Toàn cầu hoá, là xu thế tất yếu của thế giới xuất hiện vào những năm cuối thế kỷ XX. Toàn cầu hoá là quá trình diễn ra do sự thay đổi về công nghệ, tăng trưởng dài hạn liên tục về đầu tư nước ngoài và nguồn lực quốc tế và sự hình thành trên phạm vi rộng lớn với quy mô toàn cầu với những hình thức mới về các mối liên kết quốc tế giữa các công ty và các quốc gia. Sự kết hợp này làm tăng quá trình hội nhập giữa các quốc gia và thay đổi bản chất của cạnh tranh toàn cầu. Toàn cầu hoá có thể diễn ra ở nhiều cấp độ khác nhau: khu vực, liên khu vực, châu lục, liên châu lục và thậm chí trên diện toàn cầu. Toàn cầu hoá và hội nhập là xu thế tất yếu đối với từng quốc gia, bởi vì nước nào cũng muốn phát triển kinh tế xã hội của mình
Trang 1ÔN TẬP KINH TẾ HỌC GIÁO DỤC
Toàn cầu hoá, là xu thế tất yếu của thế giới xuất hiện vào những năm cuối thế
kỷ XX Toàn cầu hoá là quá trình diễn ra do sự thay đổi về công nghệ, tăng trưởng dài hạn liên tục về đầu tư nước ngoài và nguồn lực quốc tế và sự hình thành trên phạm vi rộng lớn với quy mô toàn cầu với những hình thức mới về các mối liên kết quốc tế giữa các công ty và các quốc gia Sự kết hợp này làm tăng quá trình hội nhập giữa các quốc gia và thay đổi bản chất của cạnh tranh toàn cầu Toàn cầu hoá có thể diễn ra ở nhiều cấp độ khác nhau: khu vực, liên khu vực, châu lục, liên châu lục và thậm chí trên diện toàn cầu Toàn cầu hoá và hội nhập là xu thế tất yếu đối với từng quốc gia, bởi vì nước nào cũng muốn phát triển kinh tế - xã hội của mình
Trong lĩnh vực văn hoá, giáo dục toàn cầu hoá là sự hội nhập và kết tinh của nhiều nền văn hoá, giáo dục khác nhau qua mạng viễn thông và công nghệ thông tin toàn cầu, qua sự lan rộng của các quảng cáo tìm kiếm thị trường văn hoá, giáo dục mới
Trong những năm gần đây, nổi lên một sự công nhận rộng rãi về vai trò ngày càng tăng của tri thức trong các quy trình sản xuất và sự chuyển đổi của các nền kinh tế công nghiệp thành nền kinh tế dựa trên cơ sở tri thức Theo Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á -Thái Bình Dương (APEC), kinh tế dự trên cơ sở tri thức hay còn gọi là nền kinh tế tri thức là một nền kinh tế trong đó sự sản sinh, phân bố và sử dụng tri thức là những động lực chính của tăng trưởng, nó góp phần tạo ra của cải và việc làm trong tất cả các ngành công nghiệp Trong kinh tế tri thức, khả năng sáng tạo và sử dụng tri thức là điều quyết định cho sự thành công của tất cả các lĩnh vực, trong đó có các ngành công nghệ cao và các ngành truyền thống Cách mạng khoa học công nghệ hiện đại mà hiện nay thường được gọi là cách mạng tri thức đang tạo ra những thay đổi to lớn, sâu sắc trong cách sản xuất kinh doanh, trong tiêu thụ, lối sống, cách tổ chức quản lý và mọi mặt đời sống xã hội Đó không chỉ là một cuộc cách mạng trong khoa học công nghệ, trong kinh tế mà còn là cách mạng trong tư duy, trong khái niệm Cái khác biệt trong thời đại cách mạng tri thức ngày nay là tri thức đã trở thành một yếu tố của sản xuất, quan trọng hơn cả tài nguyên và vốn Tri thức cần cho một xã hội tri thức có ý nghĩa rộng hơn là tri thức công nghệ, bao gồm cả tri thức về văn hoá, về xã hội, về quản lý trong một xã hội tri thức, thông tin và tri thức là nguồn vốn cơ bản của quá trình tái sản xuất xã hội Nền kinh tế tri thức có những đặc trưng cơ bản như: công nghệ thông tin, công nghệ cao giữ vai trò quan trọng hàng đầu; khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp; quá trình công nghiệp hoá được rút ngắn; cơ cấu kinh tế, hình thức tổ chức xã hội thay đổi cơ bản và nguồn nhân lực trong xã hội nhanh chóng được tri thức