1. Tư tưởng của C.Mác Ph.Ăngghen về chủ nghĩa duy vật lịch sử qua một số tác phẩm tiêu biểu giai đoạn 18441848? Ý nghĩa của vấn đề nghiên cứu? Giai đoạn 18411844: Chuyển lập trường từ CNDT sang CNDV, từ DCCM sang CNCS Giai đoạn 18441848: Đề xuất những nguyên lý triết học DVBC và duy vật lịch sử. Giai đoạn 18481895: Bổ sung, phát triển, hoàn thiện học thuyết triết học mácxít và đưa học thuyết này vào thực tiễn PTCN, trở thành hạt nhân lý luận trong hệ tư tưởng của phong trào công nhân.
Trang 1MÔN TRIẾT HỌC TRONG TÁC PHẨM KINH ĐIỂN
1 Tư tưởng của C.Mác - Ph.Ăngghen về chủ nghĩa duy vật lịch sử qua một số tác phẩm tiêu biểu giai đoạn 1844-1848? Ý nghĩa của vấn đề nghiên cứu?
- Giai đoạn 1841-1844: Chuyển lập trường từ CNDT sang CNDV, từ DCCM sang CNCS
- Giai đoạn 1844-1848: Đề xuất những nguyên lý triết học DVBC và duy vật lịch sử
- Giai đoạn 1848-1895: Bổ sung, phát triển, hoàn thiện học thuyết triết học mácxít vàđưa học thuyết này vào thực tiễn PTCN, trở thành hạt nhân lý luận trong hệ tư tưởng củaphong trào công nhân
*Điều kiện lịch sử giai đoạn 1844 - 1848
- Về kinh tế: CNTB phát triển mạnh ở Anh, Pháp và một số nước Tây Âu Cách mạngcông nghiệp lần thứ nhất đã cơ bản hoàn thành ở Anh, Pháp và lan ra các nước Châu Âu,làm thay đổi công cụ sản xuất từ thủ công thành cơ khí máy móc Năng suất lao động tăngcao, công xưởng, nhà máy ra đời, kéo theo một loạt ngành nghề mới xuất hiện Làm giatăng mâu thuẫn của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa
- Về xã hội: Phong trào công nhân ở Châu Âu phát triển mạnh mẽ, giai cấp công nhântrưởng thành nhanh chóng cả về số lượng và chất lượng
- Về chính trị: Nước Đức lúc này vẫn là nước phong kiến lạc hậu, trong khi ở Anh,Pháp CNTB đã phát triển Vì vậy, nước Đức trở thành trung tâm của phong trào cáchmạng thế giới GCVS Đức làm cuộc cách mạng chống lại GCTS và chế độ phong kiến songđều thất bại (tự phát)
- Hoạt động của C.Mác và Ph.Ăngghen: tích cực hoạt động trong phong trào côngnhân Bằng thiên tài, trí tuệ, thông qua thực tiễn hoạt động trong phong trào công nhân, uytín của hai ông đã lan rộng, có ảnh hưởng lớn đến phong trào công nhân và những ngườihoạt động chính trị nổi tiếng ở Châu Âu Từ đó, đồng minh những người chính nghĩa đãmời hai ông tham gia và cải tổ tổ chức này
+ Mác, Ăngghen vừa chỉ đạo phong trào công nhân vừa tổng kết khái quát lý luận đểviết nhiều tác phẩm mới
+ Mác, Ăngghen hoàn toàn đứng trên lập trường DVBC để sáng tạo lý luận khoa học(từ 1844)
Nhu cầu thực tiễn đặt ra: Phải có một lý luận mới, cách mạng, khoa học soi đường choPTCN chuyển từ đấu tranh tự phát lên tự giác mà triết học là hạt nhân thế giới quan Haiông đã khái quát lý luận thông qua rất nhiều tác phẩm, một mặt phát triển về triết học, mộtmặt lãnh đạo phong trào công nhân
Trước tình hình đó, các ông đã viết một loạt tác phẩm để xây dựng những nguyên lýtriết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Tiêu biểu là các tác phẩm: Bản thảo kinh tế
- triết học, C.Mác viết năm 1844; Tình cảnh giai cấp công nhân Anh, Ph.Ăngghen viết
1844, xuất bản 1845; Gia đình thần thánh, C.Mác và Ph.Ăngghen viết 1844, xuất bản 1845;Luận cương về Phoiơbắc, C.Mác viết năm 1845; Hệ tư tưởng Đức, C.Mác và Ph.Ăngghenviết 1845-1846; Sự khốn cùng của triết học, C.Mác viết năm 1847; Tuyên ngôn của ĐảngCộng sản, C.Mác và Ph.Ăngghen viết 1847, xuất bản 1848
Giai đoạn 1844-1848 là quá trình C.Mác và Ph.Ăngghen từng bước xây dựng nhữngnguyên lý triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Nghiên cứu dưới khía cạnh chủnghĩa duy vật lịch sử, C.Mác và Ph.Ăngghen đã tập trung làm rõ những vấn đề sau đây:
1 Quan niệm về sản xuất vật chất
*Tác phẩm Bản thảo kinh tế - triết học
Trang 2Vai trò của sản xuất vật chất đối với sự tồn tại, phát triển con người và xã hội loàingười (Khái niệm quan hệ sản xuất: Hình thức giao tiếp).
