PHẦN 1. MỞ ĐẦU 1.1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Việt Nam đã đạt được nhiều thành tích trong phát triển kinh tế - xã hội (KT- XH) và hội nhập quốc tế nhưng về cơ bản vẫn là một nước nông nghiệp với 67,5% dân số và 69,4% lao động với độ tuổi từ 15 trở lên đang sống ở vùng nông thôn (Tổng cục Thống kê, 2013). Hàng năm nông nghiệp đóng góp gần 20% vào GDP của đất nước. Đây cũng là ngành duy nhất trong nền kinh tế có xuất khẩu ròng dương, năm 2010 kim ngạch xuất khẩu nông sản sau khi trừ giá trị nhập khẩu và chi phí đầu vào cho sản xuất thì xuất khẩu nông sản đã đạt khoảng 13 tỷ USD (Đỗ Mai Thành, 2012). Nông thôn là địa bàn quan trọng của cả nước nên công cuộc đổi mới làm cho “Dân giầu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” không thể tách rời việc thúc đẩy phát triển KT-XH và cơ sở hạ tầng (CSHT), nhằm nâng cao phúc lợi cho người dân. Vì vậy, Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) đã ra Nghị quyết số 26/NQ-TW ngày 05/08/2008 về “nông nghiệp, nông dân và nông thôn” (BCH Trung ương Đảng, 2008) và Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04/06/2010, Phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 20102020. Tổng kết hai năm thí điểm thực hiện Nghị quyết 26 cho thấy phát triển nông thôn đã đạt được một số thành tựu bước đầu nhưng nhìn chung đại bộ phận khu vực nông thôn vẫn nằm trong tình trạng kém phát triển (Thủ tướng Chính phủ, 2010). Một trong những nguyên nhân là hệ thống CSHT nông thôn, đặc biệt là CSHT giao thông nông thôn (GTNT) yếu kém (BCH Trung ương Đảng, 2012). Theo con số thống kê giai đoạn 2004-2010 đầu tư vào CSHT GTNT của Việt Nam chiếm khoảng gần 1% GDP và tỷ lệ nghèo đói giảm từ 18% xuống 9,5% và cứ đầu tư cho GTNT 1% GDP thì tỷ lệ nghèo hàng năm giảm được 1,5%/năm (Bộ Giao thông vận tải, 2011). Phát triển CSHT GTNT góp phần tích cực cho tăng trưởng kinh tế và giảm nghèo nhằm đạt được hiệu quả xã hội tốt hơn. Việc khai thông các tuyến đường nối đến các vùng xa xôi hẻo lánh, vùng đồng bào dân tộc thiểu số đã giúp cho người nghèo có cơ hội được hưởng lợi nhiều hơn từ sự tăng trưởng kinh tế. PHẦN 1. MỞ ĐẦU 1.1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Việt Nam đã đạt được nhiều thành tích trong phát triển kinh tế - xã hội (KT- XH) và hội nhập quốc tế nhưng về cơ bản vẫn là một nước nông nghiệp với 67,5% dân số và 69,4% lao động với độ tuổi từ 15 trở lên đang sống ở vùng nông thôn (Tổng cục Thống kê, 2013). Hàng năm nông nghiệp đóng góp gần 20% vào GDP của đất nước. Đây cũng là ngành duy nhất trong nền kinh tế có xuất khẩu ròng dương, năm 2010 kim ngạch xuất khẩu nông sản sau khi trừ giá trị nhập khẩu và chi phí đầu vào cho sản xuất thì xuất khẩu nông sản đã đạt khoảng 13 tỷ USD (Đỗ Mai Thành, 2012). Nông thôn là địa bàn quan trọng của cả nước nên công cuộc đổi mới làm cho “Dân giầu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” không thể tách rời việc thúc đẩy phát triển KT-XH và cơ sở hạ tầng (CSHT), nhằm nâng cao phúc lợi cho người dân. Vì vậy, Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) đã ra Nghị quyết số 26/NQ-TW ngày 05/08/2008 về “nông nghiệp, nông dân và nông thôn” (BCH Trung ương Đảng, 2008) và Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04/06/2010, Phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 20102020. Tổng kết hai năm thí điểm thực hiện Nghị quyết 26 cho thấy phát triển nông thôn đã đạt được một số thành tựu bước đầu nhưng nhìn chung đại bộ phận khu vực nông thôn vẫn nằm trong tình trạng kém phát triển (Thủ tướng Chính phủ, 2010). Một trong những nguyên nhân là hệ thống CSHT nông thôn, đặc biệt là CSHT giao thông nông thôn (GTNT) yếu kém (BCH Trung ương Đảng, 2012). Theo con số thống kê giai đoạn 2004-2010 đầu tư vào CSHT GTNT của Việt Nam chiếm khoảng gần 1% GDP và tỷ lệ nghèo đói giảm từ 18% xuống 9,5% và cứ đầu tư cho GTNT 1% GDP thì tỷ lệ nghèo hàng năm giảm được 1,5%/năm (Bộ Giao thông vận tải, 2011). Phát triển CSHT GTNT góp phần tích cực cho tăng trưởng kinh tế và giảm nghèo nhằm đạt được hiệu quả xã hội tốt hơn. Việc khai thông các tuyến đường nối đến các vùng xa xôi hẻo lánh, vùng đồng bào dân tộc thiểu số đã giúp cho người nghèo có cơ hội được hưởng lợi nhiều hơn từ sự tăng trưởng kinh tế. Tính đến năm 2011 cả nước có khoảng 272.861 km đường GTNT (gồm đường huyện, đường xã, đường thôn xóm, chưa tính đường ra đồng ruộng) và chiếm 82% chiều dài mạng đường bộ (đường huyện 47.562 km, chiếm 14,30%; đường xã 148.278 km, chiếm 44,58%; đường thôn xóm khoảng 77.022 km, chiếm 23,16%,...). Uớc tính tổng nhu cầu vốn xây dựng, nâng cấp và bảo trì cho hệ thống đường GTNT là 151.404 tỷ đồng (nhu cầu vốn xây dựng mới là 43.109 tỷ đồng, vốn cho nâng cấp là 90.383 tỷ đồng và vốn cho bảo trì là 17.912 tỷ đồng (Bộ Giao thông vận tải, 2011). Nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước (NSNN) là hạn chế nên việc khuyến khích đóng góp của cộng đồng là cần thiết và ngày càng tăng lên. Đồng Nai có khoảng 8.506 km đường GTNT, trong đó đường huyện 1.374,4km (chiếm 16,2%), đường xã 1.592,4km (18,7%) và đường thôn xóm 4.432,5 (52,1%), còn lại là đường ra đồng ruộng. Tỷ lệ cứng hóa (trải bê tông, trải nhựa) chỉ mới chiếm 51,8% (đường huyện 21,5%, đường xã 19,1%, đường thôn xóm 50,9%) (Sở GTVT Đồng Nai, 2013). Riêng năm 2014 cả Tỉnh phát triển được 522,5 km đường GTNT với số vốn đầu tư là 802,5 tỷ đồng, trong đó: NSNN chiếm 84,8%, người dân đóng góp 0,2%, các tổ chức doanh nghiệp trên địa bàn đóng góp 15% (Sở GTVT Đồng Nai, 2014). Từ đó cho thấy, mặc dù Đồng Nai là một trong các địa phương đi đầu cả nước về huy động sự tham gia của cộng đồng trong phát triển CSHT GTNT, nhưng mức độ, kết quả đạt được là còn hạn chế. Hàng năm tỉnh có tổ chức tổng kết, đề ra kế hoạch phát triển CSHT GTNTvà các chương trình huy động sự tham gia của cộng đồng nhưng chưa làm sáng tỏ các vấn đề: Thứ nhất, Thực trạng tham gia của cộng đồng trong phát triển CSHT GTNT đã được đánh giá, phản ánh toàn diện và đúng thực chất hay chưa? Thứ hai, Những yếu tố nào ảnh hưởng tới sự tham gia của cộng đồng trong phát triển CSHT GTNT? Thứ ba, Các giải pháp khuyến khích sự tham gia của cộng đồng đã vận dụng đầy đủ cơ sở lý luận, thực tiễn hay chưa? Tiếp theo cần những giải pháp thế nào? Qua các tài liệu cho thấy đã có nhiều nghiên cứu liên quan nhưng chưa có một nghiên cứu đầy đủ nào về tham gia của cộng đồng trong phát triển CSHT GTNT tỉnh Đồng Nai.
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NGUYỄN XUÂN QUYẾT
NGHIÊN CỨU SỰ THAM GIA CỦA CỘNG ĐỒNG
TRONG PHÁT TRIỂN CƠ SỞ HẠ TẦNG GIAO THÔNG NÔNG THÔN TỈNH ĐỒNG NAI
LUẬN ÁN TIẾN SĨ
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2016
Trang 2PHẦN 2 TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ LUẬN VẦ THỰC TIỄN VỀ SỰ THAM GIA
CỦA CỘNG ĐỒNG TRONG PHÁT TRIỂN CƠ SỞ HẠ TẦNG GIAO
2.1 Cơ sở lí luận về tham gia của cộng đồng trong phát triển cơ sở hạ tầng
2.1.2 Phát triển cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn 10 2.1.3 Tham gia của cộng đồng trong phát triển cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn 14 2.1.4 Những yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia của cộng đồng trong phát triển
2.2 Cơ sở thực tiễn về sự tham gia của cộng đồng trong phát triển cơ sở hạ
2.2.1 Kinh nghiệm một số nước trên thế giới về tăng cường sự tham gia của
cộng đồng trong phát triển cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn 29
Trang 32.2.2 Kinh nghiệm một số địa phương ở Việt Nam về tăng cường sự tham gia
của cộng đồng trong phát triển cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn 33 2.3 Tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan 37 2.3.1 Các nghiên cứu về sự tham gia của cộng đồng trong phát triển cơ sở hạ
tầng, cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn trên thế giới 37 2.3.2 Các nghiên cứu về sự tham gia của cộng đồng trong phát triển cơ sở hạ
3.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội tỉnh Đồng Nai 44
3.5.4 Phương pháp thu thập và xử lý thông tin nghiên cứu 55
3.5.6 Tiêu chí và hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 60 PHẦN 4 THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG SỰ THAM GIA
CỦA CỘNG ĐỒNG TRONG PHÁT TRIỂN CƠ SỞ HẠ TẦNG GIAO
4.1 Thực trạng cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn tỉnh Đồng Nai và nhu cầu
4.1.1 Thực trạng cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn tỉnh Đồng Nai 65 4.1.2 Nhu cầu tham gia của cộng đồng trong phát triển cơ sở hạ tầng giao
4.1.3 Phân cấp quản lý cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn của Đồng Nai 71
Trang 44.2 Thực trạng tham gia của cộng đồng trong phát triển cơ sở hạ tầng giao
4.2.1 Nhận diện các mô hình tham gia của cộng đồng trong phát triển cơ sở hạ
4.2.2 Tham gia của cộng đồng trong xác định nhu cầu quy hoạch cơ sở hạ tầng
4.2.3 Tham gia của cộng đồng trong lập dự toán và chính sách tham gia phát
4.2.4 Tham gia của cộng đồng trong đóng góp nguồn lực vật chất của cộng
đồng cho phát triển cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn 80 4.2.5 Tham gia của cộng đồng trong quá trình thi công xây dựng cơ sở hạ tầng
4.2.6 Tham gia của cộng đồng trong giám sát và nghiệm thu cơ sở hạ tầng giao
4.2.7 Tham gia của cộng đồng trong quản lý và bảo dưỡng cơ sở hạ tầng giao
