 viên thực thụ ở ty Lênh sử nội đồ gia,

5

Hội điển ghi chép việc này có một số khác biệt về số lượng và cơ cấu, xin dẫn ra để tham khảo “Minh Mạng năm thứ 1

(1820) chuẩn định thái y viện 5a ngự y chánh 1 viên, 5b ngự y phó 2 viên, 7a Y chánh 2 người7b Y phó 2 người, 8a Y chánh 10 người, 8b Y phó 10 người từ ngự y phó, 9a Y sinh 10 người, 9b Y sinh 30 người, về ngoại khoa: 8a Y chánh 2 người, 8b Y phó 2 người, 9b Y sinh 16 người Lại chuẩn định Thái y viện: từ ngự y phó đến Y viện 65 viên, ngoại khoa

20 người” 63,70]

Trang 39

cộng 18 viên” [63,49-50] Đến năm 1819, quy định thời hạn thay phiên dựa vào các năm thi (thi Hương, thi Hội) và quay vòng lại khi hết lược

Năm 1820, đổi tên thành Nội vụ phủ, chia làm 7 kho: kho vàng bạc, kho gấm đoạn, kho the lĩnh, kho hàng Nam, kho đồ sứ, kho dầu nến, kho thuốc súng; “mỗi kho đặt Chủ thủ 12 người” [83,65] Năm 1823 đặt thêm 3 kho là kho quần áo, kho pha lê, kho đồ làm trò Ngoài 10 kho lớn, Nội

vụ phủ còn có một số Ty trực thuộc và Cục chế tác thủ công, các Ty phụ thuộc là Quan phòng ty và Tiết thận ty Quan phòng ty cũng có trách nhiệm quản lý tài vật, quản lãnh là Lang trung (4a) Tiết thận ty quản lý những đội chế tác thủ công ở Sở thợ, gồm 13 cục chế tác chia nhau làm việc theo mùa, bao gồm: “thợ may, thợ thêu, thợ nhuộm, thợ dệt tơ, thợ nhuộm tơ vàng, thợ làm nến, thợ mũ vàng, thợ làm mũ bạc, thợ nhuôm tơ đỏ, thợ làm bao tóc, tất cả có 13 hạng, định ngạch thợ là 118 tên” 69,272] Tiết thận ty do 1 Lang trung (4a) quản lãnh, 1 Viên ngoại lang (5a) phụ tá và các Chủ

sự (6a) phụ trách các cục thợ, đến năm 1829 lại cho phụ thuộc vào bộ Công Nội vụ phủ có trụ sở ở phía Nam phường Cơ Hạ trong Kinh thành Về con dấu, ban đầu cho cấp 3 con dấu bằng sắt là

“Công chính”, “Thập”, “bát ngũ”; đến năm 1820 lại cho đúc ấn bằng đồng có chữ “Quan nô hội chí”

Về cơ cấu nhân sự quản lãnh, năm 1820, khi mới đổi tên làm Nội vụ phủ thì thủ lãnh là chức Thiệm

sự bộ Hộ kiêm lãnh (4a) Năm 1821, đổi ty Lệnh sử thành Thanh thận ty, đồng thời định số lượng Nội vụ phủ là 36 người (trong biên chế thật thụ) Sang năm 1825, đặt chức Thiệm sự chuyên trách phụ trách Năm 1827, vua định quan chế, cơ cấu nhân sự ổn định như sau: quản lãnh là Thị lang phủ Nội vụ (3a), bên dưới là các chức Thiệm sự6

phủ Nội vụ gồm 2 Lang trung (4a) làm phụ tá, và Chủ

sự, Tư vụ, Bát-Cửu phẩm Thư lại, Vị nhập lưu, tổng cộng 70-80 người Do tính chất đặc thù là quản

lý việc thu chi và cấp phát các loại tài vật nên cách thức quản lý của Nội vụ phủ cũng có tính đặc thù

Sổ sách các kho theo lệ “cứ 5 ngày một lần đóng ấn ở Văn thư phòng Thanh Phong đường, ai đóng

