Luận văn “Kinh tế - xã hội thành phố Uông Bí Quảng Ninh từ năm 1986 đến năm 2013” của tác giả Trịnh Thị Thu, Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên, 2015 đã nghiên cứu một cách tương đố
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM –––––––––––––––––––
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM –––––––––––––––––––
LUẬN VĂN THẠC SĨ NHÂN VĂN
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS HÀ THỊ THU THỦY
THÁI NGUYÊN - 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi, được sự hỗ trợ của giáo viên hướng dẫn là PGS.TS Hà Thị Thu Thủy Các nội dung nghiên cứu và kết quả trong đề tài này là trung thực và chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nghiên cứu nào trước đây Những số liệu, nhận xét đánh giá được tác giả thu thập từ các nguồn khác nhau có trích dẫn nguồn tài liệu tham khảo Nếu có phát hiện bất kỳ gian lận nào tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước Hội đồng, cũng như kết quả luận văn của mình
Thái Nguyên, tháng 8 năm 2016
Tác giả luận văn
Nguyễn Trung Dũng
Xác nhận của Trưởng khoa chuyên môn
Xác nhận của người hướng dẫn khoa học
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới tất cả thầy cô giáo trong khoa Lịch sử - trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên, những người đã giảng dạy tôi trong suốt hai năm học vừa qua và giúp tôi hoàn thành nghiên cứu để hoàn thiện đề tài
Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến PGS.TS Hà Thị Thu Thủy đã trực tiếp hướng dẫn, định hướng chuyên môn, quan tâm giúp đỡ tận tình và tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất trong quá trình nghiên cứu và hoàn thiện luận văn Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn tới các cơ quan đoàn thể của thành phố Uông Bí đã cung cấp tài liệu, tạo điều kiện cho tôi hoàn thành luận văn Bên cạnh đó, tôi gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban giám hiệu và các thầy cô đồng nghiệp ở trường Đại học Hạ Long đã giúp đỡ tôi trong suốt thời gian làm luận văn
Luận văn này là kết quả bước đầu của quá trình nghiên cứu khoa học, song do điều kiện năng lực và thời gian còn hạn chế, đề tài nghiên cứu không tránh khỏi những sơ suất, thiếu sót Rất mong được sự đóng góp, bổ sung của các thầy cô và các bạn để công trình thêm hoàn thiện
Thái Nguyên, tháng 8 năm 2016
Tác giả luận văn
Nguyễn Trung Dũng
Trang 5MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục bảng biểu iv
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3
3 Mục đích, đối tượng, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu 6
4 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu 7
5 Đóng góp của luận văn 9
6 Bố cục của luận văn 9
Chương 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 10
1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 10
1.2 Khái quát về thành phố Uông Bí 12
1.2.1 Vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên 12
1.2.2 Tên gọi và những thay đổi về mặt hành chính 16
1.2.3 Đặc điểm dân cư và truyền thống lịch sử 19
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 23
Chương 2: THỊ XÃ UÔNG BÍ TỪ NĂM 1961 ĐẾN NĂM 1986 24
2.1 Thị xã Uông Bí hình thành 24
2.2 Sự phát triển của thị xã Uông Bí từ năm 1961 đến năm 1986 25
2.2.1 Quá trình tập trung dân cư đô thị 25
2.2.2 Đầu tư hạ tầng và cơ sở vật chất, kĩ thuật 25
2.2.3 Tình hình kinh tế - xã hội 28
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 38
Trang 6Chương 3: THỊ XÃ UÔNG BÍ TỪ NĂM 1986 ĐẾN NĂM 2014 39
3.1 Về quá trình tập trung dân cư đô thị 39
3.2 Đầu tư hạ tầng và cơ sở vật chất, kĩ thuật 42
3.3 Sự hình thành các cơ sở thương mại, dịch vụ và du lịch 45
3.4 Tình hình kinh tế - xã hội 48
3.4.1 Về kinh tế 48
3.4.2 Về xã hội 58
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 69
Chương 4: ĐẶC ĐIỂM VÀ VAI TRÒ CỦA ĐÔ THỊ UÔNG BÍ (1961 - 2014) 70
4.1 Đặc điểm của quá trình hình thành và phát triển 70
4.2 Vai trò của đô thị Uông Bí 73
4.2.1 Thúc đẩy sự phát triển kinh tế của đô thị 73
4.2.2 Làm thay đổi bộ mặt xã hội và đời sống dân cư đô thị 79
TIỂU KẾT CHƯƠNG 4 85
KẾT LUẬN 86
TÀI LIỆU THAM KHẢO 90 PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Tài nguyên khoáng sản ở thành phố Uông Bí 15 Bảng 2.1 Kết quả xây dựng kết cấu hạ tầng từ năm 1965 đến năm 1990 27 Bảng 3.1 Dân số trung bình phân theo phường xã từ năm 2000 đến năm 2014 40 Bảng 3.2 Dân số trung bình phân theo Thành thị và Nông thôn từ năm
2000 đến năm 2005 41 Bảng 3.3 Cơ cấu dân số thành phố qua các năm từ 2010 đến 2012 41 Bảng 3.4 Vốn đầu tư cơ bản xây dựng từ năm 2000 đến năm 2005 43 Bảng 3.5 Vốn đầu tư thực hiện theo giá hiện hành phân theo nguồn vốn từ
năm 2008 đến năm 2014 44 Bảng 3.6 Giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn thành phố(2000 - 2005) 57 Bảng 3.7 Thống kê ngành học phổ thông giai đoạn 2000 - 2013 59 Bảng 3.8 Thống kê lao động làm việc trong các ngành kinh tế(2000 - 2005) 65 Bảng 3.9 Số lao động được tạo việc làm phân theo thành thị và nông thôn
(2006 - 2014) 65 Bảng 3.10 Thu nhập bình quân trên đầu người giai đoạn 2000 - 2005 67
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Việc xây dựng và phát triển mạng lưới đô thị đóng vai trò quan trọng trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta hiện nay Có thể nói, đô thị là một hình thức quần cư đặc biệt của xã hội loài người, là một tổ chức không gian cư trú, sinh sống tập trung với mật độ dân số cao của cộng đồng người hoạt động kinh tế chủ yếu trong lĩnh vực phi nông nghiệp Theo Luật quy
hoạch đô thị của Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam (năm 2009) thì “Đô thị là
khu vực tập trung dân cư sinh sống có mật độ cao và chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực kinh tế phi nông nghiệp, là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hóa hoặc chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ, một địa phương bao gồm nội thành, ngoại thành của thành phố, nội thị, ngoại thị của thị xã, thị trấn ” Đô thị
được phân thành 6 loại gồm loại đặc biệt, loại I, loại II, loại III, IV và V theo các tiêu chí cơ bản sau: 1 Vị trí, chức năng, vai trò, cơ cấu và trình độ phát triển kinh tế, xã hội của đô thị 2 Quy mô dân số 3 Mật độ dân cư 4 Tỉ lệ lao động phi nông nghiệp 5 Trình độ phát triển cơ sở hạ tầng Ở nước ta hiện nay, quá trình hình thành và phát triển của các đô thị đang diễn ra mạnh mẽ Điều này thể hiện sự phát triển nhanh, mạnh của bộ mặt kinh tế nước nhà Tuy nhiên, bên cạnh mặt tích cực của quá trình đô thị hóa thì đi kèm với nó cũng là những
hệ lụy đòi hỏi Đảng, Nhà nước và xã hội giải quyết
Thành phố Uông Bí hiện nay là một trong số 5 thành phố nằm trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh - tỉnh duy nhất trong cả nước có 5 thành phố Trở thành thị xã
từ khá sớm, Uông Bí hội tụ đầy đủ những điều kiện cho sự ra đời một trung tâm kinh tế - chính trị - văn hóa, xă hội của tỉnh Quảng Ninh Nơi đây là một trong những khu vực có tiềm năng lớn về vị trí địa lí (nằm ở phía Tây của tỉnh, là cửa ngõ nối giữa tỉnh Quảng Ninh với các tỉnh khác như Hải Phòng, Bắc Giang, Hải Dương…), có nguồn tài nguyên thiên nhiên dồi dào (đặc biệt là than phục
vụ cho 2 ngành công nghiệp than và điện) Nơi đây có nhiều thắng cảnh du lịch
Trang 9như: Hồ Yên Trung, Lựng Xanh, Chùa Ba Vàng đặc biệt có khu di tích, danh thắng Yên Tử nổi tiếng trong cả nước Trong lịch sử phát triển của mình, thị xã Uông Bí luôn được Đảng, Nhà nước quan tâm đầu tư xây dựng, phục vụ đắc lực cho sự nghiệp đi lên Chủ nghĩa xã hội của đất nước, là hậu phương vững chắc cho tiền tuyến lớn miền Nam trong thời kì kháng chiến chống Mĩ cứu nước Sau khi đất nước được hoàn toàn giải phóng, đặc biệt là sau đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (tháng 12/1986), cùng với những chuyển biến lớn lao về kinh tế - xã hội của đất nước, thị xã cũng không ngừng lớn mạnh và phát triển, trở thành một trong những đô thị lớn của tỉnh Quảng Ninh Tính đến thời điểm nâng cấp lên đô thị loại II vào tháng 11 năm 2013, so với bộ tiêu chí phân loại
đô thị của Chính phủ, Uông Bí đã đạt 85,45/100 điểm, đáp ứng đủ tiêu chí đô thị loại II Trong đó có không ít chỉ tiêu cơ bản Uông Bí thực hiện vượt từ 2 đến 3 lần so với chuẩn, như: Tổng thu ngân sách, mức tăng trưởng kinh tế hàng năm, số cơ sở y tế, diện tích đất giao thông/dân Riêng tỷ lệ hộ nghèo thấp hơn chuẩn trên 4 lần Đó là những thành công vượt bậc của Uông Bí trong hành trình nâng cấp đô thị Trong công cuộc phát triển kinh tế, Uông Bí vẫn luôn đạt mức tăng trưởng cao và ổn định Số thu ngân sách tăng đều qua các năm, tổng
