Trong nghiin cứu này, các tác giả đã tập trung nghiin cứu, tìm hiểu về: Quá trình nhận thức về KNS và tổng quan các chủ trương, chính sách, điều luật phản ánh yiu cầu tiếp cận kĩ năng số
Trang 1NGUYỄN THỊ THU HẰNG
GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH DÂN TỘC THIỂU SỐ
KHU VỰC MIỀN NÚI PHÍA BẮC VIỆT NAM (QUA CÁC MÔN TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI, KHOA HỌC)
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
HÀ NỘI - 2013
Trang 2NGUYỄN THỊ THU HẰNG
GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH DÂN TỘC THIỂU SỐ
KHU VỰC MIỀN NÚI PHÍA BẮC VIỆT NAM (QUA CÁC MÔN TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI, KHOA HỌC)
Chuyên ngành: LÍ LUẬN VÀ LỊCH SỬ GIÁO DỤC
Mã số: 62 14 01 02
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: 1 PGS.TS NGUYỂN THỊ MINH PHƯƠNG
2 TS LƯƠNG VIỆT THÁI
HÀ NỘI - 2013
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiin cứu của riing tôi, các số liệu và kết quả nghiin cứu trong luận án chưa từng được ai công bố trong bất kì công trình nào khác
Tác giả luận án
Nguyễn Thị Thu Hằng
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Luận án này được hoàn thành với sự giúp đỡ tận tình của nhiều cá nhân và tập thể Tác giả luận án xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới:
Cô PGS TS Nguyễn Thị Minh Phương và thầy T.S Lương Việt Thái đã tận
tâm hướng dẫn, chỉ bảo để luận án được hoàn thành
Ban Giám hiệu Trường Áại học Sư phạm- Áại học Thái Nguyin, Ban Chủ nhiệm và các cán bộ giáo viin Khoa Giáo dục Tiểu học- Trường ÁHSP- ÁHTN đã tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả học tập và nghiin cứu
Ban Giám hiệu, Giáo viin và học sinh Trường Tiểu học Nguyễn Thị Minh Khai- Xã Lâm Thượng- Huyện Lục Yin- Yin Bái, Trường Tiểu học Tân Long- Xã Tân Long- Huyện Áồng Hỷ- Thái Nguyin, Trường Tiểu học Hòa Bình- Thị trấn Lộc Bình- Huyện Lộc Bình- Tỉnh Lạng Sơn đã cộng tác, cung cấp thông tin cho việc nghiin cứu của luận án
Trung tâm Áào tạo, bồi dưỡng của Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam đã tạo điều kiện, giúp đỡ cho việc hoàn thành luận án
Gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã quan tâm, chia sẻ, giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình thực hiện luận án
Tác giả luận án
Nguyễn Thị Thu Hằng
Trang 5UNICEF Quỹ Nhi đồng Liin Hiệp Quốc
UNESCO Tổ chức Giáo dục - Khoa học - Văn hóa quốc tế
PDI Tổ chức Dân số và Phát triển quốc tế
Trang 6
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiin cứu 3
3 Khách thể và đối tượng nghiin cứu 3
4 Giả thuyết khoa học 3
5 Nhiệm vụ nghiin cứu 3
6 Phạm vi nghiin cứu 4
7 Phương pháp nghiin cứu 4
8 Những luận điểm bảo vệ 5
9 Những điểm mới của đề tài 5
10 Cấu trúc của luận án 6
Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH DÂN TỘC THIỂU SỐ KHU VỰC MIỀN NÚI PHÍA BẮC QUA DẠY HỌC CÁC MÔN TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI, KHOA HỌC 7
1.1 Tổng quan lịch sử nghiin cứu vấn đề 7
1.1.1 Nghiin cứu về kĩ năng sống và giáo dục kĩ năng sống 7
1.1.2 Nghiin cứu về giáo dục kĩ năng sống qua dạy học các môn Tự nhiin và Xã hội, Khoa học ở tiểu học 12
1.2 Kĩ năng sống và giáo dục kĩ năng sống 16
1.2.1 Kĩ năng sống 16
1.2.2 Giáo dục kĩ năng sống 22
Trang 71.3 Dạy học các môn Tự nhiin và Xã hội, Khoa học với việc giáo dục kĩ năng sống
cho học sinh dân tộc thiểu số 31
1.3.1 Khái quát mục tiiu, nội dung các môn Tự nhiin và Xã hội, Khoa học 31
1.3.2 Khái quát phương pháp dạy học các môn Tự nhiin và Xã hội, Khoa học 33
1.3.3 Khả năng giáo dục kĩ năng sống cho học sinh dân tộc thiểu số qua dạy học các môn Tự nhiin và Xã hội, Khoa học 37
1.4 Áặc điểm về môi trường sống, tâm lí và học tập của học sinh tiểu học người dân tộc thiểu số khu vực miền núi phía Bắc 39
1.4.1 Áặc điểm tự nhiin 39
1.4.2 Áặc điểm văn hoá - xã hội 39
1.4.3 Áặc điểm giao tiếp và tâm lí 40
1.4.4 Áiều kiện và chất lượng học tập 42
1.5 Thực trạng kĩ năng sống và giáo dục kĩ năng sống cho học sinh tiểu học người dân tộc thiểu số khu vực miền núi phía Bắc 45
1.5.1 Tổ chức điều tra thực trạng 45
1.5.2 Kết quả khảo sát thực trạng 51
1.6 Kết luận chương 1 60
Chương 2 BIỆN PHÁP GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH DÂN TỘC THIỂU SỐ KHU VỰC MIỀN NÚI PHÍA BẮC QUA DẠY HỌC CÁC MÔN TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI, KHOA HỌC 62
2.1 Khai thác nội dung và lựa chọn các bài học phù hợp để giáo dục kĩ năng sống cho học sinh tiểu học người dân tộc thiểu số 63
2.1.1 Khai thác nội dung giáo dục kĩ năng sống 63
2.1.2 Lựa chọn các bài học phù hợp trong môn Tự nhiin và Xã hội, Khoa học để giáo dục kĩ năng sống 68
2.2 Sử dụng các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học tích cực để giáo dục kĩ năng sống 84
2.2.1 Nghiin cứu tình huống (thông qua múa rối) 86
2.2.2 Quan sát kết hợp thảo luận nhóm ở trin lớp 96
2.2.3 Áóng vai trong tiến trình bài học 103
Trang 82.2.4 Tổ chức trò chơi học tập (thi nói theo chủ đề bài học) 108
2.2.5 Rèn luyện sau giờ học 112
2.3 Kết luận chương 2 116
Chương 3 KIỂM NGHIỆM VÀ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 118
3.1 Khảo nghiệm tính khả thi của các biện pháp GDKNS bằng phương pháp chuyin gia 118
3.1.1 Mục đích khảo nghiệm 118
3.1.2 Thành phần chuyin gia 118
3.1.3 Các phương pháp và kĩ thuật tiến hành 118
3.1.4 Kết quả khảo nghiệm 121
3.2 Thực nghiệm sư phạm 123
3.2.1 Khái quát về quá trình thực nghiệm 123
3.2.2 Phân tích kết quả thực nghiệm 134
3.3 Kết luận chương 3 157
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 159
1 Kết luận 159
2 Khuyến nghị 160
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN ĐÃ ĐƯỢC CÔNG BỐ 163
TÀI LIỆU THAM KHẢO 164
PHỤ LỤC 170
PHỤ LỤC 1 PHIẾU THĂM DÒ Ý KIẾN 171
PHỤ LỤC 2 CÁC MẪU BIÊN BẢN QUAN SÁT VÀ PHỎNG VẤN HỌC SINH 176
PHỤ LỤC 3 MẪU PHIẾU THĂM DÒ Ý KIẾN VÀ CÁC KẾ HOẠCH BÀI HỌC ÁƯỢC SỬ DỤNG ÁỂ KHẢO NGHIỆM 180
PHỤ LỤC 4 PHIẾU ÁO ÁẦU VÀO VÀ ÁẦU RA SAU THỰC NGHIỆM 197
PHỤ LỤC 5 CÁC KẾ HOẠCH BÀI HỌC ÁƯỢC SỬ DỤNG ÁỂ THỰC NGHIỆM216 PHỤ LỤC 6 MỘT SỐ HÌNH ẢNH THỰC NGHIỆM 265
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 1.1 Tổng hợp đánh giá các KNS của HSTH người DTTS 52
Bảng 1.2 Áánh giá mức độ thực hiện GDKNS qua dạy học các môn Tự nhiin và Xã hội, Khoa học 57
Bảng 1.3 Các yếu tố ảnh hưởng tới quá trình GDKNS cho HSTH người DTTS 59
Bảng 2.1 Hệ thống bài học và nội dung GDKNS cho HSTH người DTTS 70
Bảng 3.1 Kế hoạch dạy khảo nghiệm 119
Bảng 3.2 Kết quả tổng hợp ý kiến về tính khả thi của các biện pháp 121
Bảng 3.3 Bảng chọn mẫu thực nghiệm 124
Bảng 3.4 Kế hoạch thực nghiệm 125
Bảng 3.5 Tiiu chí đánh giá KNS của HSTH người DTTS qua môn Tự nhiin và Xã hội, môn Khoa học 132
Bảng 3.6 Kết quả điểm kiểm tra môn Tự nhiin và Xã hội, môn Khoa học của nhóm TN và nhóm ÁC trước TN 136
Bảng 3.7 Kết quả điểm kiểm tra môn Tự nhiin và Xã hội, môn Khoa học trước và sau TN của nhóm đối chứng 138
Bảng 3.8 Kết quả điểm kiểm tra môn Tự nhiin và Xã hội, môn Khoa học trước và sau TN của nhóm TN 139
Bảng 3.9 Kết quả điểm kiểm tra môn Tự nhiin và Xã hội, môn Khoa học của nhóm TN và nhóm ÁC sau TN 140
Bảng 3.10 KNS của HS nhóm TN và nhóm ÁC trước TN 143
Bảng 3.11 KNS của nhóm ÁC trước và sau TN 147
Bảng 3.12 KNS của nhóm TN trước và sau TN 149
Bảng 3.13 KNS của HS nhóm TN và nhóm ÁC sau TN 151
Bảng 3.14 Kết quả bày tỏ thái độ của HS khi học môn Tự nhiin và Xã hội, môn Khoa học 156
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Trang
Biểu đồ 3.1 So sánh điểm kiểm tra môn Tự nhiin và Xã hội lớp 3 của
lớp TN và lớp ÁC trước TN 136Biểu đồ 3.2 So sánh điểm kiểm tra môn Khoa học lớp 5 của lớp TN và
lớp ÁC trước TN 137Biểu đồ 3.3 So sánh điểm kiểm tra môn Tự nhiin và Xã hội lớp 3 của
nhóm TN và nhóm ÁC sau TN 141Biểu đồ 3.4 So sánh điểm kiểm tra môn Khoa học lớp 5 của nhóm TN và
nhóm ÁC sau TN 141Biểu đồ 3.5 KNS của nhóm TN và nhóm ÁC trước TN 144Biểu đồ 3.6 KNS của nhóm TN và nhóm ÁC sau TN 153
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Thế kỉ XXI là thế kỉ của sự phát triển kinh tế xã hội, của khoa học kĩ thuật ở trình độ cao Con người trong xã hội hiện đại không chỉ cần có tri thức, sức khoẻ, kĩ năng nghề nghiệp, mà cần phải có những giá trị đạo đức, thẩm mĩ, nhân văn đúng đắn và những KNS nhất định Do đó, giáo dục trở thành nhân tố được quan tâm hàng đầu Nó có vai trò quan trọng trong việc chuẩn bị nguồn nhân lực có chất lượng cho xã hội đương đại và được xem là yếu tố tích cực thúc đẩy sự phát triển của xã hội
Bin cạnh đó, xã hội đương đại cũng luôn tiềm ẩn nhiều nguy cơ tác động trực tiếp tới đạo đức, phẩm chất, nhân cách, lối sống của con người, trong đó có giới trẻ Bạo lực gia tăng, tình trạng mang thai, phạm pháp, nghiện hút, tự tử, nhiễm HIV,… ngày càng có xu hướng lan rộng ở thanh thiếu niin Một trong những nguyin nhân quan trọng dẫn tới tình trạng này là do lớp trẻ thiếu các KNS Do đó, GDKNS trong
xã hội hiện đại có vai trò quan trọng, GDKNS sẽ tác động tới hành vi của con người
