Giai đoạn cổ cổ đại cho đến thế kỷ thứ 7, 6 tr.CN (Toán học ra đời trước TH): Toán học ra đời ở các trung tâm lớn như Ba bi lon, Ai Cập. Đây là thời kỳ hình thành nên những khái niệm đầu tiên của toán học, như khái niệm số, khái niệm hình. (Để có khái niệm số, hình nhân loại phải mất 7, 8 nghìn năm).(Con người muốn tồn tại được phải lao động sản xuất, phải trao đổi hàng hóa với nhau Khái niệm số ra đời.Thời cổ đại, con người sinh sống tập trung bên bờ sông Nin vì có nguồn nước để thuận tiện cho việc trồng trọt. Đến mùa nước lên ngập úng làm mất mốc giới đã cắm trước đây Khái niệm hình ra đời).
Trang 1ĐỀ CƯƠNG ÔN MÔN TRIẾT HỌC TRONG KHOA HỌC TỰ NHIÊN
Câu 1 Vấn đề đối tượng của toán học, các đặc điểm của trừu tượng toán học.
Ý nghĩa của vấn đề trong nghiên cứu, giảng dạy triết học?
* Phần mở rộng hiểu biết (Về lịch sử phát triển của toán học)
- Giai đoạn cổ cổ đại cho đến thế kỷ thứ 7, 6 tr.CN (Toán học ra đời trước TH):
Toán học ra đời ở các trung tâm lớn như Ba bi lon, Ai Cập Đây là thời kỳ hình thành nênnhững khái niệm đầu tiên của toán học, như khái niệm số, khái niệm hình (Để có kháiniệm số, hình nhân loại phải mất 7, 8 nghìn năm)
(Con người muốn tồn tại được phải lao động sản xuất, phải trao đổi hàng hóa vớinhau Khái niệm số ra đời
Thời cổ đại, con người sinh sống tập trung bên bờ sông Nin vì có nguồn nước đểthuận tiện cho việc trồng trọt Đến mùa nước lên ngập úng làm mất mốc giới đã cắm trướcđây Khái niệm hình ra đời)
Ở thời kỳ này, các quan hệ số lượng và hình thức không gian vẫn gắn liền với hiệnthực (gắn liền với các khách thể cụ thể) Tuy nhiên, toán học chưa được xem là khoa học
lý thuyết trừu tượng mà vần còn mang tính kinh nghiệm
- Giai đoạn 2: Từ thế kỷ 7 tr.CN đến thế kỷ 17: Là giai đoạn toán học nghiên cứu
các đại lượng bất biến (không thay đổi) PP tư duy siêu hình
Vào thế kỷ 3 tr.CN đã xây dựng được hình học Ơclít bằng phương pháp tiên đề Bước nhảy vọt về chất trong toán học.Từ đây, toán học không được coi là kha học kinhnghiệm nữa mà là khoa học lý thuyết trừu tượng Bởi vì: các quan hệ số lượng và các hìnhthức không gian đã được trừu tượng khỏi các khách thể cụ thể trong hiện thực
Giai đoạn 3: Từ thế kỷ 17 đến giữa thế kỷ 19: Là giai đoạn toán học nghiên cứu
các đại lượng biến thiên, tức là sự phản ánh của toán học về các quá trình, về vận động.Bước ngoặt đánh dấu sự phát triển của toán học thời kỳ này được thực hiện bởi R Đềcác.Ăngghen nhận xét: “Đại lượng biến thiên của R Đềcác là một bước ngoặt trong toán học.Nhờ đó mà vận động và biện chứng đã được đưa vào toán học” (Biện chứng tự nhiên,
thuyết toán học – làm cơ sở cho toán học Một trong cơ sở đó là lý thuyết của Cantor
a Về đối tượng của toán học (Đối tượng hiện thực và đối tượng trực tiếp):
Trang 2- Về đối tượng hiện thực của toán học:
Theo Ăngghen trong tác phẩm Biện chứng của tự nhiên thì đối tượng của toán học
là những khía cạnh tồn tại một cách khách quan có trong tất cả các hình thái vận động của
thế giới vật chất ( ) Đó là các quan hệ số lượng và các hình thức không gian.
- Về đối tượng trực tiếp của toán học:
Như vậy, toán học thâm nhập vào tất cả các khoa học khác Từ đó toán học xâydựng nên đối tượng trực tiếp của mình (các lý thuyết toán học) thông qua trừu tượng hóa,
đó là các trừu tượng toán học
Mô hình hóa đối tượng toán học được biểu diễn như sau:
(Để phân biệt kinh nghiệm và lý luận)
b Đặc điểm của trừu tượng toán học:
Đặc trưng của toán học được quy định bởi một loạt những đặc điểm quan trọng củatrừu tượng toán học Những đặc điểm này phân biệt trừu tượng toán học với trừu tượngcác khoa học khác
- Trừu tượng của toán học là trừu tượng có sức mạnh lớn nhất Các khoa học khác
khi thực hiện sự trừu tượng vẫn giữ lại những thuộc tính chất lượng, còn trừu tượng toánhọc không giữ lại một thuộc tính chất lượng nào mà chỉ giữ lại các quan hệ số lượng vàhình thức không gian Vì vậy, toán học phải thực hiện sự trừu tượng có “sức mạnh lớnnhất”
Ví dụ: Trong vật lý khi thực hiện sự trừu tượng, người ta bỏ hóa học, sinh học, giữ lại cái
vật lý Còn toán học thì trừu tượng tất cả các thuộc tính chất lượng, chỉ giữ lại các thuộctính quan hệ số lượng và hình thức không gian
- Trừu tượng của toán học là sự trừu tượng liên tiếp nhau, hình thành sự trừu tượng của trừu tượng.