5 năm (2010-2014) tốc độ tăng trung bình thu ngân sách nhà nước trên địa bàn
từ 13,8% Mặc dù những năm qua, tình hình kinh tế khó khăn nhưng bình quân mỗi năm, thu ngân sách địa phương đạt 500 tỷ đồng Tổng mức đầu tư toàn xã hội trên địa bàn thành phố trong 5 năm (2010-2014) đạt trên 21.495 tỷ đồng Thu hút vốn đầu tư và phát triển các thành phần kinh tế; hoạt động thu hút vốn đầu tư và cải thiện môi trường đầu tư đã được đặc biệt chú trọng Phát huy thế mạnh du lịch, dịch vụ, Uông Bí cũng đã đầu tư, mở rộng nhiều dịch vụ, phát triển khu du lịch tâm linh như: Khu di tích Yên Tử, chùa Ba Vàng… góp phần thu hút đông đảo du khách, tạo nguồn thu lớn cho địa phương…
Trong những năm qua, cũng đã có khá nhiều nghiên cứu về qúa trình đô thị hóa ở trong cũng như ở ngoài nước, từ nông thôn đến thành thị, với nhiều
Trang 10cách tiếp cận khác nhau Tuy nhiên, lại chưa có nghiên cứu nào về quá trình đô thị hóa dưới góc độ lịch sử diễn ra tại thành phố Uông Bí - tỉnh Quảng Ninh
Chính vì vậy, tác giả chọn nghiên cứu vấn đề “ Đô thị Uông Bí - tỉnh Quảng Ninh, quá trình hình thành và phát triển (1961 - 2014)” làm luận văn thạc sĩ
của mình
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Các nghiên cứu về đô thị ở Việt Nam
Với tầm quan trọng của mình, các đô thị là đối tượng nghiên cứu của nhiều nhà khoa học cả trong và ngoài nước
Trước hết phải kể đến một số các công trình nghiên cứu khá chuyên sâu về
đô thị cổ ở Việt Nam của các nhà sử học ở trong và ngoài nước đã được công
bố như cuốn sách Đô thị cổ Việt Nam (1989) của nhiều tác giả, Viện sử học
Trong đó có nhiều bài nghiên cứu về Hoa Lư, Hội An, Vân Đồn… Hay tác
phẩm Đô thị Việt Nam (1995) của Giáo sư Đàm Trung Phương đã đánh dấu bước phát triển trong quá trình nghiên cứu về đô thị hóa Công trình Đô thị hóa
và chính sách phát triển đô thị trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam
(1998) của tác giả Trần Ngọc Hiên, Trần Văn Chử đồng chủ biên Các tác phẩm đã được xuất bản của nhà xuất bản Xây dựng như: PGS.TS Đỗ Hậu
(2010), Quản lí đất đai và bất động sản đô thị, Nxb Xây dựng Võ Kim Cương (2010), Chính sách đô thị, Nxb Xây dựng TS Doãn Hồng Nhung (2010), Hoàn
thiện pháp luật và quy hoạch đô thị ở việt Nam, Nxb Xây dựng KTS Lê Phục
Quốc (2010), Quy hoạch đô thị theo đạo lí châu Á, Nxb Xây dựng Võ Thị Quốc Khánh (2011), Quy hoạch và kĩ thuật xây dựng đô thị, Nxb Xây dựng
Nhiều luận văn, luận án nghiên cứu về đô thị như: Luận án Tiến sĩ của tác
giả Nguyễn Thị Thùy với đề tài “Qúa trình đô thị hóa ở thành phố Hồ Chí
Minh từ năm 1975 - 1996” Luận văn Thạc sĩ Lịch sử của tác giả Lê Thị Thu
Hằng “Quá trình đô thị hóa ở thành phố Biên Hòa tỉnh Đồng Nai giai đọan
1986 - 2005” Luận văn thạc sĩ Lịch sử của tác giả Dương Ngọc Hải với đề tài
“Quá trình đô thị hóa ở thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương (1997 -
2012)” Tác giả Nguyễn Thị Thuận với luận văn “Phân tích quá trình đô thị hóa
Trang 11thành phố Tuyên Quang giai đoạn 2000 - 2010”, Đại học sư phạm - ĐHTN, 2010;
tác giả Lê Hồng Kế với đề tài “Phân bố dân cư trong quá trình đô thị hóa trên cơ
sở chuyển dịch cơ cấu kinh tế thời 2001 - 2020”, Đề tài độc lập cấp nhà nước, Bộ
Khoa học - Công nghệ - Bộ xây dựng - Viện Quy hoạch đô thị nông thôn
Nghiên cứu một đô thị cụ thể trong từng giai đoạn cụ thể cũng đã được các nhà nghiên cứu đi sâu tìm hiểu: Năm 2011 tác giả Phạm Thị Tuyết bảo vệ thành
công luận án tiến sĩ “Đô thị Hải Dương thời kì thuộc địa (1883 - 1945)” Tác giả
đã tập trung nghiên cứu về quá trình hình thành và phát triển của đô thị Hải Dương trong các giai đoạn từ năm 1883 đến năm 1945 Tác giả Nguyễn Duy
Thanh với luận văn “Đô thị Vĩnh Yên: Quá trình hình thành và các giá trị đặc
trưng” (Đại học sư phạm - đại học Thái Nguyên, 2014) cũng đã nghiên cứu về quá
trình hình thành, phát triển và các giá trị đặc trưng của đô thị Vĩnh Yên từ khi thành lập
Nghiên cứu về đô thị, các nhà khoa học đã nghiên cứu trên nhiều lĩnh vực như quá trình hình thành và phát triển, tình hình phân bố dân cư, hệ thống cơ sở
hạ tầng, mạng lưới giao thông Các tác phẩm được xuất bản hoặc đăng tải trên tạp chí Khoa học và Công nghệ
Các nghiên cứu về thành phố Uông Bí
Ở Quảng Ninh, có nhiều công trình nghiên cứu về quá trình hình thành, phát triển trên các lĩnh vực của tỉnh Từ năm 1941, tác giả Paul Munier có bài
viết “Tham quan vùng đất đen”, được đăng trong Tập san Đông Dương
Indochine (số 59), tr 2 - 4 Năm 1991, tác giả Hồng Hải cho ra đời tác phẩm
“Quảng Ninh tiềm năng và triển vọng” (NXB Sự thật, Hà Nội) Ngoài ra còn có các tác phẩm “Lịch sử công nhân khu mỏ than Quảng Ninh 1820 - 1975” của
Ban tuyên giáo Tỉnh ủy Quảng Ninh (1996), các tác giả đã dày công nghiên cứu về lịch sử công nhân các khu mỏ than ở Quảng Ninh Đặc biệt, năm 2001,
2002, 2003, Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh đã cho ra đời công trình nghiên
cứu Địa chí Quảng Ninh, NXB Thế giới Đây là công trình nghiên cứu thể hiện
quy mô lớn khi nghiên cứu về mọi mặt từ vị trí địa lí, tài nguyên thiên nhiên, lịch sử phát triển, tình hình kinh tế, chính trị, xã hội… của tỉnh và các địa
Trang 12phương trong tỉnh Quảng Ninh Ngoài ra còn có một số công trình nghiên cứu
là luận văn, luận án nghiên cứu về đô thị và quá trình đô thị hóa ở tỉnh Quảng
Ninh, tiêu biểu có tác giả Phan Doãn Thức với luận văn “Một số giải pháp
quản lí nhà nước các dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng khu đô thị tỉnh Quảng Ninh", Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh - ĐHTN, 2012
Các công trình nghiên cứu về thành phố Uông Bí, tiêu biểu có cu ốn
“Thị xã Uông Bí 30 năm chiến đấu xây dựng và trưởng thành” do Ban chấp
hành Đảng Bộ thị xã Uông Bí xuất bản năm 1993 Cuốn sách đã khái quát
được một chặng đường lịch sử từ năm 1960 đến năm 1990 của nhân dân Thị xã vừa chiến đấu chống Mĩ cứu nước vừa tích cực xây dựng Xã hội chủ nghĩa đạt được nhiều thành tựu to lớn
Đi sâu về vấn đề quy hoạch Thị xã có dự thảo “Quy hoạch tổng thể phát
triển kinh tế xã hội Thị xã Uông Bí thời kỳ 2001- 2010” Đây là cuốn sách có
nhiều tư liệu liên quan đến đề tài, đề cập khá toàn diện về sự phát triển kinh tế- xã hội của Uông Bí
Năm 2012, Ban Chấp hành Đảng bộ Thành phố Uông Bí xuất bản cuốn
“Lịch sử Đảng bộ Thành phố Uông Bí tập 1 (1930-2010)” Cuốn sách trên cơ
sở phát triển của cuốn “Lịch sử Đảng bộ Thị xã Uông Bí” - Tập 1 (1930 -
2006) có bổ sung nhiều nguồn tư liệu khá mới mẻ đến năm 2010
Các tác phẩm trên đã phản ánh quá trình vận động cách mạng không ngừng của Đảng bộ và nhân dân Uông Bí
Tháng 5 năm 2015, Thành ủy Uông Bí có xuất bản cuốn “Uông Bí - Đất
và Người” Đây là cuốn sách vô cùng quý giá, đã cung cấp kiến thức cơ bản
nhất về vùng đất và con người nơi đây
Luận văn “Kinh tế - xã hội thành phố Uông Bí (Quảng Ninh) từ năm 1986
đến năm 2013” của tác giả Trịnh Thị Thu, Đại học Sư phạm - Đại học Thái
Nguyên, (2015) đã nghiên cứu một cách tương đối đầy đủ về tình hình kinh tế -
xã hội của thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh từ năm 1986 đến năm 2013, trong đó có đề cập đến nhiều yếu tố liên quan đến quá trình phát triển của đô thị Uông Bí trong giai đoạn đổi mới của thành phố
Trang 13Từ khi được công nhận là thị xã năm 1961 đến nay, Uông Bí đã có một quá trình phát triển tương đối mạnh mẽ Nhờ các điều kiện thuận lợi về vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, Uông Bí dần trở thành một đô thị nổi bật nằm trên dịa bàn tỉnh Quảng Ninh Nhiều nhà nghiên cứu đã cho ra đời các tác phẩm nghiên cứu về nhiều lĩnh vực của vùng đất này Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào đi sâu nghiên cứu về quá trình hình thành và phát triển của đô thị Uông Bí
3 Mục đích, đối tượng, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
lí và quy hoạch thành phố trong giai đoạn hiện nay và tương lai
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là thành phố Uông Bí Trong đó tác giả tập trung nghiên cứu về sự ra đời, qúa trình phát triển của đô thị ở thành phố Uông Bí tỉnh Quảng Ninh từ khi mới thành lập thị xã đến khi trở thành một trung tâm đô thị và những đặc điểm về kinh tế, văn hóa, xã hội ở thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh
3.3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Trình bày một cách toàn diện và có hệ thống về quá trình hình thành và phát triển của thành phố Uông Bí, từ năm 1961 đến năm 2014
Rút ra được những đặc điểm của qúa trình đô thị hóa ở thành phố Uông Bí tỉnh Quảng Ninh Phân tích những tác đông tích cực và tiêu cực của quá trình
