MỞ ĐẦU. 1. Tính cấp thiết của đề tài. Tôn giáo xét như một sinh hoạt tinh thần là niềm tin vào các lực lượng siêu nhiên, vô hình, mang tính thiêng liêng, được chấp nhận một cách trực giác và tác động qua lại một cách siêu thực (hay hư ảo) với con người,nhằm lý giải những vấn đề trên trần thế, cũng như thế giới bên kia. Niềm tin đó được biểu hiện rất đa dạng, tùy thuộc vào nội dung từng tôn giáo, được vận hành bằng những nghi lễ, những hành vi tôn giáo khác nhau của từng cộng đồng xã hội hay tôn giáo khác nhau. Với tư cách là một thực thể xã hội, và là một hình thái ý thức xã hội, tôn giáo phản ánh thế giới khách quan một cách hoang đường và hư ảo. Do nguồn gốc ra đời của mình, tôn giáo mang trong mình tính chất chính trị đặc biệt. Tôn giáo luôn tồn tại hai mặt đó là nhu cầu về tín ngưỡng, tôn giáo chân chính của nhân dân và một bộ phận lợi dụng mục đích của tôn giáo để mê hoặc quần chúng nhân dân. Phân biệt được đâu là tôn giáo chân chính và đâu là giả trang tôn giáo, chúng ta mới tránh được khuynh hướng tả hay hữu trong quá trình quản lý, ứng xử với những vấn đề nảy sinh từ tín ngưỡng, tôn giáo. Có thể nhận thấy nhu cầu về tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu về tinh thần chính đáng của đồng bào có đạo và tồn tại lâu dài, khó có thể mất đi. Tất cả mọi hành vi, biểu hiện vi phạm diều này là trái với tư tưởng của chủ nghĩa Mác – Lênin xuất phát từ lợi ích giai cấp, dân tộc và anh ninh quốc gia. Ngày nay, các thế lực phản động quốc tế đang lợi dụng tôn giáo dể thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” nhằm tiến hành bạo loạn lật đổ, xóa bỏ chủ nghĩa xã hội ở các nước xã hôi chủ nghĩa còn lại trên thế giớ trong đó có Việt Nam. Tôn giáo đã và đang trở thành một điểm nóng và nhạy cảm trong đường lối xây dựng đất nước hiện nay. Vì vậy tôi chọn đề tài “Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân trong công cuộc đổi mới hiện nay ở Việt Nam” để làm đề tài nghiên cứu tốt nghiệp của mình.
Trang 1MỞ ĐẦU.
1 Tính cấp thiết của đề tài.
Tôn giáo xét như một sinh hoạt tinh thần là niềm tin vào các lựclượng siêu nhiên, vô hình, mang tính thiêng liêng, được chấp nhận mộtcách trực giác và tác động qua lại một cách siêu thực (hay hư ảo) vớicon người,nhằm lý giải những vấn đề trên trần thế, cũng như thế giớibên kia Niềm tin đó được biểu hiện rất đa dạng, tùy thuộc vào nộidung từng tôn giáo, được vận hành bằng những nghi lễ, những hành vitôn giáo khác nhau của từng cộng đồng xã hội hay tôn giáo khác nhau.Với tư cách là một thực thể xã hội, và là một hình thái ý thức xã hội,tôn giáo phản ánh thế giới khách quan một cách hoang đường và hư ảo
Do nguồn gốc ra đời của mình, tôn giáo mang trong mình tính chấtchính trị đặc biệt
Tôn giáo luôn tồn tại hai mặt đó là nhu cầu về tín ngưỡng, tôn giáochân chính của nhân dân và một bộ phận lợi dụng mục đích của tôngiáo để mê hoặc quần chúng nhân dân Phân biệt được đâu là tôn giáochân chính và đâu là giả trang tôn giáo, chúng ta mới tránh đượckhuynh hướng tả hay hữu trong quá trình quản lý, ứng xử với nhữngvấn đề nảy sinh từ tín ngưỡng, tôn giáo Có thể nhận thấy nhu cầu về tínngưỡng, tôn giáo là nhu cầu về tinh thần chính đáng của đồng bào có đạo
và tồn tại lâu dài, khó có thể mất đi Tất cả mọi hành vi, biểu hiện vi phạmdiều này là trái với tư tưởng của chủ nghĩa Mác – Lênin xuất phát từ lợiích giai cấp, dân tộc và anh ninh quốc gia
Ngày nay, các thế lực phản động quốc tế đang lợi dụng tôn giáo dểthực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” nhằm tiến hành bạo loạn lật
đổ, xóa bỏ chủ nghĩa xã hội ở các nước xã hôi chủ nghĩa còn lại trênthế giớ trong đó có Việt Nam Tôn giáo đã và đang trở thành một
Trang 2điểm nóng và nhạy cảm trong đường lối xây dựng đất nước hiện nay.