Ví dụ: Về dãy số.
QHSL Tr.tượng Lần 1 Số tự nhiên Số hữu tỷ Số thực Số phức
HTKG HH Ơclít HH Rêman HH Tôpô
- Trong toán học người ta sử dụng trừu tượng về tính thực hiện được cái vô hạn Ví
dụ các khái niệm vô hạn thực tại và vô hạn tiềm năng
- Trong trừu tượng toán học phần lớn sử dụng các khách thể lý tưởng.
Đối tượng hiện thực
Quan hệ số lượng và
hình thức không gian
Mô hình trừu tượng
Các trừu tượng toán học
Lý thuyết toán học
Các định lý, định luật
Trang 3Ví dụ: Các khái niệm: “điểm”, “đường”, “mặt phẳng” của hình học Ơclít là những khách
thể lý tưởng, vì chúng được tạo ra thông qua lý tưởng hóa, trong thực tế không có điểm,đường, mặt phẳng như được hình học này nghiên cứu
- Trong toán học nhiều hệ thống trừu tượng khi xuất phát từ thực tiễn hoặc nhu cầu nội tại của toán học thì không nhất thiết phải quay lại với kinh nghiệm.
(nói cách khác: trong toán học không nhất thiết phải kiểm tra bằng thực tiễn)
c Ý nghĩa của vấn đề trong nghiên cứu, giảng dạy triết học?
Trong đời sống con người có quan hệ với thế giới xung quanh ; có nhu cầu tìm hiểu,nhận thức về thế giới xung quanh Vì vậy con người cần phải hiểu rõ bản chất của thế giới
là gì và thế giới tồn tại như thế nào? Khoa học tự nhiên đã chứng minh rằng :Thế giớixung quanh, từ những vật vô cùng nhỏ, đến những vật vô cùng lớn, từ tự nhiên đến xã hội,
từ hữu sinh đến vô sinh, từ thực vật đến động vật có cùng bản chất là vật chất và thốngnhất với nhau bởi bản chất ấy Vậy bản chất của thế giới tự nhiên là vật chất Ănghen chorằng tính thống nhất thực sự của thế giới là tính vật chất của nó và tính vật chất này đãđược chứng minh bằng sự phát triển lâu dài và khó khăn của triết học và khoa học tựnhiên, trong đó có vật lý học
Triết học trong vật lý học còn được thể hiện rất nhiều trong quan niệm về vật chất
và vận động Vận động hiểu theo nghĩa chung nhất là một phương thức tồn tại của vậtchất, là một thuộc tính cố hữu của vật chất Vận động bao gồm tất cả mọi sự thay đổi vàmọi quá trình diển ra trong vũ trụ; kể từ sự thay đổi vị trí đơn giản cho đến tư duy Vậnđộng là một phương thức tồn tại của vật chất Vận động trong vật lý học là biểu hiện sinhđộng quan niệm triết học về vận động Bất kỳ sự vận động nào cũng gắn liền với sựthay đổi vị trí nào đó, dù là sự thay đổi vị trí của các thiên thể, của những phân tử,nguyên tử hay những hạt ete Hình thức vận động càng cao bao nhiêu thì sự thay đổi vị
Trang 4trí càng nhỏ bấy nhiêu, Sự thay đổi vị trí không tách rời khỏi sự vận động Do đó khinghiên cứu về sự vận động thì ta cần phải nghiên cứu sự thay đổi vị trí của vật chất.
