iii LỜI CAM ĐOAN Tôi cam đoan mọi kết quả nghiên cứu của đề tài: “Đánh giá sinh trưởng, tỷ lệ sống và chất lượng thịt ba dòng cá rô phi chọn giống trong hai môi trường nước ngọt và nướ
Trang 1
LUẬN VĂN THẠC SĨ
KHÁNH HÒA - 2016
Trang 2
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
TS NGUYỄN HỮU NINH
TS NGUYỄN VĂN MINH Chủ tịch Hội đồng:
PGS.TS LẠI VĂN HÙNG Khoa sau đại học:
KHÁNH HÒA - 2016
Trang 3iii
LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan mọi kết quả nghiên cứu của đề tài: “Đánh giá sinh trưởng, tỷ lệ sống
và chất lượng thịt ba dòng cá rô phi chọn giống trong hai môi trường nước ngọt và nước lợ” là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi và chưa từng được công bố trong bất kỳ
công trình khoa học nào cho tới thời điểm này
Tác giả
Nguyễn Công Dưỡng
Trang 4iv
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian thực hiện đề tài, tôi nhận được sự giúp đỡ của quý phòng ban trường Đại học Nha Trang, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản 1 đã tạo điều kiện tốt nhất cho tôi hoàn thành đề tài Đặc biệt sự hướng dẫn tận tình của TS Nguyễn Hữu Ninh
và TS Nguyễn Văn Minh đã giúp đỡ tôi hoàn thành tốt đề tài Qua đây, tôi xin gửi lời cám
ơn sâu sắc đến sự giúp đỡ này
Tôi xin cám ơn ThS Ngô Phú Thỏa, ThS Trần Thế Mưu cùng toàn thể ban lãnh đạo, cán bộ công nhân viên của Trạm Nghiên cứu nước lợ Quý Kim - Trung tâm Quốc gia giống hải sản miền Bắc và Phòng Di truyền chọn giống – Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản I đã giúp đỡ, tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi thực hiện luận văn này
Lời cám ơn chân thành xin gửi tới gia đình, bạn bè và đồng nghiệp, những người đã luôn giúp đỡ và động viên tôi trong học tập cũng như trong cuộc sống
Hải Phòng, tháng 11 năm 2015
Trang 5v
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN iii
LỜI CẢM ƠN iv
MỤC LỤC v
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT viii
DANH MỤC KÝ HIỆU ix
DANH MỤC BẢNG x
DANH MỤC HÌNH xi
DANH MỤC ĐỒ THỊ xii
TRÍCH YẾU LUẬN VĂN xiii
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 TỔNG QUAN 3
1.1 Một số đặc điểm sinh học của cá rô phi vằn và rô phi đỏ 3
1.1.1 Hệ thống phân loại 3
1.1.2 Nguồn gốc 4
1.1.3 Môi trường sống 4
1.1.4 Tập tính dinh dưỡng 5
1.1.5 Đặc điểm sinh trưởng 5
1.2 Tình hình nuôi cá rô phi trên thế giới và ở Việt Nam 6
1.2.1 Tình hình nuôi cá rô phi trên thế giới 6
1.2.2 Tình hình nuôi cá rô phi tại Việt Nam 8
1.3 Tình hình nghiên cứu chọn giống cá rô phi trên thế giới và ở Việt Nam 9
1.3.1 Tình hình nghiên cứu chọn giống cá rô phi trên thế giới 9
1.3.2 Tình hình nghiên cứu chọn giống tại Việt Nam 11
Trang 6vi
Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 14
2.1 Đối tượng nghiên cứu 14
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 14
2.3 Nội dung nghiên cứu 14
2.3.1 Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu 14
2.3.2 Bố trí thí nghiệm 15
2.3.3 Phương pháp đánh dấu cá: 17
2.4 Phương pháp thu thập số liệu 18
2.4.1 Thu thập về môi trường 18
2.4.2 Thu thập về chiều dài, khối lượng và tỷ lệ sống 19
2.4.3 Thu thập về tỷ phi lê 19
2.4.4 Thu thập về đánh giá chất lượng thịt cá 20
2.5 Phương pháp phân tích, xử lý số liệu 21
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 22
3.1 Giai đoạn từ cá bột đến cá giống 22
3.1.1 Biến động một số yếu tố môi trường giai nuôi 22
3.1.2 Tốc độ tăng trưởng của cá giống 23
3.1.3 Tỷ lệ sống của cá giống 25
3.2 Giai đoạn nuôi thương phẩm 27
3.2.1 Biến động mốt số yếu tố môi trường ao nuôi 27
3.2.3 Tốc độ tăng trưởng của cá nuôi thương phẩm 28
3.2.4 Tỷ lệ sống 3 dòng cá giai đoạn nuôi thương phẩm 31
3.3 Tỷ lệ phi lê 35
3.3.1 Tỷ lệ phi lê nguyên con 35
4.3.2 Tỷ lệ phi lê bỏ da 37
3.4 Chất lượng của thịt cá 38
Trang 7vii
3.4.1 Khả năng giữ nước của thịt cá 38
3.4.2 pH của thịt cá 39
3.4.3 Độ săn chắc thịt cá 41
3.4.4 Màu sắc thịt cá 42
Chương 4 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 45
4.1 Kết luận 45
4.2 Đề xuất 46
TÀI LIỆU THAM KHẢO 47
PHỤ LỤC 52
Trang 8viii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
GIFT: Genetically Improved Farmed Tilapia (Cá cô phi chọn giống dòng GIFT)
NOVIT 4: Norwegian - Vietnammese - Tilapia, 2004 (Cá rô phi chọn giống NOVIT4) FAO: The Food and Agriculture Organization of the United Nations (Tổ chức Nông Lương thế giới)
ICLARM: International Center for Living Aquatic Resources Management (Trung tâm quản lý nguồn lợi thủy sản thế giới)
MT: 17α Methyltestosterone
NTTS: Nuôi trồng thủy sản
Viện 1: Viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản 1
Viện 2: Viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản 2
Trang 9TCVN: Tiêu chuẩn Việt Nam
QCVN: Quy chuẩn Việt Nam
Trang 10x
