1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tiểu luận cao học mối quan hệ biện chứng giũa môi trường và các nhân tố sinh thái, từ đó rút ra ý nghĩa triết học của vấn đề này

14 1,1K 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 83,76 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI NÓI ĐẦU Hàng ngày trên các phương tiện thông tin truyền thông đã nói lên khá nhiều về cuộc sống xung quang ta. Và chắc chắn những thông tin về tắc đường, những con số nói về lượng khí thải, khói bụi trên các địa phương cũng được nhắc đến. Những thông tin đó cũng đủ để người nghe nhận ra tình hình môi trường xung quanh mình như thế nào. Và cũng thêm một vài thông tin nữa về tình trạng chặt phá rừng, đốt nương làm rẫy… là chúng ta có thể tưởng tượng được môi trường sinh thái của con người đang bị đe dọa như thế nào. Một khía cạnh khác về tình hình của đất nước ta trong giai đoạn hiện nay đó là đất nước ta đang trong đà đi lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa. Công cuộc công nghiệp hóa – hiện đại hóa đang diễn ra trên đất nước ta. Chúng ta đều biết rằng mục tiêu phát triển chung của xã hội loài người mà hiện nay nhiều nước đang hướng tới là đạt được sự phồn thịnh về kinh tế, tiến bộ về xã hội và sự trong sạch về môi trường sinh thái. Các mục tiêu đó gắn bó chặt chẽ với nhau tạo thành nền tảng cho sự phát triển bền vững của xã hội. sự phát triển lâu bền đó được hiểu là sự phát triển không chỉ vì thế hệ hiện tại mà còn vì các thế hệ mai sau. Vấn đề này mới được đặt ra trong những năm gần đây nhưng được coi là vấn đề hết sức cấp thiết xuất phát từ chính những gì loài người cho là thành tựu to lớn của sự phát triển xã hội như sự tăng trưởng nhanh của các nền kinh tế, sự phát triển của những khoa học và công nghệ. Cùng với quá trình công nghiệp hóa ồ ạt ở các nước phát triển… đã và đang ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường tự nhiên – ngôi nhà chung của xã hội loài người. Rõ ràng là để phát triển kinh tế nhất thiết phải tiến hành công nghiệp hóa. Tốc đọ tăng trưởng của kinh tế tỷ lệ với tốc độ phát triển của công nghiệp hóa, của khoa học và công nghệ. Song cũng tồn tại mọt thực tế là cùng với sự phát triển của công nghiệp hóa lại là sự suy thoái của môi trường tự nhiên. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để dung hòa giữa môi trường tự nhiên và xã hội, để có thể phát triển kinh tế mà vẫn đảm bảo được các yếu tố môi trường. Xuất phát từ thực tế trên cũng như nhận thức được tần quan trọng của yếu tố môi trường trong công cuộc công nghiệp hóa – hiện đại hóa ở Việt Nam tôi đã lựa chọn đề tài: “Mối quan hệ biện chứng giũa môi trường và các nhân tố sinh thái, từ đó rút ra ý nghĩa triết học của vấn đề này”.

Trang 1

LỜI NÓI ĐẦU

Hàng ngày trên các phương tiện thông tin truyền thông đã nói lên khá nhiều về cuộc sống xung quang ta Và chắc chắn những thông tin về tắc đường, những con số nói về lượng khí thải, khói bụi trên các địa phương cũng được nhắc đến Những thông tin đó cũng đủ để người nghe nhận ra tình hình môi trường xung quanh mình như thế nào Và cũng thêm một vài thông tin nữa về tình trạng chặt phá rừng, đốt nương làm rẫy… là chúng ta có thể tưởng tượng được môi trường sinh thái của con người đang bị đe dọa như thế nào

Một khía cạnh khác về tình hình của đất nước ta trong giai đoạn hiện nay

đó là đất nước ta đang trong đà đi lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa Công cuộc công nghiệp hóa – hiện đại hóa đang diễn ra trên đất nước ta

