1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích và đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng cán bộ, công chức huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định

104 3K 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 852,41 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giai đoạn một của công cuộc CCHCNN được đề ra từ năm 2001 và kéo dài trong 10 năm 2001-2010, sau khi tổng kết công tác giai đoạn một, Đảng và nhà nước đã tiếp tục triển khai giai đoạn ha

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI

-o0o -

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH

ĐỀ TÀI: Phân tích và đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng cán bộ,

công chức huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định

GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: TS NGUYỄN THỊ MAI ANH

HỌC VIÊN THỰC HIỆN: VŨ THẾ NGHĨA

LỚP: 14B QTKD - NĐ

HÀ NỘI - 2016

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng bản Luận văn “Phân tích và đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng cán bộ, công chức huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định” này

là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của tôi, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Nguyễn Thị Mai Anh Tất cả nội dung, số liệu và kết quả nghiên cứu trong Luận văn này là trung thực, chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào

Tôi xin cam đoan rằng mọi sự tham khảo cho việc thực hiện Luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Hà Nội, tháng 06 năm 2016

Tác giả

Vũ Thế Nghĩa

i

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trước tiên, Tôi xin chân thành cảm ơn các Quý Thầy Cô giáo, các cán bộ nhân viên Trường Đại học Bách khoa Hà Nội, đặc biệt là các Quý Thầy Cô giáo Viện Đào tạo sau Đại học; Viện Kinh tế và Quản lý đã tận tình chỉ bảo, truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu trong suốt quá trình học tập

Đặc biệt hơn nữa, Tôi xin chân thành gửi lời biết ơn sâu sắc nhất đến TS Nguyễn Thị Mai Anh - Người đã toàn tâm, toàn ý trực tiếp hướng dẫn tôi về mặt

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới các bạn học viên lớp Cao học 14B

QTKD-NĐ đã luôn ủng hộ và hỗ trợ tôi trong học tập và trong quá tình thực hiện luận văn

Tôi xin tỏ lòng biết ơn cha mẹ người đã nuôi tôi trưởng thành và là nguồn động viên tôi những lúc khó khăn nhất để tôi vượt qua và hoàn thành luận văn Nhân đây, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới các đồng chí lãnh đạo huyện ủy Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định và các cán bộ phòng ban trong huyện, các doanh nghiệp, các tổ chức, cá nhân, bạn bè và đồng nghiệp những người đã kề vai sát cánh và thường xuyên động viên để hoàn thành bản luận văn này

Xin trân trọng cảm ơn!

ii

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC VIẾT TẮT v

DANH MỤC BẢNG vi

DANH MỤC BIỂU ĐỒ vii

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu của luận văn 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

4 Phương pháp nghiên cứu 3

5 Kết cấu luận văn 4

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG CÁN BỘ CÔNG CHỨC CẤP HUYỆN 5

1.1 Cán bộ, công chức 5

1.1.1 Cán bộ 6

1.1.2 Công chức 8

1.2 Cán bộ, công chức cấp huyện 17

1.2.1 Khái niệm cán bộ, công chức cấp huyện 17

1.2.2 Vai trò cán bộ, công chức cấp huyện 18

1.2.3 Tiêu chuẩn đối với cán bộ, công chức cấp huyện 19

1.3 Chất lượng cán bộ, công chức cấp huyện 23

1.3.1 Khái niệm chất lượng cán bộ, công chức cấp huyện 23

1.3.2 Tiêu chí đánh giá chất lượng công chức 24

1.4 Các nhân tố ảnh hưởng tới nâng cao chất lượng cán bộ, công chức 30

1.4.1 Các nhân tố khách quan 30

1.4.2 Các nhân tố chủ quan 35

TÓM TẮT CHƯƠNG 1 38

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG CÁN BỘ CÔNG CHỨC HUYỆN NGHĨA HƯNG TỈNH NAM ĐỊNH 39

2.1 Giới thiệu về huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định 39

2.1.1 Đặc điểm tự nhiên 39

2.1.2 Đặc điểm kinh tế 40

2.1.3 Đặc điểm văn hóa, xã hội 40

2.2 Phân tích thực trạng chất lượng cán bộ công chức huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định 43

2.2.1 Thu thập dữ liệu cho phân tích chất lượng cán bộ, công chức huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định 43

2.2.2 Thực trạng cán bộ công chức huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định 44

2.2.3 Phân tích chất lượng cán bộ, công chức huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định 46

2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng cán bộ công chức huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định 58

iii

Trang 5

2.3.1 Công tác tuyển dụng công chức tại huyện 58

2.3.2 Công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức 64

2.3.3 Công tác bố trí, phân công sử dụng công chức huyện 68

2.3.4 Công tác đánh giá công chức 68

2.3.5 Chế độ tiền lương với công chức huyện 70

2.4 Đánh giá chất lượng công chức huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định 72

2.4.1 Một số kết quả đạt được 72

2.4.2 Những mặt hạn chế và nguyên nhân 73

TÓM TẮT CHƯƠNG 2 76

CHƯƠNG 3 CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC HUYỆN NGHĨA HƯNG, TỈNH NAM ĐỊNH 77

3.1 Định hướng và mục tiêu nâng cao chất lượng công chức huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định giai đoạn 2016 – 2021 77

3.1.1 Định hướng 77

3.1.2 Mục tiêu nâng cao chất lượng cán bộ công chức huyện Nghĩa Hưng 78

3.1.3 Quan điểm về nâng cao chất lượng cán bộ, công chức cấp huyện 79

3.2 Giải pháp nâng cao chất lượng cán bộ, công chức huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định 80

3.2.1 Đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp huyện 80

3.2.2 Xây dựng, hoàn chỉnh quy trình, quy chế đánh giá công chức 84

3.3 Khuyến nghị với UBND Tỉnh và Trung ương 87

3.3.1 Đối với công tác tuyển dụng, sử dụng cán bộ, công chức cấp huyện 87

3.3.2 Đổi mới, hoàn thiện chế độ chính sách 88

3.3.3 Cải cách thể chế hành chính, trọng tâm là cải cách thủ tục hành chính 89

3.3.4 Cải cách công vụ, công chức 90

TÓM TẮT CHƯƠNG 3 91

KẾT LUẬN 92

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 93

iv

Trang 6

DANH MỤC VIẾT TẮT

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Số liệu về cơ cấu công chức tại huyện Nghĩa Hưng theo độ tuổi 44

Bảng 2.2 Cơ cấu công chức huyện theo giới 45

Bảng 2.3 Thống kê công chức đứng trong hàng ngũ Đảng 46

Bảng 2.4 Trình độ lý luận chính trị của công chức huyện 48

Bảng 2.5 Tổng hợp kết quả tự đánh giá về phẩm chất đạo đức chính trị của CBCC huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định 48

Bảng 2.6 Trình độ chuyên môn công chức huyện giai đoạn 2011 - 2015 50

Bảng 2.7 Trình độ chuyên môn công chức huyện theo từng chức danh công việc 52

Bảng 2.8 Tổng hợp trình độ tin học - ngoại ngữ công chức huyện 53

Bảng 2.9 Tổng hợp kết quả tự đánh giá về các kỹ năng của CBCC huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định 54

Bảng 2.10 Số ngày nghỉ ốm trong năm của CBCC huyện Nghĩa Hưng 56

Bảng 2.11 Kết quả kiểm tra sức khỏe của CBCC huyện Nghĩa Hưng 57

Bảng 2.12 Tổng hợp kết quả tự đánh giá về sức khỏe của CBCC 58

Bảng 2.13 Tuyển công chức cấp huyện giai đoạn 2012-2013 59

Bảng 2.14 Kết quả tuyển dụng phân theo chỉ tiêu giai đoạn 2012-2013 60

Bảng 2.15 Đánh giá của CBCC về công tác tuyển dụng 63

Bảng 2.16 Kết quả đào tạo theo nội dung đào tạo 66

vi

Trang 8

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 2.1 Mức độ thỏa mãn thu nhập của công chức huyện Nghĩa Hưng 71

vii

Trang 9

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Công cuộc cải cách hành chính nhà nước (CCHCNN) được Đảng và Nhà nước ta xác định là một nhiệm vụ trọng tâm và lâu dài, điều này được thể hiện qua

cả quá trình đã và đang thực hiện Giai đoạn một của công cuộc CCHCNN được

đề ra từ năm 2001 và kéo dài trong 10 năm (2001-2010), sau khi tổng kết công tác giai đoạn một, Đảng và nhà nước đã tiếp tục triển khai giai đoạn hai trong 10 năm tiếp theo từ năm 2011 - 2020, với những nhiệm vụ cũng rất to lớn và nặng nề vì kết quả đạt được trong 10 năm đầu thực hiện CCHCNN tuy có nhiều thắng lợi, nhưng cũng còn nhiều bất cập, đặc biệt “Tiếng kêu ca, phàn nàn của người dân, doanh nghiệp về cơ quan hành chính, về thái độ của cán bộ công chức, về chất lượng, thời gian giải quyết công việc vẫn còn nhiều bất cập Sự hài lòng của xã hội về hoạt động phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước vẫn ở mức độ chưa cao do đó cần nhận thức rõ vấn đề này để sớm có biện pháp khắc phục”, điều này

đã được Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng phát biểu trong Hội nghị tổng kết 10 năm

CCHCNN giai đoạn 2001-2010 (Theo SGTT.VN ngày 10-5-2011)

Cán bộ, công chức (CBCC) cấp huyện là những người phải tiếp xúc toàn diện, thường xuyên với dân, phải xử lý nhiều vấn đề ngoại lệ của đời thường, thường xuyên phải “ứng vạn biến”, không chỉ trong xử lý công việc tại công sở

mà ngay cả trong đời thường Chính vì thế nên việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp huyện theo hướng vững vàng về chính trị, trong sáng về đạo đức, lối sống, có trí tuệ, kiến thức, đặc biệt là sự thành thạo về kỹ năng ứng xử với dân là vấn đề vô cùng quan trọng, có ảnh hưởng quyết định đến hiệu lực của quản lý nhà nước (QLNN) của chính quyền cấp cơ sở

Một số bất cập chủ yếu hiện nay là: tình trạng chưa chuẩn về chuyên môn, nghiệp vụ, thiếu kỹ năng trong xử lý tình huống, chưa trọn “đạo đầy tớ của Dân”, chưa đủ sức tham mưu cho lãnh đạo Tình trạng bằng giả, học hành qua loa còn phổ biến nên kiến thức cũng dễ “mơ màng”

Để tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Đảng và Nhà nước ta đã xác định nhiệm vụ trọng tâm là cải cách hành chính Các nội dung cải cách hành chính được Nhà nước ta xác định bao gồm: cải

