1. tính cấp thiết của đề tài những năm gần đây, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ đã tạo điều kiện cho lực lượng sản xuất phát triển một cách nhanh chóng. loài người đã đạt được sự tăng trưởng kinh tế không ngừng, đời sống vật chất và tinh thần của con người ngày càng được nâng cao. song, bên cạnh những thành tựu to lớn mà con người đã đạt được thì hiện nay con người đang phải đối mặt với những vấn đề hết sức nghiêm trọng có tính toàn cầu. một trong những vấn đề đó là vấn đề ô nhiễm môi trường. đây là một vấn đề cấp thiết, đang đe doạ trực tiếp đến chính sự tồn tại của con người. việc con người khai thác các tài nguyên thiên nhiên một cách bừa bãi, sự phát triển của sản xuất không gắn liền với những giá trị đạo đức và nhân văn đã khiến môi trường bị huỷ hoại một cách trầm trọng. hàng loạt các hiện tượng biến đổi môi trường sinh thái như: hiệu ứng nhà kính, lỗ thủng tầng ôzôn, mưa axit, sa mạc hoá... xuất hiện. tất cả các điều này đặt con người trước những hiểm hoạ môi trường do chính con người gây ra. như ăngghen trong tác phẩm “biện chứng của tự nhiên” đã cảnh báo: “tuy vậy, chúng ta không nên quá khoái trí về những thắng lợi của chúng ta đối với tự nhiên. giới tự nhiên sẽ trả thù chúng ta về mỗi thắng lợi đó” 4,tr.72. như vậy, nếu con người không có những hành động phù hợp, không coi môi trường như cơ thể sống của mình, “thống trị giới tự nhiên như một kẻ xâm lược thống trị một dân tộc khác” thì con người sẽ phải gánh chịu những hậu quả do việc làm của mình vì con người và giới tự nhiên có mối liên hệ mật thiết với nhau. điều này đã được triết học mác lênin khẳng định và chứng minh. theo triết học mác lênin, con người và tự nhiên thống nhất với nhau. chính tính thống nhất vật chất của thế giới là cơ sở cho mối liên hệ này. trong mối quan hệ với môi trường tự nhiên, con người vừa là chủ thể, vừa là một bộ phận của giới tự nhiên. chính vì vậy tất cả những hoạt động của con người đều có sự tác động mạnh mẽ đến môi trường. nhận thức rõ vai trò quan trọng của môi trường đối với hoạt động sống của con người, các quốc gia đặc biệt là các nước đang phát triển trên thế giới nơi phải gánh chịu những hậu quả nặng nề do ô nhiễm môi trường gây ra đều nhận định: phát triển bền vững đi đôi với bảo vệ môi trường vừa là mục tiêu, vừa là nguyên tắc phát triển của mỗi quốc gia. và ở việt nam vấn đề này được đảng và nhà nước đặc biệt quan tâm, và đến đại hội đảng cộng sản việt nam lần thứ x đã nêu thành quan điểm phát triển hàng đầu là: “đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước gắn với từng bước phát triển kinh tế tri thức, phát triển kinh tế với nhịp độ cao, có chất lượng hơn, bền vững hơn và gắn kết với sự phát triển con người đi đôi với việc bảo vệ tài nguyên và cải thiện môi trường sinh thái” 13, tr.142. hoà bình là một tỉnh miền núi nằm ở phía tây bắc của tổ quốc, có nhiều dân tộc anh em cùng chung sống. với một bề dày lịch sử, truyền thống yêu thương, cố kết cộng đồng và một nền văn hóa phong phú, đậm đà bản sắc dân tộc hòa bình ngày càng khẳng định được vị trí, vai trò và bản sắc của mình so với các tỉnh ở trong khu vục cũng như cả nước . đặc biệt, đây là nơi có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú với nhiều lâm sản quý giá, môi trường không khí trong lành và mát mẻ. nhưng hiện nay, do tình trạng khai thác tài nguyên thiên nhiên một cách bừa bãi, đồng thời với sự phát triển của các khu công nghiệp đã làm cho môi trường hoà bình bị ô nhiễm một cách nghiêm trọng. điều này ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển bền vững của tỉnh. do vậy cần có những biện pháp tích cực bảo vệ môi trường để bảo đảm phát triển bền vững. vì những lí do trên, em chọn đề tài: “vận dụng nguyên lý mối liên hệ phổ biến trong việc đánh giá sự tác động của ô nhiễm môi trường đến sự phát triển bền vững ở tỉnh hoà bình”. mong muốn là với những nghiên cứu lý luận và thực tiễn của mình sẽ đánh giá được một cách khách quan thực trạng ô nhiễm môi trường ở tỉnh hoà bình, giúp mọi người thấy được mối liên hệ giữa môi trường và con người để từ đó đưa ra được một số giải pháp thích hợp.
Trang 1Mở đầu
1 Tính cấp thiết của đề tài
Những năm gần đây, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa họccông nghệ đã tạo điều kiện cho lực lợng sản xuất phát triển một cách nhanhchóng Loài ngời đã đạt đợc sự tăng trởng kinh tế không ngừng, đời sống vậtchất và tinh thần của con ngời ngày càng đợc nâng cao Song, bên cạnh nhữngthành tựu to lớn mà con ngời đã đạt đợc thì hiện nay con ngời đang phải đốimặt với những vấn đề hết sức nghiêm trọng có tính toàn cầu Một trong nhữngvấn đề đó là vấn đề ô nhiễm môi trờng Đây là một vấn đề cấp thiết, đang đedoạ trực tiếp đến chính sự tồn tại của con ngời Việc con ngời khai thác các tàinguyên thiên nhiên một cách bừa bãi, sự phát triển của sản xuất không gắnliền với những giá trị đạo đức và nhân văn đã khiến môi trờng bị huỷ hoại mộtcách trầm trọng Hàng loạt các hiện tợng biến đổi môi trờng sinh thái nh: hiệuứng nhà kính, lỗ thủng tầng ôzôn, ma axit, sa mạc hoá xuất hiện Tất cả các
điều này đặt con ngời trớc những hiểm hoạ môi trờng do chính con ngời gây
ra Nh Ăngghen trong tác phẩm “Biện chứng của tự nhiên” đã cảnh báo: “Tuyvậy, chúng ta không nên quá khoái trí về những thắng lợi của chúng ta đối với
tự nhiên Giới tự nhiên sẽ trả thù chúng ta về mỗi thắng lợi đó” [4,tr.72] Nhvậy, nếu con ngời không có những hành động phù hợp, không coi môi trờng
nh cơ thể sống của mình, “thống trị giới tự nhiên nh một kẻ xâm lợc thống trịmột dân tộc khác” thì con ngời sẽ phải gánh chịu những hậu quả do việc làmcủa mình vì con ngời và giới tự nhiên có mối liên hệ mật thiết với nhau Điềunày đã đợc triết học Mác - Lênin khẳng định và chứng minh Theo triết họcMác - Lênin, con ngời và tự nhiên thống nhất với nhau Chính tính thống nhấtvật chất của thế giới là cơ sở cho mối liên hệ này Trong mối quan hệ với môitrờng tự nhiên, con ngời vừa là chủ thể, vừa là một bộ phận của giới tự nhiên.Chính vì vậy tất cả những hoạt động của con ngời đều có sự tác động mạnh
mẽ đến môi trờng
Nhận thức rõ vai trò quan trọng của môi trờng đối với hoạt động sốngcủa con ngời, các quốc gia đặc biệt là các nớc đang phát triển trên thế giới -nơi phải gánh chịu những hậu quả nặng nề do ô nhiễm môi trờng gây ra - đềunhận định: phát triển bền vững đi đôi với bảo vệ môi trờng vừa là mục tiêu,vừa là nguyên tắc phát triển của mỗi quốc gia Và ở Việt Nam vấn đề này đợc
Đảng và nhà nớc đặc biệt quan tâm, và đến Đại hội Đảng Cộng Sản Việt Namlần thứ X đã nêu thành quan điểm phát triển hàng đầu là: “Đẩy mạnh công
Trang 2nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc gắn với từng bớc phát triển kinh tế tri thức,phát triển kinh tế với nhịp độ cao, có chất lợng hơn, bền vững hơn và gắn kếtvới sự phát triển con ngời đi đôi với việc bảo vệ tài nguyên và cải thiện môi tr-ờng sinh thái” [13, tr.142]
Hoà Bình là một tỉnh miền núi nằm ở phía Tây Bắc của Tổ quốc, cónhiều dân tộc anh em cùng chung sống Với một bề dày lịch sử, truyền thốngyêu thơng, cố kết cộng đồng và một nền văn hóa phong phú, đậm đà bản sắcdân tộc Hòa bình ngày càng khẳng định đợc vị trí, vai trò và bản sắc của mình
