MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN BỘ MÔN PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY TRONG CÁC TRƯỜNG/ KHOA ĐẠI HỌC SƯ PHẠM .... Tổ chức nghiên cứu, thảo luận trong cán bộ quản lý các trường/khoa
Trang 1THÁI HUY BẢO
PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN
BỘ MÔN PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY
TRONG CÁC TRƯỜNG/KHOA
ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
NGHỆ AN
Trang 2THÁI HUY BẢO
PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN
BỘ MÔN PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và kết quả nêu trong luận án này chƣa từng đƣợc ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Thái Huy Bảo
Trang 4MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN i
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN vii
DANH MỤC CÁC BẢNG ix
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, BIỂU ĐỒ x
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 2
4 Giả thuyết khoa học 2
5 Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu 2
6 Quan điểm tiếp cận và phương pháp nghiên cứu 3
7 Những luận điểm cần bảo vệ của luận án 5
8 Đóng góp của luận án 6
9 Cấu trúc của luận án 6
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN BỘ MÔN PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY TRONG CÁC TRƯỜNG/KHOA ĐẠI HỌC SƯ PHẠM 7
1.1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ 7
1.1.1 Những nghiên cứu về phát triển đội ngũ giảng viên 7
1.1.2 Những nghiên cứu về phát triển đội ngũ giảng viên bộ môn phương pháp giảng dạy trong các trường/khoa ĐHSP 15
1.2 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN CỦA ĐỀ TÀI 20
1.2.1 Giảng viên và giảng viên bộ môn phương pháp giảng dạy 20
1.2.2 Đội ngũ và đội ngũ giảng viên bộ môn phương pháp giảng dạy 22
1.2.3 Phát triển và phát triển đội ngũ giảng viên bộ môn phương pháp giảng dạy 22
1.3 GIẢNG VIÊN BỘ MÔN PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY TRONG CÁC TRƯỜNG/KHOA ĐẠI HỌC SƯ PHẠM 24
Trang 51.3.1 Vai trò của giảng viên bộ môn phương pháp giảng dạy trong các
trường/khoa Đại học sư phạm 241.3.2 Đặc trưng lao động sư phạm của giảng viên bộ môn phương pháp
giảng dạy 291.3.3 Mô hình nhân cách giảng viên bộ môn phương pháp giảng dạy trong
các trường/khoa Đại học sư phạm 351.3.4 Những thách thức đối với giảng viên bộ môn phương pháp giảng dạy
trước yêu cầu chuẩn hóa 451.4 MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN BỘ
MÔN PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY TRONG CÁC TRƯỜNG/
KHOA ĐẠI HỌC SƯ PHẠM 461.4.1 Sự cần thiết phải phát triển đội ngũ giảng viên bộ môn phương pháp
giảng dạy trong các trường/khoa Đại học sư phạm 461.4.2 Một số định hướng (cách tiếp cận) phát triển đội ngũ giảng viên bộ
môn phương pháp giảng dạy trong các trường/khoa Đại học sư phạm 521.4.3 Nội dung phát triển đội ngũ giảng viên bộ môn phương pháp giảng dạy
trong các trường/khoa Đại học sư phạm 531.4.4 Chủ thể quản lý phát triển đội ngũ giảng viên bộ môn phương pháp
giảng dạy trong các trường/khoa Đại học sư phạm 561.4.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển đội ngũ giảng viên bộ môn
phương pháp giảng dạy trong các trường/khoa Đại học sư phạm 58KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 64
Chương 2 CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN BỘ MÔN PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY TRONG CÁC
TRƯỜNG/KHOA ĐẠI HỌC SƯ PHẠM 66
2.1 TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN NGÀNH SƯ PHẠM VÀ CÁC TRƯỜNG/
KHOA SƯ PHẠM Ở NƯỚC TA HIỆN NAY 662.1.1 Những kết quả đạt được 662.1.2 Những hạn chế và bất cập 72
Trang 62.2 THỰC TRẠNG ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN BỘ MÔN PHƯƠNG PHÁP
GIẢNG DẠY TRONG CÁC TRƯỜNG/KHOA ĐẠI HỌC SƯ PHẠM 732.2.1 Giới thiệu việc tổ chức khảo sát thực trạng đội ngũ giảng viên bộ môn
phương pháp giảng dạy trong các trường/khoa ĐHSP 732.2.2 Thực trạng đội ngũ giảng viên bộ môn phương pháp giảng dạy trong
các trường/khoa Đại học Sư phạm 762.3 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN
BỘ MÔN PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY TRONG CÁC TRƯỜNG/
KHOA ĐẠI HỌC SƯ PHẠM 1002.3.1 Nâng cao nhận thức cho cán bộ quản lý về phát triển đội ngũ giảng viên
bộ môn phương pháp giảng dạy trong các trường/khoa Đại học sư phạm 1022.3.2 Xây dựng quy hoạch và tuyển dụng đội ngũ giảng viên bộ môn phương
pháp giảng dạy 1032.3.3 Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giảng viên bộ môn phương pháp giảng dạy 1042.3.4 Tổ chức cho giảng viên bộ môn phương pháp giảng dạy nghiên cứu và
ứng dụng Khoa học giáo dục 1062.3.5 Tổ chức cho giảng viên bộ môn phương pháp giảng dạy thâm nhập
thực tế phổ thông 1072.3.6 Đánh giá giảng viên bộ môn phương pháp giảng dạy 1072.3.7 Có chính sách và môi trường thuận lợi để giảng viên bộ môn phương
pháp giảng dạy phát huy tốt vai trò của mình 1082.3.8 Đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong đào tạo và nâng cao chất lượng đội
ngũ giảng viên bộ môn phương pháp giảng dạy 1092.4 THỰC TRẠNG CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ PHÁT
TRIỂN ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN BỘ MÔN PHƯƠNG PHÁP GIẢNG
DẠY TRONG CÁC TRƯỜNG/KHOA ĐẠI HỌC SƯ PHẠM 1092.5 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN BỘ MÔN
PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY VÀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ
GIẢNG VIÊN BỘ MÔN PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY TRONG
CÁC TRƯỜNG/KHOA ĐẠI HỌC SƯ PHẠM 111
Trang 72.5.1 Mặt mạnh 111
2.5.2 Mặt hạn chế, thiếu sót 112
2.5.3 Nguyên nhân 113
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 114
Chương 3 CÁC GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN BỘ MÔN PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY TRONG CÁC TRƯỜNG/ KHOA ĐẠI HỌC SƯ PHẠM 115
3.1 NGUYÊN TẮC ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP 115
3.1.1 Bảo đảm tính mục tiêu 115
3.1.2 Bảo đảm tính thực tiễn 115
3.1.3 Bảo đảm tính hệ thống 115
3.1.4 Bảo đảm tính khả thi 115
3.2 CÁC GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN BỘ MÔN PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY TRONG CÁC TRƯỜNG/KHOA ĐẠI HỌC SƯ PHẠM 116
3.2.1 Tổ chức nghiên cứu, thảo luận trong cán bộ quản lý các trường/khoa Đại học sư phạm về vai trò và sự cần thiết phải phát triển đội ngũ giảng viên bộ môn phương pháp giảng dạy 116
3.2.2 Thực hiện công tác quy hoạch, tuyển chọn và đào tạo đội ngũ giảng viên bộ môn phương pháp giảng dạy trong các trường/khoa Đại học sư phạm 119
3.2.3 Xây dựng bộ tiêu chuẩn năng lực nghề nghiệp và xác định các chuẩn phấn đấu của giảng viên bộ môn phương pháp giảng dạy trong các trường/khoa Đại học sư phạm 124
3.2.4 Bồi dưỡng nâng cao năng lực sư phạm cho đội ngũ giảng viên bộ môn phương pháp giảng dạy, đáp ứng yêu cầu phát triển ngành sư phạm và các trường sư phạm 136
3.2.5 Tạo động lực làm việc để phát huy vai trò của ĐNGV bộ môn PPGD trong các trường/khoa ĐHSP 140
Trang 83.3 KHẢO SÁT SỰ CẤP THIẾT VÀ TÍNH KHẢ THI CỦA CÁC GIẢI
PHÁP ĐỀ XUẤT 145
3.3.1 Mục đích khảo sát 145
3.3.2 Nội dung và phương pháp khảo sát 145
3.3.3 Đối tượng khảo sát 146
3.3.4 Kết quả khảo sát về sự cấp thiết và tính khả thi của các giải pháp đã đề xuất 146
3.4 THỰC NGHIỆM 150
3.4.1 Tổ chức thực nghiệm 150
3.4.2 Phân tích kết quả thực nghiệm 154
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 166
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 167
1 Kết luận 167
2 Kiến nghị 168
CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ 169
