Trong các bài viết, bài nói của mình, Hồ Chí Minh hầu như không dùng ngôn ngữ triết học và không tự thừa nhận mình là nhà khoa học, nhưng trong tư tưởng của Người lại luôn nhất quán một thế giới quan, một nhân sinh quan, một hệ thống tư duy triết học.1. Cơ sở hình thành tư tưởng triết học Hồ Chí Minh
Trang 1ĐẶC TRƯNG VÀ NỘI DUNG PHƯƠNG PHÁP LUẬN TRIẾT HỌC TRONG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH Ý NGHĨA CỦA VẤN ĐỂ ĐỐI VỚI SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY?
Trong các bài viết, bài nói của mình, Hồ Chí Minh hầu như không dùng ngôn ngữ triết học
và không tự thừa nhận mình là nhà khoa học, nhưng trong tư tưởng của Người lại luôn nhất quán một thế giới quan, một nhân sinh quan, một hệ thống tư duy triết học
1 Cơ sở hình thành tư tưởng triết học Hồ Chí Minh
*Những tiền đề khách quan
- Hiện thực xã hội Việt Nam những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX đặt ra nhu cầu bức thiết, thúc bách Hồ Chí Minh ra đi tìm đường cứu nước Tất cả những tinh hoa văn hóa lĩnh hội được đều được Hồ Chí Minh soi rọi vào thực tiễn Việt Nam → tư tưởng triết học của Người nhằm giải phóng dân tộc
- Tiền đề về tư tưởng: Sinh thời, Hồ Chí Minh là người đã đi rất nhiều nơi, được tiếp xúc với nhiều nền văn hóa, nhiều tư tưởng triết học:
+ Tư tưởng triết học của truyền thống dân tộc
+ Tư tưởng triết học của phương Đông, phương Tây
+ Tư tưởng triết học trong lịch sử và hiện tại
+ Chủ nghĩa Mác - Lênin, tập trung nhiều ở Lênin “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính, chắc chắn nhất, cách mạng nhất phải theo là chủ nghĩa Mác - Lênin” (t.2, tr.280)
*Nhân tố chủ quan
Thiên tài tư duy Hồ Chí Minh, sự nỗ lực cao độ, mục đích và khát vọng dân tộc, tinh thần yêu nước thương dân…
2 Đặc trưng và nội dung phương pháp luận triết học trong tư tưởng Hồ Chí Minh
Phương pháp luận trong tư tưởng Hồ Chí Minh là phương pháp biện chứng của triết học Mác - Lênin, được vận dụng và chuyển hoá một cách tài tình, sáng tạo vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, nhằm mục đích giải quyết thành công những vấn đề cấp bách do thực tiễn cách mạng Việt Nam đặt ra, bằng cái riêng đã làm phong phú thêm cái chung và in đậm dấu
ấn Việt Nam - Hồ Chí Minh
2.1 Đặc trưng phương pháp luận triết học trong tư tưởng Hồ Chí Minh
- Trước hết, tư duy triết học Hồ Chí Minh là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa tính khoa học
và tính cách mạng, giữa lập trường, quan điểm và phương pháp nhận thức, hành động Sự kết hợp này và là đặc trưng tư duy triết học Hồ Chí Minh vừa là nguyên tắc chỉ đạo Hồ Chí Minh nhận thức và hành động, thể hiện sự nhất quán trong tư tưởng triết học của Người
- Thứ hai, tư duy triết học Hồ Chí Minh là tư duy độc lập, sáng tạo, thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, suy nghĩ và hành động, giữa lời nói và việc làm thể hiện sự hoàn chỉnh chu
kỳ vận động: từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn
- Thứ ba, tư duy triết học Hồ Chí Minh được thể hiện bằng ngôn ngữ trong sáng, giản dị, phổ thông, dễ hiểu, dễ xâm nhập vào quần chúng Có thể coi đây là đặc trưng đặc sắc, độc đáo của tư duy triết học Hồ Chí Minh
2.2 Nội dung phương pháp luận triết học trong tư tưởng Hồ Chí Minh
*Biện chứng trong xử lý mối quan hệ giữa thực tiễn và lý luận, giữa cái riêng và cái chung
- Thực tiễn là cái đích để lý luận vươn tới, lý luận phải bắt đầu từ thực tiễn
+ Hồ Chí Minh luôn luôn lấy thực tiễn, lấy sự kiện của đời sống dân tộc và thời đại làm định hướng cho tư duy và hành động, lấy mục tiêu độc lập và phát triển của dân tộc làm căn cứ
để xem xét lý luận, để lựa chọn con đường và bước đi cho cách mạng Việt Nam, nhờ đó mà
Trang 2tránh được giáo điều, rập khuôn (do chỉ biết lặp lại cái chung), đồng thời cũng tránh để không rơi vào cơ hội, xét lại (do quá nhấn mạnh cái riêng, cái đặc thù)
- Vận dụng lý luận vào thực tiễn phải linh hoạt, sáng tạo, phù hợp