1

Trang 10

cách thể chế hành chính, cải cách bộ máy Nhà nước, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, cải cách tài chính công và ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của bộ máy nhà nước Tất cả những nội dung này hướng vào mục tiêu chung

đó là: xây dựng bộ máy hành chính ngày càng kiện toàn, xây dựng đội ngũ cán bộ trong sạch vững mạnh vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội

Trong quá trình đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

và mở cửa, hội nhập quốc tế là cả một chặng đường phấn đấu lâu dài với những nhiệm vụ cao cả, vô cùng khó khăn, phức tạp đòi hỏi Nhà nước phải đẩy mạnh cải cách hành chính; đặc biệt là việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Cán bộ là gốc của mọi công việc”, công việc thành công hay thất bại đều là do cán bộ Không có đội ngũ cán bộ tốt thì đường lối, nhiệm vụ chính trị đúng cũng không trở thành hiện thực Chính vì vậy, đội ngũ cán bộ công chức luôn được Đảng ta quan tâm chú ý đào tạo, bồi dưỡng và có chính sách cụ thể trong mỗi giai đoạn, mỗi thời kì cách mạng Việt Nam

Tuy nhiên, hiện nay đội ngũ cán bộ, công chức ở nước ta có hiện tượng vừa thiếu người tài lại yếu về chuyên môn Một số bộ phận không nhỏ suy thoái về đạo đức, chính trị, lối sống; cơ hội thực dụng, tham ô, tham nhũng, lãng phí đang làm suy giảm niềm tin với nhân dân và cản trở tiến trình đổi mới Do vậy vấn đề đặt ra

là cần phải xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức có đầy đủ năng lực và phẩm chất, có đủ đức và tài để đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc

Vì tất cả các lý do đã nêu ở trên, em chọn đề tài: “Phân tích và đề xuất các

giải pháp nâng cao chất lượng cán bộ, công chức huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định” làm luận văn thạc sĩ của mình

2 Mục tiêu nghiên cứu của luận văn

Các mục tiêu nghiên cứu của luận văn bao gồm:

- Hệ thống hóa cơ sở lý thuyết về chất lượng cán bộ, công chức cấp huyện

Định

- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định

2

Trang 11

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng:

Phạm vi nghiên cứu:

- Số liệu phân tích được thu thập trong giai đoạn 2011-2015 của huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định

4 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp thống kê - phân tích

ngũ cán bộ công chức, về trình độ chuyên môn, số năm công tác, vị trí công tác, yêu cầu công việc, thành tích đóng góp, khen thưởng, báo cáo tổng kết của các năm Từ đó phân tích những mặt đạt được, hạn chế trong việc đảm nhận, thực hiện công việc, chất lượng cán bộ công chức tại huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định

- Phương pháp điều tra xã hội học

Sử dụng điều tra bằng bảng hỏi (lập phiếu điều tra): phát phiếu điều tra đến cán bộ công chức tại các bộ phận chức năng tại huyện Tổng số phiếu thu về -105 phiếu, kết quả và tiến hành phân tích trên 105 phiếu hợp lệ

- Phương pháp phân tích số liệu

Số liệu thu thập được xử lý và phân tích bằng phần mềm Microsoft Office Excel trên máy tính Qua đó đánh giá rõ nét thực trạng về số lượng, chất lượng, cơ cấu tổ chức, năng lực, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, lý luận chính trị, phẩm chất đạo đức, độ tuổi…Đồng thời đưa ra các giải pháp có tính chất đột phá nhằm nâng

- Sử dụng các báo cáo tổng kết của huyện

Báo cáo của phòng nội vụ huyện ủy Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định

Báo cáo của HĐND huyện ủy Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định

Báo cáo của UBND huyện ủy Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định

3

Trang 12

Ngoài ra, luận văn căn cứ vào Luật Cán bộ công chức năm 2008 và các văn bản dưới luật để nghiên cứu tại huyện ủy Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định

5 Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục chữ viết tắt, danh mục các bảng biểu, luận văn gồm 03 chương:

Nam Định

Hưng, tỉnh Nam Định

4

Trang 13

C HƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG CÁN BỘ CÔNG CHỨC CẤP HUYỆN

1.1 Cán bộ, công chức

Khái niệm về cán bộ, công chức đã được quy định tại Điều I, Pháp lệnh cán

bộ, công chức (sửa đổi, bổ sung năm 2003) CBCC là những thuật ngữ cơ bản của chế độ công vụ, công chức, thường xuyên xuất hiện trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Trong lịch sử ra đời và phát triển của nền công vụ, có thể thấy thuật ngữ cán bộ được sử dụng khá phổ biến ở các nước xã hội chủ nghĩa và bao hàm trong phạm vi rộng những người làm việc thuộc khu vực nhà nước Trên thế giới, mỗi quốc gia lại có phạm vi xác định CBCC hoặc viên chức là khác nhau do phụ thuộc vào thể chế chính trị, cách thức tổ chức bộ máy, yếu tố lịch sử, văn hóa dân tộc của mỗi quốc gia Tuy khác nhau nhưng tựu chung là bất cứ Nhà nước nào cũng hướng đến việc xây dựng và quản lý một đội ngũ cán bộ công chức bao gồm những người có năng lực quản lý, có trình độ chuyên môn và phẩm chất đạo đức tốt, làm việc nghiêm túc vì bổn phận của mình trước nhân dân

Do điều kiện đất nước chiến tranh nên việc ban hành văn bản quy định rõ các Quy chế công chức không được triển khai đầy đủ, và suốt một thời gian dài (đến cuối những năm 1980), khái niệm công chức không được sử dụng mà thay vào đó là khái niệm cán bộ, công nhân viên chức nhà nước Khái niệm này dùng chung cho tất cả mọi người làm việc cho Nhà nước, không có sự phân biệt, theo

đó đội ngũ này rất đông đảo vì nó được hình thành từ rất nhiều con đường, có thể

do bầu, có thể do phân công sau khi tốt nghiệp, do tuyển dụng, bổ nhiệm,… Phạm

vi làm việc của họ cũng rất rộng, vì vậy đội ngũ cán bộ, công nhân viên chức

của Đảng và Nhà nước trong việc sử dụng và quản lý đội ngũ CBCC

Đến năm 1998, khi Pháp lệnh CBCC được ban hành, những người làm việc trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị của Đảng, Nhà nước, đoàn thể được gọi chung trong một cụm từ là "CBCC" Để cụ thể hoá Pháp lệnh, Chính phủ ban hành Nghị định số 95/1998/NĐ-CP ngày 17/11/1998 về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức Theo Nghị định này, công chức là: Công dân Việt Nam, trong biên chế và

5

Trang 14

hưởng lương từ ngân sách nhà nước, bao gồm những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc giao giữ một công việc thường xuyên, được phân loại theo trình độ đào tạo, ngành chuyên môn, được xếp vào một ngạch hành chính, sự nghiệp; những người làm việc trong các cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân và Công

an nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp và công nhân quốc phòng

Như vậy, khái niệm trên chỉ ra rằng CBCC đều mang các đặc trưng như: là Công dân Việt Nam, trong biên chế, hưởng lương từ ngân sách nhà nước Tuy nhiên đây mới chỉ là những căn cứ để xác định một người có phải là "CBCC" hay không Còn vấn đề ai là cán bộ, ai là công chức vẫn chưa được phân biệt và định nghĩa cụ thể

Pháp lệnh CBCC sửa đổi năm 2003 đã phân biệt được đối tượng làm việc trong các đơn vị sự nghiệp của Nhà nước và gọi họ là viên chức, đồng thời Pháp lệnh sửa đổi đã quy định thêm công chức xã, huyện, thị trấn Tuy nhiên, cả Pháp lệnh CBCC năm 1998 và Pháp lệnh CBCC sửa đổi năm 2003 đều không đưa ra được khái niệm về cán bộ, khái niệm về công chức, chỉ đưa ra thuật ngữ chung là CBCC

Để khắc phục mặt hạn chế của các văn bản từ truớc đến nay, ngày 13 tháng

11 năm 2008, tại kỳ họp thứ 4 Quốc hội khoá XII đã thông qua Luật CBCC Đây

là một văn bản có giá trị pháp lý cao nhất từ trước đến nay và cắt nghĩa được rõ ràng hơn về các khái niệm CBCC

Việc phân định cán bộ và công chức của Luật CBCC là căn cứ để quy định

cơ chế quản lý phù hợp với cán bộ ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; công chức ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; cán bộ cấp xã, công chức cấp xã Với những quy định mới này, pháp luật về CBCC đã tiếp tục quy định những vấn đề thể hiện tính đặc thù trong hoạt động công vụ của cán bộ khác với hoạt động công vụ của công chức liên quan đến các nội dung như: quyền và nghĩa vụ, bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm; đào tạo, bồi dưỡng; điều động, luân chuyển; đánh giá;

1.1.1 Cán bộ

1.1.1.1 Khái niệm

6

Trang 15

Khoản 1 Điều 4 của Luật CBCC quy định: cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước

Cán bộ xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) là công dân Việt

dân, Ủy ban nhân dân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội

Theo quy định này thì tiêu chí xác định cán bộ gắn với cơ chế bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ Những người đủ các tiêu chí chung của CBCC mà được tuyển vào làm việc trong các cơ quan của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội thông qua bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ chức danh theo nhiệm kỳ thì được xác định là cán bộ

Cán bộ chịu sự điều chỉnh của cơ chế bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm nên cán

bộ còn phải chịu trách nhiệm trước Đảng, Nhà nước, nhân dân và trước cơ quan,

tổ chức có thẩm quyền về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao Điểm này thể hiện trách nhiệm chính trị của cán bộ

Việc quy định đánh giá cán bộ đã có những nội dung khác với đánh giá công chức Theo Luật quy định, đánh giá cán bộ thực hiện theo 5 nội dung, trong

đó có những nội dung khác với đánh giá công chức là: cán bộ phải đánh giá năng lực lãnh đạo, điều hành, tổ chức thực hiện nhiệm vụ; tinh thần trách nhiệm trong công tác; kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao Còn đánh giá công chức gồm 6 nội dung đánh giá Điểm khác với đánh giá cán bộ là việc đánh giá công chức gắn với năng lực, trình độ chuyên môn nghiệp vụ; tiến độ và kết quả thực hiện nhiệm vụ; tinh thần trách nhiệm và phối hợp trong thực hiện nhiệm vụ; thái độ phục vụ nhân dân

Việc áp dụng hình thức kỷ luật đối với cán bộ cũng khác với công chức Cán bộ có 4 hình thức kỷ luật (khiển trách, cảnh cáo, cách chức, bãi nhiệm), còn công chức có 6 hình thức kỷ luật (khiển trách, cảnh cáo, hạ bậc lương, giáng chức, cách chức, buộc thôi việc)

