1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tiểu luận cao học Vai trò của hệ thống chính trị đối với công tác xóa đói giảm nghèo của việt nam trong giai đoạn hiện nay

26 1,1K 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 112,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1. Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu Nghèo đói là một trong những vấn đề nan giải mà mọi quốc gia trên thế giới đặc biệt là những quốc gia đang phát triển, trong đó có Việt Nam đều phải quan tâm và tìm cách giải quyết.Việc tấn công vào nghèo đói là một nhiệm vụ không kém phần quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của nước ta. Đại Hội VII của Đảng đã xác định xoá đói giảm nghèo là một trong `những chương trình kinh tế xã hội vừa cấp bách trước mắt vừa cơ bản lâu dài. Đồng thời việc xoá đói giảm nghèo đòi hỏi cũng phải có những chính sách thích hợp thì mới đạt được hiệu quả. Những chính sách mà nhà nước đưa ra không những góp phần xóa đói giảm nghèo mà còn góp phần phát triển các ngành kinh tế, cải thiện đời sống người nghèo để giúp họ thoát khỏi cảnh nghèo đói. Khi Việt Nam chuyển sang kinh tế thị trường định hướng XHCN, công tác giảm nghèo là một nhiệm vụ cấp thiết hơn bao giờ hết và những chính sách của nhà nước càng có ý nghĩa nhiều hơn nữa đối với công tác giảm nghèo. Trong những năm qua, xóa đói giảm nghèo là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta nhằm cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho người nghèo, thu hẹp khoảng cách về trình độ phát triển giữa các vùng, địa bàn và giữa các dân tộc, nhóm dân cư. Thành tựu xóa đói giảm nghèo trong những năm qua đã góp phần tăng trưởng kinh tế bền vững và thực hiện công bằng xã hội, được cộng đồng quốc tế đánh giá cao. Để bảo đảm công tác xóa đói giảm nghèo được thực hiện tốt, đòi hỏi Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị xã hội – những bộ phận nòng cốt của hệ thông chính trị nước ta phải đưa ra những chủ trương, đường lối, chính sách và tổ chức quản lý, thực hiện tích cực, chủ động và hiệu quả. Từ đó, tôi quyết định chọn vấn đề “Vai trò của hệ thống chính trị đối với công tác xóa đói giảm nghèo của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay” làm đề tài tiểu luận của mình.

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu

Nghèo đói là một trong những vấn đề nan giải mà mọi quốc gia trênthế giới đặc biệt là những quốc gia đang phát triển, trong đó có Việt Namđều phải quan tâm và tìm cách giải quyết.Việc tấn công vào nghèo đói làmột nhiệm vụ không kém phần quan trọng trong chiến lược phát triển kinh

tế xã hội của nước ta Đại Hội VII của Đảng đã xác định xoá đói giảm nghèo

là một trong `những chương trình kinh tế xã hội vừa cấp bách trước mắt vừa

cơ bản lâu dài Đồng thời việc xoá đói giảm nghèo đòi hỏi cũng phải cónhững chính sách thích hợp thì mới đạt được hiệu quả Những chính sách mànhà nước đưa ra không những góp phần xóa đói giảm nghèo mà còn gópphần phát triển các ngành kinh tế, cải thiện đời sống người nghèo để giúp họthoát khỏi cảnh nghèo đói Khi Việt Nam chuyển sang kinh tế thị trườngđịnh hướng XHCN, công tác giảm nghèo là một nhiệm vụ cấp thiết hơn baogiờ hết và những chính sách của nhà nước càng có ý nghĩa nhiều hơn nữađối với công tác giảm nghèo Trong những năm qua, xóa đói giảm nghèo làchủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta nhằm cải thiện đời sống vật chất vàtinh thần cho người nghèo, thu hẹp khoảng cách về trình độ phát triển giữacác vùng, địa bàn và giữa các dân tộc, nhóm dân cư Thành tựu xóa đói giảmnghèo trong những năm qua đã góp phần tăng trưởng kinh tế bền vững vàthực hiện công bằng xã hội, được cộng đồng quốc tế đánh giá cao

Để bảo đảm công tác xóa đói giảm nghèo được thực hiện tốt, đòi hỏiĐảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị xã hội – những bộ phận nòng cốtcủa hệ thông chính trị nước ta phải đưa ra những chủ trương, đường lối,chính sách và tổ chức quản lý, thực hiện tích cực, chủ động và hiệu quả