4.2.8 Tham gia của cộng đồng trong thụ hưởng và đánh giá hiệu quả cơ sở hạ
4.2.9 Đánh giá của cộng đồng về vai trò tham gia phát triển cơ sở hạ tầng giao
4.3 Các yếu tố ảnh hưởng tới sự tham gia của cộng đồng trong phát triển cơ
sở hạ tầng giao thông nông thôn tỉnh Đồng Nai 107 4.3.1 Ảnh hưởng của các yếu tố khách quan đến sự tham gia của cộng đồng
trong phát triển cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn 107 4.3.2 Ảnh hưởng của các yếu tố chủ quan đến sự tham gia của cộng đồng trong
phát triển cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn 110 4.4 Giải pháp tăng cường sự tham gia của cộng đồng trong phát triển cơ sở
4.4.1 Quan điểm và căn cứ đề xuất giải pháp tăng cường tham gia của cộng
đồng trong phát triển cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn 117 4.4.2 Giải pháp tăng cường sự tham gia của cộng đồng trong phát triển cơ sở
Trang 5PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 147
Trang 6
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
ADB Ngân hàng phát triển châu Á (Asean Development Bank)
HDI Chỉ số phát triển con người (Human Development Indication)
WB Ngân hàng thế giới (World Bank)
WTO Tổ chức thương mại thế giới (World Trade Organzation)
Trang 74.1 Hiện trạng đường giao thông nông thôn Đồng Nai đến cuối năm 2013 66 4.2 Đánh giá của cộng đồng về chất lượng cơ sở hạ tầng giao thông nông
4.3 Kết quả tham gia của cộng đồng trong xác định nhu cầu qui hoạch phát
4.4 Mức độ cộng đồng tham gia Xác định nhu cầu qui hoạch phát triển cơ sở
4.5 Kết quả cộng đồng tham gia lập dự toán và chính sách tham gia phát triển
4.6 Đánh giá sự tham gia của cộng đồng trong lập dự toán và chính sách
tham gia phát triển cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn 79 4.7 Cộng đồng đóng góp nguồn lực cho phát triển cơ sở hạ tầng giao thông
4.8 Kết quả cộng đồng đóng góp nguồn lực phân tích theo địa phương 83 4.9 Kết quả cộng đồng đóng góp nguồn lực theo loại cộng đồng 85 4.10 Phân tích kết quả cộng đồng góp tiền theo loại cơ sở hạ tầng 87 4.11 Phân tích kết quả cộng đồng góp lao động theo loại cơ sở hạ tầng 88 4.12 Phân tích kết quả cộng đồng góp vật liệu theo loại cơ sở hạ tầng 89 4.13 Phân tích kết quả cộng đồng góp đất theo loại cơ sở hạ tầng 90 4.14 Mức độ tham gia đóng góp nguồn lực theo đối tượng tham gia và loại
4.15 Kết quả tham gia của cộng đồng trong giám sát và nghiệm thu cơ sở hạ
4.16 Tham gia của cộng đồng trong thụ hưởng và đánh giá hiệu quả cơ sở hạ
4.17 Đánh giá vai trò tham gia của cộng đồng trong phát triển cơ sở hạ tầng
Trang 84.18 Mức độ ảnh hưởng của yếu tố môi trường tự nhiên xã hội đến sự tham
4.22 Mức độ ảnh hưởng của nguồn tài lực đến sự tham gia của cộng đồng 115 4.23 Hạn chế, nguyên nhân và yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia của cộng
đồng trong phát triển cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn tỉnh Đồng Nai 121 4.24 Ma trận giải pháp tăng cường sự tham gia của cộng đồng trong phát triển
Trang 9
DANH MỤC SƠ ĐỒ
2.1 Các hình thức tham gia của cộng đồng trong phát triển cơ sở hạ tầng giao
2.2 Các kiểu tham gia của cộng đồng trong phát triển cơ sở hạ tầng giao
2.3 Mức độ tham gia của cộng đồng trong phát triển cơ sở hạ tầng giao thông
2.4 Vòng tròn tham gia của cộng đồng trong phát triển cơ sở hạ tầng giao
3.2 Khung phân tích sự tham gia của cộng đồng trong phát triển cơ sở hạ
4.1 Phân cấp quản lý cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn Đồng Nai 71 4.2 Qui trình tổng quát quá trình tham gia của cộng đồng trong phát triển cơ
Trang 10DANH MỤC HÌNH
4.1 Khảo sát về nhu cầu phát triển các loại cơ sở hạ tầng giao thông nông
4.2 Mô hình tham gia của cộng đồng trong phát triển cơ sở hạ tầng giao
4.3 Mức độ tham gia đóng góp tiền theo loại cơ sở hạ tầng 94 4.4 Mức độ tham gia đóng góp lao động theo loại cơ sở hạ tầng 94 4.5 Mức độ tham gia đóng góp vật liệu theo loại cơ sở hạ tầng 95 4.6 Mức độ tham gia đóng góp đất theo loại cơ sở hạ tầng 95 4.7 Tham gia của cộng đồng trong quá trình thi công xây dựng cơ sở hạ tầng
4.8 Mức độ tham gia của cộng đồng trong giám sát, nghiệm thu cơ sở hạ
4.9 Tham gia của cộng đồng trong quản lý và bảo dưỡng cơ sở hạ tầng giao
4.10 Số ý kiến tham gia đánh giá hiệu quả cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn 104 4.11 Mô hình cho sự tham gia của cộng đồng trong phát triển cơ sở hạ tầng
Trang 11DANH MỤC HỘP
Trang 12
TRÍCH YẾU LUẬN ÁN TIẾN SĨ
Tên tác giả: Nguyễn Xuân Quyết
Tên luận án: Nghiên cứu Sự tham gia của cộng đồng trong phát triển Cơ sở hạ tầng Giao
thông nông thôn tỉnh Đồng Nai
Chuyên ngành: Kinh tế phát triển Mã số: 62.31.01.05
Cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam
- Mục tiêu: i) Hệ thống hóa và góp phần làm rõ thêm cơ sở lý luận về sự tham
gia của cộng đồng trong phát triển CSHT GTNT; ii) Đánh giá thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia của cộng đồng trong phát triển CSHT GTNT tỉnh Đồng Nai; iii) Đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường sự tham gia của cộng đồng trong phát triển CSHT GTNT tỉnh Đồng Nai đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030
- Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: (i) Đối tượng nghiên cứu là sự tham gia của cộng đồng trong phát triển CSHT GTNT tỉnh Đồng Nai (Cộng đồng người dân, doanh nghiệp, đoàn thể và chính quyền); (ii) Thời gian nghiên cứu từ 2010-2015, trên 4 huyện đại diện cho 4 vùng của tỉnh Đồng Nai: Nhơn Trạch, Trảng Bom, Vĩnh Cửu và Xuân Lộc
Phương pháp nghiên cứu
- Về nội dung: Các hoạt động tham gia của cộng đồng (Xác định nhu cầu qui hoạch, lập dự toán và chính sách cho sự tham gia, đóng góp nguồn lực vật chất, thi công xây dựng, giám sát và nghiệm thu, quản lý và bảo trì bảo dưỡng, thụ hưởng và đánh giá hiệu quả, kết quả, mức độ, hình thức,… tham gia); Các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia của cộng đồng trong phát triển CSHT GTNT; Các giải pháp thúc đẩy tham gia của cộng đồng trong phát triển CSHT GTNT
- Phương pháp nghiên cứu: Đề tài sử dụng các tiếp cận hệ thống, tiếp cận có sự tham gia (RRA, PRA), tiếp cận thể chế và hợp tác công - tư; Thông tin nghiên cứu được thu thập qua điều tra, thảo luận nhóm, ý kiến chuyên gia; Phương pháp phân tích gồm thống kê mô tả, so sánh, SWOT, phương pháp toán với hàm tuyến tính đa biến
Kết quả chính và kết luận
- Kết quả chính:
Đến năm 2013 Đồng Nai có 1.374km đường liên xã, 1.592km đường liên thôn, 2.250km liên xóm, 2.182km ngõ hẻm và 1.106km trục chính nội đồng Tỷ lệ cứng hóa (bê tông hóa/ nhựa hóa) của các loại đường tương ứng là 69%, 53%, 51%, 50% và 34%
Vì vậy thúc đẩy tham gia của cộng đồng cho phát triển CSHT GTNT là cấp bách
Trang 13Tỉnh Đồng Nai đã ban hành chính sách thúc đẩy sự tham gia của cộng đồng qua Nghị quyết 77/2006/NQ-HĐND, Quyết định 16/2007/QĐ-UBND, nhưng các văn bản chưa cụ thể, thiếu linh hoạt và chưa phù hợp với điều kiện của từng địa phương, từng cộng đồng nên chưa khai thác hết tiềm năng của cộng đồng nhất, đặc biệt là đóng góp nguồn lực vật chất Giai đoạn 2010-2011 cộng đồng người dân góp được 38,8 tỷ đồng, chỉ chiếm 3% vốn đầu tư CSHT GTNT hoặc 1% CSHT giao thông nói chung Năm 2014 cộng đồng người dân chỉ góp được 1,6 tỷ đồng chiếm 0,2% CSHT GTNT, cộng đồng doanh nghiệp góp được 120 tỷ chiếm 15% vốn đầu tư cho CSHT GTNT
Tham gia của cộng đồng trong các hoạt động, các loại CSHT, các địa bàn là khác nhau Trong xác định nhu cầu phát triển CSHT thì 94,7% cộng đồng người dân cho rằng đây là trách nhiệm của chính quyền Trong xây dựng chính sách và kế hoạch thì 68% cộng đồng tham gia chủ yếu với đường liên xóm và ngõ hẻm vì loại này gắn với nhu cầu sử dụng của cộng đồng Trong thi công xây dựng và kiểm tra, giám sát thì tham gia của cộng đồng chưa cao, chỉ có 58,2% cộng đồng tham gia xây dựng và 34,7% cộng đồng tham gia giám sát Quản lý sử dụng và bảo trì bảo dưỡng, thụ hưởng chưa được quan tâm nên chỉ 22,1% số cộng đồng được mời tham gia, số còn lại không hiểu ai quản
lý CSHT GTNT Tham gia của cộng đồng trong đánh giá không đồng đều, loại CSHT GTNT nào cộng đồng hưởng lợi nhiều hoặc góp nguồn lực nhiều thì cộng đồng quan tâm đánh giá nhiều hơn Các yếu tố ảnh hưởng tới sự tham gia của cộng động bao gồm điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, các chính sách, tổ chức tham gia, nguồn lực con người và khả năng kinh tế của các loại cộng đồng
Tác giả đã đề xuất 6 nhóm giải pháp tăng cường sự tham gia của cộng đồng trong phát triển CSHT GTNT Đồng Nai là: i) Bổ sung và hoàn thiện cơ chế chính sách cho sự tham gia của cộng đồng; ii) Xây dựng mô hình tham gia phù hợp với các loại cộng đồng
và các vùng; iii) Đổi mới công tác quản lý và kế hoạch tham gia của cộng đồng; iv) Đa dạng hoá nội dung, hình thức và cơ chế tham gia; v) Lồng ghép sự tham gia của cộng đồng cho phát triển CSHT GTNT với các chương trình phát triển kinh tế-xã hội của các địa phương; vi) Đẩy mạnh đào tạo, tập huấn, tuyên truyền và vận động tham gia của cộng đồng
- Kết luận nghiên cứu: Đề tài đã bổ sung thêm các kết quả vào tập hợp các nghiên cứu về sự tham gia của cộng đồng trong phát triển CSHT GTNT; Góp phần làm rõ và
bổ sung lí luận, thực tiễn và các giải pháp tăng cường sự tham gia của cộng đồng trong phát triển CSHT GTNT tỉnh Đồng Nai