hoá, đây là một đặc trưng rất quan trọng, trong đó con người phải làm việc bằng năng lực trí tuệ là chính, mà không chỉ là năng lực thể chất, cơ cấu lao động xã hội thay đổi căn bản: nhân lực trong các ngành dịch vụ, đặc biệt là dịch vụ xử lý thông tin và dịch vụ tri thức tăng nhanh; sự cách biệt giàu nghèo về thực chất là sự cách biệt về tri thức và nhăng lực tạo ra tri thức Các nước đang phát triển chỉ có thể bằng con đường phát triển khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo nhằm tăng nhanh vốn tri thức mới có thể rút ngắn khoảng cách với các nước phát triển
Như vậy, ngày nay thời đại đang bước vào kỷ nguyên toàn cầu hoá, kinh tế tri thức, hội nhập quốc tế Giáo dục đang giữ vai trò đặc biệt quan trọng cho sự phát triển xã hội, sự phát triển cá nhân, động lực của sự phát triển kinh tế xã hội, Đầu tư cho giáo dục từ chỗ được xem là phúc lợi xã hội chuyển sang đầu tư cho
Trang 2phát triển Vì vậy các quốc gia, từ những nước đang phát triển đến những nước phát triển đều nhận thức được vai trò và vị trí hàng đầu của giáo dục, đều phải đổi mới giáo dục kết hợp với kinh tế để có thể đáp ứng một cách năng động hơn, hiệu quả hơn, trực tiếp hơn những nhu cầu của sự phát triển đất nước
Nghiên cứu các đặc trưng biểu hiện và quy luật hoạt động của kinh tế tác động vào quá trình giáo dục nói chung và quá trình giáo dục trong nhà trường quân sự nói riêng để khẳng định giáo dục là tác nhân then chốt tạo ra tri thức và tri thức trở thành lực lượng sản xuất, giáo dục là điều kiện quan trọng để phát huy dân chủ bảo vệ quyền con người, tăng cường pháp chế, xây dựng nhà nước pháp quyền, xây dựng quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại đáp ứng yêu cầu cách mạng trong tình hình mới
Vấn đề 1 ĐẶC TRƯNG KINH TẾ CỦA QUÁ TRÌNH GIÁO DỤC
1 Quan điểm tiếp cận
* Giáo dục có tầm quan trọng đặc biệt vì nó liên quan đến con người, xã hội và
sự phát triển
* Coi giáo dục như một lĩnh vực kinh tế đặc biệt, giáo dục vừa là mục tiêu, vừa là sức mạnh của kinh tế
2 Đặc trưng kinh tế và các nhân tố cơ bản trong quá trình giáo dục
* Đội ngũ người học
* Đội ngũ giáo viên và nhân viên
* Nhân tố cơ sở vật chất sư phạm của nhà trường
3 Đặc trưng kinh tế giáo dục ở nhà trường quân sự
* Đặc điểm giáo dục và quản lý giáo dục nhà trường quân sự
* Đội ngũ giáo viên và nhân viên
* Đội ngũ giáo viên và nhân viên
* Nhân tố cơ sở vật chất sư phạm của nhà trường
1 Quan điểm tiếp cận
* Giáo dục có tầm quan trọng đặc biệt vì nó liên quan đến con người, xã hội và
sự phát triển
Con người được coi là tài nguyên, trung tâm của sự phát triển, phát triển con người bền vững, toàn diện; giáo dục làm tăng thêm tính người, tính xã hội tính toàn diện tính hiện đại của con người
Liên quan đến xã hội, giáo dục là một chức năng của xã hội, thâm nhập vào các chức năng khác, gồm: Nhà nước, cộng đồng, gia đình đều rất quan tâm đến sự phát triển giáo dục và liên quan đến sự phát triển, giáo dục có vai trò đặc biệt trong sự phát triển, thúc đấy phát triển, gia tăng sự phát triển, tiền đề cho sự phát triển
* Coi giáo dục như một lĩnh vực kinh tế đặc biệt, giáo dục vừa là mục tiêu, vừa là sức mạnh của kinh tế
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “không có giáo dục, không có cán bộ thì cũng không nói gì đến kinh tế văn hoá.”1 Giáo dục phải đi trước, tiềm ẩn trong mọi hoạt động của con người, trong sản phẩm mà con người làm ra, tạo nên một kết cấu hạ tầng đặc biệt, tiền đề cho sự phát triển Giáo dục đang trực tiếp đào tạo nguồn nhân lực, tham gia vào lực lượng sản xuất xã hội vì vậy nó còn tham gia cả cơ sở hạ tầng xã hội