Trang 2

Từ đó, tôi quyết định chọn vấn đề “Vai trò của hệ thống chính trị đối với công tác xóa đói giảm nghèo của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay”

làm đề tài tiểu luận của mình

2 Mục tiêu nghiên cứu

- Mục tiêu chung: Tìm hiểu, phân tích, đánh giá vai trò của hệ thốngchính trị và tác động của các chủ trương, chính sách đối với công tác xóa đóigiảm nghèo ở Việt Nam hiện nay

- Mục tiêu cụ thể:

+ Phân tích vai trò của hệ thống chính trị đối với công tác xóa đóigiảm nghèo thông qua các chủ trương chính sách và cách thức tổ chức quản

lý thực hiện các chính sách xóa đói giảm nghèo

+ Đánh giá hiệu quả của công tác xóa đói giảm nghèo

+ Đưa ra các giải pháp thực hiện công tác xóa đói giảm nghèo tíchcực, hiệu quả và bền vững

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Đối với đề tài này thì đối tượng cần nghiêncứu là vai trò của hệ thống chính trị đối với công tác xóa đói giảm nghèo

- Phạm vi nghiên cứu: Đề tài được tiến hành nghiên cứu, tìm hiểucông tác xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

Trang 3

độ chính trị phù hợp với lợi ích của giai cấp cầm quyền.

Hệ thống chính trị xuất hiện cùng với sự thống trị của giai cấp nhànước nhằm thực hiện đường lối chính trị của giai cấp cầm quyền Do đó, hệthống chính trị mang bản chất giai cấp Trong chủ nghĩa xã hội, giai cấpcông nhân và nhân dân lao động là chủ thể thực sự của quyền lực, tự mình tổchức và quản lý xã hội, quyết định nội dung hoạt động của hệ thống chính trị

xã hội chủ nghĩa

Hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay bao gồm: Đảng Cộng sản ViệtNam, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Mặt trận Tổ quốcViệt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữViệt Nam, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam,Hội Cựu chiến binh Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội hợp phápkhác được thành lập, hoạt động trên cơ sở liên minh giữa giai cấp công nhânvới giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộngsản Việt nam, thực hiện và bảo đảm đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân

1.1.2- Những quan niệm chung về đói nghèo

Đói nghèo là một hiện tượng kinh tế xã hội mang tính chất toàn cầu

Nó không chỉ tồn tại ở các quốc gia có nền kinh tế kém phát triển, mà nó còn

Trang 4

tồn tại ngay tại các quốc gia có nền kinh tế phát triển Tuy nhiên tuỳ thuộcvào điều kiện tự nhiên, thể chế chính trị xã hội và điều kiện kinh tế của mỗiquốc gia mà tính chất, mức độ nghèo đói của từng quốc gia có khác nhau.Nhìn chung mỗi quốc gia đều sử dụng một khái niệm để xác định mức độnghèo khổ và đưa ra các chỉ số nghèo khổ để xác định giới hạn nghèo khổ.Giới hạn nghèo khổ của các quốc gia được xác định bằng mức thu nhập tốithiểu để người dân có thể tồn tại được, đó là mức thu nhập mà một hộ giađình có thể mua sắm được những vật dụng cơ bản phục vụ cho việc ăn, mặc,

ở và các nhu cầu thiết yếu khác theo mức giá hiện hành

Tại hội nghị bàn về xoá đói giảm nghèo do ESCAP tổ chức tại BăngCốc Thái Lan tháng 9.1993 đã đưa ra khái niệm về nghèo đói như sau: Đóinghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thoả mãnnhững nhu cầu cơ bản của con người đã được xã hội thừa nhận tuỳ theo trình

độ phát triển kinh tế xã hội và phong tục tập quán của các địa phương Theođịnh nghĩa này thì mức độ nghèo đói ở các nước khác nhau là khác nhau.Theo số liêu của ngân hàng thế giới thì hiện nay trên thế giới có khoảng 1,3

tỷ người sống dưới mức nghèo khổ, trong đó phần lớn là phụ nữ và trẻ em

Ở nước ta căn cứ vào tình hình kinh tế xã hội và mức thu nhập củanhân dân trong những năm qua thì khái niệm đói nghèo được xác định nhưsau:

Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư chỉ có những điều kiện thoảmãn những nhu cầu tối thiểu và cơ bản nhất trong cuộc sống và có mức sốngthấp hơn mức sống của cộng đồng xét trên mọi phương diện

Một cách hiểu khác: Nghèo là một bộ phận dân cư có mức sống dướingưỡng quy định của sự nghèo Nhưng ngưỡng nghèo còn phụ thuộc vàođặc điểm cụ thể của từng địa phương, từng thời kỳ cụ thể hay từng giai đoạnphát triển kinh tế xã hội cụ thể của từng địa phương hay từng quốc gia

Trang 5

Ở Việt Nam thì nghèo được chia thành các mức khác nhau: nghèotuyệt đối, nghèo tương đối, nghèo có nhu cầu tối thiểu.

- Nghèo tuyệt đối: Là tình trạng một bộ phận dân cư thuộc diện nghèokhông có khả năng thoả mãn nhu cầu tối thiểu của cuộc sống: ăn, mặc, ở, đilại

- Nghèo tương đối: là tình trạng một bộ phận dân cư thuộc diện nghèo

có mức sống dưới mức sống trung bình của cộng đồng và địa phương đangxét

- Nghèo có nhu cầu tối thiểu: Đây là tình trạng một bộ phận dân cư cónhững đảm bảo tối thiểu để duy trì cuộc sống như đủ ăn, đủ mặc, đủ ở vàmột số sinh hoạt hàng ngày nhưng ở mức tối thiểu

- Khái niệm về hộ đói: Hộ đói là một bộ phận dân cư có mức sốngdưới mức tối thiểu không đủ đảm bảo nhu cầu về vật chất để duy trì cuộcsống hay nói cách khác đó là một bộ phận dân cư hàng năm thiếu ăn, đứtbữa, thường xuyên phải vay nợ và thiếu khả năng trả nợ

- Khái niệm về hộ nghèo: Hộ nghèo là tình trạng của một số hộ giađình chỉ thoả mãn một phần nhu cầu tối thiểu của cuộc sống và có mức sốngthấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng xét trên mọi phương diện

Ngoài ra còn có khái niệm xã nghèo và vùng nghèo

* Xã nghèo là xã có những đặc trưng như sau:

- Tỷ lệ hộ nghèo cao hơn 40% số hộ của xã

- Không có hoặc thiếu rất nhiều những công trình cơ sở hạ tầng như:Điện sinh hoạt, đường giao thông, trường học, trạm ytế và nước sinh hoạt

- Trình độ dân trí thấp, tỷ lệ người mù chữ cao

* Khái niệm về vùng nghèo:

Vùng nghèo là chỉ địa bàn tương đối rộng có thể là một số xã liền kềnhau hoặc một vùng dân cư nằm ở vị trí rất khó khăn hiểm trở, giao thông

Trang 6

không thuận tiện, cơ sở hạ tầng thiếu thốn, không có điều kiện phát triển sảnxuất đảm bảo cuộc sống và là vùng có số hộ nghèo và xã nghèo cao.

1.2- Thực trạng công tác xóa đói giảm nghèo ở nước ta hiện nay

Xóa đói giảm nghèo luôn là một trong những mục tiêu trọng tâmtrong mối quan tâm chung của Đảng, Nhà nước, nhân dân Việt Nam Trongthực tế, hoạt động giảm nghèo đã đạt được những tiến bộ đáng kể nhưng cònkhông ít khó khăn, thách thức cần vượt qua để thực hiện Mục tiêu thiên niên

kỷ của Liên hợp quốc mà Việt Nam đã cam kết

Việt Nam là một trong những nước thành công về quá trình phát triểnkinh tế và giảm nghèo Thành tích của Việt Nam về tăng trưởng kinh tế vàgiảm nghèo trong hai thập niên qua là rất lớn Việt Nam từ một trong nhữngquốc gia nghèo nhất thế giới với thu nhập bình quân đầu người dưới 100 đô

la Mỹ đã trở thành quốc gia có thu nhập trung bình thấp, với thu nhập đầungười 1.200 đô la Mỹ như hiện nay…

