1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận án dạy học cơ kỹ thuật theo lý thuyết học tập kiến tạo trong đào tạo giáo viên công nghệ

159 308 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 159
Dung lượng 2,24 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luật giáo dục đại học 2012 cũng đã khẳng định dạy học ở các trường cao đẳng luôn phải đổi mới bắt kịp với thời đại, đào tạo “sinh viên có kiến thức chuyên môn cơ bản, kỹ năng thực hành t

Trang 1

TRẦN TUYẾN

DẠY HỌC CƠ KỸ THUẬT THEO LÝ THUYẾT HỌC TẬP KIẾN TẠO TRONG ĐÀO TẠO GIÁO VIÊN CÔNG NGHỆ

Chuyên ngành : Lý luận và PPDH bộ môn Kỹ thuật công nghiệp

Trang 2

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả trong luận án là trung thực và chƣa từng đƣợc công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Xin trân trọng cảm ơn !

Tác giả

Trần Tuyến

Trang 3

Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn trân trọng tới:

Quý thầy, cô hướng dẫn khoa học:

Khoa Sư phạm Tự nhiên – Trường Cao đẳng Sơn La, Khoa Tự nhiên – Trường Cao đẳng Sư phạm Thái Bình và các giảng viên, các lớp sinh viên đã nhiệt tình tham gia thực nghiệm sư phạm, chia sẻ kinh nghiệm dạy học giúp tác giả hoàn thiện luận án

Các cán bộ quản lý, chuyên gia, giảng viên, giáo viên một số trường đại học, cao đẳng, cùng gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã quan tâm, chia sẻ, tạo điều kiện giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành luận án

Tác giả

Trần Tuyến

Trang 4

Viết tắt Viết đầy đủ

Trang 5

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA DẠY HỌC THEO LÝ THUYẾT HỌC TẬP KIẾN TẠO 6

1.1 Tổng quan về lịch sử nghiên cứu lý thuyết học tập kiến tạo 6

1.1.1 Những nghiên cứu về lý thuyết học tập kiến tạo trên thế giới 6

1.1.2 Những nghiên cứu về dạy học theo lý thuyết học tập kiến tạo ở Việt Nam 11

1.2 Một số khái niệm cơ bản liên quan đến dạy học theo lý thuyết học tập kiến tạo 14

1.2.1 Kiến tạo 14

1.2.2 Học tập kiến tạo 15

1.2.3 Đồng hóa 18

1.2.4 Điều ứng 20

1.3 Lý thuyết học tập kiến tạo và vận dụng 22

1.3.1 Khái quát về lý thuyết học tập kiến tạo 22

1.3.2 Kiến tạo cơ bản 26

1.3.3 Kiến tạo xã hội 28

1.3.4 Cấu trúc của dạy học theo lý thuyết học tập kiến tạo 29

1.3.5 Vận dụng lý thuyết học tập kiến tạo trong dạy học 31

1.4 Thực trạng dạy học Cơ kỹ thuật xét theo quan điểm kiến tạo 35

1.4.1 Sinh viên học tập Cơ kỹ thuật 36

1.4.2 Giảng viên dạy học Cơ kỹ thuật 39

Kết luận chương 1 43

CHƯƠNG 2: BIỆN PHÁP DẠY HỌC CƠ KỸ THUẬT THEO LÝ THUYẾT HỌC TẬP KIẾN TẠO 45

2.1 Giới thiệu môn Cơ kỹ thuật ở trường cao đẳng sư phạm 45

2.1.1 Mục tiêu môn học 45

2.1.2 Phân tích cấu trúc nội dung môn Cơ kỹ thuật 45

2.2 Nguyên tắc dạy học môn Cơ kỹ thuật theo lý thuyết học tập kiến tạo 51 2.3 Quy trình dạy học CKT theo lý thuyết học tập kiến tạo 52

Trang 6

2.4.1 Biện pháp 1: Dạy sinh viên các phương pháp nghiên cứu môn học 56 2.4.2 Biện pháp 2: Cấu trúc bài dạy CKT theo tư duy của nhà khoa học 74

2.4.3 Biện pháp 3: Vận dụng phương pháp dạy học nêu vấn đề 79

2.5 Thiết kế minh họa bài dạy Cơ kỹ thuật theo lý thuyết học tập kiến tạo 86

2.5.1 Bài 1: Phương pháp Véc tơ 86

2.5.2 Bài 2: Cơ cấu Tay quay – Con trượt 93

2.5.3 Bài 3: Chuyển động tịnh tiến của vật rắn 100

Kết luận chương 2 107

CHƯƠNG 3: KIỂM NGHIỆM VÀ ĐÁNH GIÁ 109

3.1 Mục đích, nội dung, phương pháp kiểm nghiệm 109

3.1.1 Mục đích kiểm nghiệm 109

3.1.2 Nội dung kiểm nghiệm 109

3.1.3 Phương pháp kiểm nghiệm 109

3.2 Thực nghiệm sư phạm 110

3.2.1 Chuẩn bị thực nghiệm 111

3.2.2 Tiến hành thực nghiệm 111

3.2.3 Kết quả thực nghiệm sư phạm 114

3.3 Phương pháp chuyên gia 125

Kết luận chương 3 129

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 131

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ 133

TÀI LIỆU THAM KHẢO 134

Phụ lục 1: Phiếu hỏi ý kiến giảng viên 143

Phụ lục 2: Phiếu lấy ý kiến sinh viên 144

Phụ lục 3: Các đề kiểm tra và đáp án 145

Phụ lục 4: Phiếu xin ý kiến chuyên gia 151

Trang 7

Bảng 1.1: Ý kiến của SV về sử dụng PPDH 36

Bảng 1.2: Ý kiến của SV học tập CKT 37

Bảng 1.3: Ý kiến của GV về sử dụng PPDH 40

Bảng 2.1: Đề cương môn Cơ kỹ thuật 47

Bảng 3.1: Bảng phân phối thực nghiệm 116

Bảng 3.2: Bảng tần số điểm 117

Bảng 3.3: Bảng tần suất điểm 118

Bảng 3.4: Bảng tần suất hội tụ tiến 119

Bảng 3.5: Bảng tổng hợp tính phương sai ở nhóm lớp ĐC 120

Bảng 3.6: Bảng tổng hợp tính phương sai ở nhóm lớp TN 121

Bảng 3.7: Bảng so sánh phương sai, phương sai hiệu chỉnh, độ lệch chuẩn hiệu chỉnh và hệ số biến thiên của nhóm lớp ĐC và TN 124

Bảng 3.8: Danh sách chuyên gia 126

Bảng 3.9: Kết quả xin ý kiến chuyên gia 127

Trang 8

Hình 1.1: Sơ đồ quá trình đồng hóa và điều ứng trong học tập 23

Hình 2.1: Sơ đồ quy trình học tập kiến tạo CKT 53

Hình 3.1: Đồ thị tần số điểm 117

Hình 3.2: Đường tần suất của nhóm lớp ĐC và TN 118

Hình 3.3: Đường tần suất hội tụ tiến của nhóm lớp ĐC và TN 119

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do nghiên cứu đề tài

1.1 Quan điểm định hướng phát triển giáo dục và đào tạo của nước ta

Đất nước ta đang trong thời kỳ đầu hội nhập khu vực và quốc tế trên tất cả các lĩnh vực Để nước ta sớm trở thành nước công nghiệp thì trước hết cần nhận thấy được nguồn nhân lực mang yếu tố quyết định Để có được nguồn nhân lực chất lượng tốt, Đảng ta đã xác định “Giáo dục là quốc sách hàng đầu” Trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020 của văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI khẳng định: “Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế, trong đó, tập trung nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, coi trọng giáo dục đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành, khả năng lập nghiệp ” [99]

Luật giáo dục đại học 2012 cũng đã khẳng định dạy học ở các trường cao đẳng luôn phải đổi mới bắt kịp với thời đại, đào tạo “sinh viên có kiến thức chuyên môn cơ bản, kỹ năng thực hành thành thạo, hiểu biết được tác động của các nguyên lý, quy luật tự nhiên – xã hội trong thực tiễn và có khả năng giải quyết những vấn đề thông thường thuộc ngành đào tạo” [68]

Đảng và Nhà nước ta chưa bao giờ xem nhẹ, đánh giá thấp sự phát triển của giáo dục Nhiều cơ chế, chính sách ưu tiên phát triển giáo dục và những

ưu đãi trong đào tạo giáo viên, tạo điều kiện cho người dạy phát huy sáng tạo, chủ động đổi mới phương pháp, tìm những hướng đi, quan điểm phù hợp cho hoạt động dạy học Nhà nước luôn động viên người học, tạo môi trường học tập thuận lợi để người học chủ động tiếp nhận tri thức, làm chủ quá trình nhận thức; khuyến khích đổi mới giáo dục và đào tạo theo hướng tiếp nhận tri thức thụ động sang chủ động, phát huy tính tích cực chủ động nhận thức của người học

Trang 10

1.2 Đổi mới phát triển giáo dục và đào tạo theo hướng phát huy tính tích cực chủ động của người học

Trong giáo dục truyền thống, người dạy là “trung tâm” của mọi hoạt động, chủ động truyền đạt kiến thức và kỹ năng đến người học Nhưng hiện nay Đảng và Nhà nước ta chủ trương đổi mới phát triển giáo dục và đào tạo theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động của người học Theo đó, giáo dục phải phát huy tính chủ động, tích cực, sáng tạo của người học phù hợp với đặc điểm từng lớp học, môn học Đặc biệt trong đào tạo bậc đại học, cần tạo cho cho sinh viên môi trường thuận lợi để họ chủ động xây dựng kiến thức, làm chủ tri thức dựa trên những hiểu biết của bản thân Do đó, dạy học cần chú trọng bồi dưỡng phương pháp tự học, quan tâm sự tương tác tích cực với môi trường, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động vào tình cảm, đem lại niềm vui cho người học

Thế giới mỗi ngày một thay đổi, xã hội ngày một phát triển, khối lượng kiến thức ngày càng tăng, để việc lĩnh hội kiến thức được hiệu quả và bắt kịp với thời đại bên cạnh kiến thức thì vấn đề quan trọng là phải có phương pháp chiếm lĩnh tri thức Do đó, dạy phương pháp chiếm lĩnh tri thức là bước quan trọng tiên quyết hiện nay; dạy người học cách giải quyết vấn đề bằng kiến tạo kiến thức để họ có kỹ năng trong cuộc sống hiện đại; cần hình thành năng lực kiến tạo tri thức khi người học còn ngồi trên ghế nhà trường

1.3 Lý thuyết học tập kiến tạo đối với đổi mới phương pháp dạy học môn học Cơ kỹ thuật

Tạo môi trường học tập thích hợp để người học chủ động kiến tạo tri thức đó là tư tưởng cốt lõi của Lý thuyết học tập kiến tạo Trong khi đó, dạy học Cơ kỹ thuật cần được đổi mới theo hướng tích cực hóa hoạt động của sinh viên Và thực tế cho thấy có thể vận dụng lý thuyết học tập kiến tạo trong dạy học Cơ kỹ thuật góp phần đổi mới phương pháp dạy học, phát triển giáo dục theo hướng hiện đại

Trang 11

Dạy học theo lý thuyết học tập kiến tạo là cách tiếp cận các phương pháp dạy học tích cực; người dạy không phải là người truyền đạt kiến thức có sẵn, cung cấp chân lý mà là người đảm nhiệm vai trò định hướng, đạo diễn hoặc tạo tiền đề cho người học khám phá ra chân lý, tương tác, tự tìm ra kiến thức Thực tiễn đòi hỏi cần phải trang bị cho sinh viên sư phạm những kiến thức mới về các phương pháp dạy học, trong đó có vận dụng lý thuyết học tập kiến tạo để khi ra trường họ áp dụng vào dạy học, hiện thực hóa những kiến thức