so với các tỉnh ở trong khu vục cũng nh cả nớc Đặc biệt, đây là nơi có nguồntài nguyên thiên nhiên phong phú với nhiều lâm sản quý giá, môi trờng khôngkhí trong lành và mát mẻ Nhng hiện nay, do tình trạng khai thác tài nguyênthiên nhiên một cách bừa bãi, đồng thời với sự phát triển của các khu côngnghiệp đã làm cho môi trờng Hoà Bình bị ô nhiễm một cách nghiêm trọng
Điều này ảnh hởng rất lớn đến sự phát triển bền vững của tỉnh Do vậy cần cónhững biện pháp tích cực bảo vệ môi trờng để bảo đảm phát triển bền vững
Vì những lí do trên, em chọn đề tài: “Vận dụng nguyên lý mối liên hệphổ biến trong việc đánh giá sự tác động của ô nhiễm môi trờng đến sự pháttriển bền vững ở tỉnh Hoà Bình” Mong muốn là với những nghiên cứu lý luận
và thực tiễn của mình sẽ đánh giá đợc một cách khách quan thực trạng ônhiễm môi trờng ở tỉnh Hoà Bình, giúp mọi ngời thấy đợc mối liên hệ giữamôi trờng và con ngời để từ đó đa ra đợc một số giải pháp thích hợp
2 Tình hình nghiên cứu
Về vấn đề ảnh hởng của môi trờng đến cuộc sống của con ngời xét dớigóc độ triết học, đã có rất nhiều công trình của các nhà khoa học và môi trờngtrên thế giới cũng nh trong nớc nghiên cứu Điển hình, ở trong nớc có sách:
‘Môi trờng và con ngời” của giáo s Mai Đình Yên (1995), “Môi trờng sinhthái vấn đề và giải pháp” của tác giả Phạm Thị Ngọc Trầm (1997), “Sinh tháihọc môi trờng” của tác giả Trần Kiên và Phan Nguyên Hồng (2000), “Môi tr-ờng và phát triển bền vững” của tác giả Hà Thị Thành và Hà Thị Minh Thu(2008)
Tất cả các công trình nghiên cứu trên đều trình bày một cách rõ nét mốiliên hệ giữa con ngời và môi trờng, đều đề cập đến những vấn đề cấp thiết củamôi trờng, chỉ ra thực trạng của tình hình ô nhiễm môi trờng cũng nh nguyênnhân và giải pháp về vấn đề môi trờng ở Việt Nam nói chung, còn vấn đề ônhiễm môi trờng cũng nh sự tác động của nó đến sự phát triển bền vững củatỉnh Hoà Bình thì cha có một đề tài nào đề cập đến
Trang 33 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục tiêu
Thông qua việc vận dụng nguyên lý mối liên hệ phổ biến của triết họcMác – Lênin, giúp chúng ta thấy đợc mối liên hệ mật thiết, sự tác động qualại biện chứng giữa môi trờng và con ngời Từ đó đánh giá đợc một cáchkhách quan tình hình thực tế của vấn đề ô nhiễm môi trờng cũng nh sự tác
động của nó đến sự phát triển bền vững ở tỉnh Hoà Bình và đa ra một số giảipháp cơ bản để khắc phục tình trạng này, đảm bảo sự phát triển bền vững củatỉnh Hoà Bình
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện đợc những mục tiêu đã nêu thì khoá luận phải đi sâunghiên cứu và thực hiện những nhiệm vụ cụ thể sau:
Một là: nghiên cứu một cách sâu sắc nguyên lý mối liên hệ phổ biếncủa triết học macxit Từ đó thấy đợc cơ sở của mối liên hệ biện chứng giữacon ngời và môi trờng
Hai là: phân tích và đánh giá đợc thực trạng, nguyên nhân ô nhiễm môitrờng và sự tác động của nó đến sự phát triển bền vững ở tỉnh Hoà Bình
Ba là: đa ra một số giải pháp cơ bản để bảo vệ môi trờng, đảm bảo sựphát triển bền vững ở tỉnh Hoà Bình
4 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tợng nghiên cứu
Khoá luận nghiên cứu tình hình ô nhiễm môi trờng ở tỉnh Hoà Bình, cụthể là ở các vùng sản xuất nông nghiệp, các khu khai thác tài nguyên, khoángsản, khu công nghiệp mới xây dựng trong toàn tỉnh
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Với thời gian nghiên cứu và trình độ của ngời nghiên cứu còn hạn chếtrong phạm vi khoá luận tốt nghiệp của cử nhân, nên trong khoá luận này emchỉ đặc biệt chú trọng và đi sâu vào việc vận dụng nguyên lý mối liên hệ phổbiến của triết học Mác - Lênin để đánh giá thực trạng ô nhiễm môi trờng vàtác động của nó đến sự phát triển bền vững ở tỉnh Hoà Bình
5 Cơ sở lý luận, phơng pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Khoá luận đợc xây dựng dựa trên cơ sở lý luận là các quan điểm củatriết học duy vật biện chứng đặc biệt là nguyên lý về mối liên hệ phổ biến củaphép biện chứng duy vật Đồng thời, khoá luận còn dựa trên các quan điểmcủa Đảng Cộng Sản Việt Nam về vấn đề môi trờng và sự phát triển bền vững
Trang 45.2 Phơng pháp nghiên cứu
5.2.1 Phơng pháp nghiên cứu lý thuyết
Một là: phơng pháp logic - lịch sử trên cơ sở của phép biện chứng duy vật.Hai là: phơng pháp phân tích, so sánh, tổng hợp để đánh giá vấn đề và
đa ra kết luận
5.2.2 Phơng pháp nghiên cứu thực nghiệm
Một là: phơng pháp thu thập tài liệu để thống kê
Hai là: phơng pháp xử lý số liệu
6 Đóng góp mới của đề tài
Đề tài khoá luận có những đóng góp mới nhất định: bớc đầu đề tài đã
đánh giá vấn đề ô nhiễm môi trờng dới góc độ triết học Vận dụng nguyên lýmối liên hệ phổ biến để làm rõ mối quan hệ giữa con ngời và tự nhiên từ đótìm ra nguyên nhân cũng nh giải pháp của thực trạng này
Đề tài cung cấp thêm những số liệu cụ thể, mới nhất về vấn đề môi ờng và tình hình phát triển bền vững ở tỉnh Hoà Bình
tr-7 Bố cục của đề tài
Đề tài ngoài phần mở đầu và kết luận thì đợc chia làm ba chơng:
Chơng 1: Cơ sở lý luận về nguyên lý mối liên hệ phổ biến
Chơng 2: Tác động của ô nhiễm môi trờng đến sự phát triển bền vững ởtỉnh Hoà Bình
Chơng 3: Phát triển bền vững và vấn đề bảo vệ môi trờng ở tỉnh Hoà Bình
Trang 5Nội Dung
Ch ơng 1 Cơ sở lý luận của nguyên lý về mối liên hệ phổ biến
1.1 Khái quát sự ra đời phép biện chứng duy vật
Phép biện chứng xuất hiện từ thời cổ đại Ngời đầu tiên sử dụng thuậtngữ “phép biện chứng” là Xôcrát với nghĩa là nghệ thuật tranh luận, đàm thoại
để tìm ra chân lý Cho đến nay, trong lịch sử triết học đã xuất hiện ba hìnhthức của phép biện chứng đó là: phép biện chứng tự phát thời cổ đại, phép biệnchứng duy tâm thời cận đại và phép biện chứng duy vật macxit
Thời kỳ cổ đại đã bắt đầu xuất hiện những t tởng biện chứng Điển hình
là những t tởng của Hêraclit, ông đợc coi là ông tổ của phép biện chứng Ông
đã đa ra t tởng về vận động, về các mặt đối lập cũng nh sự chuyển hoá giữachúng Theo ông vật chất luôn vận động, biến đổi và thế giới nh vậy khôngngừng phát triển “Không ai bớc xuống cùng một dòng chảy hai lần đợc, bởivì, dòng chảy thờng xuyên chảy, nó đã thay đổi Các vật thể của chúng tacũng chảy nh những dòng sông và vật chất ở trong chúng đợc đổi mới thờngxuyên giống nh nớc trong dòng chảy” [2, tr.18] Hay t tởng về âm dơng - ngũhành của ngời Trung Quốc Những t tởng biện chứng này đã bác bỏ nhữngquan điểm tôn giáo đơng thời, lấy chính thế giới để giải thích thế giới Tuynhiên, đây mới chỉ là những t tởng biện chứng mang tính chất sơ khai, tự phátkhông đứng vững khi khoa học tự nhiên phát triển
Thời kỳ cận đại, phép biện chứng đã có những bớc phát triển mới nhngcác nhà triết học hầu hết đều đứng trên lập trờng duy tâm để nghiên cứu vấn
đề này Điển hình nh Kant, ông đã nghiên cứu lịch sử vận động của mặt trời,
đa ra giả thuyết tinh vân, từ đó khẳng định mối liên hệ giữa các sự vật, hiện t ợng trong thế giới Ông đa ra các t tởng về các Antinomi, thừa nhận khả năngnhận thức thế giới của con ngời nhng ông cũng cho rằng con ngời không thểnhận thức đợc thế giới “vật tự nó” tức là bản chất của sự vật Nhng đại biểutiêu biểu cho phép biện chứng thời kỳ này phải kể đến Hêghên, ông cho rằng
-ý niệm tuyệt đối luôn vận động, phát triển không ngừng do mâu thuẫn bêntrong bản thân nó quy định và các lĩnh vực của đời sống liên hệ với nhau chứkhông tách rời nhau Những t tởng biện chứng của ông đã không mang tính sơkhai, tự phát mà ngợc lại nó rất sâu sắc Nhng đây là phép biện chứng duy tâmvì đây là phép biện chứng của ý niệm tuyệt đối
Trang 6Đến thế kỷ thứ XIX, khoa học tự nhiên phát triển một cách mạnh mẽ,