Khoa học tự nhiên hiện đại đã phải mượn của triết học luận điểm về tính không thểtiêu diệt được của vận động, không có luận điểm này thì khoa học tự nhiên không thể hìnhthành được Nhưng vận động của vật chất không phải là vận động cơ giới thô sơ, một sựđổi chổ đơn giản, mà đó là nhiệt và ánh sáng, là điện áp và từ áp, là sự hóa hợp và phângiải hóa học, là sự sống và cuối cùng là ý thức Chúng ta cần phải hiểu tính chất bất diệtcủa vận động không chỉ đơn thuần ở mặt số lượng mà cần phải hiểu về mặt chất lượng.Vận động không phải chỉ là sự thay đổi về vị trí mà cả sự thay đổi về tư thế, mức độ, tínhchất và số lượng Vận động của vật làm thay đổi về “tư thế” như một vật quay xung quanhmột trục hay một điểm cố định nào đó, khi đó vật không thay đổi vị trí từ nơi này đến nơikhác mà tư thế của vật bị thay đổi Có những sự vận động mà ta không thể quan sát được,
đó là vận động của các hạt vi mô, như các electron trong nguyên tử chẳng hạn, mộtnguyên tử có thể mất bớt hay thêm vào nhiều hơn số electron bên ngoài hạt nhân, đó là sựvận động thay đổi về số lượng của vật chất Ngoài ra còn có những vận động làm thay đổi
về tính chất của vật, như nước chẳng hạn, ở các nhiệt độ khác nhau sẽ tồn tại ở các dạngkhác nhau, nước có thể ở thể rắn khi nhiệt độ dưới 00c , ở thể lỏng khi nhiệt độ lớn hơn 00c
và nhỏ hơn 1000c, ở thể hơi khi nhiệt độ lớn hơn 1000c Điều đó cho ta thấy rằng vật chấtluôn vận động, biến đổi, và tồn tại ở những dạng khác nhau
Vận động còn được thể hiện dưới hình thức chuyển hóa, sinh ra và mất đi của cácchất Một vật chất mà sự thay đổi vị trí một cách thuần túy cơ giới có chứa đựng trongmình nó cái khả năng chuyển hóa, trong những điều kiện thuận lợi, thành nhiệt, điện, tácdụng hóa học, sự sống, nhưng lại không có khả năng tạo ra được những điều ấy từ bảnthân nó
Như vậy, triết học Mác khẳng định rằng: bản chất của thế giới tự nhiên là vật chất.Thế giới vật chất luôn luôn vận động và biến đổi không ngừng Hai điều cơ bản này mangtính khách quan; là thuộc tính vốn có của mỗi sự vật, hiện tượng, không phải do suy tưởng
và tôn giáo Vật lý học cổ điển và hiện đại đã chứng minh quan điểm triết học duy vật làhoàn toàn đúng đắn và thừa nhận đây là chân lý khoa học Vật lý học tìm hiểu, mô tả, vàxem vận động và biến đổi là quy luật cơ bản, là nguồn gốc của sự phát triển.Vì vậy dưới
sự chỉ đường của chủ nghĩa duy vật, vật lý học đã đạt những thành tựu to lớn, sâu sắc: nó
mở ra kỷ nguyên cho sự nghiên cứu về bản chất, cấu trúc của vật chất từ bên trong đếnbên ngoài của những vật thể nhỏ nhất đến các vât siêu vĩ mô trong vũ trụ Nhờ vào tri thứcvật lý, con người đã chiếm lĩnh từ bản thân sự vật, hiện tượng trong giới tự nhiên, mà conngười đã nghiên cứu cấu trúc thành phần cấu tạo và quy luật vận động bên trong của vậtthể Với những thành tựu ấy vật lý học đã khẳng định tính đúng đắn, sự vững vàng trongquan điểm của chủ nghĩa duy vật, và cho ta thấy được mối quan hệ mật thiết giữa vật lý vàtriết học
Trang 5Triết học duy vật biện chứng khẳng định vận động là phương thức tồn tại của vậtchất và vật chất không tồn tại ở đâu ngoài không gian và thời gian Không gian, thời gian
và vận động thống nhất với nhau trong thế giới vật chất, cả vĩ mô và vi mô Vật lý họchiện đại nghiên cứu về thế giới vi mô và đã chứng minh đó là đúng đắn Hai lý thuyết trụcột của vật lý hiện đại miêu tả các khái niệm về không gian, thời gian và vật chất khác vớibức tranh miêu tả của vật lý cổ điển Cơ học lượng tử miêu tả các hạt rời rạc, bản chất củanhiều hiệu ứng cấp nguyên tử và hạ nguyên tử, chi phối bởi nguyên lý bất định và lưỡngtính sóng hạt Thuyết tương đối miêu tả các hiện tượng xảy ra trong những hệ quychiếu khác nhau chuyển động so với người quan sát; trong đó thuyết tương đối hẹp miêu tảcác hệ quy chiếu chuyển động quán tính và thuyết tương đối tổng quát miêu tả hệ quychiếu chuyển động gia tốc và tương tác hấp dẫn là do độ cong của không thời gian Quanniệm của vật lý hiện đại về không gian và thời gian thống nhất với quan niệm đúng đắn vềkhông gian và thời gian của chủ nghĩa duy vật biện chứng
Quan niệm về không gian, thời gian và vận động của Vật lý học hiện đại đã chiếnthắng quan niệm siêu hình trong vật lý học cổ điển Niu tơn cho rằng có không gian vàthời gian tuyệt đối nhưng tách rời nhau, không có liên hệ gì với vật chất và vận động.Đồng thời không gian tuyệt đối là trống rỗng, hoàn toàn không có liên hệ gì với các sự vậtchứa trong đó, luôn đồng chất và đẳng hướng Thời gian tuyệt đối cũng không có liên hệ