Trang 14THESIS ABSTRACT PhD candidate: Nguyen Xuan Quyet
Thesis tittle: Research on community’s participation in developing infrastructure of rural traffic in Dong nai province
Major: Development Economics Code: 62 31 01 05
Educational organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA)
Research objectives
- Research’s Objects: i) To systematize and contribute to clarify theory on community’s participation in developing infrastructure of rural traffic; ii) To assess existing situation of community’s participation in developing infrastructure of rural traffic in Dong nai Province; iii) To propose measures to promoting community’s participation in developing infrastructure of rural traffic in Dong nai Province to 2020, vision to 2030
- Research’s Subjects & scope: i) Research’s Subjects: People Community, Business Community, Authority Community and Union Community; ii) Research Scope: Period 2010 - 2015 with 4 districts (Nhon Trach, Trang Bom, Xuan Loc and Vinh Cuu) representing for 4 regions of Dong nai Province
Materials and Methods
- Contents: Participation activities (Identify planning needs, budget and participation policy, contribute physical resources, build, monitor & check and take over the buildings, management and maintenance, beneficiary and evaluation…); Factors affecting to community’s participation in developing infrastructure of rural traffic; Measures promote community’s participation in developing infrastructure of rural traffic
- Research Methods: Approaches using in thesis are: System, participatory, institution, Public Private Partnership approach; Research information: field surveys, group discussions, expert opinion; Analysis methods: Descriptive statistics, comparison, SWOT, econometrics with multivariate linear function
Main findings and conclusions
- Main results:
Until 2013 in Dong nai there are 1.374km inter communal roads, 1.592km inter village roads, 2.250km inter - hamlet roads, 2.182km alley roads and 1.106km field roads Rate of concrete or asphalt roads of each above type correlatively are: 69%, 53%, 51%, 50% and 34% Because that, promoting community’s participation for developing infrastructure of rural traffic in Dong nai is urgent
-Dong nai has issued policies promoting community participation via Resolution
Trang 1577/2006/NQ-People Councils, Decision 16/2007/QD-People Committee, but in generally the literatures are not specific, laking flexibility and not suit to the conditions of each local and community so not yet exploit potential of the community, special in exploit physical contribution In the period 2010-2011, the People Community contributed 38.8 billion VND, accounted for only 3% of investment for rural traffic infrastructure or 1% of investment for traffic infrastructure in general In 2014, People Communities contributed only 1, 6 billions VND, accounted for 0.2% of investment for rural traffic infrastructure, Business Community contributed 120.0 billion VND, accounted for 15% of investment for rural traffic infrastructure
Participation of the community in activities, in infrastructural types and areas is different In identifying demands of infrastructural development, 94.7% of the people community thinks that this stage is authority’s responsibility In preparing policy and plan, 68% of community participate but mainly in inter - hamlet and alley roads because that this type of roads concerning to community using In building, inspecting and monitoring, community’s participation is not high, only 58.2% of community participates in building and 34.7% of one participates in monitoring The managing use, maintenance and enjoyment have not been interested so that only 22.1% of the community is invited to participate; the rest did not know who manage infrastructure of rural traffic Community’s participation in evaluation is not also uniform; community is interested more with infrastructures using or contributing by community more Factors affecting to community’s participation include natural, socio-economical conditions, policy, participation organization, human resources and economics of each community
The author proposes 6 solutions to promoting the community’s participation in developing infrastructure of rural traffic in Dong Nai province: i) to add and improve mechanism and policy for community participation; ii) To build participation models suitable to communities and regions; iii) To renew the management and planning for community’s participation; iv) To diversify contents, types and mechanism of participation; v) To interrogate community participation for developing infrastructure
of rural traffic with programs of socio-economic developing in locals; vi) To step up education, training, propaganda and advocacy for community’s participation
- Research’s conclusions: The Thesis adds results to research set on community participation in developing infrastructure of rural traffic; Contributing apart to clear and add theory, practice and solution to promote community participation in developing infrastructure of rural traffic in Dong nai province
Trang 16
PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Việt Nam đã đạt được nhiều thành tích trong phát triển kinh tế - xã hội XH) và hội nhập quốc tế nhưng về cơ bản vẫn là một nước nông nghiệp với 67,5% dân số và 69,4% lao động với độ tuổi từ 15 trở lên đang sống ở vùng nông thôn (Tổng cục Thống kê, 2013) Hàng năm nông nghiệp đóng góp gần 20% vào GDP của đất nước Đây cũng là ngành duy nhất trong nền kinh tế có xuất khẩu ròng dương, năm 2010 kim ngạch xuất khẩu nông sản sau khi trừ giá trị nhập khẩu và chi phí đầu vào cho sản xuất thì xuất khẩu nông sản đã đạt khoảng 13 tỷ USD (Đỗ Mai Thành, 2012)
(KT-Nông thôn là địa bàn quan trọng của cả nước nên công cuộc đổi mới làm cho “Dân giầu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” không thể tách rời việc thúc đẩy phát triển KT-XH và cơ sở hạ tầng (CSHT), nhằm nâng cao phúc lợi cho người dân Vì vậy, Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) đã ra Nghị quyết số 26/NQ-TW ngày 05/08/2008 về “nông
nghiệp, nông dân và nông thôn” (BCH Trung ương Đảng, 2008) và Thủ tướng
Chính phủ đã ra Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04/06/2010, Phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010-
2020 Tổng kết hai năm thí điểm thực hiện Nghị quyết 26 cho thấy phát triển nông thôn đã đạt được một số thành tựu bước đầu nhưng nhìn chung đại bộ phận khu vực nông thôn vẫn nằm trong tình trạng kém phát triển (Thủ tướng Chính phủ, 2010) Một trong những nguyên nhân là hệ thống CSHT nông thôn, đặc biệt
là CSHT giao thông nông thôn (GTNT) yếu kém (BCH Trung ương Đảng, 2012) Theo con số thống kê giai đoạn 2004-2010 đầu tư vào CSHT GTNT của Việt Nam chiếm khoảng gần 1% GDP và tỷ lệ nghèo đói giảm từ 18% xuống 9,5% và cứ đầu tư cho GTNT 1% GDP thì tỷ lệ nghèo hàng năm giảm được 1,5%/năm (Bộ Giao thông vận tải, 2011) Phát triển CSHT GTNT góp phần tích cực cho tăng trưởng kinh tế và giảm nghèo nhằm đạt được hiệu quả xã hội tốt hơn Việc khai thông các tuyến đường nối đến các vùng xa xôi hẻo lánh, vùng đồng bào dân tộc thiểu số đã giúp cho người nghèo có cơ hội được hưởng lợi nhiều hơn từ sự tăng trưởng kinh tế
Trang 17Tính đến năm 2011 cả nước có khoảng 272.861 km đường GTNT (gồm đường huyện, đường xã, đường thôn xóm, chưa tính đường ra đồng ruộng) và chiếm 82% chiều dài mạng đường bộ (đường huyện 47.562 km, chiếm 14,30%; đường xã 148.278 km, chiếm 44,58%; đường thôn xóm khoảng 77.022 km, chiếm 23,16%, ) Uớc tính tổng nhu cầu vốn xây dựng, nâng cấp và bảo trì cho
hệ thống đường GTNT là 151.404 tỷ đồng (nhu cầu vốn xây dựng mới là 43.109
tỷ đồng, vốn cho nâng cấp là 90.383 tỷ đồng và vốn cho bảo trì là 17.912 tỷ đồng (Bộ Giao thông vận tải, 2011) Nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước (NSNN)
là hạn chế nên việc khuyến khích đóng góp của cộng đồng là cần thiết và ngày
càng tăng lên
Đồng Nai có khoảng 8.506 km đường GTNT, trong đó đường huyện 1.374,4km (chiếm 16,2%), đường xã 1.592,4km (18,7%) và đường thôn xóm 4.432,5 (52,1%), còn lại là đường ra đồng ruộng Tỷ lệ cứng hóa (trải bê tông, trải nhựa) chỉ mới chiếm 51,8% (đường huyện 21,5%, đường xã 19,1%, đường thôn xóm 50,9%) (Sở GTVT Đồng Nai, 2013) Riêng năm 2014 cả Tỉnh phát triển được 522,5 km đường GTNT với số vốn đầu tư là 802,5 tỷ đồng, trong đó: NSNN chiếm 84,8%, người dân đóng góp 0,2%, các tổ chức doanh nghiệp trên
địa bàn đóng góp 15% (Sở GTVT Đồng Nai, 2014)
Từ đó cho thấy, mặc dù Đồng Nai là một trong các địa phương đi đầu cả nước về huy động sự tham gia của cộng đồng trong phát triển CSHT GTNT, nhưng mức độ, kết quả đạt được là còn hạn chế Hàng năm tỉnh có tổ chức tổng kết, đề ra kế hoạch phát triển CSHT GTNTvà các chương trình huy động sự tham gia của cộng đồng nhưng chưa làm sáng tỏ các vấn đề:
Thứ nhất, Thực trạng tham gia của cộng đồng trong phát triển CSHT GTNT
đã được đánh giá, phản ánh toàn diện và đúng thực chất hay chưa?
Thứ hai, Những yếu tố nào ảnh hưởng tới sự tham gia của cộng đồng trong
phát triển CSHT GTNT?
Thứ ba, Các giải pháp khuyến khích sự tham gia của cộng đồng đã vận
dụng đầy đủ cơ sở lý luận, thực tiễn hay chưa? Tiếp theo cần những giải pháp thế nào?