*Tác phẩm Hệ tư tưởng Đức
Hai ông đã vạch ra cơ sở của toàn bộ đời sống xã hội đó là sản xuất vật chất
- Khẳng định: “tiền đề đầu tiên của mọi sự tồn tại của con người, và do đó là tiền đềcủa mọi lịch sử, đó là: người ta phải có khả năng sống đã rồi mới có thể “làm ra lịch sử”.Nhưng muốn sống được thì trước hết cần phải có thức ăn, thức uống, nhà ở, quần áo và mộtvài thứ khác nữa Như vậy, hành vi lịch sử đầu tiên là việc sản xuất ra những tư liệu để thoảmãn những nhu cầu ấy, việc sản xuất ra bản thân đời sống vật chất
- Việc sản sinh những nhu cầu và việc thoả mãn những nhu cầu do sản xuất vật chấtđem lại, đó lại là động lực phát triển của sản xuất vật chất, động lực phát triển của xã hội C.Mác-Ph.Ăngghen khẳng định: khi “nhu cầu đầu tiên đã được thỏa mãn, hành độngthỏa mãn và công cụ để thỏa mãn mà người ta đã có được - đưa tới những nhu cầu mới; và
sự sản sinh ra những nhu cầu mới này là hành vi lịch sử đầu tiên”
- Thông qua hoạt động sản xuất, con người tạo ra những tư liệu sinh hoạt cho conngười mà còn tái tạo ra đời sống của bản thân mình, “con người bắt đầu tạo ra những ngườikhác, sinh sôi nẩy nở - đó là quan hệ giữa chồng và vợ, cha mẹ và con cái, đó là gia đình”
2 Về mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất
*Tác phẩm Hệ tư tưởng Đức
- Lần đầu tiên các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác, đã giải thích sự biện chứng củamối quan hệ tác động qua lại và phát triển giữa lực lượng sản xuất với hình thức giao tiếp(quan hệ sản xuất)
- Các ông không những chỉ rõ tính khách quan của lực lượng sản xuất và quan hệ sảnxuất; sự phụ thuộc của quan hệ sản xuất vào lực lượng sản xuất, mà còn chỉ rõ mối quan hệbiện chứng giữa chúng Sự tác động giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất diễn ratuân theo quy luật - quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.Các ông viết: “Trong toàn bộ sự tiến triển của lịch sử, một chuỗi chặt chẽ những hìnhthức giao tiếp mà mối liên hệ là ở chỗ người ta thay thế hình thức giao tiếp cũ đã trở thànhmột trở ngại bằng một hình thức mới phù hợp với những lực lượng sản xuất đã phát triểnhơn, và do đó phù hợp với phương thức hoạt động tiên tiến hơn của các cá nhân; hình thứcmới này lại trở thành trở ngại và lại được thay thế bằng một hình thức khác…” cứ như thế xãhội phát triển không ngừng, đi từ sự vận động, phát triển của phương thức sản xuất xã hội
3 Về mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng
*Tác phẩm Hệ tư tưởng Đức
Trong tác phẩm này, lần đầu tiên các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác dùng thuật ngữkiến trúc thượng tầng, còn cơ sở hạ tầng vẫn được gọi là cơ sở hoặc cơ sở kinh tế, xã hộicông dân Các ông chỉ rõ, kiến trúc thượng tầng nhà nước là sản phẩm của cơ sở sản xuất,
xã hội công dân là cơ sở của nhà nước “Xã hội công dân bao trùm toàn bộ sự giao tiếp vậtchất của các cá nhân trong một giai đoạn phát triển nhất định của lực lượng sản xuất Nóbao trùm toàn bộ đời sống thương nghiệp và công nghiệp trong giai đoạn đó và do đó, vượt
ra ngoài phạm vi quốc gia và dân tộc… Thuật ngữ “xã hội công dân” xuất hiện trong thế kỷXVIII khi những quan hệ sở hữu thoát khỏi thể cộng đồng cổ đại và trung cổ… tuy nhiên,
tổ chức xã hội trực tiếp sinh ra từ sản xuất và giao tiếp và trong mọi thời đại đều cấu thành
cơ sở của nhà nước và của kiến trúc thượng tầng tư tưởng, vẫn luôn luôn được gọi bằngdanh từ đó Với quan niệm như vậy, C.Mác và Ph.Ăngghen tiến tới xem xét lịch sử xã hộitheo quy luật biện chứng của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất Từ đó, các ông vạch
ra sự vận động của xã hội từ cổ đại đến chủ nghĩa tư bản là một quá trình hợp quy luật (như
Trang 3sau này C.Mác nói đó là quá trình lịch sử tự nhiên) Đặc biệt, các ông đã vận dụng quanđiểm đó vào xem xét sự ra đời và phát triển của chủ nghĩa tư bản và rút ra được những hệquả của lý luận triết học của mình Đó chính là lý luận về cách mạng vô sản và xây dựngchủ nghĩa cộng sản.
*Tác phẩm gia đình thần thánh
C.Mác và Ph.Ăngghen đã phân tích sâu sắc mối quan hệ qua lại giữa nhà nước và xãhội dân sự để hình thành cơ sở đề xuất học thuyết về cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng.Hai ông nhận định: Giống như cơ sở tự nhiên của nhà nước cổ đại là chế độ nô lệ, cơ sở tựnhiên của nhà nước hiện đại là xã hội thị dân
*Tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản
Sự phát triển của lực lượng sản xuất phải đạt đến một trình độ nhất định mới tạo ranhững điều kiện cho giai cấp ra đời “Tất cả các giai cấp khác đều suy tàn và tiêu vong cùngvới sự phát triển của đại công nghiệp, còn giai cấp vô sản lại là sản phẩm của bản thân nềnđại công nghiệp”
4 Giai cấp và đấu tranh giai cấp
*Tác phẩm Bản thảo kinh tế - triết học
Giai cấp vô sản là lực lượng quyết định trong cuộc đấu tranh chống mội áp bức, bóclột của CNTB để giải phóng con người
*Tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản
- Xem xét sự hình thành, phát triển, diệt vong của giai cấp phải xuất phát từ điều kiệnkinh tế
- Đánh giá rất cao thành tựu mà giai cấp tư sản tạo ra, đó là “Giai cấp tư sản, trong quátrình thống trị giai cấp chưa đầy một thế kỷ, đã tạo ra những lực lượng sản xuất nhiều hơn
và đồ sộ hơn lực lượng sản xuất của tất cả các thế hệ trước kia gộp lại”
- Chỉ ra mâu thuẫn cơ bản trong xó hội tư bản và sự tất yếu diệt vong của giai cấp tưsản: “Giai cấp tư sản sản sinh ra những người đào huyệt chôn chính nó Sự sụp đổ của giaicấp tư sản và thắng lợi của giai cấp vô sản đều là tất yếu như nhau”
- Vị trí, vai trò và sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản: Là sản phẩm của nền đại côngnghiệp, Giai cấp vô sản có sứ mệnh thủ tiêu chế độ tư bản và xây dựng thành công chủnghĩa cộng sản
- Chỉ rừ tính chất nhiệm vụ, mục đích và biện pháp cách mạng cho giai cấp vô sản
5 Lý luận về cách mạng xã hội
*Tác phẩm Hệ tư tưởng Đức
- C.Mác, Ph.Ăng ghen phê phán phái Hê ghen trẻ cho rằng: động lực thúc đẩy lịch sửphát triển là sự suy diễn lý luận, là sự phê phán coi quần chúng chỉ là những chất liệu thiếusức sống, yếu đuối và bất lực, thậm chí là vật cản trở quá trình phát triển của lịch sử; chorằng công việc của công nhân bao giờ cũng vẫn là một cái đơn chất nào đó họ chẳng tạo racái gì hết ngoài việc nhằm thoả mãn nhu cầu của chính họ và vì thế, họ có đấu tranh cũngchẳng để làm gì
- C.Mác và Ph.Ăng ghen cho rằng: Cách mạng là kết quả của sự vận động biến đổikhách quan, là động lực thúc đẩy lịch sử phát triển, chứ không phải là sự suy diễn lý luận,không phải sự phê phán C.Mác, Ph.Ăng ghen nhấn mạnh "không phải sự phê phán mà cáchmạng mới là động lực thúc đẩy lịch sử phát triển"
- Nguyên nhân của cách mạng xã hội là từ kinh tế (mâu thuẫn giữa LLSX và QHSX);kết luận về tính tất yếu của CMVS; xác định nhiệm vụ của GCVS trong cuộc cách mạng đó:phải cải tạo xã hội để cải tạo mình, xây dựng chế độ xó hội cộng sản chủ nghĩa; phải xóa bỏ
Trang 4tư hữu xác lập công hữu; tính chất quốc tế của CMVS và xây dựng CNCS do LLSX đóquốc tế hóa.