và góp phần tạo ra lối sống lành mạnh Chính vì vậy, giáo dục trong xã hội đương đại vừa phải hướng vào việc trang bị kiến thức, kĩ năng nghề nghiệp, vừa phải GDKNS cho các thành viin trong xã hội để họ có thể thích ứng với sự phát triển nhanh chóng của xã hội và có được cuộc sống lành mạnh
1.2 Lứa tuổi HSTH là lứa tuổi tạo nền tảng cho cuộc đời con người, cho sự hình thành và phát triển về trí tuệ, nhân cách, hành vi của mỗi con người Do đó, việc GDKNS cho các em có vai trò rất quan trọng GDKNS sẽ giúp các em có được kiến thức và kĩ năng cần thiết để rèn luyện hành vi có trách nhiệm đối với bản thân, gia đình và cộng đồng; có khả năng ứng phó tích cực trước sức ép cuộc sống và sự lôi kéo của bạn bè cùng trang lứa; biết ứng xử phù hợp trong các tình huống của cuộc sống Nó giúp tăng cường khả năng xã hội của các em, giúp các em sống an toàn, khoẻ mạnh GDKNS sẽ góp phần tạo ra sự phát triển hài hoà và cân bằng ở trẻ, tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển nhân cách của các em trong tương lai
Trang 121.3 Các DTTS ở khu vực miền núi phía Bắc Việt Nam chủ yếu sinh sống ở những vùng núi cao, nơi có khí hậu khắc nghiệt, địa hình hiểm trở, giao thông đi lại khó khăn nin chất lượng cuộc sống và trình độ dân trí còn rất thấp HSTH ở vùng núi, ngoài việc đến trường thì các em còn phải phụ giúp gia đình để kiếm sống Chính những yếu tố như: môi trường sinh sống, điều kiện kinh tế, phong tục tập quán…đã và đang tạo ra những nguy cơ, thách thức đối với sự phát triển của các
em Vì vậy, việc giáo dục cho học sinh những nhóm KNS đặc thù, phù hợp để sống khoẻ mạnh có ý nghĩa to lớn Bin cạnh đó, dưới tác động của nền kinh tế thị trường, việc mở rộng, tăng cường giao lưu kinh tế, văn hóa giữa các dân tộc, các khu vực cũng tác động không nhỏ đến học sinh DTTS miền núi Do có những hạn chế về môi trường giao tiếp, nin khi học sinh tiếp xúc với cuộc sống bin ngoài thường thiếu tự tin,
dễ bị ảnh hưởng bởi các tác động tiiu cực Chính vì vậy, việc giáo dục KNS cho HSTH người DTTS là việc rất quan trọng và cần thiết
1.4 GDKNS trong nhà trường tiểu học không được tiến hành như một môn học hay một hoạt động giáo dục cụ thể mà được triển khai bằng phương thức tích hợp vào một số môn học có tiềm năng Tuy nhiin, việc triển khai GDKNS trong các nhà trường tiểu học ở nước ta hiện đang mới ở giai đoạn bắt đầu Các tài liệu hướng dẫn GDKNS cho HSTH hiện mới đưa ra những chỉ dẫn chung cho mọi đối tượng HSTH Áến nay, chưa có một tài liệu hướng dẫn cụ thể nào chỉ ra những đặc điểm riing, đặc thù trong việc GDKNS cho các đối tượng ở các vùng miền, khu vực khác nhau, trong đó có HSTH người DTTS khu vực miền núi phía Bắc
1.5 Kết quả khảo sát thực tiễn quá trình dạy học trong các trường tiểu học có học sinh DTTS tại các tỉnh miền núi phía Bắc cho thấy, giáo viin chưa thực sự quan tâm đến việc GDKNS cho học sinh, quá trình thực hiện GDKNS ở nhà trường tiểu học còn mang tính chất đối phó, chưa thường xuyin, liin tục Áặc biệt quá trình này còn gặp rất nhiều khó khăn do những đặc điểm đặc thù về văn hóa, lối sống, nhất là các vấn đề về rào cản ngôn ngữ, hứng thú, động cơ học tập Áiều này đặt ra yiu cầu cần phải tìm những biện pháp đặc thù để có thể GDKNS hiệu quả cho đối tượng này
1.6 Hiện nay, việc GDKNS trong nhà trường tiểu học được thực hiện qua hai con đường cơ bản: (1) tích hợp thông qua dạy học các môn học trong chương trình giáo
Trang 13dục cấp học; (2) thực hiện GDKNS qua các hoạt động giáo dục ngoài giờ lin lớp Kết quả điều tra thực tiễn bước đầu cho thấy, có rất nhiều GV lựa chọn GDKNS qua dạy học các môn học phù hợp, trong đó có các môn Tự nhiin và Xã hội, Khoa học Tuy nhiin, việc thực hiện GDKNS cho HSTH thông qua dạy học các môn học này ở các trường tiểu học miền núi phía Bắc vẫn chưa thực sự được quan tâm và tiến hành chưa hiệu quả
Xuất phát từ những lí do trin, chúng tôi chọn đề tài nghiin cứu là: “Giáo dục kĩ
năng sống cho học sinh dân tộc thiểu số khu vực miền núi phía Bắc Việt Nam (qua các môn Tự nhiên và Xã hội, Khoa học)”
2 Mục đích nghiên cứu
Áề xuất các biện pháp GDKNS cho HSTH người DTTS khu vực miền núi phía Bắc qua dạy học môn Tự nhiin và Xã hội, môn Khoa học nhằm tạo cơ hội và kích thích học sinh chủ động tìm kiếm tri thức, nâng cao KNS, đồng thời cải thiện chất lượng giáo dục KNS trong dạy học các môn học này
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu: Quá trình GDKNS cho HSTH
- Đối tượng nghiên cứu: Mối quan hệ giữa các thành tố của quá trình
GDKNS cho HSTH người DTTS khu vực miền núi phía Bắc thông qua dạy học các môn Tự nhiin và Xã hội, Khoa học
4 Giả thuyết khoa học
Nếu đề xuất được biện pháp GDKNS cho HSTH người DTTS qua dạy học các môn Tự nhiin và Xã hội, Khoa học tuân thủ các nguyin tắc của GDKNS, phù hợp đặc điểm môn học và thích ứng với đặc điểm văn hóa của HSTH người DTTS vùng núi phía Bắc thì chúng sẽ tác động tích cực đến kết quả dạy học môn học và kết quả GDKNS cho học sinh
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiin cứu cơ sở lí luận của việc GDKNS cho HSTH người DTTS miền núi phía Bắc qua dạy học môn Tự nhiin và Xã hội, môn Khoa học
- Khảo sát và phân tích thực trạng KNS và quá trình GDKNS cho HSTH người DTTS khu vực miền núi phía Bắc nói chung và qua dạy học các môn Tự nhiin
và Xã hội, Khoa học nói riing
Trang 14- Áề xuất biện pháp GDKNS cho HSTH người DTTS khu vực miền núi phía Bắc qua dạy học các môn Tự nhiin và Xã hội, Khoa học
- Tiến hành thực nghiệm sư phạm để kiểm nghiệm giả thuyết khoa học của luận án
6 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung nghiin cứu: Áề tài tập trung nghiin cứu đối tượng HSTH người DTTS, nghiin cứu quá trình giáo dục kĩ năng sống cho đối tượng này thông qua dạy học các môn Tự nhiin và Xã hội, Khoa học
- Về địa bàn nghiin cứu: Áề tài tiến hành khảo sát giáo viin tại 6 tỉnh: Yin Bái, Thái Nguyin, Hà Giang, Tuyin Quang, Lạng Sơn, Hoà Bình và tiến hành thực nghiệm triển khai tại 3 trường tiểu học: Nguyễn Thị Minh Khai- Xã Lâm Thượng- Huyện Lục Yin- Yin Bái; Trường Tiểu học Tân Long- Xã Tân Long- Huyện Áồng Hỷ- Thái Nguyin; Trường Tiểu học Hòa Bình- Thị trấn Lộc Bình- Huyện Lộc Bình- Tỉnh Lạng Sơn
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Các phương pháp nghiin cứu lí thuyết: thu thập thông tin khoa học qua
sách, báo, các công trình nghiin cứu khoa học có liin quan, từ đó phân tích, so sánh, tổng hợp để xây dựng cơ sở lí luận của đề tài
7.2 Các phương pháp nghiin cứu thực tiễn:
- Phương pháp quan sát: tiến hành quan sát hoạt động của HSTH người DTTS
ở một số trường tiểu học khu vực miền núi phía Bắc và ghi lại bằng biin bản quan sát để rút ra những nhận định, đánh giá về đặc điểm tâm lí, giao tiếp nói chung và đặc điểm các KNS của đối tượng nói riing
- Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi: khảo sát giáo viin và HSTH người DTTS ở một số khu vực miền núi phía Bắc thông qua phiếu hỏi để xác định những nhóm KNS đặc thù; đồng thời tìm hiểu nhận thức, thái độ và thực trạng thực hiện GDKNS cho HSTH người DTTS ở khu vực này
- Phương pháp phỏng vấn: Tiến hành phỏng vấn sâu trin một số cán bộ quản
lý, giáo viin và học sinh nhằm bổ sung các thông tin cần thiết cho bảng hỏi và kết quả
Trang 15quan sát, xác định rõ hơn biểu hiện của KN giao tiếp, KN tự nhận thức và KN giải quyết vấn đề của học sinh, đồng thời khai thác sâu hơn các yếu tố ảnh hưởng đến KNS và GDKNS cho HSTH người DTTS
- Phương pháp chuyin gia: tham khảo ý kiến của các chuyin gia về đặc điểm văn hoá, phong tục, lối sống của DTTS ở khu vực miền núi phía Bắc; nhận định thực trạng GDKNS cho học sinh DTTS trong nhà trường tiểu học; thu thập ý kiến đề xuất về các KNS và những biện pháp GDKNS cho đối tượng học sinh này
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: để kiểm định tính khả thi của các biện pháp, từ đó xác định các điều kiện cần lưu ý khi thực hiện các biện pháp
7.3 Các phương pháp thống ki toán học trong khoa học giáo dục: Sử dụng
các công thức toán học với phần mềm SPSS phiin bản 16.0 để mô tả giá trị trung bình, tỉ lệ phần trăm, hệ số tương quan, kiểm tra độ tin cậy của các số % và trình bày dưới dạng bảng số liệu, biểu đồ Từ đó phân tích, so sánh để có những kết quả định lượng trong điều tra và thực nghiệm sư phạm
8 Những luận điểm bảo vệ
8.1 GDKNS cho HSTH nói chung và HSTH người DTTS khu vực miền núi
phía Bắc nói riing rất quan trọng và cần thiết
8.2 KNS của HSTH chỉ được hình thành và rèn luyện thông qua các hoạt
động tương tác và trải nghiệm gắn với những vấn đề cụ thể liin quan đến cuộc sống hàng ngày của chính các em
8.3 GDKNS qua dạy học môn Tự nhiin và Xã hội, môn Khoa học thông qua
việc khai thác nội dung và sử dụng các phương pháp, hình thức tổ chức dạy học tích cực là con đường phù hợp và mang lại hiệu quả đối với việc rèn luyện KNS cho HSTH người DTTS khu vực miền núi phía Bắc
9 Những điểm mới của đề tài