Vì vậy tôi chọn đề tài “Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân trong công cuộc đổi mới hiện nay ở Việt Nam” để làm đề tài nghiên cứu tốt nghiệp của mình.
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài.
Mấy năm gần đây Đảng và Nhà nước ta đang phát động cuộc thi tìmhiểu và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, vì vậy các triết lítrong tư tưởng của Người được rất nhiều nhà khoa học nghiên cứu vàviết tham luận
Trong bài viết “Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về thực hiện chính sách đoàn kết tôn giáo ở Việt Nam”, Thạc sỹ Nguyễn Văn Siu – Học
viện chính trị quân sự đã chỉ ra được tư tưởng của Hồ Chí Minh trongvấn đề đoàn kết trong tôn giáo, chỉ rõ sự đoàn kết này dựa trên cơ sởkết hợp các lợi ích chung của toàn xã hội Ngoài ra, ông còn chỉ rõ tưtưởng của Người khi nhận định “Đảng Cộng sản chẳng những khôngtiêu diệt tôn giáo mà còn bảo hộ tôn giáo Đảng Cộng sản chỉ tiêu diệttội ác người bóc lột người” Bên cạnh đó ông còn đề cập đến việc xâydựng các chính sách về tôn giáo hiện nay dựa trên nhận định về vấn
đề tôn giáo của Người
Cũng về tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề tôn giáo, nhà sư Tuệ Quang
lại đề cập đến cái nhìn mới về vấn đề này trong bài viết “Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề tôn giáo” Trong bài viết, ông đã đề cập đến tiền
đề của sự ra đời tư tưởng về tôn giáo trong hệ tư tưởng Hồ Chí Minhcũng như nội dung về tư tưởng này
Trong bài viết “Tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo ở Việt Nam”, Thạc
sỹ Hoàng Ngọc Vĩnh lại đề cập đến các chính sách và quan điềm vềtôn giáo của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Trang 3Tiến sỹ Phạm Huy Thông , trong bài “Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác tôn giáo” lại đề cập đến các quan điểm của Người trong việc tiến
hành công tác tôn giáo sao cho phù hợp, chính xác và đạt hiệu quả caonhất
Tuy các bài viết, các nghiên cứu đều đế cập đến một mặt nhất định
về vấn đề tôn giáo trong tư tưởng Hồ Chí Minh, song tựu chung lại tavẫn thấy được nổi bật lên là vấn đề đoàn kết trong tôn giáo cũng nhưnhững nhận định tiến bộ, đúng đắn về vấn đề tôn giáo
3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng
- Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề tự do tín ngưỡng tôn giáo
- Chính sách về tôn giáo, tín ngưỡng của Đảng và Nhà nước ta trongcông cuộc đổi mới xây dựng đất nước hiện nay
3.2 Phạm vi nghiên cứu.
Khóa luận này chỉ đề cập đến tư tưởng về tự do tín ngưỡng, tôn giáocủa Hồ Chí Minh và việc vận dụng của Đảng ta vào công cuộc đổimới xây dựng đất nước hiện nay
4 Mục đích, nhiệm vụ.
4.1 Mục đích
Làm sáng tỏ chính sách, đường lối chỉ đạo về tôn giáo của Đảng vàNhà nước ta, cũng như sự vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh vềtôn giáo, tín ngưỡng vào tong công cuộc dổi mới xây dựng đất nước.Chỉ ra được âm mưu của kẻ thù khi lợi dụng chiêu bài “tự do tínngưỡng, tôn giáo” nhằm lật đổ thành quả cách mạng của quần chúngnhân dân cũng như Đảng và Nhà nước
4.2 Nhiệm vụ:
Luận văn có hai nhiệm vụ chủ yếu
Trang 4- Khái quát tư tưởng của Hồ Chí Minh về tự do tín ngưỡng và tôn giáo.
