MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tàiC. Mác và Ph. Ăngghen đã có những cống hiến hết sức vĩ đại cho nhân loại ngày nay và một trong những cống hiến đó là đã mở rộng thế giới quan duy vật biện chứng vào lĩnh vực xã hội. Đem lại sự nhận thức xã hội trong chỉnh thể và phát hiện ra những quy luật vận động, phát triển phổ biến của lịch sử xã hội bởi học thuyết hình thái kinh tế xã hội.Sự phát triển của các hình thái kinh tế xã hội, tức quá trình phát triển có quy luật của xã hội loài người nói chung khi được phản ánh dưới hình thức hệ thống các khái niệm, quy luật và các quan niệm thì đem lại cho chúng ta lý luận về quá trình đó. Đây là hình ảnh lý luận là cái cụ thể trong tư duy và quá trình phát triển tất yếu của xã hội loài người nói chung. Các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác đã cho thấy mặt lý luận của học thuyết hình thái kinh tế xã hội có nội dung rất rộng, bao gồm rất nhiều yếu tố hợp thành, nhưng có thể quy về ba quan niệm hay ba yếu tố lớn là khái niệm hình thái kinh tế xã hội, quan niệm về quá trình lịch sử tự nhiên, tức là sự phát triển của các hình thái kinh tế xã hội, quan niệm về mối liên hệ giữa quá trình lịch sử - tự nhiên và sự đa dạng của lịch sử. Trong những quan niệm này, quan niệm về quá trình lịch sử - tự nhiên với yếu tố đặc trưng nổi bật của nó là quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, là quan niệm cơ bản nhất.Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là quy luật cơ bản nhất tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội của một quốc gia, một đất nước đặc biệt là trong vấn đề kinh tế. Nếu trong một nước mà quan hệ sản xuất không phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất thì sẽ kìm hãm lực lượng sản xuất phát triển, và ngược lại. Vì vậy, người ta phải biết điều tiết mối quan hệ biện chứng giữa hai khái niệm này để tìm ra sự phù hợp giữa chúng.1 Khóa luận tốt nghiệpNghiên cứu đề tài này, tôi chỉ muốn góp một phần nhỏ vào việc phân tích mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, đồng thời làm rõ tình hình phát triển kinh tế ở Quảng Bình hiện nay.Vì vậy, hơn lúc nào hết việc nắm vững và bảo vệ tính cách mạng, tính khoa học của học thuyết hình thái kinh tế xã hội chủ nghĩa Mác là một nhiệm vụ chính trị và đồng thời là đòi hỏi của thực tiễn ngày nay.Hơn nữa, với một sinh viên ngành triết học được trang bị cho mình một lượng kiến thức chuyên ngành Mác - Lênin, đó là hệ tư tưởng tiến bộ, khoa học nhất thì việc lựa chọn chủ nghĩa Mác - Lênin trong đó có học thuyết hình thái kinh tế xã hội là điều rất cần thiết để tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp với tên đề tài: “Vận dụng quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất ở Quảng Bình hiện nay”.Giới hạn là một khóa luận tốt nghiệp của sinh viên, bản thân tôi chỉ tập trung giải quyết các vấn đề trong khóa luận từ năm 2000 - 2010, nhằm làm rõ sự vận dụng biện chứng quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất ở Quảng Bình. Xuất phát từ những lý do nêu trên mà tôi đã cố gắng Xem nội dung đầy đủ tại: http://123doc.org/document/4048476-van-dung-quy-luat-quan-he-san-xuat-phu-hop-voi-trinh-do-phat-trien-cua-luc-luong-san-xuat-o-viet-nam-hien-nay.htm
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
C Mác và Ph Ăngghen đã có những cống hiến hết sức vĩ đại chonhân loại ngày nay và một trong những cống hiến đó là đã mở rộng thế giớiquan duy vật biện chứng vào lĩnh vực xã hội Đem lại sự nhận thức xã hộitrong chỉnh thể và phát hiện ra những quy luật vận động, phát triển phổbiến của lịch sử xã hội bởi học thuyết hình thái kinh tế xã hội
Sự phát triển của các hình thái kinh tế xã hội, tức quá trình phát triển
có quy luật của xã hội loài người nói chung khi được phản ánh dưới hìnhthức hệ thống các khái niệm, quy luật và các quan niệm thì đem lại chochúng ta lý luận về quá trình đó Đây là hình ảnh lý luận là cái cụ thể trong
tư duy và quá trình phát triển tất yếu của xã hội loài người nói chung Cácnhà sáng lập chủ nghĩa Mác đã cho thấy mặt lý luận của học thuyết hìnhthái kinh tế xã hội có nội dung rất rộng, bao gồm rất nhiều yếu tố hợpthành, nhưng có thể quy về ba quan niệm hay ba yếu tố lớn là khái niệmhình thái kinh tế xã hội, quan niệm về quá trình lịch sử tự nhiên, tức là sựphát triển của các hình thái kinh tế xã hội, quan niệm về mối liên hệ giữaquá trình lịch sử - tự nhiên và sự đa dạng của lịch sử Trong những quanniệm này, quan niệm về quá trình lịch sử - tự nhiên với yếu tố đặc trưng nổibật của nó là quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển củalực lượng sản xuất, là quan niệm cơ bản nhất
Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lựclượng sản xuất là quy luật cơ bản nhất tác động đến mọi mặt của đời sống
xã hội của một quốc gia, một đất nước đặc biệt là trong vấn đề kinh tế Nếutrong một nước mà quan hệ sản xuất không phù hợp với trình độ của lựclượng sản xuất thì sẽ kìm hãm lực lượng sản xuất phát triển, và ngược lại
Vì vậy, người ta phải biết điều tiết mối quan hệ biện chứng giữa hai kháiniệm này để tìm ra sự phù hợp giữa chúng
Trang 2Nghiên cứu đề tài này, tôi chỉ muốn góp một phần nhỏ vào việc phântích mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất,đồng thời làm rõ tình hình phát triển kinh tế ở Quảng Bình hiện nay.
Vì vậy, hơn lúc nào hết việc nắm vững và bảo vệ tính cách mạng, tínhkhoa học của học thuyết hình thái kinh tế xã hội chủ nghĩa Mác là mộtnhiệm vụ chính trị và đồng thời là đòi hỏi của thực tiễn ngày nay
Hơn nữa, với một sinh viên ngành triết học được trang bị cho mìnhmột lượng kiến thức chuyên ngành Mác - Lênin, đó là hệ tư tưởng tiến bộ,khoa học nhất thì việc lựa chọn chủ nghĩa Mác - Lênin trong đó có họcthuyết hình thái kinh tế xã hội là điều rất cần thiết để tôi hoàn thành khóaluận tốt nghiệp với tên đề tài: “Vận dụng quy luật quan hệ sản xuất phù hợpvới trình độ phát triển của lực lượng sản xuất ở Quảng Bình hiện nay”.Giới hạn là một khóa luận tốt nghiệp của sinh viên, bản thân tôi chỉ tậptrung giải quyết các vấn đề trong khóa luận từ năm 2000 - 2010, nhằm làm
rõ sự vận dụng biện chứng quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độphát triển của lực lượng sản xuất ở Quảng Bình
Xuất phát từ những lý do nêu trên mà tôi đã cố gắng tìm tòi, suy nghĩthấu đáo và mạnh dạn lựa chọn vấn đề nêu trên để làm đề tài khóa luận tốtnghiệp của mình
2 Lịch sử nghiên cứu
Vấn đề học thuyết hình thái kinh tế xã hội nói chung và quy luật quan
hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất nói riêng
là vấn đề hết sức quan trọng đối với mọi lĩnh vực của đời sống xã hội đặcbiệt là đối với vấn đề phát triển kinh tế Góp phần làm nền tảng lý luận,định hướng phát triển kinh tế, đưa ra những con đường, những giải phápphù hợp cho việc hoàn thiện nền kinh tế theo hướng công nghiệp, hóa hiệnđại hóa đất nước
Vì vậy mà đã có rất nhiều nhà nghiên cứu Mác xít quan tâm, tìm hiểu,đưa ra những lý luận duy vật về hình thái kinh tế xã hội đặc biệt là về quy
Trang 3luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sảnxuất Họ đã có những công trình nghiên cứu được đông đảo mọi ngườiquan tâm, chúng ta không thể kể hết những công trình đó mà chỉ có thể nêumột số nghiên cứu gần đây mà chúng ta thường nhắc đến:
Với tác phẩm: “ Học thuyết Mác về hình thái kinh tế - xã hội và lýluận về con đường phát triển xã hội chủ nghĩa ở nước ta” Nxb Chính TrịQuốc Gia, Hà Nội, 2005 Chủ biên: Tiến sĩ Phạm Văn Chung đã tập trungxem xét nội dung khoa học của học thuyết Mác về hình thái kinh tế xã hội
và mối liên hệ hữu cơ của nó đối với lý luận về con đường phát triển chủnghĩa xã hội ở nước ta Từ việc nghiên cứu học thuyết Mác về hình tháikinh tế - xã hội, cuốn sách xác định hai phương diện là lý luận và phươngpháp luận của học thuyết và chỉ ra một cách cụ thể vai trò phương phápluận của học thuyết này đối với việc xác định nội dung khoa học của lýluận về con đường xã hội chủ nghĩa ở nước ta, thông qua luận giải một sốvấn đề lý luận cấp bách
Trong tác phẩm: “Xây dựng quan hệ sản xuất định hướng xã hội chủnghĩa và thực hiện tiến bộ công bằng xã hội ở Việt Nam”, của Lương XuânQuỳ, nhà xuất bản Chính Trị Quốc Gia, Hà Nội Đề cập đến hệ quan điểm,phương hướng, chính sách và giải pháp xây dựng quan hệ sản xuất định hướng
xã hội chủ nghĩa và thực hiện tiến bộ công bằng xã hội trên đất nước ta
Trong cuốn: “ Xây dựng và hoàn thiện quan hệ sản xuất mới ở ViệtNam” của tác giả Phạm Thị Quý, Nxb Chính Trị Quốc Gia, Hà Nội, 2000.Tác phẩm nêu những vấn đề về quan hệ sản xuất, quá trình xác lập quan hệsản xuất xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam thời kỳ đổi mới ( từ năm 1986 đếnnay), định hướng và giải pháp cơ bản tiếp tục xây dựng, hoàn thiện quan hệsản xuất ở Việt Nam
Đặc biệt trong số những công trình nghiên cứu đó có tác phẩm: “Tìmhiểu tư tưởng của C Mác và Ph Ăngghen về quy luật phù hợp của quan hệsản xuất với lực lượng sản xuất”, Trương Hữu Hoàn, Triết học, số 3 (1994)
Trang 4Nội dung tác phẩm đề cập đến nhiều vấn đề quan trọng của học thuyết hìnhthái kinh tế xã hội, đặc biệt là mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sảnxuất với quan hệ sản xuất để thấy rõ sự tác động qua lại giữa chúng là mộtquá trình có quy luật của nó Vạch rõ những tư tưởng của Mác và Ph.Ăngghen về quan hệ sản xuất,lực lượng sản xuất để ta thấy rõ được nhữngđối tượng đó có đặc điểm và mối liên hệ với nhau như thế nào Bên cạnh đócòn làm rõ lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất ở mỗi thời đại khác nhaunhư thế nào.