đặc biệt với sự ra đời của ba phát minh vạch thời đại đó là: định luật bảo toàn
và chuyển hoá năng lợng, học thuyết tế bào và học thuyết tiến hoá đã tạo điềukiện cho phép biện chứng có bớc tiến vợt bậc mà đỉnh cao của nó chính làphép biện chứng duy vật macxit Đây là hình thức phép biện chứng cách mạng
và khoa học nhất, ra đời dựa trên sự kế thừa và có phát triển các hình thức củaphép biện chứng trớc đó, đặc biệt là phép biện chứng duy tâm của Hêghen.Phép biện chứng duy vật, nh Ph.Ăngghen đã chỉ ra "là môn khoa học vềnhững quy luật phổ biến của sự vận động và sự phát triển của tự nhiên, của xãhội loài ngời và của t duy" [4, tr.201]
Phép biện chứng duy vật đợc tạo thành từ một loạt những phạm trù,những nguyên lý và những quy luật đợc khái quát từ hiện thực, phù hợp vớihiện thực Cho nên nó có khả năng phản ánh đúng đắn những liên hệ, sự vận
động và phát triển của tự nhiên, xã hội và t duy Tùy theo nhu cầu thực tiễn vàtrình độ nhận thức của con ngời mà phạm vi các vấn đề đợc bao quát trongphép biện chứng duy vật ngày càng đợc phát triển cả về bề rộng lẫn chiều sâu.Nhng ở bất kỳ cấp độ phát triển nào của nó, nguyên lý về mối liên hệ phổ biếnvẫn đợc xem là nguyên lý có ý nghĩa khái quát nhất
1.2 Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến
1.2.1 Các khái niệm
Liên hệ - trong bách khoa triết học Liên Xô định nghĩa: “Liên hệ là một
quan hệ đặc biệt, trong đó sự xuất hiện, tồn tại, vận động, phát triển và mất đicủa của khách thể này là điều kiện cho sự xuất hiện, tồn tại, vận động, pháttriển và mất đi của khách thể khác”
Nh vậy, trong vô vàn những quan hệ phong phú của thế giới chỉ nhữngquan hệ mà các khách thể nơng tựa vào nhau, ràng buộc nhau, là điều kiện,tiền đề tồn tại cho nhau thì đợc coi là liên hệ Với ý nghĩa đó liên hệ chính là
sự tác động qua lại, quy định và chuyển hóa lẫn nhau giữa các sự vật, hiện t ợng hoặc giữa các mặt của sự vật, hiện tợng
-Liên hệ phổ biến: là liên hệ giữa các sự vật, hiện tợng của toàn bộ thế
giới khách quan bao gồm cả tự nhiên, xã hội và t duy Đó là liên hệ của nhữngmặt đối lập biện chứng, nó tạo ra một cấu trúc tuyệt đối cho sự ra đời, tồn tại,vận động và phát triển của mọi sự vật và hiện tợng trong thế giới Nh Lênin đãtừng khẳng định: “tất cả liên hệ với tất cả”
1.2.2 Nội dung của nguyên lý về mối liên hệ phổ biến
Về mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tợng trong thế giới khách quan đã
có rất nhiều quan điểm khác nhau về vấn đề này Một số nhà triết học theo
Trang 7quan điểm siêu hình đã phủ nhận sự liên hệ giữa các sự vật, hiện tợng Chorằng các sự vật, hiện tợng tồn tại một cách cô lập, tách rời không có mối liên
hệ gì với nhau, chúng đều có nguồn gốc và sự vận động riêng của nó Haycũng có một số ngời thừa nhận sự tồn tại của mối liên hệ nhng lại cho rằng đó
là những mối liên hệ ngẫu nhiên, các sự vật liên hệ với nhau nhng không có sựchuyển hoá cho nhau
Chủ nghĩa duy vật macxit đã phê phán và bác bỏ những quan điểm sailầm này, đồng thời khẳng định: các sự vật, hiện tợng trong thế giới cho dùkhác nhau nhng luôn tác động qua lại và chuyển hoá cho nhau Sự tồn tại vàvận động của sự vật, hiện tợng này là cơ sở cho sự tồn tại và vận động của sựvật khác
Đồng thời đứng trên quan điểm duy vật, khoa học, phép biện chứng duyvật cũng chỉ ra một cách đúng đắn cơ sở để các sự vật, hiện tợng liên hệ vớinhau đó chính là tính thống nhất vật chất của thế giới Theo quan điểm này,các sự vật, các hiện tợng trên thế giới dù có đa dạng, khác nhau nh thế nàochăng nữa thì chúng cũng chỉ là những dạng tồn tại khác nhau của một thếgiới duy nhất là thế giới vật chất Ngay cả t tởng, ý thức của con ngời vốn lànhững cái phi vật chất, cũng chỉ là thuộc tính của một dạng vật chất có tổ chứccao là bộ óc con ngời, nội dung của chúng cũng chỉ là kết quả phản ánh củacác quá trình vật chất khách quan Do vậy, các sự vật, hiện tợng trong thế giới
đó đều có nguồn gốc vật chất, kết cấu vật chất, và liên hệ vật chất với nhau.Quan điểm này đã đợc Mác và Ăngghen khẳng định trong tác phẩm “Chống
Đuy-rinh” Khi phê phán Đuy-rinh cho rằng thế giới thống nhất ở tính tồn tạicủa nó, Ăngghen đã chỉ rõ “ Thế giới thống nhất ở tính vật chất của nó, sựthống nhất ấy không phải đợc khẳng định bởi vài ba lời lẽ khéo léo của kẻ làmtrò ảo thuật mà nó đợc chứng minh lâu dài và khó khăn của triết học và khoahọc tự nhiên” [5, tr.74]
Tuy nhiên, các sự vật, hiện tợng mặc dù có mối liên hệ với nhau, nhng
nó không đơn thuần là các mối liên hệ đồng nhất, giản đơn mà các mối liên hệrất đa dạng và phong phú do vậy mối liên hệ có những tính chất khác nhau Cụthể, mối liên hệ có ba tính chất chủ yếu:
Thứ nhất: mối liên hệ mang tính khách quan Các sự vật, hiện tợngtrong thế giới đều là các dạng khác nhau của thế giới vật chất, chúng đều tồntại khách quan do vậy mối liên hệ giữa chúng cung mang tính khách quan,không phụ thuộc vào suy nghĩ, ý muốn của con ngời
Trang 8Thứ hai: mối liên hệ mang tính phổ biến Mối liên hệ diễn ra cả trong tựnhiên, xã hội và t duy.
Thứ ba: mối liên hệ mang tính đa dạng Bao gồm mối liên hệ bên trong,mối liên hệ bên ngoài; mối liên hệ chủ yếu, mối liên hệ thứ yếu; mối liên hệbản chất và mối liên hệ không bản chất Tính đa dạng của sự liên hệ do tính
đa dạng trong sự tồn tại, vận động và phát triển của chính sự vật và hiện tợngquy định Các loại liên hệ khác nhau thì cũng có vai trò khác nhau đối với sựvận động, phát triển của sự vật và hiện tợng trong đó mối liên hệ bên trong,mối liên hệ bản chất bao giừ cũng giữ vai trò quyết định Tuy nhiên, sự phânloại các mối liên hệ chỉ mang tính chất tơng đối, chúng có thể chuyển hoá chonhau
Nh vậy, sự liên hệ tác động qua lại của sự vật, hiện tợng trên thế giớikhông những là vô cùng, vô tận mà còn rất phong phú, đa dạng và phức tạp.Chính vì vậy nhận thức và phân loại đúng đắn các mối liên hệ trong xã hội vôcùng khó khăn và có ý nghĩa cự kỳ to lớn
1.2.3 ý nghĩa phơng pháp luận của nguyên lý về mối liên hệ phổ biến
Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến là một trong những cơ sở, nền tảngcủa phép biện chứng duy vật Đồng thời nó cũng là cơ sở lý luận của quan
điểm toàn diện Đây một quan điểm mang tính phơng pháp luận khoa họctrong nhận thức và thực tiễn
Quan điểm toàn diện đòi hỏi trong hoạt động nhận thức phải thể hiệnmột số yêu cầu cơ bản:
Một là: phải xem xét sự vật, hiện tợng trong mối liên hệ với sự vật, hiệntợng khác Vì bản chất của sự vật, hiện tợng đợc hình thành, biến đổi và bộc lộthông qua mối liên hệ giữa chúng với các sự vật, hiện tợng khác, vì vậy đểnhận thức đúng đắn sự vật, hiện tợng không chỉ xem xét bản thân nó, mà cònphải xem xét tất cả các mối liên hệ của nó Khẳng định yêu cầu này, V.I.Lêninviết: "Muốn thực sự hiểu đợc sự vật, cần phải nhìn bao quát và nghiên cứu tấtcả các mặt, tất cả các mối liên hệ và "quan hệ gián tiếp” của sự vật đó" [3,tr.364] Tuy nhiên, nh nguyên lý mối liên hệ phổ biến đã chỉ ra: sự vật, hiện t-ợng tồn tại trong vô vàn các mối liên hệ, do đó trong mỗi điều kiện lịch sửnhất định con ngời không thể nhận thức đợc tất cả các mối liên hệ Vì vậy, trithức đạt đợc về sự vật cũng chỉ là tơng đối ý thức đợc điều này sẽ giúp chúng
ta tránh đợc việc tuyệt đối hóa những tri thức đã có về sự vật, xem xét sự vậtmột cách đầy đủ, toàn diện hơn
Trang 9Hai là: phải xem xét sự vật có trọng tâm, trọng điểm từ đó phát hiện ranhững mối liên hệ bản chất, tất nhiên, bên trong của sự vật, hiện tợng.