- Làm sáng tỏ sự vận dụng của Đảng ta những tư tưởng này củaNgười vào công cuộc đổi mới hiện
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.2 Phương pháp nghiên cứu:
Ngoài phương pháp luận chung của chủ nghĩa duy vật biện chứng vàchủ nghĩa duy vật lịch sử, đặc biệt là phương pháp cấu trúc hệ thống,lịch sử, lôgíc, luận văn còn sử dụng một số phương pháp khác như sosánh, phân tích tổng hợp
Trang 56 Đóng góp của đề tài.
Khóa luận là sự tìm hiểu thêm của bản thân về vấn đề tự do tínngưỡng, tôn giáo của Hồ Chí Minh và sự vận dụng của Đảng ta vàocông cuộc đổi mới hiện nay
Là sự hệ thống lại các kiến thức các nghiên cứu của các nhà khoa học
khác dực trên hiểu biết của bản thân.
Do vậy, khóa luận không có đóng góp gì đáng kể đối với vấn đề màbản thân đã lựa chọn
7 Kết cấu.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tham khảo, khóa luận gồm có
2 chương 5 tiết.
CHƯƠNG 1:
QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ TỊCH
HỒ CHÍ MINH VỀ TỰ DO TÍN NGƯỠNG CỦA NHÂN DÂN 1.1 Các tiền đề hình thành quan điểm tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tư tưởng Hồ Chí Minh.
Tư tưởng Hồ Chí Minh được hình thành và phát triển trên nền tảng chủnghĩa Mác - Lênin Trên nền tảng đó, những quan điểm lý luận của Chủnghĩa Mác - Lênin về tôn giáo nói chung và vấn đề tự do tín ngưỡng, tôngiáo nói riêng là điểm xuất phát cho những tư tưởng của Hồ Chí Minh
về sau khi luận giải trong điều kiện hoàn cảnh mới của cách mạng ViệtNam
Theo chủ nghĩa Mác - Lênin, tôn giáo không chỉ là hình thái ý thức xãhội mà còn là một thực thể xã hội có quá trình phát sinh và phát triểncủa nó Cơ sở đầu tiên dẫn đến sự hình thành của tôn giáo là sự tácđộng của các yếu tố kinh tế - xã hội Ngoài ra, sự xuất hiện của tôngiáo còn do sự nhận thức của con người về thế giới khách quan Bên
Trang 6cạnh đó sự ra đời của tôn giáo còn có sự ảnh hưởng của yếu tố tâm lý,tình cảm của con người Nhưng không phải chỉ có sự sợ hãi trước sứcmạnh tự phát của tự nhiên và xã hội mới dẫn con người đến nhờ cậy ởthần linh, mà ngay cả những tình cảm tích cực như lòng biết ơn, sựkính trọng, tình yêu thương… trong mối quan hệ giữa con người với
tự nhiên và con người với con người cũng được thể hiện qua các hìnhthức tín ngưỡng, tôn giáo Do vậy, tôn giáo sẽ còn tồn tại lâu dài,nhưng không phải là hiện tượng xã hội vĩnh hằng, bất biến Ngoài ra,tôn giáo còn mang tính quần chúng Tôn giáo là một trong những nhucầu tinh thần của bộ phận không nhỏ quần chúng nhân dân lao động.Không chỉ thế, tôn giáo còn mang một tính chất đặc biệt Đó là tínhchính trị Vì vậy để có thể có cách ứng xử với tôn giáo cho đúng đắn,các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin đã đề ra các nguyên tắcứng xử với tôn giáo
Thứ nhất: khắc phục dần những ảnh hưởng tiêu cực của tôn giáo, phải
gắn liền với quá trình cải tạo xã hội cũ, gây dựng xã hội mới
Thứ hai: tôn trọng và đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng và không tín
ngưỡng của nhân dân
Thứ ba: cần phải có quan điểm lịch sử cụ thể khi giải quyết vấn đề tôn
giáo
Thứ tư: cần phải phân biệt hai mặt nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo và lợi
dụng tín ngưỡng, tôn giáo
Như vậy, những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin vềnguồn gốc, bản chất của tín ngưỡng, tôn giáo là cơ sở hình thành thếgiới quan, phương pháp luận khoa học trong tư duy Hồ Chí Minh vềtôn giáo cũng như tự do tôn giáo, tín ngưỡng Các nhà kinh điển chủnghĩa Mác - Lênin đã chỉ rõ được bản chất, nguồn gốc, tình chất của