1.1.1.2 Phân loại

7

Trang 16

Cán bộ là những người được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ đối với các cơ quan, tổ chức, đơn vị ở cấp trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện Riêng với cán bộ cấp xã thì chỉ được bầu cử không có chế độ phê chuẩn hay bổ nhiệm do đó việc phân loại cán bộ được căn cứ vào phạm vi hoạt động cụ thể như sau:

Cán bộ hoạt động trong cơ quan nhà nước như: Tổng kiểm toán nhà nước là người đứng đầu Kiểm toán nhà nước; thống đốc ngân hàng nhà nước

Cán bộ hoạt động trong cơ quan của Đảng cộng sản Việt Nam ở cấp ủy như: bí thư, các phó bí thư tỉnh ủy, huyện ủy

Cán bộ hoạt động trong hệ thống chính quyền: chủ tịch, phó chủ tịch UBND các cấp

1.1.2 Công chức

1.1.2.1 Khái niệm

Khái niệm công chức gắn liền với sự ra đời công chức ở các nước tư bản phương Tây Từ nửa cuối thế kỷ XIX tại nhiều nước đã thực hiện chế độ công chức, do vậy đội ngũ công chức đã, đang và sẽ luôn tồn tại cùng với sự ra đời và phát triển của Nhà nước Dưới cách hiểu chung: "Công chức là những công dân được tuyển dụng vào làm việc thường xuyên trong cơ quan Nhà nước, do ngân sách Nhà nước trả lương", mỗi quốc gia trên thế giới đều xây dựng cho mình những khái niệm công chức riêng phù hợp với quan niệm về hoạt động công vụ, chế độ chính trị, văn hóa và lịch sử phát triển của mình

Nền công vụ truyền thống Pháp quy định về công chức khá rõ ràng Điều 2 Chương II, Quy chế chung về công chức Nhà nước của Pháp năm 1994 xác định: Công chức là người được bổ nhiệm vào một công việc thường xuyên với thời gian làm việc trọn vẹn và được biên chế vào một ngạch trong thứ bậc của các cơ quan hành chính Nhà nước, các cơ quan ngoại biên hoặc các công sở Nhà nước và trên thực tế những năm gần đây, một khái niệm về công chức khác được thừa nhận rộng rãi ở nước Pháp là: Công chức bao gồm toàn bộ những người được Nhà nước hoặc cộng đồng lãnh thổ (công xã, tỉnh, vùng) bổ nhiệm vào làm việc thường xuyên trong một công sở hay công sở tự quản, kể cả các bệnh viện và được biên chế vào một ngạch của nền hành chính công Theo cách hiểu này, công chức Pháp

8

Trang 17

gồm 3 loại: Công chức hành chính Nhà nước, công chức trực thuộc cộng đồng lãnh thổ và công chức trực thuộc các công sở tự quản

Ở Anh, khái niệm công chức chỉ bao hàm những nhân viên công tác trong ngành hành chính

Ở Mỹ, tất cả các nhân viên trong bộ máy hành chính của chính phủ đều được gọi chung là công chức, bao gồm những người được bổ nhiệm về chính trị (còn gọi là công chức chính trị), những người đứng đầu bộ máy độc lập và những quan chức của ngành hành chính Quan hệ giữa Chính phủ và công chức là quan

hệ giữa ông chủ và người làm thuê, ngoài việc điều chỉnh theo Luật hành chính, quan hệ này còn được điều chỉnh bằng hợp đồng dân sự

Thuật ngữ công chức theo Luật Công vụ năm 2006 của Trung Quốc chỉ những người thực hiện nhiệm vụ công theo luật định, là những người được tuyển dụng theo phân bổ biên chế trong bộ máy hành chính nhà nước, nhận lương và phúc lợi từ nguồn ngân sách nhà nước Luật xác định lại phạm vi của khái niệm công vụ bằng cách xóa bỏ sự khác biệt giữa cán bộ và công chức Với việc áp dụng định nghĩa mới này, tất cả nhân sự trong khu vực công: toàn bộ lực lượng lao động của Chính phủ, Đảng, Đại hội Đại biểu nhân dân, Hội nghị Hiệp thương Chính trị, các tổ chức tư pháp và kiểm sát, các tổ chức đảng phái dân chủ (tức là các tổ chức của 8 đảng phái dân chủ dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc) đều được gọi là công chức

Qua các nền hành chính phát triển trên có thể thấy, mỗi quốc gia đều xác định một phạm vi những người là công chức riêng Nhưng hầu hết công chức đều mang một số đặc điểm chung đó là: là công dân của một nước, được tuyển dụng, giao giữ một công việc thường xuyên trong cơ quan hành chính Nhà nước, được

bổ nhiệm vào một ngạch nhất định, làm việc trong công sở, chỉ được làm những gì pháp luật cho phép, trong biên chế và hưởng lương từ Ngân sách Nhà nước

Ở nước ta, khái niệm công chức được quy định lần đầu tiên tại Điều 1 của Sắc lệnh số 76/SL ngày 20 tháng 5 năm 1950 của Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hoà về Quy chế công chức, trong đó khái niệm công chức Việt Nam chỉ được xác định trong phạm vi ở các cơ quan của Chính phủ, đó là: Những công dân Việt Nam được chính quyền nhân dân tuyển để giữ một chức vụ thường xuyên

9

Trang 18

trong cơ quan Chính phủ, ở trong hay ở ngoài nước, đều là công chức theo quy chế này, trừ những trường hợp riêng biệt do Chính phủ quy định

Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật

Theo quy định này thì tiêu chí để xác định công chức gắn với cơ chế tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh Những người đủ các tiêu chí chung của CBCC mà được tuyển vào làm việc trong các cơ quan, đơn vị của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị

sự nghiệp công lập thông qua quy chế tuyển dụng (thi tuyển, xét tuyển), bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh thì được xác định là công chức Công chức là những người được tuyển dụng lâu dài, hoạt động của họ gắn với quyền lực công (hoặc quyền hạn hành chính nhất định) được cơ quan có thẩm quyền trao cho và chịu trách nhiệm trước cơ quan, tổ chức có thẩm quyền về việc thực hiện nhiệm

vụ, quyền hạn được giao Việc quy định công chức trong phạm vi như vậy xuất phát từ mối quan hệ liên thông giữa các cơ quan của Đảng, Nhà nước và tổ chức chính trị - xã hội trong hệ thống chính trị Đây là điểm đặc thù của Việt Nam, rất khác so với một số nước trên thế giới nhưng lại hoàn toàn phù hợp với điều kiện

cụ thể và thể chế chính trị ở Việt Nam

Bên cạnh đó, việc quy định công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của các đơn vị sự nghiệp công lập là phù hợp với Hiến pháp của Việt Nam, thể hiện được trách nhiệm của Nhà nước trong việc tổ chức cung cấp các dịch vụ công thiết yếu và cơ bản cho người dân, bảo đảm sự phát triển cân đối giữa các vùng, lãnh

10

Trang 19

thổ có mức sống chênh lệch, thực hiện mục tiêu dân chủ và công bằng xã hội Hiện nay, khi vai trò của Nhà nước đang được nhấn mạnh trong điều kiện kinh tế thị trường, nhằm khắc phục ảnh hưởng của suy thoái kinh tế tác động đến sự ổn định đời sống xã hội thì việc quy định công chức có trong bộ máy lãnh đạo, quản

lý các đơn vị sự nghiệp công lập lại càng có ý nghĩa và thể hiện chất trí tuệ của Luật CBCC 2008 Tuy nhiên, phạm vi công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý các đơn vị sự nghiệp công lập rộng hay hẹp còn tuỳ thuộc vào quy mô, phạm vi hoạt động của từng đơn vị sự nghiệp; vào cấp hành chính có thẩm quyền thành lập

Công chức trong các cơ quan của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, bộ máy lãnh đạo, quản lý đơn vị sự nghiệp công lập, lực lượng vũ trang đã được quy định cụ thể tại Nghị định số 06/2010/NĐ-CP ngày 25-01-2010 của Chính phủ và Thông tư 08/2011/TT-BNV ngày 02-6-2011 của Bộ Nội vụ hướng dẫn một số điều của Nghị định số 06/2010/NĐ-CP ngày 25-01-2010 của Chính phủ về việc quy định những người là công chức

Theo các quy định trên, công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng,

bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh, trong biên chế, hưởng lương từ ngân sách nhà nước hoặc được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật, làm việc trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội và bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị

sự nghiệp công lập Tuy nhiên, do đặc điểm của thể chế chính trị ở nước ta, mặc

dù đã phân định cán bộ và công chức theo các tiêu chí gắn với cơ chế hình thành nhưng điều đó cũng chỉ mang tính tương đối Giữa cán bộ và công chức vẫn có những điểm chồng lấn, lưỡng tính Với các quy định để phân biệt và xác định cán

bộ và công chức như trên, từ ngày 01 tháng 01 năm 2010, khoảng hơn 1,6 triệu người làm việc trong các đơn vị sự nghiệp công lập (đến thời điểm tháng 6-2012,

số lượng này đã là 1.710.273 người, trong đó ở Trung ương là 159.349 người; ở địa phương là 1.550.924 người) đã không thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật

về CBCC mà do Luật viên chức năm 2010 điều chỉnh Những người này được gọi

là viên chức Đây là những người mà hoạt động của họ nhằm cung cấp các dịch vụ

cơ bản, thiết yếu cho người dân như giáo dục, đào tạo, y tế, an sinh xã hội, hoạt

11

Trang 20

động khoa học, văn hóa, nghệ thuật, thể dục, thể thao Những hoạt động này không nhân danh quyền lực chính trị hoặc quyền lực công, không phải là các hoạt động quản lý nhà nước mà chỉ thuần tuý mang tính nghề nghiệp gắn với nghiệp

vụ, chuyên môn

Đối với công chức, do chịu sự điều chỉnh của cơ chế tuyển dụng, bổ nhiệm nên công chức còn phải chịu trách nhiệm trước cơ quan, tổ chức có thẩm quyền về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao Điểm này thể hiện trách nhiệm hành chính của công chức

Như vậy có thể khái quát, công chức là thuật ngữ được sử dụng để chỉ những người được tuyển dụng, bổ nhiệm giữ một công vụ thường xuyên, làm việc trong một cơ quan nhà nước (hoặc cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân hay Công an nhân dân mà không phải là sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng), được phân loại theo trình độ đào tạo, ngành chuyên môn, được xếp vào một ngạch hành chính, sự nghiệp, trong biên chế và được hưởng lương từ ngân sách nhà nước