Ba là: Phải nhận thức sự vật trong tính chỉnh thể của nó Phải thấy đợctính nhiều mặt của các yếu tố, thuộc tính bên trong bản thân sự vật, hiện tợngcũng nh sự tác động qua lại, quy định và chi phối lẫn nhau giữa chúng Có nhvậy thì mới nhận thức đợc sự vật, nhận thức đợc bản chất của sự vật
Vận dụng quan điểm toàn diện vào hoạt động thực tiễn đòi hỏi phải sửdụng đồng bộ nhiều biện pháp, phơng tiện tác động để nhằm thay đổi đối t-ợng Đồng thời, quan điểm toàn diện cũng chống lại quan điểm phiến diện,chủ nghĩa chiết trung và thuật nguỵ biện Đây là những quan điểm sai lầmnhìn nhận sự vật trong trạng thái cô lập, tách rời với các sự vật khác, kết hợpmột cách vô nguyên tắc những mối liên hệ và đánh tráo một cách có chủ đích
vị trí của các mối liên hệ, biến mối liên hệ không cơ bản thành cơ bản và ngợclại
Đảng ta đã nắm vững và vận dụng một cách sáng tạo quan điểm toàndiện của chủ nghĩa Mác vào trong công cuộc đổi mới đất nớc và đây chính làmột trong những nguyên nhân dẫn tới thắng lợi Đảng ta đã khẳng định, Đổimới đất nớc là đổi mới toàn diện, đổi mới mọi mặt của đời sống xã hội nhngbên cạnh đó, đổi mới cũng phải có trọng tâm và trọng điểm Và tại Đại hội
Đảng Cộng Sản Việt Nam lần thứ VI, trong khi nhấn mạnh sự cần thiết phải
đổi mới cả lĩnh vực kinh tế lẫn lĩnh vực chính trị, Đảng ta đã xem đổi mớikinh tế là trọng tâm Và sau hơn 10 năm đổi mới chúng ta đã "khắc phụckhủng hoảng kinh tế - xã hội, tạo tiền đề cần thiết về vật chất và tinh thần đểgiữ vững ổn định chính trị, xây dựng và củng cố niềm tin của nhân dân, tạothuận lợi để đổi mới các mặt khác của đời sống xã hội” [11, tr.71]
Nh vậy, nguyên lý về mối liên hệ phổ biến đã khẳng định mọi sự vật,hiện tợng trong thế giới khách quan đều có sự tác động qua lại, ảnh hởng lẫnnhau Con ngời và môi trờng đều là những dạng tồn tại khác nhau của thế giớivật chất và nh vậy con ngời và môi trờng cũng không nằm ngoài mối liên hệ
đó mà ngợc lại giữa con ngời và môi trờng còn có mối liên hệ gắn bó vớinhau Môi trờng đã cung cấp cho con ngời những yếu tố quan trọng cần thiết
để tồn tại và phát triển, ngợc lại con ngời đã cải tạo môi trờng để phục vụ chonhu cầu của bản thân Nhng chính những hoạt động của con ngời đã và đanggây ảnh hởng tiêu cực đến môi trờng và con ngời cũng chính là chủ thể phảigánh chịu những hậu quả đó Con ngời đang ngày càng đặt mình đối lập với tựnhiên Với t cách là một bộ phận hợp thành của tự nhiên, hơn nữa con ngời
Trang 10còn đợc coi là con đẻ của tự nhiên thì về mặt cấu trúc và chức năng thực chấtcon ngời không mâu thuẫn với tự nhiên mà ngợc lại, con ngời và tự nhiên luônthống nhất với nhau Sự đối lập giữa con ngời và tự nhiên chỉ xuất hiện trongquá trình con ngời lao động sản xuất cải tạo tự nhiên phục vụ cho sự sống củacon ngời Trớc những hành động khai thác tài nguyên thiên nhiên một cáchbừa bãi, sự phát triển lực lợng sản xuất không gắn với những vấn đề môi trờng
đã khiến con ngời phải chịu những tác động tiêu cực từ môi trờng Đây là một
điều tất yếu, khách quan
Trang 11Ch ơng 2 Tác động của ô nhiễm môi trờng đến sự phát triển
bền vững ở tỉnh Hoà Bình
2.1 Một số khái niệm cơ bản
2.1.1 Khái niệm môi trờng
Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về môi trờng:
Về mặt tự nhiên, môi trờng chính là sinh quyển, là khoảng không giancủa trái đất mà ở đó có sinh vật c trú và sinh sống thờng xuyên
Về mặt xã hội, Thuật ngữ môi trờng đợc xem nh là một hệ sinh tháinhân văn (là khoa học nghiên cứu tổng thể môi trờng liên quan đến đời sốngphát triển kinh tế, xã hội của con ngời)
Theo chơng trình môi trờng của Liên Hợp Quốc (UNEP): “Môi trờng làtập hợp các yếu tố vật lý, hoá học, sinh học, kinh tế - xã hội, tác động lên từngcá thể hay cả cộng đồng” [6, tr.6]
Trong từ điển Bách khoa toàn th: “Môi trờng là tổng thể các thành tốsinh thái tự nhiên, xã hội - nhân văn và các điều kiện tác động trực tiếp hoặcgián tiếp lên phát triển, lên đời sống và hoạt động của con ngời trong thời gianbất kỳ” [10, tr.65] Môi trờng ở đây bao gồm tất cả các điều kiện, yếu tố tác
động lên con ngời; bao gồm cả môi trờng tự nhiên (đất, nớc, không khí ) vàmôi trờng xã hội (kinh tế, chính trị, văn hoá ) Vì với t cách là một động vậtxã hội, sự sống của con ngời không chỉ gắn với môi trờng tự nhiên mà còn gắn
bó rất chặt chẽ với môi trờng xã hội, chỉ trong môi trờng xã hội con ngời mớimang bản chất ngời các yếu tố này tác động qua lại lẫn nhau đảm bảo cho sựtồn tại và phát triển của con ngời
Luật bảo vệ môi trờng Việt Nam sửa đổi (2006) định nghĩa về môi ờng: “Môi trờng bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo baoquanh con ngời, có ảnh hởng đến đời sống sản xuất, sự tồn tại và phát triểncủa con ngời và sinh vật” [17]
tr-Nh vậy, có rất nhiều định nghĩa về môi trờng nhng theo một cách chungnhất môi trờng chính là tất cả các yếu tố tự nhiên và xã hội xung quanh conngời, có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp lên sự tồn tại, phát triển của con ng-
ời Do vậy, môi trờng và con ngời có mối liên hệ rất gắn bó, chặt chẽ với nhautrong đó môi trờng giữ vai trò vô cùng quan trọng đối với sự sống của con ng-
ời, ảnh hởng đến sự tồn tại của con ngời
2.1.2 Khái niệm ô nhiễm môi trờng
Trang 12Ô nhiễm môi trờng là một khái niệm rất rộng, cũng giống nh thuật ngữmôi trờng có rất nhiều định nghĩa khác nhau về ô nhiễm môi trờng:
Về mặt sinh học, ô nhiễm môi trờng là tình trạng của môi trờng trong
đó những chỉ tiêu sinh lý, hoá sinh của nó bị thay đổi theo hớng xấu đi nh làmsuy thoái, và huỷ hoại môi trờng Suy thoái môi trờng chính là sự suy giảm vềchất lợng và số lợng của thành phần môi trờng, gây ảnh hởng xấu đến con ng-
ời và sinh vật Nh vậy, ô nhiễm môi trờng đợc hiểu đó chính là sự có mặt củamột số chất ngoại lai trong môi trờng tự nhiên, khi vợt quá giới hạn cho phépthì chất đó trở nên có hại cho con ngời và sinh vật
Về mặt pháp lý, khái niệm ô nhiễm môi trờng đã đợc đề cập ở trong đạoluật của rất nhiều nớc Cụ thể: Đạo luật bảo vệ môi trờng năm 1986 của bangWestern - Australia định nghĩa: “Ô nhiễm môi trờng là bất cứ sự thay đổi trựctiếp hay gián tiếp của môi trờng theo chiều hớng xấu đi hay sự suy thoái củanó” [6, tr.184]
Luật môi trờng sửa đổi (2006) của nớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa ViệtNam định nghĩa: “Ô nhiễm môi trờng là sự làm biến đổi tính chất của môi tr-ờng, vi phạm các tiêu chuẩn môi trờng gây ảnh hởng xấu đối với con ngời vàsinh vật” (khoản 2, điều 6) [17] Sự biến đổi tính chất của môi trờng chính là
sự thay đổi tính chất lý học, hoá học và sinh học của môi trờng cụ thể: đó là sựthay đổi nồng độ CO2 trong không khí, nồng độ O2 trong nớc đã làm chotính chất của môi trờng bị thay đổi Còn tiêu chuẩn của môi trờng đợc hiểu làcác chuẩn mực, giới hạn cho phép nhằm đánh giá những tính chất hay trạngthái của môi trờng
Nh vậy, dù có hiểu theo cách nào thì ô nhiễm môi trờng vẫn là tìnhtrạng môi trờng gây ảnh hởng xấu và trực tiếp đến không chỉ con ngời mà còntoàn bộ giới sinh vật Và nguyên nhân gây ô nhiễm môi trờng đó chính là dohoạt động sản xuất và sinh hoạt của con ngời Con ngời trong mối liên hệkhăng khít với môi trờng đã và đang phá hoại chính môi trờng sống của bảnthân mình, đe doạ đến sự tồn tại của toàn nhân loại
2.1.3 Khái niệm phát triển bền vững
Thứ nhất: khái niệm phát triển Đây là một phạm trù rất rộng, đợc tiếp
cận theo nhiều góc độ khác nhau:
Về tự nhiên, phát triển đợc hiểu là sự gia tăng thuần tuý cả về mặt số ợng và chất lợng của vật chất sống
l-Về mặt xã hội, phát triển đợc hiểu toàn diện hơn bao gồm sự tăng lên,tiến lên về mọi mặt trong đời sống kinh tế, xã hội của con ngời Và theo nh
Trang 13triết học, phát triển chính là sự vận động theo chiều hớng đi lên, đây là mộtthuộc tính bản chất, phổ biến, vốn có của mọi sự vật, hiện tợng trong thế giớibao gồm cả tự nhiên, xã hội và t duy
Thứ hai: Khái niệm phát triển bền vững