+ Đi theo chủ nghĩa Mác - Lênin, tìm thấy con đường giải phóng dân tộc theo con đường CMVS Vận dụng vào thực tiễn Việt Nam, đáp ứng nhu cầu thực tiễn của CM Việt Nam, Hồ Chí Minh đề ra đường lối đúng đắn cho cách mạng: từ giải phóng dân tộc đến giải phóng giai cấp và giải phóng con người, tức là từ độc lập dân tộc tiến lên CNXH
+ Khi miền Bắc từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, tiền tư bản bước vào thời kỳ quá
độ lên CNXH, Hồ Chí Minh đặt vấn đề: “Chúng ta phải đùng những phương pháp gì, hình thức gì, đi theo tốc độ nào để tiến lên CNXH” và Người nhắc nhở: “Tuy chúng ta đã có những kinh nghiệm dồi đào của các nước anh em, nhưng chúng ta cũng không thể áp dụng những kinh nghiệm ấy một cách máy móc, bởi vì nước ta có những đặc điểm riêng của ta”
- Lý luận và thực tiễn có mối quan hệ biện chứng với nhau: “Thực hành sinh ra hiểu biết, hiểu biết tiến lên lý luận, lý luận lãnh đạo thực hành”
- Luôn yêu cầu gắn lý luận với thực tiễn, tránh lý luận suông và thực tiễn mù quáng
“Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn mù quáng”
- Người luôn coi trọng tổng kết kinh nghiệm và xem nó như một biện pháp để thực hiện sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, qua đó vừa nâng cao trình độ lý luận vừa nâng cao trình
độ thực tiễn
* Biện chứng trong xử lý mối quan hệ giữa mâu thuẫn và thống nhất của các mặt đối lập
- Thừa nhận tính phổ biến của mâu thuẫn
“Nội bộ của mọi vật đều có mâu thuẫn, nghĩa là có những cái khác nhau, trái nhau, chống nhau, như: phía mặt và phía trái Quá khứ và tương lai Cái này suy đồi, cái kia phát triển Cái cũ và cái mới Cái âm và cái dương.”
- Phân tích mâu thuẫn là điều kiện để nhận thức đúng sự vật Hồ Chí Minh là một bậc thầy trong nhận thức, phát hiện và xử lý mâu thuẫn
+ Trong đấu tranh dân tộc và đấu tranh giai cấp có nhận thức, phát hiện đúng mâu thuẫn mới xác định rõ kẻ thù và bạn đồng minh, mới đề ra được chiến lược, sách lược, bước đi đúng đắn cho mỗi giai đoạn của cách mạng
+ Trong giải quyết mâu thuẫn địch - ta, Hồ Chí Minh luôn coi trọng thu hẹp đến mức thấp nhất kẻ địch, mở rộng những lực lượng ủng hộ cách mạng
Lấy cái chung, cái tương đồng để khắc phục cái riêng, cái dị biệt; lấy nhân ái, khoan dung
để thu phục nhân tâm và cảm hoá lòng người; lấy sự nhân nhượng, thoả hiệp lẫn nhau để giải quyết mọi bất đồng
* Biện chứng giữa cái “bất biến” và cái “vạn biến”
- Hồ Chí Minh tiếp thu phép biện chứng mácxít, đồng thời cũng chịu ảnh hưởng của tư duy biện chứng phương Đông
- Người thường bắt đầu từ cái bất biến để đi tới cái khả biến của xã hội và con người:
+ “Tuy phong tục mỗi dân mỗi khác, nhưng có một điều thì dân nào cũng giống nhau ấy là dân nào cũng ưa sự lành, ghét sự dữ”
+ Khi nghe một vị ủy viên Ban vận động đời sống mới nói cần định ra một cái hướng mới cho cuộc vận động, vì khẩu hiệu “cần, kiệm, liêm, chính” xem ra vừa không đủ, vừa cổ thì
Hồ Chí Minh ngắt lời: “Cổ, lạ quá, thế cơm các cụ ăn ngày xưa, bây giờ mình ăn cũng cổ à?”
- Trước khi sang Pháp đàm phán, Người chỉ dặn lại cụ Huỳnh có một câu: “Mong cụ ở nhà: dĩ bất biến, ứng vạn biến” Đây là mối quan hệ giữa mục tiêu và phương pháp, nguyên tắc và sách lược Mục tiêu độc lập, thống nhất của Tổ quốc, tự do hạnh phúc của nhân dân,
đó là bất biến còn phương pháp - sách lược có thể tuỳ tình hình mà biến hoá đa dạng, thay đổi linh hoạt, nhưng không được xa rời cái bất biến
Trang 3*Biện chứng trong giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa dân tộc và giai cấp
- Giải phóng dân tộc cũng đồng thời và thực chất là giải phóng giai cấp (phù hợp với thực tiễn
xã hội Việt Nam: Giai cấp công nhân và giai cấp nông dân chiếm tuyệt đại đa số)
+ Quyền lợi của dân tộc và quyền lợi của giai cấp cơ bản thống nhất với nhau; có giành được ĐLDT mới giải phóng được giai cấp; không giành được ĐLDT thì quyền lợi của của giai cấp đến ngàn năm cũng không đòi được Do đó, giai cấp công nhân phải giương cao ngọn cờ ĐLDT