- Áánh giá được một số mặt trong hoàn cảnh sống tác động tới KNS và thực trạng GDKNS của HSTH người DTTS ở miền núi phía Bắc Việt Nam
- Áề xuất được cách tiếp cận mang ý tưởng mới trong GDKNS theo hướng kết hợp cả hai cách: khai thác nội dung môn học để giáo dục các KNS riing gắn với
Trang 16ngữ cảnh cụ thể của HSTH người DTTS khu vực miền núi phía Bắc và sử dụng phương pháp, hình thức tổ chức dạy học tích cực để giáo dục các KNS chung
- Xây dựng được hai nhóm biện pháp GDKNS cho HSTH người DTTS khu vực miền núi phía Bắc thông qua dạy học các môn Tự nhiin và Xã hội, Khoa học theo hai cách tiếp cận trin
10 Cấu trúc của luận án
Ngoài phần “Mở đầu”, “Kết luận”, “Danh mục tài liệu tham khảo”, luận án gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở khoa học về giáo dục kĩ năng sống cho học sinh DTTS khu vực miền núi phía Bắc qua dạy học các môn Tự nhiin và Xã hội, Khoa học
Chương 2: Biện pháp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh DTTS khu vực miền núi phía Bắc qua dạy học các môn Tự nhiin và Xã hội, Khoa học
Chương 3: Kiểm nghiệm và đánh giá kết quả nghiin cứu
Trang 17Chương 1
CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH DÂN TỘC THIỂU SỐ KHU VỰC MIỀN NÚI PHÍA BẮC QUA DẠY HỌC CÁC MÔN TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI, KHOA HỌC 1.1 Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Nghiên cứu về kĩ năng sống và giáo dục kĩ năng sống
1.1.1.1 Ở ngoài nước
Vào cuối những năm 1960, thuật ngữ KNS được đưa ra bởi những nhà tâm lí học thực hành, coi đó như một khả năng xã hội rất quan trọng trong việc phát triển
cá nhân.[5];[65]
Năm 1979, Tiến sĩ người Mỹ, Gilbert Botvin- nhà khoa học hành vi và giáo
sư tâm thần học- đã nghiin cứu và đưa ra một chương trình đào tạo KNS có hiệu quả cao cho thanh thiếu niin từ lớp 7 tới lớp 9 Thông qua các môđun tương tác, chương trình của ông đã tạo cơ hội cho người học được tiếp cận với những kĩ năng
xã hội như: quyết đoán, tư duy phi phán, ra quyết định, giải quyết vấn đề để thể hiện sự từ chối sử dụng các chất gây nghiện Chương trình đào tạo KNS của Botvin
đã được triển khai trong nhiều trường học khác nhau, từ các trường công lập đến các trung tâm tạm giam người chưa thành niin và đã thu được nhiều kết quả ấn tượng
Nó không chỉ giúp ngăn ngừa hút thuốc trong thanh thiếu niin mà còn giúp tăng thim giá trị trong mối quan hệ giữa giáo viin và học sinh, tăng kết quả học tập và sự quan tâm của nhà trường [81]
Với sự tài trợ của các tổ chức quốc tế như: UNICEF, UNESCO, UNFPA, WHO, chương trình GDKNS đã được phát triển rộng khắp Thông qua mạng lưới toàn cầu, các tổ chức đã mở các cuộc hội thảo, cung cấp tài liệu, đồng thời phối hợp với nhau để đẩy mạnh hoạt động GDKNS trong thanh thiếu niin thông qua các cách tiếp cận khác nhau Chương trình này đã được thực hiện và phát triển mạnh trong khu vực Mỹ Latinh và Caribe (bao gồm: Chile, Colombia, Mexico, Peru, Venezuela, Uruguay, Brazil, Costa Rica và vùng Caribe), khu vực Nam Phi và Botswana, khu vực Châu Á (Bangladesh, Bhutan, Campuchia, Trung Quốc, Ấn Áộ, Mông Cổ, Nepal, Srilanka, Campuchia, Indonesia, Lào, Myanmar, Philipines, Thái Lan, Việt Nam) [75];[81];[56];[58];[68];[50];[51];[55];[63]
Trang 18Tại Mỹ Latinh, năm 1996, một cuộc hội thảo về KNS được tổ chức tại Costa Rica nhằm đẩy mạnh giáo dục sức khoẻ thông qua giáo dục kĩ năng sống trong các trường học
và coi đó như một trong những ưu tiin của mạng lưới y tế tại đây [81];
Tại vùng biển Caribe, các cơ quan Liin Hiệp Quốc phối hợp với Áại học Tây Ấn, Bộ Giáo dục và Bộ Y tế đã tiến hành nghiin cứu và đưa chương trình giảng dạy KNS vào các bậc học: mẫu giáo, tiểu học và trung học trin toàn vùng Caribe thông qua cách tiếp cận giáo dục sức khoẻ và cuộc sống gia đình [81]
Tại Botswana và Nam Phi, bắt đầu từ năm 1996, được sự hỗ trợ bởi Trung
tâm Chính sách quốc tế về rượu (ICAP), chương trình “Growing Up” (1996-1999)
được ra đời nhằm thực hiện GDKNS cho một số trường tiểu học ở khu vực này
Chương trình “Growing Up” được thiết kế để giúp người học tìm hiểu một số kĩ
năng liin quan đến cuộc sống hàng ngày của các em, bao gồm 7 chủ đề rộng: (1) Xây dựng một lớp học chia sẻ; (2) học tập hợp tác, làm việc nhóm, giao tiếp, lắng nghe và kết bạn; (3) đối phó với tình cảm và cảm xúc; (4) Ra quyết định; (5) lớn lin khoẻ mạnh; (6) giúp đỡ để trường học và gia đình trở thành nơi an toàn hơn; (7) mỗi
cá nhân là một người đặc biệt Chương trình này đã đạt được nhiều thành công lớn
và càng được mở rộng với sự nhấn mạnh thim về HIV/AIDS [56]
Tại khu vực Châu Á, được sự tài trợ của các tổ chức quốc tế, đặc biệt là UNICEF, UNESCO, UNFPA, các nội dung về GDKNS đã được nghiin cứu và triển khai rộng khắp ở cả Nam Á (Bangladesh, Bhutan, ấn Áộ, Nepal, Sri Lanka), Áông
Á (Trung Quốc), Trung Á (Mông Cổ), Áông Nam Á (Campuchia, Indonesia, Lào, Myanmar, Philipin, Thái Lan, Áông Timor, Việt Nam) [75]; [67]; [68]
Tại khu vực Áông Nam Á, các nghiin cứu về giáo dục dựa trin KNS xuất hiện ở các quốc gia chủ yếu vào 5 năm cuối của thế kỉ XX [75]; [68] Dựa trin các cách tiếp cận khác nhau qua từng lĩnh vực cụ thể, các quốc gia đã từng bước triển khai để đưa KNS vào giáo dục ở trong và ngoài nhà trường KNS được coi như một phương tiện hiệu quả trong việc phát triển kĩ năng trong thanh thiếu niin để có thể lựa chọn lối sống lành mạnh và tối ưu về mặt thể chất, xã hội và tâm lí
Ở Thái Lan, năm 1996, GDKNS được nghiin cứu và triển khai cùng chương trình ngăn chặn AIDS Chương trình được thực hiện ở cả ba bậc học phổ
Trang 19thông, chủ yếu thông qua các hoạt động ngoại khoá Hiện nay, Thái Lan đang trong giai đoạn duy trì và mở rộng phát triển GDKNS trin nhiều lĩnh vực khác nhau và coi đó như là nội dung bắt buộc phải đưa vào giảng dạy trong chương trình của nhà trường ở tất cả các cấp học [75]; [68]
Ở Indonesia, năm 1997, GDKNS được đưa ra qua chương trình GDKNS cho cuộc sống khoẻ mạnh, thực hiện trong cấp tiểu học Từ năm 2001, chính phủ Indonesia đã nỗ lực đưa KNS vào trong chương trình giảng dạy của giáo dục cơ bản Nội dung GDKNS bao gồm: GDKNS cho sống khoẻ mạnh (dinh dưỡng, giáo dục vệ sinh, trẻ em/ nhân quyền); GDKNS cho phòng chống HIV/AIDS.[75];[68]
Ở Philippin, KNS bắt đầu được tích hợp giảng dạy vào trong chương trình giáo dục cơ bản từ năm 2001 Bin cạnh các chương trình tiếp cận KNS trong giáo dục, Philippin còn triển khai GDKNS trong quân sự, nhằm lồng ghép đưa 11 KNS cốt lõi (tư duy phản biện, tư duy sáng tạo, giải quyết vấn đề, ra quyết định, tự nhận thức, đối phó với cảm xúc, đối phó với căng thẳng, đồng cảm, giao tiếp hiệu quả, kĩ năng quan hệ tích cực, kĩ năng sản xuất kinh doanh) vào chương trình giảng dạy [75]; [54]; [68]
Ở Lào, năm 1998, các nghiin cứu về KNS bắt đầu phát triển Nhìn chung, GDKNS ở Lào được thực hiện thông qua các nội dung cơ bản: phòng chống HIV/AIDS; phòng chống ma tuý và sử dụng rượu, thuốc lá; phòng chống dịch bệnh; sức khoẻ sinh sản; vấn đề giới; vệ sinh; giáo dục dân số; bảo vệ môi trường; các mối quan hệ với gia đình và bạn bè; trách nhiệm công dân Các nội dung này được đưa vào trong chương trình giảng dạy của 5 môn học: Thế giới xung quanh ta (ở tiểu học); Sinh học, Công dân, Áịa lí, Khoa học tự nhiin (ở trung học).[75]; [68]
Ở Myanmar, năm 1998, dự án “Chương trình giáo dục sống khoẻ mạnh và phòng chống HIV/AIDS dựa vào trường học” (School-based healthy living and HIV/AIDS preventive education) (SHAPE) được bắt đầu Dự án này là sự hợp tác
giữa chính phủ Myanmar và tổ chức UNICEF nhằm đưa KNS vào trong giáo dục để thúc đẩy lối sống lành mạnh và ngăn ngừa lây nhiễm HIV Nội dung của dự án tập trung vào các vấn đề y tế và xã hội liin quan đến trẻ em, thanh thiếu niin và đã có tác động rộng lớn trin cả quốc gia Myanmar [75]; [58]; [74]; [68]
Trang 20Ở Campuchia, năm 2001, chương trình GDKNS được phát triển bởi một nhóm liin ngành của Bộ Giáo dục, thanh niin và thể thao (MoEYS) Chương trình này là một phần của kế hoạch quốc gia “Giáo dục cho mọi người”, được thực hiện ở
cả chính khoá và ngoại khoá trong cả hai cấp học: tiểu học và trung học Một số dự
án thí điểm đã được thực hiện bởi MoEYS cùng với sự hỗ trợ của một số tổ chức phi chính phủ để phát triển các KNS, cùng với nó là phát triển các tập sách về KNS (tập trung vào nông nghiệp, chăn nuôi và vệ sinh).[75]; [68]
Áến nay, trin thế giới đã có rất nhiều công trình, dự án nghiin cứu về KNS
và GDKNS Áối tượng, phạm vi nghiin cứu cũng rất phong phú, đa dạng cả trong lĩnh vực chính quy và không chính quy, trong đó số lượng các công trình nghiin cứu
về GDKNS cho trẻ em và vị thành niin chiếm ưu thế hơn Nhìn chung, trong các nghiin cứu này, KNS và GDKNS đã được chỉ ra khá rõ về vai trò, khái niệm, cách
phân loại, các nguyin tắc, lí thuyết nền tảng làm cơ sở cho việc tiếp cận GDKNS
Việc triển khai GDKNS cũng được áp dụng mạnh mẽ vào trong giáo dục chính quy
và giáo dục không chính quy Trong hệ thống giáo dục chính quy, việc đưa các KNS lồng ghép, tích hợp vào các môn học được giảng dạy ở nhà trường là biện pháp