Được biết, trong “Báo cáo "Khởi đầu tốt nhưng chưa phải đã hoànthành: Thành tựu ấn tượng của Việt Nam về giảm nghèo và những tháchthức mới" của Ngân hàng thế giới ngày 24/1/2013, cũng ghi nhận: Trongvòng 20 năm (1990-2010), tỷ lệ nghèo ở Việt Nam đã giảm từ gần 60%xuống còn 20,7% với khoảng hơn 30 triệu người thoát nghèo Bên cạnh đó,Việt Nam cũng đạt được thành tựu ấn tượng về giáo dục và y tế Tỷ lệ nhậphọc ở bậc tiểu học của người nghèo là trên 90% và ở bậc trung học cơ sở là70% Trình độ học vấn tăng và sự đa dạng hóa các hoạt động phi nôngnghiệp, cơ hội làm việc ở công trường, nhà máy cũng đóng góp tích cựccho công tác xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam

Không chỉ Ngân hàng thế giới mà nhiều nước và tổ chức quốc tế kháccũng đánh giá cao, coi Việt Nam là "một điểm sáng thành công" trong xóa

Trang 7

đói giảm nghèo Mới đây, tại Italia, Tổ chức Nông Lương Liên hợp quốc(FAO) đã tổ chức "Công nhận thành tích nổi bật trong đấu tranh xóa đóigiảm nghèo" cho 38 quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam Đồng thời,Việt Nam cũng nằm trong nhóm 18 quốc gia được trao bằng khen chứngnhận việc sớm đạt được Mục tiêu Phát triển thiên niên kỷ 1 (MDG 1) -hướng tới mục tiêu giảm một nửa số người bị đói vào năm 2015”[http://soldtbxh.haiduong.gov.vn/cacchinhsach/baotroxahoi/Pages/giam-ngheo-tai-viet-nam-con-nhieu-thach-thuc.aspx]

Có thể khẳng định rằng, công tác xóa đói giảm nghèo tại Việt Nam là

nỗ lực chung của cả hệ thống chính trị, đúng đắn, hợp lòng dân, phù hợp với

xu hướng chung của thế giới Mặc dù kinh tế đất nước còn không ít khókhăn nhưng Đảng, Nhà nước luôn coi công tác giảm nghèo là một trongnhững mục tiêu quan trọng An sinh xã hội và giảm nghèo luôn là một trongnhững lĩnh vực ưu tiên hàng đầu trong hoạt động của Chính phủ những nămqua Những thành tựu có được trong xóa đói giảm nghèo là nhờ nỗ lựcchung của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, trong đó có sự đóng góp khôngnhỏ của các doanh nghiệp, các cơ quan, đoàn thể, tổ chức xã hội và các cánhân

Tỷ lệ đói nghèo ở nước ta đã giảm một cách tích cực “Tính đến năm

2012, đã có 500 nghìn lượt hộ nghèo được hỗ trợ về nhà ở, 542 triệu lượtngười được hỗ trợ bảo hiểm xã hội Điều kiện sống của người nghèo đượccải thiện Tỷ lệ hộ nghèo và các huyện nghèo giảm nhanh, hoàn thành vượtmục tiêu Quốc hội đề ra từ 14,2% (năm 2010) xuống còn 9,6% (năm 2012).Thông qua thực hiện Chương trình 135 giai đoạn II, tỷ lệ hộ nghèo ở các xã,thôn, bản đặc biệt khó khăn giảm từ 47% (năm 2006) xuống còn 28,8%(năm 2010), thu nhập bình quân đầu người là 4,2 triệu đồng/người/năm Tỷ

lệ các xã có đường giao thông cho xe cơ giới từ trung tâm xã đến thôn, bản

Trang 8

lên tới 80,7% 2,2 triệu hộ được hỗ trợ giống cây trồng, vật nuôi; xây dựngđược 6.834 mô hình phát triển nông, lâm, ngư nghiệp Sau gần 4 năm thựchiện, tỷ lệ hộ nghèo ở 62 huyện nghèo theo Nghị quyết 30a đã giảm từ58,33% (năm 2010) xuống còn 43,89% (năm 2012), bình quân giảm trên7%/năm Các địa phương đã hỗ trợ 1.340 lao động ở các huyện nghèo đixuất khẩu lao động, nâng tổng số lao động xuất khẩu lao động qua gần 4năm lên gần 8.500 người Các địa phương còn tổ chức đào tạo nghề cho hơn10.000 lao động nghèo để tạo việc làm tại chỗ, ngoài địa bàn hoặc tham giaxuất khẩu lao động 225 nghìn hộ được vay vốn với tổng số tiền 1.122 tỷđồng với lãi suất ưu đãi để chăn nuôi gia cầm, gia súc, phát triển ngànhnghề ”