Đó mới chỉ là một số nghiên cứu gần đây của các tác giả mà chúng tađược đọc và tham khảo Ngoài ra còn rất nhiều công trình khác của các cấp,các ngành, cán bộ và sinh viên thuộc khoa lý luận chính trị cần được chúngđặc biệt quan tâm Với đề tài khóa luận của tôi mặc dù không phải là đề tàimới mẻ nhưng đang là vấn đề rất được quan tâm nên tôi xin được góp mộtphần nhỏ vào việc nghiên cứu học thuyết hình thái kinh tế - xã hội đặc biệt
là đối với quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lựclượng sản xuất
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích
Làm rõ quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về học thuyết hình tháikinh tế xã hội đặc biệt là quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độphát triển của lực lượng sản xuất Nêu ra được những đặc điểm cũng nhưthực trạng và giải pháp của tỉnh Quảng Bình trong sự vận dụng quy luật đó
3.2 Nhiệm vụ
Để hoàn thành mục đích trên sinh viên thực hiện đề tài này có nhiệm vụ:
* Nghiên cứu mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất vàquan hệ sản xuất, làm rõ tác động qua lại giữa chúng
* Nêu ra những nội dung cơ bản của học thuyết hình thái kinh tế xã hội
và những quy luật trong đó Qua đây thấy được ý nghĩa của việc vận dụng học
Trang 5thuyết hình thái kinh tế xã hội nói chung, quy luật quan hệ sản xuất phù hợp vớitrình độ của lực lượng sản xuất nói riêng vào phát triển kinh tế Quảng Bình.
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
4.1 Cơ sở lý luận
Đề tài này được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác Lênin về học thuyết hình thái kinh tế xã hội, đồng thời dựa trên nền tảng tưtưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về conđường phát triển đi lên CNXH
-4.2 Phương pháp
Đề tài dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biệnchứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Ngoài ra còn vận dụng các phươngpháp cụ thể như: Phân tích - tổng hợp, lôgic - lịch sử, liệt kê, so sánh và cácphương pháp nghiên cứu khoa học xã hội khác
5 Đóng góp của đề tài
Trong phạm vi là một bài khóa luận tốt nghiệp, người thực hiện đề tàichỉ mong muốn làm rõ tính đúng đắn, khoa học trong quan niệm của chủnghĩa Mác - Lênin về quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ pháttriển của lực lượng sản xuất
Bên cạnh đó, đề tài có thể là một trong những nguồn tài liệu cần thiếtcung cấp một số vấn đề liên quan: Thành phần kinh tế, công nghiệp hóa,hiện đại hóa và những chính sách của Đảng, Nhà nước đối với việc pháttriển kinh tế tại địa phương
6 Kết cấu của khóa luận
Ngoài lời cảm ơn, phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu thamkhảo, phụ lục thì khóa luận còn có phần nội dung gồm 2 chương và 5 tiết
Trang 6NỘI DUNG Chương 1: MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA LỰC LƯỢNG SẢN
XUẤT VÀ QUAN HỆ SẢN XUẤT
1.1. Khái niệm lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất
1.1.1 Khái niệm và kết cấu của lực lượng sản xuất
Chủ nghĩa duy vật lịch sử là một trong hai phát minh vĩ đại nhất của C.Mác Là một bộ phận hợp thành của triết học Mác - Lênin, nó là lý luậnduy vật về những quy luật vận động, phát triển chung nhất của xã hội, đồngthời là phương pháp luận khoa học để nghiên cứu mọi hiện tượng xã hội vàquá trình lịch sử Không những thế chủ nghĩa duy vật lịch sử còn là kim chỉnam cho các khoa học xã hội cụ thể và cho việc định ra chiến lược, sáchlược của Đảng cộng sản
Chủ nghĩa duy vật lịch sử bàn đến nhiều vấn đề nhưng được chú ýnhất đó là học thuyết hình thái kinh tế xã hội Việc tìm hiểu quá trình hìnhthành và phát triển lý luận Mác về hình thái kinh tế xã hội cho thấy hìnhthái kinh tế xã hội là một hệ thống những yếu tố, những mối liên hệ xã hộirất phức tạp Tuy nhiên, đây không phải là những yếu tố, những mối liên hệbất kì mà là những yếu tố được hình thành một cách tất yếu, lặp đi lặp lạitrong những xã hội cụ thể Ở đây, chúng ta sẽ bàn đến mối quan hệ biệnchững giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất để thấy được sự tácđộng qua lại lẫn nhau giữa các yếu tố và sự vận động, phát triển một cách
tự nhiên
Đầu tiên là khái niệm lực lượng sản xuất: Theo định nghĩa trong sáchgiáo trình Triết học Mác - Lênin đã viết: ”Lực lượng sản xuất là năng lựcthực tiễn cải biến giới tự nhiên của con người nhằm đáp ứng nhu cầu đờisống của mình”
Lực lượng sản xuất là sự kết hợp người lao động và tư liệu sản xuất,trong đó “lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn thể nhân loại là công nhân,
Trang 7là người lao động” Chính người lao động là chủ thể của quá trình lao độngsản xuất, với sức mạnh và kỹ năng lao động của mình, sử dụng tư liệu laođộng, trước hết là công cụ lao động, tác động vào đối tượng lao động đểsản xuất ra của cải vật chất.
Xã hội tồn tại và phát triển được là nhờ có sản xuất vật chất và lịch sửloài người là lịch sử của các phương thức sản xuất kế tiếp nhau Mỗi chế độ
xã hội được đặc trưng bằng một phương thức sản xuất khác nhau.Vì vậy
mà phương thức sản xuất là cách thức con người thực hiện quá trình sảnxuất trong một giai đoạn lịch sử nhất định Phương thức sản xuất là sựthống nhất biện chứng hai mối quan hệ của con người, thứ nhất là quan hệgiữa con người với tự nhiên, thứ hai là quan hệ giữa người với người Haimối quan hệ trên thống nhất biện chứng trong một quá trình sản xuất đượcgọi là lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất
Nhưng lúc đầu Mác chưa dùng thuật ngữ “lực lượng sản xuất” mà gọi
là “sức sản xuất” Ông cho rằng: “sức sản xuất” không phải là cái “bản chấttinh thần” nào đó mà đó là sức mạnh vật chất Mác viết “Để xua tan vầnghào quang thần bí có tác dụng cải biến “sức sản xuất” chỉ cần mở ra bảnquan thống kê đầu tiên là đủ Ở nơi đó nói về sức người, sức hơi nước, sứcngựa Tất cả những thứ ấy đều là “lực lượng sản xuất” [13,38] Khi phântích các yếu tố của lực lượng sản xuất Mác chia chúng thành hai loại đó làsức sản xuất tự nhiên và sức sản xuất của bản thân con người Theo Máccon người với tư cách là một lực lượng sản xuất không chỉ sáng tạo ra củacải vật chất mà chủ yếu hơn lực lượng sản xuất xã hội đó cùng với sức sảnxuất tự nhiên trở thành một lực lượng cách mạng thúc đẩy sự phát triển của
xã hội
Lao động sản xuất là hoạt động cơ bản nhất quyết định sự tồn tại vàphát triển của xã hội loài người Con người bắt đầu làm ra lịch sử của mìnhbằng hoạt động sản xuất Ban đầu loài người chỉ biết hái lượm những cái cótrước mắt để ăn, không biết tích lũy cũng không biết sáng tạo, tìm tòi ra
Trang 8những cái mới để sử dụng Đến khi con người đã phát triển hơn thì đã biếtdựa vào giới tự nhiên, trao đổi chất với giới tự nhiên và duy trì mối quan hệkhăng khít với giới tự nhiên Con người biết điều tiết thức ăn cho mình để
sử dụng được nhiều thời gian hơn, lâu hơn Bên cạnh đó, con người còn biết
tự chế tạo, sản xuất ra những thứ phục vụ cho nhu cầu ngày càng cao củamình từ giới tự nhiên đó C.Mác đã viết: “ Lao động trước hết là một quá trìnhdiễn ra giữa con người với giới tự nhiên, một quá trình mà trong đó conngười làm trung gian điều tiết và kiểm tra sự trao đổi chất giữa họ với giới tựnhiên” [15,260]
Trên cơ sở hoạt động thực tiễn con người ngày càng đi sâu khám phágiới tự nhiên, cải tạo giới tự nhiên Ban đầu chỉ là những công cụ hết sứcthô sơ, dần con người biết chế tạo ra những công cụ tốt hơn phù hợp vớinhu cầu cải biến giới tự nhiên của mình Ở thời đại sống thành bầy đàn,hoạt động sống của con người (cũng tức là hoạt động thỏa mãn nhu cầu) cóthực chất là quá trình nạp nhu cầu vào đối tượng Trong chiều hướng đócủa hoạt động sống, con người phải thay đổi nhu cầu của mình sao cho phùhợp với đối tượng, có như thế nhu cầu của họ mới được thỏa mãn Nhưngviệc thõa mãn nhu cầu và sự tăng thêm càng nhiều cá thể trong bầy, đã làmcho lượng cầu của con người gia tăng nhanh chóng Trong tương quan với
sự gia tăng như thế về lượng cầu, thì lĩnh vực giới tự nhiên làm thành môitrường sống của con người trở nên nghèo đi cùng với tốc độ tương ứng, vàđến mức độ nhất định thì giới tự nhiên với những sản vật sẵn có của nó sẽkhông còn đáp ứng được nhu cầu ngày càng tăng của họ Lúc này, hoạtđộng sống của con người vẫn cứ tiếp diễn theo những quá trình, song cóchiều hướng ngược lại, nạp đối tượng vào nhu cầu Trong chiều hướng nàycủa hoạt động sống, nhu cầu của con người chỉ được thõa mãn, khi đốitượng thay đổi sao cho phù hợp với nhu cầu và để đối tượng trở nên phùhợp với nhu cầu của mình thì con người chỉ còn một cách duy nhất là tíchcực tác động vào nó từ lao động Bằng lao động và thông qua lao động, con
Trang 9người sản xuất ra đời sống vật chất - một đời sống do chính con người tạo
ra cho mình, khác về chất so với đời sống chỉ biết lợi dụng những gì có sẵntrong tự nhiên của họ ở thời đại bầy đàn
Qua đây ta có thể hiểu lực lượng sản xuất biểu hiện quan hệ giữangười và giới tự nhiên Trình độ của lực lượng sản xuất thể hiện trình độchinh phục tự nhiên của loài người Đó là kết quả của năng lực thực tiễncủa con người trong quá trình tác động vào tự nhiên tạo ra cả cải vật chấtbảo đảm cho sự tồn tại và phát triển của loài người Mác viết: “Lực lượngsản xuất là cơ sở của toàn bộ lịch sử con người bởi vì mọi lực lượng sảnxuất đều là lực lượng được tạo ra, đều là sản phẩm của hoạt động trước đó.Như thế, lực lượng sản xuất là kết quả của nghị lực thực tiễn của conngười, nhưng bản thân nghị lực ấy lại được chế định bởi những điều kiện