đô thị hóa đến sự phát triển kinh tế - xã hội của thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh từ năm 1961 đến năm 2014
Trang 143.4 Phạm vi nghiên cứu
Về không gian: Đề tài nghiên cứu trên phạm vi là thành phố Uông Bí, tỉnh
Quảng Ninh (bao gồm 8 phường, 2 xã)
Về thời gian: Đề tài giới hạn chủ yếu trong khoảng thời gian nghiên cứu từ
năm 1961 đến năm 2014
4 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1 Nguồn tài liệu
Những vấn đề của luận văn được giải quyết trên cơ sở khai thác và xử lí tài liệu từ nhiều nguồn khác nhau:
Các tài liệu văn kiện của Đảng, các chỉ thị, nghị quyết, báo cáo của Đảng
ủy, UBND thành phố Uông Bí, các số liệu thống kê của các cơ quan kinh tế - văn hóa, giáo dục thành phố Uông Bí
Luận văn còn kế thừa các nguồn tư liệu, các kết quả nghiên cứu khoa học đăng trên các sách chuyên khảo, bài viết, bài nghiên cứu, đặc biệt là cuốn Địa chí Quảng Ninh (tập 1, 2, 3) và Lịch sử đảng bộ thành phố Uông Bí
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả đã sử dụng 2 phương pháp chủ yếu là:
Phương pháp lịch sử
Mọi sự vật và hiện tượng của tự nhiên và xã hội đều có quá trình lịch sử của nó, tức là có quá trình phát sinh, phát triển và tiêu vong Đó là một quá trình vận động và biến đổi liên tục, hết sức cụ thể, đầy quanh co, phức tạp, bao gồm cả những cái ngẫu nhiên lẫn cái tất yếu, muôn hình, muôn vẻ, trong những hoàn cảnh, điều kiện khác nhau và theo một trật tự thời gian nhất định Mỗi một vùng đất đều có lịch sử riêng của mình Uông Bí là một vùng đất được con người khai phá từ lâu đời, và từ rất sớm Lịch sử của Uông Bí được tạo dựng bởi cư dân ở đây và đã góp phần làm hình thành những đặc trưng văn hóa rất riêng Những nét văn hóa đó có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của Uông Bí trong tương lai
Trang 15Tác giả sử dụng phương pháp logic trong nghiên cứu đề tài nhằm tìm hiểu
từ những cái nét khái quát chung trong quá trình hình thành và phát triển của thành phố Uông Bí tỉnh Quảng Ninh để thấy được những đặc điểm trong quá trình hình thành và phát triển đó, qua đó đánh giá những tác động đối với nền kinh tế - xã hội của thành phố Uông Bí trong giai đoạn này
Bên cạnh phương pháp lịch sử và phương pháp logic, tác giả còn sử dụng các phương pháp khác nhau để tiếp cận vấn đề cần nghiên cứu như tiếp cận vấn
đề hình thành và phát triển đô thị từ góc độ văn hóa, từ nhân học và địa lí học, kinh tế học… Về góc độ văn hóa, sự phát triển của mỗi vùng đất thường hướng tới những tiêu chí của thời đại nhưng không làm mất đi bản sắc văn hóa truyền thống Thành phố Uông Bí trong sự phát triển của mình vẫn mang trong mình những nét văn hóa truyền thống, những đặc điểm riêng không bị trộn lẫn với bất kì một cùng đất nào khác Theo nhân học và địa lý học thì quá trình phát triển của một đô thị, nói cách khác là đô thị hóa được hiểu là sự di dân từ nông thôn vào thành thị, là sự tập trung ngày càng nhiều cư dân sống trong vùng lãnh thổ đô thị Đây chính là dấu hiệu quan trọng để đánh giá mức độ đô thị hóa của một quốc gia, khu vực hay một đơn vị cụ thể Từ góc độ kinh tế học, các nhà nghiên cứu thường đánh giá về vai trò của nông nghiệp, nông thôn trong quá trình đô thị hóa Trong quá trình phát triển của thành phố Uông Bí, sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp sang công nghiệp và các ngành kinh tế khác
từ năm 1961 đến năm 2014 góp phần tác động không nhỏ đến bộ mặt của đô thị Uông Bí giai đoạn sau này Trong quá trình thực hiện đề tài, là người địa phương tác giả sử dụng triệt để phương pháp điền dã dân tộc học Tác giả đã trực tiếp quan
Trang 16sát thực địa, phỏng vấn nhân chứng… để thu thập, tìm hiểu những nguồn tài liệu địa phương phục vụ cho công tác nghiên cứu đề tài
5 Đóng góp của luận văn
Luận văn dựng lại một cách khái quát quá trình hình thành và phát triển đô
thị Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh trong giai đoạn từ năm 1961 đến năm 2014
Thông qua luận văn, tác giả đưa ra những nhận định, đánh giá khách quan, khoa học về quá trình hình thành, xây dựng và phát triển của đô thị Uông Bí Nội dung của luận văn cùng hệ thống tài liệu tham khảo được sưu tầm trong quá trình nghiên cứu sẽ là nguồn tài liệu có giá trị phục vụ cho công tác nghiên cứu, giảng dạy và biên soạn lịch sử địa phương
6 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo, nội dung luận văn chia làm 4 chương:
Chương 1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu và địa bàn nghiên cứu
Chương 2 Thị xã Uông Bí từ năm 1961 đến năm 1986
Chương 3 Thị xã Uông Bí từ năm 1986 đến năm 2014
Chương 4 Đặc điểm của quá trình hình thành, phát triển và tác động đối
với kinh tế, xã hội thành phố Uông Bí tỉnh Quảng Ninh (1961-2014)
Trang 17Chương 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Theo từ điển tiếng Việt, đô thị có thể hiểu là nơi đông dân, tập trung buôn bán như thành phố, thị xã Trong Từ điển bách khoa Việt Nam (NXB Hà Nội, 1995), đô thị là một không gian cư trú của cộng đồng người sống tập trung và hoạt động trong những khu vực kinh tế phi nông nghiệp Theo giáo trình Quy hoạch đô thị (đại học Kiến trúc Hà Nội) định nghĩa: Đô thị là nơi tập trung dân
cư, chủ yếu lao động phi nông nghiệp, sống và làm việc theo kiểu thành thị Trong Thông thư 31/TTLD, ngày 20/11/1990 của Bộ xây dựng và Ban tổ chức cán bộ chính phủ nêu ra định nghĩa: Đô thị là điểm tập trung dân cư với mật độ cao, chủ yếu là lao động phi nông nghiệp, cơ sở hạ tầng thích hợp hay trung tâm chuyên ngành có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế, xã hội của cả nước, của một vùng trong tỉnh hoặc huyện Trong xã hội công ngiệp, đô thị là cực hút, do đó dân số và hoạt động kinh tế tập trung thành một thể thống nhất Sự tập trung này là chỉ số chính của đô thị, các yếu tố sản xuất làm cho đô thị trở thành những cực tăng trưởng Tăng trưởng này đưa đến sự đa dạng về kinh tế
và xã hội Do đó, đô thị được định nghĩa như là nơi tập trung đông đúc dân cư, chủ yếu là lao động phi nông nghiệp, sống và làm việc theo phong cách và lối sống khác với lối sống ở nông thôn Như vậy, đô thị là điểm dân cư tập trung với mật độ cao, chủ yếu là lao động phi nông nghiệp, có hạ tầng cơ sở thích hợp, là trung tâm tổng hợp hay chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước, của cả một vùng, của một đô thị, một huyện hoặc một đô thị trong huyện
Cho đến nay, các nhà khoa học thuộc nhiều chuyên ngành đã nghiên cứu quá trình đô thị hóa và đưa ra không ít định nghĩa cùng với những đánh giá về quy mô, tầm quan trọng và dự báo tương lai cho quá trình này Qua đó, đô thị hóa là một hiện tượng lịch sử xảy ra ở hầu khắp các quốc gia trên thế giới Nhưng ở từng quốc gia, từng tộc người, quá trình đô thị hóa lại diễn ra hết sức
Trang 18khác nhau, phản ánh sự phát triển không đồng đều, như một hiện tượng có tính quy luật của tiến trình lịch sử nhân loại
Với quan điểm coi biến đổi kinh tế và dân số là hai vấn đề chính khi nghiên cứu quá trình đô thị hóa, Chan (1994) đã đưa ra định nghĩa: “Đô thị hóa
là một quá trình đa diện và phức tạp nhưng về cơ bản nó là biểu hiện về mặt chuyển dịch cơ cấu lao động từ các hoạt động dựa trên nông nghiệp sang các hoạt động dựa trên công nghiệp trong cấu trúc sản xuất” [dẫn theo 65, tr 41] Theo báo cáo của Viện nghiên cứu phát triển Kinh tế xã hội Hà Nội, quá trình đô thị hóa được nhìn từ hai góc độ, một mặt đó là “quá trình hình thành và phát triển các điểm dân cư được tập hợp lại và phổ biến lối sống thành thị, đồng thời phát triển các hoạt động khác nhau để phục vụ sự tồn tại và phát triển trong cộng đồng đó” Mặt khác, “đô thị hóa cũng là quá trình mở rộng biên giới lãnh thổ đô thị do nhu cầu công nghiệp hóa, thương mại, dịch vụ và giao lưu quốc tế - là sự tăng trưởng về không gian đô thị từ phát triển dân số và phát triển sản xuất”
Hiện nay, đô thị hóa không chỉ đơn thuần là quá trình dịch cư từ nông thôn
ra thành thị và dịch cư nghề nghiệp mà còn bao hàm các quá trình dịch cư khác,
đa chiều và đa cấp độ như các dòng dịch cư đô thị - đô thị, đô thị - vùng ven, đô thị - nông thôn, vùng - quốc tế với các mức độ khác nhau theo từng hoàn cảnh của các đô thị cụ thể Các nhân tố kinh tế vẫn giữ vai trò chủ đạo trong việc tạo nên quá trình đô thị hóa, tuy nhiên các nhân tố khác phi kinh tế như văn hóa, lịch sử, lối sống… đang ngày càng có những ảnh hưởng lớn tới đặc tính đô thị hóa của mỗi vùng Như vậy, các định nghĩa về đô thị hóa về cơ bản coi đây là hiện tượng tất yếu, một quy luật mang tính khách quan và có tính toàn cầu, tiến
