Trong quá trình vận động và phát triển của lịch sử văn hoá nhân loại nói chung và tư tưởng triết học nói riêng, triết học Phương Đông và triết học Phương Tây có nhiều nội dung phong phú, đa dạng. Những giá trị của nó đó để lại dấu ấn đậm nét và có ảnh hưởng lớn đối với lịch sử loài người. Triết học Phương Đông và triết học Phương Tây không thể thoát ly những vấn đề chung của lịch sử triết học. Mặc dù vậy, giữa triết học Phương Đông và triết học Phương Tây vẫn có những đặc điểm đặc thù của nó.
Trang 1MỞ ĐẦU
Trong quá trình vận động và phát triển của lịch sử văn hoá nhân loại nóichung và tư tưởng triết học nói riêng, triết học Phương Đông và triết học PhươngTây có nhiều nội dung phong phú, đa dạng Những giá trị của nó đó để lại dấu ấnđậm nét và có ảnh hưởng lớn đối với lịch sử loài người Triết học Phương Đông vàtriết học Phương Tây không thể thoát ly những vấn đề chung của lịch sử triết học.Mặc dù vậy, giữa triết học Phương Đông và triết học Phương Tây vẫn có nhữngđặc điểm đặc thù của nó Nghiên cứu về triết học Phương Đông và triết họcPhương Tây, đặc biệt là so sánh sự khác nhau của nó là một vấn đề phức tạp, nhưngcũng rất lý thú, vì qua đó ta có thể hiểu biết sâu sắc thêm những giá trị về tưtưởng văn hoá của nhân loại Mặt khác, bản sắc văn hoá Việt Nam ảnh hưởng khásâu sắc bởi nền triết học Phương Đông, do đó nghiên cứu những đặc điểm của triếthọc Phương Đông trong mối quan hệ với đặc điểm của triết học Phương Tây, đặcbiệt là những tư tưởng nhân văn trong thời khai sáng sẽ giúp chúng ta hiểu biết sâusắc hơn bản sắc văn hoá Việt Nam
Với một tinh thần đó, tôi chọn nội dung bài viết “Điểm khác nhau và điểmđặc thù của triết học phương Đông và phương Tây luận giải những điểm đó thôngqua tư tưởng của các nhà tư tưởng ở phương Đông và phương Tây” từ đó muốnchỉ ra một số khác biệt và điểm đặc thù của hai nền triết học phương Đông và triếthọc phương Tây Thông qua đó để thấy được những ưu điểm, khuyết điểm của cácnền triết học ấy, nhằm nhận thức đúng đắn, khoa học và thực sự khách quan, đểhọc hỏi và phát huy những ưu điểm, đồng thời khắc phục những hạn chế, thiếu sótcủa từng nền triết học trong quá trình phát triển đi lên của cách mạng Việt Namhiện nay
Trang 21 SO SÁNH ĐẶC ĐIỂM CỦA TRIẾT HỌC PHƯƠNG ĐÔNG VÀ TRIẾT HỌC PHƯƠNG TÂY ĐỂ THẤY ĐIỂM KHÁC NHAU VÀ ĐIỂM ĐẶC THÙ
1.1 Sự giống nhau
Điều đầu tiên có thể thấy đó là dù khác nhau về vị trí địa lý, mốc thời gianhình thành và phát triển,… thì giữa những trường phái triết học, tư tưởng triết họcvẫn có những sự tương đồng ở khía cạnh nào đó Triết học phương Đông và triếthọc phương Tây cũng không là ngoại lệ
C.Mác đó viết: Để hiểu rừ tư tưởng của một thời đại nào đó thì chỳng ta phảihiểu được điều kiện sinh hoạt vật chất của thời đại đó Bởi vì , theo C.Mỏc, tồn tại
xã hội luôn quyết định ý thức xã hội, do đó nó phản ánh tồn tại xã hội – nhữngđiều kiện sinh hoạt vật chất của xã hội Chớnh vì thế, cỏc trào lưu triết họcPhương Đông và Phương Tây đều được nảy sinh trên những điều kiện kinh tế - xãhội trong giai đoạn lịch sử nhất định Xét trong mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng vàkiến trúc thượng tầng, thì triết học là một yếu tố của kiến trỳc thượng tầng, do đócác học thuyết triết học Đông – Tây đều chịu sự quyết định của cơ sở hạ tầng vàđến lượt nó cũng có vai trũ hết sức to lớn đối với cơ sở hạ tầng
Triết học Phương Đông và Phương Tây đều được hình thành, phát triểntrong cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy tâm, giữa phương pháp siêu hình vàphương pháp biện chứng Thực chất cuộc đấu tranh này là một phần cuộc đấu tranh
tư tưởng của những giai cấp đối kháng trong xã hội Những quan niệm duy vậtthường gần gũi và gắn liền với những lực lượng tiến bộ trong xã hội và ngược lạinhững quan niệm duy tâm thường gần gũi và gắn liền với lực lượng lạc hậu, bảothủ trong xã hội
Triết học Phương Đông và Phương Tây có thể sử dụng những khái niệm,phạm trù khác nhau nhưng đều phải bàn đến vấn đề cơ bản của triết học, đồng thời
