MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài khoá luận Triết học đã nghiên cứu nhiều vấn đề, song vấn đề trung tâm của nó, vấn đề con người vẫn luôn được đề cao. Điều đó thể hiện ngay trong định nghĩa: “Triết học là hệ thống những lý luận chung nhất của con người về thế giới, về vai trò của con người trong thế giới ấy”. Việc tìm hiểu, nghiên cứu về thế giới chung quy lại đều phục vụ việc tìm hiểu con người, phát triển con người. Xã hội loài người càng phát triển thì vấn đề con người càng được đánh giá cao và tìm hiểu sâu sắc. Ví dụ như thời cổ đại người ta tôn thờ những thế lực siêu nhiên, con người chỉ là kẻ tôi tớ phụng sự ý trời. Nhưng đến thời hiện đại, con người đã trở thành những kẻ chinh phục thế giới bằng trí tuệ và năng lực của mình. Ở mỗi nấc thang phát triển của loài người, vấn đề con người lại được nhìn nhận ở những khía cạnh, mức độ khác nhau. Ở thời đại hiện nay, vấn đề con người là vấn đề trung tâm, quyết định đối với sự phát triển của một đất nước. Và với Việt Nam thì vấn đề này càng trở nên cấp thiết do Việt Nam đang trong quá trình đổi mới, thực hiện sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước theo xu hướng xã hội chủ nghĩa. Cơ sở lý luận của sự nghiệp đổi mới đó chính là tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ nghĩa MácLênin làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nan cho mọi hoạt động của toàn Đảng, toàn dân ta. Trong thực tiễn của những năm qua, với việc áp dụng quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin nói chung và triết học Mác Lênin nói riêng về vấn đề con người trong quá trình đổi mới, thực hiện sự nghịêp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước theo xu hướng xã hội chủ nghĩa; Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn rất đáng hoan nghênh. Vì vậy việc khai thác, nghiên cứu triết học MácLênin về vấn đề con người là một nhiệm vụ hết sức quan trọng và cấp bách. Trong khi đó, trước yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, sự tác động của cơ chế thị trường đang bộc lộ nhiều bất cập về con người cho sự phát triển đất nước. Làm thế nào để phát huy có hiệu quả vai trò nhân tố con người trong công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam hiện nay nói chung và với sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội ở Quảng Bình nói riêng? Đây là vấn đề lý luận và thực tiễn quan trọng đang được nghiên cứu một cách có hệ thống, cơ bản, kịp thời nhằm tìm kiếm giải pháp phù hợp. Do đó để đánh giá đúng con người Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phát triển kinh tế xã hội hiện nay phải dựa trên những quan điểm, góc nhìn của triết học Mác Lênin. Bởi nội dung triết học Mác Lênin về con người đề cập đến nhiều vấn đề đó là: Bản chất của con người là tổng hoà của các mối quan hệ xã hội, mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội, vai trò của quần chúng nhân dân và cá nhân trong lịch sử...Việc nắm vững và vận dụng tốt quan điểm triết học Mác Lênin về con người ở nước ta hiện nay là một công việc cực kỳ quan trọng và cấp bách nhằm thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Đó là sự hiểu biết sâu sắc và vận dụng linh hoạt quan điểm, tư tưởng của triết học Mác Lênin nhằm xây dựng và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và chuẩn bị những con người có đầy đủ năng lực và đạo đức cách mạng để phục vụ mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Đặc biệt với Quảng Bình là một tỉnh ở khu vực Bắc Trung Bộ có nền kinh tế xã hội còn nghèo, điều kiện xây dựng và phát triển gặp nhiều khó khăn, trở ngại nên yêu cầu của việc nghiên cứu đề ra những mục tiêu, chính sách đúng đắn để phát triển đưa nền kinh tế xã hội ở Quảng Bình đi lên là một nhiệm vụ hết sức quan trọng và cấp bách. Với ý nghĩa đó, tôi chọn: “Vấn đề phát huy nhân tố con người trong quá trình xây dựng và phát triển kinh tế xã hội ở Quảng Bình hiện nay” làm đề tài khoá luận tốt nghiệp của mình.