bộ rõ rệt với những chuyển đổi mạnh mẽ, sâu sắc và toàn diện các lĩnh vực kinh
tế, văn hóa, xã hội… từ nông thôn sang thành thị, sự tập trung dân cư tại các đô thị theo tỉ lệ ngày càng cao
Trang 191.2 Khái quát về thành phố Uông Bí
1.2.1 Vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên
Uông Bí là một thành phố nằm ở miền Tây của tỉnh Quảng Ninh, có tọa
độ từ 20 độ 58’ đến 21 độ 09’ vĩ độ Bắc và từ 106 độ 41’ đến 106 độ 52’ kinh
độ Đông, cách Hà Nội 120km, cách thành phố Hạ Long 40km, Bắc giáp huyện Sơn Động (tỉnh Bắc Giang), ranh giới là dãy núi cao Yên Tử - Bảo Đài, tây giáp huyện Đông Triều, ranh giới là sông Tiên Yên nhỏ như một dòng suối, Nam giáp huyện Thủy Nguyên thuộc thành phố Hải Phòng, ranh giới là sông
Đá Bạch (còn gọi là Đá Bạc), Đông Nam giáp huyện Yên Hưng, Đông giáp huyện Hoành Bồ, có ranh giới là núi Bình Hương và núi Đèo San
Uông Bí có diện tích tự nhiên 24.041 ha, 4 phần 5 đất đai là đồi núi, trong
đó đất lâm nghiệp rộng gần 10.000 ha, đất nông nghiệp gần 3000 ha Địa hình dốc dần từ Bắc xuống Nam và chia thành 3 vùng Vùng rừng núi trập trùng phía Bắc có đỉnh Yên Tử cao 1068 m, vùng giữa núi đồi thấp dần và thành một cánh đồng trung du, vùng phía Nam đất trũng thành những bãi bồi liền xuống dòng sông Đá Bạch Có 3 dòng sông chảy theo hướng Bắc Nam là sông Sinh, sông Tiên Yên và sông Uông Sông Uông chảy từ núi Yên Tử xuống, là nguồn nước ngọt, xưa có đường ống đưa về Hải Phòng, về sau dùng cho khu nội thị Sông Đá Bạch ở phía Nam là đoạn nối từ sông Kinh Thầy xuống sông Bạch Đằng, là đường thủy liên tỉnh và có cảng Bạch Thái Bưởi, cảng Điền Công xuất than xuống xà lan Uông Bí có hồ Yên Trung dung tích 3 triệu m3 và hồ Tân Lập dung tích 0,32 triệu m3, chỉ đủ tưới cho 200 ha đất nông nghiệp, còn lại phải đưa nước từ hồ Yên Lập về tưới cho 2000 ha
Uông Bí có nhiệt độ trung bình năm là 24 độ C, độ ẩm trung bình là 81%, lương mưa trung bình hàng năm là 1842 mm
Đất đai ở Uông Bí có nhiều loại nhóm đất mặn hình thành từ những sản phẩm phù sa sông, biển được lắng đọng trong môi trường nước biển, phân bố ở Phương Nam, Phương Đông, Yên Thanh, Quang Trung, Trưng Vương Đất
Trang 20mặn sú vẹt đước phân bố ở Phương Nam, Phương Đông, Yên Thanh, Quang Trung, Trưng Vương Đây là loại đất tốt, độ phì thực tế cao, thích hợp với phần lớn rừng ngập mặn và nuôi trồng thủy sản Tuy nhiên để đạt hiệu quả kinh tế cao khi bố trí nuôi trồng thủy sản cần có chính sách trồng rừng phòng hộ ven
đê, giao rừng đến từng hộ quản lý Giải quyết được việc này sẽ là tiền đề cho phát triển nuôi trồng thủy sản quy mô lớn, bền vững về môi trường sinh thái Nhóm đất phèn mặn phân bố ở Phương Nam, Phương Đông, Yên Thanh, Quang Trung, Trưng Vương, Điền Công Đất phù sa phân bố ở xã Nam Khê, Trưng Vương, Quang Trung , Phương Đông, Phương Nam và xã Điền Công Đây là loại đất tốt rất thích hợp trồng cây lương thực và rau màu Ngoài ra Uông Bí còn có các loại đất xám, đất vàng đỏ, đất vàng nhạt đá sâu, đất mùn vàng nhạt trên núi
Uông Bí có tiềm năng phát triển kinh tế toàn diện dựa trên nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú: Than, đá vôi, cát sỏi Nguồn khoáng sản hóa thạch lớn nhất của Uông Bí là than đá, trữ lượng vùng than Đông Triều - Mạo Khê - Uông Bí đạt 1,4 tỷ tấn, chiếm 40% trữ lượng than toàn Tỉnh (toàn tỉnh 3,5 tỷ tấn) Công nghiệp khai thác than Uông Bí đã được thực hiện từ năm
1916 Sản lượng khai thác than hiện nay trên vùng Vàng Danh đạt hơn 5 triệu tấn/năm Than Vàng Danh có chất lượng rất tốt “Than ở vùng kỳ lạ này là một thứ than đặc biệt tốt Đó là một thứ than gầy rất thuần khiết và rất rắn và có từ
85 đến 90% than cố định Than này còn thuần khiết hơn loại than tốt nhất của nước Anh” [63, tr 2] Công nghiệp khai thác, chế biến than là ngành công nghiệp chủ đạo có tác động rất lớn đến phát triển kinh tế - xã hội của Uông Bí Than có ở xã Thượng Yên Công và phường Vàng Danh, Bắc Sơn Trên địa bàn thành phố có nhiều mỏ than lớn là mỏ Vàng Danh, mỏ Nam Mẫu và mỏ than Uông Bí Cả 3 mỏ này đều do trung ương quản lý và khai thác với sản lượng hàng triệu tấn trên một năm Ngoài ra ở Uông Bí còn có một mỏ than đã bán cho Inđônêxia trong 30 năm, đây là một mỏ lộ thiên có diện tích trên 1000ha ở
Trang 21phường Vàng Danh Mỏ than được khai thác với 100% vốn của Inđô và lợi nhuận được chia là 90% cho Vietminđo và 10% cho công ty than Uông Bí Ngoài than đá, Uông Bí còn có các khoáng sản để sản xuất vật liệu xây dựng Đáng kể là đá vôi với trữ lượng 28 - 30 triệu m3 phân bố chủ yếu ở xã Phương Nam, đá sét có trữ lượng 595 nghìn tấn ở bãi sỏi; sản xuất gạch tuynen của Công ty Cổ phần Xây dựng Quảng Ninh công suất 15 triệu viên/năm [2, tr 13] Trữ lượng rừng: Uông Bí chủ yếu là rừng nghèo có 2.756 ha với trữ lượng 124.050m3 gỗ, rừng đạt tiêu chuẩn khai thác không đáng kể khoảng 666,46ha trong đó 528 ha rừng giàu với trữ lượng 52.200m3, còn lại là rừng cây hỗn giao
có nhiều loại quý hiếm: Lát hoa, lim, sến, táu, thông nhựa….Rừng Uông Bí còn
là nơi trú ngụ của hệ động vật rừng Tổng số loài động vật ở cạn có xương sống
là 206 loài, nhưng số lượng mỗi loài không nhiều Hiện có 120 loài quý hiếm được ghi trong sách đỏ cần được bảo vệ Ngoài ra rừng Uông Bí đặc biệt là rừng Quốc gia Yên Tử còn cung cấp nhiều loại đặc sản khác có giá trị làm đồ thủ công mỹ nghệ như các loại song, mây, hèo, những cây cho sợi, làm thuốc, cây cho dầu Rừng ngập mặn chủ yếu cây đước phân bố ven sông Đá Bạc Rừng Uông Bí có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc phát triển kinh tế- xã hội, bảo vệ môi sinh, giữ gìn nguồn nước, tạo cảnh quan, bảo tồn các di tích lịch sử, văn hóa Tiêu biểu là rừng đặc dụng Yên Tử, với diện tích 2783ha trong đó 2063,3 ha là rừng tự nhiên Rừng Yên Tử thuộc loại khu rừng lịch sử - văn hóa
- môi trường.Vì vậy cần phải có chính sách đầu tư khai thác hợp lý tài nguyên rừng quốc gia Yên Tử nói riêng và rừng Uông Bí nói chung
Uông Bí được lịch sử, thiên nhiên ban tặng nhiều tiềm năng phát triển du lịch Nhiều di tích lịch sử văn hóa, danh thắng gắn liền với lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc, trong đó Khu di tích lịch sử và danh thắng Yên Tử được xếp hạng di tích Quốc gia đặc biệt, là trung tâm Phật giáo của cả nước, có giá trị lớn về văn hoá lịch sử Nhiều cảnh quan thiên nhiên có giá trị
và tiềm năng phát triển du lịch như hệ thống sông ngòi, hồ đầm bao quanh phát
Trang 22triển kinh tế vườn đồi, trang trại tổng hợp; vùng cây ăn quả, vùng nuôi trồng thủy sản tập trung có thể trở thành các sản phẩm du lịch đặc sắc của địa phương Ngoài ra, Uông Bí còn có những địa danh nổi tiếng như: “Cổng Trời, Bàn cờ tiên”, dãy núi Chu Cốc có động Hang Son Có điểm du lịch như Resort
Hồ Yên Trung rộng 78 ha ở giữa có những đảo cây xanh tốt quanh năm, xung quanh hồ được bao bọc bởi những đồi thông tạo nên cảnh đẹp “Sơn thủy hữu tình” Bên cạnh đó còn có điểm Lựng Xanh được các bạn trẻ rất yêu thích Tất
cả những địa danh trên là nơi để du khách dừng chân ngắm cảnh, nghỉ ngơi và tận hưởng môi trường sinh thái tốt lành
Bảng 1.1 Tài nguyên khoáng sản ở thành phố Uông Bí
Stt Tài
nguyên Đơn vị
Trữ lượng
Tiềm Năng Địa điểm
1 Than đá Triệu tấn 300 500
Vàng Danh, Thượng Yên Công, Phương Đông, Thanh Sơn, Bắc Sơn
2 Đá vôi Triệu m³ 28-30 45 Phương Nam, Thanh Sơn,
10 từ Hải Phòng sang Quảng Ninh qua cầu Đá Bạch và gặp Quốc lộ 18 ở ngã
ba Cầu Sến, đây là một ngã ba qua lại tấp nập Đường vào khu di tích Yên Tử cũng đã được nâng cấp đi lại dễ dàng Từ mỏ than Vàng Danh, ngoài đường bộ còn có đường sắt chuyên dụng tải than qua cảng Điền Công
Trang 23Uông Bí có 10 đơn vị hành chính gồm 8 phường (Vàng Danh, Bắc Sơn, Thanh Sơn, Quang Trung, Trưng Vương, Yên Thanh, Nam Khê, Phương Đông) và 2 xã (Thượng Yên Công, Phương Nam)
1.2.2 Tên gọi và những thay đổi về mặt hành chính
Uông Bí là vùng đất cổ, có người ở từ rất sớm Ở mấy hốc núi thuộc xã Phương Nam đã phát hiện dấu vết người tiền sử đầu thời kì đồ đá mới Năm 1991, phát hiện khu mộ thuyền Phương Nam thời kì đồ đồng, cách nay khoảng 2000 năm Xưa vùng đất Uông Bí là tổng Bí Giàng gồm 10 xã, thôn thuộc huyện Đông Triều Năm 1896, tổng Bí Giàng cắt về huyện Yên Hưng (trừ xã Tiên Yên vẫn thuộc huyện Đông Triều và nhập làm tổng Nội Hoàng) Trong thời thuộc Pháp, sau khi mở mỏ Vàng Danh, ở cửa sông Uông, nơi giáp ranh các làng Uông là Uông Thượng, Uông Hạ và các làng Bí là Bí Thượng, Bí Trung,