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Diện tích và sản lượng cá rô phi năm 2014 8Bảng 2.1 Khẩu phần cho cá ăn (% KL cá) qua các giai đoạn 17Bảng 3.1 Một số chỉ tiêu môi trường nước trong thí nghiệm ương từ cá bột lên cá giống 22Bảng 3.2 Chiều dài và khối lượng cá giống trong thí nghiệm 23Bảng 3.3 Tỷ lệ sống của các dòng cá thí nghiệm môi trường nước ngọt và nước lợ 25Bảng 3.4 Một số chỉ tiêu môi trường nước ngọt trong thí nghiệm nuôi thương phẩm 27Bảng 3.5 Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối của 3 dòng cá nuôi thương phẩm trong hai môi
trường 28Bảng 3.6 Tăng trưởng chiều dài, khối lượng của 3 dòng cá thí nghiệm trong hai môi
trường 29Bảng 3.7 Tỷ lệ sống của các dòng cá giai đoạn nuôi thương phẩm 32Bảng 3.8 Bảng tổng hợp tỷ lệ phi lê và chất lượng thịt của 3 dòng cá thí nghiệm trong hai môi trường 36Bảng 3.9 Kết quả theo dõi kết cấu thịt cá của 3 dòng cá thí nghiệm trong hai môi trường 41Bảng 3.10 Kết quả theo dõi màu sắc thịt cá của 3 dòng cá thí nghiệm trong hai môi trường43
Trang 11xi
DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Hình cá rô phi nuôi thương phầm dòng NOVIT 4 (nguồn: internet) 3
Hình 2.1: Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu 15
Hình 2.3 Bố trí thí nghiệm ương từ cá bột lên cá giống 16
Hình 2.4 Ảnh cắt vây hai dòng cá thí nghiệm dòng Novit 4và chịu lợ mặn 18
Hình 3.5 Ảnh căn cứ phân biệt hai dòng Novit 4 và dòng lợ mặn 62
Trang 12xii
DANH MỤC ĐỒ THỊ
Đồ thị 3.1 Khối lượng của 3 dòng cá giai đoạn cá bột đến cá giống trong hai môi trường 24
Đồ thị 3.2 Chiều dài của 3 dòng cá giai đoạn cá bột đến cá giống trong hai môi trường 24
Đồ thị 3.3 Tỷ lệ sống của 3 dòng cá giai đoạn cá bột đến cá giống trong hai môi trường 26
Đồ thị 3.4.Khối lượng của 3 dòng cá giai đoạn nuôi thương phẩm trong hai môi trường 31
Đồ thị 3.5 Chiều dài của 3 dòng cá giai đoạn nuôi thương phẩm trong hai môi trường 31
Đồ thị 3.6 Tỷ lệ sống của 3 dòng cá giai đoạn nuôi thương phẩm trong hai môi trường 33
Đồ thị 3.7 Tỷ lệ phi lê nguyên con của 3 dòng cá nuôi trong hai môi trường 35
Đồ thị 3.8 Tỷ lệ phi lê thịt cá của 3 dòng cá trong hai môi trường 37
Đồ thị 3.9 Kết quả tỷ lệ nước có trong thịt cá của 3 dòng cá thí nghiệm trong hai môi trường 39
Đồ thị 3.10 Kết quả theo dõi pH thịt cá của 3 dòng cá thí nghiệm trong hai môi trường 40
Trang 13xiii
TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Đề tài được thực hiện để đánh giá sinh trưởng, tỷ lệ sống và chất lượng thịt ba dòng
cá rô phi chọn giống (hai dòng trong nước: dòng Novit 4 và dòng chịu lợ mặn, một dòng ở khu vực đông Nam Á: dòng rô phi đỏ nhập từ Malaysia) nuôi trong môi trường nước ngọt
và nước lợ nhắm đánh giá hiểu quả công tác chọn giống cá rô phi trong nước là cơ sở để xây dựng một chương trình chọn giống cá rô phi sinh trưởng tốt trong hai môi trường nước ngọt và nước lợ Thí nghiệm đánh giá sinh trưởng cho thấy dòng Novit 4 tốc độ tăng trưởng cao hơn dòng lợ mặn và rô phi đỏ nhưng tỷ lệ sống ở nước lợ thấp hơn ở nước ngọt Giai đoạn giống có chiều dài từ 5,86-5,88cm/con, khối lượng từ 3,72-4,12g/con cao hơn chiều dài từ 5,45-5,56cm/con, khối lượng từ 2,67-2,68g/con của dòng chịu lợ mặn nhưng tỷ lệ sống dòng Novit 4 không ổn định từ 41,68-70,05%, dòng lợ mặn từ 55,16-62,47% và cao hơn dòng rô phi đỏ từ 35,59-46,44% Giai đoạn nuôi thương phẩm thì dòng Novit 4 là 1,71-2,46g/con/ngày, 0,13-0,15cm/con/ngày, chiều dài 21,6-23,9 cm/con và khối lượng 209,2-299,4 g/con cao hơn dòng lợ, mặn là 1,59-1,94 g/con/ngày, 0,13-0,14 cm/con/ngày, chiều dài 20,9-22,0 cm/con và khối lượng 193,6-235,4 g/con và cao hơn dòng rô phi đỏ nhưng tỷ lệ sống dòng Novit 4 từ 56,50-84,55% thấp hơn dòng lợ mặn 78,79-86,10% Về tỷ lệ phi lê cá thì 3 dòng cá tương đương nhau về tỷ lệ phi lê nguyên con, tỷ lệ phi lê bỏ da, tỷ lệ nước và pH thịt cá của dòng Novit 4 tương ứng là 82,55-92,65%, 40,94-42,34%, 2,73-2,89%, 5,85-6,22 thấp hơn dòng lợ mặn tương ứng là 89,53-93,30%, 41,28-41,54%, 3,14-3,36%, 6,00-6,23 trong hai môi trường nuôi Về màu sắc và kết cấu dòng cá Novit 4 tỷ lệ thịt cá có màu và kết cấu thịt cứng thấp hơn dòng lợ mặn khi nuôi ở hai môi trường
Từ khóa: dòng Novit 4, dòng lợ mặn, sinh trưởng ba dòng, hai môi trường lợ, ngọt
Trang 141
MỞ ĐẦU
Cá rô phi, có nguồn gốc từ Châu Phi, thuộc họ Cichlidae, bộ cá Vược Perciformes,
có tới 80 loài có tên là rô phi trong đó 10 loài có giá trị kinh tế trong nuôi trồng thuỷ sản
Tuy nhiên, chỉ có 4 loài: rô phi vằn (Oreochromis niloticus), rô phi xanh (Oreochromis aureus), rô phi đen (Oreochromis mossambicus) và rô phi đỏ (Oreochromis sp) là những
loài nuôi phổ biến Trong những thập kỷ gần đây, cá rô phi được nuôi rộng rãi ở nhiều nước nhiệt đới, cận nhiệt đới và cả những nước ôn đới Đây là loài có tốc độ tăng trưởng nhanh, có khả năng thích nghi rộng với môi trường nước ngọt, lợ; có thể nuôi trong các hệ thống ao, đầm, lồng trên sông, hồ chứa, ruộng, với nhiều hình thức như nuôi đơn và nuôi ghép với các loài cá khác trong ao Cá rô phi là một trong 10 loài cá nước ngọt quan trọng đang được nuôi trên thế giới (Nguyễn Văn Tiến, 2004)