Qua các tài liệu cho thấy đã có nhiều nghiên cứu liên quan nhưng chưa có một nghiên cứu đầy đủ nào về tham gia của cộng đồng trong phát triển CSHT GTNT tỉnh Đồng Nai
Trang 181.2 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI
1.2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở đánh giá thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia của cộng đồng trong phát triển CSHT GTNT để đề xuất các giải pháp tăng cường sự tham gia của cộng đồng trong phát triển CSHT GTNT tỉnh Đồng Nai đến năm
- Đề xuất các giải pháp khả thi nhằm tăng cường sự tham gia của cộng đồng trong phát triển CSHT GTNT tỉnh Đồng Nai đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030
1.3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Hoạt động tham gia của cộng đồng trong phát triển CSHT GTNT (thực trạng, nội dung, kết quả, mức độ, hình thức, phương thức,… tham gia)
- Các yếu tố ảnh hưởng tới sự tham gia của cộng đồng trong phát triển CSHT GTNT
- Các cơ chế chính sách cho phát triển CSHT GTNT và cho sự tham gia của cộng đồng
- Các tác nhân liên quan đến sự tham gia của cộng đồng trong phát triển CSHT GTNT
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi về không gian nghiên cứu, là nghiên cứu sự tham gia của cộng
đồng trong phát triển CSHT GTNT tỉnh Đồng Nai, là hệ thống các loại CSHT đường GTNT trên địa bàn, cụ thể: Đường liên xã trong huyện, Đường liên thôn, liên xóm, và Đường ngõ hẻm; CSHT GTNT khác (hệ thống cấp, thoát nước, cầu, cống,…) Trong mỗi vùng sẽ chọn 01 huyện đại diện để nghiên cứu, là Nhơn Trạch (Vùng 1), Trảng Bom (Vùng 2), Vĩnh Cửu (Vùng 3), Xuân Lộc (Vùng 4)
Trang 19Giới hạn nội dung nghiên cứu, Sự tham gia của cộng đồng người dân
(CĐND), cộng đồng doanh nghiệp (CĐDN), cộng đồng đoàn thể (CĐĐT) và cộng đồng chính quyền (CĐCQ), trong các nội dung như: cung cấp thông tin, đóng góp ý kiến, đóng góp nguồn lực vật chất vào các giai đoạn: Xác định nhu cầu qui hoạch, lập dự toán và chính sách tham gia, thi công xây dựng, bảo trì bảo
dưỡng, thụ hưởng và đánh giá hiệu quả CSHT GTNT…
Giới hạn thời gian nghiên cứu, Nghiên cứu thực trạng tham gia của cộng
đồng trong phát triển CSHT GTNT giai đoạn 2010-2015, trong đó sử dụng thông tin thứ cấp từ 2010-2015 và thông tin sơ cấp từ 2013-2015 Đề xuất giải pháp cho đến năm 2020, định hướng đến năm 2030
1.4 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI
1.4.1 Về lý luận
Luận án đã hệ thống hóa và làm sáng tỏ thêm cơ sở lý luận về loại cộng đồng, các hoạt động tham gia chủ yếu của cộng đồng Trong đó, sự tham gia của cộng đồng trong thụ hưởng và đánh giá hiệu quả CSHT GTNT là nội dung ít được quan tâm nghiên cứu trước đây
Phân tích và làm rõ các hình thức và mức độ tham gia của cộng đồng và tổng kết kinh nghiệm về huy động sự tham gia của cộng đồng trong phát triển CSHT GTNT ở một số nước trên thế giới như: Hàn Quốc, Malaysia, Thái Lan, ; Tập hợp một số kinh nghiệm, mô hình huy động, tăng cường sự tham gia của cộng đồng của các địa phương trong nước như tỉnh Phú Thọ, Bình Dương,
1.4.2 Về thực tiễn
Luận án đã đánh giá thực trạng tham gia của cộng đồng trong phát triển CSHT GTNT Đồng Nai giai đoạn 2013 – 2015 cho thấy các mặt đã đạt được là: cộng đồng tham gia đóng góp nguồn lực vật chất cho phát triển CSHT GTNT tăng khá đều hàng năm, đối tượng cộng đồng tham gia được mở rộng, đặc biệt là CĐDN, vì địa phương là khu kinh tế trọng điểm, các doanh nghiệp tập trung trên địa bàn nhiều, Tuy nhiên sự tham gia của cộng đồng xét theo nội dung tham gia còn tồn tại các hạn chế Qua đó, phân tích làm rõ những kết quả đạt được, thuận lợi, khó khăn, hạn chế và các yếu tố ảnh hưởng tới sự tham gia của cộng đồng trong phát triển CSHT GTNT
Luận án đã đề xuất 06 nhóm giải pháp tăng cường sự tham của cộng đồng trong phát triển CSHT GTNT, phù hợp với điều kiện của từng loại cộng đồng, từng vùng của tỉnh Đồng Nai đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030
Trang 201.5 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.5.2 Ý nghĩa thực tiễn
Luận án đã chỉ ra nội dung tham gia của cộng đồng trong phát triển CSHT GTNT và phân tích kết quả đạt được, những thuận lợi, khó khăn, hạn chế và các yếu tố ảnh hưởng tới sự tham gia của cộng đồng Qua đó, đề xuất cải tiến mô hình và quy trình tham gia góp phần khuyến khích tăng cường sự tham gia của cộng đồng trong phát triển CSHT GTNT tỉnh Đồng Nai
Luận án đã chỉ ra được các chủ thể và sự phối hợp giữa các chủ thể cộng đồng khi tham gia vào phát triển CSHT GTNT tỉnh Đồng Nai Từ đó, đề xuất các giải pháp tăng cường sự tham gia của cộng đồng trong phát triển CSHT GTNT tỉnh Đồng Nai đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030
Trang 21PHẦN 2 TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ LUẬN VẦ THỰC TIỄN
VỀ SỰ THAM GIA CỦA CỘNG ĐỒNG TRONG PHÁT TRIỂN
CƠ SỞ HẠ TẦNG GIAO THÔNG NÔNG THÔN
2.1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ THAM GIA CỦA CỘNG ĐỒNG TRONG PHÁT TRIỂN CƠ SỞ HẠ TẦNG GIAO THÔNG NÔNG THÔN
2.1.1 Cộng đồng và sự tham gia của cộng đồng
2.1.1.1 Cộng đồng
Trên thế giới đã có nhiều quan điểm khác nhau về cộng đồng với những tiếp cận khác nhau
Trong cuốn “Cộng đồng và hiệp hội - Germainschaft und Gesellschaft”,
nhà xã hội học tiên phong người Đức Toennies (1887) cho rằng: “Cộng đồng là một thực thể xã hội có độ gắn kết và bền vững hơn hiệp hội, được đặc trưng bởi
sự đồng thuận về ý chí của các thành viên trong cộng đồng” Quan điểm này đề
cập đến bản chất của cộng đồng là một nhóm xã hội, trong đó các thành viên gắn kết với chặt chẽ với nhau và cùng có chung một ý chí Tiếp cận từ mối quan hệ
xã hội, quan điểm này đề cập đến tính xã hội, thể hiện ở khía cạnh các thành viên cộng đồng có mối quan hệ xã hội với nhau (hàng xóm láng giềng, họ tộc)
Theo Gustav and Thomas (1927) thì “cộng đồng là một nhóm người sống cùng một nơi và làm việc cùng nhau để đạt được mục tiêu chung Nơi cộng đồng sinh sống là một khu vực xác định, có ranh giới đủ gần để các thành viên trong cộng đồng có thể giao tiếp và phối hợp làm việc với nhau dễ dàng để đạt được mục tiêu chung Việc theo đuổi cùng một mục tiêu chung làm cho các thành viên trong cộng đồng gắn bó với nhau” Tiếp cận theo điều kiện để hình thành cộng
đồng, quan điểm này nhấn mạnh địa điểm để hình thành một cộng đồng phải là một khu vực xác định và có ranh giới đủ gần
Tiếp cận theo tổ chức xã hội, Agrawal and Clack (1999) cho rằng: “cộng đồng là một đơn vị quần cư nhỏ, là cấu trúc xã hội đồng nhất, có chung một mục đích và quy tắc” Cộng đồng thường có qui mô nhỏ cả về dân số lẫn không gian
sống (phạm vi làng, xã, ) nên sự gần gũi làm mọi người gắn bó với nhau Tính đồng nhất của cộng đồng có thể là sự giống nhau về ngôn ngữ, phong tục tập quán, tín ngưỡng,… tạo nên sự gắn kết các thành viên trong cộng đồng, làm họ xích lại gần nhau hơn, luôn có sự giúp đỡ và hỗ trợ nhau
Trang 22Còn với Salli (1996) thì “Cộng đồng là một nhóm người có một số điểm chung và họ biết cũng như nhận thức được những điểm chung đó Sử dụng một khái niệm rộng như vậy thì một cộng đồng có thể tồn tại dưới nhiều dạng khác nhau Những cộng đồng về địa lý có thể bao gồm một vùng, thị trấn, hoặc một nhóm nông trại trải dài trên nhiều dặm Một cộng đồng đồng nhất là một nhóm người có những mối quan tâm chung dựa trên tính tương tự về nghề nghiệp, vǎn hoá, hiểu biết, tôn giáo hoặc các hoạt động giải trí” Quan điểm này cho rằng
cộng đồng có nhiều dạng khác nhau với những phạm vi địa lý khác nhau
Quan điểm của Tô Duy Hợp và Lương Hồng Quang (2000) thì “Cộng đồng là một thực thể xã hội có cơ cấu tổ chức, là một nhóm người cùng chia sẻ
và chịu ràng buộc bởi các đặc điểm và lợi ích chung được thiết lập thông qua tương tác và trao đổi giữa các thành viên trong cộng đồng.” Quan điểm này đề
cập đến tổ chức và kết cấu bền vững của của cộng đồng bởi khía cạnh xã hội
Còn ADB (2012) tiếp cận trên phương diện cấu trúc xã hộ thì “cộng đồng được coi là một tổ chức xã hội dân sự, bao gồm các tổ chức khác nhau như: các nhóm dân sự, hợp tác xã, uỷ ban tự quản của công dân, các tổ chức cộng đồng, các công đoàn, các câu lạc bộ ngành nghề,…” Theo đó, tổ chức kinh tế là các
doanh nghiệp, cơ sở kinh tế,… sản xuất kinh doanh; Tổ chức phi kinh tế, gồm: các đoàn thể, các tổ chức công đoàn, tổ chức phi chính phủ,…
Tóm lại, cộng đồng là một thực thể xã hội, bao gồm một nhóm hay nhiều nhóm người sống cùng nhau trên một khu vực địa lí, chia sẻ với nhau điều kiện và môi trường sống, có sự gắn kết cao, đồng thuận về ý chí, ứng xử theo quy tắc nhất định và cùng theo đuổi mục đích phát triển chung
Trong nghiên cứu của đề tài này, tác giả chọn bốn loại cộng đồng tại địa bàn làm đối tượng nghiên cứu sự tham gia, bao gồm:
Cộng đồng cán bộ chính quyền (gọi tắt là Cộng đồng Chính quyền), gồm
các cán bộ công chức, viên chức, đại diện cho nhà nước tại địa phương tham gia phát triển CSHT GTNT Một mặt, CĐCQ đóng vai trò là chủ thể đề xuất, thiết lập
và thực thi các chính sách cho phát triển CSHT GTNT Mặt khác, CĐCQ trực tiếp tham gia, đóng góp vào quá trình phát triển CSHT GTNT và hưởng lợi từ việc nắm được nhu cầu của các cộng đồng khác nhằm làm tốt hơn chức trách của mình
Cộng đồng các tổ chức đoàn thể (gọi tắt là Cộng đồng Đoàn thể), gồm
các tổ chức chính trị, xã hội như: đoàn thanh niên, công đoàn, hội phục nữ, hội phụ lão, hội nông dân, hội đồng hương,… Khi tham gia vào phát triển CSHT
Trang 23GTNT, CĐĐT thường là chủ thể tích cực đóng góp tiếng nói chung trong địa phương về các chủ trương chính sách Đồng thời, CĐĐT là công cụ quản lý, kiểm tra, giám sát, tuyên truyền, vận động hiệu quả sự tham gia của cộng đồng, cũng như tiên phong trong việc đóng góp các nguồn lực cho phát triển CSHT GTGT
Cộng đồng người dân nông thôn (gọi tắt là Cộng đồng Người dân), chủ yếu
bao gồm người dân sinh sống, làm việc tại địa phương và kiều dân,… đóng hai vai trò vừa là chủ thể đóng góp ý kiến, đóng góp các nguồn lực cho phát triển CSHT GTNT, vừa là chủ thể trực tiếp hưởng lợi từ các CSHT GTNT Trong phát triển nông thôn nói chung và phát triển CSHT GTNT nói riêng thì CĐND luôn được xem là chủ thể trung tâm nên tham gia của CĐND là quan trọng nhất