gì với các sự vật cùng các vận động và biến đổi của chúng; thời gian luôn trôi chảy mộtcách đều đặn từ quá khứ đến tương lai Quan niệm trên đã thống trị suốt thời kỳ cổ điển vàdẫn đến cuộc khủng hoảng trong vật lý học cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 Phải có phươngpháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng thì quan niệm đúng đắn về không gian, thờigian mới được xác lập Đó là quan niệm không gian và thời gian là những hình thức tồn tạicủa vật chất vận động, tính không thể tách rời giữa không gian, thời gian với vật chất vàtính thống nhất hữu cơ của không gian, thời gian và vận động
- Quan niệm của vật lý học hiện đại về không gian, thời gian và vận động trong thế giới
vi mô càng chứng minh sâu sắc và tính triệt để, đúng đắn các quan điểm của triết học duy vậtbiện chứng về vật chất và vận động, không gian và thời gian
- Việt Nam phát triển đất nước cần phát triển cả vật lý học và triết học Mác – Lêninxuất phát từ mối quan hệ gắn bó tự thân giữa chúng./
Trang 6Câu 3 Cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm; giữa phương pháp biện chứng và phương pháp siêu hình trong vật lý học hiện đại; ý nghĩa phương pháp luận của vấn đề
Quan hệ giữa triết học và khoa học tự nhiên là một tất yếu khách quan do nhu cầuphát triển của cả hai Triết học không thể phát triển nếu không có khoa học tự nhiên vàngược lại Những thành tựu mà khoa học tự nhiên đạt được dù muốn hay không cũng phảitiến tới các kết luận chung về triết học hoặc dựa trên một nền tảng triết học thực sự khoahọc Do vậy, nghiên cứu các vấn đề triết học trong khoa học tự nhiên là một yêu cầu tựthân của các nhà triết học Mác xít
Do các nhà vật lý khác nhau có phương pháp và quan niệm khác nhau nên lịch sửphát triển của vật lý học cũng là lịch sử đấu tranh giữa quan điểm duy vật với duy tâm,biện chứng với siêu hình Điều đó nói lên mối quan hệ biện chứng giữa triết học với vật lýhọc cũng như khẳng định sự phát triển của vật lý học là quá trình tự thân
Vật lý học ra đời muộn hơn toán học nhưng đã có những bước phát triển rực rỡ.Vật lý học là khoa học thực sự với dấu mốc Galilê (1564 - 1642) có các công trìnhnghiên cứu thực nghiệm về cơ học Từ đó đến nay nó đã có nhiều phát triển về tốc độ,rộng về đối tượng nghiên cứu Nó được chia thành hai thời kỳ cơ bản: vật lý học cổđiển và hiện đại Cơ sở phân chia là vật lý học cổ điển nghiên cứu thế giới vĩ mô cònvật lý học hiện đại (cuối thế kỷ XIX đến nay) nghiên cứu thế giới vi mô Do cùngnguồn gốc phát sinh nên bản thân triết học và vật lý học có mối quan hệ tự nhiên, gắn
bó Do đó, vật lý học chịu nhiều ảnh hưởng của triết học đồng thời tác động trở lại triếthọc khá sâu sắc Về mặt triết học, cơ sở của vật lý cổ điển là chủ nghĩa duy vật siêuhình còn vật lý học hiện đại là chủ nghĩa duy vật biện chứng Do đó, lịch sử phát triểncủa vật lý học chứa đựng cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm,giữa phương pháp biện chứng và siêu hình Điều đó thể hiện rất rõ trong quan niệm về vậtchất và sự tồn tại của vật chất
Có thể thấy cuộc đấu tranh trong vật lý học là một bộ phận của cuộc đấu tranh triếthọc trong xã hội Lịch sử cho thấy các trường phái triết học đối lập duy vật và duy tâmluôn tìm mọi cách và mọi cơ hội để chứng minh học thuyết của mình là đúng và phản báchọc thuyết của đối phương và các thành tựu của vật lý học Trong cuộc đấu tranh này thìchủ nghĩa duy vật có lợi thế vì vật lý học cũng như các khoa học tự nhiên khác có bản chấtquán triệt tinh thần duy vật cơ bản, nghĩa là bao giờ cũng xuất phát từ tự nhiên và quay lạikiểm nghiệm trong tự nhiên, dựa vào tự nhiên để giải thích tự nhiên Tuy nhiên, một sốnhà vật lý học duy vật nhưng còn siêu hình nên hạn chế trong giải thích nguyên nhân củanhiều hiện tượng Do đó họ thường bị chủ nghĩa duy tâm lợi dụng để phản bác Do đó,song hành với nó chính là cuộc đấu tranh giữa hai phương pháp biện chứng và siêu hìnhtrong vật lý học
Trang 7Trước hết, hai phương pháp này thể hiện sự đấu tranh trong quan niệm về trạng thíatồn tại của thế giới Phương pháp siêu hình cho rằng thế giới tồn tại đứng im, cô lập, táchrời, không có sự chuyển hóa thì phương pháp biện chứng khẳng định ngược lại Các nhàvật lý học có quan điểm biện chứng (nhất là vật lý học hiện đại) cho rằng thế giới tồn tạitrong mối quan hệ qua lại, luôn vận động và chuyển hóa Quan điểm biện chứng gắn liềnvới hiện thực và phản ánh đúng sự vận động phong phú và đa dạng của thế giới vật chất.