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài khoá luận
Triết học đã nghiên cứu nhiều vấn đề, song vấn đề trung tâm của
nó, vấn đề con người vẫn luôn được đề cao Điều đó thể hiện ngay trongđịnh nghĩa: “Triết học là hệ thống những lý luận chung nhất của conngười về thế giới, về vai trò của con người trong thế giới ấy” Việc tìmhiểu, nghiên cứu về thế giới chung quy lại đều phục vụ việc tìm hiểucon người, phát triển con người Xã hội loài người càng phát triển thìvấn đề con người càng được đánh giá cao và tìm hiểu sâu sắc Ví dụ nhưthời cổ đại người ta tôn thờ những thế lực siêu nhiên, con người chỉ là
kẻ tôi tớ phụng sự ý trời Nhưng đến thời hiện đại, con người đã trởthành những kẻ chinh phục thế giới bằng trí tuệ và năng lực của mình Ởmỗi nấc thang phát triển của loài người, vấn đề con người lại được nhìnnhận ở những khía cạnh, mức độ khác nhau Ở thời đại hiện nay, vấn đềcon người là vấn đề trung tâm, quyết định đối với sự phát triển của mộtđất nước Và với Việt Nam thì vấn đề này càng trở nên cấp thiết do ViệtNam đang trong quá trình đổi mới, thực hiện sự nghiệp công nghiệphoá, hiện đại hoá đất nước theo xu hướng xã hội chủ nghĩa Cơ sở lýluận của sự nghiệp đổi mới đó chính là tư tưởng Hồ Chí Minh, chủnghĩa Mác-Lênin làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nan cho mọi hoạtđộng của toàn Đảng, toàn dân ta
Trong thực tiễn của những năm qua, với việc áp dụng quan điểmcủa chủ nghĩa Mác - Lênin nói chung và triết học Mác - Lênin nói riêng
về vấn đề con người trong quá trình đổi mới, thực hiện sự nghịêp côngnghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước theo xu hướng xã hội chủ nghĩa; ViệtNam đã đạt được những thành tựu to lớn rất đáng hoan nghênh Vì vậy
Trang 2việc khai thác, nghiên cứu triết học Mác-Lênin về vấn đề con người làmột nhiệm vụ hết sức quan trọng và cấp bách Trong khi đó, trước yêucầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, sự tác động của cơ chếthị trường đang bộc lộ nhiều bất cập về con người cho sự phát triển đấtnước Làm thế nào để phát huy có hiệu quả vai trò nhân tố con ngườitrong công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam hiện nay nói chung vàvới sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội ở Quảng Bình nói riêng? Đây làvấn đề lý luận và thực tiễn quan trọng đang được nghiên cứu một cách
có hệ thống, cơ bản, kịp thời nhằm tìm kiếm giải pháp phù hợp Do đó
để đánh giá đúng con người Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh côngnghiệp hoá, hiện đại hoá, phát triển kinh tế - xã hội hiện nay phải dựatrên những quan điểm, góc nhìn của triết học Mác - Lênin Bởi nội dungtriết học Mác - Lênin về con người đề cập đến nhiều vấn đề đó là: Bảnchất của con người là tổng hoà của các mối quan hệ xã hội, mối quan hệgiữa cá nhân và xã hội, vai trò của quần chúng nhân dân và cá nhântrong lịch sử Việc nắm vững và vận dụng tốt quan điểm triết học Mác -Lênin về con người ở nước ta hiện nay là một công việc cực kỳ quantrọng và cấp bách nhằm thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá,hiện đại hoá Đó là sự hiểu biết sâu sắc và vận dụng linh hoạt quanđiểm, tư tưởng của triết học Mác - Lênin nhằm xây dựng và phát triểnnguồn nhân lực chất lượng cao và chuẩn bị những con người có đầy đủnăng lực và đạo đức cách mạng để phục vụ mục tiêu dân giàu nướcmạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Đặc biệt với Quảng Bình làmột tỉnh ở khu vực Bắc Trung Bộ có nền kinh tế - xã hội còn nghèo,điều kiện xây dựng và phát triển gặp nhiều khó khăn, trở ngại nên yêucầu của việc nghiên cứu đề ra những mục tiêu, chính sách đúng đắn đểphát triển đưa nền kinh tế - xã hội ở Quảng Bình đi lên là một nhiệm vụhết sức quan trọng và cấp bách
Trang 3Với ý nghĩa đó, tôi chọn: “Vấn đề phát huy nhân tố con người trong quá trình xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội ở Quảng Bình hiện nay” làm đề tài khoá luận tốt nghiệp của mình.