đã học trong trường sư phạm

Thực trạng dạy và học môn Cơ kỹ thuật cho thấy cần phải đổi mới hơn nữa phương pháp dạy học để đáp ứng sự phát triển của giáo dục trong thời đại mới Hiện nay, việc dạy học nói chung và dạy học Cơ kỹ thuật nói riêng ở các trường đại học vẫn diễn ra tình trạng đọc chép; hoạt động dạy học chủ yếu là hoạt động của giảng viên, còn sinh viên thường ghi chép và tiếp thu bài thụ động, thiếu tính sáng tạo, không chủ động, chưa làm chủ hoạt động học tập Chính vì vậy việc tạo cho sinh viên một môi trường học tập để họ chủ động trong các hoạt động nhận thức là rất cần thiết Nhận thấy khả năng vận dụng

lý thuyết học tập kiến tạo vào dạy học để phát huy những yếu tố tích cực của

người học, tác giả tập trung nghiên cứu đề tài “Dạy học Cơ kỹ thuật theo lý thuyết học tập kiến tạo trong đào tạo giáo viên Công nghệ” nhằm tìm ra

những biện pháp hữu hiệu nâng cao chất lượng đào tạo giáo viên Công nghệ, góp phần vào sự phát triển giáo dục của đất nước

2 Mục đích nghiên cứu

Đề xuất các biện pháp dạy học môn Cơ kỹ thuật trong chương trình đào tạo CĐSP theo lý thuyết học tập kiến tạo nhằm dạy SV nắm vững kiến thức

và cả phương pháp chiến lĩnh kiến thức đó (phương pháp nghiên cứu), giúp

họ có khả năng học tập suốt đời

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu

Quá trình dạy học Cơ kỹ thuật cho sinh viên ngành Sư phạm công nghệ trình độ cao đẳng

Trang 12

3.2 Đối tượng nghiên cứu

- Khả năng ứng dụng lý thuyết học tập kiến tạo vào dạy học và vận dụng vào dạy học môn Cơ kỹ thuật

- Các biện pháp dạy học môn Cơ kỹ thuật theo lý thuyết học tập kiến tạo

3.3 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu lý thuyết học tập kiến tạo và vận dụng vào dạy học môn Cơ kỹ thuật trong chương trình đào tạo giáo viên Công nghệ trình độ cao đẳng

4 Giả thuyết khoa học

Nếu đề xuất và vận dụng hợp lý các biện pháp dạy học môn Cơ kỹ thuật (trong chương trình đào tạo CĐSP) theo lý thuyết học tập kiến tạo thì

sẽ dạy được cho SV không chỉ nắm vững kiến thức mà cả phương pháp chiễn lĩnh (phương pháp nghiên cứu) kiến thức đó, giúp cho họ có khả năng học tập suốt đời

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Xây dựng cơ sở lý luận về lý thuyết học tập kiến tạo, và ứng dụng trong dạy học nói chung và trong dạy học Cơ kỹ thuật của chương trình đào tạo giáo viên Công nghệ trung học cơ sở

5.2 Tìm hiểu thực trạng dạy học Cơ kỹ thuật ở trường cao đẳng sư phạm trên quan điểm của lý thuyết học tập kiến tạo

5.3 Phân tích logic kiến thức Cơ kỹ thuật trong chương trình đào tạo giáo viên trung học cơ sở làm cơ sở cho dạy học các nội dung của môn học theo lý thuyết học tập kiến tạo; xây dựng quy trình dạy học theo lý thuyết học tập kiến tạo cho môn Cơ kỹ thuật

5.4 Kiểm nghiệm và đánh giá dạy học Cơ kỹ thuật theo lý thuyết học tập kiến tạo để kiểm chứng giả thuyết của đề tài

6 Phương pháp nghiên cứu

Sử dụng phối hợp hệ thống phương pháp nghiên cứu sau:

Trang 13

6.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Hệ thống hóa, phân tích, tổng hợp, so sánh các tài liệu lý luận dạy học liên quan, đặc biệt là tài liệu về lý thuyết học tập kiến tạo Từ đó xây dựng cơ sở lý luận cho việc vận dụng lý thuyết học tập kiến tạo vào dạy học Cơ kỹ thuật trong đào tạo giáo viên Công nghệ

6.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

6.2.1 Phương pháp điều tra cơ bản: Điều tra thực trạng dạy học Cơ kỹ thuật ở trường cao đẳng sư phạm trên quan điểm của lý thuyết học tập kiến tạo 6.2.2 Phương pháp chuyên gia: Xin ý kiến của chuyên gia về vận dụng

lý thuyết học tập kiến tạo vào dạy học môn Cơ kỹ thuật trong đào tạo giáo viên cao đẳng sư phạm công nghệ

6.2.3 Phương pháp thực nghiệm: Tiến hành thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm chứng giả thuyết khoa học

6.2.4 Phương pháp quan sát: Quan sát hoạt động học tập của sinh viên

để có những nhận xét, đánh giá thực tiễn ứng dụng lý thuyết học tập kiến tạo 6.2.5 Phương pháp thống kê: Sử dụng thống kê Toán học để tính toán và biểu thị các kết quả một cách định lượng

7 Những đóng góp mới của luận án

7.1 Phát triển lý thuyết học tập kiến tạo trong dạy học Cơ kỹ thuật ở trường cao đẳng sư phạm

7.2 Đề xuất các nguyên tắc dạy và quy trình dạy học Cơ kỹ thuật theo lý thuyết học tập kiến tạo ở trường cao đẳng sư phạm

7.3 Đề xuất ba biện pháp (có thực nghiệm) vận dụng lý thuyết học tập kiến tạo vào dạy học Cơ kỹ thuật

8 Cấu trúc của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục luận án gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của dạy học cơ kỹ thuật theo lý thuyết học tập kiến tạo

Chương 2: Biện pháp dạy học cơ kỹ thuật theo lý thuyết học tập kiến tạo Chương 3: Kiểm nghiệm và đánh giá

Trang 14

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA DẠY HỌC

THEO LÝ THUYẾT HỌC TẬP KIẾN TẠO 1.1 Tổng quan về lịch sử nghiên cứu lý thuyết học tập kiến tạo

1.1.1 Những nghiên cứu về lý thuyết học tập kiến tạo trên thế giới

Trên thế giới, lý thuyết học tập kiến tạo có từ cổ xưa, thời Socrate (một triết gia thành Athènes) Cụ thể từ cuộc hội thoại của ông với những người học trò, ông đã đưa ra những câu hỏi trực tiếp để dẫn dắt người học tự nhận ra điểm yếu trong suy nghĩ của họ Cách trao đổi này đến nay vẫn được coi là công cụ quan trọng trong kiến tạo mà các nhà giáo dục vận dụng để kiểm tra kiến thức của người học và chuẩn bị cho việc hình thành kiến thức mới Đến cuối thế kỷ 18, đánh dấu sự ra đời quan điểm kiến tạo trong dạy học xuất phát

từ tuyên bố của nhà triết học Giam Battista Vico với đại ý: con người chỉ hiểu một cách rõ ràng những gì mà họ tự xây dựng nên cho chính mình [27]

Sau đó Jean Piaget và John Dewey đã phát triển quan điểm kiến tạo thành các học thuyết về sự phát triển và giáo dục trẻ em - điều này đã tạo nên bước tiến cho lý thuyết học tập kiến tạo

Piaget cho rằng “nền tảng cơ bản của việc học là khám phá” Nhà tâm lý học người Thụy Sĩ này còn xây dựng lý thuyết học tập dựa trên quá trình

“đồng hóa” và “điều ứng” trong nhận thức của người học với nội dung: con người học tập thông qua việc thiết lập nên chuỗi logic liên tiếp nhau, cái này nối tiếp cái kia Những kiến thức mà người học hôm nay biết được có mối liên hệ với những kiến thức mà họ đã được học hôm qua, đây chính là cơ sở của việc giáo dục dựa trên lý thuyết học tập kiến tạo [27, tr.24]

John Dewey, triết gia hàng đầu ở thế kỷ 20, nhà tâm lý học, nhà giáo dục học người Mỹ yêu cầu giáo dục phải dựa trên kinh nghiệm thực tế Ông cho rằng việc học tập là một quá trình liên tiếp, những dữ liệu có được hôm nay là

Trang 15

bằng chứng cho quá trình học tập ở ngày mai Đây là cơ sở ra đời của lý thuyết học tập kiến tạo - việc học được dựa trên kinh nghiệm của người học Một người có ảnh hưởng lớn đến sự ra đời của lý thuyết học tập kiến tạo

là Vưgotski, ông cho rằng trẻ em học các khái niệm thông qua sự mâu thuẫn giữa những quan niệm hàng ngày của họ với những khái niệm của người lớn Trẻ em cũng biết kiến tạo những hiểu biết riêng của mình chứ không hoàn toàn phụ thuộc vào người lớn Tất cả những hoạt động tác động vào môi trường ngoài đều được trẻ em học hỏi và tạo thành kinh nghiệm của bản thân qua quá trình tiếp xúc Ban đầu có thể là những phép thử sai hoặc sự nhắc nhở của người lớn nhưng kiến thức thực sự là của trẻ khi tự trẻ thực hiện những tác động ra môi trường Mặc dù được giới thiệu hoặc hướng dẫn những chuẩn mực, nhưng trẻ em phải biết kiến tạo những hiểu biết riêng của mình về thế giới xung quanh chứ không phải chấp nhận một cách cứng nhắc những gì mà người lớn nói Ông định nghĩa "vùng phát triển gần nhất" với quan niệm: vùng phát triển gần hôm nay thì ngày mai sẽ trở thành trình độ hiện tại và xuất hiện vùng phát triển gần mới [65, tr.106] Điều này nói lên quá trình dạy học thường được thực hiện dưới hình thức hợp tác của trẻ với người lớn là một trường hợp riêng của sự tác động qua lại của cái lý tưởng và cái hiện có [80, tr.50]

Việc nghiên cứu và hoàn thiện tư tưởng của Piaget và Vưgotski đã thu hút nhiều nhà nghiên cứu, trong số đó đáng chú ý là Glaserfeld đã nghiên cứu

lý thuyết học tập kiến tạo dựa trên luận điểm: Tri thức được kiến tạo một cách tích cực bởi chủ thể nhận thức chứ không phải tiếp thu một cách thụ động từ môi trường bên ngoài Ông cho rằng nhận thức của người học là một quá trình thích nghi và tổ chức những hiểu biết của chính họ Người học nhận thức không phải khám phá một thế giới cho nhân loại mà là quá trình đi tìm cái mới cho chính họ mà họ chưa từng biết tới Điểm này khác biệt với nhận thức của nhà khoa học - họ tìm ra cái mới cho nhân loại Học là một quá trình

Trang 16

mang tính xã hội trong đó người học dần tự hòa mình vào các hoạt động trí tuệ của những người xung quanh Trong lớp học theo lý thuyết học tập kiến tạo, người học không chỉ tham gia vào quá trình khám phá, phát minh mà còn tham gia vào cả quá trình xã hội bao gồm việc giải thích trao đổi, đàm phán

và đánh giá Những tri thức mới của người học nhận được từ việc điều chỉnh lại thế giới quan của họ để cho tri thức đó phải đáp ứng yêu cầu mà thực tế tự nhiên và thực trạng xã hội đặt ra [13]

Douglas H Clementes và Michael T Battista vận dụng lý thuyết học tập kiến tạo vào dạy học Toán với quan điểm: Kiến thức được người học chủ động và phát hiện chứ không phải thụ động tiếp nhận từ người khác mang đến hay do môi trường đem lại Người học tạo dựng nên kiến thức mới cho bản thân thông qua hoạt động thể chất và trí tuệ Sự biểu đạt thế giới và hiểu biết

về tri thức khoa học mang tính cá nhân của người học Học là một hoạt động

xã hội trong đó người học dần hòa mình vào hoạt động trí tuệ của những người xung quanh [13]