Thứ hai, sự đấu tranh được thể hiện trong cách tiếp cận nhận thức, dẫn đến 2phương pháp nhận thức: trìu tượng - siêu hình và toàn bộ - biện chứng Các phương phápnày nhằm thực hiện những mục đích nhận thức khác nhau và đều được áp dụng trong cảvật lý học cổ điển và hiện đại
Chính cuộc đấu tranh triết học giữa phép biện chứng và phép siêu hình gắn với sựchuyển biến từ vật lý học cổ điển đến hiện đại, với sự thay đổi đối tượng từ thế giới vĩ môsang vi mô Các nhà vật lý học của thời kỳ cổ điển do đã thấm sâu quan điểm siêu hìnhnên không thể hiểu và giải thích nổi một số hiện tượng của thế giới nên trượt dần sang chủnghĩa tương đối và sang chủ nghĩa duy tâm Do đó, các nhà vật lý học chỉ duy vật triệt đểkhi gắn liền với phương pháp biện chứng
Nghiên cứu cuộc đấu tranh duy vật - duy tâm, siêu hình - biện chứng trong vật lýhọc cho ta thấy rõ một số vấn đề sau:
- Điều đó nói lên mối quan hệ biện chứng giữa triết học với vật lý học Có thể thấycuộc đấu tranh trong vật lý học là một bộ phận của cuộc đấu tranh triết học trong xã hội
- Khẳng định sự phát triển của vật lý học là quá trình tự thân do sự đấu tranh trongnội bộ các nhà vật lý học
- Khẳng định ưu thê của chủ nghĩa duy vật và phương pháp biện chứng Chỉ duy vật
và biện chứng mới duy vật triệt để
Câu 4 Làm rõ sự vận động của các quy luật triết học trong sinh học hiện đại.
Ý nghĩa triết học và giá trị sinh học của vấn đề này?
Như chúng ta đã biết đối tượng của sinh học là nghiên cứu về cấu trúc, chức năngcủa thế giới sống, một dạng vật chất phức tạp, đặc biệt có tổ chức cao, cụ thẻ là sinh họcchủ yếu nghiên cứu về cấu trúc và chức năng, quy luật hoạt động và sự phát triển của thếgiới sống, nhằm cải biến và điều khiển chúng phục vụ lợi ích cho con người
Sinh học hiện đại nghiên cứu sự sống ở các cấp độ khác nhau từ thấp đến cao:
Cấp độ dưới cơ thể (phân tử, bào quan, tế bào, mô);
Cấp độ cơ thể (cơ quan, hệ cơ quan, cơ thể);
Cấp độ trên cơ thể (quần thể, quần xã, hệ sinh thái, sinh quyển)
Các quy luật của PBCDV được biểu hiện trong sinh học:
Trang 8a Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập (Quy luật ><) * Vị trí quy luật: … là hạt nhân của PBC, nó chỉ ra nguồn gốc, động lực cho sự vận động, phát
triển của thế giới
* Khái quát quy luật:
Theo quan điểm DVBC: Sự vật là một thể thống nhất nhiều mặt khác nhau, trong đó
có ít nhất 2 mặt đối lập như: trong nguyên tử có điện tử và hạt nhân; trong sinh học cóđồng hóa và dị hóa, biến dị và di truyền; trong xã hội tư bản có giai cấp vô sản và tư sản,v.v Các mặt đối lập nằm trong sự liên hệ, ràng buộc, tác động qua lại lẫn nhau tạo thànhmâu thuẫn biện chứng Khi các mâu thuẫn cơ bản được giải quyết mới có sự biến đổi vàphát triển Quá trình này diễn ra liên tục và có tính chất phổ biến, nghĩa là nó diễn ra ở mọilĩnh vực: tự nhiên, xã hội và tư duy mà nguồn gốc của sự phát triển là do sự đấu tranh củacác mặt đối lập, và tiến trình này là tất yếu, khách quan, là quy luật của sự vận động vàphát triển của mọi sự vật và hiện tượng
* Quy luật này được biểu hiện trong sinh học:
- Ở cấp độ dưới cơ thể:
• Sự thống nhất của 2 mặt đối lập trong phân tử nước là: anion OH- và cation H+
• Trong các muuoois khoáng là: anion HSO4, Cl- và cation K+, Na+
• Trong cấu trúc của phân tử protein - cơ sở vật chất chủ yếu của sự sống là do sựgắn kết giữa anion OH- trong nhóm cacboxyl của axit amin này với cation H+ trong nhómamin của axit amin bên cạnh (gọi là liên kết pép tít), v.v
