Chương I: CƠ SỞ LÝ LUẬN1.1 Công chức Việt Nam 1.1.1 Khái niệm......................................................................................... .11.1.2 Phân loại công chức........................................................................... 11.2 Đào tạo công chức ..............................................................................................11.2.1 Khái niệm ......................................................................................... 11.2.2 Mục tiêu đào tạo công chức ..............................................................21.2.3 Sự cần thiết và vai trò của đào tạo công chức ...................................21.2.4 Quy định của Nhà nước về nội dung và hình thức đào tạo............... 31.2.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động đào tạo công chức............ 41.2.6 Quy trình đào tạo công chức............................................................. 4Chương II: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC ĐÀO TẠO CÔNG CHỨC TẠI TỈNH VĨNH PHÚC2.1 Khái quát chung về tỉnh Vĩnh Phúc.................................................................... 52.2 Thực trạng công tác đào tạo công chức tại tỉnh Vĩnh Phúc............................... 62.2 1 Về xác định nhu cầu đào tạo ..............................................................62.2.2 Nội dung và chương trình đào tạo ......................................................62.2.3 Hình thức đào tạo............................................................................... 72.2.4 Kết quả thực hiện đào tạo................................................................... 82.3 Một số đánh giá về hiệu quả công tác đào tạo công chức tỉnh Vĩnh Phúc .......102.3.1 Ưu điểm............................................................................................ 102.3.2 Một số hạn chế ..................................................................................10Chương III: ĐỀ XUẤT MỘT SỐ KIẾN NGHỊ, GIẢI PHÁP
Trang 1Lời mở đầu
Trong thời kì phát triển và hội nhập toàn cầu thì hiệu lực cũng như hiệu quả của bộ máy Nhà nước nói chung, của khu vực hành chính công nói riêng được quyết định bởi phẩm chất năng lực và kết quả công tác của đội ngũ cán bộ, công chức Nhà nước Phẩm chất đội ngũ cán bộ, công chức ngoài khả năng và tinh thần tự học tập, lại phụ thuộc rât nhiều vào công tác đào tạo, bồi dưỡng thường xuyên kiến thức và kĩ năng thực hành cho họ Trong điều kiện đội ngũ cán bộ, công chức Nhà nước ở nước ta hiện nay đa số đã được đào tạo trong thời kỳ của cơ chế tập trung quan lieu bao cấp, chưa được chuẩn hoá theo tiêu chuẩn chức danh, chưa đáp ứng được đầy đủ yêu cầu nhiệm vụ của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, xây dựng nền kinh tế thị trường, mở cửa để hội nhập với khu vực quốc tế, đặc biệt là trong điều kiện khoa học và công nghệ phát triển như vũ bão, thâm nhập vào tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, việc ứng dụng những thành tựu khoa học công nghệ tin học vào hiện đại hoá nền hành chính, công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức trở nên cần thiết hơn bao giờ hết
Nghiên cứu sâu hơn về vấn đề này, em xin chọn đề tài “Thực trạng công tác đào tạo công chức tại tỉnh Vĩnh Phúc”.
Bài viết gồm 3 nội dung chính sau:
Chương I: Cơ sở lý luận
Chương II: Thực trạng công tác đào tạo công chức tại tỉnh Vĩnh Phúc
Chương III: Đề xuất một số kiến nghị, giải pháp.