2 Tình hình nghiên cứu của khoá luận
Vấn đề nghiên cứu con người Việt Nam từ lâu đã được đề cập đến
và là mối quan tâm chung của nhiều ngành khoa học, kể cả một sốngành khoa học tự nhiên, công nghệ và các ngành khoa học xã hội nhânvăn Từ mỗi góc độ của mình, các nhà khoa học chuyên ngành đã tiếpcận được ở mức độ tương đối sâu sắc về các vấn đề liên quan đến conngười Việt Nam, tính cách dân tộc Việt Nam, đến việc giáo dục và pháttriển con người Việt Nam trong thời đại mới Các công trình nghiên cứu
tiêu biểu như Xã thôn Việt Nam (Nxb Văn Sử Địa, Hà Nội, 1959) và Tìm hiểu tính cách dân tộc (Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1963) của
GS Nguyễn Hồng Phong, Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam của GS Trần Văn Giàu (Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1980);
…đã tập trung vào nghiên cứu những đặc điểm và giá trị của con ngườiViệt Nam truyền thống, từ giác độ của khoa học lịch sử, dân tộc học.Các công trình đó đã hệ thống hoá và khái quát hoá hệ tư tưởng, hệthống đạo đức và tính cách của con người Việt Nam trong truyền thống(bao gồm các mặt tích cực, tiêu cực) Từ đó các nhà nghiên cứu đã đặt
ra yêu cầu cấp thiết phải kế thừa và phát huy những giá trị, loại bỏnhững phản giá trị trong truyền thống để xây dựng, phát triển con ngườiViệt Nam trong điều kiện xã hội mới
Trong thời kỳ đổi mới, thời kỳ đẩy mạnh quá trình công nghiệphoá, hiện đại hoá đất nước, từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI(1986) đến nay, chúng ta đã thu được nhiều thành tựu mới trong việcnghiên cứu con người Việt Nam Chúng ta đã tìm hiểu, khám phá sâusắc hơn con người Việt Nam nhằm động viên, khai thác mạnh mẽ, hiệuquả các tiềm năng của mỗi con người, mỗi tập thể lao động và của cả
Trang 4cộng đồng dân tộc Việt Nam vào tiến trình đưa nước ta sớm ra khỏi tìnhtrạng kém phát triển, trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiệnđại, vì mục tiêu “dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ vănminh” tiến bước vững chắc lên chủ nghĩa xã hội, cũng như mở ra khảnăng mới để con người Việt Nam được phát triển phong phú, tự do, toàndiện trong mối quan hệ hài hoà giữa cá nhân và cộng đồng, giữa xã hội
và tự nhiên Thời gian qua đã có nhiều kết quả nghiên cứu trực tiếp hoặc
gián tiếp liên quan đến đề tài “Vấn đề phát huy nhân tố con người trong quá trình xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội ở Quảng Bình hiện nay”, là cơ sở cung cấp các nguồn tư liệu, số liệu giúp cho việc
thực hiện đề tài được thuận lợi và thành công nhất.Trước hết là các kếtquả nghiên cứu về con người Việt Nam được thể hiện qua các đề tàinghiên cứu thuộc chương trình nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước giaiđoạn từ những năm 1990 đến nay: Chương trình nghiên cứu mang mã sốKX.07 “Con người là mục tiêu và động lực của phát triển kinh tế - xãhội” (giai đoạn 1991 - 1995); chương trình khoa học xã hội mã sốKHXH - 04 “Phát triển văn hoá, xây dựng con người trong thời kỳCNH, HĐH đất nước” (giai đoạn 1996 - 2000); chương trình nghiên cứumang mã số KX05 “Phát triển văn hoá, con người và nguồn nhân lựctrong thời kỳ CNH, HĐH” (2001 - 2005); chương trình nghiên cứutrọng điểm cấp Nhà nước mang mã số KX.03/06 - 10 “Xây dựng conngười và phát triển văn hoá Việt Nam trong tiến trình đổi mới và hộinhập quốc tế” (2006 - 2010) Nhiều công trình nghiên cứu đã được xuấtbản thành sách phản ánh kết quả nghiên cứu của các đề tài thuộc chương
trình khoa học cấp Nhà nước nói trên Tiêu biểu là các công trình: Các giá trị truyền thống và con người Việt Nam hiện nay do GS Phạm Huy
Lê và GS TSKH Vũ Minh Giang (chủ biên), Chương trình KX07, Đề
tài KX07 - 02, Hà Nội, tập I - 1994, tập II - 1996; Công trình Về phát triển toàn diện con người thời kỳ CNH, HĐH do GS, VS Phạm Minh
Trang 5Hạc chủ biên (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001)…Các công trìnhnày đã đề cập đến các phương hướng nghiên cứu con người, nguồn nhânlực và phát triển nguồn lực con người Việt Nam cả trên bình diện lýluận và thực tiễn; xác nhận tầm quan trọng của nhân tố con người trong
sự nghiệp đổi mới; phân tích thực trạng phát triển con người, phát triểnnguồn nhân lực và định hướng phát triển con người, phát triển nguồnnhân lực trong thời kỳ xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xãhội chủ nghĩa, hội nhập kinh tế quốc tế Bên cạnh việc nghiên cứu vềcon người Việt Nam nói chung, cũng đã có nhiều đề tài, sách báo, tạpchí…bàn đến vấn đề con người Quảng Bình, các bài viết này chủ yếubàn về con người với tư cách là nguồn lực quan trọng, là mục tiêu trongquá trình phát triển kinh tế - xã hội ở Quảng Bình hiện nay
Với việc thực hiện nghiên cứu đề tài “Vấn đề phát huy nhân tố con người trong quá trình xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội ở Quảng Bình hiện nay” một mặt kế thừa kết quả nghiên cứu về con người Việt
Nam của các nhà nghiên cứu đi trước, mặt khác tập trung nghiên cứunội dung phát huy nhân tố con người trong mối tương quan với pháttriển văn hoá, kinh tế - xã hội ở Quảng Bình trong điều kiện đẩy mạnhquá trình CNH, HĐH hiện nay
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích của đề tài là tiến hành nghiên cứu cơ bản, có hệ thống vàsâu hơn quan điểm triết học Mác - Lênin về con người Từ đó vận dụngnhững giá trị của triết học Mác - Lênin để làm sáng tỏ một số vấn đề cótính quy luật nhằm phát huy nhân tố con người trong quá trình xây dựng
và phát triển kinh tế - xã hội ở Quảng Bình hiện nay Để đạt được mụcđích trên, đề tài có các nhiệm vụ sau:
- Trình bày và làm rõ quan điểm của triết học, nhất là triết họcMác-Lênin về vấn đề con người
Trang 6- Phân tích đặc điểm và vai trò của con người trong việc phát triểnkinh tế-xã hội hiện nay ở Quảng Bình Từ đó đưa ra những giải phápchủ yếu nhằm phát huy nhân tố con người một cách có hiệu quả nhất,thúc đẩy nền kinh tế - xã hội tỉnh nhà ngày một phát triển nhanh hơn,bền vững hơn.