Chúng ta đều biết rằng mục tiêu phát triển chung của xã hội loài người mà hiện nay nhiều nước đang hướng tới là đạt được sự phồn thịnh về kinh tế, tiến bộ

về xã hội và sự trong sạch về môi trường sinh thái Các mục tiêu đó gắn bó chặt chẽ với nhau tạo thành nền tảng cho sự phát triển bền vững của xã hội sự phát triển lâu bền đó được hiểu là sự phát triển không chỉ vì thế hệ hiện tại mà còn vì các thế hệ mai sau Vấn đề này mới được đặt ra trong những năm gần đây nhưng được coi là vấn đề hết sức cấp thiết xuất phát từ chính những gì loài người cho là thành tựu to lớn của sự phát triển xã hội như sự tăng trưởng nhanh của các nền kinh tế, sự phát triển của những khoa học và công nghệ Cùng với quá trình công nghiệp hóa ồ ạt ở

Trang 2

các nước phát triển… đã và đang ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường tự nhiên – ngôi nhà chung của xã hội loài người

Rõ ràng là để phát triển kinh tế nhất thiết phải tiến hành công nghiệp hóa Tốc đọ tăng trưởng của kinh tế tỷ lệ với tốc độ phát triển của công nghiệp hóa, của khoa học và công nghệ Song cũng tồn tại mọt thực tế là cùng với sự phát triển của công nghiệp hóa lại là sự suy thoái của môi trường tự nhiên Vấn đề đặt ra là làm thế nào để dung hòa giữa môi trường tự nhiên và xã hội, để có thể phát triển kinh

tế mà vẫn đảm bảo được các yếu tố môi trường

Xuất phát từ thực tế trên cũng như nhận thức được tần quan trọng của yếu

tố môi trường trong công cuộc công nghiệp hóa – hiện đại hóa ở Việt Nam tôi đã

lựa chọn đề tài: “Mối quan hệ biện chứng giũa môi trường và các nhân tố sinh thái, từ đó rút ra ý nghĩa triết học của vấn đề này”.

Trang 3

NỘI DUNG

I Mối quan hệ biện chứng giữa môi trường và các nhân tố sinh thái

1 Một số khái niệm.

1.1 Môi trường là gì

(ảnh minh họa)

Môi trường là tập hợp bao gồm tất cả những yếu tố tự nhiên (vật lý, hóa học, sinh học) và các yếu tố xã hội có liên quan mật thiết với nhau đang bao quanh con người, có ảnh hưởng và tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến sự tồn tại và phát triển của sinh vật như tài nguyên thiên nhiên, ánh sáng, cảnh quan, không khí, nước, độ ẩm…

Đối với con người gồm tất cả những yếu tố tự nhiên (vật lý, hóa học, sinh học) và các yếu tố kinh tế - xã hội tác động đến sự tồn tại và phát triển của con người và xã hội loài người

Trang 4

Nói chung, môi trường là tất cả mọi thứ xung quang chúng ta, giúp chúng

ta có cơ sở để tồn tại và phát triển

Như thế, môi trường là nơi sống của sinh vật, ở sinh vật sinh trưởng và phát triển thường xuyên: nơi sống của sinh vật được hiểu là một vùng đất, một khoảng không gian và bao gồm cả các sinh vật khác sống xung quanh Thức ăn, chỗ ở mà sinh vật sử dụng để duy trì sự sống được gọi là nguồn sống của sinh vật trong môi trường

1.2 Nhân tố sinh thái

1.2.1 Khái niệm

Nhân tố sinh thái bao gồm tất cả các yếu tố cấu trúc nên môi trường (Đất, nước, khí, sinh vật) tác động đồng thời (cùng một lúc) lên sinh vật có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến sự tồn tại và phát triển của sinh vật trong sinh quyển

Các nhân tố cấu trúc nên môi trường (vô sinh và hữu sinh) tác động cùng một lúc lên sinh vật được gọi là nhân tố sinh thái Nếu xét tác động của các nhân tố sinh thái lên đời sống của một sinh vật cụ thể gọi là yếu tố sinh thái