mà con người đặt vào, bởi một hình thức mà xã hội ấy lại được tạo rakhông phải những con người ấy mà bởi những thế hệ trước đó” [13,997].Mỗi thế hệ đều sinh ra một lực lượng sản xuất và thế hệ sau phát triển hơn,tiến bộ hơn bởi nhờ có sự kế thừa phát huy những thành tựu của thế hệtrước, loại bỏ những hạn chế mà thế hệ trước đã vấp phải “Mỗi thế hệ sau
có được những lực lượng sản xuất do thế hệ trước tạo ra, và những lựclượng sản xuất ấy là nguyên liệu cho thế hệ sau thực hiện một hoạt độngsản xuất mới, nhờ hiện tượng đó mà hình thành nên mối liên hệ trong lịch
sử loài người, hình thành lịch sử loài người, các lực lượng sản xuất của conngười và do đó quan hệ xã hội của con người phát triển nhiều hơn, lịch sử
đó càng trở thành lịch sử loài người” [13,997-998]
Vì vậy, một lần nữa ta lại khẳng định: Lực lượng sản xuất là năng lựcthực tiễn cải biến giới tự nhiên của con người, nhằm đáp ứng nhu cầu đờisống của mình Lực lượng sản xuất là sự kết hợp người lao động và tư liệusản xuất trong đó: “Lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn thể nhân loại làcông nhân, là người lao động” [6,430]
Trang 10Tư liệu sản xuất do xã hội tạo ra trước hết là công cụ lao động Ngườilao động với những kinh nghiệm sản xuất, thói quen lao động, sử dụng tưliệu sản xuất để tạo ra của cải vật chất Tư liệu sản xuất gồm đối tượng laođộng và tư liệu lao động Trong tư liệu lao động còn có công cụ lao động vànhững tư liệu lao động khác cần thiết cho việc vận chuyển, bảo quản sản phẩm.Lực lượng sản xuất biểu hiện quan hệ của con người đối với giới tựnhiên, nhưng toàn bộ giới tự nhiên không thể là một bộ phận cấu thành củalực lượng sản xuất mà chỉ có một bộ phận của giới tự nhiên được đưa vàosản xuất, được con người sử dụng mới là đối tượng lao động trực tiếp Conngười không chỉ tìm trong giới tự nhiên những đối tượng lao động có sẵn,
mà còn sáng tạo ra bản thân đối tượng lao động Sự phát triển của lựclượng sản xuất có liên quan tới việc đưa những đối tượng lao động ngàycàng mới hơn vào quá trình sản xuất Điều đó hoàn toàn có tính quy luật,bởi chính những vật liệu mới mở rộng khả năng sản xuất của con người.Con người là yếu tố năng động nhất, quyết định lực lượng sản xuất Bởi vìchỉ có yếu tố con người mới có trí tuệ và cũng chỉ có con người mới cónăng lực tự phát triển và tự hoàn thiện bản thân mình Người lao độngkhông chỉ sinh con, tái sản xuất ra sức lao động, mà còn luôn nâng cao chất lượngcủa lao động bằng con đường kế thừa các yếu tố xã hội và phát triển chúng
Ngày nay, để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của nền sản xuất hiện đạiđòi hỏi con người phải phát triển cao hơn về trí tuệ , khỏe mạnh về thể chất,giàu có về tinh thần, trong sáng về đạo đức Trong đó, trí tuệ không phải lànhững tri thức trừu tượng mà trước hết phải có năng lực chuyên môn đượcđào tạo Thể chất không chỉ đơn giản là cường tráng về thể lực mà còn baohàm trong đó cả sự phát triển tốt về trí lực, hơn nữa cùng với việc phát triểnsức lao động và tiến bộ khoa học kỹ thuật, nhân tố trí lực chiếm tỷ lệ ngàycàng cao, vai trò của người lao động trí óc ngày càng lớn và rõ rệt Vì vậy
mà có thể nói rằng, con người là chủ thể quyết định mọi quá trình vận động
và phát triển lịch sử
Trang 11Còn tư liệu lao động là vật hay là phức hợp vật thể mà con người đặtgiữa mình với đối tượng lao động, chúng dẫn truyền tích cực sự tác độngcủa con người vào đối tượng lao động Đối tượng lao động và tư liệu laođộng là những yếu tố vật chất của quá trình lao động sản xuất hợp thành tưliệu sản xuất Vì thế mà trong tác phẩm: “Hệ tư tưởng Đức” ta bắt gặpnhững dòng: “Có thể phân biệt con người với súc vật bằng ý thức, bằng tôngiáo, nói chung bằng bất cứ cái gì cũng được Bản thân con người bắt đầubằng tự phân biệt với súc vật ngay khi con người bắt đầu sản xuất ra những
tư liệu sinh hoạt của mình - đó là một bước tiến do tổ chức cơ thể của conngười quy định Sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt của mình, như thế làcon người đã gián tiếp sản xuất ra chính đời sống vật chất của mình”[7,29].Trong tư liệu lao động, Mác tách những cái trực tiếp dẫn truyền tácđộng của con người vào giới tự nhiên đó là công cụ lao động Công cụ laođộng là hệ thống xương cốt và bắp thịt của sản xuất và là chỉ tiêu quantrọng nhất trong quan hệ của xã hội với giới tự nhiên đạt được do lao độngsản xuất và trong sản xuất thì công cụ lao động luôn luôn được cải tiến.Cùng với sự cải tiến và hoàn thiện công cụ lao động thì kinh nghiệm sảnxuất của loài người cũng được phát triển và phong phú thêm, những ngànhsản xuất mới xuất hiện, từ đây sự phân công lao động phát triển Chính sựcải tiến và hoàn thiện không ngừng công cụ lao động đã làm biến đổi tư liệu sảnxuất Xét đến cùng, đó là nguyên nhân sâu xa của mọi biến đổi xã hội
Trình độ phát triển của tư liệu lao động mà chủ yếu là công cụ laođộng là thước đo trình độ chinh phục tự nhiên của loài người, là cơ sở xácđịnh trình độ phát triển của sản xuất, là tiêu chuẩn để phân biệt sự khácnhau giữa các thời đại kinh tế Mác viết: “Những thời đại kinh tế khác nhaukhông phải ở chỗ chúng sản xuất ra cái gì, mà là ở chỗ chúng sản xuất bằngcách nào, với những tư liệu lao động nào” [18,233]
Một thế hệ sẽ có những tư liệu nhất định và thế hệ trước là điểm xuấtphát cho tư liệu lao động của thế hệ sau Tư liệu lao động chỉ trở thành lực
Trang 12lượng tích cực cải biến đối tượng lao động khi chúng kết hợp với lao độngsống Con người bằng trí tuệ và kinh nghiệm của mình chế tạo ra tư liệu laođộng và sử dụng nó trong quá trình sản xuất Đặc biệt, dù tư liệu lao động
có ý nghĩa lớn lao đến đâu mà tách khỏi người lao động thì sẽ không thểphát huy được tác dụng, không thể trở thành lực lượng sản xuất của xã hội.Trong tác phẩm: “Sự khốn cùng của triết học”, C.Mác viết: “Những quan
hệ xã hội đều gắn liền mật thiết với những lực lượng sản xuất Do có đượcnhững lực lượng sản xuất mới, loài người thay đổi phương thức sản xuấtcủa mình và do thay đổi phương thức sản xuất, cách kiếm sống của mình,loài người thay đổi tất cả những quan hệ xã hội của mình Cái cối xay quaybằng tay đưa lại xã hội có lãnh chúa, cái cối xay chạy bằng hơi nước đưalại xã hội có nhà tư bản công nghiệp” [10,15]
Tiếp theo, đối tượng lao động là những yếu tố tự nhiên mà lao độngcủa con người tác động vào nhằm làm biến đổi nó cho phù hợp với mụcđích của con người Đối tượng lao động gồm hai loại cơ bản:
Thứ nhất, loại sẵn có trong tự nhiên: tức là con người chỉ cần dùng sứclao động của mình tác động vào giới tự nhiên nhằm tạo ra những sản phẩmđáp ứng cho nhu cầu của mình và cho xã hội
Thứ hai, loại đối tượng lao động do con người sáng tạo ra từ những sựvật do tự nhiên cung cấp Những thứ đó không có sẵn trong tự nhiên nhưvậy mà phải thông qua sự cải tạo, chế biến của con người Do trí tưởngtượng cũng như sự thông minh của con người mà những sản phẩm làm rangày một phong phú, đa dạng
Giữa các yếu tố của lực lượng sản xuất có sự tác động biện chứng Sựhoạt động của tư liệu lao động phụ thuộc vào trí thông minh, sự hiểu biết,kinh nghiệm của con người Hơn nữa, con người không chỉ sử dụng công
cụ hiện có mà còn sáng chế ra những tư liệu lao động mới Những tư liệulao động này là lực lượng vật chất của tri thức con người Những tri thức
Trang 13khoa học, những kinh nghiệm, thói quen của con người đều cần thiết đểhoàn thiện kỹ thuật và phương pháp sản xuất.
Như vậy, sự phát triển của lực lượng sản xuất vào sự phát triển của tưliệu lao động, thích ứng với bản thân con người, với sự phát triển văn hóa,khoa học, kỹ thuật của họ “Năng suất lao động xã hội là thước đo trình độphát triển của lực lượng sản xuất Đồng thời xét đến cùng nó là nhân tốquan trọng nhất cho sự thắng lợi của một trật tự xã hội mới, nhân tố quantrọng nhất để nâng cao năng suất lao động là việc sáng tạo và áp dụng vàosản xuất những tư liệu lao động có năng suất cao áp dụng tiến bộ khoa học kỹthuật, quy trình công nghệ mới, phát triển những cơ sở năng lượng” [3, 30].Khoa học trở thành điểm xuất phát cho những biến đổi to lớn trong kỹthuật sản xuất Con người không còn thao tác trực tiếp trong hệ thống kỹthuật mà chủ yếu là sáng tạo và điều khiển quá trình đó một cách tự động,tri thức khoa học trở thành một tất yếu trong hoạt động của người sản xuấtthay cho thói quen và kinh nghiệm thông thường, tri thức khoa học đượcvật chất hóa, được kết tinh vào mọi nhân tố của lực lượng sản xuất, từ đốitượng lao động, tư liệu lao động, kỹ thuật, phương pháp công nghệ đến trithức của người lao động - “Khoa học hóa sản xuất” Do khoa học trở thànhlực lượng sản xuất trực tiếp mà thành phần người cấu thành lực lượng sảnxuất cũng thay đổi Người lao động trong lực lượng sản xuất không chỉ baogồm lao động chân tay, mà còn bao gồm cả kỹ thuật viên, kỹ sư và nhữngcán bộ khoa học phục vụ trực tiếp quá trình sản xuất
Vì thế mà có kết luận như sau: “Như vậy là sự sản xuất ra đời sốngcủa bản thân mình bằng lao động, cũng như ra đời sống của người khácbằng việc sinh con đẻ cái - biểu hiện ngay ra là một quan hệ song trùng,một mặt là quan hệ tự nhiên, mặt khác là quan hệ xã hội, quan hệ xã hội với
ý nghĩa đó là sự hợp tác của nhiều cá nhân, không kể là trong những điềukiện nào, trùng nào, theo cách nào và nhằm mục đích gì” [9, 42] Trongquan hệ song trùng này, vai trò quyết định thuộc về phương thức hoạt động
Trang 14hợp tác, lực lượng sản xuất của xã hội, bởi lẽ: “Tổng thể những lực lượngsản xuất mà con người đã đạt được quyết định trạng thái xã hội” [9, 42].