[http://soldtbxh.haiduong.gov.vn/cacchinhsach/baotroxahoi/Pages/giam-ngheo-tai-viet-nam-con-nhieu-thach-thuc.aspx]

Trong những năm qua, Đảng, Nhà nước không ngừng bổ sung, hoànthiện hệ thống chính sách về xóa đói giảm nghèo Nhiều nghị quyết, chỉ thị,chiến lược, quyết định, chính sách quan trọng về công tác xóa đói giảmnghèo đã được ban hành để phù hợp với từng thời kỳ phát triển của đấtnước Các chương trình, chính sách giảm nghèo đã huy động sức mạnh, sựvào cuộc của cả hệ thống chính trị, toàn xã hội (các tập đoàn kinh tế, cácdoanh nghiệp, các tổ chức xã hội) và sự vươn lên của chính người nghèo ,tạo nguồn lực to lớn cùng với nguồn lực của Nhà nước thực hiện hiệu quảcông tác có ý nghĩa xã hội sâu sắc này Kết quả tích cực của công cuộc xóađói giảm nghèo đã góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, thực hiện côngbằng xã hội, an sinh xã hội cho người dân vùng đặc biệt khó khăn

Bên cạnh những kết quả đạt được, việc thực hiện Chương trình giảmnghèo bền vững vẫn còn những hạn chế, cần tập trung khắc phục: Tỷ lệ giảmnghèo nhanh nhưng chưa bền vững, khoảng cách giàu - nghèo giữa các

Trang 9

vùng, nhóm dân cư chưa được thu hẹp, nhất là khu vực miền núi phía Bắc vàTây Nguyên Nguyên nhân cơ bản của tình trạng trên là do nhiều cơ chế,chính sách được ban hành còn chồng chéo dẫn đến việc thực hiện phân bổ,hiệu quả sử dụng các nguồn lực chưa cao; nhiều địa phương còn trông chờ, ỷlại vào Nhà nước mà chưa tự lực vươn lên thoát nghèo Bên cạnh đó, một số

cơ chế, chính sách hiện còn bất cập, chưa phù hợp với thực tiễn nhưng việcsửa đổi, bổ sung còn chậm; công tác tuyên truyền, vận động nâng cao nhậnthức về giảm nghèo chưa được tổ chức thường xuyên

“Mục tiêu đến cuối năm 2013, tỷ lệ hộ nghèo cả nước giảm 2%/năm(từ 9,6% xuống còn 7,6%); riêng tỷ lệ hộ nghèo ở các huyện nghèo giảmbình quân 5%/năm (từ 43,89% năm 2012 xuống còn 38,89% năm 2013); đếncuối năm 2015, tỷ lệ hộ nghèo cả nước giảm xuống còn dưới 5% theo chuẩnnghèo hiện hành; tỷ lệ nghèo các huyện còn dưới 30%”

[http://soldtbxh.haiduong.gov.vn/cacchinhsach/baotroxahoi/Pages/giam-ngheo-tai-viet-nam-con-nhieu-thach-thuc.aspx]

2- Vai trò của hệ thống chính trị đôi với công tác xóa đói giảm nghèo ở nước ta hiện nay.

2.1- Quan điểm về công tác xóa đói giảm nghèo

Theo Nghị quyết về Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bềnvững đối với 61 huyện nghèo Số 30a/2008/NQ-CP:

Xóa đói giảm nghèo là chủ trương lớn, nhất quán của Đảng, Nhà nước

và là sự nghiệp của toàn dân Phải huy động nguồn lực của Nhà nước, của xãhội và của người dân để khai thác có hiệu quả tiềm năng, lợi thế của từng địaphương, nhất là sản xuất lâm nghiệp, nông nghiệp để xóa đói giảm nghèo,phát triển kinh tế - xã hội bền vững Cùng với sự đầu tư, hỗ trợ của Nhànước và cộng đồng xã hội, sự nỗ lực phấn đấu vươn lên thoát nghèo của

Trang 10

người nghèo, hộ nghèo là nhân tố quyết định thành công của công cuộc xóađói giảm nghèo.