Bí Hạ, Bí Chợ có trụ sở công ty than Đông Triều, trạm thuế đoan, nhà máy điện, xưởng cơ khí, bến tàu thủy… nên dân cư đông đúc tạo nên phố Uông Bí, sau cách mạng tháng tám thành liên xã Uông Bí
Tháng 2 năm 1955 Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh thành lập khu Hồng Quảng gồm tỉnh Quảng Yên và đặc khu Hòn Gai Thị trấn Uông Bí thuộc huyện Yên Hưng, sau khi được giải phóng khoảng cuối năm 1955 đổi thành xã Uông Bí thuộc huyện Yên Hưng khu Hồng Quảng
Ngày 28-10-1961, Chính phủ ra nghị định 181 - CP thành lập thị xã Uông
Bí trực thuộc khu Hồng Quảng (gồm xã Uông Bí cũ, cảng Điền Công và hai thôn Lạc Trung, Đồng Lối của xã Yên Thanh) Sau đó địa giới của xã mở rộng dần, các xã Thượng Yên Công, Chạp Khê, Phương Đông, Phương Nam từ huyện Yên Hưng nối tiếp nhập vào thị xã Uông Bí
Ngày 26-2-1966, Bộ Nội vụ ra quyết định 51/NV, phê chuẩn thành lập xã Đồng Tiến thuộc thị xã Uông Bí, bao gồm có: các thôn, xóm Thượng Mộ Công, Lạc Trung, Đồng Nối, Đồng Vỡ, Cầu Gẫy, Hang Hùm, Đá Cổng, Bãi Soi, Khe Ngát, đồi cà phê
Trang 24Ngày 26-9-1966, Hội đồng Chính phủ ra Quyết định số 184/CP, đặt
xã Thượng Yên Công, xã Phương Đông và thôn Chạp Khê huyện Yên Hưng thuộc thị xã Uông Bí Ngày 28-9-1966, Bộ Nội vụ ra Quyết định số 308/NV, phê chuẩn thành lập xã Nam Khê thuộc thị xã Uông Bí, gồm có các thôn: Chạp Khê, Đồng Mương, Nam Khê, Trần Phú
Ngày 18-3-1969, Bộ Nội vụ ra Quyết định 142/NV: Thành lập thị trấn Vàng Danh (gồm khu mỏ Vàng Danh và hai thôn Uông Thượng và Miếu Thán của xã Thượng Yên Công cắt sang), trực thuộc thị xã Uông Bí Thành lập xã Phương Nam (gồm các HTX khai hoang ven sông Đá Bạc có sáu thôn: Hiệp An, Phong Thái, Hồng Hải, Hiệp Thanh, Hiệp Thái và Phương Hải) thuộc thị xã Uông Bí
Ngày 10/9/1981, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) ra Quyết định số 63 HĐBT, giải thể thị trấn Vàng Danh, thành lập phường Vàng Danh; giải thể xã Đồng Tiến để sáp nhập vào phường Bắc Sơn và phường Quang Trung Ngày 25-8-1999, Thủ tướng Chính phủ ra Nghị định số 83/CP, thành lập phường Yên Thanh trên cơ
sở tách một phần của xã Phương Đông và một phần phường Thanh Sơn Giải thể xã Nam Khê, thành lập phường Nam Khê thuộc thị xã Uông Bí
Ngày 25-2-2011, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 12/NQ-CP thành lập thành phố Uông Bí thuộc tỉnh Quảng Ninh trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên, dân số và các đơn vị hành chính trực thuộc của thị xã Uông Bí
Ngày 28-11-2013, Chính Phủ đã ban hành Quyết định số 2306/QĐ-TTg
về việc công nhận thành phố Uông Bí thuộc tỉnh Quảng Ninh là đô thị loại II Thành phố Uông Bí được công nhận là đô thị loại II là sự kiện chính trị trọng đại, bước ngoặt quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế-xã hội của vùng đất Uông Bí và của tỉnh Quảng Ninh, là niềm tự hào, động viên khích lệ cán bộ, đảng viên, nhân dân thành phố tập trung nguồn lực xây dựng thành phố Uông Bí giàu đẹp, văn minh, xứng tầm là đô thị trung tâm miền Tây của tỉnh Quảng Ninh, góp phần đưa tỉnh Quảng Ninh cơ bản trở thành tỉnh công nghiệp vào năm 2015
Trang 25Hình 1.1: Bản đồ hành chính thành phố Uông Bí
Trang 261.2.3 Đặc điểm dân cư và truyền thống lịch sử
Trước khi thực dân Pháp xâm lược và thống trị Uông Bí chỉ là một làng nhỏ có hai xóm khoảng 80 gia đình người Kinh sinh sống Từ khi nhà Nguyễn bán mỏ Uông Bí cho người Hoa thì dân cư ở các tỉnh lân cận đến đây khai thác
và người Hoa cũng đến rất đông dân số Uông Bí tăng lên 2031 người trong đó
1447 người Việt Nam và 584 người Hoa Kiều Đến những năm 1960 - 1961, Uông Bí đã trở thành một xã có hơn 3000 dân với hai dân tộc là Kinh và Hoa Cùng với quá trình thay đổi địa giới hành chính dân cư ở Uông Bí không ngừng tăng lên đến năm 1964 dân số thị xã Uông Bí đã lên tới hơn 15000 người, phần đông là công nhân ở nơi khác về mang theo cả gia đình, vợ con đến Năm 2006 Chính phủ ra Nghị định điều chỉnh địa giới hành chính sáp nhập toàn bộ diện tích tự nhiên 1272,25 ha và dân 1726 nhân khẩu của xã Điền Công huyện Yên Hưng về Thị xã Uông Bí quản lý Dân số của Thị xã lên tới 97.975 nhân khẩu gồm các dân tộc anh em: Kinh, Tày, Nùng, Dao, Sán chỉ, Sán dìu, Cao lan và Hoa [1, tr 22]
Quy mô dân số của thành phố Uông Bí đến 31/12/2012 là 174.678 người (bao gồm cả dân số thường trú và dân số quy đổi) Trong đó dân số nội thành là 167.049 người, chiếm 95,6% tổng dân số toàn thành phố; dân số ngoại thành là 7.629 người, chiếm 4,4% [14] Uông Bí là thành phố đông dân đứng thứ 5 của tỉnh Quảng Ninh Cơ cấu dân số thành thị và nông thôn có sự chuyển dịch đáng
kể Đến ngày 31 tháng 12 năm 2012 dân số Uông Bí là 174678 người với mật
độ trung bình lên tới 681 người/km² Trong đó dân số nội thành là 167.049 người, chiếm 95,6% tổng dân số toàn thành phố; dân số ngoại thành là 7.629 người, chiếm 4,4%
Trang 27Truyền thống văn hóa - lịch sử
Uông Bí là địa phương hội tụ đầy đủ các yếu tố vùng miền, có địa hình đồi núi, trung du và bãi triều ven sông, nhiều tài nguyên thiên nhiên và khoáng sản
Cơ cấu kinh tế công - nông - lâm - ngư nghiệp, dịch vụ thương mại và du lịch Dân số trên địa bàn Thành phố có trên 17 vạn người, gồm 10 dân tộc anh em, trong đó dân tộc thiểu số chiếm 2,39% dân số toàn Thành phố Bao gồm các dân tộc: Kinh, Tày, Hoa, Sán Dìu, Nùng, Sán Chay, Dao Thanh Y [2, tr 9] Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009 cư dân sống tại Uông Bí hiện nay với số lượng người Kinh lên 101.392 người, chiếm 95,9% dân số thành phố, tiếp theo là người Dao với 3005 người chiếm 2,8% dân số toàn thành phố, rồi đến người Tày, người Hoa và các dân tộc khác
Các dân tộc thiểu số ở Thành phố Uông Bí sinh sống sống tập trung chủ yếu trên địa bàn xã Thượng Yên Công, Phường Vàng Danh và đan xen với đồng bào dân tộc Kinh có ở hầu hết các phường, xã thành một cộng đồng thống nhất, tạo nên sắc thái văn hóa đặc thù của một vùng đất có bề dày truyền thồng lịch sử và văn hóa
Trải qua những chặng đường lịch sử, nhân dân các dân tộc Uông Bí liên tục đấu tranh với thiên nhiên, chống lại nhiều kẻ thù xâm lược
Năm 938, dưới sự lãnh đạo của Ngô Quyền, nhân dân các dân tộc Uông
Bí đã tham gia trận quyết chiến chiến lược trên sông Bạch Đằng, góp phần đánh bại quân Nam Hán xâm lược chấm dứt ách thống trị của phong kiến phương Bắc gần 10 thế kỷ Mùa xuân năm 981, cũng trên dòng sông Bạch Đằng, dưới sự chỉ huy của tướng Lê Hoàn, quân ta đã tiêu diệt hầu hết toán quân Tống đi đường thuỷ vào xâm lược nước ta, chặn đứng âm mưu xâm lược của chúng
Ngày 10-4-1288, dưới sự chỉ huy của Trần Hưng Đạo, quân ta đã nhấn chìm hàng trăm chiến thuyền, bắt sống và tiêu diệt hàng ngàn tên giặc Chiến công oanh liệt đó, làm cho bọn quân Nguyên - Mông, kẻ thù hung hãn nhất thời
đó phải khiếp vía kinh hồn Trong những trận chiến đấu đó, có sự đóng góp không nhỏ của nhân dân các dân tộc Uông Bí
Trang 28Quá trình khai thác than của bọn thực dân chủ mỏ ở Uông Bí - Vàng Danh gắn liền với sự ra đời của đội ngũ công nhân mỏ Một bộ phận đầu tiên của giai cấp công nhân Việt Nam Sống trên mảnh đất “nhượng”, công nhân Uông Bí - Vàng Danh phải chịu hai tầng áp bức: một là bộ máy bạo lực của chính quyền thực dân phong kiến; hai là bộ máy bạo lực của thực dân mỏ
Không chịu cảnh nước mất, nhà tan và sự áp bức bóc lột tàn bạo của thực dân mỏ, nhân dân Uông Bí đã cùng nhân dân cả nước liên tiếp vùng dậy, dưới
sự lãnh đạo của các sĩ phu yêu nước như: Khởi nghĩa của Đốc Tít (Nguyễn Đức Hiệu 1885 - 1897), Lưu Kỳ (1891) đánh đuổi Thực dân Pháp Những cuộc nổi dậy của nhân dân Uông Bí cũng như tất cả các cuộc khởi nghĩa nổ ra trên cả nước do các sĩ phu lãnh đạo hầu hết đều bị thất bại, vì chưa có một giai cấp tiên tiến lãnh đạo
Cuối năm 1928 đầu năm 1929, nhiều Hội viên Việt Nam thanh niên cách mạng Đồng chí Hội được cử về nước “vô sản hoá” Tháng 5-1929, đồng chí Nguyễn Văn Cừ ra vô sản hoá ở Uông Bí - Vàng Danh, tuyên truyền, gây cảm tình một số quần chúng tiêu biểu Sau một thời gian tuyên truyền chủ nghĩa Mác-Lênin giác ngộ công nhân, nhiều người đã được kết nạp vào Hội Khoảng tháng 5-1929, chi bộ Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí Hội ở Uông Bí được thành lập [1, tr 24]
Ngày 3-2-1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời; khoảng giữa tháng
4-1930 chi bộ Đông Dương Cộng sản Đảng ở Uông Bí-Vàng Danh được chuyển thành chi bộ Đảng Cộng sản Việt Nam, do đồng chí Bùi Đắc Thanh làm Bí thư Cuối tháng 5- 1930, cấp trên quyết định thành lập Đảng uỷ mỏ Uông Bí-Vàng
Sự ra đời của Đảng uỷ mỏ Uông Bí- Vàng Danh góp phần quan trọng vào việc hình thành Đảng bộ Đặc khu mỏ Đông Triều - Hòn Gai - Cẩm Phả; đồng thời tạo điều kiện để phát triển phong trào cách mạng và tổ chức Đảng ngày càng lớn mạnh Nhân dịp Nhật đảo chính Pháp, nhiều cán bộ bị giặc Pháp bắt tù đầy,