Trang 3đều tuân theo những phương pháp chung trong nhận thức thế giới: Phương phápbiện chứng hoặc Phương pháp siêu hình
Triết học Phương Đông và Phương Tây đều bàn đến vấn đề con người ởnhững khía cạnh khác nhau, mức độ đậm nhạt khác nhau và qua những thời kỳ lịch
sử khác nhau đều có cách đánh giá khác nhau về con người
Các học thuyết triết học ở Phương Đông hay Phương Tây đều có khuynhhướng chung là xâm nhập lẫn nhau, vừa có sự kế thừa giữa các học thuyết, hoặctrong sự phát triển của học thuyết đó, vừa có sự đào thải, lọc bỏ những quan niệmlạc hậu, hoặc những quan niệm khụng phự hợp với nhón quan của giai cấp thốngtrị
Mỗi học thuyết trong triết học ở Phương Đông hay Phương Tây cũng vậy,đều có những mặt tích cực và hạn chế của nó nhưng đó gúp phần tạo nên nhữnggiá trị văn minh nhân loại
1.2 Sự khác nhau và nét đặc thù
Triết học là một hình thái ý thức xã hội, là sự phản ánh tồn tại của xã hội
và đặc biệt sự tồn tại này ở xã hội phương Đông khác hẳn với phương Tây về bốicảnh xã hội ra đời, phát triển, điều kiện tự nhiên, đối tượng nghiên cứu, phươngpháp nhận thức và hệ tư tưởng
Triết học là hình thái ý thức xã hội ra đời từ khi chế độ cộng sản nguyênthuỷ được thay thế bằng chế độ chiếm hữu nô lệ Những triết học đầu tiên tronglịch sử xuất hiện vào khoảng thế kỷ VIII – VI trước công nguyên ở Ấn Độ cổ đại,Trung quốc cổ đại, Hy Lạp và La Mã cổ đại và ở các nước khác
Theo quan điểm của mác xít triết học là một hình thái ý thức xã hội, là họcthuyết về những nguyên tắc chung nhất của tồn tại và nhận thức về thái độ của conngười đối với thế giới, là khoa học về những quy luật chung nhất của tự nhiờn, xãhội và tư duy Như vậy triết học là một hình thái ý thức xã hội, là sự phản ánhtồn tại của xã hội và đặc biệt sự tồn tại này ở xã hội phương Đông khác hẳn vớiphương Tây về cả điều kiện tự nhiên, địa lý dõn số mà hơn cả là phương thức của
Trang 4sản xuất của phương Đông là phương thức sản xuất nhỏ còn phương Tây làphương thức sản xuất của tư bản do vậy mà cái phản ánh ý thức cũng khác: vănhoá phương Đông mang nặng tính chất cộng đồng còn phương Tây mang tính cáthể.
Sự khác biệt căn bản của triết học phương Tây và phương Đông còn đượcthể hiện cụ thể như sau:
1.2.1 Bối cảnh xã hội ra đời, phát triển
Đặc điểm hai loại hình cơ sở xã hội Đông - Tây là tĩnh, ổn định đối nghịchvới động, biến động nhanh Triết học lỏng lẻo, mềm dẻo của Đông đối lại là triếthọc chặt chẽ, thống nhất thành hệ thống của Tây Triết học phương Tây đi từ gốclên ngọn (từ thế giới quan, vũ trụ quan, bản thể luận từ đó xây dựng nhân sinhquan con người;) trong khi triết học phương Đông đi từ ngọn xuống gốc (từ nhânsinh quan, vấn đề cách sống, lối sống sau đó mới là vũ trụ quan, bản thể luận ) Đó
là 2 nét chính của hai nền triết học Đông - Tây
Nếu như ở phương Tây, triết học được xây dựng bởi chủ yếu là các nhà khoahọc, gắn liền với các thành tựu khoa học, đặc biệt là khoa học tự nhiên thì ởphương Đông, triết học gắn với những hiền triết - nhà tôn giáo, nhà giáo dục đạođức, chính trị-xã hội
Vậy nên đặc điểm chủ đạo là các nhà Triết học phương Tây thiên về giảithích thế giới theo nhiều cách còn mục đích chính của phương Đông là cải tạo thếgiới gồm có : ổn định xã hội, giải thoỏt cho con người và làm sao cho con ngườihoà đồng với thiên nhiên
Nguồn gốc là do ở phương Đông, thượng tầng kiến trúc ra đời trước và thúcđẩy dự phát triển của hạ tầng cơ sở, còn ở phương Tây hạ tầng cơ sở quyết địnhđến thượng tầng kiến trúc
1.2.2 Nếu như triết học phương Đông tập trung nghiên cứu nhân sinh quan, rồi mới tiếp cận với thế giới quan thì ngược lại, triết học phương Tây ngay từ đầu
Trang 5đã nghiên cứu về thế giới quan, vũ trụ quan, bản thể luận rồi đến nhân sinh quan
Đây là điểm khác biệt căn bản nhất của hai nền triết học phương Đông phương Tây Chính điểm khác biệt này đã quy định toàn bộ các điểm khác biệtkhác của hai nền triết học, khi nó đi sâu vào nhận thức, khám phá thế giới xungquanh