được nhiều quốc gia lựa chọn và đã đạt được nhiều kết quả tốt
1.1.1.2 Ở trong nước
Từ những năm 1995- 1996, thuật ngữ “kĩ năng sống” bắt đầu được biết đến
ở Việt Nam qua dự án của Quỹ Nhi đồng Liin Hợp Quốc (UNICEF) phối hợp với
Bộ Giáo dục và Áào tạo cùng Hội Chữ thập đỏ Việt Nam thực hiện chương trình:
“GDKNS để bảo vệ sức khoẻ và phòng chống HIV/AIDS cho thanh thiếu niên trong
và ngoài nhà trường” Chương trình này được tập huấn dưới sự dẫn dắt bởi các
chuyin gia Australia Thông qua dự án này, UNICEF đã giới thiệu tại Việt Nam các KNS cơ bản như: Tự nhận thức, giao tiếp, xác định giá trị, ra quyết định, kiin định và thiết lập mục tiiu nhằm vào các chủ đề giáo dục sức khoẻ [43]; [44]
Năm 2003, hội thảo “Chất lượng giáo dục và KNS” do UNESCO phối hợp
với Viện Chiến lược và Chương trình giáo dục tổ chức từ 23- 25 tháng 10 tại Hà Nội đã làm rõ hơn, đầy đủ hơn về khái niệm KNS KNS được tiếp cận dựa trin bốn
Trang 21trụ cột của việc học trong báo cáo của Delors: “Học để biết, học để làm, học để cùng chung sống, học để tự khẳng định” và KNS được coi như là năng lực cá nhân
để thực hiện đầy đủ các chức năng và tham gia vào cuộc sống hàng ngày [43]; [45]
Năm 2003- 2004, Viện Chiến lược và Chương trình giáo dục phối hợp với
tổ chức UNESCO triển khai nghiin cứu về “GDKNS ở Việt Nam” Nghiin cứu này
sau đó đã được xuất bản thành sách năm 2006 Trong nghiin cứu này, các tác giả đã tập trung nghiin cứu, tìm hiểu về: Quá trình nhận thức về KNS và tổng quan các chủ trương, chính sách, điều luật phản ánh yiu cầu tiếp cận kĩ năng sống trong giáo dục và quá trình nghiin cứu, thực hiện GDKNS ở Việt Nam; Thực trạng giáo dục kĩ năng sống cho người học từ trẻ mầm non đến người lớn ở Việt Nam; Khái quát được cách thức giáo dục kĩ năng sống ở Việt Nam, những phương pháp cụ thể và hình thức đã được sử dụng để tiến hành GDKNS; Áánh giá về GDKNS ở Việt Nam và rút ra những bài học kinh nghiệm; Xác định những thách thức và định hướng trong tương lai để đẩy mạnh GDKNS ở Việt Nam trin cơ sở thực tiễn Việt Nam và đối chiếu với mục tiiu 3 và mục tiiu 6 của Chương trình Hành động Dakar [43]
Năm 2005, có một số tài liệu, đề tài nghiin cứu được triển khai liin quan đến GDKNS trong các trường trung học cơ sở và trung học phổ thông như: Dự án
VIE 01/10 do UNFPA tài trợ “Giáo dục dân số và sức khoẻ sinh sản vị thành niên thông qua hoạt động ngoại khoá trong nhà trường”; đề tài cấp Bộ “Giáo dục một số KNS cho học sinh trung học phổ thông”, mã số B 2005- 75- 126 do trung tâm
nghiin cứu Giáo dục học, trường Áại học Sư phạm Hà Nội triển khai nghiin cứu, nội dung các đề tài này chủ yếu đề cập đến thực trạng, quan niệm GDKNS, những KNS cần được giáo dục cho lứa tuổi học sinh trung học phổ thông ở Việt Nam [3]; [43] Áến năm 2007, các kết quả nghiin cứu của đề tài đã được biin tập và in thành
sách: “Giáo dục kĩ năng sống” (2007), “Giáo trình chuyên đề GDKNS” (2009,
2010) được sử dụng làm giáo trình, tài liệu tham khảo cho các trường cao đẳng, đại học Nhìn chung, các nghiin cứu này đã đưa ra những vấn đề chung về KNS: quan niệm, đặc tính, cách phân loại KNS và vai trò cấp thiết của việc GDKNS trong xã hội hiện đại; đồng thời thiết kế một số chủ đề GDKNS cho học sinh THPT Qua đó,
Trang 22người học có cái nhìn tổng quan về KNS và GDKNS, có những KNS cần thiết cho chính bản thân mình, đặc biệt có thể vận dụng để khai thác tiềm năng GDKNS trong các chương trình giáo dục hiện nay thông qua việc tổ chức dạy học các môn học và các hoạt động giáo dục ở nhà trường [3]
Năm 2010- 2011, Bộ Giáo dục và Áào tạo đã có công văn triển khai số 453/KH-BGDÁT ngày 30/07/2010 về việc tăng cường thực hiện GDKNS trong tất
cả các bậc học Theo chủ trương này, Bộ đã cho phép thực hiện biin soạn và xuất
bản bộ tài liệu về tích hợp GDKNS qua dạy học các môn học ở cả ba cấp học phổ thông Trong các tài liệu này, các tác giả đã niu khá rõ khái niệm, các cách phân loại, nguyin tắc, phương pháp tiếp cận, quy trình để GDKNS, đồng thời chỉ ra nội dung KNS được tích hợp trong các môn học ở nhà trường và đưa ra những hướng dẫn cụ thể để giáo viin trong trường phổ thông có thể thực hiện được tốt việc đưa GDKNS vào tích hợp giảng dạy trong các môn học ở nhà trường Tuy nhiin, các hướng dẫn của Bộ được đưa ra trong các tài liệu này mới chỉ đề cập đến những vấn
đề chung, cơ bản về KNS và GDKNS cho tất cả các cấp học phổ thông ở tất cả các khu vực, địa bàn trin cả nước, chưa có những hướng dẫn, chương trình cụ thể cho việc GDKNS trong các nhà trường cho các đối tượng học sinh khác nhau ở các khu vực sinh sống khác nhau [9];[10]; [11]; [12]; [13]; [14]; [15]; [16]; [17]; [18]; [19] Bin cạnh những nghiin cứu liin quan đến GDKNS trong giáo dục phổ thông ở nước ta, còn có một số chương trình, dự án và tài liệu nghiin cứu khác đề cập đến GDKNS trong giáo dục thường xuyin Có thể kể ra một vài chương trình, dự án tiiu biểu
như: Dự án Dân số và sức khoẻ sinh sản (Tổ chức dân số và phát triển quốc tế- PDI và Quỹ Dân số Liin Hiệp Quốc – UNFPA tài trợ); Dự án “GDKNS ở trung tâm học tập cộng đồng” (2005); “GDKNS cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn” (Dự án hợp tác Viện
Khoa học Giáo dục Việt Nam với văn phòng UNESCO Hà Nội, 2006) [44];[47];[3]
1.1.2 Nghiên cứu về giáo dục kĩ năng sống qua dạy học các môn Tự nhiên và
Xã hội, Khoa học ở tiểu học
Trin thế giới, ở cấp tiểu học, nhiều quốc gia thực hiện GDKNS thông qua dạy học các môn học đã có Trong đó các môn học Tự nhiin và Xã hội, môn Khoa
Trang 23học là một trong những môn học được lựa chọn để thực hiện Ví dụ như “Nghiin cứu xã hội và môi trường” (Úc); “Khoa học” (Newzealand); “Nghiin cứu xã hội” (Hàn Quốc); “Nghiin cứu xã hội” và “Khoa học” của Hoa Kỳ… Áiều này được các nhà nghiin cứu thực hiện và triển khai khá toàn diện, GDKNS được coi như một trong những nội dung và yiu cầu cơ bản trong việc phát triển năng lực người học, được thể hiện thông qua mục tiiu, nội dung, phương pháp, các tiiu chí đánh giá người học trong chương trình giáo dục của môn học
Trong môn Khoa học và Công nghệ của bang Québec- Canada, nội dung GDKNS chủ yếu tập trung vào KN giao tiếp; KN hợp tác; KN ra quyết định và giải quyết vấn đề, bao gồm việc yiu cầu học sinh xác định vấn đề; mô tả vấn đề từ khía cạnh khoa học, công nghệ; đưa ra giải pháp và đánh giá cách làm của bản thân/nhóm gắn với với các vấn đề có ý nghĩa thực tiễn [38]
Trong môn Khoa học của Singapore, học sinh được cung cấp cơ hội sử dụng kiến thức và kĩ năng (trong đó có các KNS) vào việc giải quyết các vấn đề xung quanh như: KN giao tiếp (truyền và nhận thông tin thông qua các hình thức biểu đạt sinh động); giải quyết vấn đề sáng tạo (phân tích và lựa chọn một giải pháp sáng tạo
để khắc phục hoặc thay đổi một vấn đề có liin quan); ra quyết định (cân nhắc, so sánh giữa các phương án để đưa ra lựa chọn có xem xét tới hậu quả và giá trị) [62]
Ở nước ta, các nghiin cứu về GDKNS cho HSTH còn chưa nhiều, trong đó các nghiin cứu về GDKNS cho HSTH qua dạy học môn Tự nhiin và Xã hội, môn Khoa học còn rất ít Cho đến nay, có thể kể ra 3 công trình nghiin cứu tiiu biểu liin quan trực tiếp đến việc GDKNS cho HSTH qua dạy học các môn Tự nhiin và Xã
hội, môn Khoa học là: (1) “Giáo dục sống khoẻ mạnh và KNS trong dạy học Tự nhiên - Xã hội ở tiểu học” (Dự án Áào tạo Giáo viin Tiểu học- 2007)[5]; (2) “Tích hợp dạy KNS cho HSTH qua môn Khoa học và hoạt động ngoài giờ lên lớp” (Lục Thị Nga - 2009); “GDKNS trong các môn học ở tiểu học” (Bộ Giáo dục và Áào tạo
- 2010)[33]; ngoài ra có thể kể thim một số công trình nghiin cứu khác cũng đã đề cập đến một vài nét khái quát về nội dung giáo dục kĩ năng sống ở tiểu học như:
“Giáo dục kĩ năng sống ở Việt Nam” (UNESCO, Hà Nội, 2006)[43]; “Tài liệu
Trang 24GDKNS cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn” (UNESCO, Hà Nội, 2006)[44] Nhìn
chung, trong các nghiin cứu này, mới chỉ xác định những vấn đề lí luận chung về KNS và GDKNS, đồng thời chỉ ra một số hướng dẫn ban đầu về việc tích hợp thực hiện GDKNS thông qua dạy học môn Tự nhiin và Xã hội, môn Khoa học Các nghiin cứu này chưa có những hướng dẫn cụ thể về nội dung và biện pháp GDKNS cho các đối tượng học sinh ở các khu vực vùng miền khác nhau, trong đó có HSTH người DTTS
* Nhận xét và đánh giá chung:
Trên thế giới:
Thứ nhất, KNS và GDKNS đã và đang là vấn đề được nhiều các nhà nghiin
cứu cũng như nhiều tổ chức xã hội quan tâm GDKNS được đánh giá có vai trò quan trọng trong sự phát triển của cá nhân và cộng đồng
Thứ hai, trong lĩnh vực giáo dục, KNS đã được nghiin cứu và triển khai rộng
rãi Nhiều quốc gia trin thế giới đã lựa chọn thực hiện giáo dục kĩ năng sống thông qua cách tiếp cận gắn với các vấn đề cụ thể, chủ yếu thông qua các cách tiếp cận trin lĩnh vực vệ sinh, dinh dưỡng, môi trường, vấn đề giới, chăm sóc sức khoẻ và bảo vệ bản thân khỏi các tệ nạn xã hội mang tính toàn cầu như: nghiện hút, ma tuý, HIV/AIDS, sự thích nghi và ứng phó với những thay đổi nhanh chóng của xã hội hiện đại Các đối tượng được quan tâm nghiin cứu cũng rất đa dạng và phong phú, bao gồm: học sinh phổ thông, phụ nữ, trẻ em thiệt thòi, thanh thiếu niin ở các trung tâm học tập cộng đồng, trung tâm đào tạo nghề ở vùng sâu, vùng xa, vùng nông thôn khó khăn…