đã được ta giải thoát, về vùng Chí Linh, Đông Triều xây dựng Mặt trận Việt Minh và căn cứ kháng Nhật Ngày 8-6-1945, du kích cách mạng đã đồng loạt đánh chiếm 4 đồn: Đông Triều, Chí Linh, Mạo Khê và Tràng Bạch, tuyên bố
Trang 29thành lập "Đệ tứ chiến khu" (tức Chiến khu thứ Tư, Chiến khu Trần Hưng Đạo) Do làm tốt công tác nhân mối trong hàng ngũ địch, được nhân dân giúp
đỡ, ngày 1-7-1945, quân Chiến khu đánh chiếm được đồn Uông Bí và trại huấn luyện của Nhật ở Bí Chợ, thu hơn 100 súng các loại; đồng thời, tước vũ khí và phá kho thóc của sếp Sâm ở gần Bí Chợ chia cho dân nghèo, Uông Bí được giải phóng [1, tr 33]
Giành chính quyền chưa được bao lâu, ngày 19-12-1946, cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ Thực hiện chủ trương của Đảng và Tỉnh uỷ Quảng Yên, chi bộ Uông Bí và Bí Giàng đã lãnh đạo nhân dân chống bọn phỉ, chuẩn
bị căn cứ cho Tỉnh uỷ Quảng Yên tại Khe Sú, Năm Mẫu; đồng thời tiêu thổ kháng chiến, phá và làm hỏng 13 chiếc cầu trên đường 18 từ Dốc Đỏ đến Yên Lập và các cầu trên đường xe lửa từ Máng nước Uông Bí đến Yên Lập và các cầu trên đường xe lửa từ Máng nước vào Lán Tháp, nhằm ngăn cản bước tiến của địch Ngày 4-11-1953, giặc Pháp huy động 9 đại đội biệt kích, cùng 2 tiểu đoàn có pháo yểm trợ tấn công vào căn cứ của ta ở xã Thượng Yên Công Lực lượng dân quân du kích phối hợp chặt chẽ với một trung đội bộ đội địa phương huyện Yên Hưng đánh trả quyết liệt, tiêu diệt nhiều tên, bắt sông tên quan tư Duy - Cát chỉ huy cuộc càn quét và 58 tên khác, buộc chúng phải rút lui Những chiến thắng của quân và dân ta trên cả nước trong chiến cuộc Đông - Xuân (1953 - 1954), kết thúc thắng lợi bằng chiến dịch Điện Biên Phủ chấn động địa cầu, buộc thực dân Pháp phải ngồi đàm phán và ký Hiệp định Giơ-ne-
vơ, lập lại hoà bình ở Việt Nam Theo Hiệp định, Uông Bí thuộc khu vực tập kết 300 ngày của quân đội Pháp trước khi rút quân
Thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước, dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng bộ huyện Yên Hưng, nhân dân Uông Bí bắt tay vào công cuộc khôi phục kinh tế, thực hiện cải tạo xã hội chủ nghĩa và chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ Trong khi Đảng bộ và nhân dân thị xã đang ra sức phấn đấu hoàn thành kế hoạch năm 1965, năm cuối cùng của kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, một vinh dự lớn cho Đảng bộ và nhân dân Quảng Ninh, đúng ngày 1 tết năm Ất Tỵ, Bác Hồ đã về thăm và vui tết với nhân dân Uông Bí
Trang 30Sau khi đất nước được thống nhất, nhân dân Uông Bí vẫn vững bước trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội và đạt được những kết quả tốt đẹp Ngày nay bộ mặt thành phố Uông Bí đã có nhiều đổi mới, Đảng bộ và nhân dân Uông Bí quyết tâm xây dựng Uông Bí là một thành phố giàu mạnh
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Có thể nói, đô thị là điểm dân cư tập trung với mật độ cao, chủ yếu là lao động phi nông nghiệp, có hạ tầng cơ sở thích hợp, là trung tâm tổng hợp hay chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước, của
cả một vùng, của một đô thị, một huyện hoặc một đô thị trong huyện Do đó, với những thuận lợi về vị trí địa lí, tài nguyên thiên nhiên vốn có, thị xã Uông
Bí có đầy đủ những điều kiện để trở thành một đô thị lớn và phát triển của tỉnh Quảng Ninh nói riêng, đất nước ta nói chung
Trong lịch sử hình thành và phát triển, thị xã Uông Bí ngày càng mở rộng
và hoàn thiện về mặt địa giới hành chính, từ một thị xã được xây dựng với dân
cư thưa thớt, nghèo nàn về cơ sở hạ tầng cũng như cơ sở vật chất kĩ thuật, thị
xã Uông Bí đã và đang ngày càng phát triển, trở thành một đô thị với nền kinh
tế phát triển mạnh, đời sống của nhân dân Uông Bí ngày càng được nâng cao
Trang 31Chương 2 THỊ XÃ UÔNG BÍ TỪ NĂM 1961 ĐẾN NĂM 1986
2.1 Thị xã Uông Bí hình thành
Với những đặc điểm vô cùng thuận lợi về vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên
và tài nguyên thiên nhiên, đặt biệt là trữ lượng than dồi dào, được khai thác và đầu tư một phần về hệ thống cơ sở vật chất từ thời Pháp thuộc, Uông Bí có đủ mọi điều kiện để Đảng, Nhà nước đặt tin tưởng giao nhiệm vụ trở thành một trong những trung tâm công nghiệp đầu tiên của miền Bắc thời kì xây dựng CNXH ở miền Bắc và đấu tranh thống nhất đất nước ở miền Nam Chính sự nghiệp phát triển ngành điện và ngành than đã tạo cơ sở cho việc hình thành thị
xã Uông Bí Ngày 1/4/1961, thị xã Uông Bí được thành lập, bao gồm địa giới
xã Uông Bí và khu vực Lán Tháp - Vàng Danh
Thị xã Uông Bí khi mới thành lập rất nghèo nàn Lúc này mới chỉ có một dãy phố hẹp, với một vài nhà lợp ngói, còn lại là nhà tranh và tre lụp xụp, cây rừng còn lan ra tới sát phố Cơ sở hạ tầng hầu như chưa có gì Từ thị xã Uông
Bí vào Vàng Danh là một đường đất hẹp và một nền đường sắt cũ Quốc lộ số
18 vừa hẹp vừa xấu Cơ sở thương nghiệp của thị xã quá yếu, chỉ có 1 quầy dịch vụ nhỏ Về nông nghiệp, thị xã có 9 hợp tác xã bậc thấp vào loại nhỏ, với tổng diện tích canh tác chưa đầy 500 ha Trong đó đa số là đất bạc màu, chua mặn
Cả 9 hợp tác xã độc canh lúa với năng suất thấp, chưa đầy 1 tấn thóc/ ha/ năm Đê ngăn nước mặn chưa có Công nghiệp địa phương của khu Hồng Quảng đóng trên địa bàn thị xã cũng rất nhỏ, gồm có xí nghiệp nhựa thông, xí nghiệp đá Yên Trung
và một hạt lâm nghiệp.Về tiểu thủ công nghiệp, thị xã chỉ có một số rất ít tổ hợp tác làm nghề đan gianh, lấy nứa, đốt vôi, làm gạch, cắt tóc và may mặc Cả thị xã
có một hợp tác xã ngư nghiệp, đánh bắt cá ven bờ và đầm hồ Về lực lượng lao động, cả thị xã lúc mới thành lập có hơn 8000 dân, 3000 lao động nông nghiệp Còn lại là công nhân được điều động từ nơi khác đến
Với những điều kiện như vậy, có thể thấy từ khi mới thành lập, mặc dù nếu
so về cơ cấu dân số, cư dân Uông Bí chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực công
Trang 32nghiệp và từ nơi khác dịch cư đến Tuy nhiên, nếu xét về tổng thể, Uông Bí chưa thể coi là một đô thị theo đúng nghĩa bởi hệ thống cơ sở vật chất còn nghèo nàn, dân cư thưa thớt và không cố định, nề lối làm việc và sinh hoạt của dân cư còn chưa tập trung Việc biến thị xã Uông Bí trở thành một đô thị loại II như ngày nay là cả một quá trình đoàn kết phấn đấu, vượt qua mọi khó khăn nhân dân Uông Bí
2.2 Sự phát triển của thị xã Uông Bí từ năm 1961 đến năm 1986
2.2.1 Quá trình tập trung dân cư đô thị
Trước khi thực dân Pháp xâm lược và thống trị Uông Bí chỉ là một làng nhỏ có hai xóm khoảng 80 gia đình người Kinh sinh sống Từ khi nhà Nguyễn bán mỏ Uông Bí cho người Hoa thì dân cư ở các tỉnh lân cận đến đây khai thác
và người Hoa cũng đến rất đông dân số Uông Bí tăng lên 2031 người trong đó
1447 người Việt Nam và 584 người Hoa Kiều
Khi mới thành lập, thị xã Uông Bí chỉ có khoảng 8000 dân, 3000 dân lao động, còn lại chủ yếu là công nhân được điều động từ nơi khác đến Năm 1964 dân số thị xã Uông Bí đã lên tới hơn 15000 người, phần đông là công nhân ở nơi khác về mang theo cả gia đình, vợ con đến Trải qua hơn 20 năm xây dựng và phát triển, bằng sự cố gắng phấn đấu của Đảng, Chính quyền và nhân dân thị xã trong việc xây dựng cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kĩ thuật, đến năm 1986, Uông Bí đã
có gần 179.195 người Trong giai đoạn từ 1961 đến 1975, do đời sống còn nhiều khó khăn, cư dân Uông Bí chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực kinh tế nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp là chủ yếu Càng về sau, do nhu cầu mở rộng và phát triển các ngành công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp than và điện, dân cư thị xã Uông
Bí đã có sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tập trung nhiều hơn số lượng người lao động phục vụ trong công nghiệp, cùng với đó là sự chuyển biến cơ cấu dân số từ khu vực nông thôn ra vùng đô thị trung tâm thành phố và trong các mỏ than
2.2.2 Đầu tư hạ tầng và cơ sở vật chất, kĩ thuật
Trong giai đoạn từ năm 1961 đến năm 1986, Đảng bộ và chính quyền nhân dân thị xã đã có nhiều cố gắng trong việc xây dựng cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kĩ thuật, đặc biệt trong việc đầu tư xây dựng hệ thống đường giao thông, những công trình lớn phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội của thị xã