Khái niệm phát triển bền vững là một khái niệm mới nảy sinh sau cuộckhủng hoảng về môi trờng và cho đến nay cha có một định nghĩa nào đầy đủ
và thống nhất về vấn đề này Thuật ngữ “phát triển bền vững” xuất hiện đầutiên vào năm 1980 trong ấn phẩm “Chiến lợc bảo tồn thế giới” của Hiệp hộiBảo tồn thiên nhiên và tài nguyên thiên nhiên quốc tế (IUCN) với nội dung rất
đơn giản: sự phát triển của nhân loại không thể chỉ chú trọng tới phát triểnkinh tế mà còn phải tôn trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác động
đến môi trờng sinh thái học
Khái niệm này chính thức đợc sử dụng và trở nên rộng rãi trên toàn thếgiới thông qua báo cáo của Uỷ ban quốc tế về môi trờng và phát triển của LiênHiệp Quốc (WCED) vào năm 1987 Báo cáo đã chỉ rõ: “Phát triển bền vững là
sự phát triển đáp ứng những nhu cầu của hiện tại, nhng không làm tổn hại khảnăng của các thế hệ tơng lai trong đáp ứng nhu cầu của họ” [6, 9] Nói cáchkhác, phát triển bền vững đó chính là phải đảm bảo sự phát triển kinh tế cóhiệu quả, xã hội công bằng và môi trờng đợc bảo vệ, gìn giữ
Đến năm 1992, tại Rio de Janeiro - Brazin, các đại biểu tham dự Hộinghị về Môi trờng và phát triển của Liên Hiệp Quốc đã xác định: “Phát triểnbền vững là sự phát triển kết hợp cả ba mặt: kinh tế, xã hội và môi trờng ,nhằm sung túc hoá nhu cầu của đời sống con ngời trong hiện tại mà tổn hại
đến khả năng thoả mãn nhu cầu của các thế hệ tơng lai” [6, 9]
Tiếp tục thực hiện chiến lợc phát triển bền vững, năm 2002, Hội nghịthợng đỉnh thế giới về phát triển bền vững họp tại Nam Phi với sự tham giacủa các nhà lãnh đạo cũng nh các chuyên gia về kinh tế, xã hội và môi trờngcủa gần 200 quốc gia đã đa ra hai văn kiện quan trọng đó là: “Tuyên bố chínhtrị” và “Kế hoạch thực hiện” với tên gọi là ba trụ cột để phát triển bền vững:
“Phát triển kinh tế phải đi kèm với bảo vệ môi trờng và công bằng xã hội ở cáccấp độ địa phơng, quốc gia, khu vực và toàn cầu” [6, 10]
ở Việt Nam, phát triển bền vững đã trở thành quan điểm của Đảng và
đợc thể hiện trong nghị quyết Đại hội lần thứ IX (2001) và đợc cụ thể hoátrong chiến lợc phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2001 - 2010 là: “Phát triểnbền vững bao trùm các mặt của đời sống xã hội nghĩa là phải gắn kết sự pháttriển kinh tế với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, giữ gìn và cải thiện
Trang 14môi trờng, giữ vững và ổn định chính trị - xã hội, đảm bảo an ninh quốcphòng” [12, 18].
Nh vậy, mặc dù cha có một định nghĩa chính xác và thống nhất về pháttriển bền vững, song về thực chất phát triển bền vững là sự phát triển phải đảmbảo đợc cả ba yếu tố đó là: kinh tế, xã hội và môi trờng Ba yếu tố này có mốiquan hệ chặt chẽ và tác động qua lại với nhau, do vậy Phát triển bền vững phải
“là sự xoá bỏ đói nghèo và bóc lột, là sự gìn giữ và tăng cờng các nguồn tàinguyên, là sự tăng trởng kinh tế và văn hoá xã hội, là sự thống nhất giữa bảo
vệ môi trờng sinh thái với tăng trởng kinh tế và hoạch định chính sách” Có
Đảm bảo đợc những yếu tố này thì con ngời mới có thể tồn tại và phát triển ợc
đ-2.2 Thực trạng ô nhiễm môi trờng ở tỉnh Hoà Bình
2.2.1 Ô nhiễm môi trờng đất
Tài nguyên đất là một trong những thành phần quan trọng nhất của môitrờng, là môi trờng sống của nhiều loài sinh vật, là chỗ dựa cho tất cả hệ sinhthái Nhng hiện nay, môi trờng đất ở Việt Nam đang bị ô nhiễm nghiêm trọng,
Ô nhiêm môi trờng đất đợc xem là tất cả các hiện tợng làm nhiễm bẩn môi ờng đất bởi các tác nhân gây ô nhiễm, là hậu quả của hoạt động con ngời
tr-Hoà Bình là một tỉnh có diện tích đất tự nhiên tơng đối lớn, diện tíchtoàn tỉnh là 466.252, 86 ha, chiếm 1,41% diện tích cả nớc, bao gồm 1 thànhphố và 10 huyện Trong đó: diện tích đất nông nghiệp là 66.759 ha, chiếm14,32%; diện tích đất lâm nghiệp là 194.308 ha, chiếm 41,67% Bình quândiện tích đất tính theo đầu ngời là 1,7 ha/ ngời Do đặc điểm về địa hình, vị thế
địa lý nên dân c ở Hoà bình phần đông là sản xuất nông nghiệp, trồng các loạicây lơng thực ngắn ngày nh: ngô, khoai, sắn để đảm bảo mức sống, phát triểnkinh tế Nhng ngày nay, đất nông nghiệp ở Hoà Bình đang liên tục bị giảmmạnh do việc chuyển đổi từ đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp Cụ thể,chỉ tính tiêng năm 2009, tổng diện tích đất nông nghiệp chuyển sang đất phinông nghiệp là 113,47 ha, trong đó diện tích đất sản xuất nông nghiệp chuyểnsang phi nông nghiệp là 64,68 ha (có 15,86 ha đất chuyên trồng lúa nớc), đấtlâm nghiệp chuyển sang đất phi nông nghiệp là 44,15 ha [14, tr.3] Sự suygiảm đất nông nghiệp đã khiến ngời dân mất đi t liệu sản xuất chính, cuộcsống trở nên khó khăn, chất lợng cuộc sống thấp cùng với sự thiếu hiểu biết,
họ đã tàn phá rừng, khai thác một cách bừa bãi các nguồn tài nguyên thiênnhiên khác vì mục đích trớc mắt
Trang 15Theo nghiên cứu, mất rừng là thủ phạm chiếm 30% trong tổng số cácnguyên nhân làm ô nhiễm suy thoái đất, khai thác rừng quá mức là nguyênnhân chiếm 7%, còn ô nhiễm đất do công nghiệp hoá chỉ chiếm 1% Mất rừngdẫn đến đất không đợc bảo vệ và tái tạo, là nguyên nhân làm cho đất bị rửatrôi, bạc màu, xói mòn Sự suy giảm tài nguyên rừng đã khiến cho đất ởnhiều địa phơng trong tỉnh trở nên khô cằn, hàm lợng chất dinh dỡng trong đấtgiảm, đất mất khả năng trao đổi, tự phục hồi
Bên cạnh đó, cũng do việc khai thác rừng một cách không hợp lý, đãdẫn đến diện tích đất canh tác bị thu hẹp, kéo theo đó ngời nông dân phải tăngcờng việc sử dụng các phân bón hoá học, thuốc trừ sâu, thuốc kích thích tăngtrởng để tăng năng suất, đáp ứng đủ nguồn lơng thực, điều này tất yếu sẽ dẫn
đến tình trạng đất bị ô nhiễm Đây là nguồn ô nhiễm chiếm 28% trong tổng sốcác nguyên nhân gây ô nhiễm môi trờng đất Do sự thiếu hiểu biết của ngờidân địa phơng về tác hại lâu dài của các loại phân, thuốc hoá học cùng vớiviệc muốn thu đợc lợi nhuận cao, nên đa số nông dân ở đây đều sử dụng cácloại thuốc trừ sâu nh: clo hữu cơ, DDT, aldrin, photpho hữu cơ ; phân bón: N,P với số lợng quá lớn làm cho đất bị thoái hoá, bạc màu, mất khả năng canhtác Điển hình nh ở Kim Bôi, Tân Lạc, Lạc sơn đã có rất nhiều đất trớc kia làsản xuất nông nghiệp bây giờ phải bỏ trống, hoặc sản xuất nhng không đemlại hiệu quả kinh tế cao
Ngoài ra, việc sử dụng các phân hữu cơ cha qua ngâm ủ, xử lý cũng làmột tình trạng diễn ra phổ biến ở đây, gần 90% hộ nông dân trong tỉnh sửdụng loại phân này trong hoạt động nông nghiệp của mình Việc bón trực tiếpphân, nớc tiểu của ngời và động vật vào môi trờng đất đã mang theo rất nhiều
vi trùng, ấu trùng làm cho đất bị nhiễm bẩn, ô nhiễm Đặc biệt, các loại vitrùng, trứng giun sán có thể tồn tại trong đất rất lâu gây nguy hiểm cho sứckhoẻ con ngời
Tài nguyên đất ở Hoà bình đang bị suy thoái và cạn kiệt Tình trạng đất
bị xói mòn, bạc màu, thoái hoá mất khả năng canh tác ngày càng trở nên phổbiến ở đây, làm suy giảm độ đa dạng sinh học, gây khó khăn, ảnh hởng đếncuộc sống của ngời dân địa phơng
2.2.2 Ô nhiễm môi trờng nớc
Cũng giống nh tài nguyên đất, nớc cũng có một vai trò vô cùng quantrọng Trong tự nhiên, nớc tham gia vào thành phần cấu trúc của sinh quyển,
là môi trờng sống của nhiều loại sinh vật; là nơi chứa chất thải, xử lý làm sạchmôi trờng Luật bảo vệ tài nguyên nớc đã chỉ rõ: “Nớc là tài nguyên đặc biệt
Trang 16quan trọng, là thành phần thiết yếu của sự sống và môi trờng, quyết định sựtồn tại và phát triển bền vững của đất nớc; mặt khác nớc cũng gây ra tai hoạcho con ngời và môi trờng” So với thế giới, Việt Nam là một nớc có hệ thốngsông, suối dày đặc với tổng chiều dài trên 52.000 km, tài nguyên nớc dồi dàocả nớc mặt lẫn nguồn nớc ngầm Nhng hiện nay chất lợng nớc của Việt Namcũng đang trong tình trạng suy giảm mạnh, nớc ngày càng thay đổi theo chiềuhớng xấu đi, với sự xuất hiện ngày càng nhiều các chất lạ ở thể lỏng, rắn làmcho nguồn nớc trở nên độc hại với con ngời và sinh vật Xét về tốc độ lantruyền và quy mô ảnh hởng thì ô nhiễm nớc là vấn đề đáng lo ngại hơn ônhiễm đất.