ấn thì ghi họ tên ở dưới để tiện kê cứu” 83,65]

Ngoại đ gia / Vũ hố

Nằm ở phía tây phường Liêm Năng trong kinh thành, “coi giữ việc xuất nhập quân khí cùng các đồ to nặng” 69,279] “Gia Long năm đầu (1802), xuống chỉ chuẩn cho làm nhà ngoại đồ (nhà chứa đồ phía ngoài) để chứa binh khí cùng đồng thau, kẽm, thiết và tất cả sản vật của công Lại ấn định lấy ngoại đồ gia đặt làm kho khí giới, kho đồng, kho tiêu, kho vận lương, kho thủy, kho chiếu,

6

Về các chức danh Thiệm sự, đây có thể xem là một ngạch quan riêng được quy định trong bảng phẩm trật, nhưng lại không được công nhân chính thức, đặt ra để giúp việc cho Trưởng quan nắm được tình hình chung của cấp dưới Chức danh này vốn không có cơ chế cố định, gồm các cấp bậc sau: Thiệm sự phủ thiệm sự (3a, thời Gia Long còn gọi là Chánh thiệm sự), Thiệm sự phủ thiếu thiệm sự (4a, thời Gia Long còn gọi là Thiếu thiệm sự trật 3b), Thiệm sư 6 Bộ (4a, thời Minh Mạng sau năm 1827 thì dần bỏ các chức danh này)

Trang 40

kho than, tất cả 7 kho” 69,283] Các kho do Chủ thư cùng một số lính trông coi Nhân sự của Ngoại

đồ gia gồm: “ty Lệnh sử Ngoại đồ gia, Câu kê, Cai hợp, Thủ hợp” 63,57] Năm 1805, định số lượng nhân viên là 50 người Năm 1816, đặt chức Cai bạ Đồ gia (4b) làm thủ lãnh

Năm 1820, đổi tên thành Vũ khố Ban đầu, chưởng quan Vũ khố do Tham tri Công bộ quản lãnh (2b), năm 1827 đổi thành Thị lang (3a) chưởng quản; bên dưới có 2 Lang trung (4a) và một số Chủ sự, Tư vụ, Bát-Cửu phẩm Thư lại, Vị nhập lưu làm phụ tá, các chức vụ này đến nhiệm kì được

bổ sung thay thế, lấy từ nhân sự của các cơ quan khác Đến năm 1825 thì định ngạch chính thức, đặt chức Thiệm sự quản lãnh, từ đó về sau không lấy các chức kiêm lãnh nữa Về số lượng các kho, năm

1820, cho hợp 7 kho cũ và chia lại làm 8 kho, gồm 4 kho Giáp và 4 kho Ất: kho khí giới làm kho giáp I, kho đồng làm kho giáp II, kho sắt làm kho giáp III, kho vận lương làm kho giáp IV, kho thủy làm kho ất I, kho chiếu làm kho ất III, kho than làm kho ất IV, lại đặt thêm kho ất II Các kho đều do Chủ sự, 8a - 9a Thư lại và Thư lại chưa vào ngạch trông coi Phụ thuộc vào Vũ khố có ty Chế tạo, tập hợp nhân sự ở các cục tượng (xưởng thủ công) Năm 1821, vua đặt hai ty là Nội tạo (chế tác những đồ thủ công trong cung đình) và Cẩn tín (tập trung thợ làm thuyền) Đến năm 1826, đổi hai ty thành Thanh thận ty và vẫn giữ nhiệm vụ chế tác như trước Phụ trách Thanh thận ty có 1 Tư vụ, 1 Bát phẩm Thư lại, 2 Cửu phẩm Thư lại và 30 Vị nhập lưu Thư lại; chia làm hai ban thay phiên làm việc Năm 1829, cho các hạng thợ thuyền quy thuộc vào bộ Công

Thương trường (Trường ho)