+ Quyền lợi của dân tộc chỉ được đảm bảo triệt để khi đặt dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân thông qua đội tiền phong của nó là Đảng Cộng sản, gắn chặt với quyền lợi của giai cấp công nhân và của nông dân Do đó, tính giai cấp, tính dân tộc, tính nhân dân là bản chất của Đảng ta khẳng định sức mạnh của chế độ ta là sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của đội tiền phong của giai cấp công nhân
*Xem xét một cách toàn diện, hệ thống, có trọng điểm, thiết thực
- Chiến lược phải nhìn xa, trông rộng; kế hoạch, biện pháp phải cụ thể, chu đáo; phải: nhìn cho rộng, suy cho kỹ
- Trong xem xét thế giới và xã hội loài người phải xem như là một hệ thống, thống nhất,
có quan hệ chặt chẽ với nhau (bao gồm cả kinh tế, chính trị, VH, xã hội, quá khứ, hiện tại và tương lai; cả truyền thống và hiện đại; cả ở phạm vi dân tộc và quốc tế)
- Trong xem xét, đánh giá con người, không chỉ chú ý đến các yếu tố cơ bản như: khả năng nhận thức và trình độ ý thức; tư tưởng và tình cảm; đức và tài; lời nói và hành động, cả mặt mạnh và mặt yếu…, mà còn xem xét toàn diện các mối quan hệ cá nhân, tập thể và cộng đồng
- Trong công tác phải có cái nhìn toàn cục, tránh chủ quan, phiến diện, cục bộ…
- Trong đánh giá tương quan so sánh lực lượng, phải đánh giá toàn bộ các yếu tố tạo nên sức mạnh tổng hợp như: CT, KT, VH, xã hội, quân sự,… cả sức mạnh vật chất và tinh thần;
cả sức mạnh truyền thống và hiện tại; cả sức mạnh d.tộc và sức mạnh thời đại; cả thế, thời và lực; cả thiên thời, địa lợi, nhân hoà; sức mạnh tổng hợp của mọi giai tầng trong xã hội
- Hồ Chí Minh luôn yêu cầu trong xem xét vấn đề phải toàn diện, hệ thống Song phải cụ thể, rõ ràng, có trọng điểm, thiết thực, nói được, làm được và để đến được với mọi người, không ôm đồm, tràn lan Phải đánh giá đúng vai trò, vị trí của từng yếu tố và sự tác động biện chứng của các yếu tố đó trong một hệ thống, một chỉnh thể thống nhất
- Phê phán quan điểm hẹp hòi, ích kỷ, chỉ biết lợi ích bộ phận mà quên lợi ích toàn thể; chỉ biết lợi ích của bộ phận mình mà quên lợi ích của Đảng
*Xem xét sự vật theo quan điểm phát triển, đổi mới, hướng về cái mới
- “Cách mạng là đổi mới” “Vì thế, xã hội và con người cũng phải luôn đổi mới, không đổi mới là lạc hậu” Do đó, phải nắm vững quy luật, xu hướng vận động, phát triển của con người và xã hội; phải nhạy bén với cái mới, tin tưởng, bồi dưỡng và phát huy cái mới để tiến lên
- Hồ Chí Minh đã có những dự đoán chính xác các sự kiện trọng đại của đất nước sẽ diễn
ra
+ Khi cách mạng gặp khó khăn nhất như trong kháng chiến chống Pháp, “Nay tuy châu chấu đá voi, nhưng mai voi sẽ bị lòi ruột ra”
+ Trong những ngày vô cùng ác liệt của cuộc kháng chiến chống Mỹ: “Cuộc kháng chiến chống Mỹ có thể sẽ kéo dài mấy năm nữa…Dù khó khăn gian khổ đến mấy, nhân dân ta nhất định hoàn toàn thắng lợi”
- Phát triển phải dựa trên cơ sở biết kế thừa, xử lý đúng đắn mối quan hệ cũ - mới trong đổi mới, cần kiên quyết phê phán mọi biểu hiện lạc hậu, bảo thủ
Trang 4“Không phải cái gì cũ cũng bỏ hết Không phải cái gì cũng làm mới Cái gì cũ mà xấu thì phải bỏ… Cái gì cũ mà không xấu nhưng phiền phức thì phải sửa đổi lại cho hợp lý… Cái gì
cũ mà tốt thì phải phát triển thêm… Cái gì mới mà hay thì ta phải làm”
*Quan điểm nhân văn tất cả vì hạnh phúc con người
- Tất cả vì con người và do con người; vì dân, do nhân dân; con người là vốn quý nhất, là lực lượng to lớn nhất, không có gì sánh bằng nhân dân
- Quan điểm nhân văn tất cả vì hạnh phúc con người của Hồ Chí Minh không chỉ là triết lý
sống mà còn được cụ thể hóa thành chiến lược về con người: Con người vừa là mục tiêu vừa
là động lực phát triển của xã hội
- Tư tưởng dân làm chủ: “Nước ta là nước dân chủ Bao nhiêu lợi ích đều vì dân Bao nhiêu quyền hạn đều của dân Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân… Chính quyền từ xã đến chính phủ trung ương do dân cử ra; đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”
- Phương pháp, tác phong công tác của Hồ Chí Minh: Tin, dựa vào dân và học hỏi dân, có dân là có tất cả; nước phải lấy dân làm gốc “dễ mười lần ”
3 Ý nghĩa của vấn đề đối với sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam hiện nay