Công cuộc giảm nghèo nhanh, bền vững đối với các huyện nghèo lànhiệm vụ chính trị trọng tâm hàng đầu, đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp củacấp ủy Đảng, sự chỉ đạo sâu sát, cụ thể và đồng bộ của các cấp chính quyền,

sự phối hợp tích cực của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân; đồngthời, phải phát huy vai trò làm chủ của người dân từ khâu xây dựng kếhoạch, đến tổ chức thực hiện, giám sát, đánh giá hiệu quả của Chương trình

Cùng với việc tiếp tục thực hiện các chính sách giảm nghèo chungtrong cả nước, Trung ương tập trung huy động các nguồn lực để đầu tư, hỗtrợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo Căn cứ vào tinhthần của Nghị quyết này, các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chọnthêm một số huyện nghèo khác trên địa bàn, nhất là các huyện có đồng bàodân tộc thiểu số sống tập trung để huy động nguồn lực của địa phương đầu

tư hỗ trợ các huyện này giảm nghèo nhanh và phát triển bền vững

Mục tiêu nhằm tạo sự chuyển biến nhanh hơn về đời sống vật chất,tinh thần của người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số thuộc các huyệnnghèo, bảo đảm đến năm 2020 ngang bằng các huyện khác trong khu vực

Hỗ trợ phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp bền vững, theo hướng sản xuấthàng hóa, khai thác tốt các thế mạnh của địa phương Xây dựng kết cấu hạtầng kinh tế - xã hội phù với đặc điểm của từng huyện; chuyển đổi cơ cấukinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất có hiệu quả theo quy hoạch; xâydựng xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; dân trí đượcnâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ; bảo đảm vững chắc an ninh,quốc phòng

Mục tiêu cụ thể đến năm 2010 giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống dưới 40%(theo chuẩn nghèo quy định tại Quyết định số 170/2005/QĐ-TTg ngày 8

Trang 11

tháng 7 năm 2005); cơ bản không còn hộ dân ở nhà tạm; cơ bản hoàn thànhviệc giao đất, giao rừng; trợ cấp lương thực cho người dân ở những nơikhông có điều kiện tổ chức sản xuất, khu vực giáp biên giới để bảo đảm đờisống Tạo sự chuyển biến bước đầu trong sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp,kinh tế nông thôn và nâng cao đời sống nhân dân trên cơ sở đẩy mạnh pháttriển nông nghiệp, bảo vệ và phát triển rừng, đẩy mạnh một bước xây dựngkết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn; tăng cường nghiên cứu và chuyểngiao tiến bộ khoa học – kỹ thuật, tạo bước đột phá trong đào tạo nhân lực;triển khai một bước chương trình xây dựng nông thôn mới; tỷ lệ lao độngnông thôn qua đào tạo, tập huấn, huấn luyện đạt trên 25%.

Mục tiêu cụ thể đến năm 2015 giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống mức ngangbằng mức trung bình của tỉnh Tăng cường năng lực cho người dân và cộngđồng để phát huy hiệu quả các công trình cơ sở hạ tầng thiết yếu được đầu

tư, từng bước phát huy lợi thế về địa lý, khai thác hiệu quả tài nguyên thiênnhiên; bước đầu phát triển sản xuất theo hướng sản xuất hàng hóa quy mônhỏ và vừa, người dân tiếp cận được các dịch vụ sản xuất và thị trường tiêuthụ sản phẩm một cách thuận lợi; lao động nông nghiệp còn dưới 60% laođộng xã hội; tỷ lệ lao động nông thôn qua đào tạo, tập huấn, huấn luyện đạttrên 40%

Mục tiêu cụ thể đến năm 2020 giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống mức ngangbằng mức trung bình của khu vực Giải quyết cơ bản vấn đề sản xuất, việclàm, thu nhập để nâng cao đời sống của dân cư ở các huyện nghèo gấp 5 – 6lần so với hiện nay Lao động nông nghiệp còn khoảng 50% lao động xã hội,

tỷ lệ lao động nông thôn qua đào tạo, tập huấn, huấn luyện đạt trên 50%; số

xã đạt tiêu chuẩn nông thôn mới khoảng 50% Phát triển đồng bộ kết cấu hạtầng kinh tế - xã hội nông thôn, trước hết là hệ thống thủy lợi bảo đảm tướitiêu chủ động cho toàn bộ diện tích đất lúa có thể trồng 2 vụ, mở rộng diện