Do trình độ học tập cũng như hiểu biết còn hạn chế, thời gian nghiên cứu có hạn nên trong quá trình tìm hiểu, phân tích và đánh giá không thể tránh khỏi những sai sót nhất định Kính mong nhận được sự góp ý của giáo viên để bài viết của em được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 2Chương I:
CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 Công chức Việt Nam:
1.1.1 Khái niệm:
Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội ở Trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (gọi
chung là cấp tỉnh), ở quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là cấp huyện), trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội (còn gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách Nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật
1.1.2 Phân loại công chức:
Căn cứ vào vị trí công tác, công chức được phân loại như sau:
- công chức lãnh đạo, quản lý là những người được bầu cử hoặc bổ nhiệm giữ chức vụ lãnh đạo, chỉ đạo Những người này được quy hoạch đào tạo căn bản cả về lý luận chính trị lẫn nghiệp vụ chuyên ngành, có khả năng tổng hợp và khái quát cao
- Công chức chuyên môn là những người đã được đào tạo, bồi dưỡng ở các trường, lớp, có khả năng chuyên môn, được tuyển dụng, đảm nhận các chức vụ chuyên môn, nghiệp vụ trong cơ quan hành chính Nhà nước Họ được quy hoạch đào tạo theo tiêu chuẩn cấp kiến thức nghiệp vụ với hai phân nhánh chính là lý thuyết và thực hành
1.2 Đào tạo công chức:
1.2.1 Khái niệm:
Trang 3Đào tạo là quá trình tác động đến con người làm cho người đó lĩnh hội và nắm vững những tri thức, kỹ năng kỹ xảo một cách có hệ thống nhằm chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng nhận một sự phân công lao động nhất định
1.2.2 Mục tiêu đào tạo công chức:
• Trang bị kiến thức, kỹ năng, phương pháp thực hiện nhiệm vụ, công vụ.
Để thực hiện tốt nhiệm vụ, công vụ của mình, bên cạnh những kiến thức về chuyên môn, công chức cần phải có những kiến thức, kỹ năng và phương pháp thực hiện nhiệm vụ công vụ Do đó, công chức phải trang bị những kiến thức và kỹ năng cơ bản, bổ sung kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ và quản lý nhằm xây dụng đội ngũ cán bộ, công chức Nhà nước thành thạo về chuyên môn, nghiệp vụ; trung thành với chế độ xã hội chủ nghĩa, tận tuỵ với công vụ; có trình độ, quản lý tốt, đáp ứng yêu cầu của việc kiện toàn và nâng cao hiệu quả của bộ máy Nhà nước; thực hiện chương trình cải cách nền hành chính Nhà nước
• Xây dựng đội ngũ công chức, viên chức chuyên nghiệp có đủ năng lực xây dựng nền hành chính tiên tiến, hiện đại
Công cuộc đổi mới đất nước cùng tiến trình hội nhập quốc tế đặt ra yêu cầu to lớn và cấp bách về xây dựng đội ngũ công chức có đủ phẩm chất và năng lực góp phần đáp ứng yêu cầu ngày càng cao sự nghiệp xây dựng đất nước trong thời kỳ mới Đội ngũ công chức nhà nước đóng vai trò trực tiếp và quan trọng tác động đến quá trình đổi mới Trong tiến trình hội nhập nền kinh tế, đòi hỏi đội ngũ công chức nhà nước phải có trình độ chuyên môn cao, có phẩm chất đạo đức vững vàng,
sự tận tụy và khả năng giải quyết công việc nhanh nhạy
1.2.3 Sự cần thiết và vai trò của đào tạo công chức:
Cán bộ, công chức có vai trò rất quan trọng trong việc hoạch định, triển khai và
tổ chức thực hiện chính sách của Đảng, Nhà nước; quyết định sự thành công hay thất bại của đường lối, chính sách do cơ quan, tổ chức vạch ra Đội ngũ cán bộ, công chức trực tiếp thực thi các chính sách, kế hoạch của cơ quan, tổ chức; các mục tiêu quốc gia; thực hiện các giao tiếp (trao đổi, tiếp nhận thông tin, ) giữa các
cơ quan nhà nước với nhau và với doanh nghiệp và người dân Vì vậy, đội ngũ cán
bộ, công chức phải được quan tâm đào tạo, bồi dưỡng về năng lực công tác, kỹ năng nghiệp vụ, tinh thần trách nhiệm và ý thức phục vụ nhân dân Đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức là
Trang 4một nhiệm vụ quan trọng được xác định trong Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011-2020 Đào tạo, bồi dưỡng nhằm xây dựng được đội ngũ cán bộ, công chức thực sự có năng lực, biết giải quyết các vấn đề được giao trên nguyên tắc kết quả, hiệu quả và chất lượng
Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức là nhiệm vụ thường xuyên, có ý nghĩa quan trọng, góp phần tích cực trong việc nâng cao trình độ chuyên môn, năng lực công tác, chất lượng và hiệu quả làm việc của cán bộ, công chức, viên chức; hướng tới mục tiêu là tạo được sự thay đổi về chất trong thực thi nhiệm vụ chuyên môn Đào tạo, bồi dưỡng tập trung trang bị những kiến thức, kỹ năng, thái độ thực hiện công việc cho cán bộ, công chức, viên chức; trong đó, cung cấp những kiến thức,
lý luận cơ bản, trang bị kỹ năng, cách thức hoạt động thực thi công việc, giáo dục thái độ thực hiện công việc thể hiện sự nhiệt tình, tinh thần trách nhiệm của người cán bộ, công chức, viên chức
1.2.4 Quy định của Nhà nước về nội dung và hình thức đào tạo:
Theo Điều 6, Điều 15 Nghị định số 18/2010/NĐ-CP của Chính phủ về đào tạo, bồi dưỡng công chức:
• Nội dung đào tạo công chức:
* Nội dung đào tạo, bồi dưỡng ở trong nước:
- Lý luận chính trị
- Chuyên môn, nghiệp vụ
- Kiến thức pháp luật; kiến thức, kỹ năng quản lý Nhà nước và quản lý chuyên ngành
- Tin học, ngoại ngữ, tiếng dân tộc
* Nội dung bồi dưỡng ngoài nước:
- Kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng quản lý hành chính Nhà nước và quản lý chuyên ngành
- Kiến thức, kinh nghiệm hội nhập quốc tế
Trang 5• Hình thức đào tạo công chức:
- Tập trung
- Bán tập trung
- Vừa làm vừa học
- Từ xa
1.2.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động đào tạo công chức:
- Quản lý nhà nước về đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức
- Hệ thống đánh giá, báo cáo trong đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức
- Chương trình đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức;
- Giáo trình, tài liệu và đội ngũ giảng viên;
- Cơ sở vật chất và trang thiết bị;
- Hợp tác quốc tế
1.2.6 Quy trình đào tạo công chức:
- Xác định nhu cầu đào tạo công chức
- Lập kế hoạch đào tạo công chức
- Thực hiện kế hoạch đào tạo công chức
- Đánh giá đào tạo công chức
Chương II:
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC ĐÀO TẠO CÔNG CHỨC
Trang 6TẠI TỈNH VĨNH PHÚC
2.1 Khái quát chung về tỉnh Vĩnh Phúc:
Vĩnh Phúc là một tỉnh phía Bắc có diện tích tự nhiên khoảng 1.371 km2, dân số gần 1, 2 triệu người Tỉnh có 152 xã, phường, thị trấn thuộc 9 đơn vị hành chính gồm: thành phố Vĩnh Yên (là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa của tỉnh), thị xã Phúc Yên và 7 huyện là Mê Linh, Bình Xuyên, Yên Lạc, Vĩnh Tường, Tam Dương, Tam Đảo, Lập Thạch
Do đặc điểm vị trí địa lý nên nơi đây hình thành 3 vùng sinh thái rõ rệt: đồng bằng, trung du và miền núi, cùng với nguồn tài nguyên nước mặt, nước dưới đất tương đối rồi rào, do vậy hết sức thuận tiện cho phát triển nông lâm nghiệp, thủy sản, công nghiệp và du lịch - dịch vụ Một trong những ưu thế của Vĩnh Phúc so với các tỉnh xung quanh Hà Nội là có diện tích đất đồi khá lớn của vùng trung du,
có đặc tính cơ lý tốt thuận tiện cho việc xây dựng và phát triển công nghiệp
Là tỉnh được thiên nhiên ưu đãi, có vị trí phát triển kinh tế thuận lợi, tiếp giáp với Thủ đô Hà Nội, Vĩnh Phúc có nhiều lợi thế trong phát triển kinh tế – xã hội Với sự nỗ lực phấn đấu của Đảng bộ và nhân dân các dân tộc trong tỉnh, trong những năm qua, tình hình kinh tế – xã hội của Vĩnh Phúc đã đạt được những thành tựu nổi bật, nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao
Vĩnh Phúc có tiềm năng lớn về tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn Tại đây
có một quần thể danh lam, thắng cảnh tự nhiên nổi tiếng: rừng Quốc gia Tam Đảo, thác Bản Long, hồ Đại Lải, hồ Làng Hà Nhiều lễ hội dân gian đậm đà bản sắc dân tộc và rất nhiều di tích lịch sử, văn hóa mang đậm dấu ấn lịch sử và giá trị tâm linh như danh thắng Tây Thiên, Tháp Bình Sơn, Đền thờ Hai Bà Trưng, Đền thờ Trần Nguyên Hãn, Di chỉ Đồng Đậu
Vĩnh Phúc được tái thành lập và đi vào hoạt động theo đơn vị hành chính mới từ ngày 01/01/1997 Đến nay, mọi mặt đời sống kinh tế – xã hội trong tỉnh đều phát triển nhanh theo hướng tích cực, để có được điều này thì vai trò của công chức, công chức Nhà nước có vị trí rất đặc biệt quan trọng, trong đó có công tác đào tạo cán bộ, công chức
2.2 Thực trạng công tác đào tạo công chức tại tỉnh Vĩnh Phúc:
2.2 1 Về xác định nhu cầu đào tạo:
Trang 7Trước đây, tỉnh uỷ chưa quan tâm đúng mức tới nhu cầu đào tạo, công tác đào tạo chỉ mang tính hình thức không theo nhu cầu thực tế, không mang lại hiệu quả cao Các chương trình đào tạo chủ yếu là những nội dung lý thuyết rất chung và cứng nhắc, điều này làm cho người học cũng như giảng viên không phát huy được tính chủ động, sáng tạo của mình trong quá trình đào tạo, ngược lại họ còn bị phụ thuộc vào nội dung giáo trình đã được định trước
Cho đến hiện nay, việc xác định nhu cầu đào tạo của tỉnh đã được quan tâm hơn rất nhiều Công tác đào tạo lúc này không chỉ mong muốn lấp đầy, khắc phục
những hụt hẫng về năng lực công tác của cán bộ công chức trong tỉnh mà còn quan tâm đến việc xác định và thoả mãn nhu cầu đào tạo được thực hiện theo các mức độ khác nhau như: nhu cầu của toàn cơ quan, nhu cầu của từng bộ phận và nhu cầu của từng cá nhân cán bộ công chức Tuy nhiên, việc xác định nhu cầu lại tiến hành dựa vào thực trạng đội ngũ cán bộ công chức và nhu cầu của tổ chức chứ không thực sự quan tâm đến các nhu cầu cá nhân