1 Hồ Chí Minh To n t àn t ập, tập 8, Nxb, Sự thật H, 1987.
Trang 3Giáo dục vừa đem lại lợi ích, vừa cần sự chi phí Vì giáo dục là một hoạt động, hoạt động thì phải có chi phí, phải có đầu tư; muốn có sản phẩm chất lượng cao thì phải đầu tư thích đáng; đầu tư cho giáo dục hay gọi là tài chính giáo dục là chỉ số phản ánh việc bảo đảm kinh tế cho giáo dục Như vậy muốn có trường chất lượng cao thì chi phí phải lớn, chi phí lớn thì học phí lại cao; vì vậy hiện nay chúng ta phải phát triển nhiều loại hình trường chất lượng cao để thu hút người học tránh tình trạng chảy máu ngoại tệ
do làn sóng du học nước ngoài trong thời gian qua Đối với Nhà nước ta đầu tư cho giáo dục ngày một tăng :
Năm 2000 đầu tư cho giáo dục là 15% Ngân sách NN
Năm 2005 // 18,1% //
Năm 2008 // 20% //
Nằm vào khoảng 66.000 đến 72.000 tỷ đồng
Đầu tư cho một sinh viên
Việt Nam : 1SV được đầu tư 4,3 triệu đồng trên một năm, có số liệu là 2,8 triệu; gần đây một sinh viên trong 4 năm học trung bình được đầu tư từ 19 đến 20 triệu đồng trong đó, ngân sách NN 55%, học phí 42%, đóng góp của cộng đồng và các nguồn thu khác 3% đóng góp của cộng đồng và các nguồn thu khác chỉ có 3% là quá ít (Con số này ở Mỹ là 22.000 USD ; Châu âu là 12.000 USD trên một sinh viên một năm)
Về hiệu quả kinh tế trong giáo dục có Hiệu quả trong và Hiệu quả ngoài
Hiệu quả trong là hiệu quả thuộc về người học so với mục tiêu đề ra (gồm kiến thức, kỹ năng, nhân cách) đối với nhà trường có thể dễ dàng kiểm định, đánh giá
Hiệu quả ngoài là xem xét sinh viên tốt nghiệp có làm đúng nghề đào tạo không,
có việc làm không, năng xuất chất lượng, hiệu quả, có phát huy được ngành nghề đào tạo hay không? (Ngân hàng thế giới tính đầu tư cho giáo dục là đầu tư có lãi theo tỷ 1-3)
* Đội ngũ người học
Luật giáo dục nêu trong chương V, Điều 83: “Người học là người đang học tập tại cơ sở giáo dục của hệ thống giáo dục quốc dân” Người học thực hiện nhiệm vụ học tập, rèn luyện theo chương trình, kế hoạch giáo dục của nhà trường Tôn trọng nhà giáo, cán bộ và nhân viên của nhà trường, đoàn kết giúp đỡ nhau trong học tập, rèn luyện, thực hiện nội quy, điều lệ của nhà trường, pháp luật của Nhà nước Tham gia lao động
và hoạt động xã hội, hoạt động bảo vệ môi trường phù hợp với lứa tuổi, sức khoẻ và năng lực Giữ gìn, bảo vệ tài sản của nhà trường, góp phần xây dựng, bảo vệ và phát huy truyền thống của nhà trường Đội ngũ người học là một nhân tố chủ yếu của nhà trường, đây cũng là nguồn vốn dự trữ, nguồn cung cấp lao động cho xã hội
Những chỉ số biểu hiện đặc trưng kinh tế của người học là tỷ số người học so với dân cư:
Tỷ lệ biết chữ người lớn là 91 - 93%, bình quân trong 3 người dân thì có 1 người
đi học Hiện nay nước ta có trên 22 triệu HS, SV/85,8 triệu dân đi họctỷ lệ là 26%
Tỷ lệ người biết chữ và trẻ em đi học cao đồng nghĩa với sự văn minh xã hội, phát triển kinh tế cao và nó thường đi đôi với nền kinh tế có mức tăng trưởng cao do vậy, nó là một chỉ số quan trọng để đánh giá trình độ phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia
Theo s li u th ng kê n m 2009:ố liệu thống kê năm 2009: ệu thống kê năm 2009: ố liệu thống kê năm 2009: ăm 2009:
S
TT
Trang 40
2
0
3
Phát triển GD
0
4
Giá trị chung HDI Việt Nam xếp thứ 7 thế giới
Tuổi thọ:……… xếp thứ 7 thế giới Biết chữ người lớn:……… xếp thứ 7 thế giới
Đi học thanh thiếu niên:… xếp thứ 6 thế giới Chỉ số giáo dục (E):…… xếp thứ 7 thế giới
Hiệu suất đào tạo gồm, Tỷ lệ học sinh đến lớp; Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp; Tỷ lệ học sinh hết cấp Nếu xảy ra các hiện tượng lưu ban, bỏ học, học lại đều không có nguyên nhân kinh tế
Học vấn của đội ngũ lao động và và số năm học trung bình Thường người ta tính năm học trung bình của một cư dân là 15 tuổi trở lên Chỉ số này vừa phản ánh kết quả phổ cập giáo dục cho nhân dân vừa phản ánh chỉ số đầu tư cho giáo dục; Chỉ số năm học càng cao thì trình độ dân trí càng cao, đồng thời nói lên sự chi phí xã hội cao
Xếp vị trí theo số năm học trung bình của một số quốc gia: Hàn quốc: 10,8; Philipin: 8,2; Malaixia: 6,8; Thailand: 6,5; Trung quốc: 6,4;Việt Nam 6,34 ; Indonexia: 5,0
* Đội ngũ giáo viên và nhân viên
Nhà giáo là người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường, cơ sở giáo dục khác Nhà giáo giảng dạy ở cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp gọi là giáo viên; ở cơ sở giáo dục đại học gọi là giảng viên Nhà giáo có những nhiệm vụ: Giáo dục, giảng dạy theo mục tiờu, nguyờn lý giỏo dục, thực hiện đầy