Trang 7xã hội, khẳng định tôn giáo còn tồn tại lâu dài dưới chủ nghĩa xã hội
và sẽ mất đi khi không còn cơ sở tồn tại
Đây là những luận điểm quan trọng và cần thiết, đồng thời nó quyếtđịnh bản chất cách mạng và khoa học của tư tưởng Hồ Chí Minh vềtôn giáo, tự do tôn giáo Bởi chính chủ nghĩa Mác - Lênin đã trang bịcho Người thế giới quan và phương pháp luận khoa học trong việcnghiên cứu, xem xét để đi đến nhận thức và giải quyết vấn đề tínngưỡng, tôn giáo phù hợp với điều kiện lịch sử Việt Nam và xu hướngchung đúng đắn nhất
Ngoài việc lấy quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin làm thế giớiquan và phương pháp luận khoa học, Hồ Chí Minh còn kế thừanhững giá trị truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc và nhân loại,trực tiếp là những tư tưởng tích cực, tiến bộ của các tôn giáo trên thếgiới
Được sinh ra trong một gia đình có truyền thống yêu nước, có thểnói Hồ Chí Minh đã được tiếp cận với những giá trị tốt đẹp của dântộc một cách sâu sắc từ rất sớm Đó là: truyền thống kiên cường, bấtkhuất trong đấu tranh chống giặc ngoại xâm; cần cù sáng tạo tronglao động; coi trọng đạo lý, yêu chuộng hòa bình, đoàn kết, gắn bótrong cộng đồng làng nước Việt Nam Có thể xem, chủ nghĩa yêunước là cơ sở hàng đấu hình thành nên tư tưởng của Người nóichung và về tôn giáo nói riêng Nhưng trong đó, cơ sở quan trọngnhất để hình thành nên tư tưởng về tự do tín ngưỡng, tôn giáo phải
kể đến yếu tố coi trọng đạo lý, cũng như yêu thương đòan kết, gắn
bó trong cộng đồng làng nước của dân tộc Việt Nam Sự gắn bónày, đã không phân biệt người có đạo với kẻ không theo đạo Họvẫn đối xử với nhau bình đẳng thân thiết, không có bất kì sự kì thị
Trang 8nào
Mặt khác, chúng ta thấy rằng Hồ Chí Minh sinh ra và lớn lên trongmột quốc gia là điểm giao lưu của nhiều văn hóa khác nhau Vì vậy,những giá trị văn hóa này góp phấn tạo nên hệ tư tưởng của Người.Sau này, trong quá trình tìm đường cứu nước Hồ Chí Minh đã đượctiếp xúc với nhiều tư tưởng tiến bộ trên thế giới
Tiền đề cuối cùng hình thành nên tư tưởng tự do tín ngưỡng, tôn giáotrong tư tưởng Hồ Chí Minh là từ thực tiễn, tình hình về tín ngưỡngtôn giáo ở Việt Nam đặt ra yêu cầu để giải quyết Do đặc điểm tựnhiên và hoàn cảnh lịch sử, trong quá trình hình thành và phát triểncủa dân tộc đã tác động, ảnh hưởng lớn đến tình hình tín ngưỡng, tôngiáo ở Việt Nam Những đặc điểm trên là cơ sở thực tiễn để hìnhthành những quan điểm của Người về vấn đề tôn giáo Như vậy, tưtưởng Hồ Chí Minh về tự do tín ngưỡng, tôn giáo là kết quả sự vậndụng và phát triển sáng tạo quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin về tínngưỡng, tôn giáo vào điềm kiện cụ thể nước ta; đồng thời, là kết quả
kế thừa và phát triển các giá trị văn hóa trong tín ngưỡng, truyềnthống tốt đẹp của dân tộc và tinh hoa văn hó nhân loại; cũng nhưtrước đòi hỏi thực tiễn đấu tranh cách mạng của nhân dân Việt Namnhằm thực hiện giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng xãhội và giải phóng con người
1.2 Các nội dung cơ bản trong quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân
Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về tín ngưỡng, tôn giáo, ta thấychúng được hình thành qua hai giai đoạn, nhưng chủ yếu là từ sauCách mạng tháng 8 năm 1945 Tư tưởng về tín ngưỡng, tôn giáo củaNgười là kim chỉ nam để Đảng, Nhà nước ta vạch ra đường lối chính
Trang 9sách về tín ngưỡng tôn giáo phù hợp với tình hình thực tế ở Việt Nam.
