Chương 1: Định nghĩa về khoa học và công nghệ theo quan điểm của chủ nghĩa Mac – Lênin. Chương 2: Những thành tựu về khoa học và công nghệ ở nước ta từ sau đổi mới. Chương 3: Những hạn chế, yếu kém về khoa học và công nghệ. Chương 4: Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ Việt Nam.
Trang 1Tiểu luận:
THỰC TRẠNG VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN
NAY Ở VIỆT NAM
Đăk Lăk, ngày 10 tháng 12 năm 2013
Trang 2Mở đầu
Đảng và Nhà nước ta xác định khoa học công nghệ là động lực của công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Khoa học và công nghệ có vai trò quyết định lợi thế cạnh tranh và tốc độ phát triển kinh tế nói chung, công nghiệp hóa, hiện đại hóa nói riêng ở các quốc gia Suy đến cùng, tiềm lực khoa học và công nghệ
là tiềm lực trí tuệ và sang tạo của cả dân tộc
Là một nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội từ một nền kinh tế kém phát triển nên tiềm lực khoa học và công nghệ ở nước ta còn yếu Muốn tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa thành công với tốc độ nhanh thì phải xây dựng một tiềm lực khoa học công nghệ thích ứng với đòi hỏi của nhiệm vụ Đây là một công việc vô cùng khó khăn và lâu dài
Trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội chúng ta đã tranh thủ thời cơ, thuận lợi, vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, nhất là những tác động tiêu cực của cuộc hủng hoảng tài chính, kinh tế khu vực và toàn cầu, đạt được những thành tựu to lớn và rất quan trọng, đất nước đã ra khỏi tình trạng kém phát triển, bước vào nhóm nước phát triển có thu nhập trung bình Để đạt được thành tựu
đó có vai trò to lớn của khoa học và công nghệ
Do đó việc nghiên cứu để áp dụng các thành tựu khoa học và công nghệ vào việc định hướng giải phóng sức lao động của con người, tạo đà để phát triển kinh tế ở nước ta hiện nay là vấn đề rất quan trọng, không thể thiếu vì đó
là động lực để phát triển đất nước Nó cũng là lý do tôi chọn chủ đề “Thực trạng và định hướng phát triển khoa học và công nghệ trong giai đoạn hiện nay
ở Việt Nam” làm tiểu luận nghiên cứu cho mình
Mục đích của tiểu luận là đánh giá lại thực trạng khoa học và công nghệ của nước từ khi đổi mới đến nay, tìm ra những hạn chế, yếu kém và đề ra chiến lược phát triển khoa học và công nghệ trong thời gian tới
Tiểu luận này gồm các nội dung chính sau:
Chương 1: Định nghĩa về khoa học và công nghệ theo quan điểm của chủ nghĩa Mac – Lênin
Trang 3Chương 2: Những thành tựu về khoa học và công nghệ ở nước ta từ sau đổi mới
Chương 3: Những hạn chế, yếu kém về khoa học và công nghệ
Chương 4: Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ Việt Nam
Trang 4Chương 1
Định nghĩa về khoa học và công nghệ theo quan điểm của chủ nghĩa
Mac – Lênin.