Trên con đường đi tìm lý thuyết kiến tạo cho dạy học, nhà nghiên cứu

Paul Ernest đã phân chia lý thuyết học tập kiến tạo thành hai loại: Kiến tạo cơ bản và kiến tạo xã hội Cùng quan điểm kiến tạo cơ bản, Nerida F Ellerton

và M A Clementes cho rằng: tri thức được kiến tạo một cách cá nhân, thông qua cách thức hoạt động của mỗi cá nhân Quan điểm này giống với luận điểm của Ernt Von Glaserfeld là: kiến thức là kết quả của hoạt động kiến tạo của chính chủ thể nhận thức, không phải là thứ sản phẩm mà bằng cách này hay cách khác tồn tại bên ngoài chủ thể nhận thức và có thể được truyền đạt hoặc thấm nhuần bởi sự cần cù nhận thức hoặc giao tiếp Về quan điểm kiến tạo xã hội có nhà nghiên cứu Nor Joharudeen, ông nghiên cứu học tập ở góc

độ xã hội, nghiên cứu chỉ rõ sự kiến tạo kiến thức bằng việc nhấn mạnh đến vai trò của các yếu tố văn hóa, các điều kiện xã hội và sự tác động của các yếu

tố xã hội đến nhận thức của người học [13]

Trang 17

Bruner, nhà tâm lý học người Mỹ trong quá trình nghiên cứu đã đề xuất thay đổi chương trình dạy học dựa trên quan điểm học tập là một quá trình tích cực và mang tính xã hội; trong đó, người học tổ chức nên những ý kiến mới và các khái niệm dựa trên kiến thức hiện tại của họ

Ngoài ra, những nhà giáo dục hiện đại đã nghiên cứu, viết, và áp dụng lý thuyết học tập kiến tạo vào giáo dục như: John D Bransford, Ernst Von Glasersfeld, Eleanor Duckworth, George Forman, Roger Schank, Jacqueline Grennon Brooks, và Martin G Brooks,

Trên đây là một số nhà nghiên cứu về giáo dục trên thế giới, những người tiên phong đi đầu trong nghiên cứu dạy học dựa trên lý thuyết học tập kiến tạo Những nghiên cứu cho thấy sự hoàn thiện và bước đầu vận dụng của

lý thuyết học tập kiến tạo với các quan điểm:

- Tri thức được xuất hiện thông qua việc chủ thể tự cấu trúc nhận thức theo ý chủ quan của bản thân

- Học là quá trình hình thành và phát triển các sơ đồ nhận thức thông qua hoạt đô ̣ng đồng hóa và điều ứng nhằm ta ̣o lâ ̣p tra ̣ng thái cân bằng thích nghi với môi trường

- Ngườ i ho ̣c tích cực , chủ động và sáng tạo xây dựng kiến thức của bản thân dựa trên những kinh nghiê ̣m đã có và tương tác với môi trường ho ̣c tâ ̣p Những nghiên cứu đã mở ra những hướng đi mới trong giáo dục, đặc biệt là sự vận dụng các quan điểm của lý thuyết học tập kiến tạo vào quá trình dạy học Lý thuyết học tập kiến tạo cho thấy học không chỉ là khám phá mà còn là sự giải thích, cấu trúc mới tri thức Do đó, để dạy học tốt cần tổ chức

sự tương tác giữa người học và đối tượng học tập, giúp người học xây dựng thông tin mới vào cấu trúc tư duy đã được chủ thể điều chỉnh

Thành công của các nghiên cứu về lý thuyết học tập kiến tạo và vận dụng trong dạy học cũng đã góp phần đưa giáo dục của một số quốc gia đạt được những thành tựu nhất định và được xếp vào các nước có nền giáo dục

Trang 18

tiên tiến Để có được hiệu quả cao trong dạy học, các nước tiêu biểu như Mỹ, Nga, Hi lạp, Thụy Điển cũng đang dần thay đổi phương pháp dạy học Phương pháp dạy học chủ yếu được các nước này áp dụng là các phương pháp dạy học lấy người học làm trung tâm mà nền tảng là vận dụng lý thuyết học tập kiến tạo vào dạy học Thực tế đã cho thấy nền giáo dục của các nước này rất phát triển Đó là kết quả của nhiều tác động trong đó các nước này đã

áp dụng các phương pháp dạy học tích cực theo lý thuyết học tập kiến tạo Trên thế giới tiêu biểu có Thụy Điển, đất nước thực hiện cuộc cải cách giáo dục từ mẫu giáo cho đến hết trung học phổ thông theo “chủ thuyết xây dựng kiến thức” (lý thuyết học tập kiến tạo) kết hợp với việc chuẩn bị cho lực lượng lao động trong nền kinh tế toàn cầu Đây là hướng cải cách mà Dewey một nhà cải cách Giáo dục Mỹ đã khởi xướng từ cách đây gần một thế kỷ Đến nay, tiến trình cải cách giáo dục của Thụy Điển đã được hơn mười năm

và đạt được những thành công to lớn Thừa nhận đây là đường lối giáo dục tiên tiến nhất và cũng mong muốn áp dụng, Mỹ đã cử một phái đoàn điều tra tại hiện trường tìm hiểu, xem xét các kết quả của công cuộc cải cách này Hiện nay, Thụy Điển được đánh giá là đất nước có “nền giáo dục tiên tiến nhất trên thế giới” [102]

Ở Phần Lan, Bộ Giáo dục của nước Bắc Âu này cho rằng: “Nguyên tắc chỉ đạo của nền giáo dục Phần Lan là sinh hoạt dân chủ, lấy học sinh làm gốc Các trường không hề thực hiện việc tuyển chọn học sinh trong bất cứ giai đoạn nào Tất cả học sinh được học chung một lớp và hoàn toàn không có chuyện ở lại lớp hay học nhảy cóc lớp Học sinh được tự do lựa chọn những

gì các em muốn học và tự quyết định việc nên học tiếp bậc Trung học đệ nhị cấp hay vào học ở các trường Chuyên nghiệp Giáo viên chỉ hướng dẫn các

em trong việc lựa chọn” [100]

Cùng với Thụy Điển, Phần Lan các nước Na Uy, Đan Mạch, cũng thực hiện nền giáo dục mà người học được làm chủ việc học tập Người học được

Trang 19

hướng dẫn, khuyến khích tự lập và triển khai kế hoạch học tập của riêng mình Người dạy là người hướng dẫn, chứ không chỉ thị, áp đặt, độc đoán; tuy nhiên họ được sự tín nhiệm và giám sát hoạt động của người học Đó là mô hình của dạy học theo lý thuyết học tập kiến tạo, và thực tế cho thấy giáo dục của các nước này đã đạt được những thành tựu nhất định đáng để nhiều nước trong đó có nước ta vận dụng, học tập

1.1.2 Những nghiên cứu về dạy học theo lý thuyết học tập kiến tạo ở Việt Nam

Ở nước ta, giáo dục “tích cực” bắt đầu phát triển dưới ảnh hưởng của quá trình đổi mới của đất nước, tư tưởng chủ yếu tập trung đến ý thức tích cực, tự giác nhận thức của người học Những nghiên cứu của Trần Bá Hoành, Nguyễn Kỳ, Nguyễn Cảnh Toàn, Nguyễn Bá Kim, Trần Kiều, Nguyễn Hữu Châu, đều tập trung vào tính tự giác, tự kiến tạo kiến thức học tập của người học Trong các tài liệu tập huấn, tài liệu bồi dưỡng thường xuyên về đổi mới giáo dục hiện nay có phần lớn nội dung chú trọng đến các phương pháp dạy học tích cực được dựa trên các quan điểm như dạy học nêu vấn đề, dạy học tương tác, dạy học kiến tạo Trong một số dự án giáo dục hợp tác với nước ngoài cũng có mục đích triển khai các phương pháp dạy học hiện đại, phổ biến mang lại hiệu quả cao; trong đó có các phương pháp dựa trên lý thuyết học tập kiến tạo

Trong số các công trình nghiên cứu gần đây về dạy học kiến tạo có luận

án tiến sỹ của Dương Bạch Dương: “Nghiên cứu phương pháp giảng dạy một

số khái niệm, định luật trong chương trình Vật lý lớp 10 trung học phổ thông theo quan điểm kiến tạo (xây dựng)” Luận án đã bước đầu đề cập đến giảng dạy một số nội dung của bài học Vật lý 10 theo lý thuyết học tập kiến tạo Luận án nhấn mạnh sử dụng phương pháp dạy học trên cơ sở vận dụng lý thuyết học tập kiến tạo theo hướng để người học tự bộc lộ các quan niệm sai

và xây dựng các quan niệm đúng [21]

Trang 20

Cao Thị Hà, với luận án tiến sỹ: “Dạy học một số chủ đề hình học không gian (hình học 11) theo quan điểm kiến tạo” Luận án đã vận dụng lý thuyết học tập kiến tạo vào dạy học khai thác triệt để các kiến thức và kinh nghiệm

đã có ở người học liên quan đến vấn đề cần dạy làm cơ sở cho việc kiến tạo tri thức mới Tác giả cũng tạo lập môi trường học tập mang tính cởi mở và hợp tác trong quá trình dạy học Đồng thời sử dụng quy trình kiến tạo tri thức

để thiết kế các hoạt động dạy học [27]

Luận án tiến sỹ của Lương Việt Thái, “Nghiên cứu tổ chức quá trình dạy học một số nội dung vật lí trong môn Khoa học ở tiểu học và môn Vật lí ở trung học cơ sở trên cơ sở vận dụng tư tưởng của lí thuyết kiến tạo” Là luận

án về dạy học theo lý thuyết học tập kiến tạo dựa trên quan niệm của học sinh lớp 4 và lớp 7 về ánh sáng và âm thanh [71]

Trong những năm gần đây, cùng với phong trào đổi mới phương pháp dạy học, nước ta có nhiều nghiên cứu đã đề cập đến lý thuyết học tập kiến tạo với những góc độ khác nhau Tiêu biểu có Nguyễn Hữu Châu, Thái Duy Tuyên, Đỗ Tiến Đạt, Đào Tam, Nguyễn Quang Lạc, Bùi Phương Nga, …các nghiên cứu đã tìm hiểu lịch sử dạy học kiến tạo và tổng kết những đặc điểm

cơ bản của việc vận dụng lý thuyết học tập kiến tạo vào dạy học [13],[14], , [69], [78] Tuy chưa được nhiều và chưa được triển khai rộng rãi, nhưng công trình của các tác giả ở Việt Nam trong thời gian gần đây đã cho thấy quá trình đổi mới giáo dục ở nước ta đang được các nhà sư phạm hưởng ứng mạnh mẽ, đặc biệt là việc vận dụng các phương pháp dạy học tích cực vào dạy học, trong đó bước đầu vận dụng lý thuyết học tập kiến tạo vào dạy học Nghiên cứu của các tác giả trong nước cho người đọc cách tiếp cận lý thuyết học tập kiến tạo ở nhiều phương diện khác nhau Các nghiên cứu cho thấy có thể vận dụng lý thuyết học tập kiến tạo trong dạy học với quan điểm kiến tạo nhận thức, kiến tạo cơ bản, kiến tạo xã hội Điều này nói lên giáo dục Việt Nam trong những năm gần đây đang dần thay đổi theo hướng dạy học