Có thể nói tóm gọn lại một ý trong vấn đề lực lượng sản xuất rằng:Khoa học và công nghệ hiện đại là đặc trưng cho lực lượng sản xuất hiệnđại Lực lượng sản xuất chính là cơ sở vật chất của hình thái kinh tế xã hội
1.1.2 Khái niệm quan hệ sản xuất
Lý luận hình thái kinh tế xã hội của C Mác đã chỉ rõ: Xã hội khôngphải là sự kết hợp ngẫu nhiên các mặt, các yếu tố với nhau theo ý muốnchủ quan mà là một hệ thống, trong đó các mặt, các yếu tố thống nhất vớinhau, tác động qua lại lẫn nhau và không ngừng tác động qua lại với tựnhiên
Trong hệ thống các quan hệ xã hội hết sức phức tạp đó, C Mác đã chỉ
ra và khẳng định quan hệ sản xuất là quan hệ khởi thủy, cơ bản của xã hội,được hình thành một cách khách quan trong quá trình sản xuất và là cơ sởcủa các quan hệ xã hội khác, quy định tính độc đáo của mỗi chế độ xã hộitrong lịch sử nhân loại, là tiêu chuẩn khách quan để phân chia xã hội nàyvới xã hội khác Trong “lao động làm thuê và tư bản” C.Mác viết: “Tổnghợp lại thì những quan hệ sản xuất hợp thành cái mà người ta gọi là nhữngquan hệ xã hội, là xã hội và hơn nữa hợp thành một xã hội ở vào một giaiđoạn nhất định, một xã hội có tính chất độc đáo riêng biệt Xã hội cổ đại,
xã hội phong kiến, xã hội tư sản đều là những tổng thể quan hệ sản xuấtnhư vậy, mỗi tổng thể đó đồng thời lại đại biểu cho một giai đoạn phát triểnđặc thù trong lịch sử nhân loại” [11, 553] Trong tác phẩm: “ Hệ tư tưởngĐức” đã hình thành những khái niệm cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sửnhư phương thức sản xuất, quan hệ sản xuất, cơ sở hạ tầng, kiến trúcthượng tầng, ý thức xã hội, hệ tư tưởng, chế độ xã hội, đồng thời đem đốilập quan niệm duy vật về lịch sử với quan niệm duy tâm về lịch sử Cũngtrong tác phẩm này, C.Mác và Ph.Ăngghen hiểu quan hệ sản xuất như quan
hệ được hình thành về mặt lịch sử giữa người với người trong quá trình sản
Trang 15xuất, quan hệ sản xuất được quy định của chế độ nhà nước và thượng tầng
tư tưởng: “Hình thức giao tiếp cái mà trong tất cả các giai đoạn lịch sử từtrước đến nay đều được quyết định bởi lực lượng sản xuất và đến lượt nólại quyết định bởi lực lượng sản xuất, là xã hội công dân mà tiền đề và cơsở…, là gia đình đơn giản và gia đình phức hợp”[9,51]
Cũng như lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất thuộc lĩnh vực đờisống vật chất của xã hội Tính vật chất của quan hệ sản xuất được biểu hiện
ở chỗ chúng tồn tại khách quan, độc lập với ý thức con người Mác viết:
“Trong sự sản xuất xã hội ra đời sống của mình, con người ta có nhữngquan hệ nhất định, tất yếu, không tùy thuộc vào ý muốn của họ - tức nhữngquan hệ sản xuất, những quan hệ này phù hợp với một trình độ phát triểnnhất định của các lực lượng sản xuất vật chất của họ” [17,637]
Vì vậy mà giáo trình triết học Mác Lênin đã định nghĩa một cách ngắngọn nhất, khái quát nhất quan hệ sản xuất là quan hệ giữa người với ngườitrong quá trình sản xuất (sản xuất và tái sản xuất xã hội) Quan hệ sản xuấtgồm ba mặt: quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất, quan hệ trong tổ chức
và quản lý sản xuất, quan hệ trong phân phối sản phẩm sản xuất ra Trong
sự sản xuất ra đời sống xã hội của mình, con người muốn hay không cũngphải duy trì và thực hiện những quan hệ nhất định với nhau Những quan
hệ này mang tính tất yếu và không phụ thuộc vào ý muốn của ai Đó chính
là những quan hệ sản xuất Cố nhiên, quan hệ sản xuất là do con ngườisáng tạo ra, song nó tuân theo những quy luật tất yếu, khách quan của sựvận động của đời sống xã hội Với tính cách là những quan hệ kinh tếkhách quan, không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con người, quan hệsản xuất là hình thức xã hội của lực lượng sản xuất và là cơ sở sâu xa củađời sống tinh thần xã hội C.Mác viết: “Trong sản xuất người ta không chỉquan hệ với giới tự nhiên Người ta không thể sản xuất được nếu không kếthợp với nhau theo một cách nào đó để hoạt động chung và để trao đổi hoạtđộng với nhau Muốn sản xuất được người ta phải có những mối liên hệ và
Trang 16quan hệ nhất định với nhau và quan hệ của họ với giới tự nhiên, tức là việcsản xuất” [11,552].
Vấn đề quan hệ sản xuất được C Mác phân tích trong mối liên hệ vớicác lĩnh vực của đời sống xã hội, với logic của sự phát triển của lịch sử, vớicác tư tưởng và thiết chế chính trị, đồng thời rút ra từ những yếu tố chủđạo, căn bản nhất Cơ sở của quan hệ sản xuất là những quan hệ kinh tếhiện thực về sở hữu, phân phối và sự chiếm hữu kết quả lao động, ở đó làmnổi bật vai trò của chủ thể lợi ích kinh tế Theo C Mác, việc hiểu đượcquan hệ trực tiếp của những chủ sở hữu các điều kiện sản xuất cho phépvạch ra bản chất của một chế độ xã hội
Thông qua đây, C.Mác cũng chứng minh tính khách quan của cácquan hệ sản xuất ở chỗ:
Thứ nhất: Chúng hình thành ở một trình độ nhất định của lực lượngsản xuất và phù hợp với lực lượng sản xuất
Thứ hai: Các mối liên hệ và quan hệ kinh tế của con người trong quátrình sản xuất vật chất không lệ thuộc vào ý muốn chủ quan của họ, mà vàotính chất của phương tiện sản xuất và sở hữu
Thứ ba: Chúng không lệ thuộc vào các dự án và các mục tiêu định sẵntrong đầu con người mà ngược lại
Quan hệ sản xuất là quan hệ kinh tế cơ bản của một hình thái kinh tế
xã hội Mỗi kiểu quan hệ sản xuất tiêu biểu cho bản chất kinh tế của mộthình thái kinh tế xã hội nhất định Quan hệ sản xuất bao gồm những mặtsau đây:
Quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất
Quan hệ quản lý và phân công lao động
Quan hệ phân phối sản phẩm lao động
Trong ba mặt của quan hệ sản xuất, quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất
là quan hệ xuất phát, quan hệ cơ bản, đặc trưng cho quan hệ sản xuất trongtừng xã hội Quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất quyết định quan hệ về tổ
Trang 17chức quản lý sản xuất, quan hệ phân phối sản phẩm cũng như các quan hệ
xã hội khác Lịch sử phát triển nhân loại đã chứng kiến có hai loại hình sởhữu cơ bản về tư liệu sản xuất đó là sở hữu tư nhân và sở hữu công cộng.Những hình thức sở hữu đó là những quan hệ kinh tế hiện thực giữa ngườivới người trong xã hội Nếu tư liệu sản xuất là tài sản chung của toàn thể xãhội, thì những thành viên của xã hội trở thành bình đẳng đối với tư liệu sảnxuất, mục đích sản xuất là để đảm bảo và nâng cao đời sống vật chất vàtinh thần cho nhân dân, quan hệ tập thể hợp tác, giúp đỡ lẫn nhau giữangười với người cũng được thiết lập
Sở hữu tư nhân là loại hình sở hữu mà trong đó tư liệu sản xuất tậptrung vào trong tay một số ít người còn đại đa số không có hoặc có rất ít tưliệu sản xuất Do đó, quan hệ giữa người với người trong sản xuất vật chất
và đời sống xã hội là quan hệ thống trị và bị trị, bóc lột và bị bóc lột
Sở hữu công cộng là loại hình sở hữu mà trong đó tư liệu sản xuấtthuộc về mọi thành viên của cộng đồng Nhờ đó, quan hệ giữa người vớingười trong mỗi cộng đồng là quan hệ bình đẳng, hợp tác giúp đỡ lẫn nhau.Các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác - Lênin đã chỉ rõ trong các chế độ sởhữu tư nhân của các xã hội điển hình trong lịch sử thì chế độ sở hữu tưnhân tư bản chủ nghĩa là đỉnh cao của loại hình sở hữu này C.Mác vàĂngghen cũng đã chứng minh rằng chế độ tư bản chủ nghĩa không phải làhình thức sở hữu cuối cùng trong lịch sử loài người Chủ nghĩa xã hội dựatrên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, dù sớm hay muộn cũng sẽ đóngvai trò phủ định đối với chế độ tư hữu Quan hệ sản xuất không phải là cốđịnh bất biến mà nó mang tính lịch sử Bất kì quan hệ sản xuất nào cũngđều thích ứng với lực lượng sản xuất trong từng giai đoạn lịch sử nhất định
Do đó, lịch sử loài người đã và đang trải qua các quan hệ sản xuất: Quan hệsản xuất cộng sản nguyên thủy, quan hệ sản xuất chế độ nô lệ, quan hệ sảnxuất phong kiến, quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa và quan hệ sản xuất xã
Trang 18hội chủ nghĩa, những quan hệ sản xuất này cấu thành và tương ứng vớinhững kiểu kết cấu kinh tế xã hội, tức những hình thái kinh tế xã hội.