Cộng đồng tổ chức kinh tế (Gọi tắt là Cộng đồng Doanh nghiệp), gồm các
doanh nghiệp đóng trụ sở và giao dịch tại địa phương, các tổ chức kinh tế như: hợp tác xã, cơ sở sản xuất, cửa hàng,… CĐDN cũng vừa là bên hưởng lợi, vừa là bên có trách nhiệm xã hội trong đóng góp ý kiến và nguồn lực Thực tiễn cho thấy, những nơi mà CĐDN mạnh thì nhu cầu về CSHT GTNT cao hơn và kéo theo khả năng huy động đóng góp nguồn lực vật chất trực tiếp cho phát triển CSHT GTNT cũng tốt hơn
2.1.1.2 Sự tham gia của cộng đồng
Từ tiếng Anh “Participation” có thể dịch thành 2 từ tham dự và tham gia Theo Tô Duy Hợp (2003) thì “tham dự là tham gia ở mức thấp còn tham gia là tham dự ở mức cao”
Setty (1991) cho rằng, “tham gia là việc người dân cùng với các cơ quan phát triển xây dựng chương trình hoạt động, lựa chọn ưu tiên, khởi xướng và thực hiện các dự án bằng cách đóng góp ý tưởng, vật liệu, tiền bạc, lao động ”
Theo Oakley and David (1991) thì “Tham gia là việc các bên liên quan của
dự án cùng nhau thoả hiệp về việc quản lý và bảo vệ các nguồn lợi” Từ đó, ta cần
phải xem người dân địa phương là người làm chủ hơn là người hưởng lợi
Quan điểm của Jonathan (1986), thì “Tham gia của người dân vào các dự
án cần phải được hiểu là một phương tiện trong việc trao quyền cho cộng đồng quản lý và điều hành các hoạt động phát triển” Đối tượng tham gia có thể chỉ là
nhóm tham gia đóng góp, nhóm hưởng lợi hoặc cả hai Nhóm vừa tham gia vừa hưởng lợi là khi người tham gia và hưởng lợi cùng sinh sống, hoạt động, đóng góp trên cùng địa bàn Bên hưởng lợi có thể không phải là bên tham gia trong
Trang 24trường hợp cá thể/ tổ chức tham gia không cùng trên địa bàn và chỉ tham gia đóng góp mà không hưởng lợi từ thành quả tham gia (Các tổ chức phi chính phủ, tổ chức phi lợi nhuận, các kiều bào sống xa quê,…)
Clanrence (1961) giải thích sự tham gia của cộng đồng là “quá trình trong
đó các nhóm dân cư của cộng đồng tác động vào quá trình quy hoạch, thực hiện, quản lý sử dựng hoặc duy trì một dịch vụ, trang thiết bị hay phạm vi hoạt động…” Như vậy: (i) Các hoạt động cá nhân không có tổ chức sẽ không được coi
là sự tham gia của cộng đồng (ii) Sự tham gia của cộng đồng là một quá trình mà Chính phủ và cộng đồng cùng nhận một số trách nhiệm cụ thể và tiến hành các hoạt động để cung cấp các dịch vụ cho tất cả cộng đồng (iii) Sự tham gia của cộng đồng là đảm bảo cho những người chịu ảnh hưởng của dự án được tham gia vào việc quyết định dự án (iv) Sự tham gia của cộng đồng là tìm và huy động các nguồn lực của cộng đồng, qua đó để tăng lợi ích cho cộng đồng dân cư giảm các chi phí, tăng hiệu quả kinh tế, chính trị và xã hội cho đất nước
Clayton et al (1997) cho rằng: “sự tham gia của người dân vào các dự án cần phải được hiểu là một phương tiện trong việc trao quyền cho cộng đồng quản lý
và điều hành các hoạt động phát triển,…”
Jody and John (1993) thuộc Viện Nghiên cứu Chính sách của Trường đại học Northwestern, bang Illinois đã xây dựng phương pháp “Phát triển cộng đồng dựa vào tài sản” - Assets-Based Community Development (ABCD) với đặc điểm
cơ bản là “Gây dựng cộng đồng theo hướng từ bên trong ra: Một hướng đi để tìm kiếm và huy động các tài sản của cộng đồng” Phương pháp của hai tác giả đã kế
thừa, phát triển từ bài học thực tiễn và một số lý thuyết phát triển cộng đồng Phương pháp ABCD có 06 nội dung, gồm: i)Phát triển cộng động mang tính tích cực, bắt đầu từ việc khơi dậy và phát huy những điểm mạnh, năng lực vốn có và thành công của cộng đồng làm điểm bắt đầu của sự thay đổi Từ đó, xây dựng tầm nhìn dài hạn, với các kế hoạch phát triển cộng đồng cụ thể, phù hợp với các nguồn lực sẵn có; ii)Xây dựng chiến lược cho sự phát triển bền vững: iii)Phát triển vận động từ bên trong ra, dựa vào nội lực trước khi tìm kiếm các hỗ trợ từ bên ngoài, liên kết nguồn lực bên trong với môi trường bên ngoài; iv)Nội lực của cộng đồng gồm: con người, tài chính, cơ sở vật chất-hạ tầng, tài nguyên thiên nhiên và vốn xã hội Tài sản xã hội được đưa vào trọng tâm của huy động nội lực, tập trung vào các mối liên kết và năng lực hợp tác của các nhóm, tổ chức trong cộng đồng; v)Cơ sở chủ yếu của phương pháp là sự tham gia tích cực Các
Trang 25tổ chức bên ngoài cộng đồng (tổ chức phi chính phủ, cơ quan phát triển của chính phủ…) chỉ đóng vai trò hỗ trợ, thúc đẩy, hoặc là cầu nối để giúp cộng đồng có thể liên kết và huy động các hỗ trợ từ bên ngoài cho các hoạt động Cộng đồng địa phương được trao quyền ở cấp độ cao nhất, từ việc lập kế hoạch, ra quyết định và thực hiện các hoạt động, họ “cầm lái” quá trình phát triển của mình; vi)Sử dụng tổng hợp các kỹ thuật để phân tích, huy động và liên kết các nguồn lực vì phát triển cộng đồng (Nguyễn Đức Vinh và Đinh Thị Vinh, 2012)
Tóm lại, sự tham gia của cộng đồng được hiểu là hoạt động của một nhóm, các cá nhân hay tổ chức trong cộng đồng mà các bên liên quan tự nguyện, đồng thuận cùng xây dựng, thực thi các quy tắc, công việc của tổ chức hoạt động có mục đích, mục tiêu chung và cùng nhau xây dựng, phát triển để hướng đến việc hoàn thành mục đích, mục tiêu chung ấy
Sự tham gia của cộng đồng trong phát triển CSHT GTNT có thể được coi
là phương pháp tiếp cận dựa vào nội lực Khi tham gia vào quá trình phát triển CSHT GTNT, cộng đồng sẽ từng bước được tăng cường các kỹ năng, năng lực về quản lý nhằm tận dụng triệt để các nguồn lực tại chỗ và bên ngoài
2.1.2 Phát triển cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn
2.1.2.1 Cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn
Theo Đỗ Xuân Nghĩa (2012), trên thế giới thuật ngữ CSHT hay kết cấu hạ tầng đã được sử dụng từ lâu, bắt đầu từ trong lĩnh vực quân sự, sau đó phạm vi này được mở rộng hơn với nội dung phong phú hơn trên cả lĩnh vực kinh tế chính trị
Ở nước ta, nói đến CSHT người ta thường nghĩ ngay đến hệ thống cơ sở vật chất phục vụ cho phát triển sản xuất và đời sống xã hội Hệ thống này là toàn bộ các công trình công cộng tham gia vào lĩnh vực sản xuất hoặc phi sản xuất
Cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn là một bộ phận của CSHT giao thông Trong đó CSHT GTNT đường bộ phục vụ sự đi lại trong nội bộ nông thôn và liên kết với các hệ thống CSHT khác, nhằm phát triển sản xuất và phục vụ giao lưu kinh tế, văn hoá xã hội của các địa phương Chủ yếu bao gồm: CSHT đường
bộ, đường thuỷ, cầu, cảng cấp huyện, cấp xã, cấp thôn, cấp ngõ xóm
Cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn đường bộ gồm: hệ thống đường, cầu đường cấp huyện, xã, thôn và ngõ xóm, phục vụ giao thông vận tải nông thôn và liên kết với các hệ thống CSHT khác, phục vụ trực tiếp cho vận chuyển hàng hoá, giao lưu đi lại của dân cư Hệ thống này bảo bảm cho các phuơng tiện cơ
Trang 26giới loại trung, nhẹ và xe thô sơ qua lại
Trong nghiên cứu này chỉ tập trung vào CSHT GTNT đường bộ phục vụ cho việc đi lại, vận chuyển phục vụ cho quá trình giao thương, sản xuất vật chất, dịch vụ ở khu vực nông thôn, được phân chia gồm:
Đường bộ cấp huyện, là loại đường bộ liên xã, phục vụ đi lại cho cộng đồng
người dân giữa các xã giáp ranh với nhau trong một huyện, hoặc giữa các huyện giáp ranh với nhau Các loại đường bộ này được phân cấp cho huyện quản lý
Đường bộ cấp xã, là loại đường bộ liên thôn, phục vụ đi lại cho cộng đồng
người dân giáp ranh giữa các thôn với nhau trong một xã, hoặc xã giáp ranh Các loại đường này được phân cấp cho xã quản lý
Đường bộ cấp thôn, là loại đường bộ liên ngõ xóm, phục vụ đi lại cho
cộng đồng dân giáp ranh giữa các thôn với nhau trong thôn, hoặc thôn giáp ranh Loại đường này vẫn do xã quản lý, nhưng tùy vào qui mô và sự phát triển của xã mà
có thể được ủy nhiệm cho thôn theo phân công trong từng thời kỳ và hạng mục
Đường bộ cấp ngõ xóm, là loại đường bộ phân cấp thấp nhất gồm: đường
liên ngõ hẻm và đoạn từ nhà ra ngõ, phục vụ đi lại cho cộng đồng người dân trong tổ đội và giáp ranh giữa các hẻm trong ngõ xóm giáp ranh Các loại đường này cũng do xã quản lý, cũng có thể được ủy nhiệm cho thôn hoặc tổ đội quản lý theo phân công trong từng thời kỳ và hạng mục
2.1.2.2 Phát triển cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn
“Phát triển” được hiểu là một phạm trù triết học dùng để chỉ quá trình vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn hiện đến hoàn thiện hơn của sự vật Quá trình đó diễn ra vừa dần dần, vừa nhảy vọt, đưa tới sự ra đời của cái mới thay thế cái cũ Phát triển là kết quả của quá trình thay đổi dần dần về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất, là quá trình diễn ra theo đường xoáy ốc và hết mỗi chu kỳ sự vật lặp lại dường như sự vật ban đầu nhưng ở cấp
độ cao hơn (Đinh Văn Đãn, 1979)
Ngày nay nói đến phát triển chúng ta thường đề cập tới phát triển bền vững
“Phát triển bền vững là quan niệm mới của sự phát triển Nó lồng ghép các quá trình sản xuất với bảo tồn tài nguyên và làm tốt hơn về môi trường Đảm bảo thỏa mãn những nhu cầu của hiện tại mà không phương hại đến khả năng đáp ứng những nhu cầu của tương lai” (Đỗ Kim Chung và Phạm Vân Đình, 1997)
Trang 27Xuất phát từ các quan điểm trên tác giả cho rằng có thể hiểu các khía cạnh của phát triển CSHT GTNT như sau:
Phát triển về chủng loại, là việc phát triển đồng bộ hay rời rạc CSHT
GTNT tại một khu vực, một địa phương trong một khoảng thời gian nhất định liên quan tới CSHT đường bộ, đường thuỷ, cầu, cảng, bến, bãi… Các CSHT đi kèm như hệ thống đèn tín hiệu giao thông, biển báo, chiếu sáng, hệ thống cấp thoát nước,… Do tính đa dạng của CSHT GTNT mà chủng loại CSHT GTNT được phân cấp quản lý theo địa phương: quốc gia, tỉnh, huyện, xã thôn và xóm
Phát triển về số lượng, là việc phát triển về số lượng các CSHT GTNT tại