Trang 21

tập trung vào người học Đây là sự đổi mới dạy học, trong đó có sự vận dụng

tư tưởng của lý thuyết học tập kiến tạo Tuy mới ở bước đầu, kết quả chưa rõ ràng nhưng công trình của các tác giả đã chứng tỏ nghiên cứu phát triển lý thuyết học tập kiến tạo phù hợp với thực tế hoàn cảnh và điều kiện giáo dục của nước ta

Một số tác giả nghiên cứu lý thuyết học tập kiến tạo theo hướng vận dụng vào dạy học bộ môn đặc trưng Như nghiên cứu đổi mới dạy học Hóa học theo lý thuyết kiến tạo của Đào Thị Việt Anh, Võ Văn Duyên Em [1], [2], , [24] Môn Sinh học, tiêu biểu có Trần Thị Mai Lan [60], bước đầu đưa ra quy trình và có ví dụ cụ thể tổ chức dạy học dựa trên lý thuyết học tập kiến tạo Trong môn Toán có nhiều nghiên cứu và vận dụng lý thuyết học tập kiến tạo; tiêu biểu có Nguyễn Hữu Châu [12], Đỗ Tiến Đạt [23], Cao Thị Hà [26], [27], Đào Tam [69], Nguyễn Thùy Vân [80]; những nghiên cứu đã phân tích những ưu nhược điểm khi vận dụng dạy học theo lý thuyết học tập kiến tạo và bước đầu vận dụng vào quá trình tổ chức dạy một số nội dung cụ thể của Toán học Môn Vật lý tiêu biểu có Dương Bạch Dương [21], Lương Việt Thái [71] là hai công trình tiêu biểu trong vận dụng lý thuyết học tập kiến tạo ở môn Vật lý góp phần vào sự đổi mới phương pháp dạy học, nâng cao chất lượng dạy và học Vật lý

Qua đây có thể thấy việc nâng cao chất lượng dạy học theo hướng tiếp cận các quan điểm dạy học mới đã và đang được nghiên cứu sâu rộng cả về phương diện lý thuyết cơ bản cũng như vận dụng vào từng nội dung dạy học

cụ thể Lý thuyết học tập kiến tạo có từ lâu trên thế giới, đã được cụ thể hóa bằng hiệu quả trong đào tạo của giáo dục một số nước, hiện đang được quan tâm nhiều ở Việt Nam Do vậy, xu hướng nghiên cứu triển khai lý thuyết học tập kiến tạo vào dạy học trong chương trình đào tạo giáo viên là khả thi, đáp ứng yêu cầu đổi mới của giáo dục đại học

Trang 22

1.2 Một số khái niệm cơ bản liên quan đến dạy học theo lý thuyết học tập kiến tạo

1.2.1 Kiến tạo

Từ Tiếng Anh là Constructivism – Với nghĩa kiến tạo, tạo dựng Trong

một số trường hợp được dùng theo nghĩa xây dựng, kiến trúc Tuy nhiên,

trong đề tài này tác giả thống nhất sử dụng nghĩa Tiếng Việt là kiến tạo

Theo từ điển Tiếng Việt, “kiến tạo” là xây dựng nên Ở góc độ nhận

thức, kiến tạo là hoạt động của con người chinh phục thế giới dựa vào những

khả năng hiện có và mối quan hệ với môi trường xung quanh [66]

Trong đời sống, kiến tạo được sử dụng rộng rãi trong các lĩnh vực liên quan đến những hoạt động Động từ kiến tạo chỉ hoạt động của con người tác

động lên một đối tượng, hiện tượng, quan hệ nhằm mục đích hiểu chúng và sử dụng chúng như những công cụ ký hiệu để xây dựng nên các đối tượng, các hiện tượng, các quan hệ mới hơn

Thực tiễn lịch sử loài người đã chứng tỏ con người không bao giờ khuất phục trước thiên nhiên; trái lại luôn chinh phục thiên nhiên, bắt thiên nhiên phục vụ cuộc sống con người Chính điều này đã làm cho con người khác với các động vật khác; từ thế hệ này qua thế hệ khác những kinh nghiệm được con người đúc rút và truyền cho thế hệ sau; để rồi càng ngày con người càng chinh phục được thiên nhiên làm cho họ càng khác xa với động vật Quá trình

đó còn gọi là sự kiến tạo trong đời sống để con người tồn tại và phát triển Tóm lại, kiến tạo là hoạt động của con người dựa vào khả năng hiện có của mình để chinh phục thế giới quan tồn tại xung quanh cá nhân và trở thành

kỹ năng

Trong những nghiên cứu về dạy học, người ta xem xét kiến tạo là một học thuyết mà mô hình lý thuyết của nó chính là cơ sở tâm sinh học để giải thích cơ chế học tập [83] Tư tưởng nền tảng cơ bản của thuyết kiến tạo là đặt vai trò của chủ thể nhận thức lên vị trí hàng đầu của quá trình nhận thức

Trang 23

Thực tiễn cho thấy mỗi người hình thành thế giới quan riêng của mình Tất cả những gì mà mỗi người trải nghiệm thì sẽ được sắp xếp chúng vào trong "bức tranh toàn cảnh về thế giới" của người đó, tức là tự kiến tạo riêng cho mình một bức tranh thế giới Điều đó cho thấy cơ chế học tập theo thuyết kiến tạo khác thuyết hành vi, thuyết phản xạ, thuyết nhận thức

Lý thuyết về kiến tạo khá phong phú cho việc nghiên cứu và vận dụng Trong đề tài này, tác giả nghiên cứu kiến tạo và vận dụng vào dạy học dựa trên quan điểm nhận thức (kiến tạo nhận thức) Nghiên cứu về lý thuyết học tập kiến tạo và quá trình tổ chức dạy học trên cơ sở lý thuyết của Piaget Đó là

lý thuyết về quá trình nhận thức của người học mà hoạt động học tập (học tập kiến tạo) bao gồm quá trình đồng hóa và điều ứng

1.2.2 Học tập kiến tạo

Học là khái niệm được nhiều tác giả đề cập đến khi nghiên cứu về quá trình dạy học Bởi vì học là một trong những thành tố cơ bản trong quá trình dạy học, mặt khác học chính là khởi nguồn của quá trình dạy học, là mục đích

và cũng là kết quả mà dạy học mang đến

Phạm Minh Hạc xem xét học dưới góc độ đặc điểm tâm lý của người học: “là hoạt động của học sinh nhằm tiếp nhận các tri thức, thái độ, kỹ năng (kinh nghiệm xã hội) và chuyển chúng thành vốn liếng kinh nghiệm của bản thân” [29, tr.189] Nghiên cứu này cho thấy học tập là sự kiến tạo trong nhận thức, sự lĩnh hội tri thức, lĩnh hội các phương thức hành động và phương thức tư duy Đó là sự hòa nhập kinh nghiệm mới với kinh nghiệm đã có trước đây, hòa nhập thông tin mới với thông tin đã biết

Phan Trọng Ngọ cho rằng “học là quá trình tương tác giữa cá thể với môi trường” Thực chất của quá trình tương tác với môi trường cũng là sự kiến tạo của con người để tồn tại và phát triển Sự tương tác này dẫn đến kết quả có sự biến đổi về nhận thức, thái độ hay hành vi của cá thể đó [64, tr.15] Như vậy, học tập cũng là quá trình kiến tạo trong môi trường xung quanh

Trang 24

Nguyễn Quang Uẩn xem học tập là sự diễn ra bền vững, hợp lý của người học khi có đối tượng cụ thể xác định “Sự học là sự biến đổi hoạt động vững chắc hợp lý nhờ một hoạt động xảy ra trước đó, chứ không phải do các phản ứng sinh học bẩm sinh của cơ thể” Thực chất sự học là quá trình đồng hóa hay điều ứng những kiến thức đã có của người học [79, tr.137] Do đó có thể gọi học tập là học tập kiến tạo

Theo Nguyễn Cảnh Toàn, “Học là quá trình biến đổi và cân bằng cấu trúc nhận thức để thích nghi với môi trường” và “Học là tích hợp, đồng hóa, điều ứng, “nhập nội” những dữ liệu mới làm biến đổi cấu trúc nhận thức nội tại hiện có” Với quan điểm này, học tập tạo ra sự biến đổi nhận thức để hiểu biết thế giới bằng cách lý giải và thông hiểu thực tiễn, qua đó người học xác định mô hình thông tin và liên kết mô hình đó với thông tin từ các tình huống

và hoàn cảnh khác nhau Hệ quả của việc xác định các mối quan hệ mới chưa được thừa nhận trước đây là người học thay đổi nhận thức của mình, do đó học làm biến đổi con người Có thể xem học là sự thông hiểu thế giới bằng nhiều con đường khác nhau mà kết quả làm biến đổi bản thân con người Mặt khác, học là quá trình tự tạo ra sự tiến hóa tổng hợp về tri thức, kỹ năng, thái

độ và giá trị của một con người, nên xét về chiều sâu, học có bản chất cốt lõi

là tự học [75, tr.62] Như vậy, học là quá trình thông hiểu bản chất thông tin, liên kết thông tin cũ và mới, lý giải và kiểm nghiệm các giá trị trong thực tiễn, là quá trình kiến tạo nhận thức, biến đổi nhận thức, biến đổi con người Học chính là quá trình người học chiếm lĩnh kiến thức mới bằng nhiều cách khác nhau Người học chiếm lĩnh kiến thức mới (học được cái mới) có thể do người khác (thầy, chuyên gia, bạn bè, ) truyền thụ, giảng giải cho; có thể do thầy giáo hướng dẫn cho cách thức hành động (cách thức sử dụng công

cụ Toán học, cách thức làm thí nghiệm, ), theo đó mà hành động để chiếm lĩnh kiến thức Người học có thể được hướng dẫn sử dụng quy trình giải quyết vấn đề mà nhà khoa học đã sử dụng khi giải quyết một vấn đề do thực tiễn đặt

Trang 25

ra Các cách học mà người học chiếm lĩnh kiến thức mới từ kinh nghiệm của mình (kiến thức, kỹ năng đã có) chứ không phải do giáo viên giới thiệu, truyền thụ cho một cách thụ động đều mang tính chất học tập kiến tạo

Học tập kiến tạo là hoạt động xã hội được tổ chức và kiểm soát chặt chẽ Học tập kiến tạo là hoạt động kiến tạo kiến thức của người học Người học diễn ra quá trình đồng hóa và điều ứng kiến thức và kinh nghiệm để xây dựng nên kiến thức và kinh nghiệm mới, kiến thức và kinh nghiệm này sẽ là nguyên liệu để người học tiếp tục kiến tạo kiến thức mới hơn Học tập kiến tạo đã góp phần làm cho nền văn hóa loài người được giữ gìn và phát triển Người học chiếm lĩnh tri thức được thể hiện qua các hình thức:

- Cá nhân kiến tạo hay tự nghiên cứu: Quan sát, đọc, viết, tự hỏi, ghi chép, nghe băng, xem băng hình, xem tivi, làm việc với máy tính, vẽ biểu đồ, làm sơ đồ, lập bảng, thu thập thông tin, tra từ điển, điều tra, nghiên cứu v.v

- Học tập kiến tạo với bạn, qua thầy hay hợp tác các bạn: Nghe giảng, hỏi, học nhóm, cắm trại, trò chơi, sắm vai, mô phỏng, báo cáo, trình bày, giới thiệu, tranh luận, động não, xâu chuỗi, v.v

- Học tập kiến tạo từ thông tin phản hồi hay tự kiểm tra, tự điều chỉnh:

Tự phê bình, tự đánh giá, tự kiểm tra, phân tích, phê phán, tổng hợp, điều chỉnh, rút kinh nghiệm v.v

