Bản chất và vai trò của tăng trưởng trong phát triển: Bản chất: Tăng trưởng kinh tế sự gia tăng về thu nhập mặt lượng của nền kinh tế - Sự gia tăng về quy mô tăng trường phản ánh sự
Trang 1MỤC LỤC
Phần I: Khái quát chung về phân tích và đánh giá tăng trưởng kinh tế 3
1 Tổng quan tăng trưởng kinh tế 3
2 Phân tích mặt lượng của tăng trưởng kinh tế 3
3 Phân tích mặt chất lượng của tăng trưởng 4
Phần II: Đánh giá thực trạng về số và chất lượng của tăng trưởng kinh tế Việt Nam (2001-2006) 7
1 Đánh giá thực trạng trăng trưởng kinh tế Việt Nam về số lượng 7
2 Đánh giá thực trạng tăng trưởng kinh tế Việt Nam về chất lượng 10
2.1 Tăng trưởng kinh tế có những điểm mới nhưng chưa thực sự hiệu quảHiệu quả của tăng trưởng: 10
2.2 Tăng trưởng kinh tế chủ yếu dựa vào vốn, hiệu quả đầu tư và năng suất lao động thấp 13
2.3 Tăng trưởng kinh tế chủ yếu do tăng trưởng tiêu dùng cuối cùng và tích luỹ tài sản; tình trạng nhập siêu gia tăng 16
2.4 Tăng trưởng kinh tế chưa có tác động mạnh đến chuyển dịch cơ cấu theo hướng hiện đại, hợp lý và hiệu quả hơn 17
2.5 Ảnh hưởng lan toả của tăng trưởng kinh tế đối với các lĩnh vực của đời sống kinh tế, xã hội, môi trường 20
Phần III 24
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO SỐ VÀ CHẤT LƯỢNG TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN TỚI 24
1 Thực hiện đồng bộ các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư 24
2 Đầu tư nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, coi đây là nhân tố chính quyết định tốc độ và chất lượng của Tăng trưởng kinh tế 26
3 Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa 26
KẾT LUẬN 28
TÀI LIỆU THAM KHẢO 29
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
Tăng trưởng kinh tế vốn là mục tiêu hàng đầu trong phát triển kinh tế và nó thường gây sự chú ý cho nhiều người về mặt số lượng với những con số có thể xem là khá ấn tượng Việt Nam kể từ khi bước sang nền kinh tế mở, cùng với xu hướng hội nhập toàn cầu, chúng ta đã không ngừng nỗ lực trong hợp tác, học hỏi kinh nghiệm của các nước phát triển trên thế giới để xây dựng một xã hội ngày càng tiến bộ, văn minh; đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện Suy cho cùng, mọi sự cố gắng cũng đều hướng tới việc đem lại những gì tốt đẹp nhất đối với cuộc sống của nhân loại Tăng trưởng và phát triển kinh tế là một phần không thể thiếu đối với mỗi quốc gia trong bước đường cố gắng đó Tuy nhiên không phải lúc nào người ta cũng đề cao tăng trưởng Có những lúc tăng trưởng mà đặc biệt là “tăng trưởng nóng” lại cần phải có biện pháp giảm bớt nhiệt Sự tăng trưởng có hiệu quả hay không, có bền vững hay không, cần phải xem xét đánh giá cụ thể những vấn đề liên quan đến chất lượng của sự tăng trưởng đó Bài viết này muốn tiếp cận tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong thời gian gần đây cả về mặt số lượng và chất lượng Đây không phải là điều quá mới mẻ nhưng trong thực tế nó rất dễ bị bỏ qua chính vì vậy nhóm 6 lớp cao học 16 G xin chọn
đề tài “Đánh giá thực trạng về số lượng và chất lượng tăng trưởng kinh tế Việt Nam
giai đoạn 2001-2006”
Trang 3Phần I: Khái quát chung về phân tích và đánh giá tăng trưởng kinh tế
1 Tổng quan tăng trưởng kinh tế