TÀI LIỆU THAM KHẢO 170
PHỤ LỤC NGHIÊN CỨU 179
Trang 9DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN
Trang 11DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang Bảng 2.1 Thống kê số phiếu hỏi khảo sát thực trạng ĐNGV và phát
triển ĐNGV trong các trường/khoa ĐHSP (Từ tháng 4 đến
tháng 8/2012) 75
Bảng 2.2 Thống kê số lượng ngành đào tạo giáo viên THPT của các trường/khoa ĐHSP 76
Bảng 2.3 Thống kê số lượng GV bộ môn PPGD theo ngành đào tạo ở các trường khoa ĐHSP theo ngành đào tạo 79
Bảng 2.4 Thống kê tỉ lệ bộ môn PPGD/ngành đào tạo SP ở các trường khoa ĐHSP 81
Bảng 2.5 Thống kê cơ cấu ĐNGV bộ môn PPGD theo độ tuổi 83
Bảng 2.6 Thống kê cơ cấu ĐNGV bộ môn PPGD theo trình độ đào tạo 84
Bảng 2.7 Thống kê cơ cấu ĐNGV bộ môn PPGD theo chức danh giảng dạy 85
Bảng 2.8 Tỉ lệ đánh giá về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống của ĐNGV bộ môn PPGD 87
Bảng 2.9 Tỉ lệ đánh giá về năng lực giảng dạy của ĐNGV bộ môn PPGD 88
Bảng 2.10 Tỉ lệ đánh giá về năng lực nghiên cứu KHGD của ĐNGV bộ môn PPGD 92
Bảng 2.11 Tỉ lệ đánh giá về năng lực cung ứng dịch vụ giáo dục, phát triển đơn vị, phục vụ xã hội và cộng đồng của ĐNGV bộ môn PPGD 95
Bảng 2.12 Tỉ lệ đánh giá về năng lực hội nhập quốc tế trong phát triển chương trình và đào tạo giáo viên của ĐNGV bộ môn PPGD 97
Bảng 2.13 Các hoạt động đã triển khai để phát triển ĐNGV bộ môn PPGD 100
Bảng 2.14 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển ĐNGV bộ môn PPGD 110
Bảng 3.1 Đánh giá sự cấp thiết của các giải pháp đề xuất (n= 268) 146
Bảng 3.2 Đánh giá tính khả thi của các giải pháp đề xuất (n= 268) 148
Bảng 3.3 Tổng hợp số lượng khách thể TN 153
Bảng 3.4 Kết quả khảo sát trình độ ban đầu về kiến thức của nhóm TN và ĐC 155
Trang 12Bảng 3.5 Khảo sát trình độ ban đầu về KN nghề nghiệp của nhóm TN
và ĐC 156
Bảng 3.6 Bảng tần suất kết quả kiểm tra sau TN lần 1 về kiến thức của
GV bộ môn PPGD 157Bảng 3.7 Phân bố tần xuất f i và tần xuất tích luỹ f i về kiến thức của
nhóm TN và ĐC 158
Bảng 3.8 Bảng tần suất kết quả kiểm tra sau lần TN 2 về kiến thức của
GV bộ môn PPGD 160Bảng 3.9 Phân bố tần xuất f i và tần xuất tích luỹ f i về kiến thức của
nhóm TN trong lần thứ nhất và thứ hai 161Bảng 3.10 Kết quả về trình độ KN nghề nghiệp của GV bộ môn PPGD ở
lần TN thứ nhất 163Bảng 3.11 Kết quả về trình độ KN nghề nghiệp của GV bộ môn PPGD ở
lần TN thứ hai 164Bảng 3.12 So sánh kết quả về trình độ KN nghề nghiệp của GV bộ môn
PPGD ở lần TN thứ nhất và thứ hai 164
Trang 13DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, BIỂU ĐỒ
Trang
Biểu đồ 3.1 Biểu đồ phân bố tần suất f i 159
Biểu đồ 3.2 Biểu đồ tần suất tích lũy f i 159
Biểu đồ 3.3 Biểu đồ phân bố tần suất f i 162
Biểu đồ 3.4 Biểu đồ tần suất tích lũy f i 162
Biểu đồ 3.5 So sánh kết quả về trình độ KN nghề nghiệp của GV bộ môn PPGD ở lần TN thứ nhất và thứ hai 165
Trang 14
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Một trong những nhiệm vụ đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT là “tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều , ghi nhớ máy móc Tập trung dạy cách học , cách nghĩ, khuyến khích tự ho ̣c , tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức,
kỹ năng, phát triển năng lực Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học”[33]
Nhiệm vụ đổi mới này phải được bắt đầu từ ngay trong các trường/khoa ĐHSP, nơi đào tạo đội ngũ nhà giáo, CBQL giáo dục - lực lượng quyết định chất lượng GD&ĐT
Trong các trường/khoa ĐHSP, GV bộ môn PPGD có chức năng đào tạo phương pháp, KTDH cho SV, để rồi sau này, khi ra trường, SV lại áp dụng các phương pháp, KTDH đã lĩnh hội vào công tác giảng dạy của mình
Điều rõ ràng là giáo viên các trường PT không thể thực hiện thành công việc đổi mới PP, HTTCDH nếu như họ không được đào tạo (khi còn học trong trường SP), bồi dưỡng (khi đã ra trường) các PP, HTTCDH mới một cách bài bản cả về phương diện lý luận và thực tiễn Những chậm trễ trong đổi mới PP, HTTCDH hiện nay ở trường PT và ngay trong chính các trường/khoa ĐHSP một phần trách nhiệm thuộc về ĐNGV bộ môn PPGD
Vì thế, ĐNGV bộ môn PPGD phải là những người đi đầu trong việc nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao các PP, HTTCDH mới Nhưng trong khi đó, vai trò của họ lại chưa được nhận thức và phát huy một cách đầy đủ Hiện tượng xem
thường GV bộ môn PPGD, xem họ là “công dân hạng hai” trong các trường/khoa
ĐHSP vẫn tiếp tục tồn tại Bản thân GV bộ môn PPGD lại chưa xác định được
“chỗ đứng” đích thực của mình để nỗ lực vươn lên trong CMNV Tâm lý tự ti, an
phận còn khá phổ biến ở một bộ phận không nhỏ GV bộ môn PPGD Bên cạnh đó,
Trang 15nhiều khoa/ngành SP lại chưa có bộ môn PPGD độc lập Do phải sinh hoạt chung
với GV của các bộ môn khác nên điều kiện để GV bộ môn PPGD phát triển “bản
sắc” của mình, để khẳng định mình về CMNV cũng rất khó khăn Từ đó, phát
triển ĐNGV bộ môn PPGD đã trở thành một yêu cầu cấp thiết đối với các trường/khoa ĐHSP
Với những lý do nêu trên, chúng tôi chọn đề tài: “Phát triển đội ngũ giảng
viên bộ môn Phương pháp giảng dạy trong các trường/khoa Đại học Sư phạm”
để nghiên cứu
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nhiên cứu cứu lý luận và thực tiễn, đề xuất các giải pháp phát
triển ĐNGV bộ môn PPGD trong các trường/khoa ĐHSP, đáp ứng Chương trình
phát triển ngành SP và các trường SP từ năm 2011 đến năm 2020
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Vấn đề phát triển ĐNGV bộ môn PPGD trong các trường/khoa SP
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Các giải pháp phát triển ĐNGV bộ môn PPGD trong các trường/khoa ĐHSP
4 Giả thuyết khoa học
Có thể phát triển ĐNGV bộ môn PPGD trong các trường/khoa ĐHSP đủ về
số lượng, đồng bộ về cơ cấu, nâng cao chất lượng, nếu xây dựng và thực hiện được các giải pháp có cơ sở khoa học, có tính khả thi, dựa trên lý luận về phát triển nguồn nhân lực, trong đó đặc biệt quan tâm đến phát triển các phẩm chất, năng lực đặc thù của GV bộ môn PPGD
5 Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
5.1 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận của vấn đề phát triển ĐNGV bộ môn PPGD trong các trường/khoa ĐHSP
5.1.2 Nghiên cứu cơ sở thực tiễn của vấn đề phát triển ĐNGV bộ môn PPGD trong các trường/khoa ĐHSP
Trang 165.1.3 Đề xuất các giải pháp phát triển ĐNGV bộ môn PPGD trong các trường/khoa ĐHSP
5.1.4 Khảo sát sự cấp thiết và tính khả thi của các giải pháp đề xuất; Thực nghiệm một số giải pháp phát triển ĐNGV bộ môn PPGD trong các trường/khoa ĐHSP
6 Quan điểm tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
6.1 Quan điểm tiếp cận
6.1.1 Quan điểm tiếp cận hệ thống - cấu trúc
Quan điểm này đòi hỏi khi nghiên cứu thực trạng, đề xuất giải pháp phát triển ĐNGV bộ môn PPGD trong các trường/khoa ĐHSP phải xem xét đối tượng một cách toàn diện, nhiều mặt, nhiều mối quan hệ, trong trạng thái vận động và phát triển, trong những điều kiện và hoàn cảnh cụ thể để tìm ra bản chất và quy luật vận động của đối tượng
6.1.2 Quan điểm tiếp cận hoạt động - nhân cách
Quan điểm này đòi hỏi việc phát triển ĐNGV bộ môn PPGD trong các trường/khoa ĐHSP, một mặt phải xuất phát từ những hoạt động của các trường/khoa ĐHSP nhưng mặt khác, quan trọng hơn phải xuất phát từ những hoạt động của chính ĐNGV bộ môn PPGD để tự hoàn thiện nhân cách của mình
6.1.3 Quan điểm thực tiễn
Quan điểm này đòi hỏi trong quá trình nghiên cứu phải bám sát thực tiễn của các trường/khoa ĐHSP; phát hiện được những mâu thuẫn, những khó khăn của thực tiễn để đề xuất các giải pháp phát triển ĐNGV bộ môn PPGD có cơ sở khoa học và