Xét về mặt nội dung thì kinh tế xã hội là tổng hòa các quan hệ sảnxuất Trong bất kì một kết cấu kinh tế xã hội nào hoàn toàn không phải chỉtồn tại một quan hệ sản xuất mà ngược lại rất nhiều quan hệ sản xuất cùngtồn tại, chúng ảnh hưởng và tác động qua lại với nhau
Chẳng hạn, trong xã hội phong kiến ngoài chế độ sở hữu ruộng đấtphong kiến chiếm vị trí thống trị còn tồn tại những tàn dư của chế độ nô lệ.Hậu kì của chế độ phong kiến còn có sự manh nha của quan hệ sản xuất tưbản chủ nghĩa Hoặc trong xã hội Trung Quốc đương đại không chỉ có quan
hệ sản xuất công hữu đóng vai trò chủ đạo mà còn có cả quan hệ sản xuấtphi công hữu (không đóng vai trò chủ đạo), chúng cấu thành kết cấu kinh tế
xã hôi Trung Quốc đương đại
Trong tác phẩm: “ Những “người bạn dân” là thế nào” …Lênin đãđánh giá vai trò của quan hệ sản xuất cũng như ý nghĩa phương pháp luậnđược rút ra Theo Lênin, trong xã hội mặt cơ bản là các quan hệ sản xuất,việc nêu ra quan hệ sản xuất vật chất như là các quan hệ cơ bản và chủ đạocho phép khám phá ra những quy luật phát triển của xã hội Việc nhấnmạnh quan hệ sản xuất vật chất khắc phục sự hòa lẫn bản chất và hiệntượng, vạch ra các tiêu chí cơ bản để phân định ranh giới giữa các hiệntượng cơ bản và các hiện tượng không cơ bản của đời sống xã hội là rất cầnthiết
Nói chung, quan hệ sản xuất là quan hệ giữa người với người trongquá trình sản xuất Vấn đề quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất như đã nói ởtrên là quyết định quan hệ về tổ chức quản lý sản xuất, quan hệ phân phốisản phẩm và nhiều quan hệ khác
Quan hệ tổ chức, quản lý sản xuất: Đây là quan hệ nói lên rằng trongquá trình sản xuất thì ai là người quyết định việc tổ chức, quản lý trong quátrình sản xuất Trong chế độ xã hội mà nền kinh tế dựa vào chế độ tư nhân
Trang 19về tư liệu sản xuất như chế độ chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủnghĩa thì người sở hữu tư liệu sản xuất là kẻ bóc lột , chiếm giữ vai tròquản lý, những người này chiếm rất ít trong xã hội, còn người lao độngkhông có tư liệu sản xuất nên họ là người bị quản lý, bị bóc lột.
Còn trong chế độ xã hội mà tư liệu sản xuất dựa trên chế độ công hữuthì mọi thành viên trong xã hội có vị trí bình đẳng như nhau trong tổ chứclao động và phân phối sản xuất Chế độ người bóc lột người bị thủ tiêu, mọingười làm việc cho mình
Hiện nay, có trường hợp người sở hữu tư liệu sản xuất không trực tiếpđứng ra quản lý thì gián tiếp người đó vẫn đóng vai trò quyết định cuốicùng Nên trong quan hệ tổ chức, quản lý dù hình thức quản lý như thế nào
đi nữa thì quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất vẫn đóng vai trò chi phối,quyết định Nhưng nếu không quan hệ quản lý thì mặt sở hữu hay lợi ích cơbản chẳng bao giờ thực hiện được Như vậy, quan hệ tổ chức và quản lýsản xuất trực tiếp tác động đến quá trình sản xuất,đến việc tổ chức, điềukhiển quá trình sản xuất Nó có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm quá trình sảnxuất Quan hệ tổ chức và quản lý sản xuất do quan hệ sở hữu quyết định và
nó phải thích ứng với quan hệ sở hữu Tuy nhiên, có trường hợp quan hệ tổchức và quản lý không thích ứng với quan hệ sở hữu làm biến dạng quan hệ
sở hữu
Cuối cùng là quan hệ về phân phối sản phẩm
Quan hệ có khả năng kích thích thực tiễn vào lợi ích của con ngườinên quan hệ phân phối đóng vai trò như là “chất xúc tác” của các quá trìnhkinh tế xã hội, quan hệ phân phối có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm sự pháttriển sản xuất của xã hội Đây là quan hệ nói lên rằng trong quá trình sảnxuất người nào là chủ thể nắm quyền quyết định phân phối và ai là ngườitiếp nhận
Phân phối sản phẩm là khâu cuối cùng của quá trình sản xuất theonghĩa rộng Trong quan hệ phân phối, những tính chất và hình thức phân
Trang 20phối, quy mô thu nhập của các giai cấp, các tập đoàn xã hội khác nhau đềuphụ thuộc vào quan hệ sở hữu tư liệu sản xuất và quan hệ quản lý Ba yếu
tố trên đây của quan hệ sản xuất hoạt động trong mối liên hệ và tác độnglẫn nhau rất mật thiết, tạo thành một cơ cấu, một hệ thống quan hệ sản xuất.Các hệ thống quan hệ sản xuất ở mỗi giai đoạn lịch sử đều tồn tại trong mộtphương thức sản xuất nhất định Hệ thống quan hệ sản xuất thống trị trongmỗi hình thái kinh tế xã hội quyết định tính chất và bộ mặt hình thái kinh tế
xã hội
Vì vậy, khi nghiên cứu xem xét tính chất của một hình thái kinh tế xãhội nào thì không thể nhìn ở trình độ phát triển của lực lượng sản xuất màcòn phải xét đến tính chất của quan hệ sản xuất
1.2 Biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất
1.2.1 Lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất
Khi nhân loại đã đi được một chặng đường nhất định trên con đườngtiến hóa của mình thì một câu hỏi đặt ra buộc các nhà triết học phải suynghĩ: Cái gì quyết định sự phát triển của lịch sử?
Nhiều nhà tư tưởng của các thế hệ trong lịch sử đã lần lượt đưa ra kiếngiải của mình, cho đến giữa thế kỷ trước, lịch sử vẫn như một đám mây
mù, bởi lẽ lịch sử là hoạt động có ý thức của con người, nhưng người ta lạilấy tư tưởng, ý chí của con người hoặc của các siêu nhân để giải thích lịch
sử nên cuối cùng vẫn không sao ra khỏi cái vòng luẩn quẩn: tư tưởng quyếtđịnh tư tưởng
Không giống như những nhà triết học khác, C Mác ngay từ thời còntrẻ đã không đi tìm nguyên nhân của sự phát triển lịch sử từ những hiệntượng tinh thần mà ở trong những điều kiện vật chất của xã hội C Mác làmột nhà triết học thông minh, vĩ đại, không đi theo những quan niệm duytâm của các nhà triết học trước kia mà đã có cách nhìn đúng đắn hơn, duyvật hơn Mác là người đã vén bức màn thần bí đã được các bậc thầy tưtưởng của mình là Hêghen và các nhà triết học tiền bối khác che phủ lên
Trang 21lịch sử Đánh giá về việc phát hiện ra chủ nghĩa duy vật lịch sử của C.Mác,
Ph Ăngghen viết: “Giống như Đácuyn đã tìm ra quy luật phát triển của thếgiới hữu cơ, Mác đã tìm ra quy luật phát triển của lịch sử loài người : cái
sự thật đơn giản đã bị những tầng tầng lớp lớp những tư tưởng phủ kín chođến ngày này là: con người trước hết cần phải ăn, uống, chỗ ở và mặc đãrồi mới có thể làm chính trị, khoa học, nghệ thuật, tôn giáo được” [14,499-450] và V.I Lênin cũng khẳng định ý nghĩa khoa học to lớn của chủ nghĩaduy vật lịch sử: “Chủ nghĩa duy vật lịch sử của Mác là thành tựu vĩ đại nhấtcủa tư tưởng khoa học Một lý luận khoa học hết sức hoàn chỉnh và chặtchẽ đã thay cho sự lộn xộn và tùy tiện vẫn ngự trị từ trước đến nay trongcác quan niệm về lịch sử và chính trị, lý luận đó chỉ cho ta thấy rằng, dochỗ lực lượng sản xuất lớn lên thì từ một hình thức tổ chức đời sống xã hộinày, nảy ra và phát triển lên như thế nào một hình thức tổ chức đời sống xãhội khác cao hơn” [5,53]
Những tư tưởng nói trên của Mác đã đặt nền tảng cho một quan niệmduy vật về lịch sử : tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội
Để thõa mãn những nhu cầu đầu tiên, cơ bản của con người, Mác thấycon người phải chế tạo ra công cụ lao động, cái mà sau này Mác gọi bằngnhững khái niệm rộng hơn, chính xác hơn: tư liệu lao động, tư liệu sảnxuất, lực lượng sản xuất Nhưng sản xuất không thể là hành động của conngười riêng lẻ tác động vào tự nhiên, mà “muốn sản xuất được, người taphải có những mối liên hệ và quan hệ nhất định với nhau, và chỉ có trongphạm vi những mối liên hệ và quan hệ xã hội đó thì mới có sự tác động của
họ vào giới tự nhiên, tức sức sản xuất” [15,94]
Như vậy: “loài người tồn tại và phát triển được trên thế gian này,không phải do phép màu của một lực lượng huyền bí hay ý chí của các bậc
vĩ nhân mà là do có sự tồn tại phát triển của lực lượng sản xuất và quan hệsản xuất của con người, như cách nói sau này của Mác, là do sự tồn tại và pháttriển của những phương thức sản xuất nối tiếp nhau trong lịch sử” [2,72]
Trang 22Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai mặt của phương thứcsản xuất Chúng tồn tại không tách rời nhau mà tác động biện chứng lẫnnhau Sự liên hệ tác động giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất hìnhthành quy luật xã hội phổ biến của toàn bộ lịch sử loài người: quy luật về
sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ của lực lượng sản xuất
Trong phần này ta sẽ tập trung nghiên cứu mối quan hệ biện chứnggiữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất để thấy được mặt thứ nhất củaquy luật này là lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất
Khuynh hướng chung của sản xuất vật chất là không ngừng phát triển
Sự phát triển đó xét đến cùng là bắt nguồn từ sự biến đổi và phát triển củalực lượng sản xuất, trước hết là công cụ lao động Trong quá trình sản xuất
ra sản phẩm, để lao động bớt nặng nhọc và đạt hiệu quả cao hơn, con ngườiluôn luôn tìm cách cải tiến những công cụ lao động mới tinh xảo hơn.Những công cụ đó ngày một hiện đại hơn, làm cho sức lao động của conngười ít hao tổn mà lại sản xuất ra được nhiều hơn
Cùng với sự biến đổi và phát triển nhiều hơn của công cụ lao động thìkinh nghiệm sản xuất, thói quen lao động, kỹ năng sản xuất, kiến thức khoahọc của con người cũng tiến bộ Lúc này, lực lượng sản xuất trở thành yếu