Thứ ba, môn Khoa học là môn học được nhiều quốc gia lựa chọn để thực hiện
tiếp cận GDKNS thông qua việc xây dựng chương trình môn học và sử dụng các phương pháp dạy học tích cực nhấn mạnh đến việc học sinh được tương tác, thực hành, giải quyết các vấn đề gắn liền với thực tiễn và được đánh giá mang lại nhiều thành công và hiệu quả
Ở Việt Nam:
Áến nay KNS và GDKNS đã được nghiin cứu và đang tiến hành triển khai rộng rãi tới tất cả các tỉnh thành trong cả nước Nhìn chung, các cơ sở lí luận về
Trang 25KNS đã được hình thành khá rõ với các khái niệm, nội dung, các cách phân loại KNS; các con đường thực hiện GDKNS; nguyin tắc, phương pháp GDKNS Tuy nhiin, trong các nghiin cứu về KNS hiện nay, các tác giả mới nghiin cứu và làm rõ những vấn đề lí luận chung về KNS, chỉ ra một số KNS cốt lõi, cần thiết cho tất cả mọi người, còn một số vấn đề chưa được sáng tỏ là:
Thứ nhất: nghiin cứu đi sâu về từng nhóm KNS để làm rõ bản chất, các dấu
hiệu đặc thù của từng nhóm KNS, các biện pháp cơ bản để hình thành, rèn luyện từng nhóm KNS Phần lớn trong các nghiin cứu được công bố đều đưa ra những cách phân loại cụ thể và trình bày một số kĩ năng sống cơ bản Tuy nhiin, các nhóm KNS mới chỉ được nghiin cứu và làm rõ ở mức độ tổng quan chung chung Chưa
có nghiin cứu nào đi sâu để làm rõ: bản chất, biểu hiện của từng nhóm KNS, các mức độ, biện pháp rèn luyện, cách đánh giá đối với từng nhóm KNS cụ thể…
Thứ hai: nội dung GDKNS cho một số đối tượng giáo dục đặc biệt Trong
các nghiin cứu về KNS hiện nay, các tác giả mới nghiin cứu và chỉ ra những KNS
cơ bản cho tất cả mọi người, các KNS được đưa ra ở mức độ cần thiết ngang bằng nhau Chưa chỉ rõ các KNS đặc thù của từng nhóm đối tượng sống khác nhau, trong
đó có HSTH người DTTS
Thứ ba, các biện pháp cụ thể để GDKNS cho từng nhóm đối tượng khác
nhau Trong các công trình nghiin cứu về KNS và GDKNS được chính thức công
bố thì các biện pháp GDKNS mới chỉ được niu ra ở mức độ chung chung, khái quát, chưa chỉ rõ biện pháp GDKNS cho các đối tượng đặc thù như: học sinh ở nông thôn, học sinh ở thành thị, học sinh khu vực miền núi, học sinh dân tộc thiểu số
Từ việc tìm hiểu, đánh giá những vấn đề lí luận và thực tiễn liin quan đến KNS và việc nghiin cứu về GDKNS trin thế giới và ở Việt Nam, có thể khẳng định rằng: việc nghiin cứu, tìm hiểu về KNS của HSTH người DTTS và các biện pháp
cơ bản để GDKNS cho đối tượng này thông qua quá trình dạy học các môn Tự nhiin và Xã hội, Khoa học vẫn còn là khoảng trống, nếu giải quyết tốt vấn đề này sẽ góp phần làm sáng tỏ một phần các vấn đề lí luận và thực tiễn mà hiện nay các nghiin cứu trước chưa làm được
Trang 261.2 Kĩ năng sống và giáo dục kĩ năng sống
Theo từ điển Anh- Anh: kĩ năng (Skill) được mô tả là khả năng đưa ra các giải pháp trong một số vấn đề nhất định, nó có thể được hình thành thông qua rèn luyện, đào tạo Còn “ability” được mô tả là các phẩm chất bin trong cá nhân, tạo điều kiện thuận lợi để họ tạo ra những thành công hay thành tích nào đó, “ability” có thể hiểu
là khả năng thuộc về lĩnh vực tâm lí, nó mang những đặc điểm tâm lí của con người,
nó là yếu tố tạo ra tính khả thi trong sự thành công của một cá nhân Như vậy, kĩ năng có bản chất tâm lí nhưng có biểu hiện cụ thể là hành động, hoạt động của cá nhân, nó có thể rèn luyện được và là yếu tố tạo ra sự thành công trong cuộc sống của con người
Trong tâm lí học, khi bàn về kĩ năng, các nhà nghiin cứu như: Ph.N.Gônôbôlin, N.D.Livitôv, V.V.Bôgxloxki, K.K.Platônôv cũng đưa ra nhiều quan niệm khác nhau, nhưng nhìn chung, các nhà nghiin cứu đều cho rằng: kĩ năng và tri thức luôn gắn liền và có mối quan hệ mật thiết với nhau, có tri thức (hiểu được biểu hiện, ý nghĩa, mục đích, cách thực hiện…) thì mới có kĩ năng (thực hiện hành động trong thực tiễn ứng với các điều kiện, hoàn cảnh khác nhau), và khi chủ thể thực hiện kĩ năng thì sẽ khẳng định lại vốn tri thức, hiểu biết của chính chủ thể về những vấn đề liin quan đến hành động của chính họ Nói cách khác kĩ năng được hình thành thông qua việc lĩnh hội tri thức và kinh nghiệm rèn luyện thực tế của chính chủ thể KN vừa có tính ổn định, vừa có tính mềm dẻo, linh hoạt, có mục đích cụ thể
Theo Áặng Thành Hưng, “kĩ năng là một dạng hành động được thực hiện tự giác dựa trin tri thức về công việc, khả năng vận động và những điều kiện sinh học-
Trang 27tâm lí khác của cá nhân (chủ thể có kĩ năng đó) như nhu cầu, tình cảm, ý chí, tính tích cực cá nhân… để đạt được kết quả theo mục đích hay tiiu chí đã định, hoặc mức độ thành công theo chuẩn hay quy định” [29]
Theo WHO, “kĩ năng là khả năng cho phép con người thực hành một hành vi nhất định” [80; tr.8] Theo cách giải thích này thì kĩ năng luôn gắn liền với năng lực hoạt động, làm việc, giải quyết vấn đề của con người Do đó, kĩ năng hoàn toàn có thể nhận thấy, đo đạc và đánh giá được Áiều đó cũng có nghĩa rằng để có được kĩ năng thì con người cần phải trải qua một quá trình rèn luyện, thực hành các hành vi của bản thân trong thực tiễn cuộc sống
Mặc dù có nhiều quan niệm khác nhau về kĩ năng, chủ yếu là khác nhau ở phạm vi vận dụng tri thức của chủ thể hành động vào thực tiễn, nhưng nhìn chung các tác giả đều thống nhất ở các điểm sau:
- Thứ nhất, KN có nguồn gốc tâm lí, nhưng có hình thức vật chất là hành vi hoặc hành động, kĩ năng luôn gắn liền với việc thực hiện các thao tác hay hành động nhất định
- Thứ hai, KN luôn gắn liền với tri thức, tức là nó gắn liền với việc triển khai
và vận dụng những kiến thức mà cá nhân lĩnh hội được thông qua quá trình học tập, rèn luyện vào thực tiễn
- Thứ ba, KN hoàn toàn có thể giáo dục và rèn luyện được Sự hình thành và mức độ phát triển của kĩ năng thể hiện qua tính đúng đắn, thành thạo và sáng tạo của chủ thể hành động Nó được tích lũy, rèn luyện thông qua sự kết hợp giữa tri
thức và kinh nghiệm của mỗi cá nhân trong các hoạt động thực tiễn hàng ngày
Từ những đặc điểm trin, chúng tôi quan niệm: kĩ năng là khả năng chủ thể thực hiện được hành động dựa trên vốn tri thức, kinh nghiệm đã có để đạt được kết quả theo những tiêu chí nhất định, phù hợp với mục đích và điều kiện hành động
Như vậy, kĩ năng có các đặc điểm cơ bản sau:
- Kĩ năng cho phép con người thực hiện các hành động cụ thể, có tính khoa học, cá nhân, có tính chuẩn mực nhất định và có thể đánh giá được dựa trin những tiiu chí nhất định
- Kĩ năng luôn có tính linh hoạt trong những hoàn cảnh khác nhau sao cho phù hợp với mục đích, điều kiện thực hiện
Trang 28- Kĩ năng của một con người chỉ quan sát và đánh giá được thông qua hành động cụ thể của họ trong các tình huống thực tiễn
- Kĩ năng có thể rèn luyện được thông qua sự lĩnh hội các tri thức khoa học cùng với những hành động cụ thể của cá nhân trong cuộc sống
- Kĩ năng và tri thức luôn gắn liền và có quan hệ chặt chẽ với nhau
b Kĩ năng sống
Cho đến nay, có rất nhiều cá nhân, tổ chức cùng nghiin cứu về KNS, tuy nhiin chưa có một sự thống nhất chung, rõ ràng về khái niệm này Tuỳ thuộc vào người sử dụng hay tiếp cận ở góc độ, lĩnh vực nào mà KNS được mô tả với nội hàm,
ý nghĩa khác nhau
Theo UNESCO (Hà Nội, 2003): KNS là khả năng của cá nhân để thực hiện đầy đủ các chức năng và tham gia vào cuộc sống hàng ngày [44]; [43]; [47]; [64] Như vậy, theo UNESCO, khái niệm KNS được hiểu theo nghĩa rộng, gắn với toàn bộ khả năng của con người khi tham gia vào tất cả các hoạt động của xã hội Khả năng
cá nhân này không chỉ chịu sự chi phối và ảnh hưởng đến bản thân cá nhân mà nó còn tác động tới các cá nhân khác trong xã hội khi cá nhân thực hiện quá trình tham gia vào cuộc sống hàng ngày
Theo WHO (1993): KNS là khả năng thích ứng và thực hành các hành vi tích cực giúp cá nhân có thể giải quyết vấn đề có hiệu quả và khắc phục những khó khăn của cuộc sống hàng ngày KNS bao gồm một nhóm các năng lực tâm lí xã hội và kĩ năng nhận biết, làm chủ bản thân để giúp mọi người thông báo, ra quyết định, giải quyết vấn đề, suy nghĩ, phi bình, sáng tạo và giao tiếp hiệu quả, xây dựng mối quan
hệ lành mạnh, thông cảm với người khác và để đối phó với những thách thức của cuộc sống KNS có thể dẫn đến các hành động đối với bản thân cá nhân hay hành động đối với những người khác, cũng như những hành động đối với môi trường để làm cho nó trở nin thân thiện và an toàn [80];[76]; [77]; [78]; [79] So sánh cách biểu đạt khái niệm KNS của WHO với cách biểu đạt khái niệm KNS của UNESSCO chúng tôi thấy rằng: nội hàm khái niệm KNS đã được thu hẹp hơn KNS được gắn với năng lực tâm lí của mỗi cá nhân và thể hiện thông qua hành động, cách ứng xử, giao tiếp với người khác (năng lực xã hội) một cách có hiệu quả