Trên thực tế, chỉ khi công chức có thái độ hài lòng và hứng thú với công việc khi công việc của họ phù hợp với chuyên môn được đào tạo và điều này sẽ giúp tăng cường hiệu quả hoạt động của tỉnh Do đó có thể thấy tác động gián tiếp của mức độ hài lòng với công việc tới nhu cầu đào tạo Hơn thế nữa, khi làm việc với sự đam mê thì sẽ xuất hiện tâm lý muốn thực hiện hiệu quả tốt hơn nữa công việc của mình, điều này chỉ có thể làm được thông qua công tác đào tạo
Qua đây có thể thấy nhu cầu đào tạo công chức của Vĩnh Phúc là khá cao, tập trung chủ yếu vào các kiến thức về lý luận chính trị, quản lý hành chính, ngoại ngữ và tin học, từ việc tiến bộ trong xác định nhu cầu đào tạo của tỉnh mà công tác này đã sát thực tế hơn, những nội dung kiến thức mà công chức thu nhận trong quá trình đào tạo ngày càng được áp dụng nhiều hơn trong công việc của họ
2.2.2 Nội dung và chương trình đào tạo:
- Đào tạo về lý luận chính trị, cập nhật đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước nhằm thường xuyên xây dựng đội ngũ công chức Nhà nước có lập trường chính trị vững vàng, thái độ chính trị đúng đắn, phẩm chất
tư tưởng tốt Chính vì vậy trong thời gian qua, UBND tỉnh đã thường xuyên cử công chức theo học các lớp đào tạo bồi dưỡng chính trị
- Đào tạo bồi dưỡng kiến thức về quản lý hành chính Nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội Chủ nghĩa, nhằm trang bị những kiến thức cơ bản về kinh tế thị trường và vai trò của Nhà nước trong cơ chế kinh tế mới Đây là nội
Trang 8dung quan trọng mà Đảng và Nhà nước đã và đang phấn đấu hoàn thành, do đó, nhiệm vụ này nhanh chóng có kết quả, UBND tỉnh đã chú trọng đào tạo những kiến thức về quàn lý hành chính Nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội Chủ nghĩa cho công chức
- Đào tạo những kiến thức các lĩnh vực chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng nghề nghiệp để xây dựng đội ngũ công chức giỏi, có năng lực xây dựng, hoạch định, triển khai và tổ chức thực hiện các chính sách, quản lý các chương trình, dự án của Nhà nước có hiệu quả, đáp ứng mục tiêu phát triển của Sở đề ra
- Đào tạo ngoại ngữ cho công chức Nhà nước để tăng cường khả năng giao tiếp, nghiên cứu tài liệu nước ngoài trong lĩnh vực chuyên môn
- Trang bị những kiến thức cơ bản về tin học, sử dụng công cụ tin học nhằm từng bước hiện đại hoá và tăng cường năng lực của nền kinh tế hành chính Nhà nước
2.2.3 Hình thức đào tạo:
- Đảm bảo công việc được sắp xếp một cách khoa học, hoạt động thông suốt, đồng thời để các đối tượng có thể tham gia hoạt động thuận tiện, trong quá trình đào tạo công chức, UBND tỉnh đã sử dụng nhiều hình thức đào tạo khác nhau bao gồm: + Đào tạo chính quy tập trung: đây là hình thức đào tạo thông qua các kỳ thi quốc gia để tuyển chọn những người có đủ tiêu chuẩn vào học theo hình thức tập trung tại trường Hình thức đào tạo này tạo ra nguồn lực công chức trẻ, dự nguồn cho quy hoạch cán bộ Đào tạo tập trung cung cấp cho xã hội đội ngũ những công chức giỏi về chuyên môn, có phẩm chất đạo đức tốt có năng lực nghiên cứu, có trình độ ngoại ngữ và tin học phục vụ tốt cho việc quản lý và nghiên cứu
+ Đào tạo tại chức: đây là bộ phận của giáo dục thường xuyên Người học có thể vừa học vừa làm, học tập và tích luỹ kiến thức dần dần với các phương thức đào tạo linh hoạt, đa dạng trong khoảng thời gian và không gian thích hợp, mềm dẻo đạt được mục tiêu nội dung và chương trình quy định