tố động nhất, cách mạng nhất Còn quan hệ sản xuất là yếu tố tương đối ổnđịnh, có khuynh hướng lạc hậu hơn sự phát triển của lực lượng sản xuất.Đặc biệt, lực lượng sản xuất là nội dung của phương thức sản xuất cònquan hệ sản xuất là hình thức xã hội của nó Trong mối quan hệ giữa nộidung và hình thức thì nội dung quyết định hình thức, hình thức phụ thuộcvào nội dung Nội dung thay đổi trước sau đó hình thức mới biến đổi theo.Nhưng khi ta hiểu nó thì đương nhiên là hình thức không phải mang tínhtiêu cực, nó cũng có tác động trở lại đối với sự phát triển của nội dung.Bên cạnh sự phát triển của lực lượng sản xuất thì quan hệ sản xuấtcũng hình thành và biến đổi cho phù hợp với tính chất và trình độ của lựclượng sản xuất Trình độ phát triển của lực lượng sản xuất thể hiện trình độ
Trang 23phát triển của công cụ lao động, trình độ tổ chức và lao động xã hội, trình
độ ứng dụng khoa học vào sản xuất, kỹ năng và kinh nghiệm của conngười Như vậy là trình độ phát triển của lực lượng sản xuất nói lên khảnăng của con người thông qua việc sử dụng công cụ lao động thực hiện quátrình cải biến thế giới tự nhiên
Sự phát triển của lực lượng sản xuất từ thời cổ đại cho đến nay tức lànhững bước phát triển, chuyển từ dụng cụ thô sơ bằng đá đến cung tên, do
đó chuyển từ phương thức sinh hoạt săn bắn đến việc thuần dưỡng các convật và nghề chăn nuôi nguyên thủy, chuyển từ những công cụ bằng đá đếncông cụ bằng kim khí và do đó chuyển sang nghề trồng trọt và nghềnông…chuyển từ công cụ sản xuất thủ công nghiệp sang máy móc và biếnnền sản xuất công trường thủ công nghiệp cơ khí, chuyển sang hệ thốngmáy móc và lúc bấy giờ xuất hiện đại công nghiệp cơ khí hiện đại Đâychính là bức tranh tổng quát về sự phát triển lực lượng sản xuất của xã hộitrong suốt lịch sử nhân loại Và ở đây thì con người là yếu tố quan trọngnhất của lực lượng sản xuất Sở dĩ sự biến đổi của lực lượng sản xuất lại cóthể dẫn đến sự biến đổi của các quan hệ xã hội, thể chế chính trị là vì lựclượng sản xuất và quan hệ sản xuất gắn bó chặt chẽ với nhau trong mộtphương thức sản xuất, nhưng lực lượng sản xuất là cái phát triển mạnh mẽnhất Như sự phát triển ở trên thì sự phát triển và cải tiến những công cụsản xuất là do con người có quan hệ với nền sản xuất hiện thực, chứ khôngphải độc lập với con người, tức là lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuấtluôn luôn tác động qua lại với nhau, bổ sung cho nhau phát triển
Như vậy, để đáp ứng những nhu cầu đầu tiên, thiết yếu nhất trongcuộc sống của mình, loài người không thể một ngày, thậm chí một giờngừng sản xuất ra của cải vật chất Chính sự phát triển mạnh mẽ của lựclượng sản xuất đã tạo nên mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệsản xuất, và việc giải quyết những mâu thuẫn này đã tạo nên những biếnđổi dây chuyền trong lịch sử
Trang 24Việc xóa bỏ quan hệ sản xuất cũ, thay thế nó bằng quan hệ sản xuấtmới cũng có nghĩa là sự diệt vong của một phương thức sản xuất lỗi thời và
sự ra đời của một phương thức sản xuất mới Trong xã hội có giai cấp đốikháng, mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất mới và quan hệ sản xuất lỗi thời
là cơ sở khách quan của các cuộc đấu tranh giai cấp, đồng thời cũng là tiền
đề tất yếu của các cuộc cách mạng xã hội Vì thế mà một lần nữa Mác nhấnmạnh: “Trong sự sản xuất ra đời sống của mình, con người ta có nhữngquan hệ nhất định, tất yếu, không phụ thuộc vào ý muốn của họ, tức nhữngquan hệ sản xuất, những quan hệ này phù hợp với một trình độ phát triểnnhất định của các lực lượng sản xuất vật chất của họ… Tới một giai đoạnphát triển nào đó, các lực lượng sản xuất vật chất của xã hội sẽ mâu thuẫnvới những quan hệ sản xuất hiện có trong đó từ trước đến nay các lực lượngsản xuất vẫn phát triển Từ chỗ là những hình thức phát triển của các lựclượng sản xuất, quan hệ sản xuất ấy trở thành những xiềng xích của các lựclượng sản xuất Khi đó bắt đầu thời đại của một cuộc cách mạng xã hội”[17,637-638]
Đến đây ta biết chính Mác là người đã phát hiện ra quy luật quan hệsản xuất phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất Đây là quy luật cơbản chi phối toàn bộ quá trình lịch sử loài người, nó quyết định sự thay thếcác phương thức sản xuất và cùng với sự thay đổi phương thức sản xuất là
sự thay đổi các hình thái kinh tế xã hội
Vấn đề lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất và làm thay đổiquan hệ sản xuất cho phù hợp thì không có nghĩa là chỉ có lực lượng sảnxuất biến đổi, phát triển mà quan hệ sản xuất cũng hình thành và biến đổicho phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất Sự phù hợp này là độnglực làm cho lực lượng sản xuất phát triển mạnh mẽ Và việc lực lượng sảnxuất phát triển đến một trình độ nhất định làm cho quan hệ sản xuất khôngphù hợp nữa dẫn đến những mâu thuẫn của hai mặt này và yêu cầu phảithay đổi một quan hệ sản xuất mới Việc xóa bỏ quan hệ sản xuất cũ, thay
Trang 25thế quan hệ sản xuất mới đồng nghĩa với sự diệt vong một phương thức sảnxuất cũ, lạc hậu và thay bằng một phương thức sản xuất mới Đây cũng là
cơ sở khách quan của cuộc đấu tranh giai cấp, là tiền đề tất yếu của cuộccách mạng xã hội
Đến đây Mác đã viết: “Tới một giai đoạn phát triển nào đó của chúngcác lực lượng sản xuất vật chất của xã hội sẽ mâu thuẫn với những quan hệsản xuất hiện có, hay đây chỉ là biểu hiện pháp lí của những quan hệ sảnxuất đó, mâu thuẫn với những quan hệ sở hữu, trong đó từ trước đến naycác lực lượng sản xuất vẫn phát triển” [7,637-638] Bởi vì theo Mác, sựmâu thuẫn của lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất diễn ra trước hết ởmâu thuẫn của lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất sở hữu Nhưng ởđây không phải là sự mâu thuẫn do quan hệ sản xuất tạo ra mà là do mâuthuẫn sự phát triển của lực lượng sản xuất dẫn đến Quan hệ sản xuất thì dotính thể chế, tính pháp luật nên chậm biến đổi, trong khi đó lực lượng sảnxuất thường xuyên biến đổi, phát triển phá vỡ trạng thái phù hợp, tạo ramâu thuẫn Nhưng đây là những mâu thuẫn tích cực, mâu thuẫn do sự pháttriển của lực lượng sản xuất tạo ra, đòi hỏi được tiếp tục phát triển Nhưngkhi quan hệ sản xuất không còn phù hợp đã mâu thuẫn với lực lượng sảnxuất thì khi đó xảy ra các cuộc cách mạng xã hội Vì vậy, sự biến đổi vàthay thế lẫn nhau giữa các kiểu quan hệ sản xuất trong lịch sử nhân loại xétđến cùng là do sự phát triển của lực lượng sản xuất quy định
Tính quyết định của lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất được thểhiện rõ trong các giai đoạn phát triển của xã hội
Chẳng hạn, trong xã hội nguyên thủy, lực lượng sản xuất thấp kém,công cụ lao động thô sơ, người phải sống thành cộng đồng, tập đoàn để bảo
vệ nhau chống thú dữ nên của cải không đủ tiêu dùng Lúc này là biểu hiệncủa một chế độ công hữu về tư liệu sản xuất nên mới dẫn đến tình trạngnhư vậy Đến một giai đoạn nhất định trong chế độ công xã nguyên thủycũng được cải tiến về công cụ lao động, kinh nghiệm sản xuất mà đặc biệt
Trang 26là công cụ bằng đá sang công cụ bằng kim loại Những bước tiến đó làmcho lao động có năng suất cao hơn, xuất hiện khả năng chiếm hữu sảnphẩm lao động thặng dư, khả năng bóc lột và làm giàu của một số thànhviên trong xã hội Từ đây mâu thuẫn gay gắt dẫn đến một quan hệ sản xuấtmới ra đời thay thế quan hệ sản xuất cũ Đó là quan hệ sản xuất phong kiếnthay thế quan hệ sản xuất chiếm hữu nô lệ.
Cứ như vậy cho đến ngày nay thời đại của chủ nghĩa tư bản ngày càngphát triển thì mâu thuẫn đó ngày càng tăng lên và đòi hỏi phải thủ tiêu nó
Đó là các cuộc cách mạng xã hội, khi cách mạng xã hội nổ ra tức là mâuthuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất đã cực kỳ gay gắt Lựclượng sản xuất khi đó phát triển cao, đòi hỏi phải có các quan hệ sản xuấtmới phù hợp với tính chất và trình độ của nó Giai cấp cách mạng sau khigiành được chính quyền, đưa những quan hệ sản xuất mới - những quan hệ
mà vì nó đã tiến hành đấu tranh - vào các quá trình kinh tế, xã hội là có thểtạo nên sự phù hợp nhất định giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất.Đến đây thì C.Mác và Ph.Ăngghen đã khẳng định: “Tất cả các cuộc cáchmạng trong lịch sử đều bắt nguồn từ mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất vàhình thức giao tiếp” [12,158]
Nói chung, sản xuất ngày càng đạt tới trình độ phát triển cao với cơkhí, hiện đại, phân công lao động xã hội thì lực lượng sản xuất có tính chất
xã hội hóa cao Và quan hệ sản xuất mới này trở nên không còn phù hợpvới lực lượng sản xuất đã phát triển hơn nữa và sự thay thế phương thứcsản xuất lại diễn ra
Như vậy, sự phát triển của lực lượng sản xuất từ thấp đến cao qua cácthời kỳ lịch sử khác nhau đã quyết định sự thay thế quan hệ sản xuất cũbằng các quan hệ sản xuất mới cao hơn, đưa xã hội chuyển từ phương thứcsản xuất này lên phương thức sản xuất khác, hình thành các hình thái kinh
tế xã hội với những kiểu quan hệ sản xuất khác nhau Mác đưa ra kết luận:
“Do có những lực lượng sản xuất mới, loài người thay đổi phương thức sản
Trang 27xuất của mình, loài người thay đổi cả những quan hệ sản xuất của mình”[19,125].