C.Mác, Ph.Ăng ghen cho rằng: quần chúng là người sáng tạo, công nhân là người sángtạo ra tất cả Phong trào quần chúng là phong trào hoạt động vật chất sinh động và có sứcmạnh to lớn trong cải tạo xã hội Công nhân và quần chúng không chỉ sáng tạo ra vật chất,tinh thần mà còn sáng tạo ra con người, chủ thể của mọi sự sáng tạo Sức sáng tạo của côngnhân ở chỗ có tổ chức, nghĩa là khi giai cấp công nhân giác ngộ được nguồn gốc bóc lột và
tư hữu, ý thức được sức mạnh đoàn kết, ý thức được con đường đấu tranh, tự giác hoạt độngliên minh, liên kết trong hoạt động và có hoạt động chính trị độc lập, không theo đuôi giaicấp tư sản
6 Mối quan hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội
*Tác phẩm Luận cương về Phoiơbắc
- Ý thức cá nhân và ý thức xã hội quan hệ với nhau rất chặt chẽ, ý thức cá nhân mangbản chất xã hội, do ý thức xã hội quy định và quyết định: "Ngay từ đầu ý thức là một sảnphẩm xã hội và vẫn là như vậy chừng nào con người còn tồn tại”
- Tồn tại xã hội và ý thức xã hội có mối quan hệ biện chứng, trong đó tồn tại xã hộiquyết định ý thức xã hội C.Mác Ph.Ăng ghen chỉ rõ: "Không phải ý thức quyết định đờisống mà chính đời sống quyết định ý thức" Nhìn chung, tồn tại xã hội nào thì ý thức xã hội
ấy, khi tồn tại xã hội đã thay đổi thì sớm muộn ý thức xã hội cũng thay đổi theo Tồn tại xãhội quyết định nội dung, xu hướng vận động, phát triển của ý thức xã hội
- Tính giai cấp của ý thức xã hội: Trong xã hội có giai cấp, ý thức xã hội bao giờ cũngmang bản chất giai cấp sâu sắc, hai ông chỉ rõ: "Giai cấp nào là lực lượng vật chất thống trịtrong xã hội thì cũng là lực lượng tinh thần thống trị trong xã hội"
*Tác phẩm Hệ tư tưởng Đức
- Mác và Ăngghen khẳng định bản chất của ý thức xã hội: "Ý thức không bao giờ cóthể là cái gì khác hơn là sự tồn tại được ý thức và tồn tại của con người là quá trình đời sốnghiện thực của con người"
- Mác và Ăngghen đề cập sự thay đổi của ý thức xã hội dẫn đến sự thay đổi của ý thức
xã hội: "Tất cả những cái đó không có lịch sử, không có sự phát triển: chính con người, khiphát triển sự sản xuất vật chất và sự giao tiếp vật chất của mình đã làm biến đổi, cùng với
sự tồn tại hiện thực của mình cả tư duy lẫn sản phẩm tư duy của mình"
- Mác và Ăngghen khẳng định tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội: "không phải ýthức quyết định đời sống, mà chính đời sống quyết định ý thức"
- Về ý thức cá nhân, Mác và Ăngghen cho rằng "sự phong phú thực sự về tinh thần của
cá nhân là hoàn toàn phụ thuộc và sự phong phú của những liên hệ hiện thực của họ"
- Mác và Ăngghen khẳng định tính giai cấp của ý thức xã hội: "trong mọi thời đại,những tư tưởng của giai cấp thống trị là những tư tưởng thống trị, nói cách khác giai cấpnào là lực lượng vật chất thống trị trong xã hội thì cũng là lực lượng tinh thần thống trị"
*Tác phẩm tuyên ngôn của Đảng Cộng sản
- Mác và Ăngghen khẳng định TTXH quyết định YTXH, đồng thời chứng minh sâusắc quan điểm đó bằng hiện thực lịch sử: "Liệu có cần phải sáng suốt lắm mới hiểu đượcrằng những tư tưởng, những quan điểm và những khái niệm của người ta, tóm lại là ý thứccủa người ta, đều thay đổi cùng với mọi sự thay đổi xảy ra trong điều kiện sinh hoạt, trongquan hệ xã hội, trong đời sống xã hội của người ta chăng?"