một vùng, một địa phương trong một khoảng thời gian nhất định liên quan tới số lượng các loại CSHT, lượng vốn đầu tư xây dựng, khối lượng các công trình hoặc hạng mục công trình Phát triển số lượng thường gắn với các dự án hoặc công trình với các phân loại theo thời gian và tiến độ thực hiện (lập dự toán, đang thực hiện, đã hoàn thành đưa vào sử dụng,…), theo qui mô và lượng vốn (lớn, vừa và nhỏ), theo cấp quản lý và công năng (cấp nhà nước, cấp huyện, cấp xã thôn và cấp ngõ xóm)
Phát triển về chất lượng, là việc nâng cao hiệu quả công tác qui hoạch,
xây dựng và sử dụng, quản lý và bảo trì bảo dưỡng các CSHT GTNT Đem lại hiệu quả KT-XH khi một mặt thoả mãn được nhu cầu đi lại của cộng đồng, một mặt tạo sự phát triển giao thương, Việc tổ chức quản lý, bảo trì, bảo dưỡng thường xuyên các công trình được xem là nâng cao chất lượng/ kéo dài tuổi thọ của CSHT GTNT
Phát triển CSHT GTNT bền vững, là sự quản lý và phát triển CSHT GTNT
có sự tham gia của cộng đồng, nhằm bảo đảm thoả mãn hài hoà giữa nhu cầu xã hội
và giao thương kinh tế ngày càng tăng của cộng đồng địa phương, phù hợp với chiến lược phát triển KT-XH của đất nước một cách có định hướng trước mắt và lâu dài Nội dung chính của phát triển CSHT GTNT bền vững bao gồm:
Thông qua các chính sách khuyến khích sự tham gia, cộng đồng có thể tham gia trực tiếp vào quá trình đầu tư phát triển CSHT GTHT, từ khâu xây dựng các chính sách, qui hoạch, huy động các nguồn lực, xây dựng và quản lý, bảo trì bảo dưỡng công trình, theo tinh thần tập trung dân chủ, đảm bảo công khai minh bạch và người dân có quyền quyết định
Phát triển CSHT GTNT cần thoả mãn hài hoà nhu cầu xã hội và giao
Trang 28thương kinh tế ngày càng tăng của cộng đồng người dân địa phương, phù hợp với chiến lược phát triển KT-XH của đất nước một cách có định hướng trước mắt và lâu dài, đảm bảo công bằng trong việc phân phối các quyền lợi, lợi ích của các bên tham gia
Phát triển CSHT GTNT không được làm tổn hại đến môi trường, không giảm cấp tài nguyên, phù hợp về trình độ tổ chức, kỹ thuật và công nghệ của từng địa phương và đòi hỏi của từng Dự án công trình (DACT) Đây là một trong những tiêu chí quan trọng của phát triển bền vững
Phát triển CSHT GTNT là điều kiện tiên quyết cho phát triển KT-XH và là động lực lực thúc đẩy quá trình CNH-HĐH kinh tế nông nghiệp, nông thôn
Cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn phục vụ nhu cầu đi lại không thể thiếu của cộng đồng người dân địa phương và là cơ sở cho phát triển giao thương KT-
XH cho các vùng nông thôn, sẽ kích thích kinh tế phát triển, đa dạng hoá các loại hình thương lại dịch vụ, kéo theo sản xuất nông nghiệp, nông thôn phát triển
Phát triển CSHT GTNT sẽ khuyến khích giáo dục phát triển và nâng cao trình độ văn hoá, trình độ lao động cho khu vực nông nghiệp, nông thôn, đặc biệt các khu vực đồng bào dân tộc thiểu số, nơi được xem là có trình độ văn hoá thấp
Do ít được tiếp cận thông tin, trình độ khoa học kỹ thuật, trình độ công nghệ, đang phát triển từng ngày, điều kiện đi lại hạn chế, do CSHT GTNT còn rất lạc hậu
Phát triển CSHT GTNT đảm bảo cho an ninh, quốc phòng địa phương, tại những khu vực nông thôn nói riêng và đất nước nói chung
Phát triển CSHT GTNT là động lực thúc đẩy quá trình CNH-HĐH kinh tế nông nghiệp, nông thôn, do CSHT GTNT phát triển sẽ kéo theo việc tiếp cận trình độ kỹ thuật và công nghệ vào sản xuất nông nghiệp được dễ dàng hơn; Máy móc thiết bị dần dần được thay thế lao động chân tay; Năng suất lao động ngày càng tăng, thúc đẩy quá trình CNH-HĐH kinh tế nông nghiệp, nông thôn
Phát triển CSHT GTNT là tiền đề cho phát triển KT-XH bền vững, do phát triển CSHT GTNT sẽ kéo theo sự phát triển về KT-XH tại vùng nông thôn, tạo điều kiện cho cộng đồng nông thôn (nơi được coi là còn hạn chế về trình độ văn hoá và ít được quan tâm) mở mang trình độ văn hoá và phát triển kinh tế,
Do được tiếp cận dễ hơn các thông tin và trình độ khoa học tiên tiến bên ngoài
Từ đó, khoảng cách giữa nông thôn và thành thị sẽ rút ngắn, tạo ra sự phát triển đồng bộ, hay nói cách khác là sự phát triển bền vững cho khu vực nông thôn
Trang 292.1.3 Tham gia của cộng đồng trong phát triển cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn
2.1.3.1 Các hình thức tham gia của cộng đồng trong phát triển cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn
Trong những năm đầu đổi mới về quản lý kính tế, Đảng và Nhà nước khi xem xét quá trình tham gia của cộng đồng người dân trong phát triển CSHT GTNT, vai trò và nhiệm vụ tham gia của cộng đồng thường được mô tả theo khẩu
hiệu “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” (Nguyễn Mạnh Hùng, 2011) Dân biết, là sự hiểu biết của cộng đồng người dân có thể đóng góp vào quá
phát triển CSHT GTNT thông qua việc quan sát để phản ảnh chất lượng CSHT, theo dõi để nêu ý kiến góp ý cho quy hoạch CSHT, khảo sát thiết kế, xây dựng kế hoạch, đền bù giải toả, giải phóng mặt bằng (GPMB), Cộng đồng cần nắm được đầy đủ các thông tin về DACT CSHT mà họ tham gia đóng góp, như: mục đích, qui mô, các yêu cầu đóng góp, trách nhiệm, quyền lợi của cộng đồng, Qua đó, thúc đẩy các hành động tham gia của cộng đồng vào các công đoạn của quá trình phát triển CSHT GTNT mang tính tự giác và chủ động
Dân bàn, gồm các hoạt động tham gia ý kiến của người dân vào quá trình
phát triển CSHT GTNT, như: bàn bạc về quy hoạch CSHT, dự toán tài chính, các giải pháp tổ chức, quản lý xây dựng, huy động và sử dụng vốn,… cho DACT CSHT GTNT Mức độ và trình độ hiểu biết của cộng đồng sẽ quyết định hình thức, kết quả, nội dung tham gia cụ thể và mức độ tham gia của cộng đồng
Dân làm, là việc tham gia đóng góp lao động trực tiếp của cộng đồng (chủ
yếu là CĐND) vào hoạt động thi công xây dựng, các hoạt động quản lý, giám sát, kiểm tra, bảo trì bảo dưỡng,… Tuỳ theo mức độ hiểu biết và mức độ quyết định tham gia của cộng đồng mà việc tham gia của cộng đồng ở mỗi hoạt động, nội dung tham gia là khác nhau Việc tham gia làm việc của cộng đồng được thực hiện theo nhu cầu và sắp xếp của tổ chức cộng đồng ở từng công đoạn chi tiết cụ thể và người tham gia làm có thể nhận một phần thù lao, hoặc không nhận thù lao trong quá trình tham gia
Dân kiểm tra, là việc thông qua các hoạt động giám sát, cộng đồng – cộng
đồng hưởng lợi (chủ yếu là đại diện tổ chức cộng đồng, do cộng đồng bầu ra) tham gia kiểm tra, đánh giá mọi hoạt động của quá trình phát triển CSHT, nhằm thực hiện qui chế dân chủ và nguyên tắc công khai minh bạch, nâng cao hiệu quả
và chất lương DACT CSHT Chủ trương kêu gọi sự tham gia của cộng đồng trong nội dung này sẽ góp phần tạo niềm tin cho cộng đồng trong việc tham gia, đặc
Trang 30biệt là đóng góp các nguồn lực vật chất (Nguyễn Mạnh Hùng, 2011)
Trong bài “Triển khai kế hoạch thực hiện Nông thôn mới nâng cao giai đoạn 2015-2017 xã Quang Trung, Thống Nhất, Đồng Nai”, Đỗ Quyên (2015) đã
đúc rút kinh nghiệm thực tiễn và mở rộng thêm khẩu hiệu “dân đóng góp, dân quản lý và dân hưởng lợi”, thể hiện tính công bằng và bền vững của sự tham gia
cộng đồng nói chung và trong quá trình phát triển CSHT GTNT nói riêng
Dân đóng góp, là các hoạt động đóng góp trí tuệ hoặc đóng góp vật chất
(góp tiền, góp công lao động, hiến đất, vật tư tại chỗ…) Hoạt động tham gia này vừa thể hiện tinh thần tự giác tham gia của cộng đồng (chủ yếu là CĐND) được nâng cao về cả khía cạnh vật chất lẫn khía cạnh nhận thức về quyền lợi và nghĩa
vụ Việc cộng đồng vừa tham gia đóng góp các nguồn lực nội tại, vừa tham gia vào các quá trình hoạt động của DACT sẽ đảm bảo tính khả thi cao Tuỳ khả năng
và điều kiện vốn có của cộng đồng mà kết quả tham gia của cộng đồng là nhiều hay ít, giá trị hay không giá trị Công tác tuyên truyền, kêu gọi, và khả năng tổ chức sự tham gia, công tác tập huấn cộng đồng,… sẽ quyết định mức độ tham gia của cộng đồng ở nội dung này
Dân quản lý, là việc cộng đồng (chủ yếu là đại diện tổ chức cộng đồng, do
cộng đồng bầu ra) tham gia vào quá trình quản lý xuyên suốt từ đầu đến sử dụng
và bảo trì bảo dưỡng CSHT, nhằm nâng cao hiệu quả của DACT CSHT và đồng thời đảm bảo tính bền vững cho CSHT GTNT Do việc dân tham gia vào quá trình quản lý vừa thể hiện trách nhiệm tham gia của cộng đồng, vừa là quyền lợi chính đáng của cộng đồng tham gia
Dân hưởng lợi, là việc cộng đồng người dân được thụ hưởng những lợi
ích tăng thêm mà CSHT GTNT mới mang lại, thể hiện tính bền vững của sự tham gia đối với nhóm hưởng lợi và trực tiếp được sử dụng thành quả từ DACT (Đỗ Quyên, 2015)
Cũng theo Đỗ Quyên (2015), với tiếp cận đối tượng tham gia là “người dân” trong Chương trình xây dựng nông thôn mới (trong đó có Chỉ tiêu số 2 liên
quan đến xây dựng và phát triển CSHT GTNT) thì các hình thức tham gia được
mô tả đầy đủ là: “dân: biết, bàn, đóng, làm, kiểm tra, quản lý và hưởng lợi”
Trước đó, Nghiên cứu của Trung tâm phát triển Nông thôn Miền Trung từ năm 1995 đến 2005, về phát triển CSHT có sự tham gia của cộng đồng thì mọi tiếp cận về phát triển CSHT GTNT sẽ bắt đầu từ người dân, “Mọi quyết định của người dân bao giờ cũng gắn với hiệu quả và lợi ích mà mỗi cá nhân trong cộng
Trang 31đồng được hưởng, dự án được tiến hành theo phương thức “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra và dân hưởng lợi” (Lê Hiền, 2006)
Từ các quan điểm trên, kết hợp với tiếp cận cộng đồng, lấy cộng đồng làm trung tâm, nhằm mở rộng thành phần tham gia và khai thác tối đa khả năng tham gia của cộng đồng, tác giả cho rằng các hình thức tham gia của cộng đồng trong phát triển CSHT GTNT được mô tả như sơ đồ 2.1
Sơ đồ 2.1 Các hình thức tham gia của cộng đồng trong phát triển
cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn
Nguồn: Thiết kế theo Lê Hiền (2006), Nguyễn Mạnh Hùng (2011) và Đỗ Quyên (2015)
Tóm lại, tham gia của cộng đồng nói chung và trong phát triển CSHT GTNT nói riêng là nhu cầu tất yếu với hình thức tham gia đa dạng Tuỳ điều kiện đặc thù của từng vùng/ địa phương và khả năng tham gia của chủ thể cộng đồng, mà hình thức tham gia của cộng đồng có thể đa dạng hoặc giới hạn Cụ thể, với điều kiện địa phương có kinh tế phát triển tốt thì khả năng đóng góp về nguồn lực vật chất tốt hơn, với dự tham gia của nhiều thành phần kinh tế và chủ thể (CĐND, CĐDN) tham gia hơn, các loại hình đóng góp về vật chất, trí tuệ tốt hơn, Ngược lại, địa phương có điều kiện KT-XH kém phát triển thì thường tham gia giới hạn về đóng góp nguồn lực vật chất, nhưng có thể huy động tối đa