đủ và có chất lượng chương trỡnh giỏo dục; Gương mẫu thực hiện nghĩa vụ công dân, các quy định của pháp luật và điều lệ nhà trường; Giữ gỡn phẩm chất, uy tớn, danh dự của nhà giỏo; tụn trọng nhân cách của người học, đối xử công bằng với người học, bảo
vệ các quyền, lợi ích chính đáng của người học; Không ngừng học tập, rèn luyện để nâng cao phẩm chất đạo đức, trỡnh độ chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ, đổi mới phương pháp giảng dạy, nêu gương tốt cho người học; Các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật
Giáo viên là lực lượng nòng cốt của nhà trường, là bộ phận lao động của nền kinh
tế, lao động đặc biệt Hiện nay nước ta có trên 1 triệu giáo viên, trong đó giảng viên đại học, cao đẳng khoảng 61.000 (số liệu năm 2009)
* Đặc trưng kinh tế của đội ngũ giáo viên là:
Gia tăng chất lượng và năng suất lao động của đội ngũ giáo viên thông qua sự phối hợp tổng thể các biện pháp hành chính, sư phạm, động viên tinh thần và vật chất Năng suất, chất lượng của giáo viên là tiền đề trực tiếp quyết định chất lượng con người được đào tạo
Định mức lao động phù hợp : Đòi hỏi lượng hoá một cách khoa học công lao động của giáo viên kể cả lao động sống và lao động quá khứ Ngoài số giờ giảng, người
Trang 5ta còn tính thời gian lao động kết tinh trong bài giảng, chấm bài, thục luyện của giáo viên ngoài giờ chính khoá Do vậy cần phải giao việc, phân công hợp lý, có kế hoạch tạo điều kiện cho giáo viên chủ động và đảm bảo chất lượng chuẩn bị bài Đảm bảo thực hiện nghiêm túc điều lệnh, điều lệ, quy chế, quy định của Nhà nước, quân đội và của nhà trường ; đảm bảo thực hiện đúng, kịp thời các chính sách, chế độ, phân công công tác, chăm lo cải thiện đời sống vật chất, tinh thần cho giáo viên
* Nhân tố cơ sở vật chất sư phạm của nhà trường
Cơ sở vật chất sư phạm của nhà trường bao gồm: Trường sở, thiết bị, phương tiện, tài liệu, tài sản, giáo trình, giáo khoa đây là phương tiện, điều kiện phục vụ cho nhiệm vụ, mục tiêu đào tạo ; nó có quan hệ mật thiết với các nhân tố khác Đây cũng là nguồn vốn cố định của nền kinh tế, của xã hội và phải được quản lý như quản lý tài sản của Nhà nước
* Đặc trưng kinh tế giáo dục của vật chất sư phạm nhà trường
Biểu hiện ở số lượng, số phòng học, phương tiện, sân tập, bãi tập, giáo trình tài liệu theo quy định của trên về cấp học, bậc học, quy mô, loại hình đào tạo của từng nhà trường
Chỉ số phòng học tiêu chuẩn: Về diện tích, ánh sáng, độ thông gió, bàn ghế, bảng, tiếng ồn Chỉ số giờ hữu ích của các phòng học, chức năng, đa năng, gồm tần suất sử dụng
và hiệu quả sử dụng
Chỉ số về số lần sử dụng các phương thiện kỹ thuật dạy học, sách, tài liệu ; (thực
tế có chuyên dụng, phương tiện kỹ thuật hiện đại, đắt tiền nhưng không khai thác sử dụng được, hoặc sử dụng hiệu quả thấp gây ra sự lãng phí rất lớn) Do vậy, cần đầu tư đúng địa chỉ, sử dụng hiệu quả và sử dụng tốt ; Định mức, tiêu chuẩn, tiêu hao vật chất phục vụ giáo dục hợp lý
3 Đặc trưng kinh tế giáo dục ở nhà trường quân sự
* Đặc điểm giáo dục và quản lý giáo dục nhà trường quân sự
Do tính chất, chức năng, nhiệm vụ quân đội nói chung, nhiệm vụ giáo dục, đào tạo trong quân đội quy định đặc điểm của giáo dục và quản lý giáo dục ở nhà trường quân sự
Quản lý giáo dục trong quân đội nói chung và trong các nhà trường quân sự nói riêng vừa phải tuân thủ điều lệnh, điều lệ, qui chế, chỉ thị, mệnh lệnh của quân đội, nhà trường vừa phải tuân thủ qui chế giáo dục của nhà nước; chịu sự qui định của hai hệ thống quản lý, hai cơ chế quản lý Một mặt tuân thủ điều lệnh quân đội, điều lệ công tác nhà trường quân đội, chỉ thị mệnh lệnh của Bộ Quốc phòng, Cục Nhà trường, Cục Tư tưởng văn hoá, qui chế, qui định của từng nhà trường quân sự, một mặt phải tuân thủ qui chế, điều lệ do nhà nước ban hành
Quá trình giáo dục và quản lý giáo dục diễn ra trong môi trường quân sự là một tổ chức hoạt động có kỷ luật cao theo điều lệnh, điều lệ, qui định của quân đội và của nhà trường với tư cách là một tổ chức quân sự Quá trình giáo dục và quản lý giáo dục gắn liền với quá trình xây dựng, giáo dục, rèn luyện đội ngũ cán bộ sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp, NVCMKT trong quân đội