có tính khả thi
Trang 176.2 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi đã sử dụng phối hợp các nhóm phương pháp nghiên cứu sau đây:
6.2.1 Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý thuyết
6.2.1.1 Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu
Phương pháp này được chúng tôi sử dụng để phân tích và tổng hợp tài liệu
có liên quan nhằm hiểu biết sâu sắc, đầy đủ hơn bản chất cũng như những dấu hiệu đặc thù của vấn đề nghiên cứu, trên cơ sở đó sắp xếp chúng thành một hệ thống lý thuyết của đề tài
6.2.1.2 Phương pháp khái quát hóa các nhận định độc lập
Phương pháp này được chúng tôi sử dụng để rút ra những khái quát, nhận định của bản thân về các vấn đề nghiên cứu, từ những quan điểm, quan niệm của người khác
6.2.1.3 Phương pháp mô hình hóa
Phương pháp này được chúng tôi sử dụng để giả định (mô hình lý luận và thực tiễn) về đối tượng nghiên cứu, từ đó tìm ra bản chất vấn đề mà đề tài cần đạt được
6.2.2 Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
6.2.2.1 Phương pháp điều tra bằng ankét
Dùng các phiếu hỏi (ankét) để thu thập ý kiến của CBQL, GV, SV các trường/khoa ĐHSP về:
- Thực trạng ĐNGV bộ môn PPGD trong các trường/khoa ĐHSP hiện nay;
- Thực trạng công tác phát triển ĐNGV bộ môn PPGD trong các trường/khoa ĐHSP hiện nay;
- Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến công tác phát triển ĐNGV bộ môn PPGD trong các trường/khoa ĐHSP hiện nay
6.2.2.2 Phương pháp trao đổi, phỏng vấn theo chủ đề
Phương pháp này được chúng tôi sử dụng để tìm hiểu sâu thêm các vấn đề về thực trạng ĐNGV bộ môn PPGD và phát triển ĐNGV bộ môn PPGD trong các trường/khoa ĐHSP hiện nay, thông qua việc trao đổi trực tiếp với các đối tượng điều tra
Trang 186.2.2.3 Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia
Phương pháp này được chúng tôi sử dụng để thu thập, xin ý kiến các chuyên gia, CBQL, GV bộ môn PPGD các trường/khoa ĐHSP về vấn đề nghiên cứu, tăng
độ tin cậy của kết quả điều tra
6.2.2.4 Phương pháp phân tích và tổng kết kinh nghiệm giáo dục
Phương pháp này được chúng tôi sử dụng để thu thập các thông tin thực tế,
có ý nghĩa đối với đề tài nghiên cứu
6.2.3 Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng các công thức thống kê để xử lý số liệu thu được, so sánh và đưa ra kết quả nghiên cứu của luận án
7 Những luận điểm cần bảo vệ của luận án
7.1 ĐNGV bộ môn PPGD là lực lượng giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong đào tạo NVSP cho SV Nếu không quan tâm đúng mức đến việc phát triển ĐNGV
bộ môn PPGD thì sản phẩm đầu ra của các trường/khoa ĐHSP sẽ không đáp ứng được yêu cầu đổi mới chương trình GDPT sau năm 2015
7.2 Phát triển ĐNGV bộ môn PPGD là phát triển nguồn nhân lực đặc thù của Ngành SP Vì thế, nội dung, cách thức phát triển ĐN này phải dựa trên nội dung, cách thức phát triển nguồn nhân lực nói chung, mặt khác phải dựa trên những đặc trưng LĐSP và mô hình nhân cách GV bộ môn PPGD
7.3 Tổ chức nghiên cứu, thảo luận trong CBQL các trường/khoa ĐHSP về vai trò và sự cần thiết phải phát triển ĐNGV bộ môn PPGD; Thực hiện công tác quy hoạch, tuyển chọn và đào tạo ĐNGV bộ môn PPGD; Xây dựng bộ tiêu chuẩn nghề nghiệp và xác định các chuẩn phấn đấu của GV bộ môn PPGD; Bồi dưỡng
Trang 19nâng cao năng lực SP cho ĐNGV bộ môn PPGD; Tạo động lực làm việc để phát huy vai trò của ĐNGV bộ môn PPGD là những giải pháp cơ bản để phát triển một cách hiệu quả ĐN này
8.4 Thiết kế được Chương trình bồi dưỡng nâng cao năng lực SP cho GV bộ
môn PPGD và Bộ tiêu chuẩn năng lực nghề nghiệp của GV bộ môn PPGD
9 Cấu trúc của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục nghiên cứu, luận án gồm có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của của vấn đề phát triển đội ngũ giảng viên bộ
môn phương pháp giảng dạy trong các trường/khoa Đại học Sư phạm
Chương 2: Cơ sở thực tiễn của vấn đề phát triển đội ngũ giảng viên bộ môn
phương pháp giảng dạy trong các trường/khoa Đại học Sư phạm
Chương 3: Các giải pháp phát triển đội ngũ giảng viên bộ môn phương pháp
giảng dạy trong các trường/khoa Đại học Sư phạm
Trang 20Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ
GIẢNG VIÊN BỘ MÔN PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY
TRONG CÁC TRƯỜNG/KHOA ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
1.1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
1.1.1 Những nghiên cứu về phát triển đội ngũ giảng viên
1.1.1.1 Những nghiên cứu ở nước ngoài
GDĐH trong thập niên đầu của thế kỷ XXI đã giành được sự quan tâm của nhiều quốc gia, nhiều tổ chức quốc tế và nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới Hàng loạt hội nghị, hội thảo khoa học đã được UNESCO tổ chức, với sự tham gia của
nhiều chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực GDĐH Mới đây nhất, phải kể đến Hội
nghị thế giới về GDĐH, tổ chức tại trụ sở UNESCO ở Paris, với gần 1.000 người
tham dự, đến từ 150 quốc gia Hội nghị này đã thảo luận về các động thái mới của
GDĐH trước những thay đổi và phát triển của xã hội
Trong bài phát biểu khai mạc của mình, Tổng Giám đốc của UNESCO, ông Koichiro Masura đã phác thảo bốn động thái đang làm thay đổi GDĐH:
- Thứ nhất là sự gia tăng nhu cầu, với tổng số 51 000.000 SV mới trên toàn thế giới kể từ năm 2000
- Thứ hai là sự đa dạng hóa các nhà cung cấp, trong đó GDĐH tư nhân hiện nay đã chiếm hơn 30% tổng số SV trên toàn thế giới
- Thứ ba là ảnh hưởng của CNTT và truyền thông lên tất cả mọi khía cạnh của việc học, từ việc cung cấp các khóa học và chia sẻ kiến thức đến việc hợp tác trên các dự án nghiên cứu và tạo điều kiện tiếp cận với nguồn tài nguyên giáo dục miễn phí
- Thứ tư là vấn đề toàn cầu hóa, được phản ánh qua số lượng ngày càng tăng các SV học tập ở nước ngoài, qua việc các trường ĐH thành lập các chi nhánh chương trình học tập nước ngoài
Những động thái này không những làm thay đổi GDĐH mà còn làm thay đổi quan niệm về vị trí, vai trò của người GV; về vấn đề xây dựng và phát triển ĐNGV
Trang 21trong trường ĐH Những thay đổi này đã được thể hiện thông qua công trình nghiên cứu của nhiều tác giả Có thể khái quát những nghiên cứu của các tác giả nước ngoài về GV và phát triển ĐNGV trên một số phương diện chính sau đây:
- Vị trí, vai trò của GV
Các tác giả Victor Minichiello [109], Catherine Armstrong [101], đều xem
GV là lực lượng quyết định chất lượng đào tạo của một trường ĐH Trong khi đó, các tác giả Linda Darling-Hammond [104] thì khẳng định, không thể có một trường
ĐH danh tiếng nếu thiếu một ĐNGV xuất sắc Các tác giả này cho rằng, GV ĐH
được định nghĩa trong 3 chức năng: nhà giáo; nhà khoa học và nhà cung ứng dịch
vụ cho xã hội
- GV ĐH trước hết là một nhà giáo giỏi, người được trang bị bốn nhóm kiến
thức/kỹ năng sau: Kiến thức chuyên ngành; Kiến thức về chương trình đào tạo;
Kiến thức và kỹ năng về dạy học và Kiến thức về môi trường giáo dục, hệ thống
giáo dục, mục tiêu giáo dục, giá trị giáo dục
- GV ĐH là nhà khoa học, người có khả năng nghiên cứu, giải thích và dự báo các vấn đề của tự nhiên - xã hội mà loài người và khoa học chưa có lời giải
- GV ĐH là nhà cung ứng dịch vụ cho xã hội, người tham gia công tác quản
lý, các công việc hành chính, tham gia các tổ chức xã hội, cố vấn cho SV, liên hệ thực tập, tìm chỗ làm cho SV, phản biện cho các tạp chí khoa học, tham dự và tổ chức các hội nghị, hội thảo khoa học…
- Sự cần thiết phải phát triển ĐNGV
Tác giả Linda Darling-Hammond [104] cho rằng, phát triển ĐNGV là công việc đặc biệt quan trọng đối với trường ĐH Vì thế, cần phải chăm lo xây dựng và phát triển ĐNGV