-Khi tìm cách trả lời cho câu hỏi vậy thế giới ra đời từ đâu? cái gì vật đầu tiêntạo ra thế giới này? thì các nhà triết học Hy Lạp- La Mã cổ đại như: Talét(khoảng 625 - 547 tr.CN) cho là nước; Anaximen (khoảng 588 - 525 tr.CN) cho làkhông khí; Hêraclít (khoảng 544 - 483 tr.CN) cho là lửa hoặc Pitago (khoảng nửacuối thế kỷ thứ VI tr.CN) cho là con số…là yếu tố đầu tiên cấu tạo nên thế giới.Trái ngược với các nhà triết học học Hy Lạp - La Mã cổ đại, các nhà triết họcphương Đông mà tiêu biểu là Khổng Tử và Buddha thì lại không đi tìm những yếu
tố đầu tiên ấy
Thời đại mà Khổng tử sống (551 - 479 tr.CN) là thời đại mà: “Vương đạosuy vi”, “Bá đạo trị vì”, trật tự, lễ nghi phép tắc bị đảo lộn Thời đại mà như Khổng
Tử “Vua không phải đạo vua, tôi không phải đạo tôi, cha không phải đạo cha, conkhông phải đạo con” Trước cảnh xã hội loạn lạc ấy, Khổng Tử có hoài bão chínhtrị muốn kế thừa sự nghiệp của văn vương, Chu Công, lập lại trật tự kỷ cương nhàTây Chu Để thực hiện hoài bão lớn lao đó, Khổng Tử xây dựng nên học thuyết vềNhân - Lễ- Chính danh và chủ trương dùng đường lối đức trị để ổn định trật tự xãhội lúc bấy giờ Có thể nói, toàn bộ cuộc đời, tâm huyết và nghị lực của Khổng Tửđều dồn vào nghiên cứu về chính trị xã hội Có lẽ, còn vì điều đó mà nhiều ngườicho rằng học thuyết của Khổng Tử là học thuyết về chính trị - xã hội, đạo đức chứkhông phải là học thuyết triết học Họ cho rằng, trong học thuyết ấy không có chỗcho bản thể luận và vũ trụ luận Sau Khổng Tử đến Mạnh Kha (371 - 289 tr.CN),
Trang 6người đời sau tôn xưng là Mạnh Tử Mạnh tử là học trò của Tử tư (tên là KhổngCấp, cháu nội của Khổng Tử), còn Tử Tư lại là học trò của Tăng Tử (Tăng Sâm).Tăng Sâm là học trò của Khổng Tử Có thể nói, tư tưởng của Mạnh Tử là sự kếthừa trực tiếp tư tưởng của Tử tư và Tăng Sâm Nhưng Mạnh Tử lại có một vị tríđặc biệt trong bảo vệ Nho giáo, bảo về học thuyết củ Khổng Tử, mặc dù ông cơ bảnchỉ khuyếch đại mặt hạn chế, phát triển mặt duy tâm của Khổng Tử giống như cácbậc tiền bối của mình, không chủ trương “hành” mà lại đi sâu vào “nội tỉnh”, tự suynghĩ Chính vì vậy, mà khi nhắc đến Nho giáo, người ta thường nhắc tới dòng Nhogia Khổng - Mạnh Tuy nhiên, so với Khổng tử, Mạnh Tử cũng chưa có gì tiến bộhơn, thậm chí có chỗ còn thụt lùi Ông cũng không tập trung bàn về vũ trụ quan,bản thể luận Cho mãi đến đời Tống sau này (khoảng 960 - 1279), điểm hạn chếnày mới dần được khắc phục Những yếu tố về thế giới quan, vũ trụ quan được bàntới thông qua các phạm trù trung tâm của các nhà Nho thời Tống, như phạm trù
“Lý”, “Khí”
Tư tưởng của Phật giáo cũng vậy, Phật là tên ghi âm Hán Việt của Buddha,người sáng lập Phật giáo Buddha có nghĩa là “giác ngộ” Về năm sinh củaBuddha, cũng có nhiều tài liệu nói khác nhau, nhưng theo truyền thống Phật giáo,ông được coi là sinh vào năm 624 và mất năm 544 trước công nguyên Sau này ôngđược mọi người tôn kính gọi là Sakya-muni (Trung Quốc dịch là Thích ca mầu ni),
có nghĩa là “nhà hiền triết của xứ Sakya”
Bản thân Buddha vốn là thái tử, con vua Tịnh Phạn, chính vì vậy ông sốngtrong nhung lụa, giầu sang, quyền quý Sau một lần lén vua cha đi ra ngoài cổngthành, ông mục kích cảnh khổ đau và nỗi khốn cùng của người dân lao động, vì vậyông quyết định rời bỏ cuộc sống nhung lụa, rời bỏ gia định, đi tu, để tìm cách giảithoát cho chúng sinh khỏi sự khổ đau trong vòng luôn hồi
Trang 7Vì vậy, đầu tiên, không phải Buddha hướng vào xây dựng thế giới quan,
vũ trụ quan, bản thể luận mà ông tập trung tìm con đường giải thoát, cứu khổcho chúng sinh Từ mục đích ấy, Buddha đưa ra những biện pháp, những conđường cứu khổ, đó là “bát chính đạo”, nghĩa là tám con đường chính, đúng đắn
để giải thoát nỗi khổ cho chúng sinh khỏi bể khổ trầm luân Cũng có môn đồhỏi đức Phật về một số vấn đề siêu hình, trừu tượng, tuy nhiên Buddha không trảlời Bởi vì, triết lý nhân sinh của ông là: nếu một người đi đường bị một mũi têntẩm độc bắn trúng, vấn đề cấp bách ở đây là rút mũi tên có thuốc độc ra, rồinhanh chóng chữa chạy đã, chứ không phải cứ đứng đấy mà hỏi, mà luận bànxem bản thể của mũi tên là gì? nó được làm bằng gì? làm như thế nào?