Việc nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung và tư tưởng triết học Hồ Chí Minh nói riêng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, là cơ sở lý luận để Đảng và Nhà nước ta hoạch định chủ trương, đường lối chính sách trong quá trình lãnh đạo và tổ chức xây dựng Đất Nước trong tình hình mới
- Tư tưởng triết học Hồ Chí Minh là cơ sở thế giới quan, phương pháp luận khoa học cách mạng, là linh hồn, ngọn cờ thắng lợi của cách mạng Việt Nam trong suốt hơn nửa thế kỷ qua Cùng với chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh mà hạt nhân là thế giới quan, phương pháp luận duy vật biện chứng luôn là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng và nhân dân ta
Đối với sự nghiệp đổi mới của Đảng ta trong tình hình hiện nay, phương pháp luận triết học trong tư tưởng Hồ Chí Minh có số ý nghĩa rất quan trọng, cơ sở để xem xét:
- Mọi đường lối, chính sách của Đảng phải xuất phát từ thực tiễn…
- Phân tích mâu thuẫn của thời cuộc…
- Kiên định mục tiêu “ĐLDT gắn liền với CNXH” với thực hiện các chiến lược phát triển kinh tế xã hội…
- Giải quyết mối quan hệ giữa dân tộc và giai cấp…
* Ý nghĩa đối với cán bộ trong quân đội hiện nay
- Nghệ thuật lợi dụng mâu thuẫn trong hàng ngũ để phân hoá kẻ thù
- Kết hợp nhuần nhuyễn giữa nắm và giữ vững nguyên tắc với thực hành chiến thuật, linh hoạt, nhạy bén xử trí các tình huống đặt ra trong t.tiễn
- Ng.thuật nhân tâm đánh vào lòng người, nắm, tranh thủ t.cơ lực lượng p.huy sức mạnh tổng hợp
Trang 5TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠO ĐỨC
Tư tưởng triết học Hồ Chí Minh về đạo đức là sự kết tinh của tư tưởng Hồ Chí Minh, nó xuyên suốt trong con người, trong mục tiêu và hành động của Người Tư tưởng triết học Hồ Chí Minh về đạo đức chính là đạo lý làm người trong triết lý hành động Hồ Chí Minh Những triết lý sống được Người biến thành những điều bình thường, gần gũi cuộc sống, sự bình thường, giản dị nhưng lại hàm chứa nội dung thông tin phong phú và sâu sắc Bởi vậy, làm rõ nội dung tư tưởng triết học về đạo đức của Bác không phải chỉ bằng lý luận và cần có
cả sự đồng cảm, có cả phần nhận biết và cả phần rung động của con tim Hồ Chí Minh không
tự nhận mình là nhà triết học, nhưng trong tư tưởng của Người nói chung và tư tưởng đạo đức nói riêng luôn nhất quán một thế giới quan, phương pháp biện chứng duy vật và nhân sinh quan cách mạng
1 Cơ sở hình thành
- Tư tưởng THĐĐHồ Chí Minh là sự thống nhất giữu triết lý sống DTViệt Nam và truyền thống văn hoá, đạo đức dân tộc:
- Giá trị văn hoá đạo đức phương đông, phương tây:
+ Giá trị văn hoá đạo đức phương đông:
Tư tưởng đạo đức nho giáo, phật giáo, Đạo giáo
+ Giá trị văn hoá, đạo đức phương tây:
Tư tưởng của các nhà khai sáng pháp: tự do, bình đẳng, bác ái
Thực tiễn văn minh của KHKT, văn hoá ở phương tây
- Lý tưởng giải phóng con người và phát triển con người của chủ nghĩa Mác-Lênin, nguồn gốc quyết định luận TT THĐĐHồ Chí Minh
+ Tháng 7/1920 đọc bản sơ thảo về vấn đề DT thuộc địa đã giúp người tìm ra con đường cứu nước, giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội và con người theo con đường cách mạng vô sản
+ Tư tưởng về xây dựng nền đạo đức CSchủ nghĩa hướng tới con người, vì con người của chủ nghĩaMLN
Vai trò nhân tố chủ quan Hồ Chí Minh:
+ Truyền thống quê hương, gia đình
+ Thiên tài và phẩm chất, nhân cách Hồ Chí Minh
2 Nội dung tư tưởng triết học Hồ Chí Minh về đạo đức
*Thế giới quan duy vật khoa học
- Đạo đức luôn đứng vững trên mãnh đất hiện thực: Nghĩa là, mỗi quan điểm, tư tưởng đạo đức đều gắn với đời sống, gắn với các quan hệ xã hội hiện thực, gắn đạo đức với thực tiễn lao động sản xuất và đấu tranh cách mạng (Đạo đức cũ là ngược đầu và ngược lại)
- Hồ Chí Minh rất chú trọng phát huy vai trò nhân tố chủ quan, vai trò của con người trong giáo dục, rèn luyện, xây dựng đạo đức Bên cạnh đó Người yêu cầu phải chống bệnh chủ quan và chủ nghĩa cá nhân, coi đó như một kẻ địch to trong bản thân mỗi con người cần phải
loại bỏ, (gắn nâng cao đạo đức cách mạng với quét sạch chủ nghĩa cá nhân).