Còn theo các tác giả Maria Hendriks, Hans Luyten, Jaap Scheerens, Peter Sleegers và Rien SteenJaap Scheerens [105], phát triển ĐNGV ĐH là con đường quan trọng bậc nhất để nâng cao hiệu quả GDĐH
Ông Tổng Giám đốc của UNESCO cũng đã đề cập đến tầm quan trọng của việc thu hút và giữ chân các GV có trình độ trong lĩnh vực GDĐH, cũng như cung cấp cho họ đầy đủ các điều kiện làm việc [94]
Trang 22- Yêu cầu, giải pháp phát triển ĐNGV
Có nhiều công trình đã đi sâu nghiên cứu những yêu cầu mà người GV cần phải đáp ứng trong bối cảnh của nền kinh tế tri thức và nhà trường ĐH hiện đại
Tác giả Victor Minichiello trong chuyên khảo Phát triển đội ngũ trong các
trường ĐH [109], đã quan tâm đến việc hình thành ở GV những năng lực cần thiết
trong một môi trường đang thay đổi
Theo tác giả Catherine Armstrong [101], người GV ĐH có hai nhiệm vụ
cơ bản là giảng dạy và nghiên cứu Nhưng trước tiên họ cần quan tâm phát triển các kỹ năng giảng dạy của mình, đồng thời với việc tích lũy kinh nghiệm trên lĩnh vực này…
Các tác giả Niels Brouwer và Fred Korthagen [106] đã chỉ ra sự cần thiết phải phát triển tính sáng tạo cho GV ĐH, nhất là đối với GV trong các trường/khoa
SP Nếu không chú ý đầy đủ đến điều này thì các trường/khoa SP không thể đào tạo
ra được những nhà giáo sáng tạo sau này
Các tác giả khác như Speck và Knipe [108], Chapel Hill [102] lại quan tâm đến phát triển chuyên môn nói chung và việc phát triển PPGD cho đội ngũ GV ĐH bằng các hình thức như tạo cơ hội học tập cho họ; tham gia các hoạt động tư vấn, giúp đỡ SV học tập; giám sát và hỗ trợ kỹ thuật cho các cơ sở giáo dục; tham quan, thực tế…
Các tác giả Maria Hendriks, Hans Luyten, Jaap Scheerens, Peter Sleegers
và Rien SteenJaap Scheerens [105] cho rằng, phát triển ĐNGV ĐH về CMNV cần quan tâm đến các yếu tố như: Niềm tin và năng lực, chất lượng giảng dạy, sự liên tục trau dồi và phát triển tri thức khoa học, kỹ năng nghề nghiệp, tình cảm nghề nghiệp…
Hội nghị quốc tế về GDĐH thế kỉ XXI đã nêu lên những năng lực cần có của một GV ĐH mẫu mực, bao gồm: 1) Có kiến thức và sự thông hiểu về các cách học khác nhau của SV; 2) Có kiến thức, năng lực và thái độ về mặt theo dõi đánh giá SV nhằm giúp họ tiến bộ; 3) Tự nguyện hoàn thiện bản thân trong ngành nghề của mình; biết ứng dụng những tiêu chí nghề nghiệp và luôn luôn cập nhật những thành
Trang 23tựu mới nhất; 4) Biết ứng dụng những thành tựu của công nghệ thông tin, về môn
học, ngành học của mình 5); Có khả năng nhận biết được tín hiệu của thị trường
bên ngoài về nhu cầu của giới chủ đối với SV tốt nghiệp; 6) Làm chủ được những thành tựu mới về dạy và học, từ cách dạy học mặt giáp mặt đến cách dạy học từ xa;
7) Chú ý đến quan điểm và mong ước của khách hàng; 8) Hiểu được những tác
động của nhân tố quốc tế và đa văn hóa đối với các chương trình đào tạo; 9) Có khả năng dạy nhiều loại hình SV khác nhau, thuộc những nhóm khác nhau về độ tuổi môi trường KT-XH, dân tộc; 10) Có khả năng bảo đảm các giờ giảng chính khóa, seminar hoặc tại các xưởng sản xuất với số lượng SV đông; 11) Có khả năng hiểu
được những chiến lược thích ứng về nghề nghiệp của các cá nhân [94]
Từ nghiên cứu mô hình phản ứng của người học RUP (The Reflective Urban Practitioner), các tác giả của trường ĐH New Jersey - Mỹ [107] đã công bố các KNSP cần được phát triển ở đội ngũ GV ĐH dựa trên các nhiệm vụ, mục tiêu và triết lý của GDĐH Đó là: 1) Động lực và hành vi; 2) Truyền thông; 3) Dịch vụ kế hoạch và hướng dẫn; 4) Chiến lược dạy học; 5) Đánh giá
Các tác giả David Kember và Lyn Gow [103] trong công trình "Nghiên cứu
hành động là một loại hình phát triển ĐNGV ĐH" đã cho rằng, để phát triển
ĐNGV ĐH cần cố gắng cải thiện hoạt động giảng dạy của GV, thông qua các hành động lập kế hoạch; biên soạn đề cương chi tiết; tổ chức các mối quan hệ với
SV và tài liệu học tập; sử dụng các phương pháp và hình thức dạy học; đánh giá kết quả học tập của SV Nghiên cứu hành động đã trở thành một cơ sở để phát triển ĐNGV ĐH
Các tác giả Allan Ellis và Renata Phelps [99] lại tập trung nghiên cứu mô hình dạy học hợp tác và xem đây là một phương diện của phát triển ĐNGV ĐH Theo các tác giả này, dạy học hợp tác phải trở thành một năng lực không thể thiếu được của người GV ĐH
Trong bài báo "Thực tiễn hỗ trợ phát triển ĐNGV", các tác giả An
Lieberman và Phi Delta Kappan [100] đã mô tả những việc mà các trường ĐH đã làm để hỗ trợ phát triển ĐNGV Có những việc các trường ĐH đã làm tốt (xây dựng
Trang 24nội dung đào tạo, bồi dưỡng GV; đánh giá GV…), có những việc các trường ĐH làm chưa tốt (tạo điều kiện để GV trao đổi CMNV với các đồng nghiệp nước ngoài;
sự hẩng hụt về thế hệ trong ĐNGV…) Từ đó các tác giả đã đề xuất một số giải pháp để phát triển ĐNGV
Như vậy, vấn đề phát triển ĐNGV đã được nhiều tác giả nước ngoài quan tâm nghiên cứu Các công trình nghiên cứu của họ đã đề cập tới nhiều phương diện
liên quan đến đề tài nghiên cứu của tác giả
1.1.1.2 Những nghiên cứu ở trong nước
Ở trong nước, những năm gần đây đã xuất hiện một số công trình nghiên cứu
về GV ĐH Các công trình này đã góp phần làm rõ những nội dung sau đây:
- Ý nghĩa của vấn đề phát triển ĐNGV
Tác giả Lê Đức Ngọc [67] cho rằng, có hai lý do chính làm cho vấn đề phát triển ĐNGV trở thành mối quan tâm hàng đầu của các trường ĐH: 1) Trình độ của đội ngũ quyết định chất lượng, khả năng giảng dạy, nghiên cứu khoa học và phục
vụ xã hội của một trường ĐH; 2) Chi phí lương và phụ cấp cho đội ngũ này là khoản chi phí lớn nhất của mỗi trường ĐH, nó gắn liền với chất lượng, hiệu quả, hiệu suất đào tạo Vì thế, các trường ĐH cần phải thường xuyên chăm lo công tác bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho GV; phải dành kinh phí từ các nguồn khác nhau cho công tác này
Theo tác giả Cao Tuấn Anh, việc phát triển ĐNGV “phải được coi là nhiệm vụ trọng tâm trong chiến lược phát triển nguồn nhân lực của các trường ĐH”[2; tr.10]
Tác giả Trần Xuân Bách [3] đã gắn việc phát triển ĐNGV với đánh giá
ĐNGV và xem đây là hai vấn đề then chốt của các trường ĐH hiện nay Theo tác
giả, phát triển ĐNGV thực chất là phát triển nghề nghiệp của ĐNGV và sự phát
triển này phải trở thành trách nhiệm có tính quy hoạch của trường ĐH
Những năm gần đây, khi Ban cán sự Đảng Bộ GD&ĐT ban hành Nghị quyết
về đổi mới quản lý GDĐH giai đoạn 2010-2012 và Bộ GD&ĐT triển khai chương trình hành động thực hiện Nghị quyết, các trường ĐH đã tổ chức nhiều hội thảo khoa học, khẳng định vai trò tiên phong trong đổi mới GDĐH là ĐNGV và để
Trang 25GDĐH Việt Nam cất cánh, cần phải tập trung giải quyết vấn đề then chốt - phát
triển ĐNGV
- Vai trò và mô hình nhân cách người GV ĐH
Cũng giống như các tác giả nước ngoài, các tác giả trong nước đều khẳng định vai trò quan trọng của GV đối với việc nâng cao chất lượng GDĐH
Theo tác giả Nguyễn Hữu Châu, GV đóng vai trò chủ chốt trong việc quyết định chất lượng GDĐH
Tác giả Võ Xuân Đàn cho rằng: “Không ai khác quyết định yếu tố chất lượng
ở trường ĐH ngoài ĐNGV Mọi nguồn lực khác của nhà trường, của xã hội chỉ đóng vai trò hỗ trợ, tiếp sức, tạo điều kiện để người GV thực hiện chức năng cao quý của mình là đào tạo thế hệ trẻ, những nhân tài chủ nhân của đất nước”[31; tr.10]
Tác giả Trần Khánh Đức đã đưa ra mô hình tổng thể của người GV trong nền
GDĐH hiện đại với 4 chức năng: Nhà khoa học chân chính; Nhà sư phạm tâm
huyết; Nhà hoạt động văn hóa xã hội tích cực và Nhà quản lý giáo dục tài ba [38]