Từ phân tích một số điểm ở trên, từ những học thuyết, trường phái tiêubiểu, chúng ta thấy rõ sự khác biệt cơ bản giữa hai trường phái, hai nền triết họcphương Đông - Phương tây Nếu như phương Đông đi từ nhân sinh quan đến thếgiới quan thì ngược lại, phương Tây lại đi từ thế giới quan, bản thể luận rồi mớiđến nhân sinh quan Có quan điểm nghiên cứu cho rằng, như vậy triết họcphương Tây chủ yếu đi từ gốc lên ngọn, còn triết học phương Đông hầu như lại
đi từ ngọn xuống gốc
Như ở phần trước chúng ta đã bàn tới, chính tồn tại xã hội đã quy định sựkhác biệt của hai nền triết học Đông - Tây Theo các nhà nghiên cứu, ở phươngĐông không có chế độ nô lệ đại quy mô điển hình như ở Hy Lạp - La Mã cổdại Xét trong xã hội Trung Quốc cổ đại, chế độ nô lệ đã manh nha hình thành từnhà Ân Nhưng nhà nước chiếm hữu nô lệ (thời Tây Chu 1027 - 770 tr.CN)không thật điển hình, hơn nữa lúc này ở Trung Quốc lại chưa có sắt, chưa pháthiện ra sắt, vì vậy lực lượng sản xuất xã hội vẫn còn rất thấp kém, chậm pháttriển Trong khi đó ở Hy Lạp và La mã cổ đại, lúc này sắt đã xuất hiện Chínhnhờ có sắt, đã làm cho lực lượng sản xuất phát triển nhanh chóng, chế độ thị
Trang 8tộc, bộ lạc nhanh chóng bị xoá bỏ, quan hệ sản xuất mới ra đời và trên đó hìnhthành nhà nước Chúng ta thấy rõ ràng là, nếu ở phương Tây cơ sở hạ tầng quyếtđịnh kiến trúc thượng tầng, thì ở phương Đông hình như chính sự ra đời củakiến trúc thượng tầng đã thúc đẩy sự phát triển của cơ sở hạ tầng Chính điều đó
đã lý giải tại sao phương Tây đi từ thế giới quan đến nhân sinh quan, cònphương Đông thì ngược lại, đi từ nhân sinh quan đến thế giới quan
2.2.1 Về đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của triết học phương Tây rất rộng, bao gồm toàn bộgiới tự nhiên, xã hội và tư duy, nhưng cơ bản phương Tây lấy giới tự nhiên làmgốc, làm cơ sở Ngay từ khi bước vào nghiên cứu, triết học phương Tây đã tậptrung bàn tới những vấn đề cơ bản như bản thể luận, vũ trụ luận, tri thức luận, nhậnthức luận…Giới tự nhiên bao la xung quanh, trong đó có cả con người và xã hộiloài người, chính là đối tượng nghiên cứu của triết học phương Tây Chính vì đốitượng nghiên cứu rộng, bao hàm nhiều lĩnh vực như vậy nên phạm vi tri thức mà
nó mang lại cũng rất rộng, bao quát mọi lĩnh vực Do ngay từ đầu ở phương Tây
đã xác định lấy giới tự nhiên làm đối tượng nghiên cứu của mình, nên khuynhhướng chung, khuynh hướng trội của nó là hướng ngoại, lấy cái bên ngoài để giảithích cho cái bên trong và nhìn chung hơi ngả về duy vật
Chúng ta nói như vậy không có nghĩa là ở phương Tây không có khuynhhướng nội, duy tâm Tuy nhiên những khuynh hướng nội, duy tâm ở phương Tây làkhông nhiều, không nổi trội, cả về lượng và chất, mặc dù ngay cả đến bây giờ cuộcđấu tranh giữa duy tâm và duy vật, giữa vô thần - hữu thần, giữa biện chứng - siêuhình vẫn còn diễn ra hết sức gay gắt Nhiều quốc gia, nhiều dân tộc, mặc dù theo tưtưởng duy tâm, tôn giáo, nhưng để phát triển lực lượng sản xuất, phát triển xã hộivẫn phải ngấn ngầm sử dụng thế giới quan duy vật và phương pháp biện chứng củaMác - Lênin Cũng vì ngay từ đầu đã lấy giới tự nhiên làm đối tượng nghiên cứu
Trang 9nên triết học phương Tây thường gắn với những thành tự khoa học, đặc biệt làkhoa học tự nhiên Các nhà triết học phương Tây đồng thời cũng là các nhà khoahọc, nhà bác học Điều này đã lý giải tại sao nền khoa học nói chung, khoa học tựnhiên nói riêng ở phương Tây lại phát triển nhanh chóng, thu được nhiều thành tựunhư vậy, trong khi đó ở phương Tây bước vào lịch sử xã hội loài người sau phươngĐông Chính sự phát triển như vũ bão của khoa học - kỹ thuật và công nghệ, đã làmcho lực lượng sản xuất phát triển nhanh chóng, của cải xã hội làm ra dồi dào, xã hộiphát triển nhanh hơn ở phương Đông.