Cá rô phi được du nhập về nước ta từ rất sớm (thập kỷ 1950), loài cá nhập đầu tiên
là cá rô phi đen O mossambicus, nhưng đến năm 1997 khi Viện Nghiên cứu Nuôi trồng
Thủy sản I (Viện I) nhập đàn cá rô phi dòng GIFT phong trào nuôi cá rô phi mới phát triển mạnh Viện I đã tiến hành đánh giá chất lượng di truyền chọn lọc theo hai tính trạng tăng trưởng và chịu lạnh phù hợp điều kiện khí hậu miền Bắc và các tỉnh Phía Nam của nước ta Năm 2004, Viện I đã đăng ký thương hiệu cá rô phi chọn giống dòng NOVIT 4
Ngoài ra, các dòng cá rô phi xanh (O aureus) và rô phi đỏ (Oreochromis.spp) cũng được
nhập về nước ta để đánh giá chất lượng và đa dạng di truyền cho các chương trình chọn giống phục vụ nhu cầu nuôi của thị trường như chọn giống chịu mặn, lợ (Phạm Anh Tuấn
và công sự, 2008, trang 31-32), chọn giống trong điều kiện không tối ưu (Nguyễn Thị Hoa và công sự, 2013, trang 32-34), chọn giống nâng cao sinh trưởng trên cá rô phi đỏ
(Oreochromis spp) (Trần Hữu Phúc và cộng sự, 2011, trang 51-53)
Trong những năm gần đây đã có rất nhiều mô hình nuôi thương phẩm cá rô phi trong hai môi trường: nuôi trong ao nước ngọt, nuôi lồng bè trên hồ chứa và sông, nuôi nước lợ mặn như nuôi vùng đầm phá cửa sông, vùng chuyển đổi thâm canh nuôi tôm và vùng nuôi tôm kết hợp
Trang 152
Để đánh giá chất lượng các dòng cá rô phi chọn giống đang được nuôi thương phẩm ở
khu vực phía Bắc thì cần thực hiện nghiên cứu: “Đánh giá sinh trưởng, tỷ lệ sống và
chất lượng thịt ba dòng cá rô phi chọn giống trong hai môi trường nước ngọt và
nước lợ”
Mục tiêu nghiên cứu
Đánh giá tăng trưởng, tỷ lệ sống và chất lượng thịt của 3 dòng cá rô phi chọn giống (dòng NOVIT 4, dòng chịu lợ mặn và dòng cá rô phi đỏ) trong hai môi trường nước ngọt và nước lợ
Nội dung nghiên cứu
- Đánh giá tăng trưởng chiều dài, khối lượng và tỷ lệ sống của 3 dòng cá rô phi (dòng Novit 4; dòng chịu lợ mặn và dòng cá rô phi đỏ) từ giai đoạn cá bột lên cá giống khi nuôi trong hai môi trường nước ngọt và nước lợ
- Đánh giá tốc độ tăng trưởng, tỷ lệ sống của 3 dòng cá nuôi thương phẩm trong nuôi trong hai môi trường nước ngọt và nước lợ
- Đánh giá tỷ lệ phi lê của các dòng cá khi thu hoạch: phi lê nguyên con, phi lê bỏ da
- Đánh giá chất lượng thịt của 3 dòng cá nuôi thương phẩm trong nuôi trong hai môi trường nước ngọt và nước lợ thông qua một số chỉ tiêu độ giữ nước, pH, độ săn chắc và màu sắc
Trang 163
Chương 1 TỔNG QUAN 1.1 Một số đặc điểm sinh học của cá rô phi vằn và rô phi đỏ
Hình 1.1 Hình cá rô phi nuôi thương phầm dòng NOVIT 4 (nguồn: internet)
Theo Magintosh và Little (1995), thống kê có khoảng 80 loài cá rô phi được phân
loại thuộc 3 giống chính, đó là: Tilapia, Sarotherodon, Oreochromis nhưng theo đánh giá
chỉ có khoảng 10 loài có giá trị kinh tế trong nuôi trồng thuỷ sản (NTTS)
Giống Tilapia: Đẻ trứng bám vào giá thể (tổ đẻ) bằng cỏ rác Sau khi đẻ, cá đực và
cá cái cùng tham gia bảo vệ tổ Giống này phân bố chủ yếu ở Tây Phi và Trung Phi
Trang 174
Giống Sarotherodon: Đào tổ đẻ trứng, chỉ có cá đực ấp trứng trong miệng Giống
này phân bố chủ yếu ở Bắc Phi
Giống Oreochromis: Cá đực đào tổ đẻ, chỉ có cá cái ấp trứng trong miệng đến khi cá
nở thành cá bột Giống này phân bố rải rác ở miền Đông, Trung Phi
1.1.2 Nguồn gốc
Cá rô phi có nguồn gốc từ châu Phi So với các loài khác cá rô phi sớm gần gũi với đời sống con người chẳng hạn hình ảnh cá rô phi đã có ở những bức khắc trên đá trong các kim tự tháp của Ai- cập
Cá rô phi được con người nuôi đầu tiên vào năm 1924 và sau đó được nuôi rộng rãi trên toàn thế giới vào những năm 1940 – 1950, nhất là các quốc gia nhiệt đới và cận nhiệt đới Hiện nay các quốc gia châu Á trong đó có Việt Nam đã xác định cá rô phi là đối tượng nuôi chiến lược để đảm bảo an ninh lương thực và cung cấp nguồn nguyên liệu cho chế biến xuất khẩu
1.1.3 Môi trường sống
Cá rô phi cũng như hầu hết nhiều loài động vật sống dưới nước khác thuộc loài máu lạnh nên nhiệt độ là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến nhiều phương diện sống của chúng như: hô hấp, tiêu hóa, đồng hóa, dị hóa, miễn dịch…., từ đó sẽ ảnh hưởng đến tăng trưởng và sức khỏe của cá
Cá rô phi thích hợp với điều kiện tự nhiên của vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, nơi
có nhiệt độ thích hợp cho sự sinh trưởng và sinh sản của chúng Nhiệt độ thích hợp cho cá
luận cá rô phi chết rét ở 5,50C và chết nóng ở 420C (Nguyễn Văn Tư, 2003) Nhiệt độ
miền Bắc Tuy vậy, cá thường bị bệnh nấm và hay chết khi nhiệt độ nước xuống thấp tới
9 -12oC kéo dài, nhất là khi chúng bị xây xát bên ngoài