Khái niệm: Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng của tổng sản phẩm quốc nội (GDP)
hoặc tổng sản lượng quốc gia (GNP) hoặc quy mô sản lượng quốc gia tính bình quân trên đầu người (PCI) trong một thời gian nhất định
Tăng trưởng kinh tế thể hiện sự thay đổi về lượng của nền kinh tế Tuy vậy ở một
số quốc gia, mức độ bất bình đẳng kinh tế tương đối cao nên mặc dù thu nhập bình quân đầu người cao nhưng nhiều người dân vẫn sống trong tình trạng nghèo khổ
Bản chất và vai trò của tăng trưởng trong phát triển:
Bản chất: Tăng trưởng kinh tế sự gia tăng về thu nhập (mặt lượng của nền kinh
tế)
- Sự gia tăng về quy mô tăng trường phản ánh sự gia tăng nhiều hay ít, đồng
nghĩa với sự tăng thêm về lượng tuyệt đối
- Sự gia tăng về tốc độ tăng trưởng đợc sử dụng với ý nghĩa so sánh tương đối và
phản ánh sự gia tăng nhanh hay chậm giữa các thời kỳ, đồng thời là sự gia tăng thêm về lượng tuyệt đối
Như vậy, bản chất của tăng trưởng là phản ánh sự thay đổi về lượng của nền kinh
tế Ngày nay, yêu cầu tăng trưởng kinh tế được gắn liền với tính bền vững hay việc đảm bảo chất lượng tăng trưởng ngày càng nâng cao
- Thu nhập: hiện vật và giá trị
- Mặt giá trị: tổng thu nhập và thu nhập bình quân
Vai trò của tăng trưởng kinh tế rất quan trọng đối với mỗi quốc gia, đó là điều
kiện cần thiết để khắc phụ đói nghèo lạc hậu, cải thiện và nâng cao chất lượng cuộc sống cho mọi người dân: tăng tuổi thọ, giảm suy dinh dưỡng, giảm bệnh tật để phát triển giáo dục, văn hóa tinh thần Tăng trưởng kinh tế còn là điều kiện vật chất để tăng thêm việc làm giảm thất nghiệp Tuy nhiên vấn đề này chỉ giải quyết có hiệu quả khi có
mức tăng trưởng hợp lý
Tính hai mặt của tăng trưởng kinh tế : Nói tới tăng trưởng là nói tới mặt mặt số
lượng và mặt chất lượng của sự gia tăng
2 Phân tích mặt lượng của tăng trưởng kinh tế
Khái niệm và thước đo
Trang 4Khái niệm: mặt lượng của tăng trưởng là biểu hiện bề ngoài của tăng trưởng và
được phản ánh qua các chỉ tiêu đánh giá qui mô và tốc độ tăng trưởng
Ở mặt lượng của tăng trưởng, người ta thường quan tâm tới các vấn đề như tăng được bao nhiêu, nhiều hay ít, nhanh hay chậm, và điều đó được thể hiện qua:
Các chỉ tiêu đo lường (bằng giá trị): qui mô và tốc độ tăng của các chỉ tiêu:
1 Tổng giá trị sản xuất (GO)
2 Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) (Gross Domestic Products, GDP) hay tổng sản
sản phẩm trong nước là giá trị tính bằng tiền của tất cả sản phẩm và dịch vụ cuối cùng được sản xuất, tạo ra trong phạm vi một nền kinh tế trong một thời gian nhất định (thường là một năm tài chính)
3 Tổng thu nhập quốc dân (Gross National Products, GNP) là giá trị tính bằng tiền của
tất cả sản phẩm và dịch vụ cuối cùng được tạo ra bởi công dân một nước trong một thời gian nhất định (thường là một năm) Tổng sản phẩm quốc dân bằng tổng sản phẩm quốc nội cộng với thu nhập ròng
4 Thu nhập quốc dân sản xuất (NI)
5 Thu nhập quốc dân sử dụng (DI)
6 GDP bình quân đầu người :Tổng sản phẩm bình quân đầu người là tổng sản phẩm quốc nội chia cho dân số Tổng thu nhập bình quân đầu người là tổng sản phẩm quốc gia chia cho dân số
Những khía cạnh cần chú ý trong phân tích và đánh giá số lượng tăng trưởng