- Mỗi quan điểm, tư tưởng đạo đức đều gắn với đời sống, gắn với các quan hệ xã hội hiện thực, gắn đạo đức với thực tiễn lao động sản xuất và đấu tranh cách mạng
- Hồ Chí Minh đã nắm vững quan điểm mácxít về vấn đề lợi ích (Lợi ích đúng đắn là cơ
sở của toàn bộ đạo đức) để giáo dục, giác ngộ quần chúng trong quá trình đấu tranh cách mạng
*Về phương pháp biện chứng duy vật
Hồ Chí Minh ít nói và viết về những nguyên lý, quy luật và phạm trù của phép biện chứng, song phương pháp biện chứng lại là phương pháp cơ bản nhất được vận dụng cả trong lý luận
và thực hành đạo đức của Người Đó là:
- Quan điểm biện chứng giữa Hồng - Chuyên, Đức - Tài (trong đó đức là gốc)
Trang 6- Quan điểm biện chứng giữa đạo đức - chính trị và yêu cầu mỗi người suốt đời hy sinh phấn đấu cho mục tiêu lý tưởng của cách mạng là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội (Đạo đức là cơ sở xã hội của pháp luật và là điểm mấu chốt có tính nguyên tắc trong tư tưởng đạo đức của Người Trong pháp luật, tất cả các quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân, tôn trọng và bảo đảm trên thực tế các quyền tự do cơ bản, các lợi ích chính đáng, danh dự và nhân phẩm của con người) “Đạo đức công dân là chấp hành pháp luật”
- Quan điểm biện chứng giữa nghĩa vụ - quyền lợi, lợi ích cá nhân - lợi ích tập thể
- Kịp thời phát hiện mâu thuẫn (thiện - ác) và giải quyết triệt để mâu thuẫn trong xây dựng con người và đạo đức cách mạng
-Tư tưởng về phủ định biện chứng: Tư tưởng triết học Hồ Chí Minh về đạo đức là sự
kế thừa những tinh hoa, loại bỏ những cái lỗi thời, không phù hợp trong bồi dưỡng đạo đức cách mạnh; (về việc thực hiện chính tâm: “Chúng ta hoặc ít hoặc nhiều, đều mắc phải tư tưởng, tập quán, tác phong của xã hội cũ Cho nên phải thực hiện hai chữ chính tâm…)
- Hồ Chí Minh luôn quán triệt quan điểm phát triển trong xây dựng con người và đạo đức cách mạng
- Có quan điểm toàn diện, lịch sử, cụ thể trong xem xét, đánh giá đạo đức của con người
và có tiêu chuẩn phù hợp với từng đối tượng cụ thể
*Những vấn đề có tính quy luật trong hình thành đạo đức mới - đạo đức cách mạng
- Tự phê bình và phê bình
- Giáo dục và tự giáo dục
- Tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm xây dựng chủ nghĩa xã hội
*Con đường hình thành đạo đức mới
- Tu dưỡng đạo đức cách mạng là công việc suốt đời
- Nói đi đôi với làm, phải nêu gương về đạo đức
- Xây đi đôi với chống, nâng cao đạo đức cách mạng gắn liền với chống chủ nghĩa cá nhân
Tóm lại: Để trở thành con người có đạo đức và phát huy lý thuyết đạo đức với những người đồng thời và thế hệ mai sau Hồ Chí Minh không xuất phát từ cái không, không từ lý thuyết tư biện nào để đưa ra lý luận Hồ Chí Minh đã tiếp thu tinh hoa triết lý sống dân tộc, triết học Phương Đông, Phương Tây, triết học đạo đức học Mác - Lênin, đồng thời lấy ngay bài học từ những trang sách cuộc đời của mình để khái quát lý luận về đạo đức ở tầng triết học Tư tưởng triết học Hồ Chí Minh về đạo đức là cơ sở thế giới quan, phương pháp luận giúp chúng ta đi sâu nghiên cứu, nâng cao nhận thức và xây dựng đạo đức mới ở nước ta hiện nay Giúp chúng ta có cơ sở khoa học đấu tranh phê phán những quan niệm duy tâm phản động về đạo đức
3 Vận dụng tư tưởng triết học Hồ Chí Minh về đạo đức vào xây dựng đạo đức mới ở nước ta hiện nay
Để trở thành con người có đạo đức và phát huy lý thuyết đạo đức với những người đồng thời và thế hệ mai sau Hồ Chí Minh không xuất phát từ cái không, không từ lý thuyết tư biện nào để đưa ra lý luận Hồ Chí Minh đã tiếp thu tinh hoa triết lý sống dân tộc, triết học Phương Đông, Phương Tây, triết học đạo đức học Mác – Lênin, đồng thời lấy ngay bài học
từ những trang sách cuộc đời của mình để khái quát lý luận về đạo đức ở tầng triết học Tư tưởng triết học Hồ Chí Minh về đạo đức là cơ sở thế giới quan, phương pháp luận giúp chúng
ta đi sâu nghiên cứu, nâng cao nhận thức và xây dựng đạo đức cách mạng cho cán bộ chiến sĩ quân đội ta hiện nay Giúp chúng ta có cơ sở khoa học đấu tranh phê phán những quan niệm duy tâm phản động về đạo đức
- Xây dựng xã hội tốt đẹp thực sự - xã hội chủ nghĩa để hình thành đạo đức cách mạng (duy vật) Chú trọng lợi ích chính đáng của các cá nhân
- GD, rèn luyện ĐĐCM theo tu tưởng và tấm gương ĐĐHồ Chí Minh
Trang 7- Thực hiện tốt các yêu cầu sau:
+ Giáo dục, rèn luyện ĐĐCM theo tư tưởng ĐĐ Hồ Chí Minh phải thường xuyên kết hợp chặt chẽ giữa học tập tư tưởng với thực hành đạo đức, giữa lý luận với thực tiễn, giữa quá trình hình thành thế giới tinh thần cao đẹp với hoạt động thực tiễn phong phú
+ Giáo dục, rèn luyện ĐĐCM phải trên cơ sở các n.tắc, chuẩn mực đạo đức chung của tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, xuất phát từ mục tiêu, nhiệm vụ cách mạng để xác định nội dung, biện pháp giáo dục cho phù hợp
+ Biến quá trình giáo dục, rèn luyện ĐĐCM tự giáo dục, tự rèn luyện của mỗi người +Chú trọng xây dựng môi trường văn hóa đạo đức xã hội lành mạnh
+ Kết hợp chặt chẽ giữa xây với chống
TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC HỒ CHÍ MINH VỀ VĂN HOÁ
Tư tưởng triết học Hồ Chí Minh về văn hóa là một hệ thống các quan điểm lý luận mang tính khoa học và cách mạng về văn hóa và xây dựng nền vân hóa Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của văn hóa dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại trong việc xem xét, đánh giá và phát huy vai trò to lớn của văn hóa với tư cách là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội Đây là di sản có giá trị to lớn cả phương diện lý luận và thực tiễn đối với cách mạng nước ta
Ngày nay, trong sự nghiệp xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc theo Nghị quyết Trung ương 9 khóa XI, về “xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước”, Tư tưởng triết học Hồ Chí Minh
về văn hóa vẫn luôn là một điểm tựa tinh thần vững chắc
Mang trong mình truyền thống văn hoá phương Đông, lại được tiếp thu những tinh hoa văn hoá của nhiều dân tộc trên thế giới, đặc biệt là ánh sáng khoa học của chủ nghĩa Mác -Lênin, Hồ Chí Minh khẳng định: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hoá Văn hoá là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh
ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” (t.3, tr 431)
Một là, nhân dân là người sáng tạo văn hoá.