• Trong cấu tạo của màng tế bào: Hai mặt đối lập đó là cấu trúc gram âm và gramdương, nhờ cấu trúc đối lập này làm cho màng tế bào đảm nhiệm được chức năng bảo vệ
và đặc biệt là hấp thu có chọn lọc các chất dinh dưỡng
Các mặt đối lập này (ion OH- và H+, tính ba zơ và tính axit của phân tử protein,gram âm và gram dương của màng tế bào) luôn thống nhất với nhau để tạo thành một chấtmới, đồng thời nó chỉ ra nguồn gốc và động lực của sự vận động và phát triển là sự kếthợp của 2 mặt đối lập trong thế giới sống Hai mặt đối lập này luôn vận động trái ngược
nhau (>< với nhau) để điều hòa, cân bằng các quá trình sinh lý diễn ra trong cơ thể sống,
cho nên mâu thuẫn của 2 mặt đối lập này là mâu thuẫn trong sự thống nhất với nhau, ở chỗcùng tồn tại trong một sự vật, hiện tượng đó là protein và axit nucleic, tế bào - cơ sở vật
chất chủ yếu của sự sống đã tạo nên tính đa dạng và phong phú của sinh giới Việc giải
quyết đúng đắn vấn đề cấu trúc và chức năng của các phân tử protein và axit nucleic(ADN và ARN) không chỉ có ý nghĩa về mặt khoa học mà còn có ý nghĩa thực tiễn lớnlao
- Ở cấp độ cơ thể:
• Đó là mâu thuẫn giữa 2 mặt “kiên định” và “dễ biến” của hiện tượng di truyền vàbiến dị trong cơ thể sống Trong đó di truyền biểu hiện tính ổn định, còn biến dị biểu hiện
Trang 9tính hay biến đổi Hai mặt đối lập này luôn mâu thuẫn trong sự thống nhất với nhau, ở
chỗ: Nhờ có 2 đặc tính kiên định của di truyền và dễ biến của biến dị mà giới sinh vậtngày càng đa dạng và phong phú, thích nghi với điều kiện sống ngày càng thay đổi, đồngthời vẫn giữ được các đặc điểm riêng của loài
• Đó là đồng hóa và dị hóa trong quá trình trao đổi chất Cơ thể chỉ tồn tại và pháttriển khi có quá trình trao đổi chất Ở cây xanh đó là quá trình quang hợp và hô hấp.Chúng diễn ra trái ngược nhau, nhưng lại có mối liê hệ chặt chẽ và thống nhất với nhautrong một quá trình trao đổi chất của cơ thể sống
Như vậy, giữa mặt tự nhiên và mặt xã hội của con người chính là sự biểu hiện của
2 mặt đối lập, 2 mặt đối lập này luôn mâu thuẫn nhưng lại tác động lẫn nhau, thống nhấtvới nhau vì nó đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của con người Đặc biệt con người
và môi trường luôn có mối quan hệ chặt chẽ tác động qua lại lẫn nhau, ràng buộc nhau.Mối quan hệ này trở thành nguyên lý thống nhất biện chứng giữa cơ thể và môi trường,trong đó con người vừa là chủ thể tác động lên môi trường, vừa là người gánh chịu mọihậu quả do môi trường gây ra Đây là ví dụ biểu hiện rất sinh động và rõ nét về mâuthuẫn biện chứng của triết học Mác- Lênin
Như vậy, cứ 2 mặt đối lập biểu hiện trong tự nhiên nói chung, ở các cấp độ của sinhgiới nói riêng tạo thành mâu thuẫn biện chứng, đấu tranh gay gắt và quyết liệt dẫn đến sựchuyển hóa Mâu thuẫn được giải quyết, SV cũ mất đi, SV mới ra đời Sự vật mới ra đờilại bao hàm mâu thuẫn mới, mâu thuẫn mới lại tiếp tục quá trình thống nhất và đấu tranhcủa các mặt đối lập
Cứ như vậy, thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập là nguồn gốc, động lực cho
sự vận động, phát triển của thế giới, như Ăngghen đã viết: Sự sống cũng là một mâu thuẫn
Trang 10tồn tại trong bản thân các sự vật và các quá trình, không ngừng tự nảy sinh và tự giải quyết; và khi mâu thuẫn ấy chấm dứt thì sự sống cũng không còn nữa và cái chết sẽ đến.