Trang 185
Cá rô phi sông Nile sống chủ yếu ở nước ngọt nhưng cũng sống được ở nước biển
12o/oo và biên độ pH rộng (pH từ 5-11)
Về hàm lượng oxy hòa tan, đa số các loài cá rô phi đặc biệt là loài O niloticus, có
thể sống ở những vùng nước có hàm lượng oxy hòa tan thấp trong khoảng 1 mg/lít
1.1.4 Tập tính dinh dưỡng
Cá rô phi là loài cá ăn tạp, thức ăn của chúng bao gồm hỗn hợp tảo phù du, động vật phù du, giun đất, côn trùng ở dưới nước, mùn bã hữu cơ và có khi cả các loại phân hữu cơ
Trong ao nuôi ngoài thức ăn tự nhiên chúng còn sử dụng cả thức ăn nhân tạo và phân hữu cơ (Tác giả?, 1994) Những nguyên liệu để chế biến thức ăn nhân tạo cho cá rô phi bao gồm: bột mì, cám gạo và các chế phẩm nông nghiệp
Hiện nay, người ta nuôi cá rô phi vằn với nhiều loại thức ăn khác nhau nhau, bao gồm: 65% cám gạo, 25% bột cá, 10% bột cùi dừa khô, hay 82% khô dầu hạt bông, 8% bột
mì và 2% bicalcium phosphate
Tính ăn của cá rô phi thay đổi theo loài, giai đoạn phát triển và kể cả môi trường
nuôi, O mossambicus ăn chủ yếu là mùn bã hữu cơ, thực vật phù du, tảo sợ và cả thực vật thượng đẳng T.nilotica ăn chủ yếu thực vật phù du, mùn bã hữu cơ và một vài loài tảo
phù du khác như Mycrocystis, Anabaena
1.1.5 Đặc điểm sinh trưởng
Cá rô phi cũng như các loài cá khác có tốc độ sinh trưởng và phát triển đặc trưng cho từng loài, các loài cá khác nhau thì sự phát triển cũng khác nhau Chẳng hạn trong
cùng một giống Oreochromis thì loài O.niloticus phát triển nhanh nhất, sau đó đến loài O.galilaeus và O.aureus (Lowe – Mc Conell, 1982) Khater và Smitherman (1988) đã nghiên cứu sự tăng trưởng của ba dòng cá rô phi O Niloticus: dòng Egypt, dòng Ghana
và dòng Ivory Coast Thí nghiệm được thực hiện trong các bể nhựa, xi măng và ao đất
Trang 19Nhiệt độ và độ sâu nước ao cũng ảnh đến tốc độ tăng trưởng của cá rô phi Thí nghiệm được tiến hành trong 10 tháng, nuôi cá trong 12 ao ở 4 độ sâu khác nhau và nhiệt
sâu 100-200cm thì cá sinh trưởng tốt nhất, đặt 348-362 g/con nhiệt độ nước trên 21oc
1996)
1.2 Tình hình nuôi cá rô phi trên thế giới và ở Việt Nam
1.2.1 Tình hình nuôi cá rô phi trên thế giới
Cá rô phi là loài cá được nuôi phổ biến thứ 2 trên thế giới, chỉ sau những loài cá chép (Fitzsimmons, 2010) Sản lượng cá rô phi nuôi không ngừng tăng lên và ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc cải thiện nguồn cung cấp dinh dưỡng cho người nghèo, nghề nuôi cá rô phi cũng được cho là một sinh kế tốt nhất cho nông dân thoát khỏi đói nghèo Trong tương lai, cá rô phi sẽ là sản phẩm thay thế cho các loài cá thịt trắng (FAO,
2008) và sản lượng cá rô phi nuôi toàn cầu năm 2014 dự báo đạt 4,5 triệu tấn
Hiện nay, công nghệ lai xa, công nghệ tạo cá siêu đực đã được phát triển, được ứng dụng rộng rãi Bằng các công nghệ di truyền chọn giống, một số phẩm giống cá rô phi có tốc độ sinh trưởng, chịu lạnh đã được tạo ra, giống cá rô phi được nâng cao chất lượng di truyền ngày càng được nuôi rộng rãi, góp phần đáng kể tăng năng suất và hiệu quả nuôi
Trang 207
Châu Á: Trung Quốc là quốc gia đứng đầu thế giới về nuôi và tiêu thụ cá rô phi,
năm 2013 xuất khẩu 370.000 tấn trị giá 1,3 tỷ USD Các hình thức nuôi rất đa dạng, từ những ao nhỏ, nuôi quảng canh, quảng canh cải tiến cho đến thâm canh và siêu thâm canh Sản lượng cá rô phi của Philippin, Ðài Loan trung bình đạt 110.000 tấn/năm Cá rô phi của Ðài Loan xuất sang Mỹ, Nhật dưới dạng sản phẩm nguyên con đông lạnh và phi lê; còn Philippin chủ yếu xuất sang thị trường Nhật với sản phẩm sashimi và phi lê Các sản phẩm xuất khẩu của Thái Lan là cá nguyên con đông lạnh và phi lê đông lạnh Nghề nuôi cá rô phi ở Inđônêxia đang phát triển, sản lượng đạt được mỗi năm khoảng 30.000 tấn, phần lớn tiêu thụ nội địa (FAO, 2014)
Châu Mỹ: Quốc gia sản xuất cá rô phi nhiều nhất châu Mỹ là Mêhicô, kế đến là
Braxin Hai quốc gia này có thị trường nội địa mạnh, đặc biệt là nhu cầu tiêu thụ cao ở Sao Paulo, Rio de Janeiro (Braxin) Ecuađo, một quốc gia sản xuất tôm nổi tiếng nhưng trong những năm gần đây đang đối mặt với dịch bệnh (chủ yếu là bệnh đốm trắng-WSSV)
đã chuyển sang phát triển nuôi cá rô phi ở những ao nuôi tôm nhằm cải thiện môi trường, khi môi trường tốt hơn họ lại tiến hành nuôi tôm (FAO, 2014) Chu kỳ nuôi xen canh tôm-cá đã chứng tỏ được hiệu quả Một quốc gia khác là Pêru tuy mới phát triển nuôi cá
rô phi nhưng có nhiều triển vọng trong tương lai
Châu Phi: Ai Cập là nhà sản xuất cá rô phi lớn nhất, chiếm 90% sản lượng cá rô phi
của châu lục Trong đó có một sản lượng đáng kể cá được khai thác từ tự nhiên Zămbia
có kế hoạch mở rộng nuôi cá rô phi theo mô hình tổng hợp, loài được nuôi là cá rô phi địa
phương Oreochromis andersonii và cá rô phi toàn đực dòng Ai Cập Với hình thức nuôi