Trang 12

tích tưới cho rau màu, cây công nghiệp; bảo đảm giao thông thông suốt 4mùa tới hầu hết các xã và cơ bản có đường ô tô tới các thôn, bản đã đượcquy hoạch; cung cấp điện sinh hoạt cho hầu hết dân cư; bảo đảm cơ bản điềukiện học tập; chữa bệnh, sinh hoạt văn hóa, tinh thần, giữ gìn bản sắc vănhóa dân tộc.

2.2 – Vai trò của hệ thống chính trị với công tác xóa đói giảm nghèo

Giảm nghèo toàn diện và bền vững luôn được xác định là ưu tiên hàngđầu trong đường lối, chính sách phát triển của Đảng, Nhà nước Việt Nam.Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội giai đoạn 2011-2020 được Đại hội ĐảngCộng sản Việt Nam lần thứ XI thông qua tháng 1/2011 với mục tiêu tổngquát: Phấn đấu đến năm 2020 cơ bản trở thành nước công nghiệp theohướng hiện đại, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng lên

rõ rệt, tạo tiền đề vững chắc để phát triển cao hơn trong giai đoạn sau Do

đó, các chương trình và chính sách giảm nghèo của Chính phủ đã được xâydựng tập trung trên ba chiến lược chính:

Thúc đẩy các hoạt động sản xuất và sinh kế để tăng thu nhập chongười nghèo, tăng cường khả năng tiếp cận của người nghèo đến các dịch vụ

xã hội, tăng cường năng lực và nâng cao nhận thức của người dân

Trang 13

Những chiến lược này được hiện thực hóa bằng các chương trình quốcgia hỗ trợ giảm nghèo và phát triển xã hội, trong đó tập trung vào 5 nhómchính sách: Tín dụng, phát triển sản xuất nông nghiệp, cơ sở hạ tầng, giáodục và y tế Nhờ đó, người nghèo được tiếp cận với các nguồn lực (vốn, đấtsản xuất, công nghệ, thị trường) và các dịch vụ xã hội cơ bản.

Tính đến năm 2010, có hơn 77% người nghèo được hưởng lợi từ cácchương trình và chính sách hỗ trợ của Chính phủ, cho thấy mức độ phổ cậpchính sách rộng khắp trên cả nước

2.2.2- Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Với vai trò là trung tâm đoàn kết, tập hợp các lực lượng, Mặt trận Tổquốc các cấp đã giúp các địa phương thực hiện hoàn thành nhiều phong trào,mục tiêu quan trọng, góp phần phát triển kinh tế, xóa đói, giảm nghèo

Mặt trận Tổ quốc là tổ chức đoàn thể, cầu nối giữa Đảng với quầnchúng nhân dân đã phát huy có hiệu quả vai trò của mình, góp phần tích cựcvào chương trình “Xóa đói giảm nghèo” và đảm bảo an sinh xã hội Ủy BanTrung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam chủ trì, phối hợp với các tổ chứcthành viên chỉ đạo các cấp hội cơ sở tổ chức tốt công tác tuyên truyền, vậnđộng hội viên và toàn dân hưởng ứng, tham gia các cuộc vận động hỗ trợgiúp đỡ các huyện nghèo, giảm nghèo nhanh và bền vững như phong tràongày vì người nghèo, phong trào toàn dân xây dựng đời sống văn hóa khudân cư …, xây dựng nông thôn mới; động viên, khích lệ tính tự chủ củangười dân vươn lên thoát nghèo

2.3 – Tổ chức thực hiện công tác xóa đói giảm nghèo

2.3.1 – Các Bộ, Cơ quan Trung ương

1 Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội là cơ quan thường trực cácChương trình giảm nghèo, chủ trì, phối hợp với các Bộ liên quan tổ chứcthực hiện, theo dõi, đánh giá hiệu quả của Chương trình; xây dựng đề án

Ngày đăng: 12/12/2016, 23:17

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w