Khác với phương Tây, đối tượng nghiên cứu của triết học phương Đông lại
là chính trị - xã hội, đạo đức, luận lý (như triết học Trung Quốc) và tôn giáo (nhưtriết học ấn Độ) Triết học phương Đông nhìn chung gắn với con người, lấy conngười làm gốc Đứng trước một xã hội loạn lạc, nhiễu nhương, đầy rẫy khổ đau,vấn đề cấp bách lúc này đặt ra cho các nhà tư tưởng lớn của phương Đông là phảitìm cách ổn định trật tự xã hội, giữ gìn nề nếp, kỷ cương, đạo lý (như ở TrungQuốc) và giải thoát chúng sinh khỏi bể khổ trầm luân (như ở ấn Độ) Họ không cóthời gian để bàn tới vũ trụ luận, thế giới quan, bản thể luận (Phật giáo có bàn tớibản thể luận, song đó không phải là vấn đề trọng tâm, cốt lõi của Phật giáo hướngtới) Đúng như quan niệm của Phật giáo, vấn đề rút mũi tên độc và cứu chữa đã,chứ không phải loay hoay mà luận bàn bản thể của mũi tên Do đối tương nghiêncứu hẹp như vậy, nên tri thức mà triết học phương Đông có được chủ yếu là vềchính trị - xã hội, đạo đức, tâm linh Điều này đã quy định khuynh hướng trội củatriết học phương Đông là hướng nội, lấy cái bên trong để đi giải thích cái bên ngoài
và nhìn chung hơi ngả về duy tâm
Khác với Hy Lạp, La Mã cổ đại (trong bẩy trường phái thì có năm là duyvật, chỉ có hai trường phái duy tâm là Pitago và Platôn), ở đây phương Đông lạichủ yếu là duy tâm ở Trung Quốc về cơ bản là các trường phái duy tâm thống trị
Trang 10hệ tư tưởng xã hội Còn ở ấn Độ cũng vậy, trong triết học ấn Độ cổ đại có chíntrường phái, cả chính thống và tà giáo, thì có đến tám trường phái là duy tâm, chỉ
có một trường phái duy nhất đó là trường phái Lokayata (còn gọi là Carvaka hayBarhaspatya)
Cũng chính vì đối tượng nghiên cứu không nhiều nên triết học phươngĐông có điều kiện tập trung bàn kỹ hơn, sâu hơn về chính trị - xã hội, đạo đức vàtâm linh Nếu như các nhà triết học phương Tây thường là các nhà khoa học, báchọc thì ở phương Đông, các nhà triết học được coi là người hiền, nhà hiền triết,minh triết Nếu như ở phương Tây, các nhà triết học thường hướng vào nhận thức,cải tạo tự nhiên, phát triển khoa học và kinh tế thì trái lại ở phương Đông, các nhàhiền triết chủ yếu lo giữ ổn định xã hội, giữ cương thường đạo lý, an ủi tâm linh,tìm con đường cứu khổ, cứu nạn Chính vì vậy, nó đã lý giải cho chúng ta tại saokhoa học tự nhiên nói riêng, khoa học - công nghệ ở phương Tây lại phát triểnnhanh hơn ở phương Đông, mặc dù cái nôi của nền văn minh nhân loại đầu tiênphải kể đến Trung Quốc và ấn Độ Đồng thời nó cũng lý giải tại sao xã hội phươngĐông lại ổn định hơn, các mối quan hệ xã hội bền vững, thân thiện hơn phươngTây, tại sao đạo đức phương Tây lại tỷ lệ nghịch với sự tăng trưởng của kinh tế
3.2.1 Về phương pháp và phương tiện để nhận thức
Trước hết, chúng ta bàn đến phương pháp và phương tiện nhận thức củatriết học phương Tây Phương pháp nhận thức và cải tạo thế giới của phươngTây là chúng ta nói tới tư duy suy lý, sự phan tích mổ xẻ sự vật, hiện tượng đểnghiên cứu nó Chính từ phương pháp nhận thức và cải tạo thế giới này mà nó đãlàm cho khoa học, kỹ thuật phát triển, kéo theo sự phát triển nhanh chóng củalực lượng sản xuất, của công nghiệp và công nghệ Với thế giới quan bao trùm làduy vật, với phương pháp tư duy coi trong lý trí, coi trọng chân lý, triết học
Trang 11phương Tây đã có một phương pháp nhận thức và cải tạo đúng đắn, cách mạng,khoa học Với cách phân tích mổ xẻ, đầy đủ, rõ ràng về sự vật, hiện tượng ấy.