Học tập kiến tạo cũng như học tập nói chung của con người được xuất phát từ nhiều khía cạnh khác nhau như: động cơ, nhu cầu, hứng thú học tập, Nhưng kinh nghiệm đã có của người học mới là điểm xuất phát và quyết định rất lớn trong quá trình nhận thức của người học tập kiến tạo Người học sử dụng vốn nhận thức đã được tích lũy từ trước để học tập, để tiếp tục xây dựng kiến thức mới Đặc biệt ở bậc đại học, học tập kiến tạo thể hiện khi SV sử dụng kiến thức đã có làm phát triển nhận thức và giúp họ sửa chữa những gì

đã có nhưng chưa phù hợp, sai với tình huống mới Học tập kiến tạo làm thay đổi quan điểm sai chưa hoàn chỉnh, là quá trình vượt qua khó khăn nhận thức

Trang 26

của SV Những khó khăn nhận thức có vai trò thúc đẩy quá trình xây dựng kiến thức của SV, tạo ra động cơ bên trong chính SV, làm cho nhận thức trở nên có ý nghĩa và giúp SV có được niềm vui trong quá trình học tập

Học tập kiến tạo là hoạt động của chính cá nhân người học Tính cá nhân biểu hiện rõ nhất qua quá trình tự học Tự học sẽ mang lại hiệu quả cao vì

“Tri thức được kiến tạo nên bởi mỗi cá nhân người học sẽ trở nên vững chắc hơn rất nhiều so với nó được nhận từ người khác” [13] Khi người học tự mình khám phá và xây dựng nên quan điểm, nhận thức cho bản thân thì quan điểm đó là của chính họ, mang ý nghĩa cá nhân chủ quan và sẽ luôn tồn tại bên họ Mặt khác, trong học tập kiến tạo có sự hợp tác giữa người học với bạn học và với người dạy Sự hợp tác này có được vì tư duy có tính xã hội và có mối quan hệ chặt chẽ với ngôn ngữ Người học trao đổi, tranh luận, cộng tác với nhau, cùng giải quyết nhiệm vụ trong quá trình học tập kiến tạo Người học sẽ biết cách trình bày, bảo vệ ý kiến của mình, có tinh thần hợp tác, xây dựng cộng đồng nhỏ học tập của mình Trong quá trình tương tác do va chạm với nhiều quan điểm khác nhau, trình độ nhận thức khác nhau, người học sẽ phát triển được ngôn ngữ, mở rộng chiều sâu khái quát, tổng hợp của tư duy Tóm lại, học tập kiến tạo là hoạt động của người học được diễn ra bằng chính hoạt động của chủ thể nhận thức Người học xây dựng kiến thức cho chính mình trên cơ sở những kiến thức vốn có và sự tương tác với môi trường nhằm sửa đổi hoặc mở rộng kiến thức của bản thân

1.2.3 Đồng hóa

Tiếng Anh là Assimilation, có nghĩa là sự tiêu hóa, hấp thu được, sự đồng hóa Trong giáo dục, Assimilation được xem xét với nghĩa đồng hóa, là

chủ thể tái lập lại một số đặc điểm của khách thể được nhận thức, đưa chúng

vào trong các sơ đồ đã có Thuật ngữ đồng hóa sử dụng trong đề tài nhằm mô

tả một sự thay đổi trong nhận thức người học có kết quả từ những nhận thức

cũ bằng sự tương tác giữa các thành viên học tập

Trang 27

Theo Thái Duy Tuyên: “Đồng hóa là làm cho hệ thống kiến thức mới tiêu hóa được, hòa nhập được với hệ thống kiến thức cũ” [78, tr.114] Đỗ Tiến Đạt cho rằng “Đồng hóa là quá trình, nếu gặp một tri thức mới, nhưng tương

tự tri thức đã biết, thì tri thức mới này có thể được kết hợp trực tiếp vào sơ đồ nhận thức đang tồn tại, hay nói cách khác học sinh có thể dựa vào kiến thức

cũ để giải quyết một tình huống mới” [23]

Xét về quá trình dạy học, người dạy phải tạo ra được quá trình đồng hóa kiến thức cho người học Người dạy cần nắm được trình độ, nắm được hệ thống kiến thức và kinh nghiệm của người học để tổ chức quá trình đồng hóa nhận thức Điều này đặc biệt quan trọng trong dạy học với đối tượng là SV, bởi kinh nghiệm thực tiễn của SV khá phong phú và đa dạng Tuy nhiên những kinh nghiệm của SV nhìn chung chưa được hệ thống hóa Vì vậy GV cần tổ chức để SV hệ thống hóa và khai thác kinh nghiệm, nhằm phát triển nhận thức cá nhân và phổ biến cho cả lớp Để làm được điều này GV cần có những hoạt động “gia công” về mặt sư phạm như: ra bài tập, hướng dẫn SV

về nội dung, cách làm, tổ chức cho SV báo cáo trước tập thể, động viên, giúp

đỡ SV để họ vượt qua được những khó khăn về khoa học, về thời gian và những trở ngại khác

Để đồng hóa được kiến thức mới với kiến thức cũ phải tiến hành quá trình phân tích, tổng hợp, so sánh… nhằm đánh giá lại những kiến thức cũ, xem những cái gì “sai” cần loại bỏ, cái gì cần giữ lại, cái gì cần bổ sung cho hoàn thiện, chính xác hơn Do đó, dạy học thực chất là quá trình người dạy tổ chức cho người học tiếp nhận kiến thức mới thông qua hoạt động đồng hóa kiến thức của người học

Đồng hóa kiến thức không mang nghĩa bảo thủ, cứng nhắc Trái lại, đồng hóa trong dạy học là làm phong phú, phát triển hệ thống kiến thức bằng cách lựa chọn những tính chất, những quy luật, những kiến thức mới và xếp vào những vị trí xác định trong bộ nhớ đã được hình thành từ trước, để cho

Trang 28

cái mới hòa nhập với cái cũ Trong nhiều trường hợp phải sắp xếp lại cấu trúc của hệ thống tri thức để hoàn thiện, dễ nhớ, dễ vận dụng

Tóm lại, sự đồng hoá xuất hiện như một cơ chế giữ gìn cái đã biết trong trí nhớ và cho phép người học dựa trên những khái niệm quen biết để giải quyết tình huống mới Quá trình đồng hóa là quá trình chủ thể tiếp nhận khách thể, tức là chủ thể dùng các kiến thức và kĩ năng đã có để xử lý các thông tin và tác động từ bên ngoài nhằm đạt được mục tiêu nhận thức

1.2.4 Điều ứng

Tiếng Anh là Accommodation, có nghĩa là sự điều chỉnh, sự thích

nghi, sự thay đổi phù hợp với mục đích đặc biệt Trong giáo dục, nhiều

nghiên cứu sử dụng với nghĩa điều ứng, cũng có nghiên cứu sử dụng nghĩa

điều chỉnh Trong phạm vi đề tài này, tác giả sử dụng Accommodation với

nghĩa điều ứng, là quá trình thích nghi của chủ thể đối với những đòi hỏi đa

dạng của môi trường, bằng cách tái lập lại những đặc điểm của khách thể vào cái đã có, qua đó biến đổi cấu trúc đã có, tạo ra cấu trúc mới, dẫn đến

trạng thái cân bằng

Theo Thái Duy Tuyên, “Điều ứng là thay đổi, điều chỉnh, bổ sung, tổ chức vận dụng kiến thức để giải quyết các vấn đề lý thuyết và thực tiễn” [78, tr.114] Đỗ Tiến Đạt, cho rằng: “Điều ứng là quá trình khi gặp một tri thức mới có thể hoàn toàn khác biệt với những sơ đồ nhận thức đang có thì sơ đồ hiện có được thay đổi để phù hợp với tri thức mới” [23]

Trong quá trình học tập, người học có thể gặp phải vấn đề và cách giải quyết không phù hợp với kiến thức và kinh nghiệm đã có; những kiến thức và kinh nghiệm cũ cho kết quả sai lầm hoặc không phù hợp Khi đó họ cần được người dạy gợi ý, điều chỉnh một số kiến thức cũ, bổ sung dữ kiện mới hoặc thêm các điều kiện để xử lý các tình huống của bài học Người dạy cần biết kiến thức và kinh nghiệm đang có của người học để tạo tình huống cho những nội dung bài học mới Tiến hành hệ thống hóa và gợi lại kinh nghiệm đã có,

Trang 29

đưa người học vào các tình huống cụ thể Trong các điều kiện hoàn cảnh cụ thể với những kết quả cụ thể nhiều khi phải điều chỉnh một số kinh nghiệm, thay đổi cách suy nghĩ, cách xử lý trước đây Có thể người học gặp những trở ngại, họ cần được động viên, khuyến khích và có những gợi ý kịp thời So sánh, phân tích tổng hợp những kết quả trong những điều kiện nhất định sẽ có những kết quả mới và nội dung học tập mới Kết quả này có thể không phù hợp với kiến thức và kinh nghiệm đã có của người học, nhưng phù hợp với những dữ kiện mới, kiến thức hiện tại và được người học chấp nhận Cần đánh giá lại những kiến thức, xem xét những nội dung cần giữ lại, cần bổ sung cho hoàn thiện, chính xác hơn với yêu cầu của bài học mới Qua đó, kiến thức mới của người học được khẳng định và củng cố Do đó, dạy học cũng là quá trình người dạy tổ chức cho người học tiếp nhận kiến thức mới thông qua hoạt động điều ứng kiến thức của người học

Điều ứng kiến thức đôi khi mang nghĩa phủ định, sử dụng những sai lầm, đối lập Tuy nhiên học qua sai lầm cũng là sự phát triển nhận thức, kiến thức

cũ được phủ định để tiếp nhận kiến thức mới với mức độ cao hơn Điều ứng trong dạy học làm phong phú, phát triển hệ thống kiến thức bằng cách lựa chọn những tính chất, những quy luật, những kiến thức mới và xếp vào những

vị trí xác định trong bộ nhớ chưa từng có trước đây Để cho cái mới thay thế cái cũ cần phải sắp xếp lại cấu trúc của hệ thống tri thức nhằm hoàn thiện, dễ nhớ, dễ vận dụng, lúc đó tạo nên sự cân bằng nhận thức mới

Tóm lại sự điều ứng xuất hiện khi người học vận dụng những kiến thức

và kĩ năng quen thuộc để giải quyết tình huống mới nhưng đã không thành công Vì thế, để giải quyết tình huống này người học phải thay đổi, điều chỉnh, thậm chí loại bỏ những kiến thức và kinh nghiệm đã có Khi tình huống mới được giải quyết thì kiến thức mới được hình thành và được bổ sung vào

hệ thống kiến thức đã có

Trang 30

1.3 Lý thuyết học tập kiến tạo và vận dụng

1.3.1 Khái quát về lý thuyết học tập kiến tạo

Có rất nhiều mô hình lý thuyết khác nhau giải thích cơ chế tâm lý của việc học tập Mỗi mô hình lý thuyết có những ưu điểm và những giới hạn riêng, không có một lý thuyết học tập toàn năng có thể giải thích thoả đáng, đầy đủ cơ chế của việc học Cơ sở của mô hình lý thuyết học tập theo thuyết kiến tạo (gọi tắt là lý thuyết học tập kiến tạo) là những luận điểm khoa học của Jean Piaget và Vưgotski J.Piaget kết luận rằng, trẻ em hình thành kiến thức từ kinh nghiệm chứ không phải từ việc tiếp thu kiến thức do người khác truyền thụ cho Ông dùng thuật ngữ “thích nghi” để chỉ trẻ em hoàn thiện và điều chỉnh kinh nghiệm “Thích nghi” bao gồm các quá trình “đồng hóa” và