Tóm lại, dù phạm vi của khái niệm công chức rộng hay hẹp, thì tầm quan trọng của lực lượng công chức đối với sự phát triển của nền công vụ nói riêng và của cả đất nước nói chung là không thể phủ nhận Vấn đề đặt ra là phải làm thế nào để nâng cao, đổi mới toàn diện chất lượng và hiệu quả làm việc của đội ngũ này, vì sự phát triển chung của toàn xã hội

Thực tiễn cho thấy, đội ngũ công chức HCNN có vai trò sau:

dựng đất nước Một đất nước có đội ngũ công chức HCNN đầy đủ phẩm chất chính trị, có trình độ chuyên môn và năng lực, có tinh thần trách nhiệm cao, sẵn

12

Trang 21

sàng cống hiến cho sự nghiệp xây dựng đất nước là một đất nước mạnh Bởi vì, đội ngũ công chức HCNN chính là lực lượng nòng cốt, luôn đóng vai trò chủ đạo thực hiện các nhiệm vụ quan trọng trong mỗi giai đoạn lịch sử của đất nước

nhiệm vụ hoạch định các chính sách, đưa các chính sách và thực hiện đường lối,

nhân dân, nắm bắt những yêu cầu thực tiễn của cuộc sống để phản ảnh kịp thời với cấp trên Giúp cho Đảng và Nhà nước đề ra được những chủ trương, chính sách sát với thực tiễn

- Đội ngũ công chức HCNN là nguồn nhân lực quan trọng có vai trò quyết định trong việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả của bộ máy HCNN, là một trong những nguồn nhân lực quan trọng trong việc thực hiện công cuộc CNH, HĐH đất nước

đường lối đổi mới kinh tế của đất nước, hoạch định các chính sách, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức QLNN và kiểm tra Điều này thể hiện rõ ở việc quản lý kinh tế vĩ mô Bởi vì, toàn bộ nền kinh tế quốc dân hoạt động trong môi trường, thể chế, định hướng nào đều là do công chức HCNN hoạch định và đội ngũ này là những người trực tiếp tạo môi trường, điều kiện về sử dụng công cụ kinh tế, thực lực kinh tế để tác động, quản lý, điều tiết nền kinh tế thị trường

Thực hiện đường lối đổi mới nền kinh tế, trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, vai trò của đội ngũ công chức HCNN càng trở nên quan trọng, bởi các lý

do sau đây:

quyết liệt, đòi hỏi càng nhiều phương án, quyết định quản lý và sự lựa chọn phương án tối ưu càng khó khăn, phức tạp hơn

mới càng trở nên quan trọng Các quyết định quản lý sâu sắc, lâu dài, có thể đem lại hiệu quả lớn, nhưng cũng có thể dẫn tới hậu quả nghiêm trọng Do đó, đối với công chức HCNN phải có trách nhiệm cao về chất lượng, về tính khoa học trong các quyết định quản lý

13

Trang 22

- Sự tăng nhanh khối lượng tri thức và độ phức tạp của cơ cấu tri thức, trong đó có tri thức kinh tế và quản lý kinh tế hiện đại, đặc biệt sự xuất hiện của

hệ thống thông tin mới, gồm cả thông tin quản lý đã và đang được mở rộng, đòi hỏi đội ngũ công chức HCNN phải có khả năng, trình độ để xử lý thông tin

- Hệ thống quản lý (gồm cơ cấu kinh tế, cơ chế quản lý, bộ máy quản lý) phải đổi mới để phù hợp với cơ chế thị trường cũng đòi hỏi đội ngũ công chức HCNN phải đổi mới về kiến thức, nghiệp vụ, kỹ năng quản lý và nâng cao trách nhiệm của mình

1.1.2.3 Đặc điểm của đội ngũ công chức

Đội ngũ công chức Việt Nam nói chung, đội ngũ công chức HCNN nói riêng, được hình thành và phát triển gắn liền với quá trình cách mạng nước ta, qua các thời kỳ khác nhau Ngoài những đặc điểm chung, do đặc thù nghề nghiệp, lĩnh vực công tác, đội ngũ công chức HCNN còn có một số đặc điểm riêng như sau:

trọng trong hệ thống chính trị do Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo Hệ thống chính trị ở Việt Nam bao gồm tổ chức Đảng, tổ chức chính trị xã hội, các đoàn thể quần chúng; hệ thống hành chính nhà nước và lực lượng vũ trang…Theo quy định hiện hành, những người đang làm việc trong hệ thống chính trị đều được coi là cán

bộ, công chức nhà nước, những người đang làm việc thuộc khối nhà nước là công chức HCNN (làm công tác QLNN)

trong hệ thống chính trị Chẳng hạn như cán bộ làm trong tổ chức của Đảng có thể luân chuyển sang làm việc trong cơ quan QLNN và ngược lại

Do đặc thù của lĩnh vực quản lý nhà nước là đa ngành, đa lĩnh vực, nên công chức HCNN ở mỗi ngành, mỗi lĩnh vực có đặc thù quản lý khác nhau Điều

đó được thể hiện qua một số đặc điểm của lao động công chức HCNN như sau:

gồm:

+ Công chức lãnh đạo, quản lý là những người thực hiện chức năng quản

lý, điều hành công việc của những công chức dưới quyền

14

Trang 23

+ Công chức chuyên môn, nghiệp vụ là những người thực hiện một công việc đòi hỏi có sự hiểu biết trong lĩnh vực chuyên môn mà người công chức đó được phân công

+ Công chức phục vụ (công chức thừa hành) là những người làm công tác chuẩn bị, thu thập tài liệu phục vụ cho lãnh đạo ra quyết định quản lý (như thư ký, nhân viên đánh máy, văn thư…)

+ Chuyên viên là công chức chuyên môn nghiệp vụ trong hệ thống QLNN

tổ chức quản lý một lĩnh vực hoặc một vấn đề nghiệp vụ được phân công

+ Chuyên viên chính là công chức chuyên môn nghiệp vụ trong hệ thống QLNN giúp lãnh đạo chỉ đạo quản lý một lĩnh vực nghiệp vụ

+ Chuyên viên cao cấp là công chức chuyên môn nghiệp vụ cao nhất của ngạch trong hệ thống QLNN, giúp lãnh đạo ngành (ở cấp vụ đối với lĩnh vực có nghiệp vụ và có độ phức tạp cao); giúp lãnh đạo Uỷ ban nhân dân tỉnh (trong các lĩnh vực tổng hợp) về chỉ đạo và quản lý lĩnh vực công tác đó

- Các yêu cầu về kỹ năng như kỹ thuật xử lý công việc, khả năng giao tiếp

và quan hệ phối hợp trong công tác, khả năng sử dụng các phương tiện kỹ thuật phục vụ trong công tác…

Tóm lại: Lao động của công chức HCNN là loại lao động trí tuệ phức tạp

trong hệ thống QLNN Vì trong QLNN, tổ chức thực hiện quản lý đa ngành, đa lĩnh vực; mỗi một ngành, một lĩnh vực có đặc thù riêng nên đòi hỏi đội ngũ công chức ở ngành, lĩnh vực đó phải có trình độ chuyên môn về ngành, lĩnh vực đó thì mới thực thi tốt nhiệm vụ, công vụ được giao Vì vậy, công chức HCNN khác với người lao động trong các đơn vị sự nghiệp và doanh nghiệp kinh doanh

1.1.2.4 Phân loại công chức

Việc phân loại công chức là yêu cầu tất yếu của công tác quản lý nguồn nhân lực Phân loại công chức HCNN cũng tuân theo các tiêu chí phân loại chung của cả đội ngũ công chức Phân loại công chức HCNN giúp cho việc xây dựng quy hoạch đào tạo công chức đúng đối tượng theo yêu cầu nội dung, công tác, đưa

ra những căn cứ cho việc xác định biên chế một cách hợp lý và là tiền đề cho việc

đề ra những tiêu chuẩn khách quan trong việc tuyển dụng công chức, xác định cơ

15

Trang 24

cấu tiền lương hợp lý Phân loại công chức còn giúp cho việc tiêu chuẩn hoá, cụ thể hoá việc sát hạch, đánh giá thực hiện công việc của công chức

ngũ cán bộ, công chức được phân thành 3 loại lớn

Thông thường việc phân loại công chức HCNN ở nước ta theo hệ thống chức nghiệp được thực hiện theo các tiêu chí như: vai trò vị trí, chuyên môn nghiệp vụ và trình độ đào tạo

Trong từng loại, lại có thể phân thành nhóm hay tiểu loại nhỏ hơn Chẳng hạn công chức HCNN phân theo các lĩnh vực: công chức quản lý hành chính, công chức quản lý kinh tế, công chức quản lý văn hoá, xã hội…Theo Nghị định số 117/2003/NĐ-CP ngày 10-10-2003 của Chính phủ về việc tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ, công chức trong các cơ quan nhà nước, tại Điều 4 của Nghị định này, đội ngũ công chức HCNN được phân loại như sau:

1 Phân loại theo trình độ đào tạo:

a) Công chức loại A là người được bổ nhiệm vào ngạch, yêu cầu trình độ đào tạo chuyên môn giáo dục đại học và sau đại học;

b) Công chức loại B là người được bổ nhiệm vào ngạch, yêu cầu trình độ đào tạo chuyên môn giáo dục nghề nghiệp;

c) Công chức loại C là người được bổ nhiệm vào ngạch, yêu cầu trình độ đào tạo chuyên môn dưới giáo dục nghề nghiệp

d) Công chức loại D là những công chức có trình độ đào tạo chuyên môn ở dưới bậc sơ cấp

2 Phân loại theo ngạch công chức:

a) Công chức ngạch chuyên viên cao cấp và tương đương trở lên;

b) Công chức ngạch chuyên viên chính và tương đương;

CÔNG CHỨC

CÔNG CHỨC HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC

(KHỐI QLNN) CÔNG CHỨC CÁC CƠ QUAN ĐẢNG, ĐOÀN THỂ; CÔNG CHỨC XÃ, PHƯỜNG, THỊ

TRẤN

CÔNG CHỨC THUỘC CÁC CƠ QUAN DÂN

CỬ, CƠ QUAN TƯ PHÁP VÀ LỰC LƯỢNG

VŨ TRANG

16

Trang 25

c) Công chức ngạch chuyên viên và tương đương;

d) Công chức ngạch cán sự và tương đương;

đ) Công chức ngạch nhân viên và tương đương

3 Phân loại theo vị trí công tác:

a) Công chức lãnh đạo, chỉ huy;

b) Công chức chuyên môn, nghiệp vụ

Ngoài ra, có thể phân loại công chức theo cấp hành chính và ngạch công chức, nhưng mỗi cấp cần xác định tỷ lệ cơ cấu ngạch công chức hợp lý so với yêu cầu công việc:

- Công chức cấp tỉnh, cấp huyện: Chuyên viên cao cấp, chuyên viên chính,

chuyên viên, cán sự và nhân viên;

- Công chức cấp xã: chuyên viên và cán sự

1.2 Cán bộ, công chức cấp huyện

1.2.1 Khái niệm cán bộ, công chức cấp huyện

Công chức cấp huyện là người đại diện của Nhà nước thực hiện chức năng quản lý nhà nước theo đúng chính sách và thẩm quyền được giao Công chức chính quyền cấp huyện là người hàng ngày được tiếp với dân, đưa chủ trương đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước vào cuộc sống và biến thành hành động cách mạng của quần chúng nhân dân

Công chức cấp huyện bao gồm:

- Công chức phòng Tư pháp - Hộ tịch

- Công chức phòng Văn hoá - Thông tin

- Công chức phòng Y tế

17

Trang 26

- Công chức Văn phòng HĐND và UBND

1.2.2 Vai trò cán bộ, công chức cấp huyện

Công chức cấp huyện là một bộ phận không thể thiếu trong cán bộ, công chức nước ta Mọi hoạt động của chính quyền cơ sở đều do công chức cấp huyện thực hiện Họ có một vị trí quan trọng trong hoạt động quản lý siêu hành ở cơ sở Vai trò của công chức cấp huyện thể hiện:

Một là, do địa bàn hoạt động, tính chất công việc và nhiệm vụ được giao nên người công chức cấp huyện phải thường xuyên tiếp xúc với nhân dân để triển khai thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước cũng như trực tiếp lắng nghe, tìm hiểu tâm tư, nguyện vọng của nhân dân địa phương Như vậy, công chức UBND huyện là mắt xích, là chất keo gắn kết nhân dân với Đảng và Nhà nước

Hai là, để thực hiện tốt các công việc của mình người công chức cấp huyện phải gương mẫu thực hiện sự chỉ đạo, hướng dẫn của cấp trên; có khả năng lĩnh hội và thẩm thấu chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước để tổ chức tuyên truyền, giải thích để nhân dân hiểu và thuyết phục nhân dân làm theo hay thi hành một cách nghiêm túc Về khía cạnh này, có thể nói người công chức cấp huyện không chỉ là người quản lý địa bàn mà còn phải đóng vai trò như một tuyên truyền viên tích cực Do đó chất lượng hoạt động của công chức cấp huyện ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu lực và hiệu quả của chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước khi đi vào cuộc sống

Ba là, do tính chất công việc và vị trí công tác nên người công chức cấp huyện phải đảm nhận quản lý mọi mặt hoạt động, nhiều lĩnh vực như: quản lý hành chính, lĩnh vực tài chính, đất đai, an ninh trật tự, tư pháp, văn hoá - xã hội…Vì thế, công chức cấp huyện không những quản lý tài sản của quốc gia mà còn đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, là “quan toà” trong việc giải quyết các khiếu kiện của nhân dân và giải quyết các tranh chấp trong thẩm quyền của mình

Trên thực tế, trong nhận thức và cả việc làm chúng ta vẫn còn có những ý niệm giản đơn về vị trí, vai trò của công chức cấp huyện, chưa thấy hết vai trò, tính phức tạp, tính quyết định của họ đối với hoạt động quản lý hành chính ở cơ

18

Trang 27

sở Người công chức hàng ngày cọ sát với thực tiễn rất phức tạp thuộc nhiều lĩnh vực nên họ cần phải có bản lĩnh, có nhiều kinh nghiệm và hiểu biết để làm việc, song họ lại ít được đào tạo, bồi dưỡng lý luận, nghiệp vụ và thông tin về chính sách pháp luật Việc chăm lo đời sống vật chất, tinh thần đối với họ cũng chưa tương xứng Thực tế này là một trong những nguyên nhân làm hạn chế năng lực trình độ quản lý điều hành của công chức cấp huyện

1.2.3 Tiêu chuẩn đối với cán bộ, công chức cấp huyện

Tiêu chuẩn công chức là vấn đề rất quan trọng trong công tác cán bộ Đó là

cơ sở để tiến hành tổ chức, xem xét, đánh giá, lựa chọn, bố trí, sắp xếp và sử dụng cán bộ; đó cũng là cơ sở để bản thân mỗi người công chức phấn đấu, tự rèn luyện, hoàn thiện mình

* Tiêu chuẩn chung:

Có tinh thần yêu nước sâu sắc, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; có năng lực tổ chức vận động nhân dân thực hiện có kết quả đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước ở địa phương

Cần, kiệm, liêm chính, chí công, vô tư, công tâm, thạo việc, tận tụy với dân,

kỷ luật trong công tác Trung thực, không cơ hội, gắn bó mật thiết với nhân dân, được nhân dân tín nhiệm

Có trình độ hiểu biết về lý luận chính trị, quan điểm, đường lối của Đảng,

lực và sức khỏe để làm việc có hiệu quả đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao

Công chức cấp huyện phải có trình độ chuyên môn phù hợp với yêu cầu vị

năm thứ tiếng Anh, Pháp, Nga, Trung, Đức

* Tiêu chuẩn cụ thể:

Tiêu chuẩn cụ thể của công chức cấp huyện là căn cứ để các địa phương thực hiện việc quy hoạch, kế hoạch, bầu cử, tuyển dụng, sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng, xếp lương, nâng bậc lương và các chế độ, chính sách khác Thông tư 06/2012/TT-BNV thì tùy theo chức danh chuyên môn, chức trách nhiệm vụ và căn cứ vào điều kiện thực tế của địa phương, Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định ngành đào tạo phù

19

Trang 28

hợp với yêu cầu nhiệm vụ của từng chức danh công chức cấp huyện Chẳng hạn, năm 2012 UBND tỉnh Nam Định tại thông báo số 253/TB-UBND ngày

thuộc tỉnh Nam Định năm 2012 đã quy định thí sinh tham gia dự tuyển vào các chức danh chuyên môn thuộc UBND cấp huyện đều phải có trình độ Đại học trở lên (trừ chức danh Chỉ huy trưởng Quân sự và Trưởng công an) như chức danh Tư

Thông tư 06/2012/TT-BNV thì phải có trình độ đào tạo chuyên môn tốt nghiệp từ Đại học trở lên, ngành hoặc chuyên ngành về Luật Tiêu chuẩn cụ thể của công chức cấp huyện được xác định theo từng chức vụ, chức danh cụ thể:

- Đối với công chức Nội vụ: Lý luận chính trị: Sau khi được tuyển dụng phải

được bồi dưỡng lý luận chính trị tương đương trình độ sơ cấp trở lên

Chuyên môn nghiệp vụ: có trình độ đại học Nội vụ hoặc các ngành tương đương trở lên và phải qua lớp bồi dưỡng nghiệp vụ tư pháp cấp huyện sau khi được tuyển dụng, sử dụng được kỹ thuật tin học trong công tác chuyên môn

- Đối với công chức Tài chính - Kế toán: Lý luận chính trị: Sau khi được

tuyển dụng phải được bồi dưỡng lý luận chính trị tương đương trình độ sơ cấp trở lên

Chuyên môn nghiệp vụ: có trình độ đào tạo chuyên môn từ đại học trở lên một trong các ngành Tài chính, kế toán, sử dụng được kỹ thuật tin học trong công

tác chuyên môn

- Đối với công chức Tư pháp - Hộ tịch: Lý luận chính trị: Sau khi được

tuyển dụng phải được bồi dưỡng lý luận chính trị tương đương trình độ sơ cấp trở

lên

Chuyên môn nghiệp vụ: có trình độ đại học Luật trở lên và phải qua lớp bồi dưỡng nghiệp vụ tư pháp cấp huyện sau khi được tuyển dụng, sử dụng được kỹ thuật tin học trong công tác chuyên môn

- Đối với công chức Tài nguyên và Môi Trường: Lý luận chính trị: Sau khi

được tuyển dụng phải được bồi dưỡng lý luận chính trị tương đương trình độ sơ cấp trở lên

20

Trang 29

Chuyên môn nghiệp vụ: có trình độ đại học Tài nguyên môi trường hoặc các ngành tương đương trở lên Sau khi được tuyển dụng phải qua bồi dưỡng về quản

lý đất đai, đo đạc bản đồ, quản lý hành chính Nhà nước, sử dụng được kỹ thuật tin học trong công tác chuyên môn

- Đối với công chức Văn phòng - Thống kê: Lý luận chính trị: Sau khi được

tuyển dụng phải được bồi dưỡng lý luận chính trị tương đương trình độ sơ cấp trở lên

Chuyên môn, nghiệp vụ: có trình độ đại học trở lên các ngành Văn thư, lưu trữ, Luật, Hành chính, quản trị văn phòng Sau khi được tuyển dụng phải qua bồi dưỡng quản lý hành chính Nhà nước (nếu chưa qua trung cấp hành chính), sử dụng được kỹ thuật tin học phục vụ công tác chuyên môn

- Đối với công chức Lao động - Thương binh xã hội: Lý luận chính trị: Sau

khi được tuyển dụng phải được bồi dưỡng lý luận chính trị tương đương trình độ

sơ cấp trở lên

Chuyên môn nghiệp vụ: có trình độ đại học về Lao động - xã hội trở lên Sau khi được tuyển dụng phải qua bồi dưỡng chuyên môn còn thiếu liên quan tới nhiệm vụ được giao Sử dụng thành thạo kỹ thuật tin học trong công tác chuyên môn

- Đối với công chức Công thương: Lý luận chính trị: Sau khi được tuyển

dụng phải được bồi dưỡng lý luận chính trị tương đương trình độ sơ cấp trở lên

Chuyên môn nghiệp vụ: có trình độ đại học Thương Mại hoặc cách ngành tương đương trở lên Sau khi được tuyển dụng phải qua bồi dưỡng chuyên môn còn thiếu liên quan tới nhiệm vụ được giao Sử dụng thành thạo kỹ thuật tin học trong công tác chuyên môn

- Đối với công chức Nông nghiệp và Phát triển nông thôn: Lý luận chính trị:

độ sơ cấp trở lên

Chuyên môn nghiệp vụ: có trình độ đại học Nông nghiệp hoặc các ngành tương đương Sau khi được tuyển dụng phải qua bồi dưỡng chuyên môn còn thiếu liên quan tới nhiệm vụ được giao Sử dụng thành thạo kỹ thuật tin học trong công tác chuyên môn