Giáo viên, học viên ở nhà trường quân sự vừ thực hiện nhiệm vụ dạy và học vừa phải rèn luyện chức trách nhiệm vụ quân nhân, người cán bộ sỹ quan quân đội đáp ứng yêu cầu xây dựng quân đội cách mạng, chính qui, tinh nhuệ, từng bước hiện đại
Mọi hoạt động giáo dục và quản lý giáo dục được kế hoạch hoá cao, thống nhất và được tổ chức chặt chẽ từ đề ra chỉ tiêu, chiêu sinh, tuyển sinh, bố trí ngành nghề đào tạo, phân phối học viên ra trường đều do Bộ Quốc phòng quyết định
Trang 6Về mục tiêu giáo dục - đào tạo, “đào tạo cán bộ theo chức vụ có trình độ học vấn tương ứng và nâng cao trình độ học vấn đội ngũ sỹ quan” Tức là vừa đáp ứng yêu cầu
về mặt bằng học vấn cho sỹ quan, chuẩn hoá tương đương với trình độ đào tạo ở ngoài quân đội là trình độ đại học Vừa thực hiện mục tiêu đào tạo để người sỹ quan làm tốt nhiệm vụ ban đầu và có khả năng phát triển đó là gắn với chức vụ
Đối với đội ngũ học viên được tập trung học tập, kết hợp với tu dưỡng rèn luyện nhân cách, bản lĩnh chính trị, đạo đức, sức khoẻ, học đi đôi với rèn tức huấn luyện đi đôi với giáo dục Học viên ăn, ở, sinh hoạt tập trung có hệ thống cán bộ quản lý chuyên trách tổ chức quản lý chặt chẽ 24 giờ trên 24 giờ Ra trường học viên cơ bản là đảng viên (các Học viện, Trường Sỹ quan); học viên tốt nghiệp 100% được phân công công tác và phải chấp hành sự phân công của cấp trên vô điều kiện
Ngân sách giáo dục và đào tạo trong quân đội nói chung và trong các nhà trường quân sự là bao cấp hoàn toàn
* Đội ngũ nhà giáo ở nhà trường quân sự
Nhà giáo là những người làm nhiệm vụ giảng dạy và giáo dục trong nhà trường quân đội Nhà giáo phải đạt những tiêu chuẩn của cán bộ về trình độ chỉ huy quản lý theo qui định của Bộ Quốc phòng; trình độ học vấn và chuyên môn nghiệp vụ nhà giáo theo qui định của Luật Giáo dục Nhà giáo có vị trí đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp giáo dục Chính vì vậy, quản lý, xây dựng, phát triển đội ngũ nhà giáo vững mạnh là điều kiện
có ý nghĩa hàng đầu trong việc nâng cao chất lượng giáo dục ở nhà trường quân sự
* Đặc trưng kinh tế của đội ngũ giáo viên ở nhà trường quân sự
Từ đặc điểm giáo dục và quản lý giáo dục, từ vai trò, nhiệm vụ của đội ngũ giáo viên ở nhà trường quân sự, ta thấy phải gia tăng chất lượng và năng suất lao động của đội ngũ giáo viên thông qua sự phối hợp tổng thể các biện pháp như các biện pháp hành chính, biện pháp sư phạm, động viên cả về vật chất và tinh thần như:
Xây dựng chương trình, kế hoạch quản lý phát triển đội ngũ giáo viên ở các nhà trường để nhà trường có thể ứng phó với sự bất định và thay đổi về số lượng, chất lượng,
cơ cấu đội ngũ giáo viên, và các nhân tố tác động đến quá trình quản lý phát triển đội ngũ giáo viên; Xây dựng chương trình, kế hoạch cho phép nhà trường có cái nhìn tổng thể, toàn diện, công tác quản lý phát triển đội ngũ giáo viên qua đó thấy được hoạt động tương tác giữa các bộ phận, nhìn thấy tương lai, có thể ra những quyết định điều chỉnh hoặc điều chỉnh những quyết định trước đó bảo đảm cho công tác quản lý phát triển đội ngũ giáo viên hướng vào mục tiêu đã định; Xác định mục đích và nhiệm vụ phát triển đội ngũ giáo viên nhà trường, hoàn thiện quá trình sư phạm, nâng cao chất lượng và hiệu quả của công tác đào tạo; xây dựng chương trình xác định các con đường và các phương tiện hiện thực quản
lý phát triển đội ngũ giáo viên theo các nhiệm vụ và đạt tới các mục tiêu đã xác định; xác định nhịp độ phát triển và tỉ lệ cân đối giữa các nhân tố cơ cấu, số lượng, chất lượng đội ngũ giáo viên với các hoạt động giáo dục, các thành tố của quá trình giáo dục của nhà trư-ờng
Xây dựng chương trình, kế hoạch quản lý phát triển đội ngũ giáo viên để nhà trường có thể lựa chọn những phương án tối ưu, tiết kiệm nguồn lực tạo hiệu quả hoạt động quản lý phát triển đội ngũ giáo viên trong tổng thể công tác xây dựng
Trang 7phát triển nhà trường đồng thời tạo điều kiện dễ dàng cho công tác kiểm tra quá trình thực hiện công tác
Đổi mới công tác tuyển chọn, tích cực đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng có hiệu quả đội ngũ giáo viên của nhà trường Công tác tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng có hiệu quả đội ngũ giáo viên của nhà trường là một chu trình rất quan trọng trong quá trình xây dựng, quản lý và phát triển đội ngũ giáo viên, có thể nói nếu thực hiện tốt chu trình này là yếu tố quyết định chất lượng đội ngũ giáo viên, chất lượng giáo dục - đào tạo của nhà trường