Ví dụ: các nhân tố cấu trúc nên môi trường như vô sinh(đất, nước, khí), hữu sinh (sinh vật) và con người gọi là nhân tố sinh thái các yếu tố môi trường cụ thể như: ánh sáng, nhiệt độ, độ ẩm không khí, gió, đất, nước, đá, thức ăn, sinh vật… tác động lên đời sống của một sinh vật cụ thể gọi là yếu tố sinh thái

Điều chắc chắn rằng, trong môi trường các nhân tố sinh thái không bao giờ tác động riêng lẻ lên sinh vật mà tất cả các nhân tố sinh thái luôn tác động tổng hợp và gắn bó chặt chẽ với nhau tạo thành tổ hợp sinh thái sinh vật muốn tồn tại được phải thích nghi tương ứng với các nhân tố sinh thái

2 các nhóm nhân tố sinh thái

Nhóm nhân tố sinh thái vô sinh (không sống): là các nhân tố vật lý và

hóa học của môi trường xung quanh sinh vật bao gồm:

Nhân tố khí hậu: ánh sáng, khí hậu, nhiệt độ, độ ẩm không khí, mưa, gió…

Trang 5

Thổ nhưỡng: đất, đá, các thành phần cơ giới và tính chất lý hóa của đất Nước: nước mưa, nước biển, nước ao, hồ, sông, suối

Địa hình: độ cao, đọ dốc, độ trũng, hướng phơi của địa hình

Nhóm nhân tố sinh thái hữu sinh: là thế giới hữu cơ của môi trường, là

những mối quan hệ giữa sinh vật này và sinh vật khác sống xung quanh

Nhóm nhân tố sinh thái hữu sinh gồm các cơ thể sống như vi sinh vật, nấm, thực vật, động vật nhóm nhân tố sinh thái hữu sinh có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến các cơ thể sống khác ở xung quanh trong mối quan hệ cùng loài hay

khác loài Nhóm nhân tố sinh thái này là thế giớ hữu cơ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với môi trường

Quan hệ giữa sinh vật và môi trường là mối quan hệ qua lại môi trường tác động lên sinh vật, đồng thời sinh vật cũng ảnh hưởng đến các nhân tố sinh thái, làm thay đổi tính chất của các nhân tố sinh thái

Nhóm nhân tố sinh thái con người

Nhóm nhân tố con người được tách ra thành nhân tố độc lập bởi vì,

- Thứ nhất là con người tác động vào tự nhiên được xác định bởi nhân

tố xã hội mà trước hết là chế độ xã hội, còn đặc trưng tác động của động thực vật mang đặc điểm sinh vật

- Thứ hai là con người tác động vào tự nhiên có ý thức và thứ ba là quy

mô tác động của động vật và thực vật không thể so sánh được với quy mô tác động của con người nhất là trong điều kiện tiến bộ của khoa học - kỹ thuật

- Hoạt động của con người khác với hoạt động của các động vật khác

Vì con người  tác động có ý thức vào môi trường có trí tuệ và làm thay đổi môi trường

Trang 6

Con người là dạng vật chất đặc biệt có tổ chức cao, hoạt động của con người là hoạt động có ý thức, con người có thể nhận thức được các quy luật của tự nhiên và vận dụng các quy luật đó một cách sáng tạo, chính xác để phục vụ cho lời ích của mình Hoạt động của con người cố thể làm cho môi trường phong

phú hơn, giàu có hơn, nhưng cũng có thể làm thay đổi hẳn cả môi trường một khi môi trường thay đổi theo hướng ngược lại thì tác động của con người làm cho môi trường bị phá hủy, bị ô nhiễm không những ảnh hưởng xấu đến các sinh vật khác mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng cuộc soongs của chính bản thân con người cho nên, khác với các động vật khác, tác động cảu con người vào môi trường không chỉ là yếu tố tự nhiên thuần túy (như lấy thức ăn,thải chất bã vào môi trường) mafconf cả yếu tố xã hội nhân văn

Trong môi trường, tất cả các nhân tố sinh thái tác động tổng hợp gắn bó chặt chẽ và thống nhất với nhau tạo thành tổ hợp sinh thái sinh vật muốn tồn tại được trong môi trường phải thích nghi tương ứng với các nhân tố sinh thái