1.2.1 Về vai trò xã hội của tín ngưỡng tôn giáo:
Hồ Chí Minh cho rằng tín ngưỡng, tôn giáo là một thành tố văn hoá.Người xác định tín ngưỡng, tôn giáo là một bộ phận cấu thành của vănhoá và là di sản của văn hoá nhân loại Người rất coi trọng việc bảotồn các di sản văn hóa dân tộc, trong đó có di sản văn hóa tôn giáo cảvật thể và phi vật thể Để xây dựng nền văn hoá mới Việt Nam, HồChí Minh trân trọng, chắt lọc, kế thừa những giá trị quý báu củatruyền thống văn hoá dân tộc, tinh hoa văn hoá nhân loại, trong đó cócác giá trị của tôn giáo Người đã gạn lọc, tiếp thu tất cả những giá trịcủa tín ngưỡng tôn giáo như đạo lí “uống nước nhớ nguồn” của đạothờ ông bà, tổ tiên; triết lí nhân sinh của Nho, Phật, Lão Bên cạnh đó,
Hồ Chí Minh cũng phê phán những hiện tượng phản văn hoá trongcác hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng
1.2.2 Về mối quan hệ giữa tôn giáo và dân tộc, đức tin tôn giáo và lòng yêu nước:
Hồ Chí Minh đã giải quyết mối quan hệ này trên tinh thần của khốiđại đoàn kết toàn dân vì mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội
Là người hiểu rõ truyền thống yêu nước của người dân Việt Nam.Mục tiêu xây dựng một nước Việt nam hoà bình, thống nhất, độc lập,dân chủ và giàu mạnh là ý nguyện cao cả của Hồ Chí Minh, đồng thời
là nguyện vọng thiết tha của đồng bào các dân tộc Việt nam Đối vớitôn giáo, Người luôn đặt tôn giáo trong quan hệ với dân tộc, luôn đánhgiá đúng mức, đầy đủ vai trò của tín ngưỡng, tôn giáo trong đời sốngtinh thần của xã hội Nhất quán quan điểm tín ngưỡng tự do, LươngGiáo đoàn kết là vấn đề vừa có ý nghĩa cấp bách vừa là vấn đề cơ bảnlâu dài để thực hiện mục tiêu của cách mạng Từ quan niệm trên về
Trang 10dân tộc và tín ngưỡng, tôn giáo, Hồ Chí Minh đã giải quyết một cáchthấu đáo quan hệ tín ngưỡng tôn giáo với dân tộc; giữa đức tin tôngiáo và lòng yêu nước Kế thừa lịch sử, xuất phát từ thực tiễn ViệtNam, từ góc độ một nền văn hoá thống nhất trong đa đạng của cộngđồng các dân tộc Việt nam, đã giải quyết mối quan hệ giữa tínngưỡng, tôn giáo với dân tộc trong điều kiện mới Vấn đề giải phóngdân tộc được Hồ Chí Minh đặt lên hàng đầu Người đã chỉ rõ khi nàodân tộc được độc lập, nhân dân được tự do thì các tín đồ mới thực sựlàm chủ tôn giáo của mình Theo Hồ Chí Minh, đối với người Việtnam dù theo tôn giáo nào thì đức tin tôn giáo và lòng yêu nước là haivấn đề không có gì mâu thuẫn mà có sự thống nhất.