Trong tình hình hiện nay, đổi mới công tác tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng có hiệu quả đội ngũ giáo viên của nhà trường là một tất yếu khách quan và là một yêu cầu cấp thiết, nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên góp phần nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo của nhà trường
Thực chất của biện pháp này là thực hiện qui trình xây dựng, phát triển đội ngũ giáo viên, là một chu trình khép kín bao gồm các khâu: tuyển chọn; đào tạo; bồi dưỡng;
và sử dụng đội ngũ giáo viên
Tuyển chọn đội ngũ giáo viên, phải thực hiện chế độ dân chủ, công khai và đúng quy trình trong tuyển chọn giáo viên; xây dựng phương thức tuyển chọn khoa học, linh hoạt và hiệu quả, bảo đảm chọn đúng người có đủ tiêu chuẩn, đáp ứng yêu cầu nhiệm
vụ giáo dục - đào tạo của nhà trường và yêu cầu phát triển đội ngũ
Nguồn tuyển chọn là cán bộ, sỹ quan ở các đơn vị trong quân đội có trình chuyên môn nghiệp vụ giỏi, có kinh nghiệm thực tiễn phong phú, có năng khiếu sư phạm; các sỹ quan đã tốt nghiệp loại giỏi ở các học viện, nhà trường; các sinh viên đã tốt nghiệp loại giỏi ở các trường đại học ngoài quân đội có đủ tiêu chuẩn để trở thành người giáo viên giảng dạy trong các nhà trường quân sự; những học viên tốt nghiệp loại giỏi tại nhà trường có đủ tiêu chuẩn
và có nhu cầu ở lại, phát triển để trở thành giáo viên của nhà trường
Căn cứ vào cơ chế, quy chế, chỉ tiêu của cấp trên, căn cứ vào quy hoạch, kế hoạch và nhu cầu phát triển đội ngũ giáo viên của nhà trường các cơ quan chức năng tiến hành công tác tuyển chọn giáo viên theo quy trình đã được xác định
Đào tạo đội ngũ giáo viên, đào tạo là một hoạt động rất quan trọng trong nội dung xây dựng, quản lý phát triển đội ngũ giáo viên Trong quá trình phát triển xã hội, nhà trường không ngừng biến đổi để đáp ứng sự phát triển ấy Quá trình biến đổi này đòi hỏi đội ngũ giáo viên ngày càng phải hoàn thiện Nhà trường phải xác định mục tiêu, xây dựng kế hoạch để đào tạo chuẩn hoá cho những giáo viên chưa đạt chuẩn; đào tạo lại những giáo viên phải giảng dạy các môn học trái với chuyên ngành theo yêu cầu của nhà trường; đào tạo nâng cao để giáo viên đạt trình độ Thạc sỹ, tiến sỹ
Bồi dưỡng đội ngũ giáo viên, cùng với nhiệm vụ đào tạo, thì bồi dưỡng đội ngũ giáo viên cũng là một nhiệm vụ quan trọng và đã được quy định trong Luật Giáo dục (2005) Yêu cầu nội dung chương trình bồi dưỡng phải có hệ thống, toàn diện, có trọng tâm, trọng điểm; phải bảo đảm tính kế thừa và nâng cao, tính đón đầu Đặc biệt, phải cập nhật đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, quân đội, các thành tựu mới nhất của tri thức nhân loại, và kinh nghiệm giáo dục, quản lý giáo dục tiên tiến để công tác bồi dưỡng đạt hiệu quả cao
Thực chất của công tác bồi dưỡng đội ngũ giáo viên là quá trình bổ sung kiến thức,
kỹ năng cho từng loại hình giáo viên của nhà trường để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, giúp cho giáo viên có cơ hội củng cố, mở mang, nâng cao hệ thống tri thức, kỹ
Trang 8năng, kỹ xảo chuyên môn nghiệp vụ có sẵn nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giảng dạy và nghiên cứu khoa học
Nhà trường phải xây dựng chương trình, kế hoạch, khoa học, xác định nội dung
và hình thức bồi dưỡng cụ thể cho từng giai đoạn, từng loại hình giáo viên; xác định các điều kiện bảo đảm thực hiện kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng; tổ chức, chỉ đạo và quản lý chặt chẽ công tác đào tạo, bồi dưỡng giáo viên, đồng thời tạo điều kiện về thời gian, động viên về vật chất và tinh thần để giáo viên an tâm tư tưởng thực hiện tốt nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng
Các nhà trường quân sự cần bố trí, sử dụng có hiệu quả đội ngũ giáo viên
Đội ngũ giáo viên của các nhà trường quân sự thường được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau, nhiều ngành nghề khác nhau và có nhiều trình độ khác nhau, cơ cấu độ tuổi, thâm niên, kinh nghiệm giảng dạy không đồng bộ do vậy việc sử dụng hợp lý và có hiệu quả đội ngũ giáo viên của nhà trường hiện nay là một biện pháp rất quan trọng và có
ý nghĩa hết sức thiết thực