Gồm các kho giữ việc xuất nạp và chi thu lúa gạo, do bộ Hộ quản lý Trong buổi đầu, đặt chức “Kinh thương giám đốc, và 2 đội Phú, Thuận để giữ đồ đong lường công” 69,330] Phụ thuộc vào có hai kho là kho Kinh đô và kho Kinh thương, sau đó lại lập kho Nội tạng Quản lý các kho và việc cấp phát chi thu của Thương trường đều nằm dưới sự quản lý của bộ Hộ

Về tổ chức nhân sự, năm 1823 vua cho đặt các chức Chủ sự, Tư vụ, Bát-Cửu phẩm Thư lại làm nhiệm vụ thu phát tiền - gạo và giữ sổ sách, các chức này lấy người từ Thanh lại ty thuộc bộ Hộ sung vào Năm 1824, lại bổ sung thêm vào kho Nội tạng một số Bát-Cửu phẩm Thư lại và Vị nhập lưu Thư lại (lấy người từ bộ Hộ sang), chia làm hai ban để coi giữ Năm 1827, bổ sung vào kho Kinh thương 4 Bát phẩm Thư lại, 9 Cửu phẩm Thư lại Do tính chất nhạy cảm của việc coi giữ vật hạng nên các Chủ sự và Tư vụ trông coi các kho vẫn theo lệ của Nội vụ phủ và Vũ khố chia nhau thành các phiên để ứng trực, theo hạn 6 năm một lần chuyển đổi Trường kho được cấp ấn quan phòng bằng đồng, có khắc 4 chữ “Thương trường quan phòng”; 1 kiệm bằng đồng có chữ “Thương trường”; 1 con dấu bằng sừng có chữ “Thương trường tín tích” và 8 thẻ ngà chia ra cho các quan trực

Ngày đăng: 13/12/2016, 08:42

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng phân bố nhân sự của các Trấn ở Bắc thành năm 1802  82,524] - Quá trình phát triển của bộ máy nhà nước triều nguyễn từ “trung ương tản quyền” đến “trung ương tập quyền” (1802 1840)
Bảng ph ân bố nhân sự của các Trấn ở Bắc thành năm 1802 82,524] (Trang 49)
Hình  1  3  30  1  1 Thiêm sự, 1 Lang trung, 1 - Quá trình phát triển của bộ máy nhà nước triều nguyễn từ “trung ương tản quyền” đến “trung ương tập quyền” (1802 1840)
nh 1 3 30 1 1 Thiêm sự, 1 Lang trung, 1 (Trang 66)
Sơ đồ 2: CƠ CẤU PHÂN CẤP CÁC ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH 1802-1840 - Quá trình phát triển của bộ máy nhà nước triều nguyễn từ “trung ương tản quyền” đến “trung ương tập quyền” (1802 1840)
Sơ đồ 2 CƠ CẤU PHÂN CẤP CÁC ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH 1802-1840 (Trang 184)
Phụ lục 2: Hình ảnh - Quá trình phát triển của bộ máy nhà nước triều nguyễn từ “trung ương tản quyền” đến “trung ương tập quyền” (1802 1840)
h ụ lục 2: Hình ảnh (Trang 185)
Phụ lục 3: Bảng phẩm trật năm 1804 [62, 595-598] - Quá trình phát triển của bộ máy nhà nước triều nguyễn từ “trung ương tản quyền” đến “trung ương tập quyền” (1802 1840)
h ụ lục 3: Bảng phẩm trật năm 1804 [62, 595-598] (Trang 187)
Phụ lục 4: Bảng phẩm trật năm 1827 [63, 655-661] - Quá trình phát triển của bộ máy nhà nước triều nguyễn từ “trung ương tản quyền” đến “trung ương tập quyền” (1802 1840)
h ụ lục 4: Bảng phẩm trật năm 1827 [63, 655-661] (Trang 191)
Phụ lục 6: Bảng lương bổng và xuân phục năm 1818 [62,963-964] - Quá trình phát triển của bộ máy nhà nước triều nguyễn từ “trung ương tản quyền” đến “trung ương tập quyền” (1802 1840)
h ụ lục 6: Bảng lương bổng và xuân phục năm 1818 [62,963-964] (Trang 201)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w