- Mác và Ăngghen đề cập về sự phản ánh vượt trước của những tư tưởng khoa học,cách mạng: "khi người ta nói đến những tư tưởng đang cách mạng hoá cả một xã hội tìhnhư thế là người ta chỉ nêu ra sựt hật này là trong lòng xã hội cũ, những yếu tố của một xã
Trang 5hội mới đã hình thành và sự tan rã của những tư tưởng cũ là đi đôi với sự tan rã của nhữngđiều kiện sinh hoạt cũ".
- Về tính giai cấp và các hình thái chung của ý thức xã hội qua các thời đại: "lịch sửcủa toàn bộ, từ trước đến nay, đều diễn ra trong những đối kháng giai cấp, những đối khángmang hình thức khác nhau tuỳ từng thời đại Nhưng dù những đối kháng ấy mang hình thứcnào đi nữa thì hiện tượng một bộ phận này của xã hội bóc lột một bộ phận khác cũng vẫn làmột hiện tượng chung cho tất cả các thế kỷ trước kia Vậy không có gì đáng lấy làm lạ, khithấy rằng ý thức xã hội của mọi thế kỷ, mặc dầu có muôn màu muôn vẻ và hết sức khácnhau, vẫn vận động trong một số hình thức chung nào đó, trong những hình thức ý thức chỉhoàn toàn tiêu tan khi hoàn toàn không còn có đối kháng giữa các giai cấp nữa"
7 Quan niệm về con người
*Tác phẩm Bản thảo kinh tế - triết học
- C.Mác đã đánh giá cao cách tiếp cận giá trị về con người ở Phoiơbắc, thừa nhậnnguyên tắc “con người là một bộ phận của giới tự nhiên”, nhưng vì cách tiếp cận đó chỉ đềcập đến con người nói chung, con người như kết quả của sự tiến hoá tự nhiên, nên theoC.Mác nó cần được phân tích sâu sắc hơn, cần được đặt trong hoạt động, mà trước hết làhoạt động thực tiễn, hoạt động sản xuất vật chất
- C.Mác đã nêu lên nhiều quan điểm mới, khác hẳn về chất so với các quan điểm triếthọc trước đây về con người như “con người là một sinh vật có tính loài” con người khôngchỉ đơn thuần là thực thể tự nhiên, mà còn là “thực thể tộc loại đối với mình” Như vậy, conngười mà C.Mác đề cập đến là một thực thể sinh vật mang tính xã hội, “xét về mặt thể xácthì con người cũng như con vật, đời sống có tính loài là ở chỗ con người (cũng như con vật)sống bằng giới tự nhiên vô cơ, và con người càng có tính phổ biến so với con vật thì phạm
vi của giới tự nhiên vô cơ mà nó dựa vào để sống càng có tính phổ biến”
- Chỉ ra sự khác biệt giữa con người với con vật, theo Mác con người là động vật có ýthức, có lao động và có ngôn ngữ riêng
- Quan niệm về bản chất con người “bản chất con người của tự nhiên chỉ tồn tại đối vớicon người xã hội; vì chỉ có trong xã hội, tự nhiên đối với con người mới là một khâu liên hệcon người với con người, mới là tồn tại của con người đối với người khác và tồn tại củangười khác đối với người đó, mới là nhân tố sinh hoạt của hiện thực con người; chỉ có trong
xã hội, tự nhiên mới biểu hiện ra là cơ sở của tồn tại có tính người của bản thân con người”
- Khẳng định các mối quan hệ của con người được hình thành trong quá trình hoạtđộng thực tiễn, đặc biệt là trong lao động sản xuất, vì theo ông “con người không chỉ sảnsinh ra quan hệ cuả mình với đối tượng và hành vi sản xuất, như với những lực lượng xa lạ
và đối địch với mình, - con người còn sản sinh ra mối quan hệ của những người khác với sựsản xuất của mình và với sản phẩm của mình và mối quan hệ của bản thân mình với nhữngngười khác ấy”
- Vai trò sáng tạo lịch sử của quần chúng nhân dân; Sứ mệnh lịch sử của giai cấp côngnhân; Xu hướng phát triển của xã hội đến chủ nghĩa cộng sản
*Tác phẩm Luận cương về Phoiơbắc
Trên cơ sở phê phán quan niệm về con người của Phoiơbắc là chung chung, trừutượng, phi lịch sử, phi thực tiễn C.Mác đã khái quát bản chất con người: “Bản chất conngười không phải là một cái gì trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt Trong tính hiệnthực của nó, bản chất con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội”
*Tác phẩm Hệ tư tưởng Đức
- Khẳng định con người và vấn đề con người là tiền đề, là điểm xuất phát của việcnghiên cứu lịch sử - xã hội C.Mác và Ph.Ăngghen đã khẳng định: “Tiền đề đầu tiên của
Trang 6toàn bộ lịch sử nhân loại thì dĩ nhiên là sự tồn tại của những cá nhân con người sống” Đâychính là điểm khác nhau căn bản giữa quan điểm của chủ nghĩa Mác với tất cả quan điểmtrước đó về con người.