Tỉnh Hoà Bình có nguồn tài nguyên nớc rất dồi dào Nằm trong vùngkhí hậu nhiệt đới gió mùa, Hoà Bình có lợng ma bình quân lớn khoảng từ1.500 - 2.500m3, tập trung chủ yếu vào mùa ma, chiếm 85 - 90% Hoà Bình códiện tích nớc mặt tơng đối lớn; mạng lới sông suối phân bố tơng đối đều, đặcbiệt có Sông Đà lớn nhất bắt nguồn từ Trung Quốc chảy qua các huyện MaiChâu, Đà Bắc, Tân Lạc, Kỳ Sơn, thành phố Hoà Bình với tổng chiều dài là 151
km, tổng lu vực là 51.800km2 Ngoài ra, còn có các con sông lớn khác nh:Sông Bôi dài 60km, Sông Bởi dài 55 km, Sông Bùi dài 32 km Nh vậy, HoàBình nằm trong khu vực của ba hệ thống sông chính: Sông Đà, Sông Mã vàSông Đáy với khoảng 400 con sông, suối lớn nhỏ chảy trên địa bàn toàn tỉnh.Trong đó có khoảng 5 sông có lu lợng dòng chảy trên 31m3/s Tổng lu lợngdòng chảy trung bình hàng năm trên toàn tỉnh khoảng 5 tỷ m3, trong đó hệthống sông đà chiếm tỷ trọng chủ yếu Ngoài nớc mặt, Hoà Bình còn có nguồnnớc ngầm rất phong phú Tài nguyên nớc khoáng dồi dào nh mỏ nớc khoáng ởKim Bôi, Lạc Sơn và hiện nay ngoài mỏ nớc khoáng Mớ đá đang đợc khaithác thì trong tỉnh còn phát hiện trên 4 điểm nớc khoáng, nớc nóng đang đợcnghiên cứu
Lợng nớc dồi dào của tỉnh đủ để phục vụ hoạt động công nghiệp vànông nghiệp cho toàn tỉnh Mặc dù là nớc đầu nguồn nhng cùng với quá trìnhcông nghiệp hoá, phần lớn các sông, suối ở Hoà Bình đều rơi vào tình trạng bị
ô nhiễm, nồng độ các chất ô nhiễm vợt quá giới hạn cho phép ngày càng tăng,nghiêm trọng có rất nhiều mẫu nớc ở quanh khu công nghiệp Lơng Sơn vàthành phố Hoà Bình đã phát hiện có các chất độc hại nh phenol, asen, xyanua,chì, các hợp chất của nitơ cực kỳ độc hại cho sức khoẻ con ngời, ảnh hởng
đến chất lợng phát triển Phần lớn các khu, cụm công nghiệp tập trung và cácnhà máy công nghiệp ở trên địa bàn tỉnh không có hệ thống xử lý nớc thải
Trang 17đúng tiêu chuẩn hoặc có những không sử dụng Điển hình nh công ty sản xuấtgiấy Hapaco Đông Bắc ở Huyện Mai Châu, xả nớc thải với lu lợng 200 m3/ngày vào môi trờng, chỉ tiêu BOD (lợng oxy cần thiết cho quá trình phân huỷhiếu khí chất hữu cơ trong nớc trong khoảng thời gian nhất định) vợt 1,8 lầnmức cho phép, COD (lợng oxy cần thiết để oxy hoá hoá học các chất hữu cơtrong nớc) vợt 2,0 lần Mặc dù có hệ thống xỷ lý nớc thải nhng không vậnhành mà xả trực tiếp ra môi trờng thông qua đờng ống ngầm khiến nớc ở SuốiSia bị ô nhiễm, chuyển màu, ngời dân không sử dụng đợc Hay, Công tyTNHH giấy Ba Nhất ở xã Thành Lập, huyện Lơng Sơn đã xả nớc thải khôngthông qua hệ thống xử lý, nớc xả thải vợt tiêu chuẩn cho phép 20 lần [15, tr.5].Nớc thải của các khu công nghiệp đã làm cho nguồn nớc ở Hoà Bình bị ônhiễm Theo kết quả quan trắc năm 2005, các mẫu nớc sông bị có nồng độBOD, COD cao hơn từ 7 đến 9 lần so với các mẫu quan trắc năm 1999 [16,tr.10]
Bên cạnh các rác thải công nghiệp thì rác thải của bệnh viện cũng lànguồn gây ô nhiêm cực kỳ quan trọng đối với nguồn nớc Hiện nay trên toàntỉnh có 12 bệnh viện phân bố đều ở các huyện nhng chỉ có 1/12 bệnh viện có
hệ thống xử lý nớc thải đúng tiêu chuẩn, còn lại các bệnh viện đều chôn cácchất thải rắn, xả nớc thải ra các dòng sông, kênh mơng quanh khu vực bênhviện Nh Bệnh viện đa khoa huyện Lạc Sơn, hàng ngày bệnh viện đã xả mộtkhối lợng lớn chất thải ra sông Bởi, khiến con sông bốc mùi hôi thối, nguồn n-
ớc ngầm ở quanh khu vực này không sử dụng đợc, chỉ số BOD, chất NH4,
NO2, NO3 đều vựt quá tiêu chuẩn cho phép [14, tr.6]
Ngoài ra, nạn đốt, phá rừng và khai thác rừng một cách bừa bãi ở đây đãlàm cho diện tích che phủ của rừng bị suy giảm, làm mất khả năng giữ nớccủa cây, gây nên các hiện tợng lũ lụt khiến nớc sông, suối, giếng không đảmbảo vệ sinh Nguồn nớc ngầm không đợc bổ xung thờng xuyên, bị cạn kiệt
Ô nhiễm môi trờng nớc đã gây ảnh hởng rõ rệt đến mọi lĩnh vực của tựnhiên vã xã hội Các hệ động vật, thực vật bị suy giảm mạnh, ngời dân không
đủ nớc cho sinh hoạt và sản xuất, sức khoẻ con ngời không đảm bảo
2.2.3 Ô nhiễm môi trờng không khí
Không khí là hỗn hợp gồm các khí: Nitơ chiếm 78,6%, oxy 20,6%,cacbonic 0,03%, Ar chiếm 0,09%, và các khí khác nh heli, neon, mêtan,ozon Ô nhiễm không khí là sự thải vào khí quyển các loại khí, hơi, tia, giọthay các hạt khác không phải là thành phần của không khí hoặc là thành phầncủa không khí nhng vợt quá giới hạn cho phép gây ảnh hởng bất lợi cho conngời và hệ sinh thái Các chất gây ô nhiễm không khí thờng tồn tại ở 2 dạng
Trang 18phổ biến là: dạng hơi khí và phân tử rắn (thuỷ ngân, chì, bụi ), trong đó dạnghơi khí chiếm trên 90% tổng lợng chất gây ô nhiễm.
Hiện nay, ô nhiễm không khí ngày càng trở nên nghiêm trọng ở ViệtNam, tập chung chủ yếu ở các khu đô thị, các thành phố lớn và các khu côngnghiệp Ô nhiễm không khí ở Việt nam đã vợt tiêu chuẩn cho phép nhiều lần,các khu dân c gần khu công nghiệp và đờng giao thông lớn đều có nồng độbụi vợt tiêu chuẩn cho phép từ 1,5 - 3 lần Bên cạnh đó, ô nhiễm không khí tạicác nút giao thông trọng điểm nh ở Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh ngàycàng trở nên trầm trọng, nồng độ các khí NOx, CO, SO4 vợt quá giới hạn chophép từ 2,5 - 5 lần gây ảnh hởng lớn tới sức khoẻ ngời dân [6, tr.193]
Tại tỉnh Hoà Bình, mặc dù hiện tợng ô nhiễm môi trờng không khí chatrở nên nghiêm trọng và phổ biến nhng nó đã bắt đầu xuất hiện và có xu hớngngày càng lan rộng, tập trung chủ yếu ở các khu công ngiệp mới đợc xâydựng Bên cạnh đó, Hoà Bình có rất nhiều nguồn tài nguyên khoáng sản nh:amiăng, đá vôi, than, than đá, quăng đa kim (đồng, chì, kẽm, thuỷ ngân),khoáng sản phi kim loại nh Phirit, cao lanh, photphorit phân bố rải rác ở LạcSơn, Kim Bôi, Lạc Thuỷ, Kỳ Sơn Đáng lu ý là đá, đất sét có trữ lợng lớn,trong đó đá gabrodiaba trữ lợng 2,2 triệu m3, đá granít trữ lợng 8,1 triệu m3, và
đá vôi có trữ lợng rất lớn trên 700 triệu tấn Do đặc thù về tài nguyên khoángsản nên các khu công nghiệp tập trung ở đây chủ yếu là các nhà máy sản xuấtvật liệu xây dựng nh xi măng, gạch; các nhà máy sản xuất giấy, phân lân; cáckhu khai thác đá vôi ; đây chính là những ngành công nghiệp gây ô nhiễmmôi trờng không khí một cách nặng nề nhất Điển hình nh các nhà máy sảnxuất xi măng, xi măng là ngành công nghiệp có mức độ ô nhiễm môi trờngcao Để sản xuất ra xi măng cần có một số lợng lớn nguyên liệu tự nhiên nh:
đá vôi, đất sét, than, dầu , đây là những nguồn tài nguyên không tái tạo đợc ,
đồng thời thải ra một lợng lớn khí độc CO2, NOx gây ô nhiễm môi trờngkhông khí Cụ thể, Trên địa bàn xã Tân Vinh, huyện Lơng Sơn hiện có 11doang nghiệp khai thác đá, sản xuất vật liệu xây dựng Ngoài ra, còn có nhàmáy xi măng của Công ty cổ phần xi măng VINACONEX Lơng Sơn và 7 đơn
vị khai thác đá vôi đang hoạt động đã khiến cho vấn đề ô nhiễm bụi ở TânVinh ngày càng tăng, vợt tiêu chuẩn cho phép nhiều lần Trung bình mỗi nămcông ty cổ phần sản xuất đá xây dựng Lơng Sơn sản xuất 400.000 m3 đá cácloại/ năm, khiến các hộ sống quanh khu vực nhà máy, trạm nghiền đá thờngxuyên phải chịu khói bụi, nhất là vào thời điểm nhà máy xả khói, bụi bay mùmịt, cả mùi khét do than cháy Gây ảnh hởng nhiều đến sức khoẻ ngời dân
Trang 19nhất là ngời già, trẻ nhỏ sức đề kháng yếu nên hay mắc các bệnh nh ho, viêmphổi; sản xuất cũng bị ảnh hởng, trồng cây, chăn nuôi không đem lại hiệu quảkinh tế cao [15, tr.6].