về đóng góp lao động,…
Ngoài ra, năng lực quản lý cộng đồng, mô hình quản lí và nhu cầu về sự tham gia,… cũng góp phần quyết định sự đa dạng hình thức tham gia của cộng đồng trong phát triển CSHT GTNT
Cộng đồng
Hưởng lợi
Trang 322.1.3.2 Các kiểu tham gia của cộng đồng trong phát triển cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn
Trong cuốn “Phương pháp tiếp cận có sự tham gia trong phát triển lâm nghiệp xã hội” của Đặng Kim Vui và cs (2007) đã cho thấy có nhiều kiểu tham của cộng đồng trong phát triển CSHT GTNT Nhưng xét về động cơ tham gia thì các kiểu tham gia được thể hiện như sơ đồ 2.2
Sơ đồ 2.2 Các kiểu tham gia của cộng đồng trong phát triển cơ sở hạ tầng
giao thông nông thôn
Nguồn: Thiết kế theo Đặng Kim Vui và cs (2007)
Tham gia thụ động, không xem trọng sự tham gia và cho rằng việc tham gia
đó không quan trọng
Tham gia có điều kiện, có đòi hỏi từ người được tham gia dưới hình thức
vật chất như: có trả công, thù lao,… mới tham gia
Tham vấn, tham gia một chiều dưới dạng cộng đồng chỉ cung cấp thông tin
cho đối tượng tham vấn
Tham gia bắt buộc, tham gia theo chức năng, nhiệm vụ và tính chất công
việc của các bên liên quan trong hoạt động, như: Đại diện tổ dân phố giám sát quá trình làm đường cống thoát nước, địa phương làm chủ đầu tư,… theo dự án địa phương và nhân dân cùng làm,
Tham gia theo yêu cầu, là sự tham gia được yêu cầu bởi chính quyền địa
phương/ nhà nước trong các hoạt động quy hoạch, lập dự toán và chính sách, đóng
Tham vấn
Các kiểu tham gia
Tham gia
có điều kiện
Tham gia bắt buộc
Tham gia theo yêu cầu
Tham gia
tự nguyện Tham gia thụ động
Trang 33góp nguồn lực vật chất,… CĐND có thể tham gia vào tất cả các công đoạn hoặc không, theo khả năng của cộng đồng
Tự nguyện tham gia, là tham gia có chủ động từ cộng đồng hay chủ thể
tham gia Kiểu tham gia này ít nhất đảm bảo sự nhiệt tình tối đa của đối tượng tự vận động tham gia Người tham gia có thể tự khởi xướng mọi hành động tham gia và tự tham gia vào mọi quá trình (Đặng Kim Vui và cs., 2007)
Tóm lại, kiểu tham gia của cộng đồng trong phát triển CSHT GTNT phụ thuộc vào khả năng tham gia và công tác tuyên truyền, kêu gọi sự tham gia của cộng đồng Công tác tập huấn cộng đồng là hoạt động nhằm nâng cao khả năng tham gia cho cộng đồng, đồng thời nâng cao khả năng tuyên truyền, tổ chức, quản lý sự tham gia của cộng đồng
Do tính đa dạng của các hình thức, kiểu tham gia nên hình thức, kiểu tham gia là khó định lượng Nhằm đánh giá mức độ tham gia thì cần dựa vào mối quan
hệ giữa mức độ can thiệp của chính quyền nhà nước và mức độ tự nguyện tham
gia của cộng đồng để phân chia sự tham gia của cộng đồng theo mức độ
Mức độ 1- Tham gia thụ động, bao gồm kiểu tham gia thụ động và bắt
buộc Khi đó, chính quyền quyết định tất cả còn người dân chỉ biết làm theo nên thường kết quả và hiệu quả tham gia thấp
Mức độ 2- Tham gia theo yêu cầu và tham vấn, là mức cộng đồng được
yêu cầu tham gia hoặc tham khảo ý kiến nhưng chính quyền vẫn là bên quyết định hoặc có cân nhắc ý kiến của cộng đồng và hoặc cộng đồng chỉ được quyết định một phần, khía cạnh, nội dung nhỏ nên kết quả tham gia ở mức trung bình
Mức độ 3- Tham gia bình đẳng, hay kiểu tham gia có điều kiện, là việc
chính quyền và cộng đồng cùng đưa ý kiến, với điều kiện việc lựa chọn ý kiến định dựa trên cơ sở bình đẳng hay cộng đồng đưa ra ý kiến với sự chuẩn y của chính quyền Do chính quyền dựa vào ý kiến của cộng đồng để ra quyết định nên kết quả tham gia thường mang tính khách quan, tuân theo nhu cầu của cộng đồng, nên kết quả và hiệu quả tham gia thường khá hơn
Mức độ 4- Tham gia tự nguyện (chủ động tham gia), là chính quyền và
cộng đồng cùng đưa ra ý kiến và lựa chọn trên cơ sở bình đẳng với sự tôn trọng lẫn nhau hay cùng nêu ý kiến và đưa ra quyết định thống nhất chung hoặc cộng đồng
tự nêu ý kiến và quyết định, với chuẩn y của chính quyền chỉ mang tính thủ tục pháp lý Khi đó, chính quyền chỉ tham gia khi cộng đồng yêu cầu nên kết quả tham gia là tốt nhất, đúng theo nhu cầu và nguyện vọng của chính bản thân cộng đồng
Trang 34Sơ đồ 2.3 Mức độ tham gia của cộng đồng trong phát triển cơ sở hạ tầng
giao thông nông thôn
Nguồn: Tác giả thiết kế theo Đặng Kim Vui và cs (2007)
Như vậy, theo sơ đồ 2.3 thì tham gia có can thiệp được xem như là tham gia
có điều kiện, với mức độ tham gia thụ động được xem như tham gia bắt buộc mà chính quyền đưa ra đối với cộng đồng và ở cấp độ cao hơn thì cộng đồng vẫn phải yêu cầu mới tham gia Tham gia bình đẳng được xem là tham gia không có can thiệp, vì chính quyền và cộng đồng cùng tự nguyện tham gia, thể hiện sự tôn trọng ý kiến cộng đồng của chính quyền Còn tham gia tự nguyện ở đây thể hiện
sự bình đẳng cao nhất với sự tham gia là không tư lợi
2.1.3.3 Vai trò tham gia của cộng đồng trong phát triển cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn
Theo bài “Sổ tay hướng dẫn Phát triển cộng đồng ” của Lê Văn An và cs
(2016), thì "Cộng đồng đóng vai trò chủ thể của mọi hoạt động tại địa phương mình Vai trò chủ thể được thể hiện ở việc các thành viên trong cộng đồng là người chủ động, tích cực và quyết định các hoạt động của cộng đồng" Khi đó,
cộng đồng chịu trách nhiệm về kết quả của họ
Theo quan điểm trên và tiếp cận theo các hoạt động/ nội dung tham gia và đối tượng tham gia, tác giả cho rằng vai trò của cộng đồng trong phát triển CSHT GTNT được phân loại như sau:
- Phân theo hoạt động tham gia, thì cộng đồng có các vai trò là:
Vai trò tham gia, là vai trò quan trọng nhất trong hoạt động của cộng đồng
Tham gia phát triển CSHT GTNT có thể phân chia các giai đoạn cụ thể như xác định nhu cầu và lập qui hoạch, lập dự toán và chính sách tham gia, đóng góp các nguồn lực vật chất, trực tiếp thi công, tham gia kiểm tra giám sát và nghiệm thu,
Tham gia thụ động (Mức độ 1)
Tham gia theo yêu cầu (Mức độ 2)
Tham gia bình đẳng (Mức độ 3)
Tham gia tự nguyện (Mức độ 4)
Tham gia có can thiệp Tham gia không có can thiệp
Trang 35quản lý và bảo trì bảo dưỡng công trình, thụ hưởng và đánh giá hiệu quả
Vai trò đóng góp nguồn lực, có thể là nguồn nhân lực, trí lực, vật lực và tài
chính Với chính sách Nhà nước và nhân dân cùng làm, nhà nước sẽ giảm bớt các khó khăn về huy động nguồn lực cho phát triển các DACT CSHT GTNT
Vai trò kiểm tra, giám sát, là một ưu điểm của việc sử dụng cộng đồng
trong phát triển CSHT GTNT Với vai trò chủ thể kép vừa là người sử dụng, có thể vừa là chủ đầu tư/ giám sát, sẽ nâng cao trách nhiệm cộng đồng dân cư và các đối tượng tham gia kiểm tra, giám sát quá trình phát triển CSHT GTNT
Vai trò quản lý, bảo trì bảo dưỡng, Với đặc thù CSHT GTNT thường có
thời gian sử dụng dài và mang tính chất công cộng, rất cần cộng đồng dân cư có
ý thức quản lý các công trình công cộng thì mới đem lại hiệu quả sử dụng lâu dài cho CSHT GTNT
Vai trò thụ hưởng và đánh giá hiệu quả, đây là điều cần thiết để đảm
bảo chất lượng CSHT GTNT Với vai trò này, cộng đồng trong vai người sử dụng/ người thụ hưởng sẽ có đánh giá khách quan trong quá trình phát triển CSHT GTNT…
- Phân theo đối tượng tham gia, thì cộng đồng có các vai trò sau:
Cộng đồng chính quyền (cấp tỉnh, huyện, xã, thôn), có vai trò định hướng
cho quá trình phát triển CSHT GTNT và đề xuất cơ chế chính sách và dẫn dẵn cho việc tổ chức và tham gia của cộng đồng
Cộng đồng đoàn thể (hội nông dân, hội phụ nữ, đoàn thanh niên, hội cựu
chiến binh…), có vai trò tham gia giám sát, đóng góp nguồn lực lao động và đặc biệt là tuyên truyền, vận động kết nối và dẫn dắt các đối tượng tham gia
Cộng đồng doanh nghiệp (các tổ chức kinh tế, hợp tác xã, các doanh
nghiệp…), có vai trò chủ yếu là tham gia đóng góp trí tuệ, kỹ thuật công nghệ và chuyên môn, đầu tư và hoặc đóng góp nguồn lực vật chất,…
Cộng đồng người dân (người dân sinh sống tại địa phương hay kiều bào,…),
cần được xem là có vai trò là trung tâm, chủ động trong phát triển CSHT GTNT nói riêng và phát triển nông thôn nói chung Có vai trò tham gia ở tất cả các nội dung Như vậy, chính quyền có vai trò thiết yếu hỗ trợ chính cho quá trình phát triển CSHT GTNT Vai trò của chính quyền là tổ chức, hướng dẫn và phối hợp tất cả các hoạt động, đồng thời công nhận, khuyến khích và tăng cường vai trò của CĐND, tổ chức đoàn thể và doanh nghiệp tham gia
Trang 362.1.3.4 Nguyên tắc tham gia của cộng đồng trong phát triển cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn
Theo Trần Sáng Tạo (2008), trong bài "Kinh nghiệm trong việc tổ chức,
xây dựng các công trình cơ sở hạ tầng dựa vào cộng đồng" thì nguyên tắc tham gia của cộng đồng trong phát triển CSHT GTNT gồm:
Nguyên tắc dân chủ, công khai minh bạch, Mọi hoạt động trong quá trình
phát triển CSHT GTNT đều được thảo luận và quyết định thông qua ý kiến của cộng đồng một cách dân chủ Sự công khai và minh bạch thể hiện qua việc công
bố cho người dân biết về mục tiêu, qui hoạch, thiết kế và dự toán của từng DACT
để cùng tham gia góp ý trước khi ban hành Công bố về mức đềm bù giải toả, GPMB, tỷ lệ và mục đích huy động vốn góp
Nguyên tắc năng lực và trách nhiệm, Cộng đồng tham gia phải có năng
lực chuyên môn phù hợp và có trách nhiệm thông qua các hoạt động xây dựng, thảo luận, ra quyết định thực hiện các hoạt động, lập kế hoạch, huy động nguồn lực và thực hiện dự án Trách nhiệm của cộng đồng là đề xuất và tổ chức thực hiện Nhà nước có trách nhiệm hỗ trợ cộng đồng thực hiện hoạt động đạt hiệu quả, CĐND phát huy được nội lực, trong đó bao gồm cả hỗ trợ đào tạo về chuyên môn cho công tác quản lý, kiểm tra, giám sát,… cộng đồng tham gia
Nguyên tắc phối hợp, Có sự phối hợp giữa cộng đồng người dân, chính