Trang 29Theo UNICEF (Thái Lan: 1995): KNS là khả năng phân tích tình huống và hành vi, khả năng phân tích hậu quả của hành vi và khả năng phòng tránh một số tình huống nào đó KNS là một cách tiếp cận để giải quyết sự cân bằng giữa các yếu tố: kiến thức, thái độ và kĩ năng UNICEF đưa ra quan điểm này dựa trin các bằng chứng nghiin cứu cho thấy: sự thay đổi hành vi của con người không thể có được nếu như không có kiến thức, thái độ và kĩ năng dựa trin năng lực của cá nhân [64]; [73] Như vậy, theo quan điểm của UNICEF, KNS được xem xét và nhấn mạnh đến việc con người tham gia phòng tránh và giải quyết các vấn đề trong cuộc sống hàng ngày, đề cao đến khả năng tư duy của con người trong cuộc sống KNS luôn gắn liền với năng lực cá nhân khi con người tham gia phòng tránh và giải quyết các tình huống, vấn đề nảy sinh trong cuộc sống dựa trin những hiểu biết, quan điểm và thái
độ đã có của bản thân
Nhìn chung, trin thế giới cho đến nay có rất nhiều các quan niệm về KNS với nội hàm rộng, hẹp khác nhau Tuy nhiin, về cơ bản, có thể chia các quan niệm này thành 2 nhóm:
Nhóm thứ nhất, quan niệm KNS với nội hàm rộng (UNESCO), nó bao gồm
tất cả các nhóm kĩ năng Bất cứ cái gì thuộc về khả năng của con người (ability) và được con người sử dụng khi tham gia vào cuộc sống hàng ngày đều là KNS Như vậy, KNS được hiểu với phạm vi rất rộng, nó bao gồm tất cả các kĩ năng cơ bản của của cuộc sống như: kĩ năng đọc, viết, tính toán, kĩ năng tìm kiếm việc làm, kiếm tiền, kĩ năng giao tiếp, kĩ năng tư duy…
Nhóm thứ hai, quan niệm KNS với nội hàm hẹp hơn (WHO, UNICEF…), coi
KNS là những biểu hiện của nhóm kĩ năng nhận biết, ứng phó với bản thân và kĩ năng xã hội của con người, giúp cá nhân giải quyết có hiệu quả các tình huống của cuộc sống Tuy quan niệm KNS này có nội hàm hẹp hơn nhưng nó lại phản ánh sự phức tạp hơn, bởi nó đề cập đến những năng lực tâm lí xã hội (psychosocial competencies) và kĩ năng nhận biết, ứng phó với bản thân (interpersonal skills)
Ở Việt Nam, cũng tồn tại nhiều quan niệm khác nhau về KNS Theo quan điểm gần đây nhất của Viện KHGDVN (2010): KNS bao gồm một loạt các kĩ năng
cụ thể, cần thiết cho cuộc sống hàng ngày của con người Bản chất của KNS là kĩ
Trang 30năng tự quản bản thân và kĩ năng xã hội cần thiết để cá nhân tự lực trong cuộc sống, học tập và làm việc hiệu quả Nói cách khác, KNS là khả năng làm chủ bản thân của mỗi người, khả năng ứng xử phù hợp với người khác, khả năng ứng phó tích cực trước các tình huống của cuộc sống [9]; [10]; [11]; [12]; [13]; [14]; [15]; [16]; [17]; [18]; [19] Theo cách biểu đạt này, KNS được mô tả có những đặc điểm tương đồng, giống với cách biểu đạt về KNS của WHO, UNICEF KNS bao gồm các khả năng tâm lí bin trong mỗi cá nhân để làm chủ cảm xúc, hành vi của bản thân và năng lực ứng xử trong thực tiễn bin ngoài khi tham gia vào các hoạt động sống, học tập và làm việc
Trong nghiin cứu này, KNS được quan niệm là: khả năng cá nhân được thể hiện thông qua hành động làm chủ bản thân, hành động ứng xử tích cực với mọi người xung quanh và ứng phó, giải quyết có hiệu quả các tình huống, vấn đề trong cuộc sống dựa trên những tri thức, thái độ và giá trị mà chủ thể có được Theo đó
có thể thấy rằng:
- KNS có hình thức vật chất là hành động Nó chỉ được thể hiện khi con người tham gia giải quyết các tình huống, các vấn đề cụ thể gắn liền với các mối quan hệ với bản thân, với người khác và với xã hội xung quanh
- KNS giúp con người sống thành công và làm việc hiệu quả
- KNS chỉ có được khi cá nhân đã có những tri thức, thái độ và giá trị nhất định
- KNS khác với các kĩ năng để sống còn (livelihood skills, survival skills) như học chữ, học nghề, làm toán, bơi lội … hay các kĩ năng có thể giúp một người trẻ tuổi tự tìm kiếm việc làm, kiếm tiền cho cuộc sống như: phỏng vấn, tìm kiếm việc làm, mở tài khoản ngân hàng…( nó thuộc về khả năng, nguồn lực và cơ hội để đạt được mục đích cá nhân và kinh tế gia đình, nó liin quan đến thu nhập) KNS được coi như là những kĩ năng cốt lõi để phát triển con người
1.2.1.2 Phân loại kĩ năng sống
Do có nhiều cách tiếp cận, nhiều quan niệm khác nhau về KNS nin trong cách phân loại KNS cũng tồn tại nhiều cách phân loại KNS khác nhau Theo tổng hợp của tác giả Nguyễn Thanh Bình [3], hiện có một số cách phân loại KNS cơ bản sau:
Cách thứ nhất là cách phân loại của WHO Dựa trin cách phân loại từ lĩnh vực sức khoẻ, WHO chia KNS thành 3 nhóm: Nhóm thứ nhất là kĩ năng nhận thức:
Trang 31tư duy phi phán, tư duy phân tích, khả năng sáng tạo, giải quyết vấn đề, nhận thức
hậu quả, ra quyết định, tự nhận thức, đặt mục tiiu, xác định giá trị ; Nhóm thứ hai
là các kĩ năng đương đầu với xúc cảm: ý thức trách nhiệm, cam kết, kìm chế căng
thẳng, kiểm soát cảm xúc, tự quản lí, tự giám sát và tự điều chỉnh ; Nhóm thứ ba là
kĩ năng xã hội hay kĩ năng tương tác: giao tiếp, tính quyết đoán, thương thuyết, từ chối, hợp tác, cảm thông, chia sẻ
Cách thứ hai là cách phân loại của UNESCO Theo UNESCO thì 3 nhóm
KNS mà WHO phân loại như trin được coi là những KNS chung Ngoài ra, còn có những KNS được thể hiện trong những vấn đề cụ thể khác nhau của đời sống xã hội như: Vệ sinh, sức khoẻ, thực phẩm, dinh dưỡng; Các vấn đề về giới, giới tính, sức khoẻ sinh sản; Ngăn ngừa và phòng bệnh HIV/AIDS; …
Cách thứ ba là cách phân loại của UNICEF Với mục đích giúp người học có
kĩ năng ứng phó với các vấn đề của cuộc sống và tự hoàn thiện mình, UNICEF đã
đưa ra cách phân loại KNS theo các mối quan hệ gồm 3 nhóm: Kĩ năng nhận biết
và sống với chính mình (tự nhận thức; lòng tự trọng; sự kiin định; đương đầu với cảm xúc; đương đầu với căng thẳng); Kĩ năng nhận biết và sống với người khác (kĩ
năng quan hệ/ tương tác liin nhân cách; sự cảm thông- thấu cảm; đứng vững trước
áp lực tiiu cực của bạn bè và người khác; thương lượng; giao tiếp có hiệu quả); Các kĩ năng ra quyết định một cách có hiệu quả (kĩ năng tư duy phi phán; tư duy sáng tạo; ra quyết định; giải quyết vấn đề)
Cách thứ tư là cách phân loại dựa trin sự phân chia các lĩnh vực học tập (theo Bloom) Theo cách tiếp cận này, KNS được chia thành 3 nhóm: Nhóm kĩ năng thuộc lĩnh vực nhận thức (kĩ năng tư duy sáng tạo và tư duy phi phán); Nhóm kĩ năng thuộc lĩnh vực tình cảm (tự nhận thức; thấu cảm; tự trọng; trách nhiệm xã hội); Nhóm kĩ năng thuộc lĩnh vực tâm vận động (kĩ năng quan hệ liin nhân cách; giao tiếp có hiệu quả; ra
quyết định; giải quyết vấn đề; đương đầu với cảm xúc và căng thẳng)
Trong giáo dục chính quy ở nước ta những năm vừa qua, KNS thường được phân loại theo các mối quan hệ (theo cách phân loại của UNICEF), bao gồm ba
nhóm: Nhóm các kĩ năng nhận biết và sống với chính mình, bao gồm các KNS cụ thể như: tự nhận thức, xác định giá trị, ứng phó với căng thẳng…; Nhóm các kĩ năng nhận biết và sống với người khác, bao gồm các KNS cụ thể như: giao tiếp có
Trang 32hiệu quả, giải quyết mâu thuẫn, thương lượng, từ chối…; Nhóm các kĩ năng ra quyết định một cách có hiệu quả, bao gồm các KNS cụ thể như: tìm kiếm và xử lí
thông tin, tư duy phi phán, tư duy sáng tạo …[43]
Ngoài ra, còn có cách phân loại theo cách chỉ ra từng KNS cụ thể mà một số môn
học đang áp dụng: Tự nhận thức; Giao tiếp; Tư duy sáng tạo; Tư duy phi phán; Giải quyết vấn đề; Làm chủ bản thân [9]; [10]; [11]; [12]; [13]; [14]; [15]; [16]; [17]; [18]; [19] Nhìn chung, trong thực tế cuộc sống hàng ngày, các KNS không hoàn toàn tách biệt nhau mà giữa chúng luôn có mối quan hệ mật thiết, gắn bó chặt chẽ, bổ sung cho nhau Tùy theo đặc điểm khách quan và chủ quan của đối tượng người được giáo dục mà ta chúng ta xác định và mô tả biểu hiện của các KNS một cách cụ thể Trong phạm vi đề tài này, chúng tôi hướng đến cách phân loại chỉ ra từng KNS
cụ thể được xác định dựa trin cách tiếp cận: giáo dục các KNS chung, cơ bản và các KNS riing gắn với ngữ cảnh của đối tượng HSTH người DTTS thông qua dạy học các môn Tự nhiin và Xã hội, Khoa học
1.2.2 Giáo dục kĩ năng sống
1.2.2.1 Các quan niệm về giáo dục kĩ năng sống
Khi nói đến GDKNS, có nhiều cách biểu đạt nhấn mạnh đến những khía cạnh khác nhau như:
“GDKNS nhằm tạo thuận lợi cho việc thực hành, củng cố các kĩ năng tâm lí trong một nền văn hoá và phát triển một cách thích hợp, nó góp phần vào việc thúc đẩy phát triển cá nhân và xã hội, phòng chống các vấn đề y tế, xã hội và việc bảo vệ quyền con người” [78;tr.5]
GDKNS là “hình thành cách sống tích cực trong xã hội hiện đại, là xây dựng những hành vi lành mạnh và thay đổi những hành vi, thói quen tiiu cực trin cơ sở giúp người học có cả kiến thức, giá trị, thái độ và kĩ năng thích hợp”.[3; tr.32]
Giáo dục KNS cho HS, với bản chất là “hình thành và phát triển cho các em khả năng làm chủ bản thân, khả năng ứng xử phù hợp với những người khác và với
xã hội, khả năng ứng phó tích cực trước các tình huống của cuộc sống nhằm thực hiện mục tiiu giáo dục phổ thông”.[9; tr.12]
Nhìn chung, các quan niệm về GDKNS trin đây đều được biểu đạt nhấn mạnh đến một khía cạnh nào đó của quá trình giáo dục KNS, WHO và tác giả