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quán triệt quan điểm, đường lối đổi mớicủa Đảng và Nhà nước, thành tựu khoa học hiện đại về vai trò conngười
-Vận dụng phương pháp luận duy vật biện chứng, các phương pháp
cơ bản: Lôgic - lịch sử, quy nạp - diễn dịch, phân tích - tổng hợp cácphương pháp cụ thể như: thống kê, so sánh
5 Giới hạn phạm vi nghiên cứu của khoá luận
- Quan điểm của triết học Mác - Lênin về con người.
- Con người Quảng Bình hiện nay trong quá trình xây dựng và pháttriển nền kinh tế - xã hội
6 Đóng góp của khoá luận
Hệ thống hoá, xác định rõ khái niệm: con người, phát huy nhân tốcon người và một số khái niệm khác, từ đó khái quát giá trị lý luận vàthực tiễn của quan điểm triết học Mác - Lênin về con người Làm nổibật đặc điểm, vai trò của con người ở Quảng Bình hiện nay trong quátrình xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội
7 Kết cấu của khoá luận
Ngoài phần mở đầu và kết luận, phần nội dung của khoá luận có 2chương, 6 tiết
Trang 7Chương 1 KHÁI LUẬN CHUNG VỀ CON NGƯỜI TRONG TRIẾT HỌC
1.1 Quan niệm về con người trong triết học trước Mác
Có nhiều khoa học nghiên cứu về con người, và tiếp cận theo cáchriêng của mình Tuy nhiên, nếu có khoa học chuyên ngành nhận thứccon người bằng cách chia hệ thống thành yếu tố thì ngược lại, triết họcnghiên cứu con người bằng cách tổng hợp các yếu tố thành hệ thống.Trong sự phát triển của triết học, có nhiều quan niệm khác nhau vềbản chất con người Các nhà triết học thời cổ đại xem con người là vũtrụ thu nhỏ Triết học tôn giáo xem con người là một thực thể nhịnguyên, là sự kết hợp giữa tinh thần và thể xác Các học thuyết triết họcduy tâm tuyệt đối hoá hoạt động của đời sống tinh thần, điển hình là hệthống triết học duy tâm của Hê-ghen Ông cho rằng con người là hiệnthân của ý niệm tuyệt đối, là bước cuối cùng của cuộc diễn hành của ý
niệm tuyệt đối trên trái đất Phơ-bách, một nhà triết học duy vật siêu
hình, đã tuyệt đối hoá mặt sinh học của con người, chia cắt con ngườikhỏi đời sống xã hội Vì vậy, ông cũng không giải thích được nguồn gốcthực sự của ý thức con người
Như vậy, triết học trước Mác về căn bản đã giải thích bản chất conngười trên lập trường duy tâm, do đó, không giải thích được nguồn gốc,bản chất thật sự của tồn tại người Mặc dù vậy, nó vẫn đóng góp đượcnhững thành tựu làm tiền đề cho khoa học nghiên cứu về con người
1.2 Quan niệm về con người trong triết học Mác - Lênin
Trang 8Tuy nhiên, cần khẳng định rằng, mặt tự nhiên không phải là yếu tố duynhất quy định bản chất con người Đặc trưng quy định sự khác biệt giữacon người với thế giới loài vật là phương diện xã hội của nó
Với phương pháp biện chứng duy vật, triết học Mác nhận thứcvấn đề con người một cách toàn diện, cụ thể, trong toàn bộ tính hiệnthực xã hội của nó, mà trước hết là lao động sản xuất ra của cải vật chất.C.Mác và Ph.Ăngghen đã nêu lên vai trò của lao động sản xuất ở conngười: “Có thể phân biệt con người với súc vật, bằng ý thức, bằng tôngiáo, nói chung bằng bất cứ cái gì cũng được Bản thân con người bắtđầu bằng sự tự phân biệt với súc vật ngay khi con người bắt đầu sảnxuất ra những tư liệu sinh hoạt của mình - đó là một bước tiến do tổchức cơ thể của con người quy định Sản xuất ra những tư liệu sinh hoạtcủa mình, như thế con người đã gián tiếp sản xuất ra chính đời sống vậtchất của mình”[16,29] Thông qua hoạt động sản xuất vật chất, conngười đã làm thay đổi, cải biến giới tự nhiên: “Con vật chỉ sản xuất rabản thân nó, còn con người thì tái sản xuất ra toàn bộ giới tự nhiên” [19,137]