ở các nước đang phát triển:
- Chỉ tiêu thường sử dụng và đánh giá chính xác nhất: GDP và GDP/người
- Các nước đang phát triển: có nhu cầu và khả năng đạt tốc độ tăng trưởng GDP cao hơn các nước phát triển
- Giá sử dụng để tính GDP
- Giá thực tế: GDPr
- Giá so sánh:GDPn
- Giá sức mua tương đương: GDPppp
3 Phân tích mặt chất lượng của tăng trưởng
Tăng trưởng là một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp quan trọng hàng đầu, có liên quan mật thiết đến các biến số vĩ mô khác như việc làm, lạm phát, đói nghèo… Tuy nhiên nếu chỉ xem xét tăng trưởng kinh tế trên giác độ số lượng thu nhập tăng thêm thì chưa
Trang 5đủ Thực tế cho thấy nhiều loại tăng trưởng không những không đem đến cho con người cuộc sống tốt đẹp hơn mà trái lại còn để lại những hậu quả không tốt mà các thế
hệ thương lai phải gánh chịu Năm 1996, UNDP đã chỉ ra 5 loại tăng trưởng xấu để các quốc gia tham khảo, đó là:
- Tăng trưởng không việc làm: Tăng trưởng không tạo ra việc làm mới
- Tăng trưởng không lương tâm: Tăng trưởng chỉ đem lại lợi ích cho một bộ phận nhỏ người giàu, điều kiện sống của phần đông người nghèo không được cải thiện
- Tăng trưởng không tiếng nói: Tăng trưởng không gắn với sự cải thiện về dân chủ
- Tăng trưởng không gốc rễ: Tăng trưởng nhưng đạo đức xã hội bị suy thoái
- Tăng trưởng không tương lai: Tăng trưởng nhưng huỷ hoại môi trường sống của con người
Chính vì lẽ đó, khi phân tích về tăng trưởng kinh tế, bên cạnh sự gia tăng về số lượng còn cần và nhất thiết phải quan tâm đến khía chạnh chất lượng
Khái niệm:
Nghĩa hẹp của chất lượng tăng trưởng:
Chất lượng tăng trưởng là thuộc tính bên trong của quá trình tăng trưởng kinh tế,
thể hiện qua các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả đạt được mặt số lượng của tăng trưởng và khả năng duy trì nó trong dài hạn
Nghĩa rộng của chất lượng tăng trưởng:
Chất lượng tăng trưởng thể hiện năng lực sử dụng các yếu tố đầu vào, tạo nên tính chất, sự vận động của các chỉ tiêu tăng trưởng và ảnh hưởng lan tỏa của nó đến các lĩnh
vực của đời sống kinh tế - xã hội - môi trường
Trên giác độ các yếu tố đầu vào, một nền kinh tế đạt được tăng trưởng dựa chủ yếu vào 3 nhân tố chính: vốn (K), lao động (L), và năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP)
Phân tích cấu trúc đầu vào của tăng trưởng
Hàm sản xuất:
Y= f(K,L,TFP)
Tăng trưởng kinh tế được phân làm 2 loại:
Trang 6+ Tăng trưởng kinh tế theo chiều rộng, phản ánh tăng thu nhập phụ thuộc vào tăng quy mô nguồn vốn (K), số lượng lao động (L) và lượng tài nguyên thiên nhiên được khai thác;
+ Tăng trưởng kinh tế theo chiều sâu là sự gia tăng thu nhập do tác động của yếu
tố TFP Trong đó:
K,L: Các yếu tố tăng trưởng theo chiều rộng
TFP: Các yếu tố tăng trưởng theo chiều sâu
Phân tích chất lượng tăng trưởng theo nghĩa hẹp gồm:
- Phân tích hiệu quả của tăng trưởng
- Phân tích cấu trúc đầu vào của tăng trưởng
- Phân tích cấu trúc tăng trưởng theo ngành
- Phân tích cấu trúc đầu ra của tăng trưởng
Phân tích chất lượng tăng trưởng theo nghĩa rộng gồm:
- So sánh các chỉ tiêu tăng trưởng với mục tiêu cuối cùng cần đạt được về mặt kinh tế:
+ Tốc độ tăng GO và GDP(VA)
+ Tốc độ tăng GDP với tốc độ tăng GDP/người