Về phương tiện, công cụ nhận thức và cải tạo của triết học phương Tây đó
là nhưng khái niệm, những phạm trù, quy luật Nhờ có những khái niệm, phạmtrù, quy luật có được thông qua quá trình tư duy lý tính mà nó đã cho việc phântích, mô tả, nhận thức và cải tạo đối tượng được rõ ràng, sâu sắc và hiệu quảhơn Chính vì vậy mà các nước phương Tây, nhìn chung, có nền khoa học côngnghệ phát triển hơn ở phương Đông Tuy nhiên, phương pháp nhận thức của triếthọc phương Tây cũng có những hạn chế và yếu điểm của nó Chủ nghĩa Mác -Lênin đã chỉ ra con đường biện chứng của quá trình nhận thức chan lý kháchquan đó là đi từ trực quan sinh động (giai đoạn nhận thức cảm tính) đến tư duytrừu tượng (giai đoạn nhận thức lý tính) rồi đến thực tiễn Teo chủ nghĩa Mác -Lênin, để nhận thức được đúng đắn một sự vật, hiện tượng thì trước hết, ta phảidùng các giác quan để cảm nhận đối tượng, sau đó ta tiến hành tri giác rồi hìnhthành biểu tượng về đối tượng đó Khi đã có biểu tượng đầy đủ về đối tượng,chúng ta bắt đầu tư duy để hình thành nên những khái niệm, phán đoán, suylý… về đối tượng đó Khi dã có được những suy lý tương đối đầy đủ, bản chất
về đối tượng, ta đem lý luận đó áp dụng vào thực tiễn đối tượng Nếu nó thúcđẩy sự vật, hiện tượng phát triển, tức là lý luận của chúng ta phù hợp; còn nếu
nó không phù hợp, nó sẽ cản trở, kìm hãm sự phát triển của sự vật, hiện tượng,khi đó thì chúng ta lại phải nhận thức lại đối tượng để bổ sung, hoàn thiện lýluận đã có cho phong phú, đầy đủ, chính xác hơn
Khi bàn đến khả năng nhận thức của con người, Lênin cũng khẳng định:không có cái gì mà con người không thể biết, chỉ có cái con người chưa biết màthôi Và theo Lênin, nhận thức của con người đi từ bản chất cấp một, đến bản chấtcấp hai, cấp ba…, bản chất cấp n Quá trình nhận thức này là vô tận, bởi thực tiễn
Trang 12luôn vận động, biến đổi không ngừng, cứ mỗi một cấp độ lại là một nấc thang trongquá trình nhận thức, cứ như vậy, con người ngày càng tiệm cận tới chân lý kháchquan, tới chân lý tuyệt đối
ở phương Tây, các nhà triết học luôn muốn vươn tới cái cuối cùng, cái chân
lý tối hậu, tuyệt đích, song họ không hiểu rằng con người, cùng với cuộc đời vànhận thức của họ thì lại có hạn Hơn nữa thực tiễn luôn vận động, biến đổi khôngngừng, cái hôn nay là chân lý có thể ngày mai không còn phù hợp nữa Đem cái cóhạn để vươn tới cái vô hạn, cái tuyệt đối cuối cùng, đó chính là mâu thuẫn củaphương pháp nhận thức ở triết học phương Tây Mâu thuẫn này chỉ có thể hoá giảiđược khi triết học Mác - Lênin ra đời
Bên cạnh đó phương pháp phân tích, mổ xẻ vấn đề để nghiên cứu của triết họcphương Tây, bên cạnh những ưu điểm như đã trình bày ở trên, đồng thời nó cũngbộc lộ những hạn chế, thiếu sót nhất định của nó Ví như trên tay các nhà triết họcphương Tây có một quả cam, để hiểu được quả cam đó, các nhà triết học này sẽkhông ngần ngại mà bổ nó ra để sờ, nắn, ngửi, nếm…Rồi sau khi đã tìm hiểu cơ bản
về nó, họ tiến hành lắp ghép quả cam lại Rõ ràng là ta thấy, quả cam bây giờ đã
“chết” Như vậy, để hiểu được quả cam, người ta phải giết chết quả cam; cũng như,
để tìm hiểu cuộc sống, người ta đã làm thui chột cuộc sống, làm đơn giản hoá, thôthiển hoá, cô lập hoá nó Việc đi sâu vào phân tích, chia nhỏ giới tự nhiên ra thànhnhững mảnh riêng biệt, cố định để nghiên cứu, một mặt đã đưa đến những thành tựu
vĩ đại về nhận thức, mặt khác nó lại để lại di chứng hậu hoạ khôn lường, đó là thóiquen xem xét sự vật một cách siêu hình, cứng nhắc Nhận xét về vấn đề này, C.Mác -Ph.Ăngghen cho rằng: “chỉ nhìn thấy những sự vật riêng biệt mà không nhìn thấymối liên hệ qua lại giữa những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy sự tồn tại của những sự vật ấy
mà không nhìn thấy sự phát sinh, phát triển…tiêu vong của những sự vật ấy, chỉ nhìn
Trang 13thấy trạng thái tĩnh của những sự vật ấy mà quên mất sự vận động của những sự vật