Thực tiễn chứng minh:
- Trong tự nhiên: …diễn ra từ vô cơ- hữu cơ- thực vật- động vật- con người
- Trong XH: Xã hội loài người đã trải qua 5 HTKT-XH
b Quy luật chuyển hóa từ những sự thay đổi về lượng thành những sự thay đổi
về chất và ngược lại (Quy luật lượng - chất)
* Vị trí quy luật: … chỉ ra phương thức, cách thức của sự vận động, phát triển của
các SVHT trong thế giới
* Nội dung quy luật:
- Một số khái niệm liên quan:
+ Chất là một phạm trù TH dùng để chỉ tính quy định vốn có của các SVHT, là sựthống nhất hữu cơ giữa các thuộc tính, các yếu tố cấu thành SVHT đó, nói lên SVHT đó là
gì, phân biệt nó với SV khác
+ Lượng là phạm trù TH dùng để chỉ tính quy định vốn có của sự vật về mặt sốlượng, quy mô, trình độ, nhịp điệu của sự vận động, phát triển đặc trưng cho sự vật ấy
+ Độ? …chỉ giới hạn của sự thống nhất giữa lượng và chất, là khoảng giới hạn mà
sự thay đổi về lượng chưa làm thay đổi căn bản về chất
+ Điểm nút? Là những điểm giới hạn mà tại đó khi thay đổi về lượng sẽ làm thayđổi về chất (Mỗi 1 độ được giới hạn bởi 2 điểm nút)
+ Bước nhảy? chỉ sự thay đổi về chất do sự thay đổi về lượng trước đó gây ra
(Bước nhảy chứa điểm nút)
- Khái quát quy luật:
Mọi SVHT đều là sự thống nhất giữa chất và lượng Cách thức biến đổi của SVHTbao giờ cũng bắt đầu từ sự biến đổi dần dần về lượng, đến “Điểm nút” phá vỡ sự thốngnhất của “Độ” sẽ dẫn tới “Bước nhảy” chuyển hoá về chất của SV Chất cũ mất đi, chấtmới ra đời; chất mới ra đời lại tạo điều kiện mới cho lượng phát triển Cứ như vậy, sự vật,hiện tượng trong thế giới luôn vận động, biến đổi và phát triển không ngừng
* Quy luật này được biểu hiện trong sinh học:
- Ở cấp độ dưới cơ thể: Cách thức liên kết khác nhau sẽ tạo ra chất mới khácnhau
Ví dụ: + Cùng một phân tử đường gluco có công thức chung là: C6H12O6 khi liên kết
2 phân tử đường gluco sẽ tạo thành đường sacaroza có công thức chung là: C12H22O12 nhưng
Trang 11khi liên kết nhiều phân tử đường gluco ta sẽ được một chất mới, đó là tinh bột có công thức
chung là: (C12H22O12)n
+ Quy luật này được thể hiện rõ nhất trong sinh học ở hiện tượng đột biếngen Đó là sự thay đổi về kiểu gen (những biến đổi về chất), sẽ dẫn đến sự biến đổi về kiểuhình (những biến đổi gia tăng về mặt số lượng), tức là đã có sự ra đời của lượng mới dẫnđến những biến đổi về chất mới (đó là gây ra hiện tượng biến đổi gen)
- Ở cấp độ cơ thể: Được thể hiện rõ trong quá trình tiến hóa của hệ thần kinh Cấutạo phù hợp với chức năng là biểu hiện của lượng đổi - chất đổi
- Ở cấp độ trên cơ thể: Mối quan hệ giữa sinh vật và sinh vật tạo nên quần thể sinhvật phong phú
Chẳng hạn, trong quan hệ cộng sinh cả 2 loài để có lợi khi cần thiết phải sống cùngnhau như hải quỳ và cua biển Nếu 2 loài này sống tách biệt thì rất khó bắt mồi để tồn tại
và phát triển, nhưng nếu cộng sinh lại với nhau (tức đã có biến đổi về lượng) thì việc bắtmồi lại có hiệu quả hơn (đã có sự biến đổi về chất)
c Quy luật phủ định của phủ định.
* Vị trí quy luật: … chỉ ra khuynh hướng, con đường phát triển của SVHT trong thế
giới
* Khái quát nội dung quy luật:
Khuynh hướng chung của sự phát triển là quá trình cái mới phủ định cái cũ Cái mớivừa gạt bỏ cái cũ, vừa kế thừa những yếu tố hợp lý của cái cũ theo cơ chế chu kỳ phủ địnhcủa phủ định để khẳng định sự tiến lên Con đường tiến lên diễn ra theo đường “xoáy ốc”
Như vậy, theo quan điểm triết học Mác- Lênin: Sự phát triển bao giờ cũng đượcthực hiện thông qua nhiều lần phủ định biện chứng để đưa đến sự phát triển từ thấp đếncao, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện
Sự phát triển diễn ra theo tính chu kỳ, từ khẳng định đến cái phủ định, đến phủ địnhcủa phủ định
Một chu kỳ phủ định ít nhất phải thông qua 2 lần phủ định cơ bản:
+ PĐCB lần 1: Dẫn đến sự ra đời của cái mới đối lập với cái ban đầu
+ PĐCB lần 2: SV mới ra đời giường như trở lại cái ban đầu, nhưng trên cơ sở caohơn
Con đường tiến lên của các SVHT không phải là bằng phẳng, mà quanh co, phứctạp, giường như quay trở lại cái cũ ban đầu, nhưng cao hơn cái cũ
Kết thúc 1 chu kỳ phát triển, đồng thời lại là điểm xuất phát 1 chu kỳ tiếp theo, và
đó là con đường “xoáy ốc” có tính chất tiến lên
* Quy luật này được biểu hiện trong sinh học:
Trang 12- Ở cấp độ cơ thể: Hạt thóc Cây lúa Hạt thóc (nhiều hạt thóc).