Là sản phẩm của tự nhiên và xã hội nên quá trình hình thành vàphát triển của con người luôn luôn bị quyết định bởi ba hệ thống quyluật khác nhau, nhưng thống nhất với nhau Hệ thống các quy luật tựnhiên như quy luật về sự phù hợp cơ thể với môi trường, quy luật về sựtrao đổi chất, về di truyền, biến dị, tiến hoá quy định phương diện sinhhọc của con người Hệ thống các quy luật tâm lý hình thành và vận độngtrên nền tảng sinh học của con người như hình thành tình cảm, khátvọng, niềm tin, ý chí Hệ thống các quy luật xã hội quy định quan hệ xãhội giữa người với người
Với phương pháp luận duy vật biện chứng, chúng ta thấy rằngquan hệ giữa mặt sinh học và mặt xã hội, cũng như nhu cầu sinh học vànhu cầu xã hội trong mỗi con người là thống nhất Mặt sinh học là cơ sở
Trang 9tất yếu tự nhiên của con người, còn mặt xã hội là đặc trưng bản chất đểphân biệt con người với loài vật Nhu cầu sinh học phải được “nhânhoá” để mang giá trị văn minh con người, và đến lượt nó, nhu cầu xã hộikhông thể thoát ly khỏi tiền đề của nhu cầu sinh học Hai mặt trên thốngnhất với nhau, hoà quyện vào nhau để tạo thành con người viết hoa, conngười tự nhiên - xã hội.
Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hoà các quan hệ xã hội
Một con người bao hàm trong nó ba quan hệ: quan hệ với tự nhiên,quan hệ với xã hội và quan hệ với bản thân con người đó Quan hệ với
tự nhiên trong đời sống hàng ngày được biểu hiện qua các hoạt động cótính xã hội như lao động chế biến, đánh bắt, nuôi trồng… Chính vì vậy
có thể nói quan hệ con người với con người là mối quan hệ bản chất,quy định bản chất con người
Để nhấn mạnh bản chất xã hội của con người, C.Mác đã nêu lên
luận đề nổi tiếng trong tác phẩm Luận cương về Phoiơbắc: “Bản chất
con người không phải là một cái trừu tượng cố hữu của cá nhân riêngbiệt Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hoà nhữngquan hệ xã hội” [16, 11] Luận đề này khẳng định rằng, không có conngười trừu tượng, thoát ly mọi điều kiện, hoàn cảnh lịch sử xã hội Conngười luôn luôn cụ thể, xác định, sống trong một điều kiện lịch sử cụ thểnhất định, một thời đại nhất định Trong điều kiện lịch sử đó, bằng hoạtđộng thực tiễn của mình, con người tạo ra những giá trị vật chất và tinhthần để tồn tại và phát triển cả thể lực và tư duy trí tuệ Chỉ trong toàn
bộ các mối quan hệ xã hội đó con người mới bộc lộ toàn bộ bản chất xãhội của mình
Con người là chủ thể và là sản phẩm của lịch sử
Không có thế giới tự nhiên, không có lịch sử xã hội thì không tồntại con người Bởi vậy, con người là sản phẩm của lịch sử, của sự tiến
Trang 10hoá lâu dài của giới hữu sinh Song, điều quan trọng là ở chỗ con ngườikhông chỉ là sản phẩm mà còn là chủ thể của lịch sử, tạo nên lịch sử chomình một cách có ý thức C.Mác đã khẳng định: “Cái học thuyết duy vậtchủ nghĩa cho rằng con người là sản phẩm của những hoàn cảnh và củagiáo dục cái học thuyết ấy quên rằng chính những con người làm thayđổi hoàn cảnh và bản thân nhà giáo dục cũng cần phải được giáodục”[16, 10] Qua đó Mác khẳng định, tự bản thân con người làm thayđổi điều kiện sống của mình, Con người lao động, tác động vào giới tựnhiên làm thay đổi môi trường sinh thái, tạo ra của cải vật chất phục vụđời sống, làm thay đổi điều kiện kinh tế - xã hội
1.2.2 Mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội
Khái niệm cá nhân
Xét về mặt xã hội, cá nhân là một thực thể xã hội, cá nhân là cá thểngười được hình thành và phát triển trong lịch sử, là chủ thể của laođộng của mọi quan hệ xã hội và là chủ thể của nhận thức Cá nhân làmột con người hoàn chỉnh trong sự thống nhất của những khả năngriêng có của người đó với chức năng xã hội mà người đó thực hiện.Trong mối quan hệ với xã hội, cá nhân thể hiện là một chỉnh thể đơnnhất, độc đáo có vai trò chủ thể trong lịch sử
Với tư cách là một thực thể có tâm lý, ý thức, mỗi cá nhân có mộtbản sắc độc đáo riêng Bản sắc độc đáo ấy thể hiện qua “nhân cách” của