Bên cạnh đó, do việc đốt rừng làm nơng, rẫy xảy ra phổ biến ở đây đãphát tán vào không khí nhiều khói gây ô nhiễm nh: SO2, CO Ngoài ra, khíthải do hoạt động sinh hoạt của con ngời chủ yếu là các bếp đun, than, dầu cũng gây ô nhiễm nhng không đáng kể
Ô nhiễm không khí mặc dù cha là một hiện tợng mang tính chất trầmtrọng ở tỉnh Hoà Bình nhng bớc đầu nó đã gây ảnh hởng đến sức khoẻ của ng-
ời dân do vậy cần có những biện pháp xử lý kịp thời
2.3 Nguyên nhân gây ô nhiễm môi trờng ở tỉnh Hoà Bình
Về nguyên nhân gây ô nhiễm môi trờng ở tỉnh Hoà Bình có rất nhiềunguyên nhân Nhng nhìn chung, ô nhiễm môi trờng do hai nguyên nhân chủyếu, trực tiếp gây ra đó là: tự nhiên và nhân tạo
2.3.1 Ô nhiễm tự nhiên
Ô nhiễm tự nhiên là nguồn ô nhiễm do thiên nhiên gây ra ở tỉnh HoàBình, ô nhiễm môi trờng do nguyên nhân tự nhiên gây ra đợc thể hiện ở mấynguyên nhân chính sau:
Thứ nhất: Do ma, nớc bốc hơi từ các khu công nghiệp, đất liền, sôngtrên địa bàn tỉnh mang theo nhiều chất độc hại nh: Cl, CO, CO2, CH4,
NH3 làm ô nhiễm môi trờng không khí Khi ma, các chất độc hại này tồn tạitrong không khí sẽ rơi xuống đất làm ô nhiễm môi trờng đất và nớc Chu trìnhnày cứ tiếp diễn nh vậy tạo nên vòng tuần hoàn liên hồi làm cho môi trờngngày càng bị ô nhiễm một cách nặng nề
Thứ hai: Do hậu quả của các trận bão, lũ lụt và các chất phóng xạ cósẵn trong tự nhiên đã tác động trực tiếp đến môi trờng Các hiện tợng lũ lụt,bão, hạn hán thờng xuyên xảy ra ở tỉnh Hoà Bình một phần do địa thế của tỉnhnằm ở vùng núi cao, độ dốc và phân giải của địa hình lớn nhng nguyên nhânchính đó là do việc chặt phá, đốt rừng một cách bừa bãi Lũ lụt đã làm ônhiễm nguồn nớc sinh hoạt của ngời dân và nguồn nớc ngầm, đất bị xói mòn
Thứ ba: Do sinh vật bài tiết, xác chết của động vật và vi sinh vật Tất cả
đã ngấm vào mạch nớc ngầm mang theo nhiều vi trùng nh E.Coli gây bệnh về
đờng tiêu hoá, Trichomas gây bệnh về đờng sinh dục và nhiều vi trùng nguyhiểm khác gây bệnh cho con ngời, làm đảo lộn chu trình tuần hoàn vật chấttrong tự nhiên, mất cân bằng sinh thái
Trang 20Nguyên nhân tự nhiên gây ô nhiễm môi trờng mặc dù xét về lý thuyết
nó là nguyên nhân khách quan, không tuân theo ý muốn chủ quan của con
ng-ời nhng thực tế, những nguyên nhân này đều có sự tác động ít hoặc nhiều củacon ngời Chính con ngời là nguyên nhân làm cho ô nhiễm tự nhiên trở nênnghiêm trọng hơn
2.3.2.Ô nhiễm nhân tạo
Nếu nh ô nhiễm tự nhiên là nguôn ô nhiễm do thiên nhiên gây ra thì ônhiễm nhân tạo là nguồn ô nhiễm do hoạt động của con ngời gây ra Con ngời
và môi trờng có mối liên hệ biện chứng, gắn bó chặt chẽ với nhau, Nhng chính
sự khai thác một cách quá mức và không hợp lý của con ngời là nguyên nhântrực tiếp dẫn đến tình trạng môi trờng ngày càng bị ô nhiễm một cách nặng nề.Những nguyên nhân ô nhiễm môi trờng ở tỉnh Hoà Bình do con ngời gây rabao gồm những nguyên nhân chủ yếu sau:
Thứ nhất: hoạt động nông nghiệp
Nếu nh ở các thành phố lớn, các tỉnh có nền công nghiệp phát triển,hoạt động công nghiệp là hoạt động gây ô nhiễm môi trờng chính thì ở cáctỉnh miền núi, nơi mà ngời dân chủ yếu lao động bằng sản xuất nông nghiệpthì hoạt động nông nghiệp là nguồn gây ô nhiễm chủ yếu Bởi vì trong sảnxuất nông nghiệp, do sự thiếu hiểu biết của ngời lao động cùng với việc muốnthu đợc lợi nhuận cao, con ngời đã sử dụng phân bón hoá học, thuốc trừ sâu,thuốc diệt cỏ, các loại thuốc bảo vệ thực vật với số lợng quá lớn, tuy mang lạihiệu quả kinh tế cao nhng lại kéo theo sự ô nhiễm nghiêm trọng đất canh tác
và nguồn nớc, hậu quả cực kỳ nguy hiểm là gây độc hại cho sức khoẻ của conngời và toàn bộ hệ sinh thái Đặc biệt các loại thuốc trừ sâu, diệt cỏ có chu kỳbán phân huỷ trung bình và dài, cho nên khả năng tồn d trong đất khá lâu làmcho môi trờng đất bị ô nhiễm, giảm sức sống thậm chí còn làm chết các visinh vật có lợi sống trong đất Nhng nguy hiểm hơn, các chất này tồn d trongsản phẩm, tuần hoàn qua chuỗi thức ăn gây độc hại cho con ngời, sức khoẻsinh sản và sự phát triển bền vững Theo số liệu của Bộ y tế Việt Nam năm
2007, số ngời dân mắc bệnh vô sinh do ảnh hởng của thuốc trừ sâu, thuốc bảo
vệ thực vật ở nông thôn, miền núi tăng hơn gấp nhiều lần so với ngời dânthành phố Mặt khác, các chất này tồn d trong sản phẩm nông nghiệp, theoquy luật gia tăng nồng độ chuyển thành những chất có độc tính cao gấp hàngvạn lần chất ban đầu, ảnh hởng trực tiếp đến sức khoẻ ngời lao động
Thực tế, theo thống kê của sở tài nguyên và môi trờng tỉnh Hoà Bình thìviệc sử dụng các chất hoá học trong hoạt động nông nghiệp của tỉnh ngày
Trang 21càng gia tăng Điển hình nh khu vực trồng rau của xã Thịnh Lang - thành phốHoà Bình, do ngời dân sử dụng quá mức các thuốc trừ sâu và bảo vệ thực vậtnên có hàm lợng asen cao hơn giới hạn cho phép, chiếm từ 15 - 20%, số mẫurau có hàm lợng NO3 cao ở mức báo động Ngoài ra, số mẫu rau, quả tơi cóchứa chất bảo vệ thực vật chiếm tỉ lệ khá cao từ 20 - 50% [16, tr.10].