Trang 33Mạng lưới đường giao thông trong thị xã và giữa thị xã với các vùng lân cận được đảm bảo thông suốt, đường quốc lộ số 18 mặc dù phải trải qua 2 cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mĩ nhưng vẫn được giữ vững, đảm bảo thông suốt và nâng cấp Hệ thống đường giao thông vào các vùng mỏ, đến các địa phương vùng sâu, vùng xa trong thị xã đều được nâng cấp và mở rộng
Trong giai đoạn từ năm 1961 đến 1986, hàng loạt những công trình lớn được Đảng bộ và chính quyền nhân dân thị xã tập trung đầu tư xây dựng, tiêu biểu có các công trình như Nhà máy nhiệt điện Uông Bí, Bệnh viện Việt Nam - Thụy Điển, Chợ Trung tâm Uông Bí, Rạp hát lớn của thị xã, các trường học…
Hệ thống đèn chiếu sáng, loa phát thanh… cũng được đầu tư xây dựng và lắp đặt trên phạm vi toàn thị xã
Để phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, yêu cầu quan trọng đầu tiên cần thực hiện là việc xây dựng hệ thống điện trong địa bàn toàn thị xã Năm
1961, thị xã Uông Bí tiến hành khởi công xây dựng nhà máy Nhiệt điện Uông
Bí Chỉ trong hơn 18 tháng (kể từ lúc khởi công 19/5/1961 đến cuối năm 1962)
xí nghiệp xây dựng cơ bản (bên B) đã xây dựng xong hơn 80% kế hoạch thi công đợt 1 Xí nghiệp lắp máy đạt 61% khối lượng công việc đợt 1, với 1 tổ máy hoàn chỉnh công suất 12.000 KW Công trường xây dựng đường điện Uông Bí - Đông Triều - Hải Phòng đã cơ bản hoàn thành việc dựng cột và kéo được 1/3 khối lượng dây Đến hết năm 1963 đã hoàn thành việc lắp đợt 2 (24.000 KW) đã vận hành không tải 72 giờ cụm máy I (12.000 KW) và sấy kiểm tra cụm máy 2 đạt kế hoạch Đường dây 110 KW Uông Bí - Đông Triều - Hải Phòng đã được xây dựng xong Ngày 18/1/1964, nhà máy điện Uông Bí đã hoàn thành việc xây dựng đợt 1 Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã cắt băng khánh thành, đưa dòng điện Uông Bí lên lưới điện quốc gia “Việc khánh thành nhà máy điện Uông Bí đã trở thành một sự kiện quan trọng trong lịch sử phát triển của thị xã uông Bí Từ đó, trên bản đồ năng lượng quốc gia, Uông Bí chiếm một vị trí quan trọng, vị trí động lực đẩy mạnh tốc độ công nghiệp hóa vùng than, vùng Đông Bắc của tổ quốc Nhân dân Uông Bí được sử dụng ngay thành quả lao động của mình Ánh sáng của nhà máy điện Uông Bí sẽ góp phần xua
Trang 34tan bóng đêm nghèo nàn lạc hậu, làm ấm lên một vùng vốn là núi rừng hoang
vu, xa vắng” [2, tr37], Công nghiệp điện năng trở thành một trong 2 ngành công nghiệp mũi nhọn góp phần làm giàu thêm cho đô thị Uông Bí đang tiến
vững chắc trên con đường phát triển Năm 1966, thị xã đã xây dựng hoàn chỉnh
đường điện 6kw về xã Nam Khê Nhờ có điện, nhân dân Nam Khê đã chủ động được khâu tưới tiêu ở các cánh đồng chuyên trồng rau, cây thực phẩm, máy
tưới phun bắt đầu hoạt động Đầu năm 1970 với sự đầu tư của ủy ban hành
chính tỉnh, toàn thị xã đã tập trung xây dựng đường điện 6kw xuống xã Phương Nam Trong gần 200 ngày, nhân dân đã kéo dây, vận chuyển, dựng trên 100
cây cột điện (mỗi cây nặng 1 tấn) Điện được đưa về xã đánh dấu một bước
ngoặt trong sự phát triển của xã Phương Nam Việc bơm nước tưới tiêu, chế biên đay cói đã được thực hiện bằng máy phát chạy điện Năng suất chế biến các mặt hàng tiểu thủ công nghiệp nâng lên rõ rệt Hệ thống chiếu sáng, hệ thống thông tin được xây dựng, góp phần cải thiện đời sống vật chất, tinh thần
của nhân dân vùng mới khai hoang Có thể nói, trong hơn 20 năm (từ 1961 đến
1986), thị xã Uông Bí đã xây dựng và hoàn thiện hệ thống điện lưới trong toàn thị xã Việc xây dựng được hệ thống điện đã phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế của địa phương, thúc đẩy phát triển các ngành kinh tế đồng thời tạo nên một diện mạo mới cho đô thị Uông Bí
Bảng 2.1 Kết quả xây dựng kết cấu hạ tầng từ năm 1965 đến năm 1990
Đường nội thị (km)
Đường liên xã (km)
Nhà dân Khu phố Nhà
cấp 4 (đạt
%)
Nhà tầng (đạt
%)
Số khu
Diện tích (m2)
Nguồn: [2, tr 127]
Trang 35Trong công nghiệp khai thác than, Đại hội đại biểu khu Hồng Quảng lần
thứ I kỳ 2 diễn ra tại thị xã Hòn Gai (năm 1961) đã chỉ rõ: “phải coi trọng nhiệm vụ phát triển công nghiệp mỏ” Nhằm đáp ứng công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc nước ta [1, tr.53] Từ năm
1961 đến năm 1986, Đảng bộ, Chính quyền và nhân dân thị xă đã tăng cường đầu tư trang thiết bị, máy móc, xây dựng lại hệ thống hầm lò…
Trong các ngành nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ, Chính quyền
và nhân dân thị xã đã tăng cường làm công tác thủy lợi cũng như đầu tư trang thiết bị, máy móc Trong công tác thủy lợi, hàng năm, nhân dân thị xã Uông Bí
đã tiến hành đào đắp hàng trăm nghìn mét khối đất đã, tiến hành quai đê, lấn biển, thau chua rửa mặn cho những vùng mới khai hoang Công tác thủy lợi đã góp phần tăng diện tích đất canh tác, góp phần to lớn cho phát triển ngành nông nghiệp và tiểu thủ công nghiệp
2.2.3 Tình hình kinh tế - xã hội
Về kinh tế
Trong nông nghiệp: Từ những năm 1961, Đảng bộ thị xã Uông Bí đã từng
bước hợp nhất 8 hợp tác bậc thấp nhất thành 2 hợp tác xã bậc cao là Vũ Phong
và Đồng Tiến Các hợp tác xã đã xây dựng được các đội chuyên thủy lợi, trồng rau Để thực hiện kế hoạch lâu dài, khai hoang thau chua rửa mặn mở rộng diện tích canh tác, thị xã đã tập trung tiền của và lực lượng lao động làm thủy lợi Trong năm 1962, thị xã đã huy động được 25.199 công đắp đê Đồng Nối ngăn nước mặn và hàng ngàn ngày công sửa mương máng Cuối năm 1962, diện tích canh tác đã được đưa lên 754 mẫu, và quay vòng được 2 vụ sản lượng lúa và hoa màu đạt 754,9 tấn hàng 100% kế hoạch năm 1962 Đến năm 1963, tổng diện tích canh tác nông nghiệp của thị xã Uông Bí đạt 1570 mẫu
Đảng bộ thị xã Uông Bí xác định giống, cây con của Uông Bí chủ yếu là cây lúa, sắn, khoai, rau, lợn Trên cơ sở xác định cây trồng sau đó tiến hành cách mạng giống cũ thoái hóa, đưa giống mới vào cấy trồng Diện tích gieo trồng lương thực năm 1976 đạt 1417 ha, diện tích trồng rau lạc là 4400ha Giống lúa mới được đưa vào chiếm trên 60% diện tích gieo trồng Sản lượng
Trang 36màu tăng nhanh năm 1976, sản lượng khoai đạt 976 tấn, sắn đạt 620 tấn Cây cói được quan tâm phát triển, cói là cây công nghiệp chủ yếu của vùng đất khai hoang lấp biển Năm 1976 diện tích cói đạt 207ha và đạt sản lượng 629 tấn [1,
tr 54] Năm 1979, thị xã đã hoàn thành hệ thống mương máng các cấp chủ động tưới tiêu cho 75% diện tích gieo trồng Trong những năm 1977 - 1979 thị
xã đã huy động trên 1 vạn lượt người xây dựng xong hệ thống mương máng ở
xã khai hoang Phương Nam, Phương Đông Năm 1979 thị xã đắp hoàn chỉnh
đê Phương Đông Trong 5 năm,thị xã đã lấn biển, mở rộng diện tích trồng trọt được 404 ha Nhờ các biện pháp đó mà tổng diện tích gieo trồng hàng năm từ
1977 - 1979 tăng trung bình 7,5% Sản lượng lương thực năm 1979 đạt 1450 tấn, trong đó sản lượng khoai quy ra thóc đạt 976 tấn, sản lượng rau tăng nhanh Trong 3 năm toàn thị xã bán ra thị trường trên 13000 tấn rau Sản lượng cói năm 1979 tăng gấp đôi năm 1976 đạt 1273 tấn [1, tr 62]
Để tạo sự đột phá trong sản xuất nông nghiệp, tiếp theo thông báo số 22- TB/TW ngày 21 tháng 10 năm 1980 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về một
số công tác trước mắt trong việc củng cố hợp tác xã nông nghiệp, ngày 13 tháng 1 năm 1981, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra chỉ thị số 100- CT/TW Về cải tiến công tác khoán, mở rộng “khoán sản phẩm đến nhóm và người lao
động” trong hợp tác xã nông nghiệp Thực hiện chủ trương mới “Mở rộng việc
thực hiện và hoàn thiện các hình thức khoán sản phẩm trong nông nghiệp” của
Hội nghị lần thứ IX, Ban Bí thư Trung ương Đảng Năm 1981, thị xã đã đầu tư cho nông nghiệp hơn một triệu đồng để tăng cường cơ sở vật chất cho sản xuất Các công trình thủy lợi được xây dựng và nâng cấp Các hợp tác xã đã thực hiện phương thức khoán đến nhóm và người lao động Năm 1981, tổng sản lượng lương thực của toàn thị xã (quy đổi ra thóc) đạt 3442 tấn, bằng 104% kế hoạch tăng 195 tấn so với năm 1980, riêng thóc tăng 150 tấn Diện tích cói được mở rộng 383ha, sản lượng đạt 1692 tấn, diện tích canh tác rau là 537ha sản lượng rau đạt 256 tấn, riêng hợp tác xã chuyên canh đạt 2290 tấn [1, tr 125] Đi đôi với đổi mới cơ chế quản lý, Thị uỷ Uông Bí đã đẩy mạnh công tác thuỷ lợi
với phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm” Nhà nước đầu tư 11 triệu
Trang 37đồng, trong đó vốn địa phương là 1,5 triệu, tập trung tu bổ, sửa chữa làm mới hàng chục công trình thuỷ lợi lớn, nhỏ với nhiều công trình quan trọng như: cống Phạm Hồng Thái, đập Thượng Cát, đập Chân Trục Nông dân đã đào đắp gần 30 nghìn mét khối đất để cải tạo hệ thống mương máng nội đồng Do đó, diện tích canh tác được chủ động tưới tiêu, năm 1981 là 697 ha; 1985 nâng lên