Khác với quan điểm của giai cấp thống trị, Hồ Chí Minh nhìn thấy vai trò to lớn của nhân dân, trước hết là nhân dân lao động trong việc sáng tạo văn hoá Văn hoá không phải là sự sáng tạo riêng của các vĩ nhân, các nghệ sĩ, nghệ nhân, của giai cấp thống trị , mà văn hoá trước hết là của nhân dân và do nhân dân sáng tạo ra, Người khẳng định: Quần chúng không chỉ là người sáng tạo ra những của cải vật chất cho xã hội mà còn là người sáng tác, kiểm nghiệm và có quyền hưởng thụ các giá trị văn hoá Chính vì thế, đội ngũ cán bộ văn hóa “cần phải giúp những sáng tác của quần chúng Những sáng tác ấy là những hòn ngọc quý Muốn làm như thế thì cố nhiên là phải có chính trị, có kỹ thuật, thì mới mài cho viên ngọc ấy thành tốt, khéo và đẹp” (Sđd, t.9, tr.250) Do đó, theo Hồ Chí Minh, động lực của sự phát triển văn hoá nằm chính trong nhân dân Công tác xây dựng văn hoá phải quán triệt và thực hiện tốt quan điểm quần chúng, sáng tạo văn hoá là sự nghiệp của dân, do dân và vì dân
Hai là, xây dựng và nhân điển hình văn hoá (người tốt - việc tốt).
Hồ Chí Minh cho rằng, việc nêu gương và cổ vũ người tốt việc tốt không những có ý nghĩa động viên mọi người hoàn thành các nhiệm vụ cách mạng trước mắt, mà còn là một trong những biện pháp cơ bản để xây dựng Đảng và các lực lượng nòng cốt của cách mạng, xây dựng con người mới và cuộc sống mới, đồng thời để động viên người người thi đua,
Trang 8ngành ngành thi đua, làm cho phần tốt ở trong mỗi con người được giữ gìn và phát triển Đó
là những tấm gương có thật trong nhân dân và cán bộ, đảng viên Theo Người “Mỗi con người đều có thiện và ác ở trong lòng Ta phải làm cho phần tốt ở trong mỗi con người nảy
nở như hoa mùa xuân và phần xấu mất dần đi, đó là thái độ của người cách mạng” (t.12, tr.558)
Ba là, giữ gìn, kế thừa và phát triển văn hoá dân tộc.
Trên tinh thần biện chứng, Theo Hồ Chí Minh phải coi trọng những truyền thống văn hoá tốt đẹp của cha ông, giữ gìn, khôi phục những yếu tố tích cực, loại bỏ những yếu tố tiêu cực trong đời sống văn hoá tinh thần của nhân dân
Bảo tồn, phát huy truyền thống gắn liền với phát triển, nâng nó lên một trình độ và chất lượng mới nhằm đáp ứng trình độ văn hóa ngày càng tăng của nhân dân
Đề cao bản sắc văn hoá dân tộc, Hồ Chí Minh phê phán những thói lai căng văn hoá, quá
đề cao văn hoá ngoại, coi nhẹ văn hoá dân tộc trong giới trí thức, văn nghệ sĩ và cảnh báo về nguy cơ “mất gốc” văn hoá trong giới trí thức và văn nghệ sĩ nước ta Đồng thời, Người khuyên phải giữ gìn và phát huy những truyền thống và bản sắc dân tộc, phát huy cốt cách dân tộc, tinh thần dân tộc để cổ vũ đồng bào ta, để giáo dục con cháu ta
Bốn là, tiếp thu và làm phong phú thêm tinh hoa văn hoá nhân loại.