Khoa học với tính cách là một hình thái ý thức xã hội, là hệ thống tri thức chân thực về thế giới đã được chiêm nghiệm qua thực tiễn Nó tồn tại độc lập với ý thức xã hội và do xã hội quy định
Khoa học là một khái niện thể hiện ở nhiều nội dung khác nhau: Khoa học là một hình thái ý thức xã hội, là một công cụ nhận thức, khoa học là một lĩnh vực hoạt động xã hội, khoa học là một hệ thống tri thức của nhân loại được thể hiện bằng những khái niện, học thuyết…Tuy nhiên định nghĩa cho rằng khoa học là một hệ thống chỉnh thể thống nhất các tri thức của tiến trình lịch sử
xã hội được coi là định nghĩa đầy đủ nhất dưới góc độ lịch sử phát triển của khoa học
Ngoài ra khoa học còn được hiểu là quá trình hoạt động của con người để
có được hệ thống tri thức về thế giới với chức năng là cho con người nắm được nững quy luật của hiện thực khác quan, ngày càng làm chủ được những biến đổi của điều kiện tự nhiên và xã hội
Ngày nay do những biến đổi căn bản về vai trò của khoa học đối với sản xuất mà khoa học đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp
Sứ mệnh xã hội của khoa học là làm cho cuộc sống và lao động của con người trở lên đỡ vất và hơn và tăng them quyền lực trí tuệ của con người đối với thiên nhiên, góp phần hoàn thiện các quan hệ xã hội, đem lại hạnh phúc cho con người Khoa học tự nó là thành quả bất hủ của thiên tài con người Song khoa học tự nó không được coi là giá trị cao nhất của văn minh loài người, khoa học là phương tiên chú không phải mục đích
Công nghệ là việc phát triển, ứng dụng các công cụ, máy móc, nguyên liệu và quy trình để giúp giải quyết và làm ra sản phẩm
Kỹ thuật trước hết là tập hợp tri thức gắn liền và tương ứng với một tập hợp kỹ thuật (như máy móc, thiết bị, phương tiện…) bao gồm các tri thức về phương pháp, kỹ năng, bí quyết, kinh nghiệm… được sử dụng theo một quy
Trang 5trình hợp lý để vận hành, tập hợp kỹ thuật đó, tác động vào đối tượng lao động
để tạo ra sản phẩm phục vụ cho nhu cầu của con người Kỹ thuật từ chỗ chỉ dùng trong các hoạt động lao động sản xuất ra của cải vật chất theo sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế toàn cầu thì khái niệm kỹ thuật được sử dụng với nghĩa rộng hơn và trong nhiều lĩnh vực hoạt động của con người
Trong nửa thế kỷ qua, việc duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế và tạo ta công ăn việc làm luôn đứng vị trí cao trong danh mục những vấn đề ưu tiên của các nước trên thế giới đặc biệt là ở các nước đang phát triển Kết quả nghiên cứu của nhiều nhà khoa học đã chứng minh rắng ít nhất một nửa mức tăng trưởng kinh tế toàn cầu là nhờ việc ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật thông qua việc góp phần làm tăng hiệu quả đầu tư của các nguồn vốn và năng suất lao động xã hội cũng như tạo ra sản phẩm và dịch vụ thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của xã hội Vì vậy khoa học kỹ thuật đóng vai trò rất lớn trong các chiến lược tăng trưởng kinh tế của các nước phát triển và đang phát triển