+ Đào tạo chuyển đổi bằng Đại học: hình thức này dành cho những người đã tốt nghiệp một bằng Đại học Do nhu cầu công việc của họ cần thiết phải chuyển đổi ngành hoặc chuẩn bị điều kiện lao động cho tương lai Loại hình này đáp ứng kịp thời nhu cầu đào tạo của cán bộ vì thời gian học tập có thể kéo dài một cách linh hoạt từ 20 đến 30 tháng
+ Đào tạo theo chứng chỉ (bồi dưỡng ngắn hạn): đây là hình thức giáo dục thường xuyên, giúp người đọc tích luỹ được từng bộ phận kiến thức theo đơn vị học trình
Trang 9và học phần một cách linh hoạt đến khi đạt được mức độ nào đó theo quy định của Nhà nước và nhà trường thì họ có thể được cấp bằng tốt nghiệp
2.2.4 Kết quả thực hiện đào tạo:
Trong giai đoạn 2011 – 2015 vừa qua, Vĩnh Phúc thực hiện kế hoạch đào tạo công chức trên cơ sở cập nhật trình độ của đội ngũ công chức các cơ quan Nhà nước trong tỉnh về lý luận chính trị, quản lý Nhà nước, chuyên môn nghiệp vụ Vì thế, UBND tỉnh đã sắp xếp lại đội ngũ công chức phù hợp với chuyên môn nghiệp vụ được đào tạo, xác định nhu cầu đào tạo và đào tạo lại đối với một số bộ phận công chức có thời gian công tác lâu năm, kiến thực được đào tạo, bồi dưỡng không còn phù hợp với chuyên môn đảm nhiệm Công tác đào tạo cụ thể như sau:
• Đối với đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức cấp tỉnh và cấp huyện: Tỉnh Vĩnh phúc đã phối hợp với các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng ở Trung ương
và địa phương tổ chức bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức cấp tỉnh, cấp huyện theo quy định Vì vậy, tỉnh Vĩnh Phúc đã thực hiện đạt và vượt nhiều mục tiêu của Quyết định 1374/QĐ-TTg ngày 12/8/2011 của Thủ tướng Chính phủ đề ra, cụ thể: Đã thực hiện đào tạo, bồi dưỡng cho 100% cán bộ, công chức, viên chức đáp ứng tiêu chuẩn quy định; bồi dưỡng được 100% cán bộ, công chức, viên chức giữ các chức vụ lãnh đạo, quản lý các cấp theo chương trình quy định (vượt 5%); 100% cán bộ lãnh đạo quản lý cấp phòng được đào tạo, bồi dưỡng trước khi bổ nhiệm (vượt 10%); 100% thực hiện chế độ bồi dưỡng bắt buộc hàng năm (vượt 20%)
• Đối với đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã:
Tỉnh Vĩnh Phúc đã phối hợp với Đại học Quốc gia Hà Nội, Trường Đại học Nội
vụ Hà Nội, Học viên Hành chính và Trường Chính trị tỉnh Vĩnh Phúc tổ chức đào tạo 01 lớp Đại học Luật, với 76 học viên; 01 lớp Cao đẳng Nội vụ, với 86 học viên;
mở 05 lớp bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước ngạch Chuyên viên, với 750 học viên; mở 01 lớp bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước ngạch Chuyên viên chính, với 150 học viên Ngoài ra, đã tổ chức bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã theo quy định Vì vậy, tỉnh Vĩnh Phúc đã thực hiện đạt và vượt nhiều mục tiêu của Quyết định 1374/QĐ-TTg ngày 12/8/2011 của Thủ tướng Chính phủ đề ra, cụ thể: 98,7% cán bộ, công chức có trình độ chuyên môn theo tiêu chuẩn quy định(vượt 8,7%); 100% cán bộ cấp xã được bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng lãnh đạo, quản lý điều hành theo vị trí công việc; 99,6% công chức cấp xã có trình độ trung cấp chuyên môn trở lên (vượt 9,6%); 100% công chức cấp xã thực hiện chế độ bồi dưỡng bắt buộc tối thiểu hàng năm(vượt 20%); 100% người hoạt động không chuyên trách được bồi