này, mặc dù mang lại hiệu quả nhưng chất lượng cá nuôi không đảm bảo yêu cầu vệ sinh Ghana và Nigiêria vừa thành lập nhiều trang trại có quy mô lớn và được quản lý tốt, mục tiêu là tạo ra sản phẩm xuất khẩu sang thị trường EU Malauy có một vài trang trại nhỏ,
chủ yếu nuôi các loài cá bản địa O lodole, O Karonga, O squamipinnis và O shiranus
Các quốc gia Kenya, Uganda, Tanzania, Môzămbic, Namibia, Botswana, Angola đều có sản lượng cá rô phi nuôi không đáng kể và các quốc gia này cũng đang có kế hoạch phát
triển nuôi cá rô phi (FAO, 2014)
Trang 218
Châu Âu: Sản lượng cá rô phi nuôi ở châu Âu rất ít do khu vực này có nhiệt độ thấp
không thuận lợi để nuôi cá rô phi Bỉ là nước nuôi nhiều nhất với sản lượng đạt khoảng
300 tấn/năm Cá rô phi cũng được nuôi ở Hà Lan, Thụy Sỹ, Tây Ban Nha, Ðức, Pháp và
Anh Hiện nay nhu cầu tiêu thụ cá rô phi ở các quốc gia này tăng lên, cá rô phi được bày bán ở nhà hàng và hệ thống siêu thị nhằm phục vụ cho một bộ phận dân cư có nguồn gốc
từ châu Á (FAO, 2014)
Trung Ðông: Ả Rập Xê út, Cô oét và Lebanon nuôi cá rô phi trong môi trường
nước mặn và những loài nuôi phổ biến là O spiluris Do thiếu nguồn nước nên nuôi
thường bị giới hạn trong khi nhu cầu và giá bán cá rô phi rất cao (FAO, 2014)
1.2.2 Tình hình nuôi cá rô phi tại Việt Nam
Cá rô phi được nuôi trong lồng và trong ao, cả trong môi trường nước ngọt và nước
lợ Cá rô phi vằn (Oreochromis niloticus) chủ yếu được nuôi ở các tỉnh phía Bắc và cá rô
Bảng 1.1 Diện tích và sản lượng cá rô phi năm 2014
TT Địa phương Diện tích (ha) Thể tích lồng,
bè (m 3 )
Sản lượng (tấn)
Trang 22khi thả đến lúc thu hoạch (Nguyễn Văn Tiến, 2015)
Hiệu quả kinh tế từ nuôi cá rô phi khá cao: Với nuôi thâm canh trong ao thả mật độ
15.000đồng/kg), tỷ lệ sống 70-80%, cỡ cá thu hoạch 600-800g, năng suất đạt 18-20tấn/ha, giá bán giao động 40.000đ-60.000đ thì lãi suất đạt từ 15.000 – 20.000 đồng/kg Với nuôi lồng thả mật độ 100-130 con/m3, thời gian nuôi 5-6 tháng, FCR từ 1,8-2,5 (giá thức ăn trung bình 15.000 đồng/kg), tỷ lệ sống 70-80%, cỡ cá thu hoạch 800-1.200g, năng suất đạt 25 -70kg/m3, giá bán giao động 50.000-70.000 đồng/kg thì lãi suất đạt từ 15.000 – 35.000 đồng/kg (Nguyễn Văn Tiến, 2015)
Qua thực tế, với điều kiện có con giống chất lượng cao, công tác quản lý tốt và giải quyết được đầu ra thì nuôi cá rô phi cho hiệu quả kinh tế hơn cá tra và không kém nuôi tôm nước lợ, với giá xuất khẩu năm 2014 là 4,2 USD/kg (Tổng cục Thuỷ sản, 2014)
1.3 Tình hình nghiên cứu chọn giống cá rô phi trên thế giới và ở Việt Nam
1.3.1 Tình hình nghiên cứu chọn giống cá rô phi trên thế giới
Nhiều loài thuỷ hải sản có giá trị cao đang được rất nhiều nước quan tâm và chú trọng phát triển Đã có nhiều công trình nghiên cứu và đạt được một số kết quả đáng kể Bên cạnh việc sử dụng các phương pháp chọn giống truyền thống đang được áp dụng rộng rãi trên thế giới để nâng cao chất lượng giống theo tính trạng thì việc sử dụng công nghệ di truyền phân tử cũng bắt đầu được sử dụng Việc kết hợp công nghệ di truyền phân
Trang 2310
tử với chọn giống truyền thống của công ty Genomar đã tạo ra dòng cá rô phi GST1 và GST3 có tốc độ tăng trưởng cao hơn (khoảng 20%) sau mỗi thế hệ, hệ số thức ăn thấp hơn, tỷ lệ sống đạt cao và giảm tỷ lệ cận huyết xuống dưới 3% ở mỗi thế hệ (Sergio Zimmermann et al., 2004)
Từ năm 1997 trở lại đây, phương pháp chọn giống cá rô phi truyền thống đã được
áp dụng chương trình chọn giống theo tính trạng, trong đó chủ yếu tập trung vào tính trạng tăng trưởng để nâng cao chất lượng di truyền, đã được thực hiện ở nhiều nước khác nhau Cá rô phi dòng GIFT đã được bố trí nuôi thử nghiệm ở 5 nước thuộc khu vực Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam Với mục đích khảo nghiệm chất lượng di truyền của đàn
cá chọn giống thông qua việc nuôi để so sánh với các loài rô phi khác trong cùng điều kiện nuôi khác nhau Kết quả thu được rất đáng quam tâm, dòng GIFT có tốc độ tăng trưởng nhanh hơn 15 – 20 % so với các dòng cá khác hiện đang được nuôi ở Việt Nam (Nguyễn công Dân và công sự, 1998)
Đầu tiên là chương trình chọn giống nâng cao chất lượng di truyền cá rô phi ở Phillipines, kết quả đã tạo ra cá rô phi dòng GIFT có tốc độ tăng trưởng vượt trội 75% so với quần đàn bố mẹ ban đầu sau 5 thế hệ chọn giống, đồng thời tỷ lệ sống cũng được nâng cao (Bentsen et al., 1998)
Ngoài ra, Phillipines cũng đầu tư nâng cao chất lượng di truyền của cá rô phi thông qua việc lai tạo với tổ tiên của chúng để tạo ra sản phẩm là cá rô phi vằn GET Excel tốc
độ tăng trưởng và tỷ lệ sống cao hơn ở các môi trường nuôi khác nhau (Taymen, 2004) Bên cạnh đó, phương pháp chọn giống để nâng cao tốc độ tăng trưởng đã được thực hiện tại Malaysia với vật liệu chọn giống là cá rô phi dòng GIFT được nhập từ Phillipines
đã cho kết quả tốt và sau mỗi thế hệ chọn giống cũng đã thu được tốc độ tăng trưởng tăng khoảng 10% (Ponzoni et al., 2005)
Cũng với vật liệu nghiên cứu là rô phi vằn, Indonesia cũng đã đầu tư nghiên cứu để nâng cao chất lượng di truyền thông qua các tổ hợp lai khác nhau, kết quả là đã tạo ra được dòng cá Nila Jica có tốc độ sinh trưởng cao trong điều kiện môi trường nuôi của
Trang 2411
Indonesia (http://www.dkp.go.id) Chọn giống nâng cao tốc độ sinh trưởng đã bắt đầu được thực hiện tại Malawi với kết quả thu được tốc độ tăng trưởng tăng khoảng 7,2% sau mỗi thế hệ (Maluwa and Gjerden, 2005)
Còn tại một số nước châu Âu thì phương pháp chọn giống cũng đang được quan tâm trong những năm gần đây Tại Hà Lan, phương pháp chọn giống truyền thống theo tính trạng đã thực hiện với mục đích nâng cao tỷ lệ phi lê, và đã thu được kết quả tốt tỷ lệ phi
lê của cá rô phi vằn (O Niloticus) từ 3,5kg được 1 kg thịt cá phi lê xuống 3,2kg cá được 1
kg thịt phi lê (Rutten et al., 2005)
Ngoài ra còn có một số công trình nghiên cứu góp phần nâng cao chất lượng cá rô phi thương phẩm như: Chọn giống để làm chậm quá trình phát dục ở cá rô phi của tác giả Schwark và Langholz (1998) đang được thực hiện tại Trung Quốc, Ai Cập; chọn giống để tăng khả năng chịu lạnh tại Israel
1.3.2 Tình hình nghiên cứu chọn giống tại Việt Nam
Hiện nay, Việt Nam phát triển nhanh nuôi cá rô phi ở cả ba miền Bắc, Trung và Nam Ở các tỉnh phía Bắc, cá rô phi nuôi trong nước ngọt và nước lợ chủ yếu là rô phi
vằn (Oreochromis niloticus), ở các tỉnh phía Nam là rô phi đỏ (Oreochromis spp.) Năm
1951, cá rô phi được di nhập về nước ta lần đầu tiên là cá rô phi đen (Oreochromis mossambicus), đến năm 1973 cá rô phi vằn được nhập từ Đài Loan vào nước ta và có một
số khả năng ưu việt như cá nhanh lớn, nhịp đẻ thưa so với cá rô phi đen do đó phong trao nuôi cá rô phi được mở rộng trên cả nước Tuy nhiên do công tác giữ giống thuần không tốt nên hiện tượng lai tạp giữa cá rô phi vằn với cá rô phi đen xảy ra khá phổ biến, làm suy giảm chất lượng cá giống Nhiều vùng nước tự nhiên hiện vẫn đang tồn tại cá rô phi lai của hai đàn này (Phạm Anh Tuấn, 2008)
Trong thời gian từ năm 1993 đến nay, thông qua các đề tài nghiên cứu khoa học và chương trình hợp tác quốc tế, Viện I đã nhập nội một số phẩm giống cá rô phi như: Cá rô phi vằn dòng Thái Lan từ Thái Lan, cá rô phi GIFT (Genetically Improved Farmed Tilapia) chọn giống thế hệ thứ 5 của ICLARM, cá rô phi vằn dòng Swansea và cá rô phi
Trang 2512
xanh O aureus từ Philippines, cá rô phi đỏ Oreochromis spp từ Đài Loan và Thái Lan
Cá rô phi vằn dòng Thái Lan, dòng GIFT, và cá rô phi đỏ đã thể hiện ưu thế sinh trưởng, thích ứng với điều kiện nuôi cá nước ta, được người nuôi cá quan tâm Cá rô phi vằn dòng GIFT nhập nội đã được sử dụng làm vật liệu ban đầu cho chương trình chọn giống cá rô phi tiến hành tại Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản I, sau hai thế hệ chọn giống theo phương pháp gia đình, cá rô phi chọn giống có tốc độ tăng trưởng tăng thêm 29,1% (Nguyễn Công Dân, 2000) Cá rô phi vằn dòng GIFT, dòng Thái Lan (thế hệ 12-13) và cá
rô phi đỏ hiện đang được sử dụng làm giống nuôi ở nhiều vùng nuôi trong cả nước (Trần Hữu Phúc và công sự, 2011)
Trong những năm gần đây, nghiên cứu tạo cá rô phi toàn đực bằng 5 tổ hợp lai xa
giữa ba dòng cá rô phi vằn (Oreochromis niloticus) và hai dòng cá rô phi xanh (Oreochromis aureus) Tỷ lệ cá đực trung bình cao nhất ở thế hệ con lai đạt được từ hai công thức lai: ♀ O niloticus Israel × ♂ O aureus Israel (88,7%) và ♀ O niloticus Đài Loan × ♂ O aureus Trung Quốc (93,3%) Có nhiều đặc điểm hình thái bên ngoài của cá
bố mẹ quan hệ chặt chẽ với tỷ lệ giới tính ở thế hệ con Những cá thể bố mẹ chọn lọc theo các chỉ tiêu hình thái khi ghép lai đã tạo được 98,7% cá đực ở thế hệ con (Phạm Anh Tuấn và công sự., 2008), hiện nay hướng nghiên cứu này vẫn đang được tiếp tục với sự kết hợp của chỉ thị phân tử
Cùng với Viện I, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II đã thực hiện chương trình
chọn giống cá rô phi đỏ Oreochromis spp từ quần thể ban đầu nhập từ Enaca, Ecuado
(nhập năm 2008) gồm 100 gia đình từ thế hệ thứ 2 của chương trình từ các dòng (1) Colombia F3G, (2) Colombia F3S, (3) Israel, (4) Jamaica F3G, (5) mix reproduction, (6) Modercorp x Colombia, (7) Tilapia Negra Estero Các nhóm mới gồm: Malayxia 34 gia đình, Thái Lan (từ Nam Sai Farrm Ltd.), Đài Loan (từ nam Sai Farm Ltd.) và Isarel Trở ngại lớn nhất trong việc nuôi cá rô phi ở Việt Nam nói chung là tỷ lệ cá đạt kích
cỡ thương phẩm (hơn 500g/con/8 tháng nuôi) thấp, do con giống kém chất lượng liên quan đến yếu kém trong công tác quản lý đàn cá bố mẹ Đặc điểm chung của các đàn cá
Trang 2714
Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là hai dòng cá rô phi vằn (Oreochromis nilotius) chọn giống và
cá rô phi đỏ (Oreochromis spp.)
- Dòng thứ nhất: Cá rô phi vằn (Oreochromis nilotius) chọn giống dòng NOVIT-4
thế hệ 14 lưu giữ tại Trung tâm Quốc gia giống thủy sản nước ngọt miền Bắc, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản I
- Dòng thứ hai: Cá rô phi vằn (O nilotius) chọn giống ở môi trường nước lợ mặn
(dòng LM) thế hệ 5 đang lưu giữ tại Trung tâm Quốc gia giống hải sản miền Bắc, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản I
- Dòng thứ ba: Cá rô phi đỏ (Oreochromis spp.) chọn giống thế hệ thứ 3 (RPĐ) của
Malaysia đang lưu giữ tại Phòng Di truyền – Chọn giống, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản I
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian: Từ tháng 4 năm 2014 đến tháng 12 năm 2014
2.3 Nội dung nghiên cứu
2.3.1 Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu
Đề tài tiến hành chọn cá bố mẹ và ghép sinh sản 3 dòng cá rô phi thí nghiệm trong giai (kích thước: 4mx5mx1,5m) Mỗi giai ghép 15 cá đực và 30 cá cái, 3 giai/dòng Cá rô phi vằn dòng chịu mặn được ghép cặp, sinh sản ở ao nước lợ (độ mặn < 20‰) tại Trạm nước lợ Quý Kim Cá rô phi vằn dòng NOVIT 4và cá rô phi đỏ được ghép cặp, sinh sản
Trang 28Nuôi từ giai đoạn cá bột lên giai đoạn cá giống
Nuôi từ giai đoạn cá giống lên giai đoạn cá thương phẩm
Đánh giá tỷ lệ phi lê
bỏ da
Đánh giá kết cấu thịt
cá
Đánh giá màu sắc của thịt cá
Đánh giá pH của thịt
Đánh giá mức độ giữ nước của thịt
Trang 2916
Thí nghiệm được bố trí ngẫu nhiên hoàn toàn với mỗi dòng cá được ương trong 1 giai 10m2 (kích thước: 2mx5mx1m), với 3 lần lặp Mỗi giai 2.500 con cá bột và ương trong 2 môi trường nước ngọt và nước lợ (độ mặn dưới 15-20‰)
Thời gian ương là 60 ngày khi cá đạt cỡ trên 5 g/con, chọn ngẫu nhiên 50 con/giai cân đo tốc độ tăng trưởng theo chiều dài, khối lượng và tỷ lệ sống của 3 dòng cá thí nghiệm ở giai đoạn này
Hình 2.3 Bố trí thí nghiệm ương từ cá bột lên cá giống
Cho cá ăn bằng thức ăn Cargill 40% độ đạm, ngày cho ăn 4 lần (7h, 10h, 14h và 17h), trong 20 ngày đầu cá được cho ăn thức ăn nghiền mịn sau đó cho thức ăn viên nổi
cỡ thức ăn 1-2mm Khẩu phần ăn theo bảng 3.1
2.3.2.2 Thí nghiệm đánh giá kết quả ương nuôi thương phẩm 3 dòng cá rô phi
Kết thúc thí nghiệm đánh giá kết quả ương nuôi 3 dòng cá rô phi từ giai đoạn cá bột lên cá giống, chọn ngẫu nhiên mỗi dòng 4.200 con cá giống, tiến hành cắt vây để phân biệt quần đàn: dòng Novit 4 cắt vây bụng trái, dòng lợ mặn cắt vây bụng phải, dòng rô phi
đỏ cắt vây bụng trái Sau khi cắt vây từ 5-7 ngày khi cá ổn định thì chuyển sang thí nghiệm sinh trưởng trong ao đất
Cá thí nghiệm về tăng trưởng giai đoạn thương phẩm được bố trí nuôi chung trong
ao đất và chọn 2 ao thí nghiệm: 01 ao ở môi trường nước ngọt (E 15 tại Viện NCNTTS 1)
Trang 3017
(loại A4) ngăn thành ba khoang có diện tích bằng nhau, mỗi khoang là 1 lần lặp, lưới được mắc cố định hạn chế tối đa cá có thể lọt sang nhau
mặn 700 con và dòng rô phi đỏ 700 con) Môi trường nước ngọt chọn ao E 15 tại Viện NCNTTS 1, môi trường nước lợ mặn chọn ao số 3 tại Trạm Quý Kim- Hải Phòng
Thí nghiệm nuôi sinh trưởng từ tháng 7 đến tháng 10/2014
Kết thúc thí nghiệm, đề tài tiến hành thu hoạch chọn ngẫu nhiên mỗi dòng 30 con của 3 dòng cá trong hai môi trường, sau đó xác định các thông số gồm chiều cao; khối lượng, chiều dài, bề dày thân và tỷ lệ sống của cá thí nghiệm Đồng thời đánh giá các chỉ tiêu: phi lê nguyên con, tỷ lệ phi lệ bỏ da và chất lượng thịt (pH thịt cá, màu sắc, độ săn chắc và tỷ lệ giữ nước của thịt cá)
Cho cá ăn bằng thức ăn Cargill 30% độ đạm, ngày cho cá ăn 2 lần (7h và 17h) Kích
cỡ thức ăn 4-6mm, khẩu phần ăn tại bảng số 3.1
Tỷ lệ cho cá ăn qua các giai đoạn được tính theo bảng sau:
Bảng 2.1 Khẩu phần cho cá ăn (% KL cá) qua các giai đoạn
5-8g/con
Giai đoạn từ cá giống lên cá
thương phẩm
15 ngày đầu
15 ngày tiếp theo
15 ngày cuối 60 ngày
Tháng thứ I
Tháng thứ II
Tháng thứ III,
IV Khẩu phần
Trang 31
Hình 2.4 Ảnh cắt vây hai dòng cá thí nghiệm dòng Novit 4và chịu lợ mặn 2.4 Phương pháp thu thập số liệu
2.4.1 Thu thập về môi trường
- Nhiệt độ nước: Theo dõi 2 lần/ngày (8giờ và 14giờ) bằng nhiệt kế điện tử
- DO: Theo dõi 1 lần/ngày (8giờ) bằng Oxygen 3310 Set-1 của Đức
- pH: Theo dõi 1 lần/ngày vào 8giờ sáng bằng máy pH 3110 Set-2 của Đức
- Độ mặn: Theo dõi 2 lần/ngày (8h và 14h) bằng máy đo độ mặn
- NH4+: theo dõi 1 tuần/lần bằng teskit đo NH4+
Trang 3219
- NO3-: theo dõi 1 tuần/lần bằng teskit đo NO3-
2.4.2 Thu thập về chiều dài, khối lượng và tỷ lệ sống
- Đàn cá thí nghiệm được cân đo khối lượng trước khi thực hiện thí nghiệm và khi kết thúc, cân đo khối lượng và chiều dài tổng số cá thí nghiệm, tính tỷ lệ sống từ cá bột lên cá giống (5g/con)
- Kết thúc giai đoạn ương từ cá bột lên cá giống, chọn ngẫu nhiên mỗi dòng 4.200 con cá và cắt vây phân biệt các dòng để thực hiện thí nghiệm nuôi thương phẩm trong hai môi trường nước ngọt và nước lợ Khi kết thúc thí nghiệm tiến hành cân đo để tính tốc độ sinh trưởng theo khối lượng và chiều dài cơ thể và tính tỷ lệ sống từ giai đoạn giống đến khi kết thúc thí nghiệm
- Đánh giá tốc độ sinh trưởng và tỷ lệ sống theo công thức sau:
+ Khối lượng cá tăng thêm = khối lượng khi thu(g) - khối lượng khi thả(g)
+ Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối theo ngày (Absolute Growth Rate):
Số lượng cá thu hoạch
Số lượng cá ban đầu
2.4.3 Thu thập về tỷ phi lê
Sản phẩm cá rô phi chế biến xuất khẩu chính của Việt Nam gồm phi lê còn da, phi lê lạng da (bỏ da) và cá rô phi nguyên con đông lạnh (Tổng cục thuỷ sản, 2014) nhưng trong khuôn khổ đề tài thực hiện đánh giá tỷ lệ phi lạng da (bỏ da) và phi lê nguyên con
+ Tỷ lệ phi nguyên con: sau khi cân đo tăng trưởng, chọn ngẫu nghiên 30 con cá/dòng và kiểm tra khối lượng sau khi cá được rửa sạch bỏ vẩy, bỏ mang, bỏ ruột Công thức tính tỷ lệ phi lê nguyên con như sau:
Trang 3320
Khối lượng cá ban đầu + Tỷ lệ phi lê bỏ da: Sau khi kiểm tra khối lượng phi lê nguyên con, 30 con/dòng được phi lê bỏ xương, lạng da tính khối lượng cá phi lê bỏ da Tỷ lệ phi lê bỏ da được tính theo công thức sau:
Khối lượng cá ban đầu
2.4.4 Thu thập về đánh giá chất lượng thịt cá
Chất lượng thịt cá thể hiện qua nhiều chỉ tiêu như: vật lý, hóa sinh và vi sinh Chỉ tiêu về vật lý như: độ săn chắc, màu sắc, mùi Chỉ tiêu về hóa sinh như: độ ẩm, hàm lượng protein, lipid, tro, axit amin Tuy nhiên, trong khuôn khổ của đề tài chọn các chỉ tiêu như pH, độ săn chắc, màu sắc và tỷ lệ giữ nước của thịt để đánh giá chất lượng thịt cá
ba dòng cá thí nghiệm khi nuôi ở hai môi trường nước ngọt và nước lợ
+ Đo pH thịt cá: 30 mẫu thịt cá sau khi được phi lê dùng máy đo pH điện tử đo pH thịt cá
+ Đánh giá độ săn chắc của thịt cá: 30 mẫu thịt cá được gửi cho 3 người độc lập
đánh giá khách quan kết cấu thịt cá bằng cảm quan sau khi dùng ngón tay trỏ ấn lên miền thịt và theo dõi khả năng phục hồi của viết ấn trong 30 giây Đánh giá độ săn chắc chia làm 5 mức theo thang sau: mức 1 là thịt rất mềm, mức 2 là thịt hơi mềm, mức 3 là thịtcứng, mức 4 là thịt hơi cứng, mức 5 là thịt rất cứng
+ Đánh giá màu sắc của thịt cá: 300 mẫu thịt cá được gửi cho 3 người độc lập
đánh giá khách quan màu sắc thịt cá bằng cảm quan sau khi quan sát màu sắc của thịt cá trong thời gian 30 giây Đánh giá màu sắc thịt cá chia làm 5 mức theo thang sau: mức 1 là thịt màu trắng, mức 2 là thịt màu hồng nhạt, mức 3 là thịt màu hồng, mức 4 là thịt màu đỏ
Trang 3421
2.5 Phương pháp phân tích, xử lý số liệu
Các số liệu sau khi thu nhập được tiến hành xử lý bằng phần mềm Excel và phân tích phương sai ANOVA hai nhân tố để tính sự sai khác giữa các dòng cá nuôi trong hai môi trường giai đoạn từ cá bột đến giai đoạn cá giống về tăng trưởng theo chiều dài, khối lượng và tỷ lệ sống
Phân tích phương sai ANOVA hai nhân tố với các chỉ số tăng trường chiều dài, khối lượng và tỷ lệ sống, tỷ lệ phi lê: tỷ lệ phi nguyên con, phi lê bỏ da và chất lượng thịt cá:
pH, tỷ lệ giữ nước của thịt cá trong thí nghiệm đánh giá kết quả ương nuôi thương phẩm 3
Trang 3522
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Giai đoạn từ cá bột đến cá giống
3.1.1 Biến động một số yếu tố môi trường giai nuôi
Môi trường nước ngọt: Nhiệt độ nước tăng dần từ tháng 4 đến tháng 7 và dao động trong khoảng 17,3 - 34,50C, trung bình đạt 29,30 ± 0,380
C Hàm lượng oxy hòa tan đo được trong hai ao tương đối ổn định, dao động từ 3,5 - 6,4 mg/l, độ mặn luôn ở mức 0‰
Bảng 3.1 Một số chỉ tiêu môi trường nước trong thí nghiệm ương từ cá bột lên cá
giống Thông số môi trường Môi trường nước ngọt Môi trường nước lợ
29,3 ± 0,38
13,7-34,5 29,2± 0,37
4,8 ± 0,05
3,7-6,5 4,8 ± 0,06
Môi trường nước lợ: Nhiệt độ nước tăng dần từ tháng 4 đến tháng 7, nhiệt độ dao
hòa tan đo được trong hai ao tương đối ổn định, giao động từ 3,7 ‚ 6,5 mg/l, trung bình 4,80 ± 0,05 mg/l và độ mặn giao động 15,0 – 20,0‰, trung bình đạt 16,87 ± 0,07 ‰ Kết quả theo dõi môi trường ao nuôi trong quá trình thí nghiệm cho thấy các chỉ tiêu
thích hợp cho sự sinh trưởng và phát triển của cá rô phi (Lê Quang Long, 1961, trang 27)
Trang 3623
3.1.2 Tốc độ tăng trưởng của cá giống
Tốc độ tăng trưởng của ba dòng cá tương đối tốt trong cả hai môi trường nước ngọt
và nước lợ, trong đó dòng rô phi đỏ có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất về cả chiều dài và khối lượng, dòng lợ mặn có tốc độ tăng trưởng thấp nhất (Bảng 3.2)
Bảng 3.2 Chiều dài và khối lượng cá giống trong thí nghiệm
(g/con)
Chiều dài (cm/con)
Khối lượng (g/con)
Chiều dài (cm/con)
Khối lượng (g/con)
Novit 4
0,0148a ± 0,00007
5,45c ± 0,07 2,67c ± 0,23 5,46 c ±0,12 2,68 c ±0,18
Ghi chú: Số liệu trong cùng một hàng có cùng chữ thì không có khác sai khác ý nghĩa thống kê (p>0,05)
Kết quả kiểm tra chiều dài và khối lượng cho thấy cá rô phi dòng chịu lợ mặn phát triển tương đối đồng đều trong hai môi trường nước ngọt và nước lợ (chiều dài trung bình của cá trong môi trường nước ngọt là 5,45 cm/con, trong môi trường nước lợ là 5,46 cm/con và khối lượng lần lượt tương ứng là 2,67 g/con và 2,68 g/con); dòng Novit 4 có chiều dài tương đương nhau khi nuôi trong hai môi trường nước ngọt (5,86 cm/con) và nước lợ (5,88 m/con) nhưng khối lượng có sự khác biệt đáng kể giữa hai môi trường với 4,12 g/con trong môi trường nước ngọt và 3,72 g/con trong môi trường nước lợ
Trang 3724
Đồ thị 3.1 Khối lượng của 3 dòng cá giai đoạn cá bột đến cá giống trong hai môi
trường
Đồ thị 3.2 Chiều dài của 3 dòng cá giai đoạn cá bột đến cá giống trong hai môi trường
Kết quả phân tích ANOVA hai nhân tố về khối lượng và chiều dài cuả ba dòng cá thí nghiệm cho thấy không có sự sai khác về khối lượng và chiều dài các dòng cá trong hai môi trường nước ngọt và nước lợ (P > 0,05) nhưng khi phân tích phương sai một nhân
tố thì có sự sai khác về khối lượng và chiều dài của ba dòng cá khi nuôi trong cùng một môi trường nước ngọt hoặc nước lợ (P < 0,05) Kết quả phân tích thống kê cũng cho thấy không có sự tương tác giữa nhân tố môi trường và nhân tố giống trong giai đoạn thí nghiệm này