904 ha; tăng 29,7% so với chỉ tiêu Đại hội lần thứ XI đề ra Công tác thuỷ lợi kết hợp chặt chẽ với khai hoang lấn biển từ năm 1982-1985, mỗi năm thị xã mở rộng 67 ha gieo trồng và nuôi thuỷ sản Mặt khác thị xã đã hoàn chỉnh và đưa trại giống lúa Yên Trung, Công ty dịch vụ vật nuôi cây trồng vào hoạt động, phục vụ cho sản xuất
Với những biện pháp đó, năng suất cây trồng được nâng lên Năng suất lúa năm 1985 đạt 20,8 tạ/ha, vượt 6% so với 1981 là năm lúa mùa bội thu Sản lượng lương thực quy thóc 1985 đạt 4.473 tấn, tăng 29,9% so với 1981 Riêng sản lượng thóc năm 1985 đạt 3.420 tấn, tăng 40,3% so với năm 1981 Năng suất rau năm 1985 đạt 14 tấn/ha, vượt 12,9% so với năm 1981 [1, tr 136] Năng suất và sản lượng lương thực của thị xã trong 10 năm từ 1975-1985 đã
có mức tăng trưởng đáng kể nhưng nhìn chung còn thấp và thiếu ổn định Nguyên nhân của tình trạng này là do thị xã vẫn còn gặp nhiều khó khăn trong việc đầu tư tiến bộ khoa học kỹ thuật thêm vào đó thời tiết khắc nghiệt, khoán sản phẩm còn thiếu chặt chẽ sâu sát, khâu quản lý phân phối sản phẩm ở một số hợp tác xã thực hiện không đảm bảo yêu cầu ba lợi ích Đảng bộ và nhân dân thị xã đã nhìn thẳng vào những yếu kém sai lầm để chỉ đạo khắc phục có hiệu quả
Chăn nuôi cũng là một trong những thế mạnh của thị xã Uông Bí Chăn nuôi tập thể và chăn nuôi gia đình đều phát triển, tính đến năm 1976 đàn bò trong toàn thị xã đã có 709 con Để đưa chăn nuôi trở thành ngành sản xuất chính, tháng 6 năm 1978, thị xã khởi công xây dựng trại gà công nghiệp tại xã Nam Khê Với nguồn rau xanh phong phú trên 13000 tấn năm 1979 là một lợi thế đối với ngành chăn nuôi, năm 1979 toàn thị xã đã cung cấp ra thị trường
765 tấn thịt lợn hơi Năm 1979, thị xã có 858 con bò tăng 149 con so với năm
1976 [1, tr 63] Sản lượng lương thực và rau tăng đã góp phần phát triển đàn
Trang 38lợn Đến ngày 1 tháng 10 năm 1981 đàn lợn của thị xã đạt 9128 con, trong đó đàn lợn nái có 976 con, trâu có 1062 con bò có 782 con, vịt có trên 30000 con Tổng đàn gia súc tăng nhanh về số lượng và trọng lượng Đàn lợn năm 1985 có
11817 con, nhịp độ bình quân hàng năm tăng 6,65% Giá trị tổng sản lượng nông nghiệp toàn thị xã năm 1985 đạt 63.476.000 đồng, chiếm 68,4% giá trị tổng sản phẩm thị xã, tăng 5% so với chỉ tiêu Đại hội Đảng bộ đề ra [1, tr 137]
Về lâm nghiệp: Uông Bí là thị xã miền núi với 2/3 diện tích là đồi núi,
nhân dân các dân tộc trong thị xã phụ thuộc nhiều vào nguồn khai thác lâm sản Song sản xuất lâm nghiệp vẫn ở trong tình trạng mất cân đối giữa khai thác và trồng mới khoanh nuôi bảo vệ rừng, làm nương rẫy vẫn chưa có biện pháp khắc phục hữu hiệu, do vậy vẫn chưa khắc phục được thế mạnh kinh tế rừng Công tác lãnh đạo, quản lý bảo vệ rừng được chính quyền rất quan tâm
Do mở rộng quyền tự chủ và trách nhiệm của các cơ sở nên các lâm trường đều cố gắng sản xuất Năm 1976 khai thác lâm sản vượt 7% kế hoạch Thị xã đã thực hiện thí điểm giao đất giao rừng ở một số cơ sở, cho từng lao động đã tạo ra bước chuyển biến mới trong sản xuất lâm nghiệp, từng bước xây dựng luận chứng kinh tế rừng và bảo vệ rừng Nạn cháy rừng được hạn chế, tập thể và các hộ gia đình trồng cây gây rừng và khai thác các loại củi gỗ đều đạt mức kế hoạch giá trị sản lượng lâm nghiệp năm 1985 đạt 279000 đồng, sản lượng nhựa thông đạt 540 tấn tăng 2,5 lần so năm 1981 [1, tr 66]
Tuy công tác bảo vệ rừng được thị xã rất quan tâm nhưng tình trạng khai thác lâm sản trái phép, khai thác bừa bãi, phá rừng vẫn còn diễn ra ở nhiều nơi, làm cho diện tích rừng nhanh chóng bị thu hẹp
Về công nghiệp và thủ công nghiệp: Uông Bí ở phía Tây tỉnh Quảng Ninh,
quá trình hình thành gắn liền với công nghiệp khai thác Ðiện và Than Từ ngày
5 đến ngày 12/9/1960, Ðại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Ðảng diễn ra
tại Thủ đô Hà Nội: "Đại hội xây dựng chủ nghĩa xã hội và đấu tranh thống
nhất nước nhà" Đại hội đã vạch ra đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa và
phương hướng nhiệm vụ xây dựng kinh tế, thực hiện công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc Nhà nước quyết định xây dựng nhà máy nhiệt điện lớn
Trang 39nhất miền Bắc tại Uông Bí, với công suất 153000 Kw Việc xây dựng nhà máy chia làm 4 đợt đợt I, và đợt II mỗi đợt xây dựng và lắp đặt 24000 Kw, đợt III và đợt IV là 105000 Kw Ngày 18/1/1964, Thủ tướng Phạm Văn Đồng cắt băng khánh thành Nhà máy điện Uông Bí, đưa dòng điện hoà lưới điện quốc gia, góp phần vào sự nghiệp công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, phục vụ đời sống nhân dân Năm 1980 mỏ Vàng Danh đã hoàn thành kế hoạch, sản xuất được 361000 tấn than thương phẩm so với năm 1976 đạt 291000 tấn Nhà máy nhiệt điện Uông Bí đã hoàn thành kế hoạch sản xuất 500.000.000 KWh
Đảng bộ và nhân dân thị xã Uông Bí luôn xác định ngành than và ngành điện là hai ngành công nghiệp then chốt của thị xã Coi trọng hiệu quả sản xuất kinh doanh, tăng cường các mặt quản lý kinh tế, nhất là khâu kế hoạch lao động, tài chính và sản phẩm chủ yếu Kiên quyết giải thể những đơn vị làm ăn thua lỗ kéo dài (như xí nghiệp chiếu cói) Những đơn vị yếu kém được củng cố, kiện toàn như hợp tác xã vôi Yên Phong, gạch ngói Dốc Đỏ, vận tải thuỷ bộ Việt Thành Từ năm 1981, công ty than Uông Bí đã khắc phục được khó khăn
về vật tư, vốn cho sản xuất; từ năm 1981 - 1985 luôn luôn hoàn thành kế hoạch được giao Năm 1981 sản lượng than sạch của công ty đạt trên 700000 tấn Riêng mỏ Vang Danh đạt trên 400000 tấn than nguyên khai trong đó có 283200 tấn than sạch, có 845m lò chuẩn bị công suất lò chợ đạt trung bình 43500 tấn [1, tr 122] Các xí nghiệp Trung ương đóng trên địa bàn thị xã đã giữ vững sản lượng sản xuất, sản lượng hàng năm đều tăng Công ty than Uông Bí trong 5 năm 1981-1985 luôn hoàn thành kế hoạch được giao Năm 1985, sản lượng than nguyên khai đạt hơn 1 triệu tấn, nhịp độ tăng bình quân hàng năm là 18.400 tấn Mỏ than Vàng Danh, năm 1985 sản xuất được 333.040 tấn than sạch, đạt 114,8% kế hoạch năm, tăng 24.370 tấn so với năm 1980 [2, tr 99] Ngoài hai ngành công nghiệp chính là than và điện Uông Bí thủ công nghiệp cũng là một ngành khá phát triển Ngành thủ công nghiệp của thị xã tỷ trọng gia công hàng cho mậu dịch chiếm 70% tổng số sản phẩm Một số ngành nghề may mặc, sản xuất tranh nứa lá, gạch papanh, đan lát, cơ khí , đánh cá, sản xuất vôi, làm thùng tưới phục vụ nông nghiệp và đời sống phát triển tốt Đặc
Trang 40biệt, thị xã đã thu nhập 23 hộ dân dệt chiếu ở Thái Bình ra xây dựng quê hương mới ở Uông Bí trên cơ sở đó thành lập hợp tác xã dệt chiếu, bước đầu đã sản xuất được 2.754 chiếc chiếu, kết quả đó mở ra ngành nghề mới trong nông nghiệp Đáng chú ý là một số cơ sở sản xuất: vôi, gạch chỉ, làm muối, được củng
cố, mở rộng hợp tác xã rèn - mộc Hải Đồng Năm 1976 sản xuất vôi đạt 3248 tấn đáp ứng được nhu cầu xây dựng và cải tạo đồng ruộng Các ngành ra công hàng xuất khẩu đã mở ra hướng mới, giải quyết việc làm cho người lao động và tăng thu ngân sách cho thị xã Năm 1976 toàn thị xã đã sản xuất 164000m² chiếu xuất khẩu và 540 m² mành xuất khẩu xí nghiệp đá vượt 7% kế hoạch Xí nghiệp nhựa thông hoàn thành kế hoạch khai thác và chế biến Thực hiện nghị quyết của Đại hội IV (12- 1976) trong 3 năm 1977 và 1979, Đảng bộ và nhân dân thị xã Uông
Bí đạt được kết quả rất khả quan Giá trị tổng sản lượng tiểu thủ công nghiệp và công nghiệp địa phương của thị xã tăng trung bình hàng năm là 37% Sản lượng vôi đạt 4124 tấn Chiếu xuất khẩu đạt 234000 m² trong khi năm 1976 chỉ đạt
164000 m² [2, tr 87-88] Năm 1976, xuất khẩu chiếu cói là 164.000m2; năm
1980 đạt 234.000m2; thêu ren năm 1980 là 1.660m2; mành le 1976 là 540m2; thì năm 1980 là 1.050m2 Cùng với từng bước thực hiện điện khí hoá là cơ khí hoá nông nghiệp nông thôn đã được Đảng bộ thực hiện thành công [1, tr 129] Công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp đóng một vai trò quan trọng trong cơ cấu kinh tế của thị xã Uông Bí Các hợp tác xã nông nghiệp đã được trang bị xe công nông Bông Sen, máy bơm, máy tuốt lúa, máy xay xát, máy tưới phun cho rau và máy chế biến thức ăn gia súc Hợp tác xã Yên Thanh và hợp tác xã Nam Khê là trọng điểm đầu tư cơ khí nông nghiệp của thị xã, diện tích đất nông nghiệp được làm bằng máy bình quân toàn thị xã là 30%, có nơi 50% (nơi trọng điểm đầu tư cơ khí) Sự phát triển của ngành công nghiệp và thủ công nhiệp sẽ thúc đẩy ngành nông nghiệp, thương nghiệp Cơ cấu kinh tế Uông Bí phát triển cân đối và hoàn thiện
Về xã hội
Trong giáo dục: Thực hiện lời dạy của chủ tịch Hồ Chí Minh “Vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”, Đảng bộ Uông