- Chỉ ra hạn chế cơ bản của Phoiơbắc nằm trong quan niệm về con người Phoiơbắcdựa vào khái niệm "con người cộng đồng" để tự tuyên bố mình là người cộng sản Conngười, theo Phoiơbắc, chỉ là "con người trừu tượng" mà không phải là con người hiện thựccủa lịch sử Đối với những người cộng sản, con người là sản phẩm của tự nhiên và vấn đềcần xem xét ở con người hiện thực của lịch sử là hành động thực tiễn của con người nhằmthay đổi thế giới hiện có
- Khẳng định, muốn nhận thức đúng đắn bản chất con người phải xuất phát từ quanđiểm thực tiễn, theo Mác “con người là sản phẩm của tự nhiên, vì thế để hiểu con người cầnnghiên cứu quan hệ của nó với bộ phận tự nhiên còn lại”
Ý nghĩa của vấn đề nghiên cứu
- Với quan niệm duy vật về lịch sử, Mác - Ănghen đã vạch ra quy luật phát triển của xãhội, đem lại “chìa khóa" để nhận thức một cách khoa học tòan bộ tiến trình lịch sử và phânchia một cách thật sự khoa học các thời kỳ trong lịch sử; chấm dứt sự thống cũng nhưnhững giải thích sai lầm về các hiện tượng lịch sử và xã hội của quan điểm duy tâm, tôngíao về vai trò sáng tạo thế giới của Chúa trời, Thượng đế
- Đây là giai đoạn quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển của triết học Mác
và thành tựu vĩ đại nhất của lịch sử tư tưởng nhân loại
+ Đã giải quyết đúng đắn vấn đề cơ bản của triết học trong lĩnh vực xỉã hội và lịch sử,khẳng định: TTXH quyết định YTXH, YTXH là sự phán ánh TTXH
+ Khẳng định sản xuất vật chất - cơ sở quyết định sự tổn tại và phái triển của xã hội.+ Chi ra quy luật vận động, phát triển và thay thế của các hình thái kinh tế - xã hội làquy luật QHSX phù hợp với trình độ phát triển của LLSX; quy luật về mối quan hệ biệnchứng giữa CSHT và KTTT; quy luật về đấu tranh giai cấp trong xã hội có giai cấp đốikháng - quy luật về vai trò quyết định của quần chúng nhân dân trong lịch sử
- Đối với triết học: Đánh dấu sự biến đổi về chất trong quá trình phát triển tư tưởngnhân loại, làm cho triết học trở thành khoa học, là sự thống nhất không tách rời giữa chủnghĩa duy vật và phép biện chứng
- Đối với giai cấp vô sản: Triết học Mác là vũ khí tinh thần, cơ sở khoa học cho cácĐảng cộng sản đề ra đường lối, chiến lược, sách lược của cách mạng vô sản trong đấu tranhcải tạo hiện thực
- Đối với khoa học: Trang bị thế giới quan, phương pháp luận khoa học cho các khoahọc cụ thể, các nhà khoa học đi sâu nghiên cứu tìm ra những thuộc tính mới của vật chất,
mở đường cho khoa học phát triển
Trang 72 Tư tưởng của C.Mác - Ph.Ăngghen về phép biện chứng qua một số tác phẩm tiêu biểu giai đoạn 1848-1895 Ý nghĩa của vấn đề nghiên cứu?
Sau năm 1848, phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao độngchống chủ nghĩa tư bản đã trở thành làn sóng mạnh mẽ ở châu Âu
*Điều kiện kinh tế
- QHSX tư bản chủ nghĩa thống trị ở các nước Đông Âu; CNTB Mỹ phát triển nhanh,cuộc nội chiến (1861 - 1865) làm cho Mỹ trở thành một nước tư bản hùng mạnh CNTB ởNhật Bản cũng phát triển nhanh
*Điều kiện xã hội
- Sau khi tuyên ngôn Đảng cộng sản ra đời, cách mạng tư sản ở châu Âu có sự pháttriển mạnh mẽ và rộng khắp ở các nước (Cách mạng 1848 - 1849 ở Đức, Pháp; Công xãPari năm 1871; từ năm 1861 Nga bắt đầu phát triển chủ nghĩa tư bản, đầu năm 1870 nướcĐức được thống nhất)
- PTCN đã có sự phát triển mạnh mẽ, chuyển dần từ tự phát lên tự giác và xuất hiện sự
ra đời của các Đảng cộng sản; cuộc đấu tranh của GCVS để đòi dân chủ có xu hướngchuyển thành cuộc đấu tranh cho chủ nghĩa xã hội
*Điều kiện về văn hóa, khoa học
- Chủ nghĩa cơ hội xét lại, chống chủ nghĩa Mác phát triển, nhiều học thuyết mới rađời nhằm chống lại và phủ nhận học thuyết Mác
Trước tình hình đó, Mác và Ăngghen đang sống ở Anh đã trở về Pháp trực tiếp lãnhđạo, bổ sung, khái quát và phát triển lý luận để cổ vũ và chỉ đạo phong trào cách mạng Cácông đã viết một loạt tác phẩm để bổ sung, phát triển chủ nghĩa Mác và triết học mácxít.Tiêu biểu là các tác phẩm: Đấu tranh giai cấp ở Pháp, 1848-1850; Cách mạng và phản cáchmạng ở Đức, 1851-1852; Ngày 18 tháng sương mù của Lui Bô na pác, 1851-1852; Tư bản(Tập 1, xuất bản 1867, tập 2-1885, tập 3-1894); Nội chiến ở Pháp, 1871; Phê phán cươnglĩnh Gôta, 1875; Biện chứng của tự nhiên, 1873-1883; Chống Đuy rinh, 1876-1878; Nguồngốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước, 1884; Lút vích Phoi ơ bắc và sự cáochung của triết học cổ điển Đức, 1884
Giai đoạn 1848-1895 là quá trình C.Mác và Ph.Ăngghen bổ sung và phát triển lý luậntriết học Nghiên cứu dưới khía cạnh chủ nghĩa duy vật biện chứng, C.Mác và Ph.Ăngghen
đã tập trung làm rõ những vấn đề sau đây:
1 Tác phẩm: Tư bản, tập một (1867)
*C.Mác đã phê phán phương pháp siêu hình của kinh tế học tư bản, qua đó đưa raphương pháp biện chứng C.Mác cũng đó chứng minh sự khác nhau căn bản giữa phươngpháp biện chứng của mình với phương pháp của Hêghen “Phương pháp biện chứng của tôikhông những khác với phương pháp của Hêghen về cơ bản, mà còn đối lặp hẳn với phươngpháp ấy nữa” Theo Mác “Ở Hê ghen, phép biện chứng bị lộn ngược đầu xuống đất Chỉ cầndựng nó lại là sẽ phát hiện được cái hạt nhân hợp lý của nó đằng sau lớp vỏ thần bí”
*C.Mác đã trình bày các quy luật của phép biện chứng duy vật thông qua việc phântích hình thái kinh tế - xã hội tư bản chủ nghĩa
- C.Mác C.Mác đã trình bày quy luật từ những thay đổi về lượng dẫn đến những thayđổi về chất và ngược lại Mác xem xét phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa trong sự vậnđộng, phát triển của chúng Sự phát triển của xã hội tư bản chuẩn bị những tiền đề vật chấtcho một chế độ mới về chất, đó là chủ nghĩa xã hội
- C.Mác đã trình bày những tư tưởng rất phong phú về vấn đề mâu thuẫn Theo Mác,Trong “Tư bản” mâu thuẫn bên trong của sự thống nhất hiểu như là sự xung đột “chính đề”
và “phản đề” và được dành cho sự nghiên cứu như nhau, bởi lẽ chúng thể hiện một cơ thể
Trang 8đang hoạt động Những mâu thuẫn của hệ thống tư bản chủ nghĩa như những tương phản vềchất Không nên hiểu những đối cực cô lập, mà là tính chất hai mặt của một quá trình.