Thực chất việc sử dụng hợp lý và có hiệu quả đội ngũ giáo viên của nhà trường là nhằm phát huy nội lực, tạo nên sự đồng thuận trong tổ chức, giúp đội ngũ giáo viên yên tâm công tác, phát huy hết năng lực và sở trường của họ đối với sự phát triển của nhà trường
Căn cứ vào kết quả đánh giá trình độ, năng lực, số lượng, cơ cấu của giáo viên Bố trí, sử dụng giáo viên đủ tiêu chuẩn, có uy tín, có trình độ chuyên môn cao vào các cương
vị phù hợp với khả năng của họ như cán bộ quản lý khoa, bộ môn, đội ngũ đầu đàn, kế cận nhằm khai thác tối đa khả năng và trí tuệ của họ Sử dụng đúng người, đúng việc, đúng chuyên môn đào tạo, đúng sở trường và nguyện vọng cá nhân, bảo đảm tính liên tục, tính kế thừa, kết hợp hài hoà già - trẻ; cũ - mới; cơ cấu trình độ học vấn phù hợp
Đề bạt, bổ nhiệm, phân công giáo viên phải coi trọng phẩm chất chính trị, đạo đức, năng lực, uy tín, chức danh, học vị và năng lực thực tế của giáo viên xứng “tầm” với công việc được giao; như vậy sẽ kích thích được mỗi cán bộ, giáo viên tích cực phấn đấu đạt các tiêu chí đề ra về chức danh và học vị cho bản thân, cống hiến nhiều hơn nữa cho nhà trường
Tạo điều kiện, môi trường thuận lợi để đội ngũ giáo viên phát huy tiềm năng trí tuệ, phát triển nghề nghiệp Tạo điều kiện, môi trường thuận lợi để đội ngũ giáo viên phát huy tiềm năng trí tuệ, phát triển nghề nghiệp là một biện pháp quan trọng của quá trình quản lý phát triển đội ngũ giáo viên; đây là biện pháp chủ động xây dựng, sáng tạo
ra những điều kiện tối ưu để giải quyết có kết quả nhất nhiệm vụ dạy học
Thực chất của việc tạo điều kiện, môi trường thuận lợi là xây dựng môi trường giáo dục (hay xây dựng môi trường văn hoá trong nhà trường quân sự ) trong nhà trường là: Xây dựng các mối quan hệ giáo dục và bầu không khí tâm lý - tinh thần tốt đẹp trong nhà trường; Xây dựng cơ sở vật chất giáo dục, xây dựng cảnh quan môi trường trong nhà trường một cách khoa học phục vụ tốt nhất cho mục tiêu giáo dục -đào tạo
Các tổ chức trong nhà trường tăng cường giáo dục cho mọi thành viên về tư tưởng, đạo đức, lối sống, các chuẩn mực văn hoá, tinh thần đoàn kết
Phát huy mọi nguồn lực (nội lực, ngoại lực) xây dựng nhà trường có kết cấu hạ tầng hợp lý, có cơ sở vật chất kỹ thuật giáo dục, huấn luyện đảm bảo chất lượng và số
Trang 9lượng tạo điều kiện tốt nhất cho đội ngũ giáo viên thực hiện nhiệm vụ giáo dục - đào tạo; Quan tâm chăm lo tốt đời sống vật chất, tinh thần và bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng cho đội ngũ giáo viên
Tóm lại, cần phải sử dụng tổng hợp các biện pháp nhằm gia tăng số lượng, chất lượng, cơ cấu đội ngũ giáo viên, định mức lao động phù hợp, giáo việc, phân công hợp lý
có kế hoạch tạo điều kiện cho giáo viên về cả vật chất và tinh thần cho giáo viên, thực chất
là quản lý phát triển tốt đội ngũ giáo viên nhằm nâng cao năng suất, chất lượng đội ngũ giáo viên chính là nâng cao hiệu quả kinh tế trong giáo dục, đào tạo, trực tiếp quyết định chất lượng giáo dục và đào tạo trong nhà trường quân sự
* Đội ngũ học viên ở nhà trường quân sự
Đối với đội ngũ học viên ở nhà trường quân sự đây là một đội ngũ rất phong phú,
đa dạng với nhiều độ tuổi, cấp học, trình độ phát triển trí tuệ, phẩm chất đạo đức khác nhau Họ có thể là học sinh phổ thông, hạ sĩ quan, chiến sĩ, quân nhân chuyên nghiệp, sĩ quan được tuyển chọn đào tạo bồi dưỡng thành cán bộ các cấp, các ngành của quân đội,
cụ thể có mười đối đối tượng, cấp học, bậc học như sau: Đào tạo cán bộ cấp chiến dịch -chiến lược; cán bộ cấp -chiến thuật - -chiến dịch; cán bộ cấp phân đội; cán bộ chính trị cấp phân đội; đào tạo trình độ sau đại học cho cán bộ giảng dạy, cán bộ nghiên cứu khoa học; đào tạo NVCMKT; cán bộ quân sự địa phương; đào tạo, bồi dưỡng sỹ quan dự bị; đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, nhân viên kinh tế quốc phòng
Đội ngũ học viên đào tạo trong các nhà trường quân sự hầu hết đều có bản lĩnh chính trị vững vàng, tuyệt đối trung thành với Đảng với Tổ quốc, với nhân dân; xác định tốt động cơ, thái
độ và quyết tâm học tập trong các nhà trường quân sự là để trở thành cán bộ, sỹ quan, NVCMKT phục vụ lâu dài trong quân đội, là những người có tri thức, có sức khoẻ và có độ tuổi thích hợp… Trong thời gian qua đội ngũ này vẫn giữ được truyền thống của người học viên trong các nhà trường quân sự xứng đáng là nguồn lực quan trọng để trở thành lực lượng nòng cốt xây dựng quân đội ta vững mạnh đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ tổ quốc trong thời kỳ mới