1.2.2 Sự tác động trở lại của quan hệ sản xuất đối với sự phát triển của lực lượng sản xuất
Quan hệ sản xuất chính là quan hệ vật chất tồn tại khách quan khôngphụ thuộc vào ý muốn con người, đồng thời nó hình thành và thích ứng vớitrình độ phát triển của lực lượng sản xuất nhất định Mặc dù vậy nhữngquan hệ sản xuất luôn có tác động trở lại rất lớn đối với lực lượng sản xuất.Biểu hiện đó là khi quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độcủa lực lượng sản xuất thì nó sẽ trở thành động lực thúc đẩy, định hướngtạo điều kiện cho lực lượng sản xuất phát triển Và ngược lại, nếu lạc hậuhơn so với lực lượng sản xuất mặc dù chỉ là tạm thời so với tất yếu kháchquan lịch sử nhưng quan hệ sản xuất sẽ là xiềng xích kìm hãm sự phát triểncủa lực lượng sản xuất, và sẽ đến lúc được thay thế bằng một quan hệ sảnxuất mới phù hợp hơn Tức là khi quan hệ sản xuất kìm hãm sự phát triểncủa lực lượng sản xuất thì theo quy luật chung, quan hệ sản xuất cũ đượcthay thế bằng quan hệ sản xuất mới phù hợp với trình độ phát triển của lựclượng sản xuất để thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển Tuy nhiên, việc giảiquyết mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất không phảigiản đơn Nó phải thông qua nhận thức và hoạt động cải tạo xã hội của conngười Trong xã hội có giai cấp phải thông qua qua đấu tranh giai cấp, thôngqua cách mạng xã hội
Trong những xã hội có giai cấp đối kháng, sự tác động của quan hệsản xuất đối với lực lượng sản xuất được thực hiện thông qua hoạt độngkinh tế xã hội của các giai cấp bóc lột thống trị Hoạt động kinh tế xã hội lànhạy cảm nhất trong mọi xã hội nên giai cấp thống trị đã lợi dụng điều nay
để áp bức bóc lột nhân dân lao động Các giai cấp này chiếm hữu tư liệusản xuất chủ yếu, tổ chức và điều khiển sản xuất nhằm mục đích bóc lột laođộng thặng dư Giá trị thặng dư chỉ có người công nhân tạo ra với số lượng
Trang 28ngày càng lớn nhưng người công nhân không được hưởng lợi nhuận từ việcsản xuất ra giá trị thặng dư mà hơn thế giai cấp thống trị còn bóc lột dã mansức lao động của công nhân.
Dưới chế độ chiếm hữu nô lệ và phong kiến, trình độ lực lượng sảnxuất thấp kém, năng suất lao động còn thấp, giai cấp chủ nô và địa chủphong kiến đã áp dụng bạo lực cưỡng bức, người lao động kéo dài thời gianlao động để chúng bóc lột nhiều hơn Vì vậy mà việc phát huy tài năng trítuệ và kinh nghiệm sản xuất của quần chúng bị hạn chế, lực lượng sản xuấtphát triển chậm chạp Trong chế độ này, người lao động do bị áp bức về cảvật chất và tinh thần cho nên không có điều kiện khả năng sáng tạo củamình trong sản xuất Điều này vừa ảnh hưởng đến năng suất lao động đồngthời con người không có tự do nên không tự mình sáng tạo ra những công
cụ lao động hay vật liệu lao động mới, sản phẩm mới để làm tăng năng suấtlao động được Đến khi quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa ra đời quy địnhmục đích của nền sản xuất là làm thế nào để với một tư bản ứng trước tốithiểu sản xuất ra một giá trị thặng dư tối đa Giai cấp tư sản đã ra sức bóclột sức lao động làm thuê, đua nhau mở rộng sản xuất, phát triển kỹ thuật,làm cho lực lượng sản xuất phát triển mạnh mẽ chưa từng thấy trong các xãhội trước đó
Việc canh tranh theo đuổi giá trị thặng dư đã làm cho sản xuất ngàycàng tập trung và mang tính chất xã hội hóa cao, trong khi đó tư liệu sảnxuất và tài sản của xã hội lại là tài sản riêng của các nhà tư bản Nhà tư bản
đã đầu tư vào để sản xuất ra những công cụ lao động tiên tiến, hiện đại hóa
để sản xuất ra các sản phẩm một cách nhanh chóng mà lại ít sử dụng công
cụ lao động của người công nhân Bên cạnh đó, họ còn biết đầu tư vào tríthông minh của công nhân để tạo ra những sản phẩm mang tính khoa họchơn, thu lại lợi nhuận cao hơn Chính những điều này đã dẫn đến nhữngmâu thuẫn rất to lớn biểu hiện ra thành cuộc đấu tranh của giai cấp vô sảnchống lại giai cấp tư sản Cách mạng vô sản tất yếu nổ ra thay thế quan hệ
Trang 29sản xuất tư bản chủ nghĩa bằng quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa Đếnđây hình thành một xã hội mà nhân dân lao động làm chủ về tư liệu sảnxuất đó là chế độ xã hội chủ nghĩa Không chỉ có làm chủ tư liệu sản xuất
mà còn làm chủ về tổ chức quản lý và phân phối sản phẩm Điều đó đã quyđịnh mục đích của nền sản xuất là thõa mãn ngày càng tốt hơn nhu cầu vậtchất, văn hóa của nhân dân Hơn nữa, dưới chủ nghĩa xã hội, quan hệ sảnxuất phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất trở thànhđộng lực mạnh mẽ thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển Tuy nhiên, sựphù hợp đó không loại trừ những mâu thuẫn giữa hai mặt của phương thứcsản xuất, vì lực lượng sản xuất vẫn là nhân tố động nhất và cách mạng nhấtthường phát triển nhanh hơn quan hệ sản xuất Nhưng trong chế độ này thìmâu thuẫn đó không biểu hiện thành mâu thuẫn đối kháng giai cấp Quan
hệ sản xuất không phải chỉ là quan hệ sở hữu Mỗi kiểu quan hệ sản xuất làmột hệ thống, một chỉnh thể hữu cơ gồm cả ba mặt: quan hệ sở hữu, quan
hệ quản lý, quan hệ phân phối Chỉ trong chỉnh thể đó quan hệ sản xuất mớitrở thành động lực thúc đẩy con người hành động nhằm phát triển sản xuất
Sở dĩ, quan hệ sản xuất có thể tác động mạnh mẽ trở lại đối với lựclượng sản xuất là vì nó quy định mục đích của sản xuất, quy định hệ thống
tổ chức, quản lý sản xuất và quản lý xã hội, quy định phương thức phânphối mà phần của cải ít hay nhiều của người lao động được hưởng Do đó
nó ảnh hưởng đến thái độ quảng đại quần chúng lao động, lực lượng sảnxuất chủ yếu của xã hội, nó tạo ra những điều kiện kích thích hoặc hạn chếviệc cải tiến công cụ lao động, áp dụng những thành tựu khoa học kỹ thuậtvào sản xuất, hợp tác và phân phối lao động
Nhưng chúng ta không được hiểu tính tích cực của quan hệ sản xuấtmột cách đơn giản là vai trò của hình thức sở hữu Đồng thời không nêntuyệt đối hóa vai trò của lực lượng sản xuất mà bỏ qua sự tác động củaquan hệ sản xuất đối với lực lượng sản xuất Khi giữa chúng có sự phù hợp
Trang 30với trình độ của lực lượng sản xuất là do yếu tố chủ quan, chứ không phải
do tính đặc thù của quy luật đó
Như vậy là quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triểncủa lực lượng sản xuất là động lực thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển.Quan hệ sản xuất phải luôn luôn vận động, biến đổi đưa mình lên một trình
độ cao hơn để cùng với lực lượng sản xuất phát triển xã hội Chính vì vậy
mà quan hệ sản xuất là lực lượng không thể thiếu được của một phươngthức sản xuất, lực lượng sản xuất không thể tồn tại, phát triển bên ngoàiquan hệ sản xuất Quan hệ sản xuất có vai trò hai mặt, một mặt là hình thức
xã hội của lực lượng sản xuất, mặt khác, quan hệ sản xuất có quan hệ kiếntrúc thượng tầng, là cơ sở của các quan hệ xã hội khác Quan hệ sản xuất cóthể gây khó khăn, cản trở làm chậm sự phát triển của lực lượng sản xuấtnhưng chỉ trong một thời gian nhất định chứ không làm tan rã lực lượngsản xuất Sự phát triển của lực lượng sản xuất là do nhu cầu của xã hội, xãhội ngày càng phát triển thì yêu cầu đối với lực lượng sản xuất cũng rấtcao Đó chính là trình độ chinh phục tự nhiên, trình độ khoa học, kỹ thuật
và ứng dụng khoa học kỹ thuật vào đời sống sản xuất vật chất của mình.Việc yêu cầu khoa học ngày càng phát triển luôn là một yêu cầu cấp bách
và không bao giờ ngừng nghỉ Từ đây, cho thấy nhu cầu của con ngườiđang ngày càng tăng lên với sự phát triển của khoa học kỹ thuật Vậy là,lực lượng sản xuất phát triển chẳng những do yếu tố nội tại của nó mà còn
do sự tác động của quan hệ sản xuất Quy luật quan hệ sản xuất phù hợpvới trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là quy luật phổ biến tác độngtrong toàn bộ tiến trình lịch sử nhân loại: Sự thay thế phát triển đi lên củalịch sử loài người từ chế độ công xã nguyên thủy, qua chế độ chiếm hữu nô
lệ, chế độ phong kiến, chế độ tư bản chủ nghĩa và đến xã hội cộng sảntương lai là do hệ thống các quy luật xã hội, trong đó quy luật quan hệ sảnxuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là quy luật cơbản nhất
Trang 31Tiểu kết chương 1:
Qua sự phân tích làm rõ nội dung ở trên ta thấy Mác chính là người đãphát hiện ra quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển củalực lượng sản xuất Đó là quy luật cơ bản chi phối toàn bộ quá trình lịch sửloài người, nó quyết định sự thay thế các phương thức sản xuất và cùng với sựthay đổi phương thức sản xuất là sự thay thế của các hình thái kinh tế xã hội.Đồng thời là nhờ việc phát hiện ra quy luật quan hệ sản xuất phù hợpvới tình độ phát triển của lực lượng sản xuất, Mác đã xây dựng được lýluận về hình thái kinh tế xã hội, một phạm trù cơ bản của chủ nghĩa duy vậtlịch sử, chỉ xã hội ở từng giai đoạn lịch sử nhất định, với một kiểu quan hệsản xuất đặc trưng cho xã hội đó, phù hợp với một trình độ nhất định củalực lượng sản xuất và với một kiến trúc thượng tầng được xây dựng trênnhững quan hệ sản xuất ấy Lênin cho rằng: “ Chỉ có đem quy những quan
hệ xã hội vào những quan hệ sản xuất và đem quy những quan hệ sản xuấtvào trình độ của những lực lượng sản xuất thì người ta mới có được một cơ
sở vững chắc để quan niệm sự phát triển của những hình thái kinh tế xã hội
là một quá trình lịch sử tự nhiên” [4, 163]
Việc vận dụng mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất vàquan hệ sản xuất và xây dựng kinh tế - xã hội của một đất nước hay một xãhội đang tồn tại là điều hết sức quan trọng Bởi vì nó chi phối, tác động đếnrất nhiều lĩnh vực đặc biệt là việc vận dụng quy luật đó vào việc phát triểnnền kinh tế Chỉ có như vậy mới làm cho quan hệ sản xuất không bị lĩnhvực nào kìm hãm nó phát triển
Từ đây, chúng ta có thể rút ra những nội dung cơ bản của mối quan hệbiện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất như sau:
- Xu hướng của sản xuất vật chất là không ngừng biến đổi phát triển
Sự biến đổi đó bao giờ cũng bắt đầu bằng sự biến đổi và phát triển của lựclượng sản xuất mà trước hết là công cụ lao động Lực lượng sản xuất pháttriển đến mâu thuẫn gay gắt với quan hệ sản xuất và xuất hiện đòi hỏi
Trang 32khách quan phải xóa bỏ quan hệ sản xuất cũ bằng quan hệ sản xuất mới.Như vậy, từ chỗ quan hệ sản xuất vốn là hình thức phát triển của lực lượngsản xuất, nay quan hệ sản xuất trở thành xiềng xích kìm hãm sự phát triểncủa lực lượng sản xuất ( không phù hợp) Sự phù hợp và không phù hợp làbiểu hiện mâu thuẫn biện chứng của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất,tức là sự phù hợp và không phù hợp trong mâu thuẫn và bao hàm mâu thuẫn.