Tác giả Nguyễn Văn Đệ, xuất phát từ mô hình nhân cách của con người Việt Nam trong thời đại công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tập trung vào 5 yếu tố cơ bản (nhân văn - xã hội; làm chủ công nghệ; năng động thích nghi cao; có đủ sức khỏe thể lực; sáng tạo) để xác lập mô hình nhân cách của người GV ĐH trong thời đại mới, gồm 4 đặc trưng sau đây: GV ĐH là người có tố chất nhân cách trí tuệ; GV
ĐH là người có tố chất phát triển hài hòa giữa con người và tự nhiên; GV ĐH là người có tố chất phát triển hài hòa giữa con người và xã hội; GV ĐH là người có tố chất khẳng định tính chủ thể sáng tạo, nhận thức và cải tạo thế giới xung quanh, không ngừng vươn lên hoàn thiện chính mình [36]
Tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho GV ĐH là những con người có "nhận thức
mẫu mực, tác phong mẫu mực, kiến thức mẫu mực và hiệu quả mẫu mực" [63]
Một số tác giả khác lại tiếp cận mô hình nhân cách người GV ĐH dưới góc
độ phẩm chất - hoạt động: Phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống; Giảng dạy;
Nghiên cứu khoa học; Hoạt động phát triển đơn vị, phục vụ xã hội và cộng đồng
Quan điểm của chúng tôi thiên về xem xét mô hình người GV ĐH dưới góc
độ chức năng nghề nghiệp của họ Từ đó, GV ĐH được nhìn nhận là nhà giáo tâm
Trang 26huyết, nhà khoa học chân chính, nhà cung ứng dịch vụ trách nhiệm và nhà hội nhập quốc tế hiệu quả
- Định hướng và cách tiếp cận vấn đề phát triển ĐNGV
Tác giả Phan Văn Kha [59], trên cơ sở phân tích thực trạng ĐNGV ĐH của nước ta trong thời gian qua đã đề xuất một số định hướng phát triển ĐNGV ĐH, đó là: 1) Phát triển ĐNGV ĐH cần được xem xét theo hướng ưu tiên chất lượng GDĐH trong mối tương quan với tăng quy mô; 2) Cần phải xây dựng chuẩn nghề nghiệp của các loại GV ĐH (trợ giảng, GV, GV cao cấp); 3) Thực hiện đề án đổi mới cơ chế giao chỉ tiêu tuyển sinh ĐH, với hai căn cứ cơ bản (nhu cầu thực của xã hội và năng lực thực tế của các trường, trong đó năng lực của ĐNGV cần được xem xét dựa trên chất lượng đội ngũ qua số lượng GV có trình độ GS, PGS, TSKH, TS
và thạc sĩ); 4) Đổi mới định mức lao động của GV theo hướng giảm tiêu chuẩn giờ dạy, tăng thời gian dành cho các hoạt động khoa học và công nghệ, nghiên cứu đổi mới và hiện đại hóa nội dung đào tạo, ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông vào đổi mới phương pháp dạy học; 5) Các trường ĐH cần xác định mục tiêu
và giải pháp chiến lược phát triển ĐNGV của trường mình đến năm 2020; 6) Điều chỉnh chính sách lương và các chính sách đãi ngộ dựa trên tiêu chuẩn nghề nghiệp
để cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của ĐNGV…
Tác giả Bùi Văn Quân và Nguyễn Ngọc Cầu [70], khi nghiên cứu vấn đề phát triển ĐNGV đã đưa ra ba cách tiếp cận khác nhau: tiếp cận quản lý và phát triển nguồn nhân lực theo sơ đồ của Christian Batal; tiếp cận theo phương pháp quản lý, gồm phương pháp giáo dục, phương pháp hành chính, phương pháp kinh tế; tiếp cận theo nội dung phát triển ĐNGV Từ đó, theo các tác giả tùy theo điều kiện của từng trường ĐH mà lựa chọn cách tiếp cận này hay khác trong phát triển ĐNGV
- Các giải pháp phát triển ĐNGV
Từ những nhận định về ĐNGV của nước ta hiện nay (tỉ lệ SV/GV khá cao;
cơ cấu về trình độ còn thấp; chưa được đào tạo bài bản về nghiệp vụ SP), tác giả Nguyễn Hữu Châu đã đưa ra các giải pháp để phát triển ĐNGV: Xây dựng và thực hiện quy hoạch ĐNGV; Đổi mới mạnh mẽ nội dung, chương trình và phương pháp
Trang 27đào tạo, bồi dưỡng GV; Đổi mới phương thức tuyển dụng GV theo hướng khách quan, công bằng và có yếu tố cạnh tranh; Xây dựng và ban hành chính sách mới đối với GV [20]
Tác giả Trần Thị Tuyết Oanh [68] đã chỉ ra những năng lực cơ bản của người
GV, đó là năng lực chuyên môn; năng lực xã hội; năng lực phương pháp và năng
lực phát triển Từ đó, phát triển ĐNGV, trước tiên phải phát triển những năng lực
Một số luận án tiến sĩ chuyên ngành Quản lý giáo dục của Nguyễn Thị Anh Đào [35], Phạm Minh Hiệu [43], Phạm Văn Toàn [83], Nguyễn Văn Đệ [36] khi nghiên cứu các vấn đề về ĐNGV đều đưa ra các giải pháp phát triển ĐNGV…
Ngoài ra, trong Chiến lược, đề án phát triển của các trường ĐH, đều đề cập đến các
giải pháp phát triển ĐNGV
Ví dụ Đề án 16 + 23 của ĐHQG Hà Nội đã đưa ra các giải pháp để phát
triển ĐNGV như sau: 1) Xây dựng và thực hiện quy hoạch, kế hoạch phát triển ĐNGV từng bước tiếp cận trình độ quốc tế về năng lực chuyên môn, ngoại ngữ
và tin học; 2) Chủ động bồi dưỡng, hỗ trợ GV trẻ chuẩn bị các điều kiện để tham gia kế hoạch đào tạo cán bộ khoa học của Nhà nước, các dự án, chương trình hợp tác quốc tế về đào tạo cán bộ của Chính phủ, ĐHQG Hà Nội; 3) Cử GV, cán bộ quản lý có năng lực để học tập phương pháp quản lý đào tạo ĐH tiên tiến; mời chuyên gia quản lý đào tạo, kiểm định chất lượng của ĐH uy tín hỗ trợ, cố vấn;
Trang 284) Khuyến khích, tạo điều kiện cho đội ngũ GV, đặc biệt là GV trẻ được bồi dưỡng, tự bồi dưỡng về chuyên môn, ngoại ngữ, phương pháp giảng dạy ĐH, kỹ năng sử dụng CNTT phục vụ công tác đào tạo và NCKH; 5) Có chính sách thu hút các GV, nhà khoa học giỏi trong và ngoài nước, SV tốt nghiệp xuất sắc về công tác tham gia thỉnh giảng, nghiên cứu tại ĐHQGHN Tạo điều kiện thuận lợi khuyến khích các nhà khoa học, Giáo sư là người Việt Nam sống ở nước ngoài
về tham gia giảng dạy và trao đổi học thuật với GV và SV; Khuyến khích, tạo điều kiện để ĐNGV đăng ký các phát minh, sáng chế giải thưởng KHCN trong nước và quốc tế [93]
Hoặc trong Chiến lược phát triển đội ngũ GV của Trường ĐH Kiến trúc TP
Hồ Chí Minh đã xác định các giải pháp cần thực hiện, đó là: Cử GV đi học tập về chuyên môn nghiệp vụ và chính trị theo quy hoạch đội ngũ của trường; Tạo mọi điều kiện để GV đi học trong nước và nước ngoài để đạt trình độ chuẩn theo quy định; Kiên quyết thực hiện chế độ sàng lọc, tuyển chọn GV [92]
Tóm lại: Vấn đề phát triển ĐNGV ĐH đã thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước, nhiều tổ chức quốc tế về giáo dục, nhiều trường ĐH trên thế giới Những thành tựu trong lĩnh vực nghiên cứu này đã góp phần khẳng định nguồn lực quan trọng nhất của các trường ĐH là ĐNGV Phát triển toàn diện ĐNGV là sứ mạng của các trường ĐH Việc phát triển ĐNGV cần được thực hiện bằng nhiều giải pháp
1.1.2 Những nghiên cứu về phát triển đội ngũ giảng viên bộ môn phương pháp giảng dạy trong các trường/khoa ĐHSP
Cả trong nước cũng như ngoài nước, hầu như chưa có tác giả nào đi sâu nghiên cứu về phát triển ĐNGV bộ môn PPGD ở các trường/khoa ĐHSP Vấn đề này chỉ mới được đề cập gián tiếp trong một số bài báo đăng trên các Tạp chí khoa học của các tác giả Bùi Văn Huệ, Nguyễn Thanh Hùng, Phan Trọng Luận, Trần Bá Hoành, Đinh Quang Báo, Nguyễn Trí…
Có thể khái quát sự đóng góp của các tác giả nói trên trong nghiên cứu vấn
đề phát triển ĐNGV bộ môn PPGD ở một số điểm chủ yếu sau đây:
Trang 29- Khẳng định vai trò quan trọng của bộ môn PPGD và ĐNGV bộ môn PPGD trong các trường/khoa ĐHSP
Tác giả Bùi Văn Huệ [47] cho rằng, trong trường SP, ĐNGV bộ môn PPGD
là lực lượng giữ vai trò quan trọng trong đào tạo tay nghề cho giáo sinh Chính họ là những người dạy cho SV biết xử lý kiến thức và chuyển tải kiến thức đến với học sinh của mình sau này bằng những phương pháp, hình thức phù hợp; biết tự học, tự nghiên cứu và tự rèn luyện tay nghề…
Theo tác giả Nguyễn Thanh Hùng, bộ môn PPGD trong các trường/khoa ĐHSP là nơi nghiên cứu lý luận liên ngành và chuyên ngành với những tiềm năng
và khuynh hướng khác nhau để làm phong phú phương pháp luận bộ môn; giao thoa các phương pháp tiếp cận khoa học khác nhau; trân trọng những tìm tòi của các phong cách nghiên cứu để làm giàu kho tàng lý luận bộ môn; có khả năng giải quyết những vấn đề lý thuyết về đổi mới phương pháp với độ tập trung đáng tin cậy [65] Tác giả Nguyễn Trí [87] cho rằng, trường SP là vườn ươm, nơi đào tạo ra những thế