cá nhân Nhân cách là toàn bộ những năng lực và phẩm chất của cá nhântạo thành một chỉnh thể đóng vai trò chủ thể tự ý thức, tự đánh giá, tựkhẳng định, tự điều chỉnh mọi hoạt động của mình Nhân cách khôngphải là cái trời phú cho, cũng không phải là cái bẩm sinh của cơ thể sinhhọc Nhân cách được hình thành và phát triển phụ thuộc vào các yếu tốnhư: yếu tố sinh học, yếu tố môi trường, hoạt động của cá nhân
Quan hệ giữa cá nhân và xã hội
Trang 11Theo quan điểm của triết học Mác - Lênin, trong bất cứ giai đoạnnào, cá nhân cũng không thể tách rời khỏi xã hội Quan hệ cá nhân - xãhội luôn vận động, biến đổi và phát triển, trong đó sự thay đổi càng rõkhi có sự thay thế hình thái kinh tế - xã hội này bằng hình thái kinh tế -
xã hội khác
Quan hệ giữa cá nhân và xã hội biến đổi trong sự phát triển củalịch sử Điều đó không chỉ liên quan đến trình độ phát triển của lựclượng sản xuất, trình độ văn hoá, văn minh mà liên quan tới sự thay đổicủa phương thức sản xuất, của hình thái kinh tế - xã hội Chỉ khi cáchmạng làm thay đổi hình thái kinh tế - xã hội thì quan hệ cá nhân và xãhội mới có sự thay đổi căn bản
Mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội có những nội dung thống nhấtvới quan hệ giữa cá nhân và tập thể, chúng đều dựa trên cơ sở lợi ích,biểu hiện mối quan hệ giữa cái bộ phận với cái toàn thể, giữa kháchquan và chủ quan
Mặt khách quan biểu hiện ở trình độ phát triển của xã hội về nhiềumặt Mặt chủ quan biểu hiện ở năng lực nhận thức và vận dụng quy luật
xã hội phù hợp với mục đích của con người Do vậy, việc tổ chức cáchoạt động xã hội có vai trò to lớn trong việc kết hợp giữa mặt kháchquan và mặt chủ quan sao cho xã hội được tiến bộ và mỗi cá nhân đượctồn tại và phát triển nhân cách một cách hài hoà
1.2.3 Vai trò của quần chúng nhân dân và cá nhân trong lịch sử
Khái niệm
Quần chúng nhân dân là bộ phận có cùng chung lợi ích căn bản,
bao gồm những thành phần, những tầng lớp và những giai cấp, liên kếtlại thành tập thể dưới sự lãnh đạo của một cá nhân, tổ chức hay đảngphái nhằm giải quyết những vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội của mộtthời đại nhất định
Trang 12Vĩ nhân là những cá nhân kiệt xuất có khả năng thâu tóm, nắm
bắt được những vấn đề cơ bản nhất, tiếp cận và đạt được những thànhtựu nhất định của nhận thức khoa học và thực tiễn như hoạt động chínhtrị, khoa học, kỹ thuật
Lãnh tụ là những vĩ nhân kiệt xuất, người lãnh đạo, định hướng và
thống nhất hoạt động của quần chúng nhân dân, có những phẩm chất cơbản về tri thức, đạo đức và khả năng tập hợp quần chúng
Quan hệ giữa quần chúng nhân dân với lãnh tụ
Thứ nhất, tính thống nhất giữa quần chúng nhân dân và lãnh tụ Thứ hai, quần chúng nhân dân và lãnh tụ thống nhất trong mục
đích và lợi ích của mình
Thứ ba, sự khác biệt giữa quần chúng nhân dân và lãnh tụ biểu hiện
trong vai trò khác nhau của sự tác động đến lịch sử
1.3 Một số vấn đề về con người trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Thứ nhất, trong công cuộc đổi mới đất nước, trong điều kiện mới
của khu vực vào thế giới, con người Việt Nam vẫn luôn gắn bó mật thiếtvới những giá trị văn hoá truyền thống, với những phẩm giá của dân tộc
mà điểm nổi bật là tinh thần yêu nước, ý thức độc lập dân tộc, tự lực, tựcường, đoàn kết vì đại nghĩa dân tộc Biểu hiện của điểm mạnh này làthái độ tích cực của mỗi công dân trước vận mệnh của Tổ quốc, trướccác chuyển đổi về kinh tế, xã hội hiện nay
Thứ hai, con người Việt Nam vẫn luôn thể hiện đức tính cần cù,
sáng tạo, trong mọi hoạt động Đức tính này là một giá trị đặc trưng,chiếm vị trí xứng đáng trong bảng giá trị về nhân cách của con ngườiViệt Nam Thái độ tích cực của con người Việt Nam trong định hướng
và lựa chọn giá trị này là điều kiện hết sức thuận lợi cho công tác giáodục, từ giáo dục truyền thống, lối sống đến giáo dục đạo đức, nhân cách
Trang 13con người hiện đại…nhằm phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đạihoá đất nước.