quyền địa phương, các tổ chức, đơn vị liên quan để quản lý, điều phối và kiểm tra giám sát tốt hơn các DACT phát triển CSHT GTNT tại địa phương Về chính sách và qui hoạch cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các chủ thể tham gia, các tổ chức từ cơ sở đến Trung ương Về triển khai công việc cần phát huy tinh thần dân chủ dựa trên các mô hình quản lý phân cấp, đảm bảo sự phối hợp linh hoạt của các bên tham gia nhằm kiểm tra, kiểm soát và quản lý chặt chẽ lẫn nhau
Nguyên tắc đảm bảo tính bền vững, Mục đích phát triển CSHT GTNT là
hướng tới tính hiệu quả lâu dài, nên việc tham gia của cộng đồng phải đảm bảo tính bền vững với các nội dung:
Bảo đảm vai trò của cộng đồng trong mọi khâu của quá trình ra quyết định nhằm khuyến khích sự tham gia chủ động, tích cực của tất cả các loại cộng đồng;
Áp dụng linh hoạt các phương pháp và cơ chế tham gia linh hoạt phù hợp với đặc thù của mỗi địa phương nhằm tận dụng tối đa kinh nghiệm thực tế từ các hoạt động nghiên cứu ứng dụng những cách làm và kỹ thuật phù hợp
Luôn ưu tiên nuôi dưỡng, sử dụng và gìn giữ các nguồn lực, nguồn tài
Trang 37nguyên vốn có tại địa phương, nhằm khuyến khích tối đa sự tham gia và đảm bảo tính tuyên truyền, nâng cao ý thức sử dụng tiết kiệm các nguồn lực, các công trình công cộng cho thế hệ ngày nay và mai sau
Phân phối công bằng quyền tiếp cận tham gia các DACT CSHT GTNT,
nhằm đảm bảo nguyên tắc "Các bên cùng có lợi", qua đó góp phần tăng cường
được sự tham gia của cộng đồng (Trần Sáng Tạo, 2008)
Các nguyên tắc tham gia của cộng đồng trên hướng đến tối đa hoá hiệu
quả tham gia của cộng đồng Tuy nhiên, cần bổ sung nguyên tắc thực thi, bao
gồm các nội dung: Ban hành các qui định cụ thể cơ chế thưởng phạt đối với các chủ thể tham gia; Xây dựng cơ chế theo dõi, công khai thông tin số liệu phản ánh kết quả tham gia của các chủ thể… qua đó khuyến khích được tinh thần tự nguyện, tự chủ của các chủ thể tham gia
2.1.3.5 Nội dung tham gia của cộng đồng trong phát triển cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn
Cũng theo Trần Sáng Tạo (2008), trong bài "Kinh nghiệm trong việc tổ
chức, xây dựng các công trình cơ sở hạ tầng dựa vào cộng đồng" thì nội dung tham
gia của cộng đồng trong phát triển CSHT GTNT gồm: xây dựng kế hoạch cho sự tham gia, cộng đồng tham gia đóng góp nguồn nhân lực và tài lực, cộng đồng tham gia giám sát và cộng đồng tham gia bảo trì bảo dưỡng
Trong "Báo cáo tổng kết Mô hình bảo trì GTNT dựa vào cộng đồng trong bối cảnh xã xây dựng nông thôn mới" Sở GTVT Quảng Ninh (2012), thì nội dung tham gia của cộng đồng gồm: xây dựng kế hoạch cho cộng đồng tham gia, tập huấn cho cộng đồng tham gia, cộng đồng tham gia bảo trì bảo dưỡng
Mở rộng hoạt động tham gia và đối tượng tham gia, tác giả cho rằng nội dung sự tham gia của cộng đồng trong phát triển CSHT GTNT gồm:
Sự tham gia của cộng đồng trong việc xác định nhu cầu và quy hoạch, là
việc cộng đồng tham gia đánh giá thực trạng và đề xuất nhu cầu phát triển CSHT GTNT (nâng cấp, sửa chữa và làm mới) Đây là khâu rất quan trọng trong việc định hướng qui hoạch nhưng nhiều địa phương lại xem nhẹ dẫn đến lãng phí và gây sự bất bình làm cho cộng đồng không hợp tác, không muốn tham gia Cộng đồng có quyền tham gia vào công đoạn này, vì các quyết định ở nội dung này sẽ ảnh hưởng đến cuộc sống của họ
Sự tham gia của cộng đồng trong việc lập dự toán và chính sách tham gia,
là việc cộng đồng tham gia và công đoạn lập dự toán và xây dựng các chính sách
Trang 38tham gia phát triển CSHT GTNT (Dự toán công trình, đền bù giải toả và GPMB, chủ thể tham gia đầu tư, mức độ và tỷ lệ đóng góp các nguồn lực,…) Sự tham gia của cộng đồng làm tăng sức mạnh của tập thể Bởi vì, khi được làm việc cùng nhau sẽ tăng sự tin tưởng lẫn nhau và khả năng cùng nhau giải quyết các vấn đề chung Sự tham gia của cộng đồng ở giai đoạn này đảm bảo thu được những kết quả của dự án tốt hơn vì chính họ biết rõ nhất là nhu cầu, khả năng và các nguồn lực mà mình sẽ tham gia đóng góp
Sự tham gia của cộng đồng trong việc đóng góp các nguồn lực, là việc
cộng đồng tham gia đóng góp tài lực, nhân lực, trí lực cho phát triển CSHT GTNT, như : góp tiền, lao động, nguyên vật liệu, đất đai,… Việc đóng góp các nguồn lực là hành động thiết thực của sự tham gia Tuỳ theo chính sách, phương thức huy động và mục đích, tiêu chí của chủ dự án mà sự đóng góp sẽ đạt kết quả với mức độ và hình thức khác nhau
Sự tham gia của cộng đồng trong thi công xây dựng CSHT GTNT, là việc
cộng đồng trực tiếp làm một phần hay toàn bộ việc thi công xây dựng DACT CSHT GTNT Tuỳ theo qui mô DACT và chính sách thu hút sự tham gia mà có
thể tổ chức sự tham gia theo hình thức "nhà nước và nhân dân cùng làm" hoặc
nhà nước thực hiện dự án đầu tư còn cộng đồng tham gia đóng góp lao động, thi công, hay cộng đồng có thể tự tổ chức làm các công trình nhỏ như đường ngõ xóm, cầu, cống của hộ gia đình hoặc một dòng họ, một nhóm hộ…
Sự tham gia của cộng đồng trong việc kiểm tra, giám sát, là việc cộng
đồng tham gia kiểm tra, giám sát quá trình tổ chức thực hiện thi công xây dựng các DACT CSHT GTNT Việc kiểm tra giám sát nhằm nâng cao và đảm bảo khả năng thực thí các DACT đúng tiến độ, nội dung, kế hoạch ban đầu, sử dụng hợp
lý, hiệu quả các nguồn lực và vốn đầu tư theo dự toán công trình Việc này thường được giao cho những người hoặc nhóm người có kinh nghiệm và hiểu biết chuyên môn trong cộng đồng
Sự tham gia của cộng đồng trong giám sát sẽ giảm được sự lãng phí, thất
thoát, tiêu cực trong quá trình sử dụng vốn, vì "Mặc dù chưa có một cơ quan, tổ chức nào đưa ra được tỷ lệ và số liệu chính xác về thất thoát, lãng phí trong đầu tư XDCB là bao nhiêu (10, 20 hay 30% như nhiều chuyên gia nhận định) nhưng thất thoát, lãng phí là có thực và nó xẩy ra ở tất cả các khâu, giai đoạn của quá trình đầu tư, từ chủ trương đầu tư, chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư, cấp phát vốn đầu tư,
Trang 39đến khâu nghiệm thu bàn giao đưa công trình vào sử dụng và quyết toán vốn đầu tư xây dựng công trình" (Hoàng Văn Lương, 2011)
Sự tham gia của cộng đồng trong việc quản lý và bảo trì bảo dưỡng, là
việc cộng đồng tham gia quản lý, bảo trì bảo dưỡng thường xuyên các công trình làm cho công trình được bảo vệ tốt hơn Thực tế cho thấy các công trình CSHT GTNT sẽ có tuổi thọ dài hơn, ít xuống cấp hơn khi cộng đồng tự giác bảo vệ kết hợp với quá trình sử dụng, trực tiếp tham gia duy tu bảo dưỡng và sửa chữa định
kỳ, tuân thủ các qui định về sử dụng,… sẽ nâng cao hiệu quả bền vững
Sự tham gia của cộng đồng trong việc thụ hưởng và đánh giá hiệu quả, Phát
triển CSHT GTNT vừa phục vụ nhu cầu phát triển KT-XH của địa phương, vừa phục vụ nhu cầu đi lại của các loại cộng đồng (CĐND, CĐDN,…), nên cần tính toán đến sự công bằng trong phân phối lợi ích cũng như nghĩa vụ với các đối tượng thụ hưởng khác nhau Có thể là có thu phí sử dụng, bảo trì bảo dưỡng… đối với các nhóm thụ hưởng không tham gia đóng góp, nhưng không thu phí đối với các nhóm thụ hưởng có tham gia đóng góp Việc đánh giá hiệu quả của cộng đồng nhằm đảm báo tính khách quan và minh bạch trong phát triển CSHT GTNT
Có thể biểu diễn nội dung tham gia của cộng đồng trong phát triển CSHT GTNT qua sơ đồ 2.4
Sơ đồ 2.4 Vòng tròn tham gia của cộng đồng trong phát triển cơ sở hạ tầng
giao thông nông thôn
Nguồn: Thiết kế theo Trần Sáng Tạo (2008), Sở GTVT Quảng Ninh (2012)
Phát triển CSHT GTNT
Thụ hưởng
và đánh giá hiệu quả
Xác định nhu cầu và qui hoạch Lập dự
toán và chính sách tham gia
Đóng góp các nguổn lực Tham gia
thi công xây dựng
Kiểm tra, giám sát
quản lý và
bảo trì bảo
dưỡng
Trang 402.1.4 Những yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia của cộng đồng trong phát triển cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn
Theo Lương Tiến Dũng (2008), trong bài “Phương pháp quy hoạch có sự
tham gia của cộng đồng” cho rằng: “Một ảnh hưởng lớn tác động đến sự thành công của phương pháp tham gia của cộng đồng chính là ở trong mọi yếu tố nội lực của cộng đồng” Ðầu tiên phải kể đến đó là kỹ năng tổ chức trong các cộng
đồng, kiến thức chuyên môn, kỹ năng lãnh đạo cần được phát triển trong cộng đồng theo cách thức thích hợp với nhiệm vụ đang được thực hiện ở cộng đồng
Bài viết của Lưu Thị Nho và Phạm Bảo Dương (2013), về “Sự tham gia của cộng đồng các dân tộc trong các hoạt động giảm nghèo ở một số địa phương
miền núi phía Bắc” thì cho rằng, “các yếu tố ảnh hưởng tới sự tham gia của cộng đồng gồm: Cơ chế chính sách và giải pháp đang huy động sự tham gia của cộng đồng; Năng lực và ý thức của các thành viên cộng đồng; Nguồn lực và khả năng tiếp cận nguồn lực; Thành phần dân tộc và phong tục tập quán; Ảnh hưởng của giới tới sự tham gia của cộng đồng trong các hoạt động giảm nghèo”
Xuất phát từ quan điểm trên và theo tác giả thì yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia của cộng đồng trong phát triển CSHT GTNT gồm các nhóm sau:
2.1.4.1 Nhóm yếu tố khách quan
- Điều kiện môi trường tự nhiên và kinh tế - xã hội, gồm có
Môi trường tự nhiên, đất đai, thổ nhưỡng, ở mỗi địa phương/ khu vực là
khác nhau Điều kiện tự nhiên ở các vùng nông thôn thường khó khăn hơn vùng
đô thị vì địa hình xa các trục giao thông, đi lại khó khăn, thổ nhưỡng đa dạng nhưng lại có đất đai rộng lớn nên chỉ dựa vào nhà nước thì khó đầu tư triệt để Đây chính là nguyên nhân thúc đẩy ý tưởng khuyến khích sự tham gia của cộng đồng vào phát triển CSHT GTNT (Lưu Thị Nho và Phạm Bảo Dương, 2013)
Tốc độ phát triển kinh tế địa phương, Kinh tế địa phương, đặc biệt là kinh
tế hộ gia đình nông thôn, kinh tế tư nhân, doanh nghiệp là động lực thúc đẩy sự tham gia của cộng đồng trong phát triển CSHT GTNT Khi kinh tế phát triển tốt
và có triển vọng thì việc tham gia của cộng đồng sẽ có tính tự nguyện nhiều hơn, hình thức và mức độ tham gia cũng phong phú và cao hơn so với vùng kinh tế khó khăn Khi CSHT GTNT phát triển sẽ kích thích cộng đồng tham gia trực tiếp và sâu hơn vào các khâu của DACT CSHT GTNT Đường xá tốt sẽ kích thích tham gia trong quá trình sử dụng, bảo quản còn đường xá xấu sẽ kích thích sự tham gia trong quá trình xây dựng, (Lưu Thị Nho và Phạm Bảo Dương, 2013)