Việc tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại để xây dựng nền văn hóa cách mạng, vừa là một truyền thống lịch sử, vừa là một nhu cầu tất yếu khách quan Nền văn hóa Việt Nam được hình thành và phát triển trong lịch sử lâu dài của dân tộc không phải là kết quả vận động chỉ riêng những yếu tố nội sinh, mà còn là kết quả của quá trình tiếp thu văn hóa nhân loại “Trung Hoa và Việt Nam có cái quan hệ mấy ngàn năm với nhau về mọi phương diện văn hoá, chính trị, kinh tế” (t.4, tr.84) “Văn hoá, triết học và nghệ thuật của nước Ấn
Độ đã phát triển rực rỡ và có những cống hiến to lớn cho loài người Nền tảng và truyền thống của triết học Ấn Độ là lí tưởng hoà bình bác ái” (t.9, tr.43)
Năm là, mối quan hệ biện chứng giữa văn hóa với các lĩnh vực khác của đời sống xã hội.
Theo Hồ Chí Minh, muốn tiến lên CNXH, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân thì phải phát triển kinh tế và văn hoá Người cho rằng, trong công cuộc kiến thiết nước nhà có bốn vấn đề phải chú ý, coi trọng ngang nhau là: Chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá - đây là bốn vấn đề chủ yếu của đời sống xã hội và các vấn đề này có mối quan hệ rất mật thiết với nhau Vì thế, trong cuộc xây dựng đất nước, cả bốn vấn đề này phải được coi trọng như nhau
- Văn hoá và phát triển xã hội: “Bây giờ mình cũng phải đánh thắng giặc nghèo khổ lạc hậu; chống lụt, chống hạn, cũng đều là đánh giặc, cũng khó khăn, gian khổ” (t.11, tr.136)
- Văn hoá và kinh tế: “Muốn tiến lên chủ nghĩaxã hội thì phải phát triển kinh tế và văn hoá” (t.10, tr.59)
- Văn hoá không nằm ngoài mà phải ở trong kinh tế và chính trị: “Văn hoá, nghệ thuật cũng như mọi hoạt động khác, không thể đứng ngoài, mà phải ở trong kinh tế và chính trị” (t.6, tr.368-369)
Sáu là, đánh giá đúng vị trí, đồng thời phát huy tốt vai trò của văn hóa.
Theo Hồ Chí Minh, văn hoá phải hướng vào phục vụ đại đa số nhân dân chứ không phải là độc quyền hưởng thụ của bọn thống trị, bóc lột và tầng lớp trí thức Người chỉ ra rằng: “Văn hoá phải thiết thực phục vụ nhân dân, góp phần vào việc nâng cao đời sống vui tươi, lành mạnh của quần chúng - nội dung văn hoá phải có ý nghĩa giáo dục Ví dụ: Phải giáo dục thế nào là đời sống mới, thế nào là đạo đức cách mạng”(Sđd, t.10, tr.59)
Văn hóa phải phục tùng nhiệm vụ cách mạng: “Rõ ràng là dân tộc bị áp bức, thì văn nghệ cũng mất tự do Văn nghệ muốn tự do thì phải tham gia cách mạng” (t.10, tr.646)
Trang 9Văn hóa có vai trò rất quan trọng đối với việc xây dựng con người Việt Nam trong thời đại mới Hồ Chí Minh cho rằng: Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội phải có những con người xã hộichủ nghĩa: Muốn xây dựng xã hộichủ nghĩa phải có tinh thần xã hộichủ nghĩa, muốn có tinh thần xã hộichủ nghĩa phải đánh bại chủ nghĩa cá nhân" (t.9, tr.472)
Bảy là, Quan điểm về xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
- Xác định hệ tiêu chí
+ Về văn hoá: “Thực hành chế độ giáo dục bắt buộc, mở nhiều trường học, rạp hát, tổ chức các lớp bình dân học vụ, giúp đỡ những người nghèo mà hiếu học” (t.4, tr.118)
+ “Năm điểm lớn xây dựng nền văn hoá dân tộc
1 xây dựng tâm lí: tinh thần độc lập tự cường
2 xây dựng luân lí: biết hi sinh mình, làm lợi cho quần chúng
3 xây dựng xã hội: mọi sự nghiệp có liên quan đến phúc lợi của nhân dân trong xã hội
4 xây dựng chính trị: dân quyền
5 xây dựng kinh tế” (t.4, tr.431)
- Tích luỹ giá trị: “Về văn hoá, Chính phủ sẽ chú ý trình độ học thức cho dân tộc” (t.4, tr.xây dựng); “Các cán bộ văn hoá cần phải giúp những sáng tác của quần chúng Những sáng tác ấy là những hòn ngọc quý Muốn làm như thế thì cố nhiên là phải có chính trị, có kĩ thuật thì mới mài cho viên ngọc ấy thành tốt, khéo và đẹp” (t 9, tr.250)
Vận dụng vào việc xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc ở Việt Nam hiện nay
Văn kiện Đại hội X, XI được sử dụng rất rộng rãi "xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; xây dựng con người, công bằng xã hội" và mối quan hệ "giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiên bộ và công bằng xã hội’" (Cương lĩnh 2011) Những luận điêm trên thê hiện rõ, văn kiện Đại hội XI đã xác định văn hóa là một nhân tố trực tiếp và quan trọng tạo nên sự phát triển toàn diện và bền vững của đất nước
Ngày nay, trong sự nghiệp xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân
tộc theo Nghị quyết Hội nghị lần thứ Chín Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XI: Về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước, Tư tưởng triết học Hồ Chí Minh về văn hóa vẫn luôn là một điểm tựa tinh thần vững
chắc Đồng thời, với sức sống mãnh liệt, tự nó, tư tưởng triết học Hồ Chí Minh về văn hóa đã