hệ nhà giáo trẻ cho tương lai, là trung tâm bồi dưỡng đội ngũ các nhà giáo đang hành nghề Việc đổi mới PPGD và học tập hiện nay trước hết phải được thực hiện ở các trường SP, trong đó đi đầu là ĐNGV bộ môn PPGD
Tác giả Trần Bá Hoành [44] cho rằng, trong thời đại ngày nay, giáo viên cần được đào tạo ở trình độ cao về học vấn, không phải chỉ yêu cầu cao về các Khoa học tự nhiên, kỹ thuật và công nghệ mà còn phải được chú trọng đào tạo về các Khoa học xã hội và nhân văn, KHGD; đảm bảo cho họ vừa là người dạy học, vừa là nhà giáo dục Đóng vai trò quan trọng trong quá trình này là ĐNGV SP nói chung, ĐNGV bộ môn PPGD nói riêng ở các trường/khoa ĐHSP
- Chỉ ra những nhận thức chưa đúng đắn về vai trò của bộ môn PPGD
và ĐNGV bộ môn PPGD trong các trường/khoa ĐHSP
Tác giả Phan Trọng Luận [64], từ thực tiễn 50 năm gắn bó với bộ môn PPGD
ở trường ĐHSP đã có nhiều trăn trở về vấn đề NVSP và phát triển ĐNGV bộ môn PPGD trong các trường/khoa ĐHSP Theo tác giả, lâu nay vẫn có một định kiến sai lầm là những ai không có khả năng nghiên cứu thì vào các tổ phương pháp Phương
Trang 30pháp không phải là ngành khoa học mà chỉ là chuyện rèn luyện một số kỹ năng nghề nghiệp (viết bảng, soạn giáo án, thủ thuật nói năng, điều khiển lớp học…), không học cũng biết Cho nên có tình trạng Tiến sĩ Lý luận văn học, Tiến sĩ Văn học Việt Nam làm chủ nhiệm bộ môn PPGD Người vừa bảo vệ tiến sĩ chuyên ngành khác cũng được tuyển vào tổ phương pháp Ai cũng dạy phương pháp, cũng làm phương pháp được miễn là có trình độ KHCB
Tác giả Bùi Văn Huệ, Nguyễn Thanh Hùng, Trần Bá Hoành cũng cho rằng, trong các trường/khoa ĐHSP, ở các mức độ khác nhau, vẫn còn tồn tại những nhận thức chưa đúng đắn về vai trò của bộ môn PPGD và ĐNGV bộ môn PPGD Những
nhận thức chưa đúng đắn này sẽ là lực cản đối với việc xây dựng bộ môn PPGD và
phát triển ĐNGV bộ môn PPGD trong các trường/khoa ĐHSP
- Khẳng định sự cần thiết phải xây dựng bộ môn PPGD và phát triển ĐNGV bộ môn PPGD trong các trường/khoa ĐHSP
Tác giả Bùi Văn Huệ cho rằng, trường SP phải chăm lo xây dựng và phát triển ĐNGV bộ môn PPGD
Còn theo tác giả Trần Bá Hoành, việc ĐT-BD để nâng cao năng lực và phẩm chất của ĐNGV bộ môn PPGD phải được các trường/khoa ĐHSP quan tâm đặc biệt
Tác giả Nguyễn Trí cũng đã nhấn mạnh việc xây dựng ĐNGV SP nói chung, ĐNGV bộ môn PPGD nói riêng từng bước ổn định, ngày càng đáp ứng yêu cầu là những chuyên gia giỏi trên lĩnh vực đổi mới PPGD và học tập ở cả phương diện lý thuyết và thực hành
- Xác định những yêu cầu về năng lực và phẩm chất mà GV bộ môn PPGD trong các trường/khoa ĐHSP cần phải được ĐT-BD
Tác giả Phan Trọng Luận cho rằng, cần phải có một kế hoạch đào tạo gấp rút, công phu trong và ngoài nước ĐNGV bộ môn PPGD Một GV bộ môn PPGD
chỉ thực sự trở thành chuyên gia khi ở họ hội tụ đầy đủ các loại vốn liếng: 1) Vốn
văn hóa nền, bao gồm tri thức về Triết học, Văn hóa học, Phương pháp luận khoa
học và khả năng ngoại ngữ, kỹ năng ứng dụng công nghệ thông tin…; 2) Vốn
Trang 31chuyên môn (Văn hay Toán, Lý hay Địa…); 3) Vốn nghiệp vụ SP đặc thù (Văn, Sử,
Toán, Hóa, Sinh vật, cho Địa lý…) Ba vốn liếng này đảm bảo cho người GV bộ môn PPGD vừa là nhà phương pháp vừa là nhà nghiên cứu
Theo tác giả Nguyễn Thanh Hùng, người GV PPGD phải nắm vững đặc trưng bộ môn mang tính dạy nghề của mình, nắm vững cách thức, quy trình hướng dẫn SV vận dụng lý thuyết và tay nghề; tự bồi dưỡng năng lực khoa học bằng nhiều hình thức phong phú (sinh hoạt học thuật, tham gia hội nghị, hội thảo khoa học; hướng dẫn kiến tập, thực tập SP, luận văn, luận án…)
Theo tác giả Đinh Quang Báo [6], một trong những nhiệm vụ của trường SP
là phải trang bị cho SV năng lực dạy học mà năng lực này được hình thành từ nội dung của KHCB và KHSP Tuy nhiên, hiện nay, việc dạy KHCB và KHSP còn
chưa tạo được giá trị gia tăng thông qua sự tác động tương hỗ của hai mảng kiến thức này ĐNGV bộ môn PPGD chính là những người phải tìm ra cơ chế cho sự
tích hợp kiến thức KHCB và kiến thức KHSP để hình thành một cách tối ưu năng
lực dạy học cho SV Điều đó đòi hỏi ĐNGV bộ môn PPGD không chỉ am hiểu sâu lĩnh vực chuyên môn của mình mà còn phải có vốn kiến thức KHCB (theo ngành đào tạo) đủ rộng để họ chỉ cho SV thấy rằng những kiến thức KHCB mà SV học ở trường SP sẽ được sử dụng trong từng bài dạy ở trường phổ thông như thế nào? Đây
là vấn đề mà các trường/khoa ĐHSP cần quan tâm khi đào tạo, bồi dưỡng ĐNGV
bộ môn PPGD
Các tác giả Bùi Minh Đức, Đào Thị Việt Anh, Hoàng Thị Kim Huyền, khi đề
cập đến vấn đề Đổi mới mô hình đào tạo giáo viên trong các trường ĐHSP theo hướng
tiếp cận năng lực đã cho rằng, cùng với những thay đổi về chương trình, việc đào tạo,
bồi dưỡng giáo viên theo hướng tiếp cận năng lực chỉ có thể thành công khi ĐNGV- những người trực tiếp làm công tác giảng dạy, đào tạo, thay đổi về nhận thức, kỹ năng, PPDH, kiểm tra, đánh giá… Bản thân họ cũng phải có những năng lực cần thiết (basic competencies), năng lực chung (general competencies) và nhất là phải giỏi những năng lực môn học cụ thể (Subject-specific competencies) Chẳng hạn, một GV bộ môn PPGD không thể không đạt các yêu cầu chuẩn và trên chuẩn về: Năng lực phân tích
Trang 32chương trình; năng lực phân tích mục tiêu bài học; năng lực thiết kế giáo án; năng lực tổ chức hoạt động dạy học; năng lực sử dụng các PPDH truyền thống và hiện đại; năng lực kiểm tra, đánh giá; năng lực ứng dụng CNTT và truyền thông [36]
Cùng chung quan điểm trên, tác giả Phạm Đỗ Nhật Tiến [82] cho rằng: Cần quan tâm đến sự chuẩn hóa cả về cơ sở vật chất và đặc biệt là việc thiết lập chuẩn của các GV trong đào tạo giáo viên Sẽ là không công bằng và kém hiệu quả nếu người làm nhiệm vụ đào tạo không phải tuân theo chuẩn nào trong khi đối tượng đào tạo chỉ được công nhận tốt nghiệp khi đạt các yêu cầu về chuẩn Thông lệ trên thế giới, bên cạnh việc ban hành chuẩn nghề nghiệp giáo viên, người ta ban hành chuẩn GV SP Vì thế, cần sớm có chuẩn nghề nghiệp GV SP nói chung, chuẩn GV
bộ môn PPGD nói riêng Đây là cơ sở để GV phấn đấu đạt chuẩn và trên chuẩn, đồng thời cũng là cơ sở để đánh giá GV trong các trường/khoa ĐHSP
Theo tác giả Phạm Thị Kim Anh [1], hiện nay trong các trường/khoa ĐHSP,
GV bộ môn PPGD tuy đã có nhiều cố gắng trang bị cho SV hệ thống PPDH và cập nhật những vấn đề đổi mới PPDH ở phổ thông, song vẫn tồn tại khoảng cách khá xa giữa lý thuyết và thực tiễn, giữa đào tạo ở trường SP và thực tế giảng dạy ở phổ thông Do đó, nhiều SV khi đi thực tập SP đã ngỡ ngàng, lúng túng trước yêu cầu của giáo viên hướng dẫn ở phổ thông như lập kế hoạch dạy học, thiết kế giáo án điện tử, trình bày bài giảng, sử dụng các phương tiện kỹ thuât, tổ chức các hoạt động dạy học-giáo dục ngoài giờ lên lớp… Cũng theo tác giả Phạm Thị Kim Anh,
xây dựng mẫu, làm mẫu và dạy mẫu là những khâu tất yếu của quy trình đào tạo
nghề Việc xem mẫu, làm theo mẫu không chỉ có ý nghĩa quan trọng đối với SV các trường kỹ thuật mà còn có ý nghĩa cả đối với SV SP Tuy nhiên, làm mẫu chưa được chú trọng trong quy trình đào tạo NVSP ở các trường/khoa ĐHSP hiện nay
Phần lớn GV vẫn nặng về lý thuyết, chưa chuyển hóa kiến thức bộ môn thành mẫu
cụ thể để SV tri giác trực tiếp và học qua mẫu Nhiều GV có thể nói về cách thức
dạy một bài như thế nào rất hay, nhưng khi yêu cầu giảng mẫu bài đó thì không làm
được, hoặc nói về các PPDH mới như PPDH tình huống, PPDH nêu và giải quyết vấn đề, PPDH hợp tác, PPDH kiến tạo kiến thức… rất bài bản nhưng yêu cầu thực