+ Trong “Tư bản”, Mác đã chỉ ra mâu thuẫn đó là “mâu thuẫn giữa giá trị và giá trị sửdụng sức lao động là mâu thuẫn của toàn bộ nền sản xuất hàng hóa tư bản chủ nghĩa, và củachủ nghĩa tư bản nói chung”; “mâu thuẫn giữa tính chất xã hội của sản xuất của xã hội và sựchiếm hữu tư nhân đối với tư liệu sản xuất”
+ Mác chỉ ra cách giải quyết mâu thuẫn dưới chủ nghĩa tư bản có cơ sở sâu xa ở sựgiải quyết các vấn đề chiếm hữu tư liệu sản xuất
+ C.Mác đã luận chứng mối quan hệ giữa hai mặt đối lập trong mâu thuẫn biện chứngkhi phân tích hàng hóa cũng như chế độ tư bản chủ nghĩa nói chung Từ sự phân tích hànghóa trở thành sự phân tích quan hệ xã hội, quan hệ giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản,vấn đề đấu tranh giai cấp trong xã hội tư bản chủ nghĩa
- Thông qua phân tích sự phát triển của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, Mác đã trìnhbày quy luật phủ định của phủ định Theo Mác, sự phủ định bao hàm mối liên hệ giữa cáchình thức vận động sau và trước của sự vật; trong mối liên hệ ấy, nội dung thực thể của nókhông những được bảo tồn mà còn tang lên, biến đổi
+ Mác đề cập đến sự chuyển hóa liên tục của sự vận động mà theo Mác phủ định củaphủ định như hình thức vận động nhằm giải quyết mâu thuẫn
+ Trên cơ sở nhận định Tư bản, Mác thừa nhận rằng: Phủ định là hình thức tất yếu củabiến đổi về chất trong quá trình phát triển; Phủ định như phủ định cụ thể, nghĩa là không loại
bỏ giai đoạn phát trienr trước nó, mà tiếp tục nó trong hình thức mới; Phủ định của phủ địnhnhư sự thống nhất các mặt đối lặp và sự hoàn thành một chu kỳ phát triển lịch sử nhất định
2 Tác phẩm “Chống Đuyrinh”
- Phép biện chứng là hình thức cao nhất của tư duy khoa học; là phương pháp “xem xétnhững sự vật và những phản ánh của chúng trong tư tưởng, trong mối liên hệ qua lại lẫnnhau của chúng, trong sự ràng buộc, sự vận động, sự phát sinh và sự tiêu vong của chúng”
- Phép siêu hình là xem xét những sự vật và phản ánh của chúng vào tư duy đều lànhững đối tượng nghiên cứu riêng biệt, cố định, chết cứng, vĩnh viễn, phải được xem xét cáinày sau cái kia, cái này độc lập với cái kia
- Sự xuất hiện phép siêu hình là tất yếu; vai trò của phép siêu hình trong lịch sử
- Khái quát lịch sử phép biện chứng, chỉ ra mặt tích cực và hạn chế của PBC trướcMác; làm rừ sự đối lập giữa PBC mácxít với PBC của Hêghen
- Ăngghen đã chỉ ra những thành tựu vĩ đại, vạch thời đại mà khoa học tự nhiên lúcbấy giờ đã đạt được Thông qua đó, Ph ăngghen đã chỉ ra ý nghĩa to lớn của những thànhtựu đó đối với sự ra đời của phép biện chứng duy vật Ph Ăngghen viết: “Giới tự nhiên làhòn đá thử vàng đối với phép biện chứng, và cần phải nói rằng khoa học tự nhiên hiện đại
đã cung cấp cho cuộc thử nghiệm đấy những vật liệu hết sức phong phú và mỗi ngày mộttăng thêm, và do đó đã chứng minh rằng trong tự nhiên, rút cục lại, mọi cái đều diễn ra mộtcách biện chứng chứ không phải siêu hình”
- Ăngghen đã đưa ra định nghĩa phép biện chứng và khẳng định phép biện chứng duyvật là khoa học Ph.Ăngghen cho rằng, phép biện chứng không chỉ là khoa học về tư duy,
mà là “khoa học về những quy luật phổ biến của sự vận động về sự phát triển của tự nhiên,của xã hội loài người và của tư duy”
- Ăngghen vạch ra bản chất của phép biện chứng duy vật Theo ông, “điều căn bản”của phép biện chứng duy vật đó là: “xem xét những sự vật và những phản ánh của chúngtrong tư tưởng trong mối liên hệ qua lại lẫn nhau của chúng, trong sự ràng buộc, sự vậnđộng, sự phát sinh và sự tiêu vong của chúng” Ăngghen cho rằng, tư duy biện chứng thừa
Trang 9nhận trong những trường hợp cần thiết, bên cạnh cái “hoặc là…hoặc là…” còn có cả cái
“vừa là…vừa là…” nữa
- Ăngghen cũng chỉ ra nhiệm vụ của phép biện chứng, đó là phải theo dõi quá trìnhvận động tất yếu, chứng minh tính tất yếu thông qua cái ngẫu nhiên, bên ngoài, xem xét nókhông phải chỉ ở trong tự nhiên mà chủ yếu là ở trong xã hội để chứng minh tính tất yếudiệt vong của chủ nghĩa tư bản
- Lần đầu tiên, trình bày khá toàn diện và đầy đủ ba quy luật cơ bản của phép biệnchứng duy vật Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập (quy luật mâu thuẫn);quy luật chuyển hoá từ những biến đổi về lượng thành những biến đổi về chất và ngược lại;quy luật phủ định của phủ định Là sự phản ánh những mối liên hệ cơ bản và phổ biến tronggiới tự nhiên và lịch sử “Vậy là từ trong lịch sử của tự nhiên và lịch sử của xã hội loàingười mà người ta đã rút ra được các quy luật của phép biện chứng… Những quy luật biệnchứng là những quy luật thực sự của sự phát triển của giới tự nhiên…”
Khi xem xét quy luật mâu thuẫn, Ăngghen chỉ rõ “sự di động một cách máy móc vàđơn giản sở dĩ có thể thực hiện được, cũng chỉ là vì một vật trong cùng một lúc vừa ở nơinày lại vừa ở nới khác, vừa ở cùng một chổ lại vừa không ở chổ đó” Ngay bản thân “sựsống cũng là một mâu thuẫn tồn tại trong bản thân các sự vật và các quá trình, một mâuthuẫn thương xuyên nảy sinh và tự giải quyết, và khi mâu thuẫn chấm dứt thì sự sống cũngkhông còn nữa và cái chết xảy đến”