“điều ứng” nhận thức, cũng đồng nghĩa với học Vưgotski đã nghiên cứu tư duy trẻ em và kết luận rằng, người lớn hỗ trợ trẻ em phát triển nhận thức theo một cách thức tương đối có hệ thống Để giúp trẻ em phát triển nhận thức, ông dùng khái niệm “tăng cường trên cơ sở kiến thức hiện có” để chỉ quá trình người lớn hỗ trợ trẻ em tư duy trong “vùng phát triển gần” khi cần thiết

và ngừng hỗ trợ khi không cần nữa

Học tập theo lý thuyết học tập kiến tạo là quá trình người học tự kiến tạo kiến thức cho mình, người dạy chỉ giữ vai trò hỗ trợ (trong vùng phát triển gần) khi cần thiết Lý thuyết học tập kiến tạo ra đời dựa trên quan điểm của

Piaget cho rằng học tập của người học diễn ra sự chuyển hóa bên trong quá

trình nhận thức bao gồm quá trình “đồng hóa” và quá trình “điều ứng” như sơ

đồ (tham khảo [61], [104]) sau:

Trang 31

Người học: Tiếp nhận thông tin

Không gắn kết được với thông tin đã có

Thông tin không được đồng hóa

Có thể gắn kết được

với thông tin đã có

Thông tin tương hợp hoàn toàn với cấu trúc nhận thức đã có

Không xảy ra việc học tập cái mới

Thông tin không tương

hợp hoàn toàn với cấu

trúc nhận thức đã có

Nếu không thành công thì học tập không xảy ra

Nếu thành công thì việc

học tập cái mới xảy ra

Điều ứng Đồng hóa

(L)

Hình 1.1: Sơ đồ quá trình đồng hóa và điều ứng trong học tập

Sơ đồ cho thấy người học Nhập thông tin (A) sẽ diễn ra quá trình Tiếp

nhận thông tin (B) Đây là một quá trình tự nhiên của nhận thức con người

Trong đời sống con người luôn diễn ra quá trình thu nhận thông tin và xử lý thông qua các thao tác trí tuệ

Nếu thông tin được người học tiếp nhận nhưng Không gắn kết được với

kiến thức đã có (C) thì Thông tin không được đồng hóa (không xảy ra việc

học tập ở người học) (D)

Nếu thông tin được người học tiếp nhận Có thể gắn kết được với kiến

thức đã có (E) thì ở người học diễn ra quá trình Đồng hóa (F) Quá trình đồng

hóa kiến thức ở người học lại diễn ra qua hai trường hợp:

Nếu người học nhận được Thông tin tương hợp hoàn toàn với cấu trúc

nhận thức đã có (G) (nghĩa là người học có thể sử dụng kinh nghiệm đã có để

giải quyết vấn đề và không cần học thêm kiến thức mới đã giải quyết được)

thì ở người học Không xảy ra việc học tập cái mới (H)

Trang 32

Nếu người học tiếp nhận Thông tin không tương hợp hoàn toàn với cấu

trúc nhận thức đã có (I) thì học tập của người học diễn ra quá trình Điều ứng

(J), nghĩa là khi người học dùng kinh nghiệm đã có không giải quyết được vấn đề đặt ra thì họ phải đặt ra giả thuyết (nêu một phương án mới) giải quyết vấn đề này Nếu giả thuyết sai thì họ phải đề ra giả thuyết khác và lại chứng minh giả thuyết này Cứ như vậy, quá trình giải quyết vấn đề diễn ra Khi giả thuyết được chứng minh, tức là vấn đề được giải quyết và người học đã học được cái mới (kinh nghiệm mới) Quá trình điều ứng diễn ra ở người học xử

lý các hoạt động học tập và cho kết quả:

Người học xử lý thông tin Nếu không thành công thì học tập không xảy

ra (M), khi đó họ phải tìm cách khác để xử lý Người học tiếp tục tìm cách xử

lý thông tin, Nếu thành công thì việc học tập cái mới xảy ra (K)

Như vậy, quá trình điều ứng xuất hiện khi người học vận dụng những kiến thức đã học để giải quyết một vấn đề mới (bài mới) nhưng vẫn không giải quyết được và phải tìm giải pháp mới, tìm phương án mới Còn quá trình đồng hóa xuất hiện khi người học dựa vào những kiến thức đã học tiến hành tổng hợp hoặc phân tích để giải quyết vấn đề Kết quả cuối cùng là người học giải quyết được vấn đề bài mới và họ trở nên có kiến thức để học bài (vấn đề) tiếp theo Ở người học đều có sự thích ứng được gọi là sự cân bằng giữa đồng hóa và điều ứng

Khi học tập, diễn ra quá trình tư duy để tạo ra sự chuyển hóa bên trong quá trình nhận thức của người học Thực chất quá trình “đồng hóa” và quá trình “điều ứng” là quá trình sử dụng “kinh nghiệm” và quá trình thay đổi

“kinh nghiệm” những kiến thức đã học tập Cụ thể, khi gặp một vấn đề, một bài học mới, người học sẽ rơi vào một trong ba trạng thái:

Trạng thái 1: Người học nhận thấy vấn đề mới hoàn toàn, mọi thông tin

về vấn đề đều chưa gặp phải Người học chưa từng giải quyết vấn đề dạng này, và người học không tìm thấy có mối liên hệ nào đến kinh nghiệm, kiến

Trang 33

thức đã học Đây là trường hợp người học gặp phải vấn đề quá khó, ngoài khả năng, trình độ có thể giải quyết, ngoài “vùng phát triển gần” của họ Khi đó, ở người học không diễn ra quá trình đồng hóa và điều ứng nên quá trình học tập cái mới không diễn ra

Trạng thái 2: Người học nhận thấy vấn đề đã từng giải quyết, biết được các thông tin hoặc có mối liên hệ với các vấn đề trước đây, khi đó có các trường hợp:

- Vấn đề cần giải quyết quá dễ, chỉ cần kiến thức cũ là đủ để giải quyết Người học giải quyết vấn đề theo cách cũ (kinh nghiệm cũ) gọi là quá trình đồng hóa hoàn toàn, người học sẽ không diễn ra quá trình học tập cái mới

- Người học sử dụng dữ liệu đã biết nhưng giải quyết theo cách mới (ví

dụ trước đây tính diện tích hình chữ nhật bằng phép cộng diện tích các ô vuông còn bây giờ học phép nhân cạnh với cạnh) Do đó, người học diễn ra quá trình điều chỉnh kinh nghiệm hay gọi là quá trình điều ứng, việc học tập cái mới đã diễn ra ở người học

Trạng thái 3: Người học nhận thấy vấn đề chưa được giải quyết bao giờ nhưng các thông tin đều được biết, thông tin liên quan đến kiến thức và kinh nghiệm mà người học đã tích lũy Lúc này, người học có thể:

- Giải quyết được vấn đề, học tập cái mới Đó là lúc người học sử dụng những giả thiết, kinh nghiệm đã biết để giải quyết bài học mới theo kinh nghiệm Đây là lúc người học diễn ra quá trình đồng hóa trong nhận thức

- Giải quyết được vấn đề, học tập cái mới thông qua việc phải điều chỉnh lại giả thiết, sửa lại các dữ kiện bằng giá trị mới thông qua thực hành, thực nghiệm, tính toán phân tích lại; hoặc người học phải thêm dữ kiện, điều chỉnh lại cách giải Như vậy trong người học đã diễn ra quá trình điều ứng nhận thức

- Không giải quyết được vấn đề, không diễn ra quá trình học tập cái mới Những thông tin liên quan đến bài học, những kinh nghiệm có được không đủ

Trang 34

để người học giải quyết được vấn đề của bài học mới Người học không diễn

ra được quá trình đồng hóa và điều ứng trong nhận thức

Như vậy, đồng hóa và điều ứng là quá trình diễn ra trong hoạt động nhận thức của người học Thái Duy Tuyên gọi đây là “cơ chế tiếp nhận nhận thức”,

mà trong học tập kiến tạo “người học phải tự xây dựng cho mình một hệ thống kiến thức có cấu trúc riêng” [78, tr.109]

Quá trình nhận thức khoa học của mỗi người cũng là quá trình đồng hóa

và điều ứng các lý thuyết và tư tưởng khoa học để ngày càng thích hợp với thực tiễn Đó thực chất là quá trình vượt qua trở ngại nhận thức do mâu thuẫn giữa những điều đã biết và yêu cầu của tình huống mới

Như vậy, lý thuyết học tập kiến tạo nhấn mạnh những kiến thức mà người học đã học ở lớp dưới hay được học ở bài học trước, đồng thời đề cao

sự tương tác giữa những kiến thức hiện có của người học với môi trường trong quá trình học tập của họ Hay nói cách khác, có thể phân học tập kiến

tạo thành hai loại là kiến tạo cơ bản và kiến tạo xã hội

1.3.2 Kiến tạo cơ bản

Theo Nguyễn Hữu Châu, “kiến tạo cơ bản là một quan điểm nhận thức, nhấn mạnh tới cách thức các cá nhân xây dựng tri thức cho bản thân trong quá trình học tập” Nerida F Ellerton và M A Clementes cho rằng tri thức được kiến tạo một cách cá nhân, thông qua cách thức hoạt động của mỗi cá nhân Emst Von Glaserfeld cũng cho rằng kiến thức là kết quả của hoạt động kiến tạo của chính chủ thể nhận thức, không phải là thứ sản phẩm mà bằng cách này hay cách khác tồn tại bên ngoài chủ thể nhận thức và có thể được truyền đạt hoặc thấm nhuần bởi sự cần cù nhận thức hoặc giao tiếp [13]

Thái Duy Tuyên cho rằng kiến tạo cơ bản đề cao vai trò của mỗi cá nhân trong quá trình nhận thức và cách thức cá nhân xây dựng tri thức cho bản thân Theo ông, kiến tạo cơ bản quan tâm đến quá trình chuyển hóa bên trong của cá nhân trong quá trình nhận thức Do đó kiến tạo cơ bản coi trọng

Trang 35

những kinh nghiệm của người học trong quá trình người học hình thành thế giới quan khoa học cho mình Sự nhấn mạnh tới kiến tạo cơ bản trong dạy học là sự nhấn mạnh tới vai trò chủ động của người học, nhưng cũng nhấn mạnh tới sự cô lập về tổ chức nhận thức của người học Ông cho rằng sự chủ động của cá nhân trong quá trình học thể hiện rõ trong giả thuyết “Nhận thức

là quá trình người học thích nghi với môi trường, thông qua các hoạt động đồng hóa và điều ứng các tri thức và kinh nghiệm sẵn có của mình sao cho thích ứng” Trong quá trình này chủ thể nhận thức suy nghĩ để loại bỏ những quan niệm cũ không phù hợp nữa và chọn lọc những tri thức mới, đúng và phù hợp với môi trường để hình thành tri thức mới, phù hợp với thế giới khách quan Tri thức mới được hình thành bao gồm cả quá trình loại bỏ, kế thừa và phát triển các quan niệm sẵn có của người học Trong khi đó, sự cô lập về tổ chức nhận thức của người học thể hiện ở chỗ kiến tạo cơ bản chỉ tập trung quan tâm đến vai trò của chủ thể trong quá trình nhận thức mà không thấy được vai trò và những tác động của những yếu tố xã hội khác đối với quá trình nhận thức [78, tr.111]

Như vậy, có thể thấy ưu điểm của kiến tạo cơ bản là khẳng định vai trò chủ động của người học trong quá trình nhận thức Tổ chức dạy học với định hướng kiến tạo cơ bản sẽ tạo điều kiện cho người học tự xây dựng nên tri thức cho bản thân mình; nên người học trở thành người sở hữu tri thức đó Về điều này Ellerton và Clement, khẳng định: điểm mạnh quan trọng nhất của kiến tạo

cơ bản trong giáo dục là con đường tự tìm kiếm kiến thức để tạo nên “quyền

sở hữu” hoàn toàn xác đáng cho người học [13]