- So sánh kết quả đạt được các chỉ tiêu tăng trưởng với chi phí bỏ ra:
+ Tăng trưởng với lao động
+ Tăng trưởng với vốn
- Đánh giá tốc độ tăng thu nhập bình quân đầu người
Tốc độ tăng GDP/người
Tốc độ tăng GDP
Tốc độ tăng dân số
So sánh tăng trưởng với chi phí lao động: Sử dụng chỉ tiêu năng suất lao động
So sánh tăng trưởng với chi phí vốn: tỷ suất đầu tư tăng trưởng
Phân tích cấu trúc tăng trưởng theo ngành
Là việc phân tích đánh giá sự tăng trưởng thông qua các chỉ tiêu ngành:
Trang 7- Đánh giá tác động của ba nhóm ngành công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ đến tăng trưởng kinh tế
- Xu thế chuyển dịch cơ cấu sản phẩm của từng ngành Đối với các nước phát triển tỷ trọng của ngành dịch vụ trong tăng trưởng kinh tế là lớn nhất, tiếp đến là ngành công nghiệp và sau cùng mới là ngành nông nghiệp Nhưng đối với các nước kém phát triển hoặc đang phát triển thì ngược lại Do vậy để đạt tăng trưởng kinh tế hiệu quả, xu thế chuyển dịch cơ cấu sản phẩm ngành là giảm dần tỷ trọng ngành nông nghiệp, tăng cường giá trị và tỷ trọng ngành dịch vụ và công nghiệp trong tổng sản phẩm quốc dân
Phân tích cấu trúc tăng trưởng theo đầu ra
Xem xét GDP theo chi tiêu:
AD = (C + G) + I +NX
Xu huớng ở các nước phát triển: Sự lấn áp của chi cho tiêu dùng
Xu hướng của các nước đang phát triển:
- xem xét xu hướng và quy mô đóng góp của yếu tố I
- Xem xét sự biến động của yếu tố NX
Để đo lường tăng trưởng kinh tế có thể dùng mức tăng trưởng tuyệt đối, tốc độ tăng trưởng kinh tế hoặc tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm trong một giai đoạn Mức tăng trưởng tuyệt đối là mức chênh lệch quy mô kinh tế giữa hai kỳ cần so sánh
Tốc độ tăng trưởng kinh tế được tính bằng cách lấy chênh lệch giữa quy mô kinh
tế kỳ hiện tại so với quy mô kinh tế kỳ trước chia cho quy mô kinh tế kỳ trước Tốc độ tăng trưởng kinh tế được thể hiện bằng đơn vị %
Biểu diễn bằng toán học, sẽ có công thức:
y = dY/Y × 100(%),
trong đó Y là qui mô của nền kinh tế, và y là tốc độ tăng trưởng Nếu quy mô kinh
tế được đo bằng GDP (hay GNP) danh nghĩa, thì sẽ có tốc độ tăng trưởng GDP (hoặc GNP) danh nghĩa Còn nếu quy mô kinh tế được đo bằng GDP (hay GNP) thực tế, thì
sẽ có tốc độ tăng trưởng GDP (hay GNP) thực tế Thông thường, tăng trưởng kinh tế dùng chỉ tiêu thực tế hơn là các chỉ tiêu danh nghĩa
Phần II: Đánh giá thực trạng về số và chất lượng của tăng trưởng kinh tế Việt
Nam (2001-2006)
1 Đánh giá thực trạng trăng trưởng kinh tế Việt Nam về số lượng
Trang 8Cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ trong khu vực xảy ra cuối năm 1997 đã tác động tiêu cực đến nền kinh tế nước ta Tổng sản phẩm trong nước trong những năm 1992-1997 thường đạt mức tăng trưởng hàng năm 8-9% đã đột ngột giảm xuống chỉ còn tăng 5,8% vào năm 1998 và tăng 4,8% vào năm 1999 Nhưng từ năm 2000 đến nay, nền kinh tế nước ta đã lấy lại được đà tăng trưởng với tốc độ tăng năm sau luôn luôn cao hơn năm trước (Năm 2000 tăng 6,79%; năm 2001 tăng 6,89%; năm 2002 tăng 7,08%; năm 2003 tăng 7,34%; năm 2004 tăng 7,79%; năm 2005 tăng 8,43%, năm 2006 tăng 8,20%) Tính ra trong 6 năm 2001-2006, bình quân mỗi năm tổng sản phẩm trong nước tăng 7,62%, đưa quy mô nền kinh tế năm 2005 gấp 1,52ần năm 2000
Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước bình quân mỗi năm trong 5 năm
2001-2005 đạt 7,62 không những cao hơn hẳn tốc độ tăng bình quân 6,95% mỗi năm trong
kế hoạch 5 năm 1996-2000 mà còn đứng vào hàng các nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao của khu vực và thế giới (Theo số liệu của Ngân hàng Thế giới và ESCAP thì tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước bình quân mỗi năm trong những năm 2000-
2004 của Trung Quốc là 8,5%; Hàn Quốc 5,5%; Thái Lan và Ma-lai-xi-a 5,0%; nê-xi-a 4,6%; Phi-li-pin 4,5%; Xin-ga-po 4,1%)
In-đô-Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước giai đoạn năm 2001-2006 ( %)
2001 2002 2003 2004 2005 2006 BQ mỗi năm
2001-2006
Tổng số 6,89 7,08 7,34 7,79 8,43 8,2 7.62
- Nông lâm nghiệp và thuỷ sản 2,98 4,17 3,62 4,36 4,04 3,23 3.73
- Công nghiệp và xây dựng 10,39 9,48 10,48 10,22 10,65 10,46 10.28
- Dịch vụ 6,10 6,54 6,45 7,26 8,48 8,25 7.18
(Nguồn: Tổng cục thống kê)
Sở dĩ tổng sản phẩm trong nước đạt được tốc độ tăng trưởng như trên là do hầu hết các ngành, các lĩnh vực then chốt của nền kinh tế đều có mức tăng trưởng khá cao Ước tính năm 2006 so với năm 2000, giá trị sản xuất nông lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 36% với tốc độ tăng bình quân mỗi năm 5,42%, trong đó nông nghiệp tăng 4,11%/năm, lâm nghiệp tăng 1,37%/năm, thuỷ sản tăng 12,12%/năm; giá trị sản xuất công nghiệp gấp 2,1 lần, bình quân mỗi năm tăng 16,02%, trong đó công nghiệp Nhà nước gấp 1,73 lần, bình quân mỗi năm tăng 11,53%; công nghiệp ngoài Nhà nước gấp 2,69 lần, bình quân mỗi năm tăng 21,91%; công nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài gấp 2,17 lần, bình quân mỗi năm tăng 16,8%; tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo giá thực tế gấp 1,96 lần; tổng mức lưu chuyển hàng hoá ngoại thương gấp 2,3 lần,
Trang 9bình quân mỗi năm tăng 18,18%, trong đó xuất khẩu gấp 2,24 lần, bình quân mỗi năm tăng 17,5% nhập khẩu gấp gần 2,36 lần, bình quân mỗi năm tăng 18,58%
Tốc độ tăng của một số ngành và một số lĩnh vực kinh tế 2001-2006
Năm 2006 so với năm 2000 (Lần)
Tốc độ tăng bình quân mỗi năm trong 6 năm 2001-2006 (%)
- Tổng sản phẩm trong nước theo giá so sánh 1994 1,44 7,51
- Giá trị sản xuất nông lâm nghiệp và thuỷ sản theo giá so sánh 1994 1,32 5,42
- Giá trị sản xuất công nghiệp theo giá so sánh 1994 2,10 16,02
- Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ theo giá thực tế 1,96 14,41
- Tổng mức lưu chuyển hàng hoá ngoại thương theo giá thực tế 2,30 18,18
(Nguồn: Tổng cục thống kê)
Chúng ta xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nên sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá phải giữ vững vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước Yêu cầu có tính nguyên tắc này đã được bảo đảm trong suốt quá trình cơ cấu lại nền kinh tế những năm vừa qua Mặc dù trong những năm 2001-2006, số lượng doanh nghiệp Nhà nước đã giảm đáng kể do tổ chức, sắp xếp lại và thực hiện cổ phần hoá, nhưng tỷ trọng của khu vực kinh tế Nhà nước trong tổng sản phẩm trong nước vẫn duy trì ở mức trên 38% (Năm 2001 chiếm 38,40%, năm 2002 chiếm 38,38%; 2003 chiếm 39,08%; 2004 chiếm 39,10%; năm 2005 ước tính chiếm 38,42%) Kinh tế ngoài Nhà nước được khuyến khích phát triển nên thường xuyên tạo