1.2.3 Về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo:
Theo Tư tưởng Hồ Chí Minh thì quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo thểhiện chủ yếu ở hai mặt:
Thứ nhất : quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo phải được khẳng định về
mặt pháp lí : với tư các là người đứng đầu Chính phủ Việt Nam DânChủ Cộng Hòa, Hồ Chí Minh đã chỉ đạo việc soạn thảo Hiến Pháp
1946, trong đó khẳng định mọi công dân Việt nam có quyền tự do tínngưỡng
Thứ hai: quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo phải được bảo đảm trên
thực tế Để quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được thực hiện hoá trongđời sống của đồng bào các tôn giáo, theo Hồ Chí Minh phải có cácđiều kiện cơ bản là : một là, trách nhiệm của cả hệ thống chính trị,trong đó Đảng và Nhà nước là nhân tố quan trọng nhất Hai là, phảiđặt trong quá trình cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới xã hội chủnghĩa
1.2.4 Về công tác tôn giáo:
Trang 11Hồ Chí Minh trong vai trò là người đứng đầu Đảng, Nhà nước rất chútrọng đến chính sách tôn giáo Tư tưởng về chính sách tôn giáo của
Hồ Chí Minh được hình thành từ truyền thống văn hoá dân tộc, quanđiểm về dân tộc của chủ nghĩa Mác - Lênin và thực tiễn cách mạngViệt nam
Hồ Chí Minh trong tư tưởng, tình cảm và hoạt động của mình luôn có
sự nhất quán tôn trọng sự bình đẳng, không phân biệt đối xử, hoặccông kích bất kỳ tôn giáo nào.Đoàn kết tôn giáo, đoàn kết lương -giáo là một nội dung quan trọng trong chiến lược đại đoàn kết của HồChí Minh nhằm thực hiện thành công mục tiêu cơ bản của cách mạngViệt Nam: độc lập dân tộc và CNXH.Để thực hiện tư tưởng đoàn kếttôn giáo, đoàn kết lương - giáo, Hồ Chí Minh đã chỉ ra cơ sở của sựđoàn kết đó chính là những nét tương đồng giữa các tôn giáo và sựtương đồng giữa đức tin của các tôn giáo với đạo đức, niềm tin củanhững người cộng sản
Tuy nhiên, để trên phát huy những vấn đề trên, Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã chỉ rõ và luôn thể hiện sự tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tínngưỡng, tôn giáo; đồng thời chống âm mưu lợi dụng tín ngưỡng, tôngiáo Tự do tín ngưỡng, tôn giáo và không tín ngưỡng tôn giáo là mộttrong những quan điểm quan trọng trong tư tưởng của Hồ Chí Minh
về tôn giáo
Trong Hiến pháp 1946 tại điều 7, chương II, Người viết: Tất cả côngdân Việt Nam đều bình đẳng trước pháp luật, đều được tham gia chínhquyền và công , tại điều thứ 10 nêu rõ Công dân Việt Nam có quyền:
Tự do ngôn luận, tự do xuất bản, tự do tổ chức và hội họp, tự do tínngưỡng, tự do cư trú, đi lại trong nước và ra nước ngoài, mọi ngườicông dân Việt Nam “có quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo
Trang 12một tôn giáo nào” Chính phủ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng và tự
do thờ cúng của nhân dân Không ai được xâm phạm quyền tự do ấy.Mọi công dân có hay không có tín ngưỡng, tôn giáo đều được hưởngmọi quyền lợi của ngưởi công dân (kể cả trong bầu cử người vào cơquan quyền lực cao nhất của Nhà nước) và phải làm mọi nghĩa vụ củacông dân Để việc thực hiện tự do tín ngưỡng góp phần tích cực vàoviệc phát triển xã hội, nội dung tự do tín ngưỡng phải được luật hóa.Bởi vì, những quy định pháp luật có liên quan tới tín ngưỡng, tôn giáovừa là điều kiện, vừa là công cụ thực hiện tự do tín ngưỡng
Bằng sự sáng tạo của bản thân dựa trên nền tảng cơ sở lí luận của Chủnghĩa Mác - Lênin về tôn giáo, Hồ Chí Minh đã xây dựng nên lí luận về
tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong hệ tư tưởng của mình Đây được xemnhư là sự vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện lịch
sử cụ thể ở Việt Nam Lí luận của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trở thànhkim chỉ nam cho Đảng và Nhà nước ta trong công cuộc đổi mới, xâydựng XHCN ở Việt Nam
CHƯƠNG 2:
TỰ DO TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO TRONG CÔNG CUỘC ĐỔI