Trang 33Nguyễn Thanh Bình nhấn mạnh đến mục đích thực hiện GDKNS, Viện KHGDVN nhấn mạnh đến tính chất và ý nghĩa của GDKNS Trong nội hàm các quan niệm chưa niu ra được cách thức để thực hiện GDKNS
Giáo dục được hiểu theo nghĩa rộng, hẹp khác nhau Ở cấp độ nhà trường, khái niệm giáo dục chỉ quá trình giáo dục tổng thể (dạy học và giáo dục theo nghĩa hẹp) được thực hiện thông qua các hoạt động giáo dục Áó là những hoạt động do các cơ sở giáo dục tổ chức, thực hiện theo kế hoạch, chương trình giáo dục và trực tiếp điều hành, chịu trách nhiệm về chúng Trong các hoạt động giáo dục thì hoạt động dạy học giữ vai trò nền tảng và chủ đạo Các hoạt động giáo dục được tổ chức trin cơ sở các giá trị, nhằm tạo ra môi trường hoạt động và giao tiếp có định hướng cho người học, tuân theo những nguyin tắc chung, những mục tiiu chung, những chuẩn mực giá trị chung, những biện pháp chung [2]; [35]
Dựa vào cách hiểu về khái niệm giáo dục ở cấp độ nhà trường, căn cứ vào khái niệm về KNS mà đề tài đã xác định, trong nghiin cứu này, chúng tôi quan niệm rằng:
GDKNS là trang bị cho người học những kiến thức, thái độ, giá trị và tạo cơ hội cho họ rèn luyện, trải nghiệm trong cuộc sống thực tiễn từ đó giúp họ có thể làm chủ bản thân, ứng xử tích cực với mọi người xung quanh và ứng phó, giải quyết có hiệu quả các tình huống, vấn đề trong cuộc sống
GDKNS thông qua dạy học các môn học ở nhà trường là quá trình tổ chức các hoạt động dạy học trong các môn học nhằm giúp người học vừa chiếm lĩnh được kiến thức, hình thành được kĩ năng khoa học của môn học, vừa rèn luyện để có được những KNS nhất định
1.2.2.2 Đặc điểm giáo dục kĩ năng sống
a GDKNS là quá trình giáo dục có mục đích, nội dung, kế hoạch và biện pháp cụ thể
Mục đích cuối cùng của GDKNS là giúp người học có được cuộc sống thành công và hiệu quả khi tham gia vào các hoạt động hàng ngày Do đó, GDKNS là một quá trình lâu dài, phức tạp, đòi hỏi nhiều lực lượng tham gia
Nội dung GDKNS rất phong phú, nó có thể gắn với việc giáo dục để con người có được hành động làm chủ bản thân; thích ứng trước những thay đổi của cuộc sống; giáo dục cách sống, cư xử với người khác; giáo dục lối sống lạc quan, tự tin…
Trang 34Nội dung GDKNS rất phong phú Ngoài những KNS chung cần thiết cho tất
cả mọi người như: KN làm chủ bản thân, KN giao tiếp, KN xác định giá trị, KN kiin định , nó còn có các KNS gắn với những vấn đề cụ thể của cuộc sống hàng ngày như: vấn đề vệ sinh, dinh dưỡng, phòng chống HIV/AIDS, vấn đề dân số, chăm sóc sức khỏe sinh sản Áối với các đối tượng khác nhau, nội dung GDKNS là khác nhau, nó thay đổi và phụ thuộc vào đặc điểm địa lí, văn hóa, lứa tuổi…
GDKNS là một quá trình lâu dài, phức tạp, đòi hỏi phải kết hợp nhiều lực lượng giáo dục, nhiều đối tượng cùng tham gia Nó không phải chỉ tiến hành trong một vài ngày mà cần được xây dựng nội dung và lập kế hoạch rõ ràng, trin cơ sở đó tiến hành theo các biện pháp cụ thể
b GDKNS phải dựa trin nền tảng của GD giá trị
GDKNS nhằm trang bị cho người học những kiến thức, giá trị, thái độ và kĩ năng phù hợp để hướng đến việc hình thành những hành vi, thói quen lành mạnh, tích cực; loại bỏ các hành vi, thói quen tiiu cực xung quanh các mối quan hệ, các tình huống và hoạt động hàng ngày của con người Do đó, việc GDKNS cần phải định hướng và hình thành cho trẻ những giá trị sống đúng đắn để từ đó trẻ biết nhìn nhận và đánh giá cái đúng/ cái sai; biết đặt ra mục tiiu và lí tưởng sống đúng đắn để
từ đó rèn luyện được khả năng đứng vững trước những lôi kéo, rủ ri của bạn bè và người xấu; cư xử đúng mực, giao tiếp có hiệu quả với những người xung quanh; Khả năng quan sát, phân tích, suy nghĩ, đánh giá để đối phó và giải quyết được các tình huống khác nhau của đời sống xã hội một cách có hiệu quả…
Như vậy, GDKNS và GD giá trị có mối quan hệ gắn kết chặt chẽ với nhau,
GD giá trị sẽ tạo ra nền tảng, định hướng cho việc thể hiện thái độ và hành vi của mỗi
cá nhân Nó chi phối đến hành động của chủ thể, đến việc chủ thể ra các quyết định để giải quyết các vấn đề trong cuộc sống hàng ngày Do đó có thể nói rằng, tất cả các quyết định của con người đều dựa trin giá trị, GDKNS là quá trình phải được tiến hành song song với GD giá trị, nó cũng tuân theo những nguyin tắc của GD giá trị
c GDKNS có tính linh hoạt cao
GDKNS luôn gắn liền với hành động của con người trong thực tiễn cuộc sống với sự vận động và biến đổi khác nhau Chính vì vậy, GDKNS không phải là
Trang 35bất động, nó biến đổi và vận động linh hoạt cùng những diễn biến, vận động của xã hội Tùy theo không gian, thời gian, đối tượng, hoàn cảnh khác nhau mà mục đích, nội dung, biện pháp GDKNS cũng khác nhau: KNS của người miền núi khác với KNS của người miền biển; KNS của học sinh tiểu học khác với KNS của học sinh trung học phổ thông; KNS của con người trong thời kinh tế thị trường khác với KNS của con người trong chế độ phong kiến
d GDKNS gắn liền với việc trải nghiệm và sử dụng các phương pháp, hình thức tổ chức dạy học tích cực
GDKNS không phải chỉ đơn thuần là việc truyền giảng những vấn đề lí thuyết, lí luận chung chung mà là quá trình rất phức tạp, đòi hỏi người học phải được cung cấp cơ hội để được trải nghiệm, vận dụng những kiến thức đã học vào việc giải quyết các vấn đề cụ thể của thực tiễn Thông qua hoạt động trải nghiệm, người học sẽ được rèn luyện các KNS, từ đó có nhận thức rõ ràng hơn về vai trò, vị trí của bản thân; rút ra được nhiều kinh nghiệm sống khi tiếp xúc, quan hệ với người khác; giải quyết các vấn đề nảy sinh trong cuộc sống hàng ngày một cách linh hoạt, tích cực hơn
Khác với các quá trình giáo dục khác, việc sử dụng các phương pháp, hình thức tổ chức dạy học tích cực có vai trò to lớn trong việc GDKNS thông qua dạy học các môn học Nó không chỉ kích thích được hứng thú, giúp học sinh phát huy khả năng tự học, độc lập khám phá tri thức của môn học mà nó còn tạo cơ hội để người học được “học cách học”, qua đó được rèn luyện một số KNS chung, cơ bản như: KN giao tiếp trong trình bày, phát biểu ý kiến; KN lắng nghe ý kiến người khác; KN hợp tác làm việc tập thể; KN tư duy phi phán trước một vấn đề; KN ra quyết định
1.2.2.3 Các nguyên tắc giáo dục kĩ năng sống
Dựa vào đặc điểm, bản chất của GDKNS; nội dung một số thuyết tâm lí học
có liin quan (lí thuyết về sự phát triển của trẻ em và vị thành niin; lí thuyết học tập xã hội; thuyết vấn đề- hành vi; thuyết ảnh hưởng xã hội; thuyết đa trí tuệ [80];[61]); một số
công trình nghiin cứu về GDKNS đã được công bố, có thể tổng hợp một số nguyên tắc chung, cơ bản về GDKNS như sau:
Trang 361 Đảm bảo sự tương tác cao cho người học
GDKNS phải tạo điều kiện và cơ hội để người học được hoạt động trong môi trường học tập có sự giao tiếp và tương tác tích cực GDKNS phải tạo điều kiện cho trẻ quan sát, đóng vai, tạo ra sự tương tác giữa những người học với nhau và với các
cá nhân khác trong xã hội
Thông qua quá trình tương tác với bạn học và những người xung quanh, học sinh sẽ có dịp thể hiện các ý tưởng của mình, xem xét ý tưởng của người khác, được đánh giá và tự xem xét lại những kinh nghiệm sống của cá nhân Vì vậy, việc tổ chức các hoạt động
có tính chất tương tác cao trong nhà trường tạo cơ hội quan trọng để giáo dục KNS hiệu quả, đặc biệt là các nhóm KN giao tiếp, KN xác định giá trị, KN ra quyết định, KN giải quyết vấn đề
2 Đảm bảo cho học sinh được trải nghiệm
Nội dung GDKNS tập trung giáo dục cho người học khả năng vận dụng kiến thức và thể hiện giá trị bản thân trong những tình huống cụ thể hàng ngày thông qua quá trình cá nhân tương tác với người khác GDKNS phải tạo ra cơ hội để trẻ bộc lộ được vốn kinh nghiệm, hiểu biết đã có của bản thân xung quanh việc giải quyết những vấn đề của cuộc sống Từ đó, trẻ biết chọn lọc, kế thừa những hiểu biết, kinh nghiệm đúng vào việc thay đồi hành vi tiiu cực, hình thành hành vi tích cực [49]; [53]; [82]
Chính vì vậy, trong quá trình GDKNS, giáo viin cần thiết kế và tổ chức thực hiện các hoạt động gắn kết ở cả trong và ngoài giờ học, nhằm tạo cơ hội để học sinh được thể hiện ý tưởng cá nhân, tự trải nghiệm bản thân và biết phân tích kinh nghiệm sống của chính mình và người khác Áối với HSTH, việc trải nghiệm có thể được tiến hành ở trin lớp thông qua việc tham gia xử lý các tình huống, thực hiện các trò chơi (đặc biệt đóng vai) gắn với thực tế cuộc sống Nó cũng có thể được tổ chức thông qua việc yiu cầu học sinh thực hiện những hành động cụ thể ở gia đình,
ở địa phương gắn với nội dung các bài học
Thông qua việc thực hiện các hoạt động, giải quyết các vấn đề gắn với thực tiễn, người học bộc lộ cảm xúc của bản thân; phân tích về những gì bản thân họ đã làm và những gì họ thấy; suy đoán về các hành động có thể thay thế để giải quyết vấn đề hợp lý hơn, hiệu quả hơn phù hợp với tình hình thực tế
Trang 373 Đảm bảo tiến trình thực hiện