2.1 Phương pháp biện chứng là gì?

Phương pháp biện chứng là phương pháp xem xét các sự vật hiện tượng trong mối liên hệ phổ biến, trong sự vận động và phát triển không ngừng

Nó bao gồm hệ thống các nguyên tắc hướng dẫn, điều chỉnh hoạt động nhận thức và hoạt động cải tạo thế giới hiện thực của con người xuất phát từ lý luận biện chứng

3 Sự thống nhất biện chứng giữa môi trường và các nhân tố sinh thái 3.1 tính thống nhất của các nhân tố sinh thái trong môi trường

các nhóm nhân tố sinh thái bao gồm: Nhóm nhân tố sinh thái vô sinh, hữu sinh, và con người trong môi trường các nhóm nhân tố sinh thái là thống

Trang 7

nhất; tính thống nhất của các nhóm nhân tố sinh thái được biểu hiện rất đậm

nét ở sự giống nhau: về các nhân tố hóa học cấu tạo nên các nhóm nhân tố sinh thái

vô sinh, hữu sinh và con người

Bảng tính thống nhất về cấu tạo và các thành phần hóa học của nhân tố sinh

thái vô sinh, hữu sinh (động vật) và con người (% khối lượng cơ thể)

Nhân tố sinh thái vô sinh (nguyên tố hóa

học)

Nhân tố con người

Nhân tố hữu sinh

Nguyên tố đa lượng (C: 18,3; H: 10; O: 65;

N: 2,7)

Nguyên tố khác: Ca, P, K, S, Na, Mg, Fe,

Cl, Si

95,7 3,82

60 – 70 1,9 – 3,0

Nguyên tố vi lượng, siêu vi lượng (Ba, Br,

Cd, Co, Cu, Mo, Mn, Zn, B, Hg, I, Ni, Pb, Ra, Cr,

Ag, Au)

0,46

26: vi lượng,

vi khuẩn, nấm, tảo, đơn vị hiển vi

Muối khoáng, hoocmon và các chất khác 0,1 – 0,2

Nguồn: theo V.I Perenman (1972) *Hàm lượng nước ở nước ngoài được

xác định bằng phương pháp nguyên tử đánh đấu

Số liệu thu được ở bảng trên cho thấy, các nhóm nhân tố sinh thái trong môi

Trang 8

trường được cấu tạo từ những nguyên tố hóa học giống nhau Sự thống nhất của các nhóm nhân tố sinh thái (cả vô sinh và hữu sinh) được thể hiện ở chỗ: bản chất của chúng là đều được cấu tạo từ các nguyên tố hóa học, đặc biệt hàm lường các nguyên tố đa lượng, vi lượng và siêu vi lượng cấu tạo nên cơ thể người và động vật về sơ bản là gần như nhau và được biểu hiện:

trong cơ thể sinh vật:

Hàm lượng nước trung bình trong sinh vật là 80%, (trong thực vật lớn hơn 80%, ở động vật nhỏ hơn 80%, ở cơ thể người trung bình là 72,5%)

- nguyên tố đa lượng C, H, O, N trong sinh vật chứa từ 60 – 70%

- các nguyên tố khác: Ca, P, K, S, Na, Mg, Fe, Cl chứa từ 1,9 – 3,0%

- Còn lại là 60 nguyên tố vi lượng, vitamin và muối khoáng

Trong cơ thể người:

- Hàm lượng các nguyên tố hóa học C, H, O, N chiếm 96%

- Các nguyên tố đa lượng: Ca, P, K, S, Na, Mg, Fe, Cl, Si chiếm 3,82%

- Còn lại hơn 60 nguyên tố vi lượng, vitamin, hoocmon và muối khoáng chỉ chiếm 0,18%

Số liệu sinh động trên có thể khẳng định rằng: Trong môi trường, các nhóm nhân tố sinh thái (vô sinh (không sống)), (hữu sinh (sống)) và kể cả con người là những dạng khác nhau của thế giới vật chất nhưng lại thống nhất với nhau ở tính vật chất vốn có của nó trong tự nhiên Sự thống nhất của các nhân tố sinh thái (trong đó có nhân tố con người) là dẫn hiệu khoa học sinh động chứng minh tính thống nhất vật chất của thế giới trong tự nhiên