Thứ ba, nét đặc trưng của đời sống tinh thần, của phẩm giá của con
người Việt Nam là truyền thống cộng đồng, lòng nhân ái, những tìnhcảm vị tha và khoan dung…vẫn được giữ vững, phát huy trong điềukiện mới của đất nước Những giá trị mang tính nền tảng cốt lõi ấy là cơ
sở để phát triển tính nhân văn và xây dựng văn hoá Việt Nam hiện đại,tiên tiến, mang bản sắc dân tộc Có thể khẳng định rằng, đây là mộtthuận lợi căn bản để chúng ta thực hiện chương trình văn hoá trong toàn
xã hội đối với các thế hệ con người Việt Nam hiện nay và mai sau
Thứ tư, con người Việt Nam vẫn giữ được truyền thống hiếu học,
tôn sư trọng đạo và sự hình thành, phát triển các giá trị mới của văn hoá
và con người đã chứng minh sự kết hợp giữa truyền thống với hiện đạitrong thời kỳ đổi mới và đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đấtnước
Thứ năm, trong công cuộc đổi mới, mô hình gia đình truyền thống
đang có những biến đổi lớn, phức tạp do sự tác động của kinh tế hànghoá, cơ chế thị trường, do những biến đổi của xã hội đang quá độ lênchủ nghĩa xã hội…Tuy vậy, những giá trị tinh thần, đạo lý của gia đìnhtruyền thống vẫn được giữ vững, có ảnh hưởng tích cực trong đời sốnggia đình Việt Nam, vẫn là nhân tố quan trọng đảm bảo sự ổn định vàphát triển bền vững của xã hội
Chương 2 XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI Ở QUẢNG BÌNH HIỆN NAY VỚI VIỆC PHÁT HUY NHÂN TỐ CON
NGƯỜI
Trang 142.1 Khái quát về tình hình Quảng Bình trong thời kỳ hiện nay
Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Bình lần thứ XIV đã đề ra nhiệm vụ,
mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2006 - 2010 là: “…, phát huy mọi nguồn lực, tiếp tục đẩy mạnh thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phát triển kinh tế - xã hội nhanh và vững chắc, đưa tỉnh ta ra khỏi tình trạng tỉnh nghèo, phấn đấu đến năm 2010 cơ bản đạt trình độ phát triển ngang mức trung bình của cả nước…” Hội đồng nhân dân tỉnh đã
ra Nghị quyết số 39/2005/NQ-HĐND ngày 9/12/2005 về nhiệm vụ pháttriển kinh tế - xã hội 5 năm 2006 - 2010 Trên cơ sở đó, UBND tỉnh đã
tổ chức triển khai các giải pháp chỉ đạo thực hiện kế hoạch phát triểnkinh tế - xã hội tỉnh Quảng Bình thời kỳ 2006 - 2010
Thời kỳ này, mặc dù phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức,đặc biệt năm 2008 và năm 2009, cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu gâynhiều biến động khó lường, năm 2007 và năm 2010 chịu ảnh hưởngnặng nề của thiên tai, lũ lụt và những khó khăn của nền kinh tế trongnước, trong tỉnh, nhưng được sự quan tâm giúp đỡ của Chính phủ, các
bộ, ngành Trung ương, sự chỉ đạo sát đúng của Tỉnh uỷ, Hội đồng nhândân, UBND tỉnh và sự nỗ lực phấn đấu của các ngành, các cấp nên nềnkinh tế của tỉnh vẫn phát triển ổn định, tốc độ tăng trưởng khá, các chỉtiêu cơ bản hoàn thành và hoàn thành vượt mức kế hoạch; cơ cấu kinh tếchuyển dịch đúng hướng, chất lượng, hiệu quả nền kinh tế từng bướcđược nâng lên; cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội được cải thiện rõ rệt; cáclĩnh vực văn hoá - xã hội có nhiều tiến bộ, đời sống nhân dân từng bướcđược cải thiện, công tác xoá đói giảm nghèo, giải quyết việc làm và thựchiện các chính sách xã hội đạt kết quả khá; an ninh chính trị, trật tự antoàn xã hội tiếp tục được giữ vững; công tác quản lý tài nguyên môitrường được tăng cường
2.1.1 Kinh tế