Quy luật lượng - chất được Ăngghen luận chứng thông qua sự phát triển của các mônkhoa học và đời sống xã hội Ông khẳng định “vô sô trường hợp thay đổi về lượng làm chochất của sự vật biến đổi, cũng như thay đổi về chất làm cho lượng của sự vật biến đổi”.Quy luật phủ định của phủ định “là một quy luật vô cùng phổ biến và chính vì vậy nó
có một tầm quan trọng và có tác dụng vô cùng to lớn về sự phát triển của tự nhiên, của lịch
sử và của tư duy” Bản chất của quy luật thể hiện khuynh hướng phát triển tiến lên theođường xoáy ốc của tất cả các sự vật, hiện tượng từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp,
từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện, trong đó cái mới ra đời
3 Trong tác phẩm “Biện chứng của tự nhiên”
- Ăngghen lần lượt nêu lên ba hình thức phát triển của phép biện chứng và khẳng địnhcông lao của C.Mác trong vấn đề này: “Công lao của C.Mác là ở chỗ ông là người đầu tiên
đã phục hồi lại phép biện chứng đã bị bỏ quên, nêu rõ những mối liên hệ và sự khác nhaucủa phương pháp đó với phép biện chứng của G.Ph.Hêghen, và đồng thời, trong bộ “Tưbản”, ông đã áp dụng phương pháp đó vào những sự kiện của một khoa học thực nghiệm,khoa kinh tế chính trị”
- Khẳng định vai trò của phép biện chứng: Phép biện chứng là một hình thức tư duyquan trọng nhất đối với khoa học tự nhiên hiện đại, bởi vì chỉ có nó mới có thể đem lại sựtương đồng và do đó đem lại phương pháp giải thích những quá trình phát triển diễn ratrong giới tự nhiên, giải thích những mối liên hệ phổ biến, những bước quá độ từ một lĩnhvực nghiên cứu này sang một lĩnh vực nghiên cứu khác
- Chỉ ra 3 QL cơ bản của PBCDV và luận giải từng quy luật
+ Quy luật về sự chuyển hoá từ số lượng thành chất lượng và ngược lại: Mối quan hệgiữa chất và lượng, sự tăng hay giảm về lượng sẽ dẫn đến sự thay đổi về chất; điểm tới hạn(hằng số vật lý hay những điểm nút) mà tại đó sự thay đổi về lượng sẽ dẫn đến sự thay đổi
về chất; quy luật lượng chất trong lĩnh vực hóa học “hoá học là khoa học của sự biến đổi vềchất của vật thể sinh ra do sự thay đổi về thành phần số lượng”; sự chuyển hóa lượng - chất;
…
Trang 10+ Quy luật về sự xâm nhập lẫn nhau của các đối lập: Toàn bộ giới tự nhiên vận động,phát triển thông qua sự thống nhất, đấu tranh và chuyển hóa của các mặt đối lập; chỉ ra cácmặt đối lập (Sự hút và sự đẩy; điện tích trái dấu; tính di truyền và tính thích ứng trong quátrỡnh tiến húa của sự sống…) và sự tác động và chuyển hóa giữa chúng; tính khách quancủa mâu thuẫn biện chứng; khẳng định nguồn gốc sự vận động, phát triển của lịch sử xó hội
là do sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập;…
+ Quy luật về sự phủ định của phủ định: Sự phát triển theo hình xoáy ốc; phủ định củaphủ định ớt nhất phải trải qua một chu kỳ và phủ định mang tớnh kế thừa
- Các cặp phạm trù cơ bản của PBCDV:
+ Đồng nhất và khác nhau: Sự đồng nhất trừu tượng chỉ tồn tại trong đầu óc con người,cũn sự đồng nhất trong hiện thực khách quan là sự đồng nhất cụ thể bao hàm cả sự khácnhau, sự biến đổi; đồng nhất và khác nhau là hai mặt đối lập, thống nhất, đan xen vào nhau.+ Ngẫu nhiên và tất nhiên: Chống lại quan điểm siêu hỡnh, tuyệt đối hóa cái tất nhiên(thuyết định mệnh); khẳng định: Cái tất nhiên bao gồm vô số cái ngẫu nhiên và cái ngẫunhiên là hình thức che đậy cái tất nhiên Ngẫu nhiên là hình thức thể hiện của cái tất nhiên,bản thân cái tất nhiên biểu hiện ra xuyên qua vô số cái ngẫu nhiên
+ Nguyên nhân và kết quả: Nguyên nhân và kết quả có thể chuyển hóa cho nhau;nguyên nhân cú nhiều loại: nguyên nhân trực tiếp và nguyên nhân gián tiếp, nguyên nhânbên trong và nguyên nhân bên ngoài, quan trọng là phải làm thế nào để vạch ra đượcnguyên nhân căn bản
4 Tác phẩm “Lútvích Phoiobắc và sự cáo chung của triết học cổ điển Đức”
Ph.Ăngghen coi phép biện chứng là hình thức cao nhất của tư duy khoa học - cáchnhìn nhận chung nhất về thế giới
Ph.Ăngghen nói: “Do đó, phép biện chứng được qui thành khoa học về các qui luậtchung của sự vận động của thế giới bên ngoài cũng như của tư duy bên ngoài”
Ph.Ăngghen ghi nhận công lao của Hêghen - lần đầu tiên Hêghen đã trình bày toàn bộgiới tự nhiên, xã hội và tư duy một cách hệ thống Tư tưởng vĩ đại nhất của triết họcHêghen là tư tưởng phát triển Nhưng tư tưởng phát triển của Hêghen chỉ là sự phát triểncủa ý niệm Sự phát triển của tự nhiên và xã hội chỉ là phản ánh sự phát triển của ý niệm.Ph.Ăngghen phân tích sự phát triển của sự vật, hiện tượng là khách quan, còn biệnchứng của tư duy (của ý niệm) chỉ là sự phản ánh biện chứng của thế giới hiện thực
*Ý nghĩa của vấn đề nghiên cứu
- Chủ nghĩa Mác tiếp tục phát triển và chuyển sang giai đoạn Lênin bảo vệ và pháttriển
- Đây là ngọn cờ tư tưởng lý luận của chủ nghĩa Mác, tiếp tục soi sáng con đường cáchmạng vô sản
- Ý nghĩa trong cuộc đấu tranh tư tưởng lý luận hiện nay
Trang 113 V.I.Lênin phát triển chủ nghĩa duy vật biện chứng và phép biện chứng duy vật qua một số tác phẩm tiêu biểu giai đoạn 1907-1917? Ý nghĩa của vấn đề nghiên cứu?