ấy, chỉ nhìn thấy cây mà không nhìn thấy rừng”1
Cùng với những hạn chế về phương pháp nhận thức, công cụ, phương tiệnnhận thức của triết học phương Tây còn có điểm bất cập Do không hiểu, khôngthấy được thực tiễn và vai trò to lớn của thực tiễn đối với nhận thức, nên các nhàtriết học phương Tây thường đề cao giai đoạn nhận thức lý tính, đề cao khái niệm,phạm trù, phán đoán, suy lý…Việc tuyệt đối hoá nhận thức lý tính, tuyệt đối hoákhái niệm, phạm trù, phán đoán…sẽ dễ dẫn đến hiện tượng giáo điều, áp đặt, chụp
mũ, thoát ly hiện thực, bảo thủ, trì trệ, thậm chí rất nguy hiểm nếu lý luận đó làphản động
Trái với phương Tây, phương pháp và phương tiện công cụ nhận thức thếgiới của triết học phương Đông lại là trực giác và những công cụ để nhận thức như
so sánh, ẩn dụ, liên tưởng, hình ảnh, ngụ ngôn…Theo nghĩa tiếng Hán, trực làthẳng, giác là hiểu biết, trực giác có nghĩa là hiểu biết thẳng vào bản chất sâu thẳmcủa đối tượng, mà mức độ thấp của nó gần với giác quan thứ sáu Như là khi ta gặpmột người, một vật nào đó lần đầu tiên, tự nhiên ta có nhưng linh cảm, linh tínhnào đó mách bảo Mà thường những linh cảm , linh tính trực giác đó lại tương đốichính xác Có rất nhiều sự việc đã thành công mĩ mãn, đem lại những kết quả bấtngờ nhờ sự mách bảo của trực giác
Như vậy, chúng ta thấy rằng trực giác đóng một vai trò hết sức quan trọngtrong quá trình nhận thức thế giới của các nhà triết học phương Đông Nó làphương pháp nhận thức phù hợp giúp các nhà triết học phương Đông có thể nhậnthức được đối với những đối tượng vận động, điều mà cái phương pháp tư duy duy
lý, phân tích, mổ xẻ của các nhà triết học phương Tây không bao giờ có thể đạt tới.Tuy nhiên, với lối tư duy trực quan này, dù có những điểm mạnh nhất định, song
Trang 14nó cũng không thể tránh khỏi những hạn chế, sai lầm Việc đề cao phương pháp tưduy trực giác, cụ thể, đối tượng nhận thức chủ yếu là chính trị - xã hội và tâm linhcon người, trong khi lại chưa thấy được vai trò to lớn của hoạt động thực tiễn củacon người trong nhận thức, cải tạo thế giới, cho nên , những tri thức mà triết họcphương Đông đem lại chủ yếu hướng vào lĩnh vực giữ ổn định trật tự xã hội - chínhtrị, vấn đề đạo đức, luân lý và tâm linh con người.
Với những công cụ, phương tiện để nhận thức như so sánh, ẩn dụ, liên tưởng,hình ảnh, ngụ ngôn…những tri thức mà nó đem lại mới chỉ dừng lại ở mức độ trithức kinh nghiệm nên khó có thể tạo ra những cuộc cách mạng trong lĩnh vực triếthọc Điều này đã góp phần lý giải tại sao khoa học kỹ thuật và công nghệ ở phươngĐông kém phát triển hơn phương Tây Hơn nữa, chúng ta thấy rằng không phải bất
cứ ai cũng có trực giác và không phải bất cứ trực giác nào cũng đều đúng Để cótrực giác đúng nó rất cần có vai trò tích cực, chủ động, nhạy bén, sáng tạo và sựđòi hỏi rèn luyện tư duy khoa học thường xuyên, kiên trì và liên tục của chính chủthể nhận thức
1.2.5 Tính đấu tranh, phê phán trong sự phát triển của triết học
Triết học phương Đông trong suốt quá trình ra đời, hình thành, phát triển củamình hầu như không diễn ra một cuộc cách mạng tư tưởng nào các học thuyết rađời sau đều lấy học thuyết của thầy làm cơ sở xuất phát, nhằm luận giải cho cácvấn đề thực tiễn nảy sinh Nó hầu như chỉ là sự mở rộng, làm giầu có , phong phú
và phát triển thêm các tư tưởng trước đó, ít có sự đấu tranh, phê phán, bút chiến
Như ở trung Quốc, với tư tưởng chủ đạo: “tôn sự trọng đạo”, “nhất tự vi sư,bán tự vi sư” (một chữ là thầy, nữa chữ cũng là thầy), cho nên việc phê phán thầy,việc phản thầy được xem như là một tội trọng, không phải là đức của người quân
tử Chính vì vậy mà ở xã hội Trung Quốc, cách mạng xã hội có nổ ra thì hệ tưtưởng cơ bản của xã hội vẫn không có gì thay đổi Ví như đạo nho của Khổng Tử
Trang 15(được coi là Nho nguyên thuỷ, Nho tiền tần), rồi đến Hán Nho, Tuỳ Nho, TốngNho, Minh Nho.