MỚI HIỆN NAY Ở VIỆT NAM
2.1 Thực trạng tín ngưỡng, tôn giáo hiện nay ở Việt Nam.
2.1.1 Quan niệm về tôn giáo, tín ngưỡng của nhân dân ta.
Tôn giáo là một hiện tượng xã hội mang tính lịch sử, còn tồn tại lâudài trong đời sống tinh thần của một bộ phận quần chúng nhân dân.Bất kì tôn giáo nào cũng đều hướng thiện Đó là ước muốn của các tín
đồ tôn giáo cũng như của tất cả mọi con người trên trái đất này Tôn
Trang 13giáo xuất hiện là do sự bần cùng về kinh tế, nạn áp bức về chính trị, sựhiện diện của những bất công xã hội, cùng với những thất vọng, bấtlực trong cuộc đấu tranh giai cấp của giai cấp bị trị Do đó, tôn giáo lànơi gửi gắm nguyện vọng của nhân dân Đối với nhân dân ta, tôn giáo
là cội nguồn tâm linh, là chỗ dựa tinh thần cho những khó khăn trongcuộc sống Mặt khác đại đa số bộ phận nhân dân coi tôn giáo là conđường để hướng tới cuộc sống Chân - Thiện - Mỹ Bên cạnh đó, cómột số bộ phận nhỏ nhân dân lại xem tôn giáo là mê tín, dị đoan, hiểunhầm về quan điểm của tôn giáo, lợi dụng tôn giáo để mưu lợi riêngcho mình Tuy có nhiều quan điểm khác nhau về tôn giáo song, tôngiáo, tín ngưỡng trong đời sống của nhân dân ta luôn mang những ýnghĩa tốt đẹp
Từ quan điểm về tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Hồ Chí Minh nhândân ta đã vận dụng nó vào trong đời sống tinh thần của mình Nhândân ta đã tự do lựa chọn tôn giáo , tín ngưỡng phù hợp với bản thâncũng như thể hiện quyền tự do về tín ngưỡng, tôn giáo Song phổ biếnhơn cả vẫn là tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên là truyền thống lâu đời củađất nước ta Mặt khác, tín ngưỡng này là đặc trưng riêng biệt, một nétvăn hóa độc đáo chỉ có ở Việt Nam, vì vậy một số đồng bào theo cácđạo như Thiên Chúa, Tin Lành… đều đã yêu cầu ngoài việc thờphụng Chúa còn được quyền thờ cúng tổ tiên
Chủ yếu, nhân dân ta đều tuân thủ và làm theo những quy định chung
và tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt của Hồ Chí Minh, sự vận dụng nàyhầu như đều là sự tuân theo và tôn trọng các tư tưởng, quan điểm đó
mà thôi
2.1.2 Thực trạng tín ngưỡng, tôn giáo hiện nay ở Việt Nam
Việt Nam từ xưa đến nay là một nước nông nghiệp, là nơi giao nhau
Trang 14của nhiều nền văn hóa lớn trên thế giới, cũng như các tín ngưỡng, tôngiáo Với nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, và luôn phải sẵnsàng đương đầu chống lại các kẻ thù xâm lược, chống sự đồng hóacủa các dân tộc xâm lăng.
Ngoài ra còn tồn tại đạo Tổ tiên, tôn thờ các vị thần có công với cộngđồng từ gia đình, dòng họ đến làng xã, bản mường, đất nước với các
lễ thức nông nghiệp theo chu kì sản xuất, tập trung từ mùa thu hoạchqua tết đến các hội đầu xuân trước khi bước vào đầu mùa sản xuất,xuất hiện ý niệm thờ trời, sau đó là thờ đất, và các nhân thần là cáctướng lĩnh thời kì Hùng Vương dựng nước và các anh hùng đấu tranhtrong cuộc đấu tranh chống Bắc thuộc với nhiều hình thái tôn giáo sơkhai như: tôtem giáo, các loại ma thuật, đạo phù thủy với nhiều dạngkhác nhau cùng các yếu tố tôn giáo như cầu tự, điềm, kiêng cữ
Đạo Tổ Tiên theo huyết thống làm vững vàng thêm hệ thống các thầnlinh theo tuyến lãnh thổ, vì có công lớn với dòng họ, đồng thời cũng
có công với làng với nước Gia đình - Làng bản - Đất nước là một mốiliên kết thống nhất và là trục chính của tâm thức tôn giáo Việt Nam.Thêm vào đó, trước xu thế thế tục hóa, đi đôi với sự khủng hoảngmang tính toàn cầu, ở nước ta đã bắt đầu nảy sinh hiện tượng tôn giáomới, những âm mưu truyền bá đạo trái phép, thiếu trong sáng của cáctôn giáo giả hiệu như đạo Vàng Chứ, đạo Thìn Hùng ở các vùng dântộc người Mông, Dao, hay như đạo Tin lành Đêga ở Tây Nguyên Cầncảnh giác trước những âm mưu lợi dụng chính sách tự do tôn giáo đểhoạt động tôn giáo mang tính chất chính trị, nằm trong âm mưu diễnbiến hòa bình của kẻ thù dân tộc
Hiện nay ở nước ta có 32 tổ chức tôn giáo Trong số các tôn giáo ởViệt Nam, Phật giáo có số tín đồ đông đảo nhất Theo thống kê của