Nếu như trong kỷ nguyên than đá, than đa, sức gió, sức nước, sức lao động của con người là chủ yếu thì tới kỷ nguyên năng lượng thì đó là dầu khí, máy hơi nước, điện năng, năng lượng nguyên tử Có thể nói việc tổng hợp các kinh nghiêm của các kỷ nguyên khác khoa học kỹ thuật đã trở thành động lực phát triển hàng đầu của nhiều nước trên thế giới, là lực lượng dẫn đầu và là lực lượng sản xuất trực tiếp của nền kính tế
Đầu thế kỷ 20 khoa học – kỹ thuật đã tạo nên cuộc cách mạng khoa học
kỹ thuật hiện đại của xã hội loài người, đánh dấu quá trình khoa học kỹ thuật biến thành lực lượng sản xuất trực tiếp là điều kiện để đưa lực lượng sản suất lên một bước phát triển mới Đó là sự thay đổi căn bản trong bản than các lĩnh vực khoa học kỹ thuật cũng như mối quan hệ và chức năng xã hội của chúng, khiến cơ cấu và động thái của các lực lượng sản xuất cũng bị thay đổi theo Cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật hiện đại đã biến đổi tận gốc lực lượng sản xuất của xã hội hiên đại, được thể hiện với vai trò dẫn đường của khoa học kỹ thuật trong toàn bộ chu trình: Khoa học – kỹ thuật – sản xuất – con người – môi
Trang 6trường Có thể nói sự phát triển của khoa học kỹ thuật đã đưa văn minh nhân loại quá độ sang một giai đoạn phát triển mới về bản chất Đó là kết quả của quá trình tích lũy lâu dài các kiến thức khoa học của việc đổi mới kỹ thuật sản xuất và tăng quy mô sử dụng kỹ thuật mới Trong đó sự phát triển có tính tiến hóa và các dịch chuyển có tính chất cách mạng đã cùng tạo điều kiện cho nhau phát triển Trong lĩnh vực sản xuất cũng như tỏng các ngành tri thức khoa học đều có biểu hiện nhảy vọt và sự phát triển trong nhiều lĩnh vực như sau:
Trong ngành năng lượng, sử dụng năng lượng nước, cơ bắp, giá Than, điện, dầu lửa rồi năng lượng nguyên tử…
Trong lĩnh vực sản xuất, từ hợp tác lao động giản đơn qua giai đoạn công trường thủ công rồi tiến đến phương thức sản xuất đại cơ khí với các quy trình sản xuất và kỹ thuật được cơ giới hóa tổng hợp, xuất hiện các hệ thống máy móc, tạo ra các máy móc tự động, tự động hóa đồng bộ, hệ thống sản xuất linh hoạt
Trong sản xuất vật liệu, chuyển từ ngành nguyên liệu nông nghiệp, các loại vật liệu xây dựng truyền thống, sử dụng kim loại, bê tông, các vật liệu kết cấu, vật liệu thông minh, vật liệu siêu dẫn…
Trong kỹ thuật sản xuất, chế tạo từ sản xuấ thủ công, tiến đến bán tự động, tới tự động hóa Kỹ thuật thông tin học, kỹ thuật sinh học, …
Như vậy cuộc khoa học kyc thuật hiện đại dựa trên cơ sở cốt lõi là cuộc cách mạng vi điện tử diến ra đầu thập niên 60 và các thành tựu khoa học kỹ thuật lớn nhất của thế kỷ XX Đó là bước quá độ dưới sự chỉ đạo với vai trò dẫn đường của khoa học sang quá trình tổ chức lại về căn bản kỹ thuật sản xuất, điều tiết các quy trình kỹ thuật với quy mô ngày càng tăng
Chương 2
Trang 7Những thành tựu về khoa học và cụng nghệ ở nước ta từ sau
đổi mới.
Lịch sử loài ngời trải qua 5 -6 ngàn năm (Trớc thế kỷ XVIII) thời kỳ công trờng thủ công, gần 300 năm thời kỳ đại công nghiệp cơ khí nh ng chỉ mất gần 120 năm để hoàn thành thời kỳ công nghiệp hoá đầu tiên, sau đó ở các nớc Mỹ, Tây Âu chỉ tiến hành công nghiệp hoá trong vòng 80 năm, Nhật Bản 60 năm và ngày nay Việt Nam cũng nh nhiều quốc gia khác trên thế giới