Còn ở ấn Độ, người ta cũng không thể tách triết học ấn Độ cổ đại thành triếthọc thời kỳ chiếm hữu nô lệ và triết học thời kỳ phong kiến được Nền triết học ấn
Độ cổ đại là một nền triết học phát triển liên tục nhưng từ từ, chậm chạp trong mộtbối cảnh xã hội như C Mác nhận xét là tính chất “phương thức sản xuất châu á”điểm hình
Trong khi đó ở phương tây, tình hình này lại hoàn toàn khác hẳn Nếu ởphương Đông, tư tưởng truyền thống là “tôn sư trọng đạo”, thì ở phương Tây họlại quan niệm “thầy là đáng kính trọng, nhưng tri thức chân lý còn quan trọng hơn”.Chính tư tưởng này đã làm cho tính đấu tranh, phê phán, bút chiến ở phương Tâydiễn ra hết sức gay gắt và quyết liệt Và chính nhờ sự đấu tranh không khoannhượng này mà triết học phương Tây đã gặt hái được rất nhiều thành tựu rực rỡ ởphương Tây, cứ sau mỗi cuộc cách mạng xa hội, một hình thái kinh tế - xã hội mới
ra đời và tương ứng với nó là một loại hình triết học Khác với phương Đông, ởphương Tây người ta có thể dễ ràng phân chia niên đại, thời kỳ của triết học ởphương Tây có triết học chiếm hữu nô lệ, triết học phong kiến, triết học tiền tưbản…
2 LUẬN GIẢI TƯ TƯỞNG CỦA NHỮNG NHÀ TƯ TƯỞNG Ở PHƯƠNG ĐÔNG VÀ PHƯƠNG TÂY
2.1 Một số nhà tư tưởng đại diện cho triết học Phương Đông
1.2.1 Khổng Tử
Đạo đức
Lý thuyết đạo đức của Khổng Tử dựa trên ba quan niệm chính:
Khi Khổng tử trưởng thành, Lễ được xem là ba khía cạnh sau trong cuộc đời:
Trang 16xem là quy phạm đạo đức và hành vi mà Thiên thượng (Trời) chế định cho conngười, lấy đó mà biết việc nào nên làm, việc nào không nên làm.
Khổng Tử, Nghĩa là nguồn gốc của Lễ Nghĩa chính là cách hành xử đúng
đắn Trong khi làm việc vì lễ, vị kỷ cỏ nhõn chưa hẳn đó là xấu và người cư xửtheo lễ một cách đúng đắn là người mà cả cuộc đời dựa trên trí Tức là thay vì theođuổi quyền lợi của cá nhân mỡnh, người đó cần phải làm những gỡ là hợp lẽ và đạo
đức Trí là làm đúng việc vì một lý do đúng đắn Nghĩa dựa trên quan hệ qua lại Một ví dụ sống theo Nghĩa là tại sao phải để tang cha mẹ ba năm sau khi chết Lý
do là vì cha mẹ đó phải nuôi dưỡng chăm sóc đưa trẻ toàn bộ trong suốt ba nămđầu đời, và là người có trí phải đền đáp lại bằng cách để tang ba năm
Cũng như Lễ xuất phát từ Nghĩa, thì Nghĩa cũng xuất phát từ Nhân Nhân là cách cư xử tốt với mọi người Nhân là trung tâm của các đức tính: tình
cảm chõn thật, ngay thẳng; hết lũng vì nghĩa; nghiờm trang, tề chỉnh; rộng lượng,khoan dung và siêng năng cần mẫn Người có đức Nhân chỉ hành động vì nhõnnghĩa, đối lập với kẻ bất nhân chỉ hành động vì lợi
Hệ thống đạo đức của Khổng Tử dựa trên lũng vị tha và hiểu những ngườikhác thay vì là việc cai trị dựa trên luật pháp có được như một quyền lực thần
thánh Để sống mà được cai trị bằng Nhân thì thậm chớ còn tốt hơn là sống trong luật pháp của Nghĩa Để sống có nhân thì ta theo nguyên tắc vàng của Khổng Tử:
ông đó tranh luận rằng người ta phải luôn đối xử với người khác đúng như những
gỡ họ muốn người khác đối xử với họ Đức hạnh theo Khổng Tử là dựa trên việcsống hài hũa với mọi người
Khổng Tử nói: “Muốn nhõn mà khụng muốn học thì bị cỏi che mờ là ngu,
muốn trớ mà khụng muốn học thì bị cỏi che mờ là cao kỳ, muốn tớn mà khụng muốn học thì bị cỏi che mờ là hại nghĩa, muốn trực mà khụng muốn học thì bị cỏi che mờ là ngang ngạnh, muốn dũng mà khụng muốn học thì bị cỏi che mờ là loạn, muốn cương mà không muốn học thì bị cỏi che mờ là táo bạo khinh suất”.
Ông áp dụng nguyên tắc trên như sau: "Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân - Cái gỡ
mà ta khụng muốn thì đừng làm cho người khác"