- Khi phù hợp cũng như không phù hợp với lực lượng sản xuất, quan
hệ sản xuất luôn có tính độc lập tương đối với lực lượng sản xuất, thể hiệntrong tác động trở lại đối với lực lượng sản xuất, quy định mục đích xã hộicủa sản xuất, xu hướng phát triển của quan hệ lợi ích, từ đó hình thành nhữngyếu tố hoặc thúc đẩy, hoặc kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất
- Sự tác động trở lại nói trên của quan hệ sản xuất, bao giờ cũng thôngqua các quy luật kinh tế cơ bản phù hợp và không phù hợp giữa lực lượng sản xuất
và quan hệ sản xuất là khách quan và phổ biến của mọi phương thức sản xuất.Thông qua sự phân tích mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sảnxuất và quan hệ sản xuất mà Việt Nam chúng ta đã phát triển kinh tế phùhợp với xu thế của thời đại Tiếp theo sau đây ở phần chương 2 chúng ta sẽđược nhìn thấy rõ hơn việc vận dụng phù hợp quy luật quan hệ sản xuất vớitrình độ phát triển của lực lượng sản xuất ở Quảng Bình, nhìn thấy đượctình hình phát triển kinh tế qua các năm nhờ sự vận dụng biện chứng mốiquan hệ giữa quan hệ sản xuất và sự phát triển của lực lượng sản xuất
Trang 33Chương 2: VẬN DỤNG MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT VÀ QUAN HỆ SẢN XUẤT VÀO PHÁT TRIỂN
KINH TẾ QUẢNG BÌNH HIỆN NAY
2.1 Sơ lược tình hình kinh tế - xã hội ở tỉnh Quảng Bình hiện nay 2.1.1 Điều kiện xã hội
Để có thể nghiên cứu tình hình phát triển kinh tế tỉnh Quảng Bìnhhiện nay thì trước hết ta phải nghiên cứu điều kiện kinh tế - xã hội, thấy rõnhững thuận lợi và khó khăn để có thể xây dựng và phát triển kinh tế ởnơi đây
Đầu tiên là về điều kiện xã hội thì Quảng Bình là một tỉnh duyên hảithuộc vùng Bắc Trung Bộ Việt Nam Nằm ở nơi hẹp nhất của dải đất hìnhchữ S của Việt Nam, giáp tỉnh Hà Tĩnh về phía Bắc với dãy Hoành Sơn làranh giới tự nhiên, giáp Quảng Trị về phía Nam, phía Đông giáp biểnĐông, phía Tây giáp tỉnh Khăm Muộn của Lào với dãy Trường Sơn là biêngiới tự nhiên
Diện tích đất Quảng Bình là 8051,86 km2 ( tổng diện tích là 805.186ha) Với diện tích như vậy, Quảng Bình có vị trí địa lý hết sức đặc biệt, vừa
có những ảnh hưởng tích cực vừa có những ảnh hưởng xấu đến việc pháttriển nền kinh tế nói chung Trong điều kiện xã hội thì dân số là một phầnhết sức quan trọng góp phần làm cho xã hội và cả kinh tế phát triển Dân sốQuảng Bình năm 2004 có 829.800 người, phần lớn dân cư địa phương làngười Kinh, dân tộc ít người thì gồm có hai nhóm chính: Chứt và bru-vânkiều Dân cư phân bố không đều, 86,83% sống ở vùng nông thôn và13,17% sống ở thành thị Quảng Bình có nguồn lao động dồi dào với433,618 người, chiếm khoảng 52,26% dân số Về chất lượng lao động thìtheo điều tra dân số thời điểm 1/4/1999 có: 10.720 người có trình độ từ caođẳng trở lên, trong đó có 4.676 cao đẳng, 6.042 đại học và trên đại học.Lực lượng lao động đã qua đào tạo gần 33.000 người chiếm 8% số lao
Trang 34động, lực lượng lao động luôn là vấn về được quan tâm nhiều nhất vì nógóp phần vào làm cho nền kinh tế của một vùng phát triển nhanh hay chậm.
Về giáo dục đào tạo thì năm 2009 - 2010 ngành giáo dục hưởng ứngtốt các cuộc vận động do Bộ giáo dục đào tạo phát động, chất lượng giáodục đã được nâng lên một bước, số lượng học sinh bỏ học giảm so với nămtrước Xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lýgiáo dục có nhiều chuyển biến tiến bộ, đồng thời tiếp tục phát triển, cũng
cố mạng lưới trường, lớp, cơ sở giáo dục Lĩnh vực đào tạo tiếp tục chútrọng nâng cao chất lượng đào tạo hướng vào mục tiêu phát triển nguồn nhânlực, đáp ứng yêu cầu thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế - xã hội của tỉnh.Trình độ của người lao động được nâng cao hơn nhờ có sự phát triển của côngtác giáo dục Mỗi ngày chất lượng cũng như số lượng giáo dục được phát huy,hơn hẳn so với những thời kỳ trước Đặc biệt, khi trường cao đẳng sư phạmQuảng Bình được nâng cấp lên thành đại học thì đây đã và đang là nơi đào tạonguồn lao động chất lượng cao, là lực lượng tri thức nồng cốt cho sự pháttriển kinh tế ở đây Những điều kiện trên tạo cho Quảng Bình có một lựclượng sản xuất phát triển khá đồng đều và ổn định tương ứng với những quan
hệ sản xuất phù hợp Nhưng chất lượng giáo dục của các cấp học và trình độđào tạo nhìn chung còn thấp, chưa đồng đều giữa các vùng, miền và giữa cácloại hình, công tác phổ cập giáo dục ở một số địa bàn còn gặp nhiều khó khăn
Về y tế và công tác bảo vệ chăm sóc sức khỏe thì đã thực hiện tốt côngtác vệ sinh phòng dịch, chủ động triển khai và khống chế có hiệu quả cácloại dịch bệnh…do đó không có dịch bệnh lớn xảy ra trên địa bàn Hầu hếtcác chỉ tiêu, nhiệm vụ về y tế thuộc chương trình mục tiêu quốc gia và cácchương trình y tế khác đã được tổ chức thực hiện tích cực, hiệu quả Đặcbiệt là đã tăng cường công tác kiểm tra xử lý và vệ sinh phòng dịch sau lũlụt được triển khai tích cực, nên không để xảy ra ô nhiễm và dịch bệnh.Các hoạt động văn hóa, thể thao, thông tin truyền thông đều hướngvào phục vụ nhiệm vụ chính trị của địa phương, phục vụ kỷ niệm các ngày
Trang 35lễ lớn và các sự kiện quan trọng Phong trào: “ Toàn dân đoàn kết xây dựngđời sống văn hóa” gắn với thực hiện cuộc vận động: “Học tập và làm theotấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” đã thực sự trở thành cuộc vận động vănhóa, chính trị, sâu rộng được mọi tầng lớp nhân dân hưởng ứng Phong tràothể dục, thể thao quần chúng phát triển mạnh mẽ, nhiều hoạt động chàomừng các ngày lễ lớn với nhiều hình thức ngày càng phong phú, đa dạng.Hoạt động quản lý báo chí, xuất bản, in và phát hành bưu chính viễnthông tiếp tục được tăng cường, chấn chỉnh, đảm bảo đúng quy định củanhà nước.
Về lao động thương binh xã hội thì đã đẩy mạnh chương trình giảiquyết việc làm và xóa đói giảm nghèo trên cơ sở, thực hiện lồng ghép cácchương trình kinh tế xã hội trọng điểm các dự án trên từng địa bàn, chútrọng đào tạo nghề để đáp ứng nhu cầu việc làm của các thành phần kinh tế
và tăng cường xuất khẩu lao động, công tác bảo trợ xã hội tiếp tục đẩymạnh Đã theo dõi, nắm sát tình hình đời sống nhân dân toàn tỉnh, nhất làđời sống đồng bào dân tộc, vùng sâu, vùng xa, đồng bào vùng bị thiệt hạinặng do thiên tai để có biện pháp hỗ trợ
Thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo trên địa bàn tỉnh nhìn chungphù hợp với chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước.Sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo được tổ chức đúng quy định của pháp luật
Đã chấm dứt kịp thời các hoạt động tôn giáo trái pháp luật Tuy nhiên, tỷ lệ
hộ nghèo và nguy cơ tái nghèo vùng đồng bào dân tộc còn cao, một số nơingười dân vẫn còn nặng tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào nhà nước, trình độsản xuất còn lạc hậu Đội ngũ cán bộ chủ chốt của xã, thôn, bản tuy đãđược quan tâm đào tạo nhưng nhìn chung còn hạn chế
Nhìn chung tình hình xã hội trong những năm gần đây đã đạt đượcnhững kết quả đáng khích lệ, tạo điều kiện cho kinh tế phát triển nên cầnphải tập trung phát huy những yếu tố tích cực đó để làm nền tảng cho nềnkinh tế Đặc biệt là Quảng Bình đã chuẩn bị được một lực lượng sản xuất