Đào Thị Việt Anh gọi kiến tạo cơ bản là kiến tạo nội sinh với quan niệm

rằng “yếu tố con người đóng vai trò quyết định, việc lĩnh hội kiến thức xảy ra bên trong cá nhân theo quy luật nhận thức” [1] Mặc dù khác nhau về tên gọi, nhưng kiến tạo nội sinh và kiến tạo cơ bản đều hàm ý nhấn mạnh yếu tố “chủ

Trang 36

quan” của cá nhân nhận thức, đề cao vai trò tự lực tự tìm tòi, kiến tạo kiến thức của người học

Tuy nhiên với sự coi trọng quá mức kiến tạo cơ bản, người học bị đặt trong trình trạng cô lập và kiến thức xây dựng được thiếu tính xã hội Do vậy trong dạy học, ngoài khai thác các điểm mạnh của kiến tạo cơ bản người dạy nên kết hợp với kiến tạo xã hội để đảm bảo quá trình dạy học đạt được hiệu quả cao hơn

1.3.3 Kiến tạo xã hội

Đào Thị Việt Anh gọi là kiến tạo ngoại sinh và cho rằng “môi trường

bên ngoài đóng vai trò quan trọng trong việc tiếp thu kiến thức” [1] Theo Nor Joharudeen, kiến tạo xã hội là quan điểm nhấn mạnh đến vai trò của các yếu

tố văn hóa và các điều kiện xã hội, và sự tác động của các yếu tố đó đến sự hình thành kiến thức Quan điểm này được xây dựng dựa trên các tư tưởng tri thức được cá nhân tạo nên phải “xứng đáng” với các yêu cầu của tự nhiên và thực trạng xã hội đặt ra Kiến tạo xã hội xem xét cá nhân trong mối quan hệ chặt chẽ với các lĩnh vực xã hội Nhân cách của chủ thể được hình thành thông qua sự tương tác của họ với những người khác Kiến tạo xã hội cũng nhìn nhận chủ thể nhận thức trong mối quan hệ sống động với môi trường xã hội Kiến tạo xã hội không nhấn mạnh một cách cô lập tiềm năng tư duy mang tính cá nhân Thay vào đó nó nhấn mạnh đến khả năng tiềm ẩn là con người trong sự đối thoại Trong đó, tư duy được xem như một phần của hoạt động mang tính xã hội của các cá nhân [13]

Tổ chức dạy học với định hướng kiến tạo xã hội là nhấn mạnh những tri thức khách quan đều mang tính xã hội Nhân loại cùng nhau khám phá thế giới và xây dựng nên kho tàng tri thức Tri thức là sản phẩm của con người và được kiến tạo cả về mặt xã hội và văn hóa Mỗi cá nhân làm cho nó có ý nghĩa thông qua sự tương tác với người khác và với môi trường mà họ đang sống Paul Ernest cho rằng các tri thức khách quan được cá nhân kiến tạo

Trang 37

thông qua mối quan hệ tương tác của họ với giáo viên và với bạn học, tạo thành tri thức chủ quan mang tính cá nhân Theo ông, quan điểm của kiến tạo

xã hội xem tri thức khách quan mang tính xã hội không được chứa đựng trong sách vở hoặc các phương tiện ghi nhớ khác, cũng không phải trong những ý tưởng, mà tri thức khách quan tồn tại trong việc chia sẻ những luật lệ, những thảo luận, những am hiểu và những chia sẻ của cá nhân với các thành viên trong xã hội trong mối quan hệ tương tác của họ Ông cũng nhấn mạnh tri thức khách quan không ngừng được sáng tạo lại và được thay thế bằng sự lớn mạnh của tri thức chủ quan trong tư duy của vô số cá nhân [13]

Khi phân loại kiến tạo trong dạy học, Thái Duy Tuyên cho rằng nền tảng của tri thức là ngôn ngữ với quy ước, quy tắc và ngôn ngữ là yếu tố mang tính

xã hội Những quá trình tương tác xã hội giữa các cá nhân dẫn tới các tri thức chủ quan của mỗi cá nhân, những tri thức chủ quan đó sau khi được xã hội thừa nhận thì trở thành tri thức khách quan Việc học được kiến tạo một cách tích cực dựa trên việc đưa ra vấn đề, giải quyết vấn đề, sự khám phá mang ý nghĩa cộng tác [78, tr.112]

Tóm lại, có thể thấy kiến tạo xã hội xem việc học là một quá trình xã hội Học tập kiến tạo không phải là một quá trình chỉ diễn ra trong đầu óc con người, không phải là một sự phát triển thụ động về các hành vi của con người,

mà được hình thành bởi những tác động bên ngoài Việc học chỉ có ý nghĩa khi các cá nhân bị thu hút vào các hoạt động mang tính xã hội

1.3.4 Cấu trúc của dạy học theo lý thuyết học tập kiến tạo

Việc vận dụng lý thuyết học tập kiến tạo vào dạy học còn gọi là dạy học kiến tạo và được thể hiện qua hoạt động tổ chức dạy học ở môn học cụ thể

Do vậy nắm cấu trúc của dạy học theo lý thuyết học tập kiến tạo có ý nghĩa rất lớn trong tổ chức dạy học các môn học cụ thể Cấu trúc của dạy học theo

lý thuyết học tập kiến tạo chính là sự tương tác hay mối quan hệ tác động qua

lại lẫn nhau giữa các thành tố cơ bản: Người dạy, người học, nội dung với cốt

Trang 38

lõi của các hoạt động là kinh nghiệm của người học được diễn ra trong môi

trường học tập tích cực

Môi trường dạy học theo lý thuyết học tập kiến tạo là toàn bộ các sự vật

hiện tượng, diễn ra xung quanh người học và tác động đến người học Ngoài

tự nhiên xã hội thì trang thiết bị dạy học cũng được xem là môi trường tác động đến người học Đặc biệt trong thời đại hiện nay , sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin có thể đưa đến cho người học môi trường hiện đại để tương tác với các nội dung học tập Người học có thể làm việc độc lập với nhau, cũng như hỗ trợ lẫn nhau trong việc sử dụng đa dạng các công cụ và nguồn thông tin để cùng nhau theo đuổi những mu ̣c tiêu ho ̣c tâ ̣p với sự trợ giúp của người dạy Tạo một môi trường thân thiện đối với ho ̣c tâ ̣p là mô ̣t công viê ̣c quan tro ̣ng trong dạy học theo lý thuyết học tập kiến tạo Sự tương tác giữa những người học sẽ hiệu quả hơn khi được diễn ra trong một môi trường ho ̣c tâ ̣p tích cực và dân chủ [15], [25, tr.49], [64]

Kinh nghiệm là kiến thức mà người học đã được tích lũy qua học tập

hay trải nghiệm thực tế Trong dạy học theo lý thuyết học tập kiến tạo người dạy là người nắm rõ trình độ của người học, biết được những kinh nghiệm của người học để thiết kế nội dung, định hướng các vấn đề, đặt ra mục tiêu dạy

học Mặt khác, kinh nghiệm cũng là “nguyên liệu” để người học xây dựng

kiến thức nội dung học tập, tìm hiểu nội dung học tập mới Do vậy, kinh nghiệm của người học được xem là “linh hồn” trong dạy học theo lý thuyết học tập kiến tạo, là “trung tâm” của tổ chức dạy học tạo nên mối quan hệ

khăng khít giữa người dạy – người học – nội dung [15], [64]

Người học - chủ thể nhận thức Cấu trúc của dạy học theo lý thuyết

học tập kiến tạo nhấn mạnh những hoạt động của người học được thực

hiện bằng kinh nghiệm của chính họ Người học ở trong một môi trường học tập dân chủ sẽ có mối quan hệ với người dạy thông qua kinh nghiệm

Trang 39

của mình và cũng bằng kinh nghiệm đó người học sẽ tìm hiểu nội dung

học tập [15], [25, tr.49], [64], [78, tr.113]

Người dạy - Trong dạy học theo lý thuyết học tập kiến tạo , người dạy

không còn là nguồn kiến thức , không là người quyết định mọi việc trong lớp học mà là người hỗ trợ , thúc đẩy hoạt động học diễn ra trong môi trường lớp học được cấu thành từ nhiều yếu tố Nói như vậy không có nghĩa vai trò của người dạy trở thành thứ yếu , mà ngược lại người dạy là mắt xích quyết định

chất lượng hoa ̣t đô ̣ng dạy học Người dạy thể hiện vai trò, trách nhiệm của mình với người học bằng việc thiết kế nội dung bài học dựa trên kinh nghiệm

của người học [15], [25, tr.49], [64], [78, tr.113]

Nội dung dạy học theo lý thuyết học tập kiến tạo không chỉ là nội dung

của bài học mà người học cần tiếp thu mà còn là những kiến thức có liên quan

đến kinh nghiệm của người học Trên cơ sở những kiến thức mà người học đang có, người dạy thiết kế những nội dung học tập để tạo điều kiện cho

người học sử dụng kinh nghiệm của mình tìm hiểu bài mới và tích lũy thêm

kinh nghiệm [15], [64]

1.3.5 Vận dụng lý thuyết học tập kiến tạo trong dạy học

Lý thuyết học tập kiến tạo có thể coi là một học thuyết (không phải là một phương pháp dạy học cụ thể) đề cập một tư tưởng, một quan điểm về hoạt động dạy học Tư tưởng chính của lý thuyết này là trẻ em chiếm lĩnh kiến thức từ kinh nghiệm, từ sự trải nghiệm thông qua quá trình đồng hóa và điều ứng Đó là quá trình thích nghi với sự vật, hiện tượng của thế giới chứ không phải tiếp thu những kiến thức từ người khác truyền thụ cho Lý thuyết học tập kiến tạo xem xét trẻ vừa là đối tượng vừa là chủ thể của quá trình dạy học Tư tưởng này vận dụng vào dạy học được thể hiện qua các phương pháp dạy học cụ thể như dạy học nêu vấn đề, dạy học theo phương pháp nghiên cứu, dạy học Algorit hóa, Các phương pháp dạy học tích cực này có chung

Trang 40

đặc điểm là tạo môi trường tốt nhất để người học sử dụng kinh nghiệm nghiên cứu nội dung bài học

1) Vận dụng lý thuyết học tập kiến tạo trong dạy học nêu vấn đề

- Dạy học nêu vấn đề có mục đích dạy hai loại kiến thức: Kiến thức về chuyên môn và kiến thức về phương pháp khoa học Kiến thức về phương pháp khoa học chính là công cụ mà người học sẽ sử dụng để định hướng hành động chiếm lĩnh kiến thức chuyên môn Nghĩa là cung cấp cho người học kiến thức công cụ để họ có thể học tập suốt đời Đây cũng là mục đích của tư tưởng dạy học theo lý thuyết học tập kiến tạo

- Trong dạy học nêu vấn đề, dựa trên kiến thức, kỹ năng đã có (kinh nghiệm) của người học để tạo ra mâu thuẫn nhận thức giữa kinh nghiệm này với nhiệm vụ giải quyết tình huống mới nhằm kích thích tư duy tìm phương pháp giải quyết vấn đề đặt ra, chiếm lĩnh kiến thức mới Mâu thuẫn nhận thức làm cho người học diễn ra quá trình “điều ứng” (điều chỉnh) nhằm hình thành một cơ chế nhận thức hoàn toàn mới hoặc sửa đổi cơ chế hiện thời để phù hợp với tình huống mới này Trong quá trình hình thành cơ chế hành động mới cho tình huống mới, người dạy hỗ trợ bằng cách gợi ý sử dụng các phương pháp nghiên cứu phù hợp như thí nghiệm khoa học, phương pháp thử sai, phương pháp toán học, để giải quyết vấn đề và ngừng ngay sự hỗ trợ khi không cần thiết