3.2 Mối quan hệ biện chứng của các nhóm nhân tố sinh thái

Các nhóm nhân tố sinh thái vừa tồn tại độc lập, không phụ thuộc vào ý thức con người, vừa quy định lẫn nhau và hơn thế nữa giữa chúng có mối liên hệ gắn bó hữu cơ, chằng chịt lẫn nhau, tác động qua lại lẫn nhau Sự tác động

Trang 9

tổng hợp của các nhóm nhân tố sinh thái đã tạo nên một môi trường sống đa dạng và phong phú trong tự nhiên, trong đó con người là một nhân tố sinh thái quan trọng, là thành phần đặc biệt đã được tách ra một cách hợp quy luật của

tự nhiên Và ngược lại sinh vật muốn tồn tại và phát triển trong môi trường đều phải tuân theo một cách nghiêm ngặt các nguyên lý, quy luật tác động của các nhân

tố sinh thái lên sinh vật (gọi là các quy luật sinh thái)

4 Ý nghĩa triết học

Nghiên cứu sự vận động, biến đổi và phụ thuộc của mối quan hệ biện chứng giữa tự nhiên con người và xã hội vào trình đọ phát triển của nền sản xuất xã hội rút ra một số ý nghĩa phương pháp luận như sau:

Khi giải quyết mối quan hệ biện chứng giữa con người với tự nhiên, con người phải đứng trên quan điểm lịch sử cụ thể Trong tiễn trong giải quyết các mối quan hệ qua lại và sự tác động lẫn nhau giữa con người với tự nhiên phải căn

cứ vào trình độ phát triển kinh tế xã hội, đặc biệt là trình độ phát triển của lực lượng sản xuất phải phù hợp với quan hệ sản xuất

Con người là nhân tố co ý thức duy nhất, chủ thể tích cực trong việc điểu khiển một cách tự giác các mối quan hệ giữa con người xã hội và tự nhiên cần phải nhận thức cho được những quy luật tồn tại và phát triển cảu giới tự nhiên và phải biết vận dụng một cách đúng đắn, chính xác và tự giác những quy luật đó vào hoạt động thực tiễn của xã hội

Xã hội loài người hiện nay muốn thỏa mãn được nhu cầu về vật chất cũng như tinh thần cảu mình nhưng không làm tổn hại đến thế hệ mai sau,

thì không có giải pháp nào khác ngoài việc phải điểu khiển một cách hài hòa mối quan hệ biện chứng giữa tự nhiên, con người và xã hội Nghĩa là nguồn phát triển xã hội bền vững phải giải quyết cho được mối quan hệ giữa con người với tự nhiên và giữa con người với con người cụ thể là phải giải quyết cho được mối quân

Trang 10

hệ biện chứng giữa sự phát triển của nền sản xuất xã hội với chiến lược phát triển bền vững

Như vậy về bản chất các nhân tố sinh thái trong môi trường là những dạng khác nhau (cấu trúc và chức năng) của vật chất, nhưng chúng lại thống nhất với nhau đó là đều được cấu tạo từ các nguyên tố hóa học; giữa chúng có mối quan

hệ chằng chịt và tác động qua lại lẫn nhau và tuân theo cac quy luật về sự vận động

và phát triển của hệ sinh thái trong sinh quyển sự thống nhất của các nhân tố sinh thái là dẫn liệu có căn cứ khoa học, là cơ sở tự nhiên chứng minh cho tính thống nhất vật chất của thế giới trong tự nhiên và mọi sự vật hiện tượng trong thế giới luôn vận động và phát triển – cơ sở của mối liên hệ và sự phát triển trong triết học Mác – Lênin