ra 46-47% tổng sản phẩm trong nước Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài vẫn tiếp tục giữ vị trí quan trọng Năm 2000 khu vực này tạo ra 13,28% tổng sản phẩm trong nước
và đến năm 2005 đã tạo ra 15,89%
Trang 10Cơ cấu GDP (2001-2006) theo giá thực tế phân theo thành phần kinh tế ( %)
2 Đánh giá thực trạng tăng trưởng kinh tế Việt Nam về chất lượng
2.1 Tăng trưởng kinh tế có những điểm mới nhưng chưa thực sự hiệu quả
Phát triển kinh tế là một trong những động lực chính góp phần xóa đói giảm nghèo nhanh chóng ở Việt Nam Quá trình này đã tăng tốc mạnh mẽ kể từ năm 2000 Cùng với hàng nghìn công ty có vốn đầu tư nước ngoài và hàng triệu doanh nghiệp hộ gia đình, các doanh nghiệp tư nhân đã mang lại việc làm cho 21% lực lượng lao động của Việt Nam Tạo việc làm với quy mô lớn đã cho phép hấp thụ từ 1,4 đến 1,5 triệu lao động bước vào thị trường lao động hàng năm, tạo ra cơ hội rời khỏi việc làm nông nghiệp cho người dân ở nông thôn, đặc biệt là cho nữ thanh niên Những cơ hội to lớn được tạo ra thông qua quá trình này đã giúp cho những lợi ích do tăng trưởng kinh tế mang lại được chia sẻ rộng rãi trong xã hội
Số liệu thống kê cho thấy tốc độ tăng trưởng GO và tốc độ tăng GDP (VA) cho thấy tăng trưởng kinh tế của Việt Nam có xu hướng tăng giai đoạn 2001-2006
Động thái tăng trưởng GO và GDP của Việt Nam
Trang 11Cùng với sự tăng trưởng của GO và GDP Tăng trưởng kinh tế đã đưa lại những hiệu quả đang kể cho sự phát triển của nền kinh tế trên các góc độ sau:
Chi phí lao động
Để có được một khối lượng lớn người lao động làm việc thỏa mãn nhu cầu thị trường, chúng ta cũng cần chú ý đến khâu đào tạo Đây là một khoản chi phí đáng kể đối với một đất nước có đến 1.5 lao động tham gia vào thị trường lao động như Việt Nam Trên thực tế một việc làm có chi phí cao hơn đi kèm với lượng vốn lớn hơn cho mỗi lao động thường có năng suất cao hơn Như vậy, nhìn từ góc độ kinh tế thì các việc làm có chi phí cao (ít nhất trên nguyên tắc) sẽ hiệu quả hơn so với những việc làm tốn ít chi phí hơn Trong những năm gần đây , khu vực kinh tế tư nhân có hiệu quả lớn nhất trong việc tạo việc làm với chi phí thấp nhất Một cách dễ dàng nhận thấy điều này là tính số vốn trung bình cho một công nhân trong các DNNN, doanh nghiệp FDI và khu vực kinh tế tư nhân trong nước Ta sẽ thấy rằng hàm lượng vốn là cao nhất trong các doanh nghiệp FDI, và thấp nhất trong khu vực tư nhân
Vốn tính trên lao động, 2000 và 2003
0100200300400
Trang 12Vốn bổ sung trên mỗi lao động bổ sung,
2001-2003
0 200 400 600
DNNN FDI Tư nhân
trong nước
Năng suất lao động
Các DNNN đã có những lợi thế hơn hẳn so với các doanh nghiệp tư nhân trong nước, đặc biệt về khả năng tiếp cận vốn và đất đai Đi đôi với quá trình cổ phần hóa, các DNNN đã hoạt động ngày càng hiệu quả hơn Cổ phần hóa làm giảm gánh nặng hành chính đối với doanh nghiệp và làm cho doanh nghiệp trở nên độc lập hơn đối với những lợi ích thường bị xung đột của các bên liên quan Điều này cho phép doanh nghiệp tiến gần hơn đến mức hiệu quả cao nhất