đang tích cực rút ngắn khoảng cách, tiến dần tới nền văn minh nhân loại cũng chính bằng Công nghiệp hoá - hiện đại hoá Các nớc đã đi qua giai đoạn phát triển TBCN đi vào thời kỳ quá độ lên CNXH tiến hành thực hiện quá trình tái công nghiệp nhằm điều chỉnh, bổ sung và hoàn thiện cơ sở vật chất kỹ thuật
và kỹ thuật hiện đại theo yêu cầu của chế độ xã hội hội mới Các nớc có nền kinh tế phát triển chậm nhất là các nớc nông nghiệp lạc hậu thì tiến lên CNXH để xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật nhất thiết phải công nghiệp hoá
để tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật làm tiền đề cho sự phát triển kinh tế - xã hội Quan niệm đơn giản nhất về công nghiệp hoá cho rằng: "công nghiệp hoá đ a
đặc tính công nghiệp cho một hoạt động, trang bị (cho một vùng, một n ớc), các nhà máy, các loại công nghiệp".Quan niệm này đợc hình thành dựa trên cơ sở khái quát quá trình hình thành lịch sử công nghiệp hoá ở các n ớc Tây
Âu, Bắc Mỹ
Nghiên cứu định nghĩa về phạm trù công nghiệp hoá của các nhà kinh
tế Liên Xô (cũ), Cuốn "Giáo khoa về kinh tế chính trị "của Liên Xô đ ợc dịch sang tiếng Việt đã định nghĩa: "công nghiệp hoá XHCN là phát triển đại công nghiệp, trớc hết là công nghiệp nặng, sự phát triển cần thiết cho việc cải tạo toàn bộ nền kinh tế quốc dân dựa trên cơ sở vật chất kỹ thuật tiên tiến Cuốn từ điển tiếng Việt đã giải thích: "Công nghiệp hoá là quá trình xây dựng nền sản xuất cơ khí lớn trong tất cả các ngành của nền kinh tế quốc dân và đặc biệt công nghiệp nặng dần tới sự tăng nhanh trình độ trang bị kỹ thuật cho lao động và nâng cao năng suất lao động Quan điểm công nghiệp hoá là quá trình xâydựng và phát triển đại công nghiệp tr ớc hết là công nghiệp nặng của các nhà kinh tế học Liên Xô (cũ) đợc chúng ta tiếp nhận, áp dụng vào Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá của đất n ớc ngay từ những năm
1960 với nội dung chủ đạo là "Ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý, đồng thời gia sức phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ nhằm xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho CNXH" Nhng trên thực tế, chúng ta đã phải trả giá cho sự nghiệp công nghiệp hoá XHCN theo kiểu đó khi áp đặt
Trang 8mô hình công nghiệp hoá XHCN ở Liên xô vào n ớc ta mà không xuất phát từ thực trạng đất nớc là một nớc nông nghiệp lạc hậu Tuy nhiên, dù không đạt
đợc mục tiêu đề ra trong những năm đầu tiến hành công nghiệp hoá nh ng cũng nhờ đó mà chúng ta đã xây dựng đợc một cơ sở vật chất kỹ thuật nhất
định, tạo ra tiềm lực mới về nhiều mặt đặc biệt là kinh tế, quốc phòng, văn hoá, chính trị góp phần cho cuộc kháng chiến tr ờng kỳ của dân tộc, bảo đảm
đợc phần nào đời sống vật chất của nhân dân
Đến năm 1963, tổ chức phát triển công nghiệp của liên hiệp quốc đã
đa ra định nghĩa về Công nghiệp hoá là: "Công nghiệp hoá một quá trình phát triển kinh tế" Trong quá trình này, một bộ phận ngày càng tăng các nguồn của cải quốc dân đợc động viên để phát triển cơ cấu kinh tế nhiều ngành ở trong nớc với kỹ thuật hiện đại Đặc điểm của cơ cấu kinh tế này là "có một
bộ phận luôn thay đổi để sản xuất ra t liệu sản xuất, hàng tiêu dùng và có khả năng đảm bảo cho toàn bộ nền kinh tế và xã hội ".Theo quan điểm này, quá trình công nghiệp hoá đợc hiểu là quá trình rộng lớn và sâu sắc với nhiều mục tiêu chứ không phải chỉ nhằm thực hiện một mục tiêu duy nhất là kinh tế