Ví dụ trên cho thấy, từ sự khẳng định ban đầu (hạt thóc ban đầu), trải qua sự phủđịnh lần thứ nhất (cây lúa phủ định hạt thóc) dẫn đến sự ra đời của cái mới đối lập với cáiban đầu (tức cây lúa đối lập với hạt thóc), và sự phủ định lần thứ hai (những hạt thóc mớiphủ định cây lúa) sự vật mới ra đời giường như quay trở lại cái ban đầu, nhưng trên cơ sởcao hơn (số lượng hạt thóc nhiều hơn, chất lượng hạt thóc cũng sẽ thay đổi song ta khónhận thấy)
- Ở cấp độ trên cơ thể: Biểu hiện ở quá trình tiến hóa của sinh vật thông qua hàngchuỗi các phủ định nối tiếp nhau Mỗi lần phủ định là một lần sinh vật có thêm những đặctính mới
Ý nghĩa triết học và giá trị sinh học của vấn đề này?
Như chúng ta đã biết: Quy luật là những mối liên hệ bản chất, tất yếu bên trong, được lặp đi lặp lại nhiều lần Nó quyết định khuynh hướng vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng trong thế giới.
Trong tự nhiên cũng như trong xã hội và trong tư duy, quy luật hình thành mangtính khách quan, tất yếu, phổ biến; không ai có thể tạo ra quy luật, cũng như không ai hủy
bỏ được quy luật Quy luật tồn tại không phụ thuộc vào ý muốn con người và cũng khôngphụ thuộc vào chỗ con người có nhận thức được hay không nhận thức được quy luật (Vídụ)
Đặc điểm này thể hiện tính thống nhất giữa QLTN và QLXH, bởi xét đến cùng thì
XH là một bộ phận của tự nhiên, là sản phẩm của giới tự nhiên
Trang 13Đối với lĩnh vực đặc thù của xã hội, quy luật được hình thành và biểu hiện thông qua hoạt động có ý thức của con người; mang tính xu hướng; tồn tại và tác động trong những điều kiện nhất định, nó mang tính lịch sử và cụ thể.
Vì vậy, con người phải có tư duy khái quát hóa, trừu tượng hóa, đòi hỏi phải biếtphân tích cụ thể một tình hình cụ thể Nếu không khái quát hóa, trừu tượng hóa, sẽ khôngthấy được bản chất để tác động thúc đẩy SVHT phát triển
Mặt khác, chúng ta thấy rằng, sự phát triển của giới sinh vật là vô cùng phong phú
và đa dạng, tuy nhiên sự vận động của chúng đều phải tuân theo các quy luật nhất định
Do đó, việc nhận thức các quy luật cơ bản cũng như cơ chế vận động của sinh giới có ýnghĩa lý luận và thực tiễn to lớn, giúp cho con người có phương pháp đúng đắn và hiệuquả trong việc tác động đến sự tồn tại và phát triển của sinh vật, từ đó nhằm mục đíchphục vụ tốt hơn cho đời sống của con người Đồng thời, qua việc nghiên cứu các hiệntượng trong giới hữu cơ đã góp phần củng cố những giá trị thực tiễn của các quy luật cơbản trong triết học./
Câu 5 Tất nhiên và ngẫu nhiên trong toán học; Ý nghĩa phương pháp luận của vấn đề.
Triết học trong toán học được xuất phát từ đối tượng của toán học Chúng ta thấyrằng các khái niệm và lý thuyết toán học đều là sự phản ánh những thuộc tính và nhữngquan hệ của thế giới Theo Ph Ăng- ghen, “toán học thuần túy có đối tượng của mình, cáchình thức không gian và các quan hệ số lượng của thế giới hiện thực” [2, tr 37] Như vậy,đối tượng hiện thực của toán học chính là các quan hệ số lượng (số học) và các hình thứckhông gian (hình học) tồn tại trong tất cả các hình thái vận động của vật chất Lịch sử pháttriển của toán học đã chứng minh điều đó
Ở thời kỳ hình thành, bắt đầu từ đầu thời kỳ cổ đại đến thế kỷ VI trước côngnguyên, đã xuất hiện các khái niệm đầu tiên của toán học là số và hình Các khái niệm này
ra đời bắt nguồn từ những đòi hỏi của cuộc sống Các quan hệ số lượng và hình thứckhông gian mang đặc trưng là gắn với các khách thể cụ thể, do đó còn ở trình độ tri thứckinh nghiệm Các quan hệ số lượng và hình thức không gian chỉ được trìu tượng hóa khỏicác khách thể trong hiện thực sau đó cho đến thế kỷ XVII Đây là thời kỳ phát triển củatoán học về các đại lượng bất biến và toán học trở thành khoa học lý thuyết trìu tượng Vàcác thời kỳ sau cho đến ngày nay toán học đã có những phát triển to lớn Từ R Đềcác đến
N I Loobasepxki đã phát triển những cấu trúc toán học cùng mở rộng chiều không gianthành vô hạn Nhờ đó, toán học càng gắn chặt với triết học, bổ sung cho nhau ở phươngpháp trìu tượng, hệ thống – cấu trúc và quan niệm về không gian
Bàn về triết học trong toán học không thể bỏ qua nội dung tất nhiên và ngẫu nhiêntrong toán học Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng thì tất nhiên và ngẫunhiên đều tồn tại khách quan, là sự thống nhất của những mặt đối lập, chúng không tồn tại