Về tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Trang 15Tốc độ tăng trưởng bình quân 5 năm 2006 - 2010 đạt 10,7% là giaiđoạn có mức tăng trưởng kinh tế cao nhất từ trước đến nay, cao hơn2,14% so với thời kỳ 2001 - 2005 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấunội bộ từng ngành kinh tế tiếp tục có bước chuyển biến tích cực: tỷtrọng nông, lâm, ngư nghiệp, tăng dần tỷ trọng công nghiệp - xây dựng
và các ngành dịch vụ; tăng tỷ trọng chăn nuôi trong nông nghiệp, sảnxuất nông nghiệp từng bước gắn với thị trường và chế biến
Công tác quy hoạch
Công tác quy hoạch đạt được nhiều kết quả, nhận thức và tầm nhìnquy hoạch ngày càng được nâng lên Đã tích cực phối hợp với các Việnnghiên cứu, các nhà tư vấn trong nước và quốc tế trong việc xây dựngquy hoạch nhằm nâng cao chất lượng công tác quy hoạch, đảm bảo tầmnhìn xa, có trọng tâm, trọng điểm nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh
tế - xã hội, nhất là đáp ứng yêu cầu kêu gọi, thu hút các dự án đầu tư vàođịa bàn tỉnh
Nông, lâm, ngư nghiệp
Giá trị sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp thời kỳ 2006 - 2010 tăngbình quân hàng năm 5,45% Cơ cấu kinh tế nông nghiệp có bước chuyểndịch đáng kể Bộ mặt nông nghiệp, nông thôn ngày càng khởi sắc; cácyếu tố của một nền nông nghiệp sản xuất hàng hoá ngày càng phát triển
Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp
Giá trị sản xuất công nghiệp tăng bình quân hàng năm 19,0%/năm,
là mức cao nhất từ trước đến nay Ngành công nghiệp bước đấu đã đượckhẳng định là ngành trọng tâm có bước tiến khá rõ nét trong việc cơ cấulại sản xuất, đổi mớí công nghệ hiện đại Đã hình thành được một sốngành công nghiệp chủ lực như: sản xuất vật liệu xây dựng, mà trọngtâm là xi măng, gạch ngói, sản xuất bia, chế biến gỗ…Cơ sở hạ tầng cáckhu, cụm công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp được đầu tư khá đồng bộ
Cơ cấu sản xuất công nghiệp có sự chuyển đổi phù hợp, tỷ trọng công
Trang 16nghiệp nhà nước giảm, tỷ trọng công nghiệp ngoài nhà nước tăng, các
cơ sở công nghiệp ngoài nhà nước được khuyến khích phát triển
Các ngành dịch vụ
Các ngành dịch vụ phát triển mạnh đáp ứng ngày càng tốt hơn yêucầu phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao đời sống nhân dân trên địabàn tỉnh Giá trị tăng thêm ngành dịch vụ tăng bình quân hàng năm thời
kỳ 2006 - 2010 là 11,6%
Đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng
Nhờ việc tập trung huy động mọi nguồn lực cho đầu tư phát triển,
hệ thống kết cấu hạ tầng của tỉnh từng bước được hình thành đồng bộbao gồm đường sắt, đường bộ, đường thuỷ và đường hàng không; từđồng bằng đến miền núi, vùng cao Nhiều công trình, dự án trọng điểm,quy mô lớn được đưa vào khai thác sử dụng góp phần thúc đẩy pháttriển kinh tế - xã hội nhanh
Kinh tế đối ngoại và xúc tiến đầu tư
Hoạt động kinh tế đối ngoại tiếp tục thu được nhiều kết quả, quan
hệ hợp tác với các nước, các tổ chức quốc tế được mở rộng, đặc biệt làquan hệ hợp tác với các tỉnh lân cận của nước bạn Lào và vùng ĐôngBắc Thái Lan
Tài nguyên môi trường
Công tác quản lý sử dụng đất theo quy hoạch, kế hoạch sử dụngđất giai đoạn 2001 - 2010 đã thực hiện có hiệu quả
Công tác quản lý, bảo vệ môi trường ngày càng được chú trọng, chất lượng công tác thẩm định đánh giá tác động môi trường được nâng lên
Công tác quản lý tài nguyên khoáng sản, tài nguyên nước tiếp tụcđược tăng cường, từng bước khắc phục tình trạng khai thác khoáng sảntrái phép Đã hoàn thành Quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến