1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế kinh tế tri thức ở việt nam hiện nay

197 303 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 197
Dung lượng 2,28 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giới thiệu khái quát về luận án Đề tài luận án “Đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam hiện nay” được tác giả ấp ủ trong nhiều năm giảng dạy, ngh

Trang 1

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứ của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực, có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng.

Hà Nội, ngày 8 tháng 12 năm 2016

TÁC GIẢ LUẬN ÁN

Lê Thị Hạnh

Trang 2

TT Chữ viết đầy đủ Chữ viết tắt

1 Công nghiệp hóa, hiện đại hóa CNH, HĐH

3 Giáo dục và đào tạo GD & ĐT

4 Khoa học và công nghệ KH và CN

Trang 3

Chương 1 KINH TẾ TRI THỨC VÀ NGUỒN NHÂN LỰC ĐÁP

ỨNG YÊU CẦU PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRI THỨC

1.1 Kinh tế tri thức và phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam 341.2 Quan niệm nguồn nhân lực và nguồn nhân lực đáp ứng

yêu cầu phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam 51

Chương 2 THỰC CHẤT VÀ NHỮNG NHÂN TỐ QUY ĐỊNH

ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC ĐÁP ỨNG YÊU CẦU

2.1 Thực chất đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát

triển kinh tế tri thức ở Việt Nam 622.2 Những nhân tố quy định đào tạo nguồn nhân lực đáp

ứng yêu cầu phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam 72

Chương 3 TÌNH HÌNH VÀ NHẬN DIỆN CÁC MÂU THUẪN

TRONG ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC ĐÁP ỨNG YÊU CẦU PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRI

3.1 Tình hình đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát

triển kinh tế tri thức ở Việt Nam hiện nay 903.2 Nhận diện các mâu thuẫn trong đào tạo nguồn nhân lực

đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam

Chương 4 GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO

NGUỒN NHÂN LỰC ĐÁP ỨNG YÊU CẦU PHÁT TRIỂN

4.1 Nhóm giải pháp xây dựng môi trường đào tạo, sử dụng

nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế tri

4.2 Nhóm giải pháp đổi mới nâng cao chất lượng đào tạo

nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế tri

4.3 Nhóm giải pháp phát huy tích cực của chủ thể tham gia đào

tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế tri

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Giới thiệu khái quát về luận án

Đề tài luận án “Đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam hiện nay” được tác giả ấp ủ trong nhiều năm

giảng dạy, nghiên cứu khoa học với sự quan tâm tìm hiểu, nghiên cứu cáccông trình khoa học, nhất là những công trình liên quan trực tiếp đến đàotạo, bồi dưỡng, phát triển nguồn nhân lực

Trong điều kiện phát triển kinh tế tri thức, công nghiệp hóa, hiện đạihóa; đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới ở nước ta , yêu cầuphát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đang đặt ra rất cấp bách Để tránhtụt hậu, việc sử dụng hiệu quả tri thức khoa học và công nghệ hiện đại, nângcao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực, thúc đẩy sự phát triển nhanh, bềnvững các ngành công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ; đưa tri thức khoa học ,công nghệ vào đổi mới mô hình tăng trưởng, tái cấu trúc lại nền kinh tế, ổnđịnh kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát; phấn đấu sớm đưa nước ta cơ bảntrở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại là những vấn đề có ýnghĩa đặc biệt quan trọng Đây là cơ sở lý luận, thực tiễn sinh động giúp tácgiả nghiên cứu, thực hiện mục đích, nội dung, nhiệm vụ đề tài luận án đặtra

Theo hướng nghiên cứu đã xác định, trong chương 1, tác giả tập trungphân tích, làm rõ vấn đề phát triển kinh tế tri thức, xác định những yêu cầu củanguồn nhân lực phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam Trong chương 2, xác địnhnội dung vấn đề đào tạo nguồn nhân lực, chỉ ra những nhân tố tác động đến đàotạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam.Trong chương 3, tác giả luận án đánh giá thực trạng đào tạo nguồn nhân lực ởnước ta hiện nay; trên cơ sở đó, nhận diện những mâu thuẫn cơ bản trong đàotạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam.Trong chương 4, tác giả luận án đề xuất ba nhóm giải pháp đào tạo nguồn nhân

Trang 5

lực đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam hiện nay.

2 Lý do chọn đề tài luận án

Để hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng hiệu quả, chúng ta đồng thời phảilàm nhiều việc, trong đó, các trường đại học, cao đẳng phải đào tạo, bồi dưỡngphát triển con người Việt Nam ngang tầm yêu cầu và nhiệm vụ mới; có bản lĩnh

và trí tuệ; biết kế thừa, tiếp thu và làm chủ khoa học, công nghệ hiện đại, sáng tạotri thức mới, đưa nước ta phát triển nhanh, bền vững Vì vậy, luận án được tác giảlựa chọn nghiên cứu với những lý do sau:

Thứ nhất, xuất phát từ vị trí, vai trò, tầm quan trọng của nguồn nhân lực và

yêu cầu cấp bách phải đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực đáp ứngyêu cầu phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam hiện nay Dưới tác động của cuộc cáchmạng khoa học và công nghệ hiện đại, lực lượng sản xuất phát triển như vũ bão; trong

đó, tri thức khoa học, công nghệ và thông tin ngày càng đóng vai trò quyết định quátrình sản xuất vật chất, dẫn tới sự ra đời và phát triển của kinh tế tri thức Nhận thứcđúng xu thế phát triển tất yếu khách quan của hội nhập quốc tế và phát triển kinh tế trithức, Đảng ta chủ trương phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam, trên cơ sở ổn địnhkinh tế vĩ mô, đổi mới mô hình tăng trưởng, tái cấu trúc nền kinh tế, nâng cao chấtlượng, hiệu quả sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, phát triểnnhanh và bền vững đất nước Chúng ta lựa chọn con đường phát triển đất nước dựavào khoa học và công nghệ, giáo dục, đào tạo gắn chặt với sản xuất, kinh doanh Vấnđề then chốt có ý nghĩa quyết định là nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực đápứng yêu cầu phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam hiện nay

Thứ hai, xuất phát từ thực trạng còn nhiều hạn chế, bất cập trong đào tạo

nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam Lý luận vàthực tế chỉ ra rằng, nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế tri thức ởViệt Nam phải là nguồn nhân lực chất lượng cao Trong đó, nhân tài được xem lànhân tố hàng đầu quyết định sự thành công hay thất bại của Việt Nam trong quá

Trang 6

trình phát triển kinh tế tri thức Điều đó, đòi hỏi Đảng, Nhà nước, các cấp, cácngành, địa phương phải chú trọng và ưu tiên đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêucầu phát triển kinh tế tri thức ở nước ta hiện nay và những năm tới.

Thứ ba, xuất phát từ yêu cầu, nhiệm vụ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại

hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức ở nước ta Hiện nay, Việt Nam là một quốcgia có tỷ trọng kinh tế nông nghiệp khá lớn, kinh tế công nghiệp và dịch vụ đangphát triển nhưng chưa chiếm ưu thế để chuyển nước ta thành một nước côngnghiệp theo hướng hiện đại Những thành tựu mà Việt Nam đạt được qua 30năm đổi mới chủ yếu dựa vào khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên, vốn đầu

tư và lao động trình độ thấp, giá rẻ Cách thức phát triển của nền kinh tế “nâu”chưa phát huy tốt vai trò của tri thức và nguồn nhân lực chất lượng cao, làm chonguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế ngày càng rõ Thách thức không chỉ ở sự tụthậu xa hơn về kinh tế mà còn tụt hậu về văn hóa, phát triển con người Sự tụthậu về kinh tế tạo ra những thách thức về chính trị mà Việt Nam phải đối mặt làrất lớn Điều đó, đòi hỏi Đảng, Nhà nước ta phải đổi mới mô hình tăng trưởng,tái cấu trúc lại nền kinh tế, ổn định kinh tế vĩ mô, đẩy mạnh công nghiệp hóa,hiện đại hóa và phát triển kinh tế tri thức

Thứ tư, cho đến nay, chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu cơ bản,

hệ thống, chuyên sâu về đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển kinh

tế tri thức ở Việt Nam Vì vậy, “Đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế kinh tế tri thức ở Việt Nam hiện nay” được nghiên cứu sinh lựa chọn

làm đề tài nghiên cứu luận án, với hy vọng đóng góp phần công sức của mình vào

sự nghiệp “trồng người”, góp phần đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu pháttriển kinh tế tri thức ở nước ta hiện nay

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

3.1 Mục đích

Phân tích, làm rõ một số vấn đề lý luận, thực tiễn và đề xuất giải phápnâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế

Trang 7

tri thức ở Việt Nam.

3.2 Nhiệm vụ

Thứ nhất, tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án, từ

đó đưa ra những vấn đề mà luận án cần tập trung nghiên cứu, giải quyết

Thứ hai, phân tích một số vấn đề lý luận về kinh tế tri thức, nguồn nhân

lực, đào tạo nguồn nhân lực, phát triển kinh tế tri thức; khái quát những yêu cầunâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng phát triển kinh tế tri thức ởViệt Nam hiện nay

Thứ ba, đánh giá đúng tình hình đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát

triển kinh tế tri thức ở Việt Nam hiện nay; chỉ ra ưu điểm, hạn chế, nguyên nhân,bước đầu nhận diện các mâu thuẫn trong đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầuphát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam

Thứ tư, đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực đáp

ứng yêu cầu phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam hiện nay

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của luận án

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Bản chất quá trình đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triểnkinh tế tri thức ở Việt Nam hiện nay

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế tri thức ở ViệtNam là vấn đề lớn, phạm vi, quy mô rộng Với điều kiện cho phép, luận án tậptrung vào đào tạo nguồn nhân lực ở trình độ đại học

Tài liệu, tư liệu phục vụ nghiên cứu luận án chủ yếu từ khi Đảng Cộng sảnViệt Nam khởi xướng và lãnh đạo công cuộc đổi mới đất nước, tập trung vàonhóm tài liệu, chủ yếu 10 năm gần đây (từ 2006 đến nay)

Các đơn vị điều tra khảo sát thực tế, phục vụ đánh giá thực trạng luận án

là một số trường đại học ở khu vực Hà Nội và các khu công nghiệp ở các tỉnh

Trang 8

là nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và phát triển, lý luận về hình thái kinh tế - xãhội, vấn đề con người, bản chất con người và phát triển con người Đồng thời, kếthừa, vận dụng lý thuyết khoa học liên ngành có liên quan đến đề tài luận án đểluận giải, làm sáng tỏ mục đích, nhiệm vụ, nội dung của luận án.

5.2 Cơ sở thực tiễn

Thực trạng đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế trithức ở Việt Nam hiện nay, chủ yếu dựa vào báo cáo tổng kết năm, giai đoạn,thời kỳ của các cơ quan chức năng, các trường đại học, kết quả khảo sát thực tếcủa tác giả luận án về tình hình đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu pháttriển kinh tế tri thức ở Việt Nam thời gian qua

5.3 Phương pháp nghiên cứu

Tác giả luận án sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng

và duy vật lịch sử, kết hợp với sử dụng phương pháp: phân tích và tổng hợp; lịch sử

và lôgic; khái quát hóa và trừu tượng hóa; phương pháp khảo sát thực tế, điều tra xãhội học…để hoàn thành mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

6 Đóng góp mới của luận án

Luận án có một số đóng góp mới sau đây:

- Làm rõ hơn những vấn đề lý luận về kinh tế tri thức ở Việt Nam, về đàotạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế tri thức ở nước ta Xácđịnh những nhân tố quy định quá trình đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu

Trang 9

phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam.

- Đánh giá đúng tình hình đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triểnkinh tế tri thức ở Việt Nam, bước đầu nhận diện một số mâu thuẫn trong đào tạonguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam hiện nay

- Đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực đáp ứngyêu cầu phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam hiện nay

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần cung cấp những luận cứ khoa họcphục vụ các cơ quan chức năng của Đảng, Nhà nước, các ban, bộ, ngành, địaphương hoạch định đường lối, chính sách, chiến lược phát triển nguồn nhân lực đápứng yêu cầu phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam Luận án có thể dùng làm tài liệutham khảo cho cán bộ, giảng viên, sinh viên, học viên cao học, nghiên cứu sinhchuyên ngành triết học, kinh tế học, quản lý xã hội… và những người quan tâm đếnvấn đề này tham khảo

8 Kết cấu của luận án

Ngoài mở đầu, kết luận, tổng quan tình hình nghiên cứu, danh mục tài liệutham khảo, danh mục các bài báo của tác giả đã công bố liên quan đến đề tàiluận án và một số phụ lục, luận án gồm 4 chương, 9 tiết

Trang 10

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN

ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

1 Những công trình khoa học tiêu biểu nghiên cứu về kinh tế tri thức

và phát triển kinh tế tri thức

1.1 Những công trình nghiên cứu về kinh tế tri thức

Trong những năm gần đây, kinh tế tri thức là một chủ đề được các nhàquản lý và các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau

Dale Neef (chủ biên) “Nền kinh tế tri thức” [134], đã trình bày các khía

cạnh khác nhau về nhận thức và thực tiễn của nền kinh tế tri thức ở nhiều nướctrên thế giới, ông phác thảo một bức tranh toàn cảnh về sự xuất hiện và hiệu quảcủa kinh tế tri thức đối với con người, chỗ làm việc, các doanh nghiệp, nền kinh

tế và toàn bộ xã hội Tác giả đã chỉ ra các nguồn lực truyền thống đang giảm dầntầm quan trọng và bị ảnh hưởng; tri thức, khoa học, công nghệ đang trở thành nhân

tố quyết định sự cạnh tranh của mỗi quốc gia, dân tộc Theo ông, đặc trưng nổi bậtcủa kinh tế tri thức là tri thức khoa học đã vượt qua các nhân tố sản xuất truyềnthống Từ đó, Dale Neef đã đặt ra câu hỏi tại sao chúng ta lại cho rằng, ngày nay sựtập trung của các dịch vụ tri thức và công nghệ cao sẽ tạo ra sự thay đổi sâu sắctrong các nguyên tắc kinh tế so với thay đổi mà sự phát kiến ra Penicillin hoặc việcchia nguyên tử trước đây đã tạo ra? Và câu trả lời là chúng ta đang có nhiều côngnhân tri thức hơn bao giờ hết, cũng như có các công cụ và kết cấu hạ tầng côngnghệ cao hơn và chính nó đã và đang lan tỏa các tri thức rất nhanh chóng…Theolập luận của tác giả thì có một lý thuyết kinh tế mới - lý thuyết về nền kinh tế dựatrên cơ sở tri thức sẽ hoàn toàn khác với lý thuyết hiện hành

Tachiana Leonova (2011) “Hệ thống đổi mới của Phần Lan: mô hình xâydựng nền kinh tế tri thức” [145], đã khẳng định: Phần Lan là quốc gia phát triển,theo các thông số Ngân hàng thế giới, các thành tố của kinh tế tri thức đều pháttriển hài hòa và cân đối giữa nghiên cứu lý luận khoa học và nghiên cứu thực

Trang 11

hành thử nghiệm Đến nay, các yếu tố này đã được chuyên môn hóa sản xuất vàthương mại Việc tập trung nghiên cứu khoa học và thiết kế, thử nghiệm là cơ sở

để Phần Lan phát triển kinh tế tri thức, tăng cường năng lực cạnh tranh

Tác giả Ngô Quý Tùng “Kinh tế tri thức - xu thế mới của xã hội thế kỷ XXI”

[118], đem lại cho chúng ta cái nhìn tổng quát về nền kinh tế tri thức trong tươnglai không xa và sự cần thiết phải chuẩn bị hành trang tri thức ngay từ bây giờ để cóthể tiếp cận và làm việc với nó Sau khi trình bày nguồn gốc, nội dung và đặc điểmcủa kinh tế tri thức, tác giả đã chỉ ra xu thế phát triển là tri thức hóa nền kinh tế thếgiới, được thể hiện ở các công nghệ kỹ thuật cao, chứa đựng “hàm lượng tri thức”lớn tạo ra lực lượng sản xuất mới và “khoa học kỹ thuật là lực lượng sản xuất thứnhất” Kinh tế tri thức có thể dẫn đến mất việc làm; vì vậy, cần có giải pháp đểkhắc phục tình trạng này Tác giả đề cập đến mối quan hệ giữa kinh tế tri thức vàthất nghiệp - một vấn đề xã hội mà bất kỳ nền kinh tế nào cũng đều phải quan tâm.Đồng thời, đề cao vai trò của giáo dục và đào tạo đối với đào tạo, sử dụng nguồnnhân lực Theo tác giả, đây là công việc rất quan trọng cần chuẩn bị kỹ lưỡng chophát triển kinh tế tri thức Đặc biệt, trong tác phẩm này, tác giả lưu ý các nhà khoahọc, những người hoạch định chính sách cần có tầm nhìn xa trông rộng, biết trântrọng và tiếp thu cái mới để phát triển kinh tế tri thức, không nên để mất thời cơ cóthể đưa đất nước ra khỏi sự lạc hậu, khắc phục nguy cơ tụt hậu

Tác giả Đặng Hữu “Kinh tế tri thức thời cơ và thách thức đối với phát triển Việt Nam” [53], đã đề cập đến nhiều vấn đề quan trọng về kinh tế tri thức

như khái niệm, đặc trưng, điều kiện hình thành và phát triển kinh tế tri thức ởViệt Nam, kinh nghiệm của các nước bước vào kinh tế tri thức và đạt đượcthành tựu ban đầu Trong đó, tác giả khẳng định: cuộc cách mạng khoa học vàcông nghệ hiện đại là tiền đề cho sự ra đời và phát triển kinh tế tri thức Đồng thời,thống nhất với quan niệm về kinh tế tri thức của OECD và APEC; Kinh tế tri thức

là nền kinh tế, trong đó sự sản sinh, truyền bá và sử dụng tri thức là động lực chủ

Trang 12

yếu của sự tăng trưởng, tạo ra của cải, tạo việc làm trong tất cả các ngành kinh tế.Trên cơ sở đó, tác giả cho rằng: kinh tế tri thức là cơ hội lớn để nước ta rút ngắnquá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển bền vững đất nước; là cơ hội đểViệt Nam tăng cường năng lực nội sinh, chủ động hội nhập quốc tế Tác giả đưa ramột số định hướng và giải pháp phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam, trong đónhấn mạnh: phát triển nguồn nhân lực, nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồidưỡng nhân tài, tạo nền tảng vững chắc và động lực mạnh mẽ cho phát triển kinh tếtri thức.

Tác giả Phạm Tất Dong “Trí thức Việt Nam thực tiễn và triển vọng” [19],

đã nêu một số quan niệm về trí thức, trí thức Việt Nam; phân tích đặc điểm, sựhình thành và phát triển của đội ngũ trí thức Việt Nam; chỉ ra triển vọng và giảipháp phát triển đội ngũ này trong thời kỳ mới

Tác giả Đặng Mộng Lân “Kinh tế tri thức - Những khái niệm và vấn đề cơ bản”[65], đã phân tích một số khái niệm có liên quan và đưa ra quan niệm của,

tác giả về kinh tế tri thức Tác giả cho rằng, có nhiều cách hiểu, cách diễn đạtkhác nhau về khái niệm kinh tế tri thức Bởi lẽ, bản thân hiện tượng còn đangtrong quá trình phát triển nên những nhận xét, nghiện cứu về nó cần phải bámsát thực tiễn Trong đó, cần phải chú ý đến những tiến bộ của khoa học côngnghệ và thông tin, tác động của chúng đến sản xuất, phân phối và sử dụng kiếnthức Trong công trình này, tác giả đã khẳng định rằng: Kinh tế tri thức đã, đang

và sẽ làm xuất hiện nhiều vấn đề mà chúng ta phải tiếp tục nghiên cứu

Tác giả Vũ Trọng Lâm (chủ biên) “Kinh tế tri thức ở Việt Nam: Quan điểm và giải pháp phát triển” [66], đã đề cập đến vấn đề quan trọng liên quan

đến lý luận và thực tiễn phát triển kinh tế tri thức, đó là; khái niệm, đặc điểm,kinh nghiệm quốc tế về phát triển kinh tế tri thức …, đã khẳng định: để tăngtrưởng kinh tế trong thời đại kinh tế tri thức thì việc đầu tiên và quan trọng nhất

là hình thành nguồn nhân lực, khuyến khích và bồi dưỡng nhân tài, lấy con

Trang 13

người làm trung tâm của sự phát triển Qua đó, tác giả đưa ra quan điểm, mụctiêu, giải pháp phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam, đồng thời, nhấn mạnh vấnđề sử dụng lao động tri thức trở thành một nhân tố cạnh tranh trong nước và thếgiới; tạo môi trường cho khoa học và lao động tri thức phát triển; đổi mới tư duyvề tri thức đối với người quản lý.

Tác giả khẳng định: việc lựa chọn mô hình phát triển rút ngắn là conđường tất yếu của các nước đi sau Việt Nam muốn thực hiện thành công conđường phát triển rút ngắn cần phải tận dụng thành tựu của kinh tế tri thức trên cơ

sở chuẩn bị những yếu tố cần thiết tạo đà cho giai đoạn phát triển mới

1.2 Những công trình tiêu biểu nghiên cứu về phát triển kinh tế tri thức

Tác giả Trần Ngọc Hiên “Kinh tế tri thức và phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam” [45], khẳng định rằng: kinh tế tri thức ra đời là một tất yếu khách quan, xuất

phát từ sự phát triển của lực lượng sản xuất hiện đại Sự ra đời của kinh tế tri thứclàm thay đổi nhận thức của con người, của các quốc gia về vai trò các nguồn lựcphát triển…Trong xu thế hiện nay, việc lựa chọn mô hình phát triển rút ngắn đểcông nghiệp hóa, hiện đại hóa là con đường tất yếu phát triển của các nước đangphát triển Qua đó, tác giả nhấn mạnh: Việt Nam muốn thực hiện thành công conđường phát triển “rút ngắn” cần phải tận dụng tối đa thành tựu của kinh tế tri thứctrên cơ sở chuẩn bị những yếu tố cần thiết, tạo đà cho giai đoạn phát triển mới

Tác giả Nguyễn Quang “Thực trạng phát triển kinh tế tri thức ở nước ta sau 20 năm đổi mới” [99], đã đánh giá thực trạng phát triển kinh tế tri thức ở nước ta trong

thời gian qua dưới nhiều góc độ khác nhau: phát triển và ứng dụng khoa học và côngnghệ để nâng cao hàm lượng kinh tế tri thức, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh;

sự ảnh hưởng của khoa học và công nghệ với việc tăng tưởng kinh tế và hàm lượng trithức khoa học của Việt Nam Từ đó, tác giả chỉ rõ những vấn đề đặt ra đối với pháttriển kinh tế tri thức ở nước ta hiện nay, đồng thời khẳng định, kết quả phát triển kinh

Trang 14

tế tri thức gắn liền với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam Để đẩymạnh phát triển kinh tế tri thức ở nước ta trong thời gian tới cần tiến hành đồng bộnhiều giải pháp: thu hút đầu tư trong và ngoài nước cho phát triển giáo dục và đào tạo,khoa học và công nghệ; tăng cường đầu tư công nghệ trong quá trình tái cơ cấu lại nềnkinh tế; đẩy nhanh quá trình cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước nhằm tăngcường đầu tư, đổi mới công nghệ, nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh…

Các công trình nghiên cứu về bản chất kinh tế tri thức và phát triển kinh tếtri thức ở Việt Nam bước đầu đã đạt được một số kết quả quan trọng như đưa racác khái niệm, đặc trưng của kinh tế tri thức; các mô hình, kinh nghiệm của một

số quốc gia trên thế giới về phát triển kinh tế tri thức; yêu cầu, con đường, điềukiện và giải pháp phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.Nhìn chung, các công trình về cơ bản đều thống nhất: Kinh tế tri thức là giaiđoạn phát triển mới sau kinh tế công nghiệp Do vậy, tri thức giữ vai trò quantrọng nhất trong việc tạo ra của cải và nâng cao chất lượng cuộc sống Các tácgiả đã chỉ ra những đặc trưng cơ bản của kinh tế tri thức Mặc dù còn nhiều ýkiến khác nhau nhưng về cơ bản, các tác giả đều có quan điểm chung là khi nêu

ra một số đặc trưng như tri thức là yếu tố quan trọng nhất của sản xuất, kinh tếtri thức mang tính toàn cầu, kinh tế tri thức bảo đảm cho phát triển bền vữngkinh tế - xã hội tạo ra xã hội học tập

Một trong những kết quả quan trọng của các công trình nêu trên là phân tích,làm rõ tính tất yếu khách quan của con đường phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam.Với tư cách là sự phát triển tất yếu khách quan, kinh tế tri thức ra đời đã và đang tácđộng mạnh tới sự phát triển của Việt Nam Vì vậy, vận dụng phát triển kinh tế tri thức

là cơ sở quan trọng cho phát triển Việt Nam trong điều kiện mới, là giải pháp hữu hiệu

để Việt Nam tránh nguy cơ tụt hậu Đối với một quốc gia có truyền thống nôngnghiệp, đang phát triển công nghiệp và dịch vụ, phải lựa chọn con đường phát triểnphù hợp thì mới có thể tận dụng và phát triển được kinh tế tri thức Con đường đó gắn

Trang 15

với việc đào tạo nguồn nhân lực, người lao động có trình độ cao, có tri thức nền tảngvững chắc, đẩy mạnh sản xuất, kinh doanh, phân phối, trao đổi và tiêu dùng Đây làcon đường Việt Nam cần đi đến để tiến kịp các nước phát triển.

2 Những công trình khoa học tiêu biểu nghiên cứu về nguồn nhân lực, đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế tri thức

2.1 Những công trình nghiên cứu về nguồn nhân lực

Đến nay, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều có cơ quan nhà nước quản

lý và nghiên cứu các vấn đề thuộc về nguồn nhân lực Một số công trình nghiêncứu tiêu biểu của các học giả nước ngoài về vấn đề này như; E.F Schumacher

“Những nguồn lực”, xuất bản 1996, “Kinh tế học của sự phát triển” của tập thểtác giả Malcolm Gillis, Dwight, H.Perkins, đã phân tích về vốn, nhân lực hoặcphân tích về vấn đề phát triển nguồn nhân lực ở các quốc gia đang phát triểntrong “Kinh tế học của các nước đang phát triển” của E.Wayne Nafziger

Nolwen Henaff, Jean - Yves Martin biên tập khoa học “Lao động, việc làm và nguồn nhân lực ở Việt Nam 15 năm đổi mới” [140], là công trình khoa học, tập hợp

nhiều bài viết của các nhà khoa học trong và ngoài nước về chính sách giáo dục, việclàm, tổ chức lại nền kinh tế, phát triển doanh nghiệp, phát triển nguồn nhân lực , củacác nhà nghiên cứu tiêu biểu như: Nolwen Henaff, Jean - Yves Martin, Geoffrey,B.Hainsworth, Fiona Hơwell, Nguyễn Hữu Dũng, Trần Khánh Đức, Võ Đại Lược,Trần Tiến Cường Trong công trình nghiên cứu này, đáng chú ý có bài viết của

Geoffrey B.Hainsworth “Phát triển nguồn nhân lực đáp ứng với những thách thức của quá trình toàn cầu hoá mạnh mẽ và một nền kinh tế dựa trên những hiểu biết mới” Tác giả có cách tiếp cận mới khi đặt câu hỏi: Làm thế nào để mở rộng sự lựa

chọn nghề nghiệp và viễn cảnh cuộc sống dân cư nông thôn - những người đang nắmgiữ những nguồn lực to lớn nhất và chưa được phát huy Làm cách nào để họ nhậnđược sự quan tâm đặc biệt của những nhà hoạch định chính sách và nhà tài trợ? Tácgiả A phân tích 3 vấn đề để tìm câu trả lời:

Trang 16

1) Về phạm vi giáo dục, đào tạo nghề Tác giả khẳng định nền văn hoá ViệtNam luôn có truyền thống tôn trọng học vấn Trước thời kỳ đổi mới, mặc dù gặpnhiều khó khăn, Việt Nam vẫn đạt được mức độ cao về biết chữ và bình đẳng giới,nhưng khi chuyển sang nền kinh tế thị trường (KTTT) thì tỷ lệ bỏ học cao ở cấptrung học Theo tác giả lập luận: mức học phí, sự thiếu hụt giáo viên, tiền lương thấp

so với các ngành nghề khác đã và đang làm hạn chế chất lượng đào tạo nguồn nhânlực Việt Nam

2) Về sử dụng lực lượng lao động và mở rộng sự lựa chọn nghề nghiệp.Theo tác giả, mặc dù tỷ trọng GDP tương đối của ngành nông nghiệp giảm sovới công nghiệp và dịch vụ nhưng sự thay đổi cơ cấu trong sử dụng lao độnghầu như không biến động về mặt việc làm Vì vậy, cần thực hiện cải cáchchương trình đào tạo và cải cách giáo dục như tăng số lượng phòng học, tăng sốlượng và chất lượng giáo viên, giảng viên, nâng cấp trang thiết bị phục vụ giảngdạy, tăng tiền lương

3) Về cơ cấu ngành nghề, lựa chọn công nghệ và sở hữu doanh nghiệp.Tác giả cho rằng, đối với một nước mới thực hiện công nghiệp hóa như ViệtNam nên phát triển ngành chế tạo, chế biến và các dịch vụ đi kèm, đồng thờikhông chỉ lựa chọn công nghệ cao mà còn phải lựa chọn công nghệ phù hợp nhưcông nghệ phần mềm, nghiên cứu cơ bản

William J.Rothwell, Robert K.Prescott và Maria W.Taylor, “Chuyển hoá nguồn nhân lực: Thể hiện tầm lãnh đạo chiến lược nhằm thích ứng với các xu hướng tương lai” [146], giới thiệu những vấn đề về quá trình chuyển hoá nguồn

nhân lực, cung cấp thông tin quan trọng về các xu hướng và vấn đề thúc đẩychuyển hoá nguồn nhân lực, ý nghĩa của chuyển hoá nguồn nhân lực, phác thảo

kế hoạch hành động nhằm gắn chức năng nguồn nhân lực với các mục tiêu chiếnlược tổng thể và thành công của tổ chức

Lưu Tiểu Bình “Lý luận và phương pháp đánh giá nguồn nhân lực hiện nay”[133], cho rằng, trong sự phát triển nền kinh tế tri thức hiện nay ở mỗi

Trang 17

quốc gia và mỗi khu vực trên thế giới, nguồn nhân lực đóng vai trò rất quantrọng Chính vì vậy, việc khơi nguồn và phát triển nguồn lực con người có vịtrí và ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của cácnước Để giải quyết được vấn đề khai thác và phát huy vai trò nguồn nhân lựcđóng góp vào sự phát triển đất nước, tác giả đã xuất phát từ việc nghiên cứu

một số cơ sở đánh giá và phát triển nguồn nhân lực, từ đó đi vào một số nội

dung cụ thể, như đánh giá tâm lý nguồn nhân lực; các phương pháp đánh giánguồn nhân lực; nội dung để tiến hành đánh giá nguồn nhân lực Đó là nhữngvấn đề có ý nghĩa thực tiễn đối với việc giải quyết bài toán phát triển và sửdụng nguồn nhân lực hiện nay

Trong bối cảnh toàn cầu hoá, hội nhập quốc tế và phát triển kinh tế thị trườngđịnh hướng XHCN; công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước là xu thế tất yếu kháchquan để đưa nước ta phát triển theo con đường CNXH Góp phần thực hiện mụctiêu, đường lối đã xác định, Đảng và Nhà nước ta đang đẩy mạnh phát triển nguồnnhân lực chất lượng cao, chấn hưng nền giáo dục Việt Nam Trong đó, đào tạonguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế tri thức có ý nghĩa đặc biệt quantrọng Vì vậy, nghiên cứu vấn đề con người, phát huy nhân tố con người, phát triểnnguồn nhân lực đã và đang trở thành tiêu điểm của các vấn đề nghiên cứu, cần giảiđáp về mặt lý luận và thực tiễn hiện nay Về vấn đề này, có nhiều công trình khoahọc giá trị đã công bố, đáng kể là một số công trình tiêu biểu dưới đây

Tác giả Vũ Thị Phương Mai “Nguồn nhân lực chất lượng cao trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay” [68] đã phân tích,

làm rõ mối quan hệ biện chứng giữa nguồn nhân lực chất lượng cao với quátrình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; phân tích thực trạngnguồn nhân lực chất lượng cao và xu hướng phát triển nguồn nhân lực này ởViệt Nam hiện nay Từ đó, đề xuất những quan điểm và giải pháp phát triểnnguồn nhân lực chất lượng cao trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện

Trang 18

đại hóa đất nước Qua đó, tác giả đã làm rõ quan niệm về nguồn nhân lực chấtlượng cao, đặc điểm, cấu trúc của nó Đồng thời, làm rõ vai trò quyết định củanguồn nhân lực chất lượng cao trong công cuộc đổi mới đẩy mạnh công nghiệphóa, hiện đại hóa đất nước Tác giả đã phân tích, đánh giá thực trạng nguồn nhânlực chất lượng cao ở nước ta hiện nay ở các góc độ: số lượng, chất lượng, cơ cấu,nhu cầu sử dụng, chế độ đãi ngộ nguồn nhân lực chất lượng cao Đồng thời, chỉ ranguyên nhân chủ quan, khách quan của mặt ưu điểm, hạn chế; xu hướng và nhữngđiều kiện cơ bản để phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong sự nghiệp đẩymạnh CNH, HĐH đất nước Công trình khoa học giúp nghiên cứu sinh kế thừanhững giá trị khoa học và hướng tiếp cận nghiên cứu để triển khai nghiên cứu đề tàiluận án đã xác định.

Tác giả Nguyễn Thị Giáng Hương“Vấn đề phát triển nguồn nhân lực nữ chất lượng cao ở Việt Nam hiện nay” [52], đã làm rõ quan niệm về nguồn nhân

lực nữ trên cơ sở đề ra những tiêu chí cơ bản của nguồn nhân lực nữ chất lượngcao; phân tích, luận giải mối quan hệ biện chứng giữa điều kiện khách quan vànhân tố chủ quan trong phát triển nguồn nhân lực nữ chất lượng cao; xác địnhtầm quan trọng của việc phát triển nguồn nhân lực nữ chất lượng cao và phântích những điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan tác động đến phát triểnnguồn nhân lực chất lượng cao ở Việt Nam Đồng thời, khảo sát, đánh giá thựctrạng nguồn nhân lực nữ chất lượng cao ở Việt Nam hiện nay, khái quát nhữngmâu thuẫn trong phát triển nguồn nhân lực nữ chất lượng cao ở Việt Nam và đềxuất các giải pháp phát triển nguồn nhân lực này

Tác giả Vũ Văn Phúc, Nguyễn Duy Hùng (đồng chủ biên) “Phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế” [95],

đã phân tích tư tưởng, quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta về phát triểnnguồn nhân lực; đề cập những vấn đề lý luận chung về cách tiếp cận nghiên cứunguồn nhân lực, từ lý luận đến thực tiễn phát triển nguồn nhân lực; những kinh

Trang 19

nghiệm phát triển nguồn nhân lực của một số ngành như dầu khí, ngân hàng ở nước

ta và kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực của một số nước, vùng, lãnh thổ Trên

cơ sở đó, tác giả đã đánh giá thực trạng, chỉ ra những hạn chế, bất cập, thách thức.Đồng thời, đề xuất các giải pháp phát triển nguồn nhân lực ở nước ta hiện nay Trong

đó, có một số biện pháp phát triển nguồn nhân lực của ngành du lịch, tài chính, ngânhàng …có giá trị thiết thực

Tác giả Đức Vượng“Xây dựng đội ngũ trí thức Việt Nam giai đoạn 2011

- 2020” [129], đã đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển nguồn nhân

lực ở Việt Nam Theo tác giả, nguồn nhân lực Việt Nam được xác định gồmnguồn nhân lực nông dân, công nhân, trí thức, công chức, viên chức và cónhững đặc điểm chung là các nguồn nhân lực này khá dồi dào, nhưng chưa đượcquan tâm đúng mức, chưa quy hoạch, chưa khai thác, còn đào tạo nửa vời, thậmchí, nhiều người chưa được đào tạo Nhìn chung, chất lượng nguồn nhân lựcchưa cao, dẫn đến tình trạng mâu thuẫn giữa lượng và chất Sự kết hợp, bổ sung,đan xen giữa nguồn nhân lực nông dân, công nhân, trí thức,… chưa tốt, còn bịchia cắt, thiếu sự hợp tác, chưa hợp lực để cùng thực hiện mục tiêu xây dựng vàbảo vệ đất nước

Tác giả đề xuất giải pháp phát triển nguồn nhân lực Việt Nam, đó là: Cầncoi nguồn nhân lực là tài nguyên quý giá nhất của Việt Nam; nâng cao chấtlượng con người và chất lượng cuộc sống Nhà nước có kế hoạch phối hợp đàotạo nguồn nhân lực nông dân, công nhân, trí thức; có kế hoạch khai thác, đàotạo, bồi dưỡng, sử dụng các nguồn nhân lực cho hợp lý, hiệu quả, thiết thực.Hằng năm, Nhà nước cần tổng kết thực tiễn và lý luận về nguồn nhân lực ở ViệtNam, đánh giá đúng mức mặt được, mặt chưa được, kịp thời rút ra những kinhnghiệm, xây dựng, hoàn thiện chính sách mới và điều chỉnh chính sách đã có vềnguồn nhân lực ở Việt Nam Cần có chính sách, biện pháp kết hợp chặt chẽgiữa đào tạo và sử dụng trong tổng thể phát triển kinh tế của đất nước, đáp ứng

Trang 20

có hiệu quả nguồn nhân lực có chất lượng cao đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tếtri thức

Tác giả Nguyễn Văn Phán “Xây dựng và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong các trường đại học, cao đẳng ở nước ta hiện nay” [88], đã đánh

giá thực trạng giảng viên đại học, cao đẳng - một bộ phận của nguồn nhân lực chấtlượng cao ở nước ta hiện nay Theo tác giả, ở các trường đại học, cao đẳng thì việcxây dựng, phát triển đội ngũ giảng viên là khâu then chốt Tác giả đề xuất giải pháp

và cho rằng, các giải pháp đó cần thực hiện thống nhất để nâng cao chất lượng độingũ giảng viên đáp ứng yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực bậc cao phục vụ thiết thựccho công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong thời kỳ mới

2.2 Những công trình nghiên cứu tiêu biểu về đào tạo nguồn nhân lực

Nguyễn Như Diệm dịch thuật công trình khoa học của Thẩm Vinh Hoa

-Ngô Quốc Diệu “Tôn trọng trí thức, tôn trọng nhân tài kế lớn trăm năm chấn hưng đất nước” [135], công trình đã đề cập nhiều nội dung quan trọng về “Tổng

công trình của công cuộc cải cách, mở cửa và xây dựng hiện đại hóa xã hội chủnghĩa của Trung Quốc” Trong đó, các tác giả công trình đã làm nổi bật tư tưởngcủa Đặng Tiểu Bình về những vấn đề rất cơ bản, như nhân tài là then chốt củaphát triển; đường lối tổ chức và việc xây dựng đội ngũ cán bộ; tư tưởng chiếnlược về bồi dưỡng và giáo dục nhân tài; về tuyển chọn nhân tài ưu tú; về sửdụng và bố trí nhân tài; về tạo môi trường cho nhân tài phát triển; về cải cáchchế độ nhân sự trong việc sử dụng nhân tài… Với những nội dung trên, cuốnsách đã phác họa bức tranh mang tính tổng thể về tư tưởng của Đặng Tiểu Bìnhcũng như sự vận dụng các tư tưởng đó trong chiến lược xây dựng nhân tài ởTrung Quốc Đây là công trình có giá trị tham khảo sâu sắc đối với việc thựchiện chính sách cán bộ nói chung và chính sách đối với trí thức, nhân tài nóiriêng ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

Lương Dụ Giai “Quản lý học nguồn nhân tài”[138], đã đề cập đến tư

tưởng về nguồn nhân lực chất lượng cao “nhân tài” và vấn đề về con người

Trang 21

Theo tác giả, kể từ khi giới học giả Trung Quốc đề xuất ngành nghiên cứu

“Nhân tài học”, thì cơ sở lý luận và hệ thống lý luận của họ không ngừng được

bổ sung, phát triển và hoàn thiện Cùng với quan điểm “Nhân tài là nguồn lựchàng đầu” được khái quát thành phương châm chỉ đạo chiến lược phát triển nhân

tài ở Trung Quốc Đặc biệt, sau công bố về “Cương lĩnh xây dựng quy hoạch đội ngũ nhân tài toàn quốc 2001 - 2005”, Đảng Cộng sản Trung Quốc và Quốc

vụ viện đã đưa ra “Quyết định về tăng cường một bước công tác nhân tài”, đã

thể hiện rõ phương châm, chính sách, mục tiêu của công tác phát triển nhân tài

Đây được coi là cuốn sách lý luận cơ bản, tiêu biểu về quản lý học nguồn nhân tài Đồng thời, là cuốn sách giới thiệu những nội dung phong phú về chiến lược cường quốc nhân tài, và về thực tiễn nghiên cứu, quản lý nguồn nhân lực ở

Trung Quốc trong giai đoạn hiện nay

Vương Huy Diệu “Chiến lược Quốc gia: Nhân tài cải biến thế giới”[136].

“Chiến tranh nhân tài” [137] Phan Thần Quang “Báo cáo phát triển nhân tài Trung Quốc” [141], đã đề xuất chiến lược phát triển nguồn nhân lực chất lượng

cao (nhân tài) ở Trung Quốc trong giai đoạn hiện nay

Tác giả Nguyễn Văn Khánh “Xây dựng và phát huy nguồn lực trí tuệ Việt Nam phục vụ sự nghiệp chấn hưng đất nước” [57], đã phân tích nguồn lực trí tuệ

Việt Nam với nhiều góc độ; đánh giá thực trạng nguồn lực trí tuệ, chỉ rõ hạn chế,bất cập về trình độ chuyên môn, khả năng hội nhập, về cơ cấu của nguồn lực trí tuệ

ở nước ta; đề xuất một số giải pháp xây dựng và phát huy nguồn lực trí tuệ ViệtNam phục vụ sự nghiệp chấn hưng đất nước

Tác giả Tạ Ngọc Tấn “Phát triển giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực, nhân tài, một số kinh nghiệm của thế giới” [108], đã phân tích những

vấn đề cơ bản về nguồn nhân lực, nhân tài và phát triển đào tạo nguồnnhân lực, nhân tài của một số nước trên thế giới, rút ra những kinhnghiệm bổ ích đối với Việt Nam trong thực hiện đổi mới căn bản, toàn

Trang 22

diện giáo dục và đào tạo để phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt là đào tạo,bồi dưỡng nhân tài cho đất nước.

Tác giả Phạm Minh Hạc “Nghiên cứu con người và nguồn lực đi vào công nghiệp hoá, hiện đại hoá” [33], đã phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn thực

hiện chiến lược con người với tư tưởng coi nhân tố con người, phát triển conngười, nguồn lực con người có ý nghĩa quyết định đối với việc sáng tạo vật chất

và tinh thần Qua đó, tác giả trình bày mối quan hệ giữa giáo dục và đào tạo, sửdụng, tạo việc làm với phát triển nguồn nhân lực đất nước Từ đó, xác định tráchnhiệm quản lý giáo dục và đào tạo đối với việc phát triển nguồn nhân lực phục

vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Tác giả Lương Đình Hải “Trách nhiệm đào tạo nguồn nhân lực trong điều kiện nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay” [40], đã nghiên cứu các

vấn đề cơ bản và khá toàn diện về con người, về nguồn nhân lực; phân tích, làm

rõ khái niệm, những yếu tố tác động, ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nhân lực;những vấn đề cơ bản về giáo dục và đào tạo, quản lý nguồn nhân lực ở ViệtNam trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa Qua đó, tác giảkiến nghị một số vấn đề cơ bản để phát triển văn hóa, xây dựng con người, pháttriển nguồn nhân lực trong những thập kỷ tiếp theo của thế kỷ XXI

Tác giả Nguyễn Đắc Hưng “Phát triển nhân tài chấn hưng đất nước”

[51], đã bàn đến lực lượng “đầu tàu” trong nguồn nhân lực chất lượng cao; trìnhbày một số khái niệm cơ bản như: tiềm năng, năng lực, năng khiếu, tài năng, nhântài, quản lý nhân tài; chỉ ra một số kinh nghiệm trong lịch sử dân tộc Việt Nam và ởmột số nước trên thế giới về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, phát triểnnhân tài Qua đó, phân tích tư tưởng Hồ Chí Minh về quan điểm của Đảng, về tríthức và nhân tài; chỉ ra những yếu tố tác động trực tiếp đến phát triển nhân tài,những nội dung cơ bản về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, phát triểnnhân tài Đồng thời, đề xuất một số giải pháp phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng, sửdụng và thu hút nhân tài

Trang 23

Tác giả Nguyễn An Ninh “Phát huy tiềm năng trí thức khoa học xã hội Việt Nam” [80], đã góp phần luận giải tiềm năng trí thức khoa học xã hội Việt Nam, một bộ

phận quan trọng của nguồn nhân lực chất lượng cao của nước nhà; phân tích những vấnđề lý luận, thực tiễn liên quan đến trí thức khoa học xã hội Việt Nam, với tư cách lànguồn nhân lực quan trọng trong nguồn nhân lực đất nước Tác giả xác định các vấn đề

cơ bản về cơ chế, chính sách, chế độ về giáo dục và đào tạo để phát huy tiềm năng tríthức khoa học xã hội Việt Nam trong thời kỳ mới

Tác giả Phạm Thành Nghị “Nâng cao hiệu quả quản lý nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” [83], đã đề cập đến những

vấn đề lý luận cơ bản của nguồn nhân lực và quản lý nguồn nhân lực; phân tíchhiệu quả quản lý nguồn nhân lực và những yếu tố tác động đến quản lý nguồn nhânlực nước ta trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Tác giả Phạm Minh Hạc “Phát triển con người, nguồn nhân lực - quan niệm và chính sách, trong tình hình hiện nay” [38], đã trình bày một số vấn đề lý

luận về phát triển con người; đưa ra khái niệm về nguồn nhân lực, nhân tài, độingũ người lao động; phân tích thực trạng và đề xuất một số biện pháp phát triểnnguồn nhân lực trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Tác giả Trần Khánh Đức “Giáo dục và đào tạo: phát triển nguồn nhân lực trong thế kỷ XXI” [31], đã đề cập và phân tích khá sâu sắc tình hình giáo dục

và đào tạo nguồn nhân lực; vai trò của giáo dục và đào tạo đối với phát triểnnguồn nhân lực nước ta trong thế kỷ XXI Từ đó, đề xuất một số giải pháp, đổimới giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển bền vữngđất nước trong thế kỷ XXI

Tác giả Lương Công Lý “Giáo dục và đào tạo với việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở Việt Nam hiện nay” [68], đã lý giải rõ hơn vai trò của

giáo dục và đào tạo đối với việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở ViệtNam hiện nay Từ những thành tựu, hạn chế và một số vấn đề đặt ra từ thực trạng,

Trang 24

đề xuất một số phương hướng, giải pháp chủ yếu phát huy vai trò của giáo dục vàđào tạo đối với việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở Việt Nam hiện nay.

2.3 Những công trình khoa học tiêu biểu bàn về mối quan hệ giữa đào tạo nguồn nhân lực và phát triển kinh tế tri thức

Stivastava M/PHuman resource planning “Aproach needs assessments and priorities in manpower planing” [144], đã tiếp cận dưới góc độ kinh tế phát

triển và cho rằng, nguồn nhân lực là toàn bộ vốn nhân lực; vốn nhân lực là conngười được nhìn nhận dưới dạng một nguồn vốn đặc biệt của quá trình sản xuất,

là một dạng của cải có thể làm gia tăng sự giàu có của kinh tế; nguồn vốn nhânlực bao gồm những kỹ năng, kiến thức, kinh nghiệm mà người đó tích luỹ đượcnhờ quá trình lao động sản xuất; các chi phí về giáo dục, đào tạo, y tế đượcxem như là những chi phí đầu vào của sản xuất nhằm nâng cao, năng lực sảnxuất của nguồn nhân lực Từ cách tiếp cận như vậy, tác giả đã chỉ ra các lợi íchthiết thực của nguồn nhân lực nếu chúng ta biết đầu tư và quý trọng nó, đó là:

1) Vốn nhân lực là loại vốn đặc biệt, có khả năng sản sinh ra các nguồnthu nhập trong tương lai, cho nên đầu tư vào nguồn nhân lực sẽ có tỷ lệ thu hồivốn cao, hơn nữa khi nguồn vốn này càng được sử dụng nhiều thì giá trị giatăng càng lớn, càng tạo ra nhiều của cải, mang đến sự phồn vinh, thịnh vượngcho xã hội

2) Khác với các nguồn vốn khác, vốn, nhân lực không mang đặc điểmnhư các nguồn vốn: khấu hao vốn đã đầu tư vào các tài sản và loại hình Vốnnhân lực sau khi đã đầu tư thì nó sẽ tự duy trì và phát triển mà không tạo ra

áp lực về khối lượng vốn cần huy động trong khoảng thời gian ngắn; là loạivốn có kỹ năng, kiến thức, kinh nghiệm và khả năng sáng tạo cao Do đó, nếuđầu tư vào vốn nhân lực thì hiệu ứng lan toả sẽ rất lớn mà không có nguồn vốnnào có thể sánh kịp

Rosemary Harrison, với cuốn “Human Resoruce Development in a

Knowledge Economy” (Sự phát triển của nguồn nhân lực trong nền kinh tế tri

Trang 25

thức) [143], đã đưa ra phương pháp nghiên cứu phát triển nguồn nhân lực chất

lượng cao trong nền kinh tế tri thức Trong đó, tác giả nhấn mạnh việc kết hợpchặt chẽ giữa phát triển với quản lý nguồn nhân lực một cách đồng bộ và hiệuquả Đặc biệt, tác giả đã đối chiếu và so sánh nhiều quan điểm khác nhau vềquản lý và phát triển nguồn nhân lực trên thế giới hiện nay như một số nước ởchâu Âu, Nhật Bản, Hoa Kỳ, làm cơ sở cho việc đưa ra một số quan điểm pháttriển và quản lý nguồn nhân lực trong nền kinh tế tri thức của thế giới nhữngnăm trước đây, hiện nay và thời gian tới

Nguyễn Văn Khánh “Nguồn lực trí tuệ Việt Nam, lịch sử, hiện trạng và triển vọng” [58], đã trình bày khái niệm nguồn lực trí tuệ, phát huy nguồn lực trí tuệ;

kinh nghiệm xây dựng và phát huy nguồn lực trí tuệ một số nước trên thế giới vàViệt Nam Tác giả đã đánh giá thực trạng nguồn lực trí tuệ Việt Nam trên các lĩnhvực; phân tích những yếu tố tác động đến sử dụng nguồn lực trí tuệ, chỉ ra nhữngthuận lợi, khó khăn và triển vọng phát huy nguồn lực trí tuệ Việt Nam hiện nay

Tác giả Đường Vinh Sường “Giáo dục đào tạo với phát triển nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa” [105], đã phân tích vai trò của

nguồn nhân lực chất lượng cao; đánh giá thực trạng nguồn nhân lực và nguồn nhânlực chất lượng cao ở nước ta; phân tích một số hạn chế, yếu kém của nguồn nhân lựcnước ta so với một số nước khác trong khu vực và thế giới; đưa ra những giải phápphát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiệnđại hóa đất nước

Tác giả Lê Quang Hùng “Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở vùng kinh tế trọng điểm miền Trung” [50], đã tiếp cận dưới góc độ kinh tế, việc phát triển

nguồn nhân lực chất lượng cao ở vùng kinh tế trọng điểm miền Trung; đánh giá thựctrạng, chỉ ra ưu điểm, hạn chế, nguyên nhân của hạn chế trong đào tạo nguồn nhânlực chất lượng cao nơi đây Qua đó, đề xuất một số yêu cầu, giải pháp phát triểnnguồn nhân lực chất lượng cao ở vùng kinh tế trọng điểm ở miền Trung, đặc biệtnhấn mạnh đến phát triển giáo dục và đào tạo, ứng dụng khoa học và công nghệ

Trang 26

Tác giả Đặng Hữu “Đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài theo yêu cầu phát triển kinh tế tri thức” [54], đã nêu các điều kiện để phát triển kinh tế tri

thức, đó là: phải có nguồn nhân lực chất lượng cao, có năng lực khoa học vàcông nghệ quốc gia đủ mạnh, có hạ tầng thông tin phát triển, có bộ máy quản lýnhà nước trong sạch, vững mạnh Tác giả so sánh kinh tế công nghiệp khác vớikinh tế tri thức, từ đó khẳng định trong nền kinh tế tri thức, vốn tri thức trởthành nguồn lực quan trọng nhất của sản xuất và sức sáng tạo, đổi mới trở thànhđộng lực trực tiếp của sự phát triển Trên cơ sở đó, tác giả cho rằng, để phát triểnkinh tế tri thức, rút ngắn quá trình CNH, HĐH ở nước ta thì tiền đề quan trọngnhất là đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo hiện nay bằng cách: Nhànước cần có chính sách trọng dụng nhân tài; đẩy mạnh xã hội hoá giáo dục; tiếnhành cải cách giáo dục theo quan điểm định hướng giáo dục mới …

Tác giả Nguyễn Ngọc Phú “Thực trạng nguồn nhân lực, nhân tài của đất nước hiện nay: Những vấn đề đặt ra - Giải pháp” [93], đã tập hợp nhiều bài viết

của nhiều tác giả, như: Nguyễn Ngọc Phú, Trịnh Thị Kim Ngọc, Nguyễn PhươngNgọc, Trịnh Quang Từ, Hà Thế Truyền Hầu hết các bài viết tập trung phân tíchnguồn nhân lực, nguồn nhân lực chất lượng cao như: Phát triển nguồn nhân lực có

kỹ năng, đặc trưng của nguồn nhân lực chất lượng cao; đào tạo nhân tài trong cáctrường đại học; thực trạng nguồn nhân lực chất lượng cao Trong đó, tác giả Cao

Xuân Trung trong bài “Đặc trưng cơ bản của nguồn nhân lực chất lượng cao”, đã

bước đầu phác họa 5 đặc trưng của nguồn nhân lực chất lượng cao: 1) Có động cơchính trị - xã hội, nghề nghiệp ổn định; 2) Có năng lực hoạt động nghề nghiệp đápứng sự phát triển khoa học và công nghệ; 3) Có kỹ năng sống, kỹ năng hợp táctrong lao động với đồng nghiệp; 4) Có kỹ năng tự học, tự hoàn thiện nghề nghiệp

và nhân cách; 5) Có sức khoẻ, tác phong đáp ứng yêu cầu hoạt động nghề nghiệp

Tác giả Đặng Quốc Thanh trong bài “Nhân lực chất lượng cao và giải pháp

xã hội hóa đào tạo nhân lực chất lượng cao cho đất nước hiện nay”, đã đưa ra khái

Trang 27

niệm nguồn nhân lực chất lượng cao và phân tích trên các khía cạnh: nguồn nhânlực chất lượng cao là một bộ phận cơ bản và quan trọng của nguồn nhân lực; lànhững người có năng lực hoạt động trí tuệ, khả năng thích ứng và sự sáng tạo trongcông việc; là những người lao động có tính kỷ luật, tác phong công nghiệp, có tráchnhiệm; là những người lao động biết chủ động hội nhập quốc tế; là những người cóthể lực, sức khoẻ tốt Đồng thời, tác giả cho rằng, có nhiều giải pháp để nâng caochất lượng nguồn nhân lực chất lượng cao, trong đó giải pháp xã hội hoá đào tạo làrất quan trọng Đây là những gợi ý bổ ích cho nghiên cứu sinh kế thừa trong quátrình thực hiện luận án

Tác giả Lê Thị Ngân “Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tiếp cận Kinh

tế tri thức ở Việt Nam” [81], đã giải quyết được những vấn đề lý luận và thực

tiễn về nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tiếp cận kinh tế tri thức: đưa ra quanđiểm nguồn nhân lực, chất lượng nguồn nhân lực, nâng cao chất lượng nguồnnhân lực phát triển kinh tế tri thức; đưa ra các tiêu chí đánh giá chất lượngnguồn nhân lực Qua đó, tác giả phân tích những nhân tố tác động đến chấtlượng nguồn nhân lực; luận giải vai trò của nguồn nhân lực chất lượng cao trongnền kinh tế tri thức với tư cách tri thức - sản phẩm của nguồn nhân lực là yếu tốtrực tiếp của quá trình sản xuất và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, là độnglực chủ yếu tiếp cận, phát triển kinh tế tri thức Đồng thời, khẳng định nâng caochất lượng nguồn nhân lực tiếp cận kinh tế tri thức là yêu cầu cần thiết Để làmsáng rõ vấn đề này, tác giả đã phân tích kinh nghiệm nâng cao chất lượng nguồnnhân lực của Trung Quốc, Hàn Quốc, đã phân tích thực trạng chất lượng nguồnnhân lực và việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tiếp cận kinh tế tri thức ởViệt Nam từ năm 1990 đến năm 2003 trên các mặt về biến đổi chất lượng nguồnnhân lực, về các nhân tố tác động trực tiếp tới việc nâng cao chất lượng nguồn nhânlực ở Việt Nam Trên cơ sở đó, tác giả khẳng định: nguồn nhân lực ở nước ta dồidào về số lượng, đã đạt được ở mức nhất định về chất lượng Tuy nhiên, để đápứng yêu cầu phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam, theo tác giả còn nhiều hạn chế,

Trang 28

bất cập Vì vậy, tác giả nêu quan điểm, đề xuất giải pháp nâng cao chất lượngnguồn nhân lực tiếp cận kinh tế tri thức ở Việt Nam.

Tác giả Lê Thị Hồng Điệp “Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu xây dựng nền kinh tế tri thức ở Việt Nam” [29], đã trình bày

những vấn đề chung về nguồn nhân lực chất lượng cao để hình thành kinh tế trithức như khái niệm nguồn nhân lực chất lượng cao; vai trò tiên phong của nguồnnhân lực chất lượng cao; các tiêu chí phân định nguồn nhân lực chất lượng cao;các kinh nghiệm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của Mỹ, Singapore và rút

ra những bài học cho Việt Nam Đồng thời, tác giả đã khái quát quan điểm củaĐảng ta về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao qua các thời kỳ; phân tích,đánh giá thực trạng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở Việt Nam cảthành tựu, hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế Tác giả đã đưa ra 4 quanđiểm và đề xuất 3 nhóm giải pháp phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đểhình thành, phát triển nền kinh tế tri thức ở Việt Nam

Tác giả Phạm Thành Nghị “Phát triển nguồn nhân lực cho nền kinh tế tri thức” [84], cho rằng, Việt Nam có nguồn lao động dồi dào nhưng chất lượng thấp,

vấn đề đặt ra là để “rút ngắn” con đường CNH, HĐH và chuẩn bị cho sự phát triểncủa nền kinh tế tri thức cần đầu tư mạnh cho phát triển con người Tác giả nêu ramột số vấn đề trọng tâm trong phát triển nguồn nhân lực cho nền kinh tế tri thức:các loại hình lao động có vai trò quan trọng nhất trong nền kinh tế tri thức, vấn đềhọc tập suốt đời và học tập chiến lược Trong đó, tác giả dẫn ra ý tưởng của Wolff

và Baumol phân lao động ra làm 2 loại chính: lao động thông tin và lao động phithông tin Tác giả chỉ ra một nhóm lao động mà ít người nghĩ có mối quan hệ chặtchẽ với sự phát triển của kinh tế tri thức là lao động khoa học xã hội và nhân văn

Sự phân định này là những gợi ý bổ ích trong quá trình nghiên cứu luận án

Tác giả Hoàng Văn Châu“Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho hội nhập kinh tế - vấn đề cấp bách sau khủng hoảng” [9], đã đề cập đến những

bất cập, hạn chế của thị trường lao động nước ta Tác giả nhận định thị trường

Trang 29

lao động Việt Nam sẽ tiếp tục thiếu hụt và khan hiếm nguồn nhân lực quản lýcao cấp Sau khi khủng hoảng tài chính thế giới qua đi qua các doanh nghiệptiến hành tái cấu trúc và nhu cầu nhân lực có chất lượng cao tăng lên thì chắcchắn sự mất cân đối cung - cầu trên thị trường lao động sẽ diễn ra ngày càngtrầm trọng hơn nếu như Việt Nam không có những biện pháp hữu hiệu để giảiquyết những vấn đề này Nguyên nhân của việc này là do các doanh nghiệp ViệtNam thiếu thông tin về thị trường lao động và chưa tiếp cận một cách hiệu quảcác dịch vụ đào tạo; nhiều doanh nghiệp chưa tích cực tham gia vào các chươngtrình đào tạo; các sinh viên đã không được định hướng tốt trong việc chọntrường, chọn ngành nghề theo học, phù hợp với lực học, nghề nghiệp tương lai.

Từ đó, tác giả đã đề xuất 10 giải pháp phát triển nguồn nhân lực chất lượng caotrong thời gian tới Tác giả đề xuất các giải pháp, khả thi, tập trung vào việcnâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực

Tác giả Bùi Việt Phú “Đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao để tham gia nền kinh tế tri thức” [90], cho rằng trong bối cảnh phát triển kinh tế tri thức, đào tạo

nguồn nhân lực trình độ cao là vấn đề trọng tâm trong chiến lược phát triển của mỗiquốc gia nhằm chủ động tham gia phát triển kinh tế tri thức Theo đó, tác giả đề xuấtmột số ý kiến nhằm xây dựng đội ngũ tri thức - nguồn nhân lực được đào tạo ở nướcngoài có chất lượng cao nhưng phải có sự thống nhất quản lý nhà nước về lĩnh vựcnày, đa dạng hoá con đường đào tạo, bồi dưỡng nhân tài, hoàn thiện và củng cố hệthống văn bản pháp quy theo hướng tạo hành lang mở cho các chủ thể tham gia đàotạo ở nước ngoài, thực hiện chế độ đãi ngộ và sử dụng tài năng hợp lý

Tác giả Hà Nhật Thăng “Đào tạo nhân tài - vấn đề cấp thiết của chiến lược giáo dục thời kỳ công nghiệp ” [112], đã so sánh yêu cầu phát triển nguồn

nhân lực của các nền văn minh, qua đó, chỉ ra, yêu cầu con người phải có trình

độ cao trong nền kinh tế tri thức Theo tác giả, đối với nước ta, đào tạo nhân tài

là một trong những trọng tâm của chiến lược giáo dục thời kỳ công nghiệp hóa,

Trang 30

hiện đại hóa và chiến lược nhân tài phải được thực hiện theo một quy trình chặtchẽ từ khâu phát hiện, tuyển chọn, đào tạo và sử dụng.

3 Khái quát kết quả chủ yếu của những công trình khoa học đã công bố liên quan và vấn đề đặt ra luận án tiếp tục giải quyết

3.1 Khái quát kết quả chủ yếu của những công trình đã công bố liên quan đến luận án

Các công trình khoa học đã công bố, nghiên cứu phác thảo bức tranh tổngquát về kinh tế tri thức và phát triển kinh tế tri thức, về nguồn nhân lực và đào tạonguồn nhân lực, về nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế tri thức Nhiềucông trình nghiên cứu khẳng định đào tạo nguồn nhân lực là vấn đề có tầm quan trọngđặc biệt trong chiến lược phát triển của các quốc gia, là động lực phát triển kinh tế - xãhội; khẳng định vai trò to lớn của giáo dục và đào tạo, sự cần thiết phải đổi mới vànâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo để phát triển đào tạo nguồn nhân lực Nhiềucông trình khẳng định, mỗi giai đoạn khác nhau thì yêu cầu về đào tạo nguồn nhân lựcđặt ra có sự khác nhau; mỗi loại nguồn nhân lực chất lượng cao có yêu cầu cụ thểriêng về tiêu chí chất lượng, phẩm chất, năng lực, phù hợp với đặc điểm, tính chất,chức năng, nhiệm vụ của từng loại nguồn nhân lực Nhiều công trình khẳng định tínhtất yếu của việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng nhiệm vụ cáchmạng trong thời kỳ mới, việc đổi mới công tác giáo dục và đào tạo, phát triển nguồnnhân lực chất lượng cao; chỉ rõ yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đấtnước và hội nhập quốc tế, đòi hỏi bức thiết phải có nguồn nhân lực chất lượng cao đủsức, đủ tầm thực hiện thắng lợi phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam

Cần nghiên cứu thấu đáo các vấn đề lý luận, thực tiễn đào tạo nguồn nhânlực; những yêu cầu, định hướng và giải pháp, kiến nghị đổi mới nội dung,chương trình, hệ thống quản lý giáo dục và đào tạo để phát triển nguồn nhân lựcchất lượng cao, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cách mạng trong thời kỳ mới đượccác công trình nghiên cứu, đề cập và luận giải khá rõ theo đối tượng, nhiệm vụnghiên cứu của từng công trình Những vấn đề lý luận và thực tiễn về đào tạonguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao; về quan hệ giữa giáo

Trang 31

dục và đào tạo với đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao ở nước ta; về đổi mớinội dung, chương trình, hệ thống quản lý giáo dục và đào tạo để đào tạo pháttriển nguồn nhân lực chất lượng cao được tác giả luận án tiếp thu, chon lọc kếthừa, sử dụng, vận dụng và phát triển trong công trình nghiên cứu của mình Đó

là cơ sở khoa học, căn cứ lý luận - thực tiễn để luận giải và làm sáng tỏ các nộidung nghiên cứu của đề tài luận án

Tuy nhiên, do cách tiếp cận và phạm vi nghiên cứu của từng công trình cókhác nhau, nên chưa có công trình nào trình bày một cách có hệ thống, toàn diện

và cụ thể về vấn đề đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế trithức ở Việt Nam hiện nay Những vấn đề về mối quan hệ giữa đào tạo với việcphát triển nguồn nhân lực, phương hướng, yêu cầu, việc đổi mới nội dung,chương trình, hệ thống quản lý giáo dục và đào tạo ở các trường đại học nước tahiện nay cần được đặt ra và thực hiện như thế nào? Đó là vấn đề nổi cộm, luận

án cần đi sâu nghiên cứu, giải quyết ở Việt Nam hiện nay, nguồn nhân lực đápứng yêu cầu phát triển kinh tế tri thức và hội nhập quốc tế, nhưng vẫn còn thiếutính hệ thống, chưa thật sự đầy đủ và thấu đáo, cần được tiếp tục nghiên cứuchuyên sâu, công phu và nghiêm túc Khoảng trống về mặt lý luận, đặc biệt là vềmặt thực tiễn này, cũng như tầm quan trọng của vấn đề nghiên cứu trong bốicảnh mới đã đặt ra một cách cấp thiết và thôi thúc tác giả luận án lựa chọn vấnđề này để nghiên cứu

3.2 Những vấn đề đặt ra luận án tiếp tục giải quyết

Trên cơ sở tổng quan những nội dung và kết quả chính của các côngtrình nghiên cứu liên quan đến vấn đề nguồn nhân lực, đào tạo nguồn nhân lực,kinh tế tri thức, đặc điểm phát triển kinh tế tri thức, yêu cầu phát triển kinh tếtri thức ở Việt Nam, bước đầu luận án rút ra một số kết luận sau:

Thứ nhất, nguồn nhân lực, đào tạo nguồn nhân lực là một trong những chủ

đề không chỉ thu hút nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu, mà còn trở thànhchủ đề mà các khoa học, các nghiên cứu sinh và học viên cao học lựa chọn làm nộidung nghiên cứu cho các đề tài khoa học, các luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ

Trang 32

Thứ hai, tổng hợp các nghiên cứu về vấn đề nguồn nhân lực, đào tạo

nguồn nhân lực đã trình bày ở trên cho thấy các công trình nghiên cứu về nguồnnhân lực cho phát triển kinh tế tri thức còn rất ít, chưa có công trình nghiên cứunào về nguồn nhân lực, đào tạo nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế tri thức Vìvậy, trên cơ sở kế thừa và tiếp thu kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học đitrước, bổ sung vào khoảng trống các vấn đề nghiên cứu còn bỏ ngỏ để hoànthiện thêm những vấn đề lý luận và thực tiễn về nguồn nhân lực, đào tạo nguồnnhân lực gắn với phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam được luận án xác định làhướng nghiên cứu cơ bản, quan trọng nhất

Thứ ba, các công trình nghiên cứu trên đã đề cập vấn đề liên quan đến đào

tạo nguồn nhân lực Tuy nhiên, tác giả luận án cho rằng, có một số vấn đề sauđây cần tiếp tục nghiên cứu, làm sáng rõ thêm là:

- Sự cần thiết phải làm sáng tỏ hơn các quan niệm về nguồn nhân lực, việcđào tạo nguồn nhân lực phát triển kinh tế tri thức, đặc thù của đào tạo nguồnnhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế tri thức chỉ ra sự khác biệt của nó sovới các mô hình đào tạo nguồn nhân lực truyền thống

- Các đặc điểm phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam cần được rút ra vàxem xét để thấy rằng, chính các đặc điểm đó tác động đến yêu cầu của đào tạonguồn nhân lực cho phát triển kinh tế tri thức

- Các vấn đề về yêu cầu của đào tạo nguồn nhân lực gắn với phát triểnkinh tế tri thức; các nhân tố quy định trong đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng pháttriển kinh tế tri thức ở Việt Nam hiện nay đang là những vấn đề mới, cần có sựnghiên cứu kỹ lưỡng thấu đáo hơn

- Nghiên cứu và đánh giá thực trạng đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêucầu phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam hiện nay, trên cơ sở đó tìm kiếm cácgiải pháp nhằm đào tạo, phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu với pháttriển kinh tế tri thức là hết sức cần thiết, cần phải tập trung nghiên cứu

Đó là những gợi mở thôi thúc tác giả đề tài luận án “Đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam hiện nay” hướng vào

Trang 33

nghiên cứu giải quyết

Chương 1 KINH TẾ TRI THỨC VÀ NGUỒN NHÂN LỰC ĐÁP ỨNG YÊU CẦU

PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRI THỨC Ở VIỆT NAM 1.1 Kinh tế tri thức và phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam

1.1.1 Quan niệm và đặc trưng cơ bản của kinh tế tri thức

Quan niệm về kinh tế tri thức

Thuật ngữ kinh tế tri thức xuất hiện vào đầu những năm 1990 của thế kỷ

XX và gần đây được sử dụng rộng rãi trên thế giới cũng như ở Việt Nam Sự rađời của kinh tế tri thức phản ánh xu thế phát triển khách quan của lực lượngsản xuất trong điều kiện mới Theo đó, nền kinh tế thế giới đang chuyển dần từkinh tế công nghiệp sang kinh tế tri thức, các yếu tố như tri thức, khoa học vàcông nghệ trở thành bộ phận quan trọng hàng đầu của nền sản xuất hiện đại.Đúng như dự báo của C.Mác: “Theo đà phát triển của đại công nghiệp, việc tạo

ra của cải thực tế trở nên ít phụ thuộc vào thời gian lao động và vào số lượng laođộng đã hao phí hơn là vào những tác nhân được đưa vào vận động trong suốtthời gian lao động và bản thân những tác nhân ấy đến lượt mình lại tuyệt đốikhông tương ứng với thời gian lao động càn thiết để sản xuất ra chúng, mà nóiđúng hơn chúng phụ thuộc vào trình độ chung của khoa học và kỹ thuật, hayviệc sử dụng khoa học vào sản xuất Đến một trình độ nào đó, tri thức xã hộiphổ biến thành lực lượng sản xuất trực tiếp” [73, tr 368 - 372]

“Tri thức” theo nghĩa hẹp, đồng nghĩa với khoa học và công nghệ hoặchẹp hơn nữa là đồng nghĩa với cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại,bao gồm 4 trụ cột công nghệ là thông tin, sinh học, không gian vũ trụ và vật liệumới Cách hiểu này được cụ thể hóa qua các khái niệm “nền kinh tế công nghệcao”, “kinh tế thông tin”, “kinh tế mạng”, “kinh tế số hóa”

Cách tiếp cận ngành nghề đã tách biệt nền kinh tế quốc dân thành hai bộ

Trang 34

phận là khu vực kinh tế tri thức và khu vực kinh tế cũ Khu vực kinh tế tri thứcbao gồm các ngành dựa trên tri thức (theo phân loại OECD) Hai khu vực nàyhoạt động với những cơ chế, quy luật và cho kết quả khác nhau Nền kinh tế trithức phát triển tới trình độ càng cao nếu các ngành dựa trên tri thức cho phầnđóng góp càng lớn trong thu nhập quốc dân (GDP) Có hai dấu mốc cho thấynền kinh tế của một quốc gia đã chuyển sang giai đoạn kinh tế tri thức haychưa Đó là tỷ trọng của khu vực công nghiệp và phi công nghiệp lên tới điểmcực đại và hay là ngày càng giảm đi Điều này đã xuất hiện ở các nước tiêntiến, cách đây khoảng 30 năm.

Tri thức, hiểu theo nghĩa rộng, là mọi hiểu biết của con người về bản thân

và thế giới OECD đã chia ra bốn loại tri thức quan trọng là biết cái gì, biết tại sao, biết như thế nào và biết ai.

Kinh tế tri thức không chỉ được giải thích theo nguyên nhân từ sự tiến bộvượt bậc của công nghệ mới, mà còn là kết quả của một tập hợp từ ba nhómnguyên nhân trực tiếp tác động, tương tác và tự tăng cường lẫn nhau: tiến bộkhoa học kỹ thuật; nền kinh tế toàn cầu hóa cạnh tranh quyết liệt; các biến đổivề văn hóa, chính trị, tư tưởng của thế giới hiện đại

Với tư cách là lực lượng sản xuất, kinh tế tri thức phản ánh trình độ phát triểncao của lực lượng sản xuất gồm hai bộ phận chính là các công cụ sản xuất và conngười Kinh tế tri thức là một nấc thang phát triển của lực lượng sản xuất, tuyệt nhiên

nó không liên quan tới một hình thái kinh tế - xã hội mới Bởi lẽ, muốn xem xét mộthình thái kinh tế - xã hội thì phải đề cập tới nhiều mặt khác, đặc biệt là mối quan hệgiữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, kiến trúc thượng tầng và phương thứcgiải quyết mâu thuẫn giữa chúng [31, tr 27]

Bộ phận thứ hai liên quan trực tiếp đến con người, nhất là sự đóng góp của trithức vào phát triển kinh tế Quan niệm này diễn giải định nghĩa của OECD là tri thức

đã vượt qua vốn và lao động để trở thành nguồn lực chi phối mọi hoạt động tạo ra

Trang 35

của cải trong nền kinh tế tri thức Tri thức ở đây là khái niệm rất rộng, bao trùm mọihiểu biết của con người [31, tr 36].

Cách tiếp cận tổng quát cho rằng, thực chất kinh tế tri thức thực chất làloại môi trường kinh tế - văn hóa mới, có những đặc tính phù hợp và tạo thuậnlợi nhất cho việc học tập và đổi mới, sáng tạo Trong môi trường đó, tri thức tấtyếu trở thành nhân tố sản xuất quan trọng nhất, đóng góp vào sự phát triển kinh

tế - xã hội Vì vậy, cốt lõi của việc phát triển nền kinh tế tri thức không đơnthuần là phát triển khoa học, công nghệ, kỹ thuật mà là phát triển một nền vănhóa đổi mới, sáng tạo để tạo điều kiện cho việc sản xuất, khai thác và sử dụngmọi tri thức, mọi sự hiểu biết của nhân loại để phát triển kinh tế, xã hội

Năm 1995, tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) quan niệm:

“Kinh tế tri thức là kinh tế trong đó sự sản sinh, phổ cập và sử dụng tri thức của con người đóng vai trò quyết định nhất đối với sự phát triển kinh tế nhằm tạo ra của cải, nâng cao chất lượng cuộc sống” [118, tr 116].

Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC) quan niệm:

“Kinh tế tri thức là kinh tế mà trong đó quá trình sản xuất, phân phối và sử dụng tri thức trở thành động lực chính cho tăng trưởng, cho quá trình tạo ra của cải và việc làm trong tất cả các ngành kinh tế” (APEC 2000) [118, tr 115]

Liên hợp quốc quan niệm “Kinh tế tri thức là kinh tế trong đó sự sản sinh ra,phổ cập và sử dụng tri thức giữ vai trò quyết định nhất đối với phát triển kinh tế, tạoviệc làm và của cải, nâng cao chất lượng cuộc sống” [118, tr 115]

Trên cơ sở các quan niệm trên, tác giả luận án cho rằng kinh tế tri thức là một nấc thang mới, một bước tiến mới của quá trình phát triển kinh tế thế giới mà trong đó, động lực tăng trưởng chính là việc sử dụng tri thức, truyền bá và sản sinh ra tri thức mới; được sử dụng trong tất cả các ngành và giá trị do tri thức tạo

ra chiếm phần lớn tổng giá trị sản phẩm.

Sự phát triển của mỗi quốc gia - dân tộc trong giai đoạn hiện nay được quy địnhbởi những nguyên nhân cơ bản là khả năng sáng tạo, phổ biến và ứng dụng tri thứckhoa học vào quá trình sản xuất

Trang 36

Một là, trong kinh tế tri thức, tri thức đã vượt qua yếu tố sản xuất truyền

thống: sức lao động, tài nguyên, vốn để trở thành nhân tố sản xuất quan trọng,đóng góp vào sự phát triển kinh tế, xã hội của mỗi quốc gia - dân tộc Phát triểnkinh tế tri thức, tư liệu sản xuất hiện đại chứa đựng tri thức khoa học cao hơn

Kinh tế tri thức có đối tượng lao động phong phú hơn, chứa “hàm lượngtri thức khoa học cao” Sự tiến bộ của khoa học và công nghệ đã đem lại choloài người một nguồn nguyên, nhiên, vật liệu phong phú hơn do khoa học tìmthấy ở các sự vật có nhiều thuộc tính và tính năng mới Nên đối tượng lao độngtrong kinh tế tri thức phong phú và chứa nhiều tri thức khoa học hơn Ph.Ăngghen đã nhận định “Muốn nâng cao sản xuất công nghiệp và nông nghiệplên một mức độ cao mà chỉ có phương tiện cơ giới và hóa học phù trợ thì không

đủ Còn cần phát triển một cách tương xứng năng lực của con người sử dụngnhững phương tiện đó nữa” [71, tr 474]

Bên cạnh tư liệu lao động mới, hoàn thiện và thông minh hơn, kinh tế trithức có sản phẩm (vật chất, có tư liệu sản xuất) kết tinh trí tuệ của con người nhiềuhơn Khi đó mọi loại máy móc có sự biến đổi về chất, một phần trí tuệ của con ngườiđược giao cho máy móc đảm nhận, làm cho tốc độ tư duy tăng vọt dẫn đến sự ra đờicác loại máy móc thông minh Với những sự thay đổi nhanh chóng của công cụ máymóc, thiết bị, kinh tế tri thức đòi hỏi người lao động phải có tri thức phát triển vàchiếm vị trí quan trọng trong quá trình sản xuất, năng lực lao động của con ngườiphải có sự thay đổi về chất C Mác nhận định: “Tất cả những cái đó đều là sảnphẩm, là vật liệu tự nhiên đã được chuyển hóa thành cơ quan ý chí của conngười chế ngự giới tự nhiên hoặc hoạt động con người trong giới tự nhiên Tất

cả những cái đó đều là những cơ quan bộ óc của con người, do bàn tay conngười tạo ra, đều là sức mạnh đã vật hóa tri thức” [72, tr 372]

Vì vậy, đẩy mạnh tính chất xã hội hóa của lực lượng sản xuất ở phạm vi quốcgia - dân tộc và quốc tế, góp phần làm thay đổi cơ cấu kinh tế, tạo cơ hội cho việcchuyển giao công nghệ và phát triển các nguồn lực

Trang 37

Hai là, khả năng sáng tạo, phân phối, khai thác tri thức, kiến thức khoa

học công nghệ trở thành nhân tố quyết định sức mạnh cạnh tranh của mỗi quốcgia và mỗi doanh nghiệp trên thị trường quốc tế

Toàn cầu hóa kinh tế là quá trình mở rộng phân công lao động và chuyênmôn hóa sản xuất, thông qua đó thị trường và sản xuất ở nhiều nước khác nhaungày càng phụ thuộc lẫn nhau

Người lao động được hưởng thụ thành quả lao động, thu nhập cao hơn.Của cải, tri thức cũng có thể là của riêng, cũng có thể là của chung, nhưng ainắm giữ tri thức càng nhiều thì cơ hội cho thu nhập càng cao Vì thế, trong kinh

tế tri thức có sự khác biệt thu nhập do có sự khác biệt về những tiêu chuẩn thôngthường như kinh nghiệm, vốn sống và trình độ học vấn

Ba là, trong kinh tế trí thức, vấn đề không chỉ tạo ra tri thức mà cả thu nhận,

truyền bá tri thức Người lao động có tri thức khoa học, có năng lực sáng tạo ngàycàng chiếm tỷ lệ cao Trong phát triển kinh tế tri thức, người lao động trở thành côngnhân tri thức ở các khu công nghiệp, là nhân lực khoa học tham gia trực tiếp vào quátrình sản xuất, thường gọi là “công nhân áo trắng, cổ cồn”, chiếm tỷ lệ ngày cànglớn, vượt trội hơn hẳn số “công nhân áo xanh” (là số công nhân chỉ thao tác máymóc theo quy trình có sẵn, lao động cơ bắp) và tạo ra giá trị tăng lớn gấp nhiều lần

Người lao động có tri thức là người vừa sản xuất, vừa nghiên cứu và ứngdụng kết quả nghiên cứu khoa học vào sản xuất Thậm chí, có những sản phẩmlàm ra là do những phát minh được ứng dụng ngay vào sản xuất Nghĩa là, họkhông chỉ sử dụng có hiệu quả các yếu tố vật chất được trang bị, mà còn sángtạo ra những thành tựu khoa học và công nghệ mới, trực tiếp đưa nó vào sảnxuất, tạo ra sản phẩm mới, chất lượng tốt hơn

Đặc trưng cơ bản của kinh tế tri thức

Kinh tế tri thức có sự biến đổi mang tính cách mạng sâu sắc so với nềnkinh tế công nghiệp, thể hiện ở chỗ, trong phát triển kinh tế tri thức, tri thứcđóng vai trò quan trọng nhất, quyết định sức mạnh phát triển của thời đại ngàynay Kinh tế tri thức có các đặc trưng cơ bản sau đây:

Trang 38

Tri thức, khoa học và công nghệ, thông tin cùng với lao động sáng tạo,

kỹ năng tay nghề cao trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp tạo ra lợi thế quyết định sự tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội.

Nền kinh tế lấy tri thức làm cơ sở là nền kinh tế dựa chủ yếu vào tri thức.Của cải tạo ra dựa vào tri thức nhiều hơn là dựa vào tài nguyên thiên nhiên vàsức lao động cơ bắp, tuy vốn và lao động vẫn là những yếu tố cơ bản không thểthiếu Giá trị sản xuất được tạo ra nhiều nhất là từ tri thức khoa học, khi sử dụngcác công nghệ mới, tri thức quản lý mới

Trong quá trình phát triển, tri thức là yếu tố quan trọng hơn so với các yếu

tố khác và trở thành sản phẩm có giá trị cao, chiếm tỷ trọng lớn hơn so với cácsản phẩm vật chất khác trong tổng GDP Tuy nhiên, tri thức, công nghệ mớikhông đơn giản tạo ra ngay những tiến bộ về năng suất và thành công trong cạnhtranh quốc tế, trừ khi chúng được phổ biến cả về chất lượng và số lượng để duytrì liên tục khả năng đổi mới, mở rộng và phát triển tri thức, đó là rất cần thiết,quyết định sự thành công của một nền kinh tế

Với đặc trưng này, kinh tế tri thức tạo điều kiện để con người khôngngừng trau dồi tri thức đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội; đồngthời, là cơ sở để lựa chọn tự nhiên những lao động có đủ điều kiện tri thứccho sự phát triển mới và ngược lại, đối với những lao động không đáp ứngđược yêu cầu sẽ bị đào thải Đây là thách thức không nhỏ đối với các nướcđang phát triển khi tiếp cận kinh tế tri thức Bởi lẽ, trên thực tế, đối với cácquốc gia này, lực lượng lao động còn hạn chế nhiều mặt, đặc biệt trình độ dântrí và tay nghề

Kinh tế tri thức mang tính toàn cầu hóa

Kinh tế tri thức ra đời là kết quả của sự phát triển khoa học và công nghệtrên phạm vi toàn thế giới, đặc biệt là sự phát triển của công nghệ thông tin Lúcđầu, kinh tế xuất hiện ở những nước phát triển - nơi có nền kinh tế công nghiệp

đã đạt đến đỉnh cao, tạo ra những điều kiện cần thiết cho nền kinh tế mới vận hành,

Trang 39

sau đó lan sang các quốc gia khác, kể cả nước đang phát triển Sự vận động nàymang tính đồng bộ và tác động qua lại lẫn nhau giữa nhiều yếu tố: phát triển khoahọc và công nghệ, kinh tế thị trường, thương mại thế giới “ trong xu thế toàn cầuhóa, kinh tế tri thức ra đời: bất cứ ngành sản xuất, dịch vụ nào cũng dựa vào nguồncung ứng từ nhiều nước và được tiêu thụ ở nhiều quốc gia Cũng chính từ lý do đó,người ta gọi kinh tế tri thức là, nền kinh tế nối mạng, hay là nền kinh tế toàn cầu dựavào tri thức” [118, tr 78].

Quá trình phát triển khoa học và công nghệ, nhất là công nghệ thông tin

và truyền thông, phát triển kinh tế tri thức, cùng với phát triển thương mại, thịtrường và quá trình toàn cầu hóa, nhất thể hóa các nền kinh tế là những quá trình

đi liền nhau, tác động qua lại, thúc đẩy nhau cùng phát triển

Do vậy, trong phát triển kinh tế tri thức, vấn đề quan trọng nhất cầngiải quyết đối với các nước đang phát triển là tập trung đào tạo nguồn nhânlực đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế tri thức Đây là khâu đột phá chiếnlược trên con đường phát triển kinh tế tri thức

Kinh tế tri thức có tốc độ biến đổi nhanh chóng

Tốc độ biến đổi trong kinh tế tri thức thể hiện ở khả năng sản sinh trithức mới, sự thay đổi về giá cả, cơ cấu kinh tế và việc áp dụng phổ biến cácthành tự khoa học và công nghệ vào thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện về côngnghệ mới Kết quả của nó làm biến đổi đời sống trên mọi phương diện kinh tế,văn hóa, chính trị - xã hội ngày càng cao

Tốc độ sản sinh tri thức ngày càng nhanh, thời gian cần thiết để tănglượng tri thức vốn có của nhân loại ngày càng ngắn Các nhà nghiên cứu đã đưa

ra những con số so sánh như: tri thức của loài người ở thế kỷ thứ XIX, cứ 50năm thì tăng gấp đôi; sang thế kỷ XX, cứ 30 năm tăng gấp đôi, giữa thế kỷ XX

là 10 năm tăng lên gấp đôi; đến những năm 1970 của thế kỷ XX là 5 năm trithức tăng lên gấp đôi [15, tr 175 ]

Trang 40

Do đó, cạnh tranh diễn ra ngay gắt, trước hết là cạnh tranh về thời gian, cónghĩa là, việc ứng dụng, phổ biến các thành tựu của khoa học và công nghệ cũngdiễn ra với tốc độ nhanh hơn Nếu đạt được số lượng người thuê bao là 50 triệu,thì dịch vụ điện thoại cần đến 74 năm; với radio cần 30 năm; với máy tính cánhân chỉ cần 16 năm; nhanh hơn, ti vi chỉ cần 13 năm, internet chỉ cần chưa đầy

4 năm, điện thoại di động chỉ cần vài tháng [15, tr 31]

Sự biến đổi này không chỉ biểu hiện ở lĩnh vực khoa học và công nghệ mà

nó còn được nhìn nhận ở quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế quốc gia Tácđộng của kinh tế tri thức làm cho cơ cấu kinh tế của một quốc gia dịch chuyểnnhanh chóng theo hướng giảm tỷ trọng kinh tế nông nghiệp, gia tăng các ngànhkinh tế dựa vào tri thức

Kinh tế tri thức mang lại cơ hội phát triển cho nhiều quốc gia - dân tộc,nhưng chính sự biến đổi nhanh chóng của nó đã và đang tạo ra những nguy cơtụt hậu xa hơn về kinh tế của các nước đang phát triển và kém phát triển Trongkinh tế tri thức, cái được lựa chọn ở ngày hôm qua là cái có thể bị đào thải ởngày hôm nay, cái được lựa chọn ngày hôm nay cũng có thể là cái không còn vaitrò ở ngày mai

Kinh tế tri thức tạo ra điều kiện, tiền đề phát triển kinh tế - xã hội bền vững, làm cho quan hệ sản xuất mang tính xã hội hóa cao

Do tính chất xã hội hóa cao của quá trình sản xuất trong nền kinh tế tri thức

và do tri thức là loại hàng hóa đặc biệt, khó có thể thực hiện sở hữu tư nhân về tưliệu sản xuất tri thức như đối với các loại tư liệu sản xuất hữu hình (tư bản cố định),nên quan hệ sản xuất trong nền kinh tế tri thức mang tính xã hội hóa cao phù hợpvới trình độ của lực lượng sản xuất chủ yếu dựa vào tri thức

Cuộc cách mạng công nghiệp trước đây chỉ tập trung đến giải phóng sứclao động mà chưa chú ý nhiều đến bảo vệ môi trường, hệ quả là trong một thờigian dài, mặc dù tăng trưởng kinh tế của các quốc gia được cải thiện đáng kểnhưng hậu quả để lại về nạn khai thác tài nguyên thiên nhiên và ô nhiễm môi

Ngày đăng: 12/12/2016, 16:21

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Sử Ngọc Anh (2016), “Đảm bảo chất lượng và kiểm định chất lượng trong giáo dục đại học”, Tạp chí Khoa học giáo dục, số 125, tháng 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảm bảo chất lượng và kiểm định chất lượng trong giáodục đại học”, "Tạp chí Khoa học giáo dục
Tác giả: Sử Ngọc Anh
Năm: 2016
2. Hoàng Chí Bảo (2006), Văn hóa và con người Việt Nam trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo tư tưởng Hồ Chí Minh , Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa và con người Việt Nam trong tiến trìnhcông nghiệp hóa, hiện đại hóa theo tư tưởng Hồ Chí Minh
Tác giả: Hoàng Chí Bảo
Nhà XB: Nxb Chínhtrị quốc gia
Năm: 2006
3. Hoàng Chí Bảo (2014), “Những cơ hội và thách thức đối với sự nghiệp đổi mới, phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa của Việt Nam trong bối cảnh thế giới hiện nay”, Tạp chí Cộng sản, số 857 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những cơ hội và thách thức đối với sự nghiệp đổimới, phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa của Việt Nam trongbối cảnh thế giới hiện nay”, "Tạp chí Cộng sản
Tác giả: Hoàng Chí Bảo
Năm: 2014
4. Đặng Quốc Bảo, Phạm Minh Giản, Phạm Hữu Ngãi (2016). “Phát triển nguồn nhân lực khoa học giáo dục để hội nhập quốc tế: Vấn đề cấp thiết hiện nay”, Tạp chí Khoa học Giáo dục, số 125, tháng 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triểnnguồn nhân lực khoa học giáo dục để hội nhập quốc tế: Vấn đề cấp thiếthiện nay”
Tác giả: Đặng Quốc Bảo, Phạm Minh Giản, Phạm Hữu Ngãi
Năm: 2016
6. Bộ Kế hoạch và Đầu tư: Báo cáo tổng hợp Quy hoạch phát triển nhân lực Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020, Hà Nội, 4/2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng hợp Quy hoạch phát triển nhân lựcViệt Nam giai đoạn 2011 - 2020
7. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2016), Chỉ tiêu kinh tế xã hội năm 2016, tháng 3 8. Chu Văn Cấp (2012), “Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao góp phầnphát triển bền vững Việt Nam”, Tạp chí Cộng sản, số 839 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ tiêu kinh tế xã hội năm 2016", tháng 38. Chu Văn Cấp (2012), “Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao góp phầnphát triển bền vững Việt Nam”, "Tạp chí Cộng sản
Tác giả: Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2016), Chỉ tiêu kinh tế xã hội năm 2016, tháng 3 8. Chu Văn Cấp
Năm: 2012
9. Hoàng Văn Châu (2009) “Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho hội nhập kinh tế - vấn đề cấp bách sau khủng hoảng”, Tạp chí Kinh tế đối ngoại, số 38 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho hộinhập kinh tế - vấn đề cấp bách sau khủng hoảng”
10. Nguyễn Trọng Chuẩn (2013), “Trí thức và trách nhiệm xã hội”, Tạp chí Cộng sản, số 853 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trí thức và trách nhiệm xã hội”, "Tạp chíCộng sản
Tác giả: Nguyễn Trọng Chuẩn
Năm: 2013
11. Nguyễn Trọng Chuẩn (2014), “Xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh để có con người đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững ”, Tạp chí Cộng sản, số 864 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng môi trường văn hóa lành mạnhđể có con người đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững"”, Tạp chí Cộngsản
Tác giả: Nguyễn Trọng Chuẩn
Năm: 2014
12. Hoàng Đình Cúc (2009), “Phát triển bền vững ở Việt Nam một số vấn đềlý luận và thực tiễn”, Tạp chí Triết học, số 8 (219) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển bền vững ở Việt Nam một số vấn đềlý luận và thực tiễn”, "Tạp chí Triết học
Tác giả: Hoàng Đình Cúc
Năm: 2009
13. Vũ Đình Cự, Trần Xuân Sầm (Đồng chủ biên) (2006), Lực lượng sản xuất mới và kinh tế tri thức, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lực lượng sản xuấtmới và kinh tế tri thức
Tác giả: Vũ Đình Cự, Trần Xuân Sầm (Đồng chủ biên)
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
14. Nguyễn Duy Dũng (2008), Đào tạo và quản lý nguồn nhân lực - Kinh nghiệm của Nhật Bản, Hàn Quốc và những gợi ý cho Việt Nam , Nxb Từ điển Bách khoa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đào tạo và quản lý nguồn nhân lực - Kinhnghiệm của Nhật Bản, Hàn Quốc và những gợi ý cho Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Duy Dũng
Nhà XB: Nxb Từđiển Bách khoa
Năm: 2008
15. Nguyễn Hữu Dũng, Trần Khánh Đức, Võ Đại Lược, Trần Tiến Cường (2012) “Phát triển nguồn nhân lực đáp ứng với những thách thức của quá trình toàn cầu hoá mạnh mẽ và một nền kinh tế dựa trên những hiểu biết mới”, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển nguồn nhân lực đáp ứng với những thách thức củaquá trình toàn cầu hoá mạnh mẽ và một nền kinh tế dựa trên những hiểubiết mới”
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật
16. Nguyễn Bá Dương (2002), “Phát triển nguồn lực con người - động lực của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa”, Tạp chí Khoa học xã hội, số 2 (54) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển nguồn lực con người - động lực của sựnghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa”, "Tạp chí Khoa học xã hội
Tác giả: Nguyễn Bá Dương
Năm: 2002
19. Phạm Tất Dong (2005), Trí thức Việt Nam thực tiễn và triển vọng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trí thức Việt Nam thực tiễn và triển vọng
Tác giả: Phạm Tất Dong
Nhà XB: NxbChính trị quốc gia
Năm: 2005
20. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lầnthứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
21. Đảng Cộng sản Việt Nam (2004), Văn kiện Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương khóa IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ chín BanChấp hành Trung ương khóa IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2004
22. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lầnthứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
23. Đảng Cộng sản Việt Nam (2007), Văn kiện Đảng toàn tập, tập 37, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng toàn tập
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NxbChính trị quốc gia
Năm: 2007
24. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lầnthứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật
Năm: 2011

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 3.1. Số lượng lao động qua đào tạo có trình độ chuyên môn kỹ thuật - Đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế kinh tế tri thức ở việt nam hiện nay
Hình 3.1. Số lượng lao động qua đào tạo có trình độ chuyên môn kỹ thuật (Trang 94)
Sơ đồ 1 MỐI QUAN HỆ GIỮA QUY MÔ DÂN SỐ VÀ LỰC LƯỢNG - Đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế kinh tế tri thức ở việt nam hiện nay
Sơ đồ 1 MỐI QUAN HỆ GIỮA QUY MÔ DÂN SỐ VÀ LỰC LƯỢNG (Trang 171)
Sơ đồ 2 QUAN HỆ GIỮA CÁC BỘ PHẬN TRONG NGUỒN NHÂN LỰC - Đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế kinh tế tri thức ở việt nam hiện nay
Sơ đồ 2 QUAN HỆ GIỮA CÁC BỘ PHẬN TRONG NGUỒN NHÂN LỰC (Trang 172)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w