So sánh với các quốc gia khác trên thế giới ta có bảng số liệu sau:
So sánh tăng trưởng với chi phí vốn: suất đầu tư tăng trưởng
Thời kỳ tăng trưởng nhanh
Tỷ lệ đầu
tư (%GDP)
Tỷ lệ tăng trưởng (%)
SĐTTT
2006
37,7 40%
7,5 8,17
5,0 5,01
Trang 13Tốc độ tăng thu nhập bình quân đầu người:
Theo bản Báo cáo công tác của Chính phủ nhiệm kỳ 2002-2007 năm tiến bộ chủ
yếu về công tác quản lý Nhà nước và sự lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trong cả nhiệm kỳ qua được nêu ra bao gồm: hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường, kiểm soát và ổn định kinh tế vĩ mô, huy động các nguồn lực cho phát triển kinh tế-xã hội; mở rộng quan hệ đối ngoại, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế; thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, cải thiện đời sống nhân dân; đẩy mạnh cải cách hành chính và chống tham nhũng, lãng phí; bảo đảm quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội
2.2 Tăng trưởng kinh tế chủ yếu dựa vào vốn, hiệu quả đầu tư và năng suất lao động thấp
Đánh giá chất lượng tăng trưởng kinh tế, không thể không quan tâm đến cấu trúc đầu vào của tăng trưởng, tức là xem xét đóng góp của yếu tố vốn đầu tư, của lao động
và yếu tố năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP)
Năm GDP Tổng vốn đầu tư VĐT/GDP
2001
481,295 170,496 35.4%
2002
535,762 200,145 37.4%
2003
613,443 239,246 39.0%
2004
715,307 290,927 40.7%
2005
839,211 343,135 40.9%
2006
974,266 404,712 41.5%
Bảng: Đóng góp của yếu tố vốn đầu tư vào tăng trưởng kinh tế
Tỷ lệ vốn đầu tư so với GDP đạt mức 35,4% năm 2001 và không ngừng tăng lên trong các năm tiếp theo, từ năm 2004 – 2006 con số này luôn đạt mức trên 40%, tỷ lệ ở mức cao trên thế giới (chỉ sau Trung Quốc với 44%) Qua đó, có thể thấy tăng trưởng kinh tế Việt Nam chủ yếu dựa vào sự đóng góp của yếu tố số lượng vốn đầu tư
Trang 14Bên cạnh đó, tăng trưởng kinh tế của Việt Nam hiện còn dựa một phần quan trọng vào yếu tố số lượng lao động, sự quan trọng này được xét trên hai mặt Một mặt, do nguồn lao động hàng năm vẫn còn tăng khoảng 2%, tức là trên 1 triệu người mỗi năm Mặt khác, do tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị và tỷ lệ thiếu việc làm ở nông thôn còn cao Như vậy, sự đóng góp của yếu tố số lượng vốn đầu tư và số lượng lao động đã chiếm hơn 75% tổng tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam; đồng nghĩa với sự đóng góp của yếu tố TFP đối với tăng trưởng kinh tế còn nhỏ, thấp chỉ bằng hai phần ba tỷ trọng đóng góp của yếu tố này của các nước trong khu vực hiện nay Biểu hiện:
Thứ nhất, hiệu quả sử dụng vốn thấp thông qua 2 chỉ tiêu:
- Hệ số ICOR (tỷ lệ vốn đầu tư/GDP chia cho tốc độ tăng trưởng GDP) của Việt Nam khá lớn, ở mức 4,86 lần, cao hơn nhiều so với các nước trong khu vực
Quốc gia Hệ số ICOR Thời kỳ
Bảng: Hệ số ICOR một số nước trong khu vực
- Chỉ tiêu GDP/vốn đầu tư hàng năm với ý nghĩa một đồng vốn đầu tư tạo ra bao nhiêu đồng GDP liên tục sụt giảm qua các thời kỳ
Nông lâm thuỷ sản CN - XD Dịch vụ
2001 37609.6 24480.6 4929.2 8199.8
12,850,336
4,650,989 37,230,179
22,673,968
2002 38562.7 24469.6 5554.8 8538.3
13,945,185
5,124,113 37,120,508
24,147,898
2003 39507.7 24455.8 6084.7 8967.2 39,792,595