Trang 33hiện qua một ví dụ cụ thể lại không làm được… Từ thực tế đó, tác giả Phạm Thị Kim Anh cho rằng, các trường/khoa ĐHSP cần phải xây dựng ĐNGV bộ môn
PPGD không chỉ giỏi về lý thuyết mà giỏi cả về thực hành để làm mẫu ngay trên lớp Sự sinh động của việc làm mẫu, bài giảng mẫu sẽ giúp SV hình thành những
kỹ năng SP nhanh nhất, hiệu quả nhất
Tóm lại, mặc dù không đề cập trực tiếp đến vấn đề phát triển ĐNGV bộ môn PPGD trong các trường/khoa ĐHSP nhưng các tác giả nói trên đã có nhiều ý kiến xác đáng về vai trò, chức năng, nhiệm vụ và yêu cầu đối với ĐNGV bộ môn PPGD trong các trường/khoa ĐHSP Tuy nhiên, ít có tác giả đi sâu nghiên cứu về các giải pháp phát triển ĐNGV bộ môn PPGD trong các trường/khoa ĐHSP Đây là vấn đề
sẽ được tập trung nghiên cứu trong luận án của chúng tôi
1.2 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN CỦA ĐỀ TÀI
1.2.1 Giảng viên và giảng viên bộ môn phương pháp giảng dạy
1.2.1.1 Giảng viên
Theo Đại từ điển tiếng Việt, GV là “tên gọi chung những người làm công tác
giảng dạy ở các trường ĐH, CĐ, ở các lớp tập huấn cán bộ”[98; tr.731]
Theo Từ điển Giáo dục học, GV là “chức danh nghề nghiệp của nhà giáo trong
các cơ sở GDĐH và sau ĐH, dưới giáo sư, phó giáo sư và GV chính”[42; tr.103]
Còn theo theo Luật Giáo dục của Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt
Nam, GV là tên gọi chỉ nhà giáo thực hiện hoạt động dạy học và giáo dục tại các cơ
sở giáo dục CĐ, ĐH và sau ĐH [71; tr.50]
Như vậy, GV là nhà giáo làm công tác giảng dạy ở các cơ sở giáo dục ĐH
và CĐ
chương trình đào tạo và thực hiện đầy đủ , có chất lượng chương trình đào tạo ; Nghiên cứu, phát triển ứng dụng khoa học và chuyển giao công nghệ, bảo đảm chất lượng đào tạo; Định kỳ học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ lý luận chính trị, chuyên môn nghiệp vụ và PPGD; Giữ gìn phẩm chất, uy tín, danh dự của GV; Tôn trọng nhân cách của người học, đối xử công bằng với người học, bảo vệ các quyền,
Trang 34lợi ích chính đáng của người học; Tham gia quản lý và giám sát cơ sở GDĐH, tham gia công tác Đảng, đoàn thể và các công tác khác; Được ký hợp đồng thỉnh giảng và nghiên cứu khoa học với các cơ sở GDĐH, cơ sở nghiên cứu khoa học theo quy định của pháp luật; Được bổ nhiệm chức danh của GV , được phong tặng danh hiệu Nhà giáo nhân dân, Nhà giáo ưu tú và được khen thưởng theo quy định của pháp luật; Các nhiệm vụ và quyền khác theo quy định của pháp luật”[72]
Theo Luật GDĐH , chức danh của GV bao gồm trơ ̣ giảng , GV, GV chính, PGS và GS Sau đây, chúng tôi làm rõ thêm các khái niệm trợ giảng, GV chính, PGS và GS
- Trợ giảng là người giúp việc cho GV trong việc chuẩn bị bài giảng, phụ đạo, hướng dẫn bài tập, thảo luận, thí nghiệm, thực hành và chấm bài GV đang tập
sự, các nghiên cứu sinh, học viên cao học đang học tập, nghiên cứu ở bộ môn và các
SV giỏi năm cuối khóa, các chuyên gia trong các lĩnh vực chuyên môn thuộc các cơ quan, đơn vị nghiên cứu, kinh doanh, dịch vụ trong và ngoài trường có thể tham gia làm trợ giảng Việc quyết định trợ giảng, nhiệm vụ, quyền và chế độ phụ cấp của trợ giảng được quy định tại Điều 4 của Điều lệ trường ĐH [72]
- GV chính là công chức chuyên môn đảm nhiệm vai trò chủ chốt trong giảng dạy và đào tạo ở bậc ĐH, CĐ và SĐH thuộc một chuyên ngành đào tạo của trường ĐH, CĐ
- PGS và GS là các chức danh của nhà giáo đang giảng dạy, đào tạo trình độ
ĐH, trình độ thạc sĩ, trình độ tiến sĩ ở nước ta cũng như nhiều nước trên thế giới Đó
là các chức danh khoa học cao nhất của nhà giáo
Khái niệm GV được sử dụng trong đề tài được hiểu theo nghĩa chung nhất,
đó là những người làm nhiệm vụ giảng dạy ở các cơ sở GDĐH
1.2.1.2 Giảng viên bộ môn phương pháp giảng dạy
GV bộ môn PPGD là một bộ phận hợp thành trong ĐNGV của các trường/khoa ĐHSP Họ có nhiệm vụ giảng dạy các học phần PPGD và đào tạo tay nghề SP cho SV
Do vai trò, đặc trưng LĐSP mà GV bộ môn PPGD cần đáp ứng những yêu cầu riêng về phẩm chất và năng lực nghề nghiệp
Trang 351.2.2 Đội ngũ và đội ngũ giảng viên bộ môn phương pháp giảng dạy
1.2.2.1 Đội ngũ
Theo Từ điển tiếng Việt, đội ngũ là “tập hợp gồm số đông người cùng chức
năng hoặc nghề nghiệp tạo thành một lực lượng” [96; tr.339]
Khái niệm đội ngũ không chỉ được sử dụng trong lĩnh vực quân sự mà còn được sử dụng một cách phổ biến trong nhiều lĩnh vực hoạt động khác nhau như: đội ngũ trí thức, đội ngũ công nhân viên chức, đội ngũ y bác sỹ…
Trong lĩnh vực giáo dục, thuật ngữ đội ngũ được sử dụng để chỉ những tập hợp người được phân biệt với nhau về chức năng trong hệ thống giáo dục Ví dụ: đội ngũ giáo viên, đội ngũ giảng viên, đội ngũ cán quản lý trường học
1.2.2.2 Đội ngũ giảng viên bộ môn phương pháp giảng dạy
ĐNGV bộ môn PPGD là tập hợp những người làm nhiệm vụ giảng dạy bộ môn PPGD trong các trường/khoa SP, cùng chung một mục đích là trang bị cho SV những kiến thức và
kỹ năng để sau này họ có thể giảng dạy các môn học ở trường phổ thông
1.2.3 Phát triển và phát triển đội ngũ giảng viên bộ môn phương pháp
giảng dạy
1.2.3.1 Phát triển
- Theo Từ điển tiếng Việt, phát triển là “biến đổi hoặc làm cho biến đổi từ ít
đến nhiều, hẹp đến rộng, thấp đến cao, đơn giản đến phức tạp”[96; tr.769]
- Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, phát triển là “phạm trù triết học chỉ ra
tính chất của những biến đổi đang diễn ra trong thế giới Phát triển là một thuộc tính phổ biến của vật chất Mọi sự vật và hiện tượng của hiện thực không tồn tại trong trạng thái bất biến, mà trải qua một loạt các trạng thái từ khi xuất hiện đến lúc tiêu vong Phạm trù phát triển thể hiện một tính chất chung của tất cả những biến đổi ấy Điều đó có nghĩa là bất kì một sự vật, một hiện tượng, một hệ thống nào, cũng như
cả thế giới nói chung không đơn giản chỉ có biến đổi, mà luôn luôn chuyển sang những trạng thái mới, tức là những trạng thái trước đây chưa từng có và không bao giờ lặp lại hoàn toàn chính xác những trạng thái đã có, bởi vì trạng thái của bất kì sự vật hay hệ thống nào cũng đều được quyết định không chỉ bởi các mối liên hệ bên
Trang 36trong, mà còn bởi các mối liên hệ bên ngoài Nguồn gốc của phát triển là sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập Phương thức phát triển là chuyển hoá những thay đổi về lượng thành những thay đổi về chất, và ngược lại theo kiểu nhảy vọt Chiều hướng phát triển là sự vận động xoáy trôn ốc”[46; tr 424]
1.2.3.2 Phát triển đội ngũ giảng viên bộ môn phương pháp giảng dạy
Phát triển ĐNGV bộ môn PPGD là một nhiệm vụ thường xuyên, đặc biệt quan trọng đối với việc phát triển nguồn nhân lực của các trường/khoa ĐHSP Phát triển ĐNGV bộ môn PPGD nhằm làm cho ĐN này đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu (ngành, chuyên môn, trình độ, độ tuổi, giới tính) và nâng cao về chất lượng
Trong phát triển ĐNGV bộ môn PPGD phải kết hợp chặt chẽ giữa phát triển
hiện Chương trình phát triển ngành SP và các trường SP, giai đoạn 2011-2020
dụng để làm cho ĐN này không những đáp ứng yêu cầu về quy mô, chất lượng, cơ cấu mà còn phát triển toàn diện và vững chắc
1.2.4 Giải pháp và giải pháp phát triển đội ngũ giảng viên bộ môn phương pháp giảng dạy
Để hiểu rõ hơn khái niệm giải pháp, chúng ta cần phân biệt nó với một số khái niệm tương tự như: phương pháp, biện pháp Điểm giống nhau của các khái niệm này đều nói về cách làm, cách tiến hành, cách giải quyết một công việc, một vấn đề Còn điểm khác nhau ở chỗ, biện pháp chủ yếu nhấn mạnh đến cách làm, cách hành động cụ thể, trong khi đó phương pháp nhấn mạnh đến trình tự các bước
có quan hệ với nhau để tiến hành một công việc có mục đích