Bên cạnh việc sử dụng các chất hóa học trong sản xuất nông nghiệp gây
ô nhiễm môi trờng thì việc sử dụng phân hữu cơ (do động vật và con ngời thảira) cha qua ngâm ủ, xử lý cũng là nguồn gây ô nhiễm nghiêm trọng môi trờng
đất Nguồn phân này khi vào môi trờng đất đã mang theo rất nhiều vi trùng cógiới hạn sinh thái rộng, chúng có thể tồn tại ngoài môi trờng với thời gian dàikhiến đất bị nhiễm bẩn, mất khả năng tái sử dụng hoặc sử dụng không đem lạihiệu quả kinh tế cao Điển hình nh rất nhiều đất nông nghiệp ở Huyện Lạc Sơn
đã phải bỏ trống, không có khả năng canh tác sau một thời gian sử dụng.Nguy hiểm hơn, hoạt động này còn gây nhiều bệnh hiểm nghèo cho con ngờinh: các bệnh về đờng tiêu hoá, đờng sinh dục, viêm gan, viêm não, thờng hàn
và lâu dài có thể gây đột biến gen và ung th Tình trạng này diễn ra phổ biến ởtỉnh Hoà Bình do ngời dân cha có kiến thức đầy đủ, khoa học về sản xuất nôngnghiệp, 90% số hộ nông dân sử dụng phân hữu cơ cha qua xử lý, bón trực tiếpvào môi trờng đất Mặc dù hiện nay các cơ quan chức năng của tỉnh đã đẩymạnh việc phổ biến kiến thức khoa học nông nghiệp cho nông dân, cử cán bộchuyên nghành về từng địa phơng hớng dẫn cách sản xuất, sử dụng đúng cáchcác loại phân bón, thuốc trừ sâu, thuốc bảo vệ thực vật nhng hiện tợng nàyvẫn cha có cải thiện rõ rệt
Thứ hai: Hoạt động công nghiệp
Đối với cả nớc nói chung và tỉnh Hoà Bình nói riêng thì hoạt động côngnghiệp là hoạt động gây ô nhiễm môi trờng một cách nặng nề, trong đó ngànhsản xuất và tiêu thụ năng lợng là ngành gây ô nhiễm môi trờng nghiêm trọngnhất trong các nguồn gây ô nhiễm do hoạt động công nghiệp gây ra Bởi vìmọi hoạt động của ngành này đều có quan hệ trực tiếp đến việc sử dụng nănglợng từ các nguồn nh: than đá, khí đốt Khi đốt những nhiên liệu này đã thải
ra một số lợng lớn khí CO2, CO, NOx và SO4 , đây là những khí gây ảnh hởngtrực tiếp đến sức khoẻ của con ngời, gây ra những bệnh hiểm nghèo nh: ung
th, các bệnh về đờng hô hấp, tim mạch
Hiện nay, số lợng các khu công nghiệp, các nhà máy sản xuất tăngnhanh ở tỉnh Hoà Bình tập trung nhiều nhất ở Thành phố Hoà Bình, Huyện l-
ơng Sơn, Tân Lạc Hầu hết các khu công nghiệp này vẫn đang sử dụng những
Trang 22công nghệ sản xuất cũ, lạc hậu, không áp dụng những biện pháp giảm thiểu ônhiễm môi trờng, không xây dựng hệ thống xử lý môi trờng đạt tiêu chuẩn,
điều này đã khiến cho môi trờng ở khu vực này và những vùng lân cận bị ônhiễm một cách nghiêm trọng Hàng năm các khu công nghiệp này đều thải ramôi trờng một số lợng lớn khí thải gây ô nhiễm môi trờng không khí Điểnhình nh Công ty cổ phần xi măng Sông Đà, mỗi ngày đã thải ra không khí một
số lợng lớn các khí độc CO2, NOx, những ngời dân sống quanh khu vực nàythờng xuyên phải đối mặt với lợng bụi mù mịt, mùi khí thải nồng nặc vào ban
đêm, bụi than dẫn đến sức khoẻ của ngời dân không đảm bảo, số ngời xuấthiện các hiện tợng nh tức ngực, khó thở ngày càng tăng [16, tr.7]
Bên cạnh đó, phần lớn các nhà máy công nghiệp ở tỉnh Hoà bình cóhoặc không có hệ thống xử lý nớc thải nhng hoạt động không hiệu quả hoặckhông hoạt động đã khiến cho nguồn nớc thải trong sản xuất đợc xả thẳng ra
tự nhiên làm cho các dòng sông nh: Sông Đà, Sông Bôi, suối Sia bị ô nhiễmnguồn nớc sinh hoạt và mạch nớc ngầm bị ảnh hởng nghiêm trọng
Nh vậy, hoạt động công nghiệp bên cạnh những thành tựu to lớn mà nómang đến đã khiến cho môi trờng ở tỉnh Hoà Bình ngày càng bị ô nhiễm mộtcách nghiêm trọng, đặc biệt là môi trờng không khí và nớc gây tổn hại đếnbầu không khí trong lành của tỉnh, đời sống của ngời dân bị ảnh hởng
Thứ ba: Vấn đề dân số và rác thải sinh hoạt
Thực tế đã chứng minh, dân số càng tăng nhanh bao nhiêu thì nhu cầu
về sinh hoạt cả vật chất lẫn tinh thần càng tăng bấy nhiêu, dẫn đến hậu quảmôi trờng bị ô nhiễm do rác thải sinh hoạt là một điều tất yếu khách quan.Việt Nam là một nớc có tốc độ gia tăng dân số nhanh, so với thế giới tốc độgia tăng dân số của Việt nam cao gấp 2 lần; mỗi năm trung bình tăng khoảng1,3 triệu ngời; tính đến năm 2009, dân số Việt Nam là 85.789.573 ngời [6,tr.69] Dân số tăng nhanh, mức tiêu dùng tăng, quy mô sản xuất tăng đã làmcho tài nguyên thiên nhiên ngày càng cạn kiệt, làm suy giảm độ đa dạng sinhhọc, rối loạn chức năng hoạt động của hệ sinh thái, làm mất cân bằng hệ sinhthái, gây ô nhiễm môi trờng
Tỉnh Hoà Bình cũng là một địa phơng có tỉ lệ gia tăng dân số nhanh sovới các địa phơng khác ở trong nớc, tỉ lệ tăng dân số tự nhiên là 1,1% Tính
đến tháng 4 năm 2009, dân số toàn tỉnh là 786.964 ngời thì đến tháng 7 năm
2009 dân số đã tăng lên đến 832.543 ngời [17 tr.6] Nguyên nhân của thựctrạng này đó là do ngời dân, chủ yếu là ngời dân tộc thiểu số sống ở nhữngvùng đặc biệt khó khăn thiếu hiểu biết về kế hoạch hoá gia đình, đồng thời
Trang 23chính quyền địa phơng cha có những biện pháp xử lý nghiêm do vậy tỉ lệ sinhcon thứ 3 ở những vùng này thờng rất cao Sự gia tăng dân số một cách nhanhchóng mặt trong khi diện tích đất không tăng đã dẫn đến hiện tợng chặt phárừng, đốt rừng làm nơng, khai thác một cách bừa bãi các tài nguyên thiênnhiên nh: than, đá, quặng sắt làm rối loạn chức năng của toàn bộ hệ sinh thái,
ô nhiễm môi trờng Điển hình, nếu trớc kia Hoà Bình có khí hậu trong lành,mát mẻ, thì hiện nay, khí hậu ở Hoà Bình đang ngày một trở nên nóng hơn,hạn hán, lũ lụt, lũ quét thờng xuyên xảy ra gây ảnh hởng nghiêm trọng đếncuộc sống của ngời dân và môi trờng sinh thái
Bên cạnh đó, dân số đông dẫn đến số lợng rác thải do sinh hoạt của conngời ngày càng gia tăng đặc biệt là rác thải bệnh viện cha qua xử lý Mỗi ngàybênh viện Đa khoa tỉnh Hoà Bình đã thải ra môi trờng một số lợng lớn rácthải, tuy nhiên số rác thải này đã không đợc xử lý đúng nh quy định mà phầnlớn đợc chôn, đốt ngay ngoài trời hoặc vận chuyển đến chỗ xử lý nhng không
có phơng tiện vận chuyển chuyên dụng đã khiến cho môi trờng xung quanhbệnh viện bị ô nhiễm một cách nghiêm trọng, nguồn nớc ngầm trở nên đụcngầu, ngời dân sông quanh khu vực thờng xuyên phải hít mùi hôi thối
Ngoài ra, Việc đun nấu bằng than, củi, dầu hoả, ga cũng là nguồn gây
ô nhiễm môi trờng Mặc dù nguồn ô nhiễm này tuy nhỏ nhng lại có tính chấtcục bộ nên để lại hậu quả lâu dài nhất là những ngời thờng xuyên tiếp xúc vớicác chất này
Thứ t: Nhận thức của ngời dân về vấn đề môi trờng
Môi trờng đang bị ô nhiễm một cách nghiêm trọng, do nghiều nguyênnhân nhng nguyên nhân cơ bản vẫn là do nhận thức của con ngời về vấn đềmôi trờng còn hạn chế Ngời dân đã không nhận thức đợc tầm quan trọng củacông tác bảo vệ môi trờng cũng nh hậu quả của những hành động thiếu ý thứccủa mình đã dẫn đến môi trờng bị tàn phá một cách nghiêm trọng Vì mục
đích kinh tế của bản thân mà nhiều ngời dân ở đây đã tàn phá chính môi trờngsống của mình, biểu hiện là nguồn tài nguyên thiên nhiên bị khai thác mộtcách bừa bãi ngày càng tăng đặc biệt là tài nguyên rừng Tình trạng đốt nơnglàm rẫy, chặt phá rừng đầu nguồn, rừng phòng hộ, rừng khoanh nuôi vẫn cònthờng xuyên xẩy ra gây cạn kiệt tài nguyên, ô nhiễm đất, nguồn nớc, phá huỷcảnh quan môi trờng Rừng bị phá huỷ, các thiên tai thờng xuyên xảy ra đãgây ảnh hởng lớn đến chất lợng cuộc sống của ngời dân điạ phơng
Bên cạnh đó, do sự thiếu trách nhiệm của mỗi ngời dân với cộng đồngvới chính môi trờng sống của mình mà đã dẫn tới sự suy thoái của môi trờng