* Đặc trưng kinh tế của đội ngũ học viên
Biểu hiện trong những năm qua, thực hiện chủ trương của Đảng uỷ Quân sự Trung ương và Bộ Quốc phòng các nhà trường quân sự cơ bản đạt mục tiêu, yêu cầu về
số lượng, nâng cao chất lượng đào tạo đội ngũ cán bộ, hạ sỹ quan NVCMKT nhất là cán
bộ chủ trì đơn vị và cơ quan các cấp; góp phần quan trọng vào việc nâng cao chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu của quân đội Đào tạo cán bộ theo chức vụ có học vấn tương ứng và nâng cao trình độ học vấn đội ngũ sỹ quan đạt kết quả tốt Học viên ra trường có chất lượng tương đối toàn diện cả về phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng, kiến thức và năng lực, đáp ứng nhiệm vụ ban đầu và có khả năng phát triển Như vậy công tác giáo dục, đào tạo của các nhà trường quân sự đã đào tạo đội ngũ học viên bảo đảm các chỉ tiêu được cấp trên giao, hiệu suất đào tạo cao biểu hiện
ở tỷ lệ học viên tốt nghiệp các khoá học rất cao, học vấn của học viên đáp ứng tốt mục tiêu, yêu cầu đào tạo
* Cơ sở vật chất sư phạm của nhà trường
Trong những năm qua được sự quan tâm của Nhà nước, Bộ Quốc phòng cùng với sự nỗ lực của các đơn vị, học viện, nhà trường trong toàn quân cơ sở vật chất sư phạm của các nhà trường quân sự được đổi mới và nâng cấp tương đối toàn diện và đồng bộ
Trang 10Các nhà trường đã tích cực đầu tư cơ bản xây dựng nhà trường khang trang, đúng qui cách; đầu tư có chiều sâu cho các phương tiện phục vụ cho nhiệm vụ dạy và học tốt,
có một nguồn vốn cố định góp vào nguồn vốn cố định của quân đội và đất nước
Các đơn vị, học viện, nhà trường đã đầu tư lớn vào xây dựng mới hoặc nâng cấp thêm các phòng học, phương tiện kỹ thuật, sân tập, bãi tập, thao trường, bến vượt, giáo trình, tài liệu bảo đảm phục vụ tốt cho công tác dạy và học Chỉ số các phòng học tiêu chuẩn bảo đảm về diện tích, ánh sáng, độ thông gió, bàn ghế, bảng được nâng cao Chỉ số giờ hữu ích của các phòng học, đặc biệt các phòng chức năng, phòng đa năng được sử dụng tương đối có hiệu quả; Tần suất sử dụng các phương tiện kỹ thuật dạy học, học liệu cũng đã được nâng lên rõ rệt các nhà trường đã cố gắng đầu tư đúng địa chỉ, sử dụng có hiệu quả, bảo quản tốt hơn trước đây và đã hạn chế được sự lãng phí Đồng thời các nhà trường đã tổ chức chặt chẽ công tác kế hoạch xác định tiêu chuẩn định mức tiêu hao vật chất huấn luyện
Tuy nhiên, những mặt mạnh này tức là sử dụng có hiệu quả kinh tế cao trong đầu tư, khai thác sử dụng cơ sở vật chất sư phạm trong nhà trường quân
sự là chưa toàn diện và rộng khắp mà chủ yếu nằm ở các học viện, nhà trường sỹ quan trực thuộc Bộ, một vài trường sỹ quan thuộc các tổng cục, và quân chủng, vẫn còn nhiều nhà trường cơ sở vật chất còn nghèo nàn, lạc hậu vì không có kinh phí để đầu tư cho nhà trường
Mặt khác, ngân sách cho các nhà trường quân sự được bao cấp hoàn toàn, do điều kiện đất nước, quân đội còn nhiều khó khăn nên ngân sách này rất hạn hẹp chỉ đủ phục vụ trên mức tối thiểu các nhu cầu của công tác giáo dục, đào tạo và xây dựng nhà trường mà thôi vì vậy ảnh hưởng rất lớn đến việc nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo và xây dựng nhà trường
Vì vậy, cần phải có một chủ trương đúng đắn, một cơ chế hợp lý như xã hội hoá một
số mặt trong quá trình giáo dục để phát huy nguồn lực của nhà trường và các nguồn lực kinh tế của xã hội nhằm đầu tư mạnh mẽ cho nhà trường nhằm nâng cao chất giáo dục, đào tạo và xây dựng nhà trường vững mạnh
VẤN ĐỀ 2 PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC TRONG CÁC TƯƠNG QUAN KINH TẾ - XÃ HỘI
1 Giáo dục và phát triển
2 Mối tương quan giữa giáo dục và kinh tế
3 Tác động của giáo dục đối với tăng cường chất lượng dân số
4 Giáo dục và lao động
5 Mối quan hệ giữa giáo dục và văn hoá
1 Giáo dục và phát triển
Giáo dục ngày nay được coi là nền móng cho sự phát triển khoa học kỹ thuật và đem lại thịnh vượng cho nền kinh tế quốc dân Giáo dục có chức năng tái sản xuất sức lao động kỹ thuật (lao động lành nghề) cho nền kinh tế, đồng thời đổi mới quan hệ xã hội theo hướng ngày càng rút ngắn giữa các tầng lớp của cư dân; chính với ý nghĩa này mà giáo dục đồng nghĩa với với sự phát triển Có thể khẳng định rằng không có giáo dục thì không có bất cứ sự phát triển kinh tế, văn hoá nào Chính nhờ giáo dục