Trang 10dưỡng kiến thức phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ; 100% đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp được bồi dưỡng trang bị kiến thức, kỹ năng hoạt động trong thời gian qua
• Đối với đào tạo, bồi dưỡng phát triển nguồn nhân lực:
Chương trình đào tạo trình độ đại học Y, Dược được UBND tỉnh triển khai thực hiện đến 2015 đã có 119 sinh viên hệ chính quy các trường đại học Y, Dược được tỉnh cấp kinh phí đào tạo, trong đó có 59 sinh viên được tỉnh ký hợp đồng đào tạo với Đại học Y Hà Nội, số còn lại tự nguyện làm đơn cam kết hưởng chế độ đào tạo của tỉnh (65 sinh viên Đại học Y Hà Nội, 29 sinh viên Đại học Y Dược Thái Nguyên, 15 sinh viên Đại học Y Hải Phòng, 03 sinh viên Học viện Quân Y, 01 sinh viên Đại học Y Vinh, 01 sinh viên Đại học Khoa học Tự nhiên, 05 sinh viên Học viện Y dược Cổ truyền thuộc các nhóm ngành: Bác sỹ đa khoa: 99, Y học dự phòng: 11, Y học cổ truyền: 05, Răng hàm mặt: 02, Dược sỹ: 02) Đến nay, có 53 sinh viên đại học Y, Dược (năm 2014 có 18 người, năm 2015 có 35 người) tốt nghiệp đã được tỉnh xem xét, bố trí công tác Đây là một trong những cơ sở quan trọng góp phần đẩy nhanh mục tiêu đạt 09 bác sỹ/1 vạn dân vào năm 2015 theo Nghị quyết số 06-NQ/TU ngày 25/02/2008 của Tỉnh uỷ
- UBND tỉnh đã cử 32 cán bộ tham gia chương trình bồi dưỡng nghiệp vụ Quản lý
du lịch tại Vân Nam, Trung Quốc và Quy hoạch & phát triển nông thôn, đô thị tại Bình Đông, Đài Loan với thời gian 01 tháng
- Chương trình đào tạo trình độ đại học tại Trung Quốc đã được UBND tỉnh triển khai thực hiện đã có 35 học sinh thi đỗ đại học trong nước được UBND tỉnh cử đi đào tạo một số chuyên ngành tỉnh cần Theo kết quả đánh giá của các Trường và qua kiểm tra, khảo sát của tỉnh, học sinh Vĩnh Phúc có kết quả học tập cao nhất trong số các học sinh quốc tế đang theo học tại trường , nhiều sinh viên của tỉnh đã được các nhà trường cấp học bổng Năm 2014 đã có 15 sinh viên được tỉnh bố trí công tác, năm 2015 tiếp tục có 20 sinh viên mới tốt nghiệp
sẽ được xem xét bố trí công tác tại các cơ quan, đơn vị trong tỉnh Việc chọn
cử những học sinh có hộ khẩu tại tỉnh đi đào tạo tại nước ngoài nhằm bổ sung đội ngũ công chức, viên chức có trình độ chuyên môn, có ngoại ngữ tốt phục vụ cho tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, thu hút đầu tư trực tiếp từ nước ngoài, phát triển công nghiệp và dịch vụ của tỉnh
- UBND tỉnh đã cử 194 công chức, viên chức đi đào tạo nâng cao trình độ tiếng Anh tại Philippines, Singapore (trong đó có 20 công chức và 174 giáo viên tiếng Anh) Chương trình hợp tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ giáo viên tiếng Anh với nước ngoài là thành công mang tính đột phá vì Vĩnh Phúc là tỉnh đi đầu và duy nhất trên cả nước tổ chức được các chương trình bồi dưỡng với nước ngoài cho giáo viên tiếng Anh các cấp học nhằm chuẩn hoá giáo viên ngoại ngữ theo đề án
“Dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2008-2020” của Chính phủ và trở thành mô hình cho một số tỉnh thành trên cả nước học tập kinh nghiệm Theo kết quả đánh giá của Đại học Hà Nội tính đến tháng 9/2014