21

Trang 30

- Đối với công chức Văn hoá – Thông tin: Lý luận chính trị: Sau khi được

tuyển dụng phải được bồi dưỡng lý luận chính trị tương đương trình độ sơ cấp trở

lên

Chuyên môn nghiệp vụ: có trình độ đại học về Văn hoá nghệ thuật (chuyên ngành) hoặc đại học quản lý Văn hoá - Thông tin trở lên Sau khi được tuyển dụng phải qua bồi dưỡng chuyên môn còn thiếu liên quan tới nhiệm vụ được giao Sử dụng thành thạo các trang thiết bị phù hợp với ngành chuyên môn, phải sử dụng được kỹ thuật tin học trong công tác

- Đối với công chức Giáo dục và đào tạo: Lý luận chính trị: Sau khi được

tuyển dụng phải được bồi dưỡng lý luận chính trị tương đương trình độ sơ cấp trở

lên

Chuyên môn nghiệp vụ: có trình độ đại học về các ngành Sư phạm trở lên Sau khi được tuyển dụng phải qua bồi dưỡng chuyên môn còn thiếu liên quan tới nhiệm vụ được giao Sử dụng thành thạo các trang thiết bị phù hợp với ngành

chuyên môn, phải sử dụng được kỹ thuật tin học trong công tác

- Đối với công chức Y tế: Lý luận chính trị: Sau khi được tuyển dụng phải

được bồi dưỡng lý luận chính trị tương đương trình độ sơ cấp trở lên

Chuyên môn nghiệp vụ: có trình độ đại học về Y, Dược trở lên Sau khi được tuyển dụng phải qua bồi dưỡng chuyên môn còn thiếu liên quan tới nhiệm vụ được giao Sử dụng thành thạo các trang thiết bị phù hợp với ngành chuyên môn, phải

sử dụng được kỹ thuật tin học trong công tác

- Đối với công chức Thanh tra: Lý luận chính trị: Sau khi được tuyển dụng

phải được bồi dưỡng lý luận chính trị tương đương trình độ sơ cấp trở lên

Chuyên môn nghiệp vụ: có trình độ đại học Học viện hành chính nhà nước hoặc các ngành tương đương Sau khi được tuyển dụng phải qua bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ còn thiếu liên quan tới nhiệm vụ được giao Sử dụng thành

thạo kỹ thuật tin học trong công tác chuyên môn

- Đối với công chức Chỉ huy trưởng Quân sự huyện: Lý luận chính trị: Sau

Chuyên môn, nghiệp vụ: có trình độ tương đương đại học về quân sự của sĩ quan dự bị cấp phân đội trở lên Sau khi được tuyển dụng phải qua bồi dưỡng

22

Trang 31

quản lý hành chính Nhà nước về quốc phòng cấp huyện Sử dụng thành thạo trang, thiết bị phục vụ công tác chuyên môn

- Đối với công chức Trưởng Công an huyện: Lý luận chính trị: Sau khi được

tuyển dụng phải có trình độ trung cấp lý luận chính trị trở lên

Chuyên môn, nghiệp vụ: có trình độ tương đương đại học chuyên môn ngành

công an trở lên Sau khi được tuyển dụng phải qua bồi dưỡng quản lý hành chính Nhà nước Sử dụng thành thạo các trang thiết bị phù hợp với ngành chuyên môn

Riêng chức danh chuyên môn Trưởng Công an không được coi là công chức huyện vì lực lượng này đã được biên chế thành lực lượng công an chính quy thuộc biên chế hành chính theo quy định riêng của lực lượng Công an Chức danh này chỉ được áp dụng và tuyển dụng bố trí ở UBND xã, thị trấn

1.3 Chất lượng cán bộ, công chức cấp huyện

1.3.1 Khái niệm chất lượng cán bộ, công chức cấp huyện

Theo từ điển Việt thì “chất lượng” hiểu nghĩa chung nhất là “Cái tạo nên phẩm chất, giá trị, của mỗi con người, một sự vật, một sự việc” Đây là cách đánh

giá một con người, một sự vật, một sự việc trong cái đơn nhất, cái tính độc lập của

Đối với con người sống trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chất lượng của cá nhân đó được hiểu là tổng hợp những phẩm chất nhất định về sức khỏe, trí tuệ khoa học, chuyên môn nghề nghiệp, phẩm chất đạo đức, ý chí, niềm tin, năng lực; luôn gắn bó với tập thể, với cộng đồng và tham gia một cách tích cực vào quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Chất lượng công chức không hoàn toàn giống với chất lượng của các loại hàng hoá, dịch vụ, bởi con người là một thực thể phức tạp Theo Hồ Chí Minh, Người cho rằng người cán bộ, công chức có chất lượng thì phải hội đủ các tiêu

cách, phương pháp công tác tốt trong đó phẩm chất, đạo đức là yếu tố hàng đầu Khi đánh giá chất lượng công chức cấp huyện cần xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau:

23

Trang 32

Chất lượng công chức được thể hiện thông qua hoạt động của bộ máy chính quyền cấp huyện, ở việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của chính quyền cấp huyện

Chất lượng công chức được đánh giá dưới góc độ phẩm chất đạo đức, trình

độ năng lực và hiệu quả công tác và khả năng thực thi công vụ và hoàn thành chức trách nhiệm vụ được giao

Chất lượng của công chức là chỉ tiêu tổng hợp chất lượng của từng công chức Đối với công chức cấp huyện, ngoài việc đánh giá phẩm chất đạo đức phải đánh giá trình độ năng lực như: bằng cấp (kể cả ngoại ngữ và tin học), về chuyên môn, quản lý nhà nước, pháp luật; độ tuổi, sức khỏe; thâm niên công tác…và sự tín nhiệm của nhân dân địa phương

Chất lượng công chức còn được đánh giá dưới góc độ khả năng thích ứng, xử

lý các tình huống phát sinh trong quá trình thực thi chức trách nhiệm vụ được giao

Chính vì vậy, khi nói đến chất lượng của công chức UBND cấp huyện là nói đến tổng thể những phẩm chất và năng lực của người công chức đang công tác tại UBND cấp huyện, những phẩm chất và năng lực này thể hiện khả năng và kết quả hoàn thành nhiệm vụ của họ, mà cụ thể là thực hiện nhiệm vụ của UBND cấp huyện mà họ được phân công

Từ những góc độ khác nhau nêu trên, có thể đưa ra khái niệm chất lượng

công chức cấp huyện như sau: Chất lượng công chức cấp huyện là chỉ tiêu tổng hợp đánh giá phẩm chất đạo đức, trình độ, năng lực và khả năng thích ứng, thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ được giao của họ

Để đánh giá đúng thực trạng và đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng công chức cấp huyện cần xác định rõ tiêu chí đánh giá chất lượng công chức huyện

1.3.2 Tiêu chí đánh giá chất lượng công chức

Chất lượng của công chức được xác định trên cơ sở tiêu chí về phẩm chất chính trị đạo đức, năng lực, sức khỏe

1.3.2.1 Về phẩm chất chính trị, đạo đức

24

Trang 33

*Phẩm chất chính trị: là một yếu tố thuộc phạm trù ý thức hệ của con

người, thể hiện ở tư tưởng, nhận thức của mỗi cá nhân Phẩm chất chính trị là lòng nhiệt tình cách mạng, sự trung thành tuyệt đối với lý tưởng của Đảng, Chủ nghĩa

tộc của mỗi cán bộ, đảng viên, công chức Vì vậy, đối với công chức, việc xem xét phẩm chất chính trị được coi là tiêu chí quan trọng, hàng đầu để đánh giá chất lượng công chức Phẩm chất, bản lĩnh chính trị của công chức huyện thể hiện rõ nét ở sự kiên định mục tiêu và con đường xã hội chủ nghĩa, ý thức tuân thủ pháp luật mà cụ thể là lòng yêu nước, niềm tin vào lý tưởng cách mạng của Đảng, mức

độ hiểu biết và khả năng thực thi pháp luật của Nhà nước; khả năng đấu tranh chống lại các biểu hiện lệch lạc, sai trái trong đời sống xã hội đi ngược lại với đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước

Phẩm chất chính trị của công chức huyện còn phải được thể hiện qua việc thực thi công việc với tinh thần trách nhiệm cao nhất, tinh thần làm việc độc lập, sáng tạo, cầu tiến, ham học hỏi; không thờ ơ, bàng quang trước các vấn đề bức xúc của người dân, trăn trở trước những hạn chế, yếu kém, tiêu cực của một bộ phận CBCC trong bộ máy nhà nước; nêu gương, đi đầu trong việc chấp hành các chính sách, pháp luật của Nhà nước; dám đương đầu với khó khăn và chịu trách nhiệm trước pháp luật, trước cấp trên về những chức trách, nhiệm vụ được giao

*Phẩm chất đạo đức: đây là một phạm trù thuộc về hình thái ý thức xã hội,

là những quan niệm, quan điểm, tư tưởng của một cộng đồng người, một giai cấp, một dân tộc về chân, thiện, mỹ, về danh dự, trách nhiệm, tình thương, về tính

hội đối với những hành vi của cá nhân trong xã hội, đòi hỏi mỗi cá nhân phải ý thức được trách nhiệm bổn phận của mình đối với cá nhân khác và đối với xã hội

Phẩm chất đạo đức được Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng và đề cao khi đánh giá chất lượng CBCC Theo Người “cán bộ cách mạng phải có đạo đức cách mạng Phải giữ vững đạo đức cách mạng mới là người cán bộ cách mạng chân chính" Người đòi hỏi cán bộ phải giữ được đạo đức cách mạng, chỉ khi có đầy đủ đạo đức cách mạng thì cán bộ mới có đủ điều kiện làm cách mạng

25

Trang 34

Tiêu chí về đạo đức của người cán bộ được Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra hết sức cụ thể, đó là nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm; mỗi người cán bộ phải hội đủ các phẩm chất cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư Người so sánh bốn đức tính cần, kiệm, liêm, chính của người cán bộ như bốn mùa xuân, hạ, thu, đông của trời, như bốn phương đông, tây, nam, bắc của đất, thiếu một đức đó thì không thành người, cũng như thiếu một mùa không thành trời, thiếu một phương không thành đất Vì vậy, Người đòi hỏi người cán bộ phải giữ đạo đức để không trở nên hủ bại, không biến thành sâu mọt của nhân dân, mà phải là công bộc của nhân dân “Đạo đức cách mạng không từ trên trời sa xuống Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hàng ngày mà phát triển và củng cố Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong"