kỹ thuật nh trớc kia Dựa trên cơ sở kỹ thuật đó, chúng ta nhận thức rõ đ ợc sai lầm của mình trên con đờng công nghiệp hoá XHCN theo kiểu cũ, cứng nhắc và kém hiệu quả Cả lý luận và thực tiễn đều chỉ ra rằng: Quá trình phát triển đầy khó khăn, thử thách từ tình trạng kinh tế lạc hậu sang trạng thái kinh tế phát triển hiện đại không thể không tiến hành công nghiệp hoá và cùng với công nghiệp hoá là hiện đại hoá Công nghiệp hoá phải gắn liền với hiện đại hoá và là hai quá trình nối tiếp và đan xen lẫn nhau Tr ớc đó, ở các nớc Mỹ và Tây Âu, họ đã tiến hành công nghiệp hoá khá lâu rồi mới đi vào hiện đại hoá và cho tới nay, quá trình này vẫn còn đang tiếp tục Ta có thể hiểu: Hiện đại hoá là quá trình chống lại sự tụt hậu củạ sự bùng nổ của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật đang diễn ra trên thế giới Nh vậy, xét về mặt lịch sử quá trình công nghiệp hoá diễn ra trớc quá trình hiện đại hoá Kinh nghiệm của cuộc đổi mới đất nớc theo định hớng XHCN ở nớc ta cho thấy rằng: "công nghiệp hoá nhất thiết phải gắn liền với hiện đại hoá ".Tại hội nghị Trung ơng khoá VII (Tháng7/1994) và khoá VIII(Tháng 6/1995) Đảng
ta đã khẳng định: "Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế, xã hội từ sử dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với kỹ thuật và phơng pháp tiên tiến, hiện đại dựa trên sự phát triển của cồng nghiệp và tiến bộ khoa học - kỹ thuật, tạo ra năng suất lao động xã hội cao Với quan niệm này, về cơ bản đã phản ánh đ ợc phạm vi rộng của quá trình Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá, chỉ ra đ ợc cái
Trang 9cốt lõi của nó là cải biến lao động thủ công, lạc hậu thành lao động sử dụng lao động tiên tiến, hiện đại để đạt đợc năng suất lao động cao, gắn công nghiệp hoá với hiện đại hoá, xác định rõ vai trò của công nghiệp, của khoa học - kỹ thuật trong sự nghiệp công nghiệp hoá Nh vậy về cơ bản công nghiệp hoá theo định hớng XHCN: "là một cuộc cách mạng sâu sắc trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội."
Trong giai đoạn quỏ độ lờn Chủ Nghĩa Xó Hội ở nước ta việc ứng dụng cỏc thành tựu khoa học cụng nghệ cú vai trũ rất quan trọng, giỳp thu hẹp về khoảng cỏch phỏt triển với cỏc nước khỏc, tận dụng được những thành tựu của nước khỏc phục vụ cho sự phỏt triển của đất nước và tạo đà để phỏt triển khoa học và cụng nghệ trong nước Từ sau khi đất nước đổi mới năm 1986 chỳng ta
đó đạt được những thành tựu khoa học cụng nghệ rất to lớn
- Đầu tiờn là sự thay đổi trong tư duy nhận thức về vai trũ của khoa học cụng nghệ đối với đời sống Trước khi đất nước đổi mới Việt Nam chỉ cú hai thành phần kinh tế là: Kinh tế Nhà nước và kinh tế tập thể vỡ quan niệm lỳc đú cho rằng CNXH khụng cú kinh tế tư nhõn, sức lao động khụng thể trở thành hang húa Do vậy khụng cú nhu cầu trao đổi, buụn bỏn…khụng kớch thớch sự tỡm tũi, nghiờn cứu, phỏt triển tư duy cỏ nhõn Năm 1996 nước ta cụng nhận cú hỡnh thỏi kinh tế thị trường, làm xuất hiện nhu cầu trao đổi, giao thương…kớch thớch sự tỡm tũi, học hỏi của con người, giỳp nền kinh tế phỏt triển, tạo đà cho khoa học và cụng nghệ phỏt triển theo