- 1893-1907, là thời kỳ Lênin bảo vệ phát triển triết học Mác thông qua việc truyền básâu rộng nó vào phong trào công nhân Nga, đấu tranh chống lại mọi loại kẻ thù để thành lậpđảng mácxít chân chính - Đảng Cộng sản Bônsêvíc (Chống chủ nghĩa “dân túy”)
- 1907-1917, phục hồi phong trào cách mạng, tăng thêm sức lãnh đạo của ĐCSBônsêvíc và đưa cách mạng nước Nga thoát khỏi thoái trào (Lênin bảo vệ phát triển triết họcMác đấu tranh chống lại chủ nghĩa nghĩa chủ quan và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán)
- 1917-1924, là thời kỳ Lênin bảo vệ phát triển triết học Mác chống thù trong, giặcngoài, chống chủ nghĩa chiết trung, thuật ngụy biện, phép siêu hình; bước đầu hiện thực hóachủ nghĩa Mác vào xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô
Giai đoạn 1907 - 1917 là thời kỳ Chính phủ Nga hoàng thiết lập một chế độ thống trịphátxít tàn bạo trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Vì vậy, trong xã hội Nga đãxuất hiện “tình trạng thoái chí, mất tinh thần, phân liệt, chạy dài, từ bỏ lập trường, nóichuyện dâm bôn chứ không phải chính trị nữa Xu hướng ngày càng ngả về triết học duytâm; chủ nghĩa thần bí, được dùng để che đậy tinh thần phản cách mạng” Đặc biệt là trongđội ngũ trí thức Nga đã xuất hiện trào lưu “tinh thần”, “tạo thần”, tuyên truyền chủ nghĩaduy tâm phản động Nhất là chủ nghĩa Makhơ xuất hiện giữ vai trò như là triết học duy nhấtkhoa học, mà thực chất nó là chủ nghĩa duy tâm phản động
Trong điều kiện đó, V.LLênin phải tuyên chiến với các tư tưởng đối lập, tiếp tục bảo
vệ và phát triển triết học mácxít, xác lập thế giới quan duy vật biện chứng và phương phápbiện chứng duy vật cho giai cấp công nhân và nhân dân lao động trong cuộc đấu tranhchống giai cấp tư sản và chế độ Nga hoàng thong qua một loạt các tác phẩm: Chủ nghĩa duyvật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán, viết 1908, xuất bản 1909; Ba nguồn gốc và ba bộphận cấu thành chủ nghĩa Mác, 1913; Bút ký triết học, 1895-1916; Chủ nghĩa đế quốc giaiđoạn tột cùng của chủ nghĩa tư bản viết 1916, xuất bản 1917; Nhà nước và cách mạng, viết
1917, xuất bản1918
Nghiên cứu dưới góc độ chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng, V.I.Lênin đã bổ sung
và phát triển triết học Mác trên những vấn đề sau đây:
1 Giải quyết vấn đề cơ bản của triết học, khẳng định tính đảng trong triết học
*Tác phẩm “Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán”
- Lênin vạch trần bản chất duy tâm chủ quan của Makhơ khi ông này cho rằng cái tồntại đích thực thế giới không phải là sự vật hay vật thể mà là “các yếu tố của thế giới” như là
âm thanh, ánh sáng, màu sắc, mùi vị, sức ép… sự vật mà chúng ta thấy đó chỉ là “phức hợpcủa các yếu tố” mà thôi Song, Makhơ lại cho rằng: các “yếu tố” đó không phải là vật chất
và cũng không phải là tinh thần mà là “cái trung gian” của hai thứ đó
- Đối lập với tư tưởng của chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán cho rằng thế giới là “phứchợp của các yếu tố”, Lênin nhắc lại một lần nữa quan điểm của Ăngghen đã từng nêu trongtác phẩm “Chống đuyrinh” (1878) rằng: Chỉ có một thế giới duy nhất đó là thế giới vật chất,thế giới thống nhất ở tính vật chất Người viết: “tính thống nhất thực sự của thế giới là ởtính vật chất của nó” Và người phê phán cái khái niệm yếu tố của Makhơ “Cái danh từ yếu
tố mà nhiều người ngây thơ tưởng là cái gì mới lạ hay một phát minh, thực ra chỉ làm rốiloạn vấn đề bằng một thuật ngữ không có ý nghĩa gì”
- V.I.Lênin đã phê phán chủ nghĩa Makhơ muốn xóa nhòa tính đảng trong triết học,muốn đứng trên chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm, nhưng thực chất chính họ lànhững người duy tâm chủ quan với cái tham vọng ngu dại muốn “Vượt lên trên” chủ nghĩaduy vật và chủ nghĩa duy tâm, muốn khắc phục sự đối lập “cũ kỹ” ấy, nhưng kỳ thật thì cả