Công chức huyện là người trực tiếp hướng dẫn và giải quyết công việc hàng ngày của nhân dân địa phương; có nhiệm vụ tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện nghiêm chỉnh các chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, do vậy mỗi công chức khi thực thi nhiệm vụ, chức trách được giao phải thể hiện là người gương mẫu, tiên phong, là gương sáng để nhân dân noi theo, là chỗ dựa để nhân dân đặt niềm tin Vì vậy đạo đức cách mạng của công chức huyện phải thể hiện ở các mặt:

cực đấu tranh chống lại các biểu hiện tiêu cực như: tham nhũng, lãng phí, quan

pháp luật của Nhà nước, nội quy, quy chế làm việc của cơ quan; có ý thức tổ chức

kỷ luật; thi hành nhiệm vụ, công vụ theo đúng quy định của pháp luật

gắn bó mật thiết với nhân dân, được cơ quan, đơn vị, nhân dân tín nhiệm

dịch, cửa quyền, sách nhiễu, gây khó khăn, phiền hà đối với cơ quan tổ chức, cá nhân trong khi giải quyết công việc

- Tác phong làm việc khoa học, nghiêm túc; lời nói đi đôi với việc làm

26

Trang 35

- Có lối sống lành mạnh, giản dị, khiêm tốn, không bê tha, đoàn kết, dân chủ, chân tình với đồng nghiệp, gắn bó mật thiết với nhân dân, được nhân dân tín nhiệm

kiến của đồng nghiệp và những người xung quanh, lời nói phải đi đôi với việc làm

và phần lớn dựa trên quá trình đào tạo, hoạt động thực tiễn, tự rèn luyện cá nhân Năng lực của con người có nhiều cấp độ khác nhau, ở cấp độ cao thì đó là tài năng thiên tài Trong những điều kiện như nhau, những con người khác nhau có thể tiếp thu những kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo với nhịp độ khác nhau Có người tiếp thu nhanh chóng; có người phải tiếp thu nhiều thì giờ và sức lực; ở người này

có thể ở mức độ điêu luyện, ở người khác chỉ ở mức trung bình Khi xem xét bản chất năng lực, cần chú ý ba dấu hiệu cơ bản sau:

Năng lực là sự khác biệt nhau về phẩm chất tâm lý cá nhân là cho người này khác người kia

Năng lực là những khác biệt có liên quan đến hiệu quả của việc thực hiện một hoạt động nào đó chứ không phải bất cứ những khác biệt chung chung nào Năng lực không phải được đo bằng những kiến thức, kỹ năng và kỹ xảo đã được hình thành ở một người nào đó Năng lực chỉ làm cho việc tiếp thu các kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo trở nên dễ dàng hơn

Có thể hiểu, năng lực là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có

để thực hiện một hoạt động nào đó Năng lực là những phẩm chất tâm lý, sinh lý tạo cho con người có khả năng hoàn thành một hoạt động nào đó với chất lượng

27

Trang 36

cao Mỗi con người có khả năng trong một nhất định nào đấy có ích cho xã hội Nghiên cứu năng lực của con người là nghiên cứu sức lực dự trữ của con người trong lao động hay là tiềm năng của con người đối với lao động

Năng lực thể hiện ở chỗ con người làm việc tốn ít sức lực, ít thời gian, của cải, mà kết quả lại tốt Việc phát hiện ra năng lực của con người thường căn cứ vào những dấu hiệu sau: Sự hứng thú với những công việc nào đó; sự dễ dàng tiếp thu kỹ năng nghề nghiệp; hiệu suất lao động trong lĩnh vực nào đó

Năng lực có năng lực chung và năng lực chuyên môn, giữa chúng có mối quan hệ ảnh hưởng, tương hỗ lẫn nhau Năng lực chung cho phép con người có thể thực hiện có kết quả những hoạt động khác nhau như hoạt động học tập, lao động… Năng lực chuyên môn cho phép người ta làm tốt mọi công việc như âm nhạc, hội họa, toán học…

Năng lực con người thường gắn với sở thích của người ấy Năng lực không chỉ thể hiện trong những hoạt động lao động trí óc mà thể hiện cả những hoạt động thể lực Năng lực phát triển trong quá trình hoạt động Người trốn tránh hoạt động lao động trí óc cũng như lao động chân tay thì năng lực không thể phát triển được Đối với công chức cấp huyện, năng lực bao gồm những tố chất cơ bản về phẩm chất đạo đức, tinh thần phục vụ nhân dân, kiến thức pháp luật kinh tế, văn hóa xã hội, nắm vững đường lối chính sách của Đảng và nhà nước, thành thạo nghiệp vụ chuyên môn, kỹ thuật xử lý thông tin…để giải quyết vấn đề một cách khéo léo, hợp lòng dân, đảm bảo đúng quy định Công chức cấp huyện phải am hiểu công việc chuyên môn do mình phụ trách, có kinh nghiệm hoạt động thực tiễn, tâm huyết, chịu khó học hỏi, tích lũy kinh nghiệm Công chức phải có khả năng thu thập, chọn lọc thông tin, khả năng quyết định đúng đắn, kịp thời Vì vậy, nâng cao nhận thức, trình độ hiểu biết và năng lực tổ chức thực hiện cho công chức chính quyền cấp huyện là vấn đề quan trọng là cần thiết

Chính vì vậy, công chức huyện phải có đủ tri thức, năng lực, trình độ kiến thức nhất định Trong hệ thống tri thức thì ngoài tri thức văn hóa thì tri thức lý luận đóng vai trò nền tảng, trước hết là lý luận về chính trị - xã hội, quan điểm đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước Nắm vững tri thức lý luận là kim chỉ nam cho hoạt động của công chức Bên cạnh đó công chức phải có

28

Trang 37

trình độ chuyên môn nghiệp vụ nhất định đáp ứng yêu cầu công tác của lĩnh vực nghề nghiệp, cương vị công tác đảm nhiệm Trình độ chuyên môn nghiệp vụ giúp công chức có năng lực tổ chức thực hiện nhiệm vụ được giao

Trong thống kê lao động, người ta phân ra các nhóm sức khỏe sau:

+ Sức khỏe tốt: Những người đảm bảo chỉ tiêu về chiều cao, cân nặng và các chỉ tiêu về nhân trắc học khác, không mắc bênh mãn tính và bệnh nghề nghiệp + Sức khỏe khá: Những người đảm bảo chỉ tiêu về nhân trắc học ở mức độ thấp hơn so với loại tốt, đồng thời không mắc các bệnh nghề nghiệp

+ Sức khỏe trung bình: Những người có đủ sức khỏe, khả năng làm việc được những công việc nhất định và có hạn chế nhất định về nhân trắc học và có thể mắc một số bệnh tật

+ Sức khỏe kém: Những người gặp khó khăn về thể lực, tinh thần khi phải đảm nhận thực hiện một số công việc, các nhân số nhân trắc học hạn chế và mắc một số bệnh tật

Tiêu chí sức khoẻ đối với công chức không những là một tiêu chí chung, cần thiết cho tất cả cán bộ, công chức nhà nước, tuỳ thuộc vào những hoạt động đặc thù của từng loại công chức mà có thêm những yêu cầu tiêu chuẩn riêng về sức khoẻ Việc xây dựng tiêu chí phản ánh về sức khoẻ của công chức cần xuất phát từ yêu cầu cụ thể đối với hoạt động có tính đặc thù đối với từng loại công chức

Vì vậy, sức khỏe là một trong những tiêu chí quan trọng để đánh giá chất lượng công chức Yêu cầu sức khỏe là một trong những quy định bắt buộc khi

29

Trang 38

tuyển dụng công chức và được thực hiện trong suốt quá trình công tác của công

độ văn hoá, sức khoẻ chung của dân cư, sự phát triển của nền giáo dục quốc dân,

sự phát triển của sự nghiệp y tế trong việc chăm lo sức khoẻ cộng đồng, chất lượng của thị trường cung ứng lao động, sự phát triển của công nghệ thông tin, đường lối phát triển kinh tế, chính trị và quan điểm sử dụng đội ngũ cán bộ, công chức của Đảng, Nhà nước

Sự nghiệp CNH-HĐH đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế cũng là một yếu

tố khách quan Đó là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế - xã hội từ sử dụng lao động thủ công

là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến hiện đại dựa trên sự phát triển của khoa học công nghệ, tạo ra năng suất lao động cao Đó chính là quá trình lâu dài và là vấn

đề có tính cấp thiết đối với những nước đang phát triển nói chung và nước ta nói riêng

Những vấn đề trên được Đảng ta đưa ra chính là tiền đề cho quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Đảng ta đặc biệt nhấn mạnh đến vấn đề ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất, đẩy mạnh CNH-HĐH Điều đó chính là sự phản ánh một yêu cầu

cơ bản và bức xúc của công cuộc xây dựng, phát triển đất nước theo định hướng XHCN trong giai đoạn hiện nay Nếu không tập trung phát triển lực lượng sản xuất, đẩy mạnh CNH-HĐH thì không thể nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân, không thể xoá bỏ tình trạng nghèo nàn lạc hậu, để từng bước tạo dựng nền tảng vật chất, kỹ thuật, tạo ra sự chuyển biến về chất trên tất cả các lĩnh vực kinh tế - xã hội Thực tiễn cho thấy, sau 20 năm thực hiện đường lối đổi mới, bên cạnh những thành tựu trên các mặt chính trị, kinh tế - xã hội, nền kinh tế nước ta vẫn còn nhiều yếu kém Điểm yếu cơ bản là: trình độ sản xuất thấp, nhất là thiết

30

Trang 39

bị, công nghệ và năng lực quản lý còn lạc hậu, năng suất lao động thấp, giá thành sản phẩm cao, năng lực cạnh tranh kém Các loại hình dịch vụ tài chính, ngân hàng, khoa học công nghệ, tư vấn và dịch vụ sử dụng trí tuệ, chất xám còn yếu kém so với các nước trong khu vực và thế giới

Từ đó cho thấy, nền kinh tế nước ta hiện nay kém phát triển so với bối cảnh quốc tế và khu vực Đảng và Nhà nước ta đã đề ra mục tiêu, nhiệm vụ trọng tâm đẩy mạnh CNH-HĐH là vấn đề then chốt, là vấn đề bức xúc hiện nay của sự nghiệp phát triển đất nước, là nền móng cho tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế Đây là một sáng tạo của Đảng ta, khác với cách hiểu, cách làm của các nước đi trước Đó là cách vận dụng tối đa những điều kiện sẵn có, những điều kiện của thế giới ngày nay mà nổi bật là những thành tựu mới của khoa học và công nghệ trong quá trình phát triển kinh tế đất nước Đó là quá trình cùng với từng bước đi tuần

tự, đồng thời có những bước tiến nhảy vọt "đi tắt, đón đầu" trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của nước ta hiện nay Trong quá trình này, chúng ta huy động mọi nguồn lực: con người, tài nguyên, cơ sở vật chất, vốn, khoa học và công nghệ, năng lực quản lý, thông tin, trong đó nguồn lực con người là quan trọng và quyết định nhất; đồng thời tranh thủ tối đa và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực bên ngoài như: vốn, công nghệ, kinh nghiệm quản lý của các nước có nền kinh tế phát triển