- Ở nước ta hiện nay khoa học và cụng nghệ được ứng dụng rộng rói trong tất cả cỏc ngành nghề, cỏc lĩnh vực khỏc nhau
+ Trong nụng nghiệp người nụng dõn cũng đó rất chỳ trọng đến việc ỏp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuõt như đầu tư cỏc loại mỏy gặt, mỏy cấy hiện đại hiệu suất cao để thay thế dần sức lao động của con người, trang bị cỏc lại mỏy phục vụ cụng tỏc chế biến, bảo quản để nõng cao giỏ trị hàng nụng sản
Sản lợng lơng thực tăng liên tục, đây chính là thành tựu nổi bật nhất và có
ý nghĩa chiến lợc của nớc ta trong thời kỳ thực hiện công nghiệp hoá hiện đại hoá Trên đất nớc ta về cơ bản không còn nạn đói, dự trữ quốc gia và xuất khẩu lơng thực cũng tăng lên đáng kể
Trang 10Năm 1995, bình quân lơng thực là 360 kg/ngời, năm 2000 đã tăng lên 444kg/ngời Nghề nuôi trồng và đánh bắt thuỷ hải sản phát triển khá Giá trị sản xuất nông, lâm, ng nghiệp tăng bình quân hàng năm 5,7% (mục tiêu đề ra là tăng 4,5 - 5%) Đã tạo đợc một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực là gạo (đứng thứ
2 - 3 thế giới), cà phê (đứng thứ 3 thế giới), ngoài ra còn có hồ tiêu, cao su, và hàng thuỷ sản
Nông nghiệp nớc ta đã bớc đầu đợc thuỷ lợi hoá, hoá học hoá, cơ khí hoá,
điện khí hoá, áp dụng các thành tựu của khoa học công nghệ nhng cơ sở hạ tầng còn thấp, lao động thủ công vẫn còn khá phổ biến, trình độ khoa học công nghệ còn thấp so với thế giới
Trong những năm qua nhà nớc và nhân dân đã thực hiện nhiều công trình xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ sự nghiệp phát triển nông nghiệp, nông thôn Tuy nhiên chất lợng các công trình còn thấp cần tiếp tục đợc tu bổ, nâng cấp, xây dựng mới Hiện nay chúng ta đã hình thành một hệ thống các công trình phân bố trên phạm vi rộng với 743 hồ chứa nớc lớn và vừa, 1017 đập dâng,
4716 cống tới tiêu, 1796 trạm bơm đIện và hơn 2000 trạm biến thế chuyên dùng cho thuỷ lợi Đã xây dựng đợc mạng lới giao thông nông thôn phát triển theo chiều sâu và rộng Năm 1994 tỷ lệ xã có đờng ô tô về đến trung tâm xã là 86,5%, năm 1999 tăng lên 95%, khoảng 9777 xã Tuy nhiên đờng giao thông lạc hậu đã gây ách tắc về giao lu hàng hoá trên thị trờng Điện đã xuống đợc thôn xóm nhng chất lợng còn thấp và giá cả cao so với thu nhập của ngời dân nông thôn Năm 1999 có 8 894 143 hộ ở nông thôn có điện dùng, đạt 69,3% số
hộ nông thôn đợc dùng đIện lới quốc gia (Nguồn: Tạp chí Kinh tế và Dự báo số
12 năm 2000 trang 7).
Việc sử dụng các loại hoá chất trong nông nghiệp nớc ta ngày một tăng Mặc
dù các loại hoá chất đã góp một phần quan trọng trong việc gia tăng sản lợng nông sản, nhng cũng đặt ra những vấn đề về môi trờng, về sức khoẻ ngời tiêu dùng, do vậy cần phải hớng dẫn và quản lý chặt chẽ việc sử dụng các loại hoá chất trong nông nghiệp
Nhờ việc ứng dụng thành tựu cách mạng sinh học trong những năm gần
đây, chúng ta đã tạo ra nhiều giống cây trồng, cây lơng thực, cây lâm nghiệp,
đặc biệt là các loại giống lai có khả năng thích nghi với thời tiết tốt và cho năng suất cao Trong lĩnh vực chăn nuôi và thuỷ sản, chúng ta đã có những giống lợn
có tỷ lệ nạc cao, gà công nghiệp có tốc độ sing trởng nhanh, tốn ít thức ăn Tuy nhiên trình độ áp dụng thành tựu cách mạng sinh học của nớc ta còn thấp nên cha tạo đợc các bớc đột phá