và đang trở thành một bộ phận của nền văn hoá Việt Nam
Nền văn hóa Việt Nam tiên tiến là một nền văn hóa yêu nước và tiến bộ mà nội dung cốt lõi là lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh và tinh hoa văn hóa nhân loại nhằm mục tiêu tất cả vì con người, tất
cả vì tự do, hạnh phúc và sự phát triển phong phú, toàn diện cho mỗi con người trong mối quan hệ hài hòa giữa cá nhân và cộng đồng, giữa con người và tự nhiên Bản sắc dân tộc của văn hóa Việt Nam bao gồm những giá trị bền vững, những tinh hoa được vun đắp nên qua hàng nghìn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước Đó là lòng yêu nước nồng nàn; lòng tự tôn, tự cường dân tộc; tinh thần cộng đồng gắn kết hài hòa giữa cá nhân gia đình làng xã
-Tổ quốc; lòng nhân ái bao dung, trọng nghĩa tình, đạo lý; đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động; là đức hy sinh cao thượng tất cả vì độc lập dân tộc, vì hạnh phúc của nhân dân; là sự ứng xử văn minh, lịch sự, tính giản dị và trong sạch trong lối sống
- Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, động lực phát triển bền vững đất nước Văn hóa phải được đặt ngang hàng với kinh tế, chính trị, xã hội
- Xây dựng và phát triển văn hóa là sự nghiệp của toàn dân do Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân là chủ thể sáng tạo, đội ngũ trí thức giữ vai trò quan trọng
- Văn hóa phải được đặt ngang hàng với kinh tế, chính trị, xã hội; tăng trưởng kinh tế phải
đi đôi với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội
Trang 10- Xây dựng đồng bộ môi trường văn hóa, trong đó chú trọng vai trò của gia đình, cộng đồng Phát triển hài hòa giữa kinh tế và văn hóa; cần chú ý đầy đủ đến yếu tố văn hóa và con người trong phát triển kinh tế
Phát triển văn hóa vì sự hoàn thiện nhân cách con người và xây dựng con người để phát triển văn hóa Trong xây dựng văn hóa, trọng tâm là chăm lo xây dựng con người có nhân cách, lối sống tốt đẹp, với các đặc tính cơ bản: yêu nước, nhân ái, nghĩa tình, trung thực, đoàn kết, cần cù, sáng tạo
- Xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh
- Xây dựng văn hóa trong chính trị và kinh tế
- Nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động văn hóa
- Phát triển công nghiệp văn hóa đi đôi với xây dựng, hoàn thiện thị trường văn hóa
- Chủ động hội nhập quốc tế về văn hóa, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại
*Giải pháp
- Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với lĩnh vực văn hóa
- Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về văn hóa
- Xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác văn hóa
- Tăng cường nguồn lực cho lĩnh vực văn hóa
TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC HỒ CHÍ MINH VỀ CON NGƯỜI
Thấm nhuần quan điểm cải tạo thế giới của triết học Mác, vấn đề được Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm là vấn đề con người và sự nghiệp giải phóng con người
Con người trong tư tưởng Hồ Chí Minh không phải là con người chung chung, trừu tượng, phi lịch sử, mà là con người hiện thực, cụ thể, sinh động, trước hết là nhân dân lao động và quần chúng bị áp bức ở khắp mọi nơi, không phân biệt dân tộc và màu da
Nội dung tư tưởng triết học Hồ Chí Minh về con người là một bộ phận quan trọng của tư
tưởng triết học Hồ Chí Minh và nó có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự nghiệp đổi mới ở nước ta hiện nay
1 Cơ sở hình thành tư tưởng triết học Hồ Chí Minh về con người
*Về lý luận - tư tưởng
- Tư tưởng triết học và truyền thống văn hoá Việt Nam về con người
- Tinh hoa triết học, văn hoá phương Đông, phương Tây về con người
- Triết học Mác-Lênin về con người.
* Cơ sở thực tiễn
Hoàn cảnh đất nước lầm than, nô lệ Đồng thời thế giới sống trong cảnh bị áp bức, bóc lột của chủ nghĩaĐQ
Hoạt động đấu tranh cách mạng không mệt mỏi vì con người và gp con người của Chủ tịch
Hồ Chí Minh
*Phẩm chất, nhân cách Hồ Chí Minh: giàu lòng yêu thương con người.
2 Tư tưởng triết học Hồ Chí Minh về con người
Hồ Chí Minh không đưa ra một khái niệm hoàn chỉnh về con người, nhưng dựa trên cơ sở thế giới quan, phương pháp luận duy vật biện chứng, Người đưa ra các tư tưởng toàn diện và sâu sắc về con người
*Về nguồn gốc, bản chất con người
- Con người là một thực thể mang tính xã hội Tính xã hội đó được hình thành trong tổng
hòa các quan hệ xã hội với nhiều cấp độ khác nhau “Chữ Người, nghĩa hẹp là gia đình, anh
em, họ hàng, bạn bè Nghĩa rộng là đồng bào cả nước Rộng hơn nữa là cả loài người” Con người ở đây vừa là mỗi thành viên cụ thể, vừa là những cộng đồng người trong xã hội Trong
cộng đồng con người Việt Nam, rõ ràng quan hệ gia đình, anh em, họ hàng là rất quan trọng.