2) Vận dụng lý thuyết học tập kiến tạo trong phương pháp nghiên cứu

- Dạy cho người học phương pháp, trang bị cho họ công cụ và khả năng phân tích, giải quyết vấn đề trong học tập Người học được trang bị các công

cụ để học tập, để nghiên cứu, để kiến tạo kiến thức Trong cuộc sống hiện đại, mọi sự vật và hiện tượng biến đổi không ngừng, kiến thức đã học hôm nay thì ngày mai chưa chắc đã sử dụng được, việc trang bị phương pháp và cách làm việc có ý nghĩa hơn là trang bị một lý thuyết, một khái niệm cụ thể Một khi

đã có công cụ học tập, nghiên cứu trong tay thì người học có thể tiếp tục học

Ngày đăng: 12/12/2016, 22:42

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Thị Việt Anh (2005), “Vận dụng lý thuyết kiến tạo trong đổi mới phương pháp dạy học hóa học ở trường phổ thông”, Tạp chí giáo dục, (112) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vận dụng lý thuyết kiến tạo trong đổi mới phương pháp dạy học hóa học ở trường phổ thông”, "Tạp chí giáo dục
Tác giả: Đào Thị Việt Anh
Năm: 2005
2. Đào Thị Việt Anh (2006), “Ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy hóa học theo phương pháp kiến tạo”, Tạp chí giáo dục, (141) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy hóa học theo phương pháp kiến tạo”, "Tạp chí giáo dục
Tác giả: Đào Thị Việt Anh
Năm: 2006
3. Lê Khánh Bằng (1997), Nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy học ở đại học cho phù hợp với những yêu cầu mới của đất nước và thời đại – Giáo dục học đại học, NXB nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy học ở đại học cho phù hợp với những yêu cầu mới của đất nước và thời đại – Giáo dục học đại học
Tác giả: Lê Khánh Bằng
Nhà XB: NXB nông nghiệp
Năm: 1997
4. Nguyễn Văn Bính (chủ biên) (1999), Phương pháp dạy học KTCN, tập I, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học KTCN, tập I
Tác giả: Nguyễn Văn Bính (chủ biên)
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1999
5. Ngô Văn Cảnh (2007), Vận dụng lí thuyết kiến tạo vào quá trình dạy học, kiểm tra, đánh giá học phần ngữ pháp tiếng Việt: Sách trợ giúp giảng viên Cao đẳng sư phạm, NXB Đại học Sƣ phạm Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vận dụng lí thuyết kiến tạo vào quá trình dạy học, kiểm tra, đánh giá học phần ngữ pháp tiếng Việt: Sách trợ giúp giảng viên Cao đẳng sư phạm
Tác giả: Ngô Văn Cảnh
Nhà XB: NXB Đại học Sƣ phạm Hà Nội
Năm: 2007
6. Nguyễn Gia Cầu (2007), “Dạy học phát huy tính năng động, sáng tạo của học sinh”, Tạp chí Giáo dục, (156) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học phát huy tính năng động, sáng tạo của học sinh”, "Tạp chí Giáo dục
Tác giả: Nguyễn Gia Cầu
Năm: 2007
7. Nguyễn Gia Cầu (2007), “Dạy học phát triển các kỹ năng cơ bản cho học sinh”, Tạp chí Giáo dục, (162) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học phát triển các kỹ năng cơ bản cho học sinh”, "Tạp chí Giáo dục
Tác giả: Nguyễn Gia Cầu
Năm: 2007
8. Nguyễn Gia Cầu (2008), “Giúp học sinh khắc phục kiểu học tập thụ động”, Tạp chí Giáo dục, (197) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giúp học sinh khắc phục kiểu học tập thụ động”, "Tạp chí Giáo dục
Tác giả: Nguyễn Gia Cầu
Năm: 2008
9. Nguyễn Gia Cầu (2008), “Khắc phục kiểu truyền thụ một chiều trong dạy học”, Tạp chí Khoa học Giáo dục, (35) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khắc phục kiểu truyền thụ một chiều trong dạy học”, "Tạp chí Khoa học Giáo dục
Tác giả: Nguyễn Gia Cầu
Năm: 2008
10. Nguyễn Gia Cầu (2007), “Về mối quan hệ tương tác giữa người dạy và người học”, Tạp chí Giáo dục, (171) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về mối quan hệ tương tác giữa người dạy và người học”, "Tạp chí Giáo dục
Tác giả: Nguyễn Gia Cầu
Năm: 2007
11. Nguyễn Đào Quý Châu (nhóm dịch) (2005), Làm chủ phương pháp giảng dạy, NXB Đại học Quốc gia Tp. Hồ Chính Minh, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làm chủ phương pháp giảng dạy
Tác giả: Nguyễn Đào Quý Châu (nhóm dịch)
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Tp. Hồ Chính Minh
Năm: 2005
12. Nguyễn Hữu Châu (1996), “Dạy và học toán theo phương pháp kiến tạo”, Nghiên cứu giáo dục (2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy và học toán theo phương pháp kiến tạo”, "Nghiên cứu giáo dục
Tác giả: Nguyễn Hữu Châu
Năm: 1996
13. Nguyễn Hữu Châu (2005), “Dạy học kiến tạo, vai trò của người học và quan điểm kiến tạo trong dạy học”, Dạy và học ngày nay (5) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học kiến tạo, vai trò của người học và quan điểm kiến tạo trong dạy học”, "Dạy và học ngày nay
Tác giả: Nguyễn Hữu Châu
Năm: 2005
14. Nguyễn Hữu Châu (2005), Những vấn đề cơ bản về chương trình và quá trình dạy học, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề cơ bản về chương trình và quá trình dạy học
Tác giả: Nguyễn Hữu Châu
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2005
15. Nguyễn Hữu Châu (chủ biên) (2007), Sách trợ giúp giảng viên cao đẳng sư phạm, NXB Đại học Sƣ phạm Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách trợ giúp giảng viên cao đẳng sư phạm
Tác giả: Nguyễn Hữu Châu (chủ biên)
Nhà XB: NXB Đại học Sƣ phạm Hà Nội
Năm: 2007
16. Nguyễn Đức Chính (2002), Kiểm định chất lượng trong giáo dục đại học, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiểm định chất lượng trong giáo dục đại học
Tác giả: Nguyễn Đức Chính
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2002
17. Nguyễn Phúc Chỉnh (chủ biên) (2007), Ứng dụng tin học trong nghiên cứu khoa học giáo dục và dạy học sinh học, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ứng dụng tin học trong nghiên cứu khoa học giáo dục và dạy học sinh học
Tác giả: Nguyễn Phúc Chỉnh (chủ biên)
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2007
18. Chương trình chi tiết (2006), Chương trình đào tạo đại học - Sư phạm công nghệ, trình độ cao đẳng, hệ chính quy, Trường Cao đẳng Sư phạm Trung ƣơng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình đào tạo đại học - Sư phạm công nghệ, trình độ cao đẳng, hệ chính quy
Tác giả: Chương trình chi tiết
Năm: 2006
19. Công văn (2006), Hướng dẫn dạy học tự chọn cấp THCS và cấp THPT năm học 2006-2007, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn dạy học tự chọn cấp THCS và cấp THPT năm học 2006-2007
Tác giả: Công văn
Năm: 2006
20. Nguyễn Văn Cường (2007), “Các lý thuyết học tập cơ sở tâm lý của đổi mới phương pháp dạy học”, Tạp chí giáo dục, (153) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các lý thuyết học tập cơ sở tâm lý của đổi mới phương pháp dạy học”, "Tạp chí giáo dục
Tác giả: Nguyễn Văn Cường
Năm: 2007

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1: Sơ đồ quá trình đồng hóa và điều ứng trong học tập - Luận án dạy học cơ kỹ thuật theo lý thuyết học tập kiến tạo trong đào tạo giáo viên công nghệ
Hình 1.1 Sơ đồ quá trình đồng hóa và điều ứng trong học tập (Trang 31)
Bảng 1.2: Ý kiến của SV học tập CKT - Luận án dạy học cơ kỹ thuật theo lý thuyết học tập kiến tạo trong đào tạo giáo viên công nghệ
Bảng 1.2 Ý kiến của SV học tập CKT (Trang 45)
Bảng 1.4: Ý kiến khảo sát giảng viên - Luận án dạy học cơ kỹ thuật theo lý thuyết học tập kiến tạo trong đào tạo giáo viên công nghệ
Bảng 1.4 Ý kiến khảo sát giảng viên (Trang 49)
Bảng 2.1: Đề cương môn Cơ kỹ thuật - Luận án dạy học cơ kỹ thuật theo lý thuyết học tập kiến tạo trong đào tạo giáo viên công nghệ
Bảng 2.1 Đề cương môn Cơ kỹ thuật (Trang 55)
Hình 2.1: Sơ đồ quy trình học tập kiến tạo CKT - Luận án dạy học cơ kỹ thuật theo lý thuyết học tập kiến tạo trong đào tạo giáo viên công nghệ
Hình 2.1 Sơ đồ quy trình học tập kiến tạo CKT (Trang 61)
Hình 2.15  Hình 2.16 - Luận án dạy học cơ kỹ thuật theo lý thuyết học tập kiến tạo trong đào tạo giáo viên công nghệ
Hình 2.15 Hình 2.16 (Trang 91)
Hình 2.17  Hình 2.18 - Luận án dạy học cơ kỹ thuật theo lý thuyết học tập kiến tạo trong đào tạo giáo viên công nghệ
Hình 2.17 Hình 2.18 (Trang 92)
Hình 2.29  Hình 2.30 - Luận án dạy học cơ kỹ thuật theo lý thuyết học tập kiến tạo trong đào tạo giáo viên công nghệ
Hình 2.29 Hình 2.30 (Trang 106)
Hình 3.1: Đồ thị tần số điểm - Luận án dạy học cơ kỹ thuật theo lý thuyết học tập kiến tạo trong đào tạo giáo viên công nghệ
Hình 3.1 Đồ thị tần số điểm (Trang 125)
Bảng 3.2: Bảng tần số điểm - Luận án dạy học cơ kỹ thuật theo lý thuyết học tập kiến tạo trong đào tạo giáo viên công nghệ
Bảng 3.2 Bảng tần số điểm (Trang 125)
Bảng số liệu tần suất cho phép vẽ đồ thị các đường tần suất tương ứng. - Luận án dạy học cơ kỹ thuật theo lý thuyết học tập kiến tạo trong đào tạo giáo viên công nghệ
Bảng s ố liệu tần suất cho phép vẽ đồ thị các đường tần suất tương ứng (Trang 126)
Bảng 3.4: Bảng tần suất hội tụ tiến - Luận án dạy học cơ kỹ thuật theo lý thuyết học tập kiến tạo trong đào tạo giáo viên công nghệ
Bảng 3.4 Bảng tần suất hội tụ tiến (Trang 127)
Bảng 3.8: Danh sách chuyên gia  3.3.2. Triển khai việc xin ý kiến chuyên gia - Luận án dạy học cơ kỹ thuật theo lý thuyết học tập kiến tạo trong đào tạo giáo viên công nghệ
Bảng 3.8 Danh sách chuyên gia 3.3.2. Triển khai việc xin ý kiến chuyên gia (Trang 134)
Bảng 3.9: Kết quả xin ý kiến chuyên gia - Luận án dạy học cơ kỹ thuật theo lý thuyết học tập kiến tạo trong đào tạo giáo viên công nghệ
Bảng 3.9 Kết quả xin ý kiến chuyên gia (Trang 135)
Hình vẽ: - Luận án dạy học cơ kỹ thuật theo lý thuyết học tập kiến tạo trong đào tạo giáo viên công nghệ
Hình v ẽ: (Trang 158)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w