II Vấn đề tài nguyên môi trường ở tỉnh Ninh Bình hiện nay

1 Thực trạng vấn đề tài nguyên – môi trường ở tỉnh Ninh Bình hiện nay

Vấn đề môi trương sinh thái ở Ninh Bình hiện nay có nhiều vấn dề cấp bách xảy ra:

sự cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên và nạn ô nhiễm môi trường sống và đã xuất hiện

tự nhiên tác động trở lại con người bằng thảm họa sinh thái

Nguồn tài nguyên ngày cang cạn kiệt là hậu quả nghiêm trọng do tác động của con người đã trở thành vấn nạn và đang là vấn đề nhức nhối trong xã hội công nghiệp

và trên thực tế đã làm giảm chất lượng cuộc sống của người dân

Những năm gần đây, kinh tế - xã hội của tỉnh có bước phát triển nhanh theo hướng CNH-HĐH Tuy nhiên sự phát triển kinh tế - xã hội với nhiều khu công nghiệp – cụm công nghiệp (KCN- CCN) gây hậu quả xấu cho môi trường nói chung và sông Đáy nói riêng Chất lượng nước sông bị suy thoái ở một số nơi, nhất là tại nhiều đoạn chảy qua đô thị, làng nghề, khu công nghiệp Bảo vệ môi

Trang 11

trường lưu vực sông đang đứng trước nhiều thách thức giữa yêu cầu bảo vệ môi trường với lợi ích kinh tế trước mắt, giữa cơ sở hạ tầng, kỹ thuật bảo vệ môi trường còn lạc hậu với khối lượng nước thải từ các KCN-CCN, làng nghề xả vào môi trường ngày càng tăng

Trên địa bàn tỉnh hiện có 21 nhà máy sản xuất gạch với tổng công suất 665 triệu viên/năm Trong quá trình sản xuất mặc dù các nhà máy có ý thức bảo vệ môi trường song khói bụi vẫn chưa được kiểm soát triệt để, gây bức xúc trong nhân dân Thêm nữa, bảy nhà máy sản xuất xi măng, 83 đơn vị đang khai thác khoáng sản, tại 90 điểm mỏ khai thác, trong đó 52 điểm mỏ lập dự án cải tạo, phục hồi môi trường, 61 điểm mỏ ký quỹ cải tạo phục hồi môi trường Các doanh nghiệp cơ bản thực hiện được một số biện pháp giảm ô nhiễm song vẫn còn tình trạng đất đá rơi vãi trên đường, trước khi ra khỏi nơi khai thác chưa vệ sinh bánh lốp, gầm xe, còn có hiện tượng chạy quá tốc độ, chở quá trọng tải, che chắn bạt không kín gây ra bụi bặm và nhanh làm hỏng đường, khiến người dân bất bình

Trong khi đó, làng nghề ở Ninh Bình ngoài vai trò tạo việc làm và phát triển kinh tế địa phương, vẫn còn nhiều bất cập trong quy hoạch cũng như xử

lý nước thải 75 làng nghề thủ công có từ lâu đời, nhưng chưa xây dựng giải pháp bảo vệ môi trường gây ô nhiễm nhất là bụi, tiếng ồn, nước thải

Không chỉ môi trường ở thành phố, thị xã trong tỉnh Ninh Bình bị ô nhiễm, ngay cả khu vực nông thôn vốn trước đây được coi là “sạch” thì nay cũng đang báo động đỏ về tình trạng ô nhiễm nguồn nước và không khí Theo số liệu thống kê, lượng rác thải sinh hoạt khu vực nông thôn Ninh Bình khoảng 182 tấn/ngày Rác được thu gom, tập kết tại chân núi hoặc bãi rác của xã để đốt hoặc chôn lấp Tuy nhiên kinh phí hạn hẹp khiến mô hình thu gom rác tập trung thường chiếm tỷ lệ thấp và chưa thường xuyên

Điều lo ngại hiện nay là bảy Khu công nghiệp được thành lập trên địa bàn tỉnh trong đó ba KCN đi vào hoạt động gồm: KCN Gián Khẩu, KCN Tam

Ngày đăng: 12/12/2016, 22:51

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng tính thống nhất về cấu tạo và các thành phần hóa học của nhân tố sinh - tiểu luận cao học  mối quan hệ biện chứng giũa môi trường và các nhân tố sinh thái, từ đó rút ra ý nghĩa triết học của vấn đề này
Bảng t ính thống nhất về cấu tạo và các thành phần hóa học của nhân tố sinh (Trang 7)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w