Mặt khác, một vấn đề quan trọng là hệ thống chính trị phải không ngừng được củng cố, trưởng thành và vững mạnh toàn diện, đủ sức lãnh đạo, tổ chức thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH-HĐH đất nước; đẩy mạnh tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội Xét cho cùng, đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước là quá trình làm biến đổi trạng thái kinh tế, văn hoá - xã hội mà nội

dung cơ bản là:

công bằng lao động cơ khí hoá, tự động hoá; thực hiện công nghiệp hoá nông nghiệp nông thôn; tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu nền kinh tế

31

Trang 40

- Phát triển khoa học, kỹ thuật và công nghệ, có khả năng tiếp cận và vận dụng những thành tựu mới của khoa học - công nghệ mới, tạo ra diện mạo mới cho đất nước

quản lý và chính sách phân phối hợp lý tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh

tế và thực hiện công bằng xã hội trong các giai cấp và tầng lớp dân cư

đề phúc lợi xã hội như: học hành, khám chữa bệnh thuận lợi

Trong qúa trình hội nhập kinh tế quốc tế, nước ta đang tiếp nhận những vận hội lớn, đồng thời cũng đứng trước những nguy cơ và những thách thức lớn Sau

20 năm thực hiện đường lối đổi mới, bên cạnh những thành tích đã đạt được trên mọi mặt của đời sống xã hội, diện mạo của đất nước được đổi thay thì hiện tượng tiêu cực, quan liêu, tham nhũng, và các tệ nạn xã hội cũng tăng Sự thoái hoá biến chất của một bộ phận cán bộ, đảng viên đang là nỗi nhức nhối trong toàn Đảng, toàn dân Đó là rào cản không nhỏ cho tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế

Để thực hiện thắng lợi đường lối đổi mới xây dựng đất nước và hội nhập quốc tế, Đảng ta đã xác định đây là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, của cả hệ thống chính trị nhà nước, trong đó có vai trò quan trọng của đội ngũ cán bộ, công chức Chính đội ngũ này là người tham mưu, thực hiện các chính sách của Nhà nước và chỉ đạo thực hiện từng mục tiêu của đường lối, chiến lược phát triển kinh

tế - xã hội Đồng thời, họ chính là người tổ chức, quản lý quá trình thực hiện và gương mẫu thực hiện các mục tiêu đó

Vai trò quan trọng của đội ngũ cán bộ, công chức đối với sự nghiệp xây dựng đất nước và hội nhập quốc tế đã đặt ra việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán

bộ, công chức và coi đó là một yêu cầu tất yếu, khách quan, cần thiết và có tính cấp bách trong tình hình hiện nay Có thể nói rằng, không thể thực hiện CNH-HĐH và hội nhập kinh tế quốc tế thành công với một hệ thống cơ chế, chính sách quản lý lạc hậu, một nền hành chính cồng kềnh, kém hiệu quả, một đội ngũ cán

bộ, công chức chất lượng thấp, cơ cấu không hợp lý Như vậy, để góp phần quan trọng vào việc thực hiện CNH-HĐH và hội nhập kinh tế quốc tế thành công, phải

có một đội ngũ cán bộ, công chức chất lượng cao, đủ bản lĩnh chính trị, đủ phẩm

32

Ngày đăng: 12/12/2016, 15:17

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
9. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2003), Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân, Nxb Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân
Tác giả: Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 2003
11. Nghị quyết TW 3 (khoá VII), Nghị quyết TW 3, Nghị quyết TW 7 (khoá VIII), Nghị quyết số 13-NQ/TU về chiến lược cán bộ thời kì đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá cho cán bộ, công chức Sách, tạp chí
Tiêu đề: TW 3 (khoá VII), Nghị quyết TW 3, Nghị quyết TW 7 (khoá VIII), Nghị quyết số 13-NQ/TU
12. Giáo trình Quản lý hành chính nhà nước, khoa Nhà nước và pháp luật, Học viện báo chí và tuyên truyền Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý hành chính nhà nước, khoa Nhà nước và pháp luật
13. Phân viện Báo chí và Tuyên truyền (2003). Giáo trình các ngành luật cơ bản trong hệ thống pháp luật Việt Nam (quyển 1). Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình các ngành luật cơ bản trong hệ thống pháp luật Việt Nam (quyển 1)
Tác giả: Phân viện Báo chí và Tuyên truyền
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2003
16. Pháp lệnh cán bộ, công chức (1998) và Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung năm 2000, 2003.17. Nguồn Internet Sách, tạp chí
Tiêu đề: cán bộ, công chức (1998) và Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung năm 2000, 2003. "17. Nguồn
1. Bách khoa toàn thư mở Wikipedia, Khái niệm chính quyền ở Việt Nam Khác
2. Bộ Nội vụ (2004), Quyết định số 04/2004/QĐ-BNV ngày 16 tháng 01 năm 2004 về việc ban hành quy định tiêu chuẩn cụ thể đối với cán bộ công chức xã, phường, thị trấn Khác
3. Bộ Nội vụ (2012), Thông tư số 06/2012/TT-BNV ngày 30/10/2012 hướng dẫn về chức trách, tiêu chuẩn cụ thể, nhiệm vụ và tuyển dụng công chức xã, phường, thị trấn Khác
4. Chính phủ (2003), Nghị định số 114/2003/NĐ-CP ngày 10/10/2003 quy định về CBCC xã, phường, thị trấn Khác
5. Chính phủ (2003), Nghị định số 121/2003/NĐ-CP ngày 21/10/2003 về chế độ, chính sách đối với CBCC ở xã, phường, thị trấn Khác
6. Chính phủ - Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (2008), Nghị quyết liên tịch số 09/2008/NQLT-CP-UBTWMTTQVN ngày 17/4/2008 hướng dấn thi hành các điều 11, điều 14, điều 16, điều 22 và điều 26 của Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn Khác
7. Chính phủ (2009), Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009 chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với CBCC ở xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cơ sở Khác
8. Chính phủ, Nghị định số 06/2010/NĐ-CP ngày 25-01-2010 của Chính phủ và Thông tư 08/2011/TT-BNV ngày 02-6-2011 của Bộ Nội vụ hướng dẫn một số điều của Nghị định số 06/2010/NĐ-CP ngày 25-01-2010 của Chính phủ về việc quy định những người là công chức Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.2. Cơ cấu công chức huyện theo giới - Phân tích và đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng cán bộ, công chức huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định
Bảng 2.2. Cơ cấu công chức huyện theo giới (Trang 53)
Bảng 2.3. Thống kê công chức đứng trong hàng ngũ Đảng - Phân tích và đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng cán bộ, công chức huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định
Bảng 2.3. Thống kê công chức đứng trong hàng ngũ Đảng (Trang 54)
Bảng 2.4. Trình độ lý luận chính trị của công chức huyện - Phân tích và đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng cán bộ, công chức huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định
Bảng 2.4. Trình độ lý luận chính trị của công chức huyện (Trang 56)
Bảng 2.5. Tổng hợp kết quả tự đánh giá về phẩm chất đạo đức chính trị của - Phân tích và đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng cán bộ, công chức huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định
Bảng 2.5. Tổng hợp kết quả tự đánh giá về phẩm chất đạo đức chính trị của (Trang 56)
Bảng 2.6. Trình độ chuyên môn công chức huyện giai đoạn 2011 - 2015 - Phân tích và đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng cán bộ, công chức huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định
Bảng 2.6. Trình độ chuyên môn công chức huyện giai đoạn 2011 - 2015 (Trang 58)
Bảng 2.7. Trình độ chuyên môn công chức huyện theo từng chức danh công việc - Phân tích và đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng cán bộ, công chức huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định
Bảng 2.7. Trình độ chuyên môn công chức huyện theo từng chức danh công việc (Trang 60)
Bảng 2.8. Tổng hợp trình độ tin học - ngoại ngữ công chức huyện - Phân tích và đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng cán bộ, công chức huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định
Bảng 2.8. Tổng hợp trình độ tin học - ngoại ngữ công chức huyện (Trang 61)
Bảng 2.9. Tổng hợp kết quả tự đánh giá về các kỹ năng của CBCC huyện - Phân tích và đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng cán bộ, công chức huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định
Bảng 2.9. Tổng hợp kết quả tự đánh giá về các kỹ năng của CBCC huyện (Trang 62)
Bảng 2.10. Số ngày nghỉ ốm trong năm của CBCC huyện Nghĩa Hưng - Phân tích và đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng cán bộ, công chức huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định
Bảng 2.10. Số ngày nghỉ ốm trong năm của CBCC huyện Nghĩa Hưng (Trang 64)
Bảng 2.11. Kết quả kiểm tra sức khỏe của CBCC huyện Nghĩa Hưng - Phân tích và đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng cán bộ, công chức huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định
Bảng 2.11. Kết quả kiểm tra sức khỏe của CBCC huyện Nghĩa Hưng (Trang 65)
Bảng 2.12. Tổng hợp kết quả tự đánh giá về sức khỏe của CBCC - Phân tích và đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng cán bộ, công chức huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định
Bảng 2.12. Tổng hợp kết quả tự đánh giá về sức khỏe của CBCC (Trang 66)
Bảng 2.13. Tuyển công chức cấp huyện giai đoạn 2012-2013 - Phân tích và đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng cán bộ, công chức huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định
Bảng 2.13. Tuyển công chức cấp huyện giai đoạn 2012-2013 (Trang 67)
Bảng 2.14. Kết quả tuyển dụng phân theo chỉ tiêu giai đoạn 2012-2013 - Phân tích và đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng cán bộ, công chức huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định
Bảng 2.14. Kết quả tuyển dụng phân theo chỉ tiêu giai đoạn 2012-2013 (Trang 68)
Hình thức tuyển dụng công chức đã được Luật định rõ ràng, cụ thể vì vậy để  thay đổi nội dung này cần phải đề nghị điều chỉnh luật - Phân tích và đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng cán bộ, công chức huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định
Hình th ức tuyển dụng công chức đã được Luật định rõ ràng, cụ thể vì vậy để thay đổi nội dung này cần phải đề nghị điều chỉnh luật (Trang 71)
BẢNG CÂU HỎI KHẢO SÁT CHẤT LƯỢNG CÁN BỘ CÔNG CHỨC - Phân tích và đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng cán bộ, công chức huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định
BẢNG CÂU HỎI KHẢO SÁT CHẤT LƯỢNG CÁN BỘ CÔNG CHỨC (Trang 103)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w