Trang 37Theo Nguyễn Văn Đạm, “phương pháp được hiểu là trình tự cần theo trong các bước có quan hệ với nhau khi tiến hành một công việc có mục đích nhất định” [30; tr.325]
Còn theo Nguyễn Như Ý, “phương pháp là cách thức tiến hành để có hiệu quả cao” [98; tr.1351]
Về khái niệm biện pháp, theo Từ điển tiếng Việt, đó là “cách làm, cách giải quyết một vấn đề cụ thể” [96; tr.64]
Như vậy, khái niệm giải pháp, tuy có những điểm chung với các khái niệm trên nhưng nó cũng có điểm riêng Điểm riêng cơ bản của thuật ngữ này là nhấn mạnh đến phương pháp giải quyết một vấn đề, với sự khắc phục khó khăn nhất định Trong một giải pháp có thể có nhiều biện pháp
1.2.4.2 Giải pháp phát triển đội ngũ giảng viên bộ môn phương pháp giảng dạy
Giải pháp phát triển ĐNGV bộ môn PPGD là hệ thống các cách thức phát triển ĐNGV bộ môn PPGD
Từ đó, đề xuất giải pháp phát triển ĐNGV bộ môn PPGD thực chất là đưa ra các cách thức phát triển ĐNGV bộ môn PPGD, đáp ứng các yêu cầu về số lượng,
Trong các trường/khoa ĐHSP, GV bộ môn PPGD giữ các vai trò sau đây:
1.3.1.1 Trực tiếp đào tạo nghiệp vụ sư phạm cho sinh viên
Trong trường SP, đào tạo NVSP là đào tạo tay nghề cho người giáo viên tương lai Thiếu NVSP, giáo viên không thể thực hiện có hiệu quả hoạt động dạy học - giáo dục của mình được NVSP làm nên tay nghề của người GV Nói đến NVSP là nói đến sự kết hợp chặt chẽ giữa tri thức SP và KNSP Tri thức SP được cung cấp cho SV thông qua các môn học như: Tâm lí học, Giáo dục học, PPGD bộ
Trang 38môn Còn KNSP được hình thành trong quá trình SV tự rèn luyện thông qua các hoạt động thực hành, KTSP, TTSP
Như vậy, GV bộ môn PPGD vừa là người chịu trách nhiệm cung cấp cho
SV một hệ thống tri thức SP, vừa là người chịu trách nhiệm hình thành ở họ những KNSP cần thiết Ở phương diện dạy học, SV cần được hình thành các KN: Xây dựng kế hoạch dạy học theo hướng tích hợp dạy học với giáo dục thể hiện rõ mục tiêu, nội dung, phương pháp dạy học phù hợp với đặc thù môn học, đặc điểm HS
và môi trường giáo dục; phối hợp hoạt động học với hoạt động dạy theo hướng phát huy tính tích cực nhận thức của HS; Làm chủ kiến thức môn học, đảm bảo nội dung dạy học chính xác, có hệ thống, vận dụng hợp lý các kiến thức liên môn theo yêu cầu cơ bản, hiện đại, thực tiễn; Vận dụng các phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo của HS, phát triển năng lực tự học và tư duy của HS; Sử dụng các phương tiện dạy học làm tăng hiệu quả dạy học [17]
Nếu vai trò này của người GV bộ môn PPGD không được chú ý và phát huy đầy đủ thì sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến việc đào tạo NVSP cho SV
1.3.1.2 Bồi dưỡng phương pháp, kỹ thuật giảng dạy cho sinh viên và đồng nghiệp
ĐNGV bộ môn PPGD là những người nắm rất vững lý luận dạy học ĐH: từ mục tiêu, nội dung, chương trình dạy học đến phương pháp, hình thức tổ chức dạy học, kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của SV Họ có nhiệm vụ trang bị cho SV các kỹ thuật dạy học như xác định mục đích yêu cầu, xây dựng cấu trúc của bài học; lựa chọn và sử dụng phối hợp các phương pháp, hình thức tổ chức dạy học; đánh giá kết quả học tập của SV Với việc thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn đó,
ĐNGV bộ môn PPGD có thể phát huy được vai trò là “hình mẫu” về phương pháp
và kỹ thuật giảng dạy trong các trường ĐH đào tạo giáo viên
Hiện nay, một số trường ĐHSP trước đây đã phát triển theo hướng đa ngành Bên cạnh đào tạo các ngành SP, các trường này còn đào tạo các ngành ngoài SP Phần lớn GV các ngành ngoài SP đều chưa được đào tạo NVSP một cách bài bản
Trang 39Nhiều GV phải tự mò mẫm làm quen với công việc lên lớp theo kiểu “vừa làm, vừa
học” Vì thế, ĐNGV bộ môn PPGD phải có trách nhiệm bồi dưỡng cho những GV
các ngành ngoài SP về phương pháp và kỹ thuật giảng dạy ở cả phương diện lý thuyết cũng như kinh nghiệm thực tế
1.3.1.3 Tư vấn chuyển giao công nghệ dạy học
Đưa công nghệ vào đào tạo hiện đang là một xu thế của GDĐH thế giới Bản chất của công nghệ đào tạo là tổ chức quá trình đào tạo trong trường ĐH như một quy trình công nghệ Công nghệ đào tạo bảo đảm chắc chắn kết quả cuối cùng của sản phẩm đào tạo Tất cả SV với những khả năng học tập khác nhau đều về tới đích
ở những thời điểm khác nhau, ở chất lượng thực hiện các nhiệm vụ học tập khác nhau Công nghệ đào tạo còn cho phép GV kiểm soát được quá trình học tập của
SV, khắc phục được những lỗi của SV khi thực hiện các hoạt động đặc trưng cho từng khâu của quy trình công nghệ
Trong trường ĐHSP, nhiệm vụ của GV bộ môn PPGD là phải xây dựng được quy trình công nghệ cho từng loại nội dung dạy học với việc sử dụng hợp lý các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học Vì thế, trong quá trình dạy học, GV bộ môn PPGD không chỉ tổ chức hoạt động nhận thức của SV để họ tự chiếm lĩnh tri thức của các học phần mà còn chuyển giao công nghệ cho SV để sau này chính họ có thể tổ chức lại quá trình đó trên đối tượng thực của mình là học sinh THPT Đây chính là nét khác biệt giữa GV bộ môn PPGD với các GV khác Nếu các GV khác dạy kiến thức,
kỹ năng cho SV, thì GV bộ môn PPGD dạy cách dạy kiến thức, kỹ năng cho SV
1.3.1.4 Đi đầu trong đổi mới phương pháp giảng dạy và phổ biến rộng rãi cho các giảng viên khác
Quá trình dạy học hiện đại đặt ra những yêu cầu mới đối với trường ĐH, đó là: Đòi hỏi sự tiếp xúc thường xuyên giữa GV và SV; Tăng cường các hoạt động hợp tác giữa SV; Khuyến khích sử dụng các phương pháp học tập tích cực; Đòi hỏi cung cấp kịp thời các thông tin phản hồi; Coi trọng yếu tố thời gian; SV được kỳ
vọng nhiều; Sự khác biệt về năng khiếu và cách học của SV được tôn trọng Từ
những yêu cầu này, đòi hỏi trường ĐH phải đẩy mạnh đổi mới PPGD
Trang 40Chỉ thị 15/1999/CT-BGD&ĐT của Bộ GD&ĐT về việc đẩy mạnh hoạt động đổi mới PPGD và học tập trong các trường SP đã nhấn mạnh: “Đổi mới PPGD và học tập là nhiệm vụ quan trọng của từng trường (khoa) SP, từng bộ môn, của mỗi
GV và của mỗi HS, SV SP, trong đó đi đầu phải là GV các bộ môn PPGD, bộ môn Tâm lý - Giáo dục học”[11]
Như vậy, GV bộ môn PPGD phải xác định vai trò của những người đi tiên phong trong đổi mới PPGD ở các trường/khoa ĐHSP Đối với họ, đổi mới PPGD phải trở thành công việc thường xuyên, hàng ngày của mình
Đi đôi với đổi mới PPGD, GV bộ môn PPGD còn phải nâng cao hiệu quả sử dụng các PTDH, đặc biệt là công nghệ thông tin và truyền thông; tạo điều kiện cho
SV được tiếp cận với các nguồn học liệu đa dạng, khai thác các thông tin phong phú qua Internet
Bên cạnh đó, họ cũng là những người đi tiên phong trong nghiên cứu khoa học về đổi mới PPGD; tăng cường hợp tác nghiên cứu, trao đổi kinh nghiệm về đổi mới PPGD và học tập với các cơ quan, tổ chức có liên quan (như Viện KHGD, các trường THPT ) Không chỉ đi đầu trong đổi mới PPGD trong các trường/khoa ĐHSP, GV bộ môn PPGD còn tích cực tham gia đổi mới PPGD và học tập ở PT Chính họ là những người giữ vai trò nòng cốt trong xây dựng, biên soạn các chuyên
đề bồi dưỡng giáo viên về đổi mới PPGD và trực tiếp trình bày các tài liệu đó cho đội ngũ báo cáo viên của các cơ sở giáo dục
1.3.1.5 Phát triển chương trình đào tạo, bồi dưỡng giáo viên và chương trình giáo dục phổ thông
Trong các trường/khoa ĐHSP, ngoài việc đào tạo NVSP cho SV, ĐNGV bộ
môn PPGD còn đóng vai trò quan trọng trong phát triển chương trình đào tạo, bồi
dưỡng giáo viên và chương trình giáo dục PT
Để phát triển ngành SP Việt Nam tiên tiến, hiện đại đủ năng lực đáp ứng nhu cầu phát triển ĐN giáo viên của hệ thống GDPT, các trường/khoa ĐHSP cần phải tiến hành đồng bộ các giải pháp, trong đó cần đặc biệt nhấn mạnh giải pháp đổi mới nội dung, chương trình, giáo trình đào tạo giáo viên