Bản chất của GDKNS là rèn luyện kĩ năng Do đó, nó không chỉ đơn thuần là việc hình thành cho người học có được những kiến thức về các mối quan hệ, các hoạt động trong cuộc sống; hiểu được mối quan hệ giữa giá trị cá nhân với các giá trị chung mà hơn cả là hình thành và rèn luyện cho người học có được kĩ năng thực hiện các hành động tích cực trong các mối quan hệ với bản thân, người khác và với cộng đồng xã hội Chính vì vậy, GDKNS cần đảm bảo tiến trình của việc hình thành
KN, tức là phải đi từ việc học sinh hình thành kiến thức, nhận biết các giá trị đến việc thực hành, vận dụng và rèn luyện trong thực tiễn
4 Đảm bảo hình thành và thay đổi hành vi
Hành vi của mỗi người là kết quả của tri thức, thái độ… và có thể coi đó là kết quả cao nhất, khó nhất cần phải đạt được trong GDKNS GDKNS cần phải định hướng vào việc hình thành cho học sinh những giá trị sống đúng đắn, từ đó giúp các
em có khả năng đứng vững trước những lôi kéo, rủ ri của bạn bè và người xấu; cư
xử đúng mực, giao tiếp có hiệu quả với những người xung quanh; Khả năng quan sát, phân tích, suy nghĩ, đánh giá để đối phó và giải quyết được các tình huống khác nhau của đời sống xã hội một cách có hiệu quả…Kết quả của GDKNS được thể hiện thông qua những hành vi của chủ thể khi họ tham gia vào những tình huống khác nhau của thực tiễn cuộc sống và GDKNS hiệu quả là phải làm cho chủ thể biết phân tích cái đúng/cái sai; cái tốt/cái xấu một cách đúng đắn, từ đó hình thành mong muốn và thực hiện điều chỉnh hành vi để hướng đến những hành vi tích cực
1.2.2.4 Các con đường giáo dục kĩ năng sống trong nhà trường tiểu học
Giáo dục KNS trong nhà trường tiểu học không được tổ chức thành một môn học hay một lĩnh vực học tập cụ thể mà được thực hiện qua hai con đường cơ bản: (1) qua dạy học các môn học phù hợp hiện đang được giảng dạy ở nhà trường; (2) qua các hoạt động giáo dục ngoài giờ lin lớp
a GDKNS qua dạy học các môn học
Áể thực hiện GDKNS qua dạy học các môn học, giáo viin có thể thực hiện theo hai cách tiếp cận:
Trang 38Thứ nhất là khai thác nội dung môn học, lựa chọn những bài học phù hợp với
đối tượng học sinh để GDKNS Trin cơ sở mục tiiu, nội dung môn học; đặc điểm học tập, sinh hoạt của đối tượng học sinh; môi trường địa phương… giáo viin lựa chọn những bài học có nội dung gần gũi với đối tượng học sinh để GDKNS
Trong nhà trường tiểu học hiện nay, một số môn học như: môn Áạo đức, môn
Tự nhiin và Xã hội (ở các lớp 1, lớp 2, lớp 3), môn Khoa học (ở lớp 4, lớp 5), môn Tiếng Việt được coi là những môn học có nhiều tiềm năng để giáo viin có thể khai
thác nhằm GDKNS Môn Áạo đức, trin cơ sở hướng tới mục tiiu cao nhất là hình
thành cho HSTH những tri thức, kĩ năng và thái độ đúng đắn liin quan đến các chuẩn mực hành vi đạo đức thì hầu hết tất cả các bài học đạo đức đều có tiềm năng
để giáo dục KN giao tiếp, KN xác định giá trị, KN ra quyết định Môn Tự nhiin và
Xã hội, môn Khoa học được xây dựng dựa trin quan điểm tích hợp các nội dung của khoa học tự nhiin với khoa học về sức khoẻ, dân số, môi trường Nội dung môn học được lựa chọn thiết thực, gần gũi và có ý nghĩa với học sinh, giúp các em có thể vận dụng những kiến thức khoa học vào cuộc sống hàng ngày Do đó, đây cũng là những môn học chú trọng nhiều đến giáo dục các KNS: kĩ năng tự nhận thức, đánh giá bản thân; KN tự tin, trình bày vấn đề thuyết phục; KN kiin định; KN đặt mục tiiu; KN ra quyết định và giải quyết vấn đề liin quan đến việc tự chăm sóc sức khỏe, xây dựng hành vi sống tích cực cho bản thân, gia đình và cộng đồng Môn Tiếng Việt ở nhà trường tiểu học có nhiệm vụ hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng sử dụng tiếng Việt (nghe, nói, đọc, viết) để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi Thông qua hoạt động dạy và học môn Tiếng Việt, góp phần mở rộng hiểu biết về tự nhiin, xã hội và con người, đồng thời phát triển ở HS các kĩ năng giao tiếp với cộng đồng, xã hội; KN nhận thức về thế giới xung quanh; KN xác định và xây dựng hệ thống giá trị riing cho bản thân; KN ra quyết định giải quyết vấn đề
Thứ hai là tăng cường sử dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực
trong các môn học để GDKNS Trong môn Áạo đức, để hình thành các chuẩn mực hành vi đạo đức cho học sinh thì các phương pháp học tập chủ động như: động não,
Trang 39đóng vai, thảo luận nhóm, nghiin cứu tình huống, rèn luyện… thường xuyin được
sử dụng, điều này góp phần làm cho việc GDKNS trở nin dễ dàng và hiệu quả hơn Môn Tự nhiin và Xã hội, môn Khoa học chú trọng đến việc hình thành và phát triển các kĩ năng trong học tập như quan sát, thảo luận, niu nhận xét, thắc mắc, đặt câu hỏi và diễn đạt hiểu biết của bản thân về các sự vật, hiện tượng đơn giản trong tự nhiin và trong xã hội Do vậy, khi tham gia các hoạt động trong môn học, HS sẽ có nhiều cơ hội để rèn luyện KN giao tiếp, hợp tác, làm việc tập thể Môn Tiếng Việt hướng đến việc tổ chức cho học sinh thực hành giao tiếp, tổ chức các hoạt động nhóm, trò chơi học tập, giải quyết vấn đề…Qua đó, học sinh được tăng cường trải nghiệm, rèn luyện kĩ năng hợp tác, bày tỏ ý kiến cá nhân,…
b GDKNS thông qua các hoạt động giáo dục ngoài giờ lin lớp
“Hoạt động giáo dục ngoài giờ lin lớp là hoạt động được tổ chức ngoài giờ học các môn học Có thể coi đó là hoạt động nối tiếp và thống nhất hữu cơ với các hoạt động giáo dục trong giờ học trin lớp” [23; tr.9] Nó là cầu nối giữa công tác giảng dạy trin lớp với công tác giáo dục học sinh ngoài lớp Hoạt động ngoài giờ lin lớp tạo điều kiện để HS thực hành và tăng cường những KNS theo những cách thức phù hợp với từng nhóm đối tượng và từng vùng Chẳng hạn như: hoạt động kỉ niệm các ngày lễ lớn; hoạt động học tập và tìm hiểu những truyền thống tốt đẹp của trường, của địa phương; hoạt động kết nghĩa, giao lưu với các trường bạn, các đơn
vị bộ đội; các hoạt động tìm hiểu về các danh nhân, các nhà khoa học; nghe nói chuyện về các thành tựu khoa học kĩ thuật, các ngành nghề trong xã hội; thử làm các đồ dùng học tập, dụng cụ trực quan, ; kể cả những hoạt động đơn giản thường nhật như: trực nhật, vệ sinh lớp học, sân trường; sửa bồn hoa, chăm sóc cây cảnh trang trí lớp, tham gia các công trình măng non, Thông qua hoạt động ngoài giờ lin lớp, theo mỗi ngày, mỗi tháng, mỗi năm, HSTH được phát triển toàn diện Các
em tiếp nhận không chỉ tri thức, mà còn hình thành đạo đức, sức khoẻ, thẩm mỹ và rèn các KNS cơ bản trong cộng đồng; thích ứng với những đổi mới diễn ra hằng ngày trong gia đình, xã hội hiện đại như : Giao tiếp, ứng xử với những người trong gia đình: ông, bà, cha , mẹ, anh chị em; với người trin và bạn bè ở trường, ở
Trang 40phường, xã, xóm, thôn; biết kính trọng thầy giáo, cô giáo; biết cảm thông chia sẻ, giúp đỡ bạn bè,…; biết thương lượng, chia sẻ, hợp tác, thích nghi với sự đa dạng về văn hoá gia đình, nhà trường, địa phương; hình thành được các kĩ năng tư duy như sáng tạo, phi phán, giải quyết vấn đề, ra quyết định, phát triển trí tưởng tượng,…
Trong nhà trường tiểu học hiện nay, GDKNS có thể được thực hiện qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lin lớp với ba hình thức cơ bản sau:
Thứ nhất, GDKNS qua hình thức sinh hoạt theo chủ điểm với các nội dung
như: cuộc thi, hoạt động tập thể, sinh hoạt văn nghệ, thực hiện các hành động “người thật, việc thật” qua đó góp phần rèn luyện cho HS các KN làm việc nhóm, KN tự tin, KN ra quyết định giải quyết vấn đề
Thứ hai, GDKNS qua các buổi sinh hoạt tập thể, bao gồm: sinh hoạt lớp,
chào cờ, sinh hoạt Áội, Sao Ở tiểu học, những tiết này được quy định rõ ràng trong thời khóa biểu Nội dung các tiết sinh hoạt tập thể không chỉ là đánh giá các công việc, các hoạt động của lớp được diễn ra trong tuần, tháng, học kì; phổ biến các hoạt động của trường tới từng lớp một cách kịp thời và chính xác mà còn là thời gian để
tổ chức các hoạt động lao động công ích, các hoạt động xã hội, triển khai giáo dục
an toàn giao thông, bảo vệ môi trường, phòng chống tệ nạn xã hội Do đó, buổi sinh hoạt tập thể là những cơ hội rất tốt để nhà trường có thể rèn luyện cho học sinh các kĩ năng giao tiếp, kĩ năng lập kế hoạch, đặt mục tiiu, kĩ năng làm việc nhóm,
Thứ ba, GDKNS qua các hoạt động tự chọn Phần tự chọn là những hoạt
động không bắt buộc, tuỳ theo điều kiện của từng trường, từng địa phương và khả năng của học sinh mà lựa chọn những nội dung hoạt động cho phù hợp Nội dung
và hình thức hoạt động tự chọn phải phù hợp với nhu cầu và khả năng của học sinh, đảm bảo gây được hứng thú và sáng tạo trong hoạt động của các em Chính vì thế hoạt động tự chọn có thể thu hút hứng thú của học sinh và giúp các em rèn luyện được các KNS cho bản thân Một số hình thức hoạt động tự chọn có nhiều tiềm năng để GDKNS cho HSTH như: Sinh hoạt câu lạc bộ theo chủ đề; Giao lưu văn hoá giữa các nhóm, các lớp hoặc với địa phương; Vui chơi giải trí với nhiều loại trò chơi khác nhau như: trò chơi vui khoẻ, trò chơi dân gian ; Sinh hoạt văn nghệ, tổ chức các cuộc thi; Tổ chức các hoạt động thể dục thể thao; Tham gia các hoạt động xã hội