A. MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của khóa luận. Dù ở thời đại nào vấn đề con người cũng được xem là vấn đề trung tâm của khoa học. Nếu như ngành khoa học xã hội tập trung vào nghiên cứu đời sống tinh thần của con người thì khoa học tự nhiên lại đi sâu nghiên cứu con người ở bản thể, cấu trúc sinh học. Với Triết học lại có nhiệm vụ tổng hợp khái quát các thành tựu của khoa học và rút ra một số vấn đề chung nhất về con người và là cơ sở lý luận và phương pháp luận để chúng ta tìm hiểu thế giới con người sâu hơn giúp chúng ta hiểu được chính mình . Bất kỳ một trào lưu triết học nào khi nghiên cứu, tìm hiểu về con người cũng đặt ra câu hỏi: Con người là gì, cái gì làm cho con người khác với các loài sinh vật khác? Tại sao giữa các cá nhân lại có sự phân biệt với nhau. Ban đầu các trường phái triết học thường dùng: “cái tôi”, “tính người” dùng để chỉ sự khác nhau nhưng về sau họ đã dùng “nhân cách”. Nhân cách chính là xác định “bản chất” con người bởi vì hiểu đúng bản chất con người thì mới xác định đúng con đường và phương pháp rèn luyện nhân cách của con người. Ở Việt Nam hiện nay, đang trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa. Không chỉ dừng lại ở lĩnh vực xây dựng và phát triển kinh tế mà còn làm biến đổi sâu sắc các lĩnh vực, đạo đức đời sống văn hóa xã hội. Lấy con người làm trung tâm của sự phát triển đất nước. Phát triển con người vừa là sự phát triển của kinh tế xã hội, trong đó phạm trù “nhân cách” là một nội dung cơ bản của quá trình phát triển nguồn nhân lực để con người thật sự là chủ thể của mọi hoàn cảnh. Bởi vì, muốn công nghiệp hóa hiện đại hóa thành công thì phải có con người: Có cả tài lẫn đức, có đủ năng lực và bản chất chính trị, đó là yêu cầu cơ bản của giáo dục phát triển sự nghiệp trồng người ở nước ta hiện nay. Xu hướng toàn cầu hóa đã tác động tích cực trong đời sống xã hội đó là: góp phần sáng tạo giá trị tinh thần của con người, sàng lọc và thẩm định để bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc, phát triển nhân cách một cách toàn diện, bên cạnh đó nó cũng có những mặt trái là: Nhân cách của con người có sự xáo trộn làm cho tư tưởng con người chạy theo đồng tiền lối sống thực dụng, đua đòi…làm mất nhân cách của chính mình. Vì vậy, việc giáo dục phát triển nhân cách con người phải được tiến hành đồng bộ ở cả gia đình, nhà trường và cả xã hội để đào tạo những con người có đủ năng lực và bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức trong sáng để có con người “vừa hồng vừa chuyên”. Có nghĩa là không chỉ đào tạo chuyên môn mà phải giáo dục nhân cách của con người. Thực tế cho thấy, việc giáo dục phát triển nhân cách cho con người ở nước ta trong điều kiện hiện nay có nhiều thuận lợi. Đó là: Xu hướng toàn cầu hóa đã cho người Việt Nam có điều kiện giao lưu học hỏi những thành tựu các nền văn hóa khác nhau từ đó hình thành bản sắc văn hóa của riêng mình. Nhưng những thuận lợi đó cũng gặp không ít khó khăn, đó là: một bộ phận người Việt Nam chúng ta đặc biệt là thế hệ trẻ có xu hướng sống thực dụng trong học tập và đạo đức. Sự ảnh hưởng của văn hóa, lối sống bên ngoài xã hội thông qua mạng internet, phim ảnh…đã ảnh hưởng rất mạnh đến môi trường cuộc sống. Song điều đáng nói là sự quản lý công tác giáo dục của hệ thống gia đình và nhà trường cũng như xã hội chưa thật đồng bộ và quan tâm đúng mức và đạt chất lượng theo hệ chuẩn. Do đó, vấn đề cấp thiết đặt ra là phải giáo dục nhân cách con người để phát huy được tính tích cực đem lại lợi ích cho xã hội, đồng thời làm cho nền kinh tế phát triển cũng như nâng cao trình độ nhận thức cho mọi người. Đó là, tất cả mọi cá nhân trong xã hội có trình độ tư tưởng văn hóa đạo đức cao nhằm chống lại thái độ bảo thủ xem nhẹ vai trò đạo đức và trách nhiệm xây dựng xã hội phồn vinh. Chính vì, những lý do đó mà chúng tôi chọn đề tài “Vấn đề bản tính con người – từ lý luận đến thực tiễn giáo dục nhân cách con người ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình.
Trang 1A MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của khóa luận.
Dù ở thời đại nào vấn đề con người cũng được xem là vấn đềtrung tâm của khoa học Nếu như ngành khoa học xã hội tập trungvào nghiên cứu đời sống tinh thần của con người thì khoa học tựnhiên lại đi sâu nghiên cứu con người ở bản thể, cấu trúc sinh học.Với Triết học lại có nhiệm vụ tổng hợp khái quát các thành tựu củakhoa học và rút ra một số vấn đề chung nhất về con người và là cơ sở
lý luận và phương pháp luận để chúng ta tìm hiểu thế giới con ngườisâu hơn giúp chúng ta hiểu được chính mình
Bất kỳ một trào lưu triết học nào khi nghiên cứu, tìm hiểu vềcon người cũng đặt ra câu hỏi: Con người là gì, cái gì làm cho conngười khác với các loài sinh vật khác? Tại sao giữa các cá nhân lại
có sự phân biệt với nhau
Ban đầu các trường phái triết học thường dùng: “cái tôi”, “tínhngười” dùng để chỉ sự khác nhau nhưng về sau họ đã dùng “nhâncách” Nhân cách chính là xác định “bản chất” con người bởi vì hiểuđúng bản chất con người thì mới xác định đúng con đường vàphương pháp rèn luyện nhân cách của con người
Ở Việt Nam hiện nay, đang trong giai đoạn đẩy mạnh côngnghiệp hóa - hiện đại hóa Không chỉ dừng lại ở lĩnh vực xây dựng
và phát triển kinh tế mà còn làm biến đổi sâu sắc các lĩnh vực, đạođức đời sống văn hóa xã hội Lấy con người làm trung tâm của sự
Trang 2phát triển đất nước Phát triển con người vừa là sự phát triển của kinh
tế xã hội, trong đó phạm trù “nhân cách” là một nội dung cơ bản củaquá trình phát triển nguồn nhân lực để con người thật sự là chủ thểcủa mọi hoàn cảnh Bởi vì, muốn công nghiệp hóa hiện đại hóa thànhcông thì phải có con người: Có cả tài lẫn đức, có đủ năng lực và bảnchất chính trị, đó là yêu cầu cơ bản của giáo dục phát triển sự nghiệptrồng người ở nước ta hiện nay
Xu hướng toàn cầu hóa đã tác động tích cực trong đời sống xãhội đó là: góp phần sáng tạo giá trị tinh thần của con người, sàng lọc
và thẩm định để bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc, phát triển nhân cáchmột cách toàn diện, bên cạnh đó nó cũng có những mặt trái là: Nhâncách của con người có sự xáo trộn làm cho tư tưởng con người chạytheo đồng tiền lối sống thực dụng, đua đòi…làm mất nhân cách củachính mình
Vì vậy, việc giáo dục phát triển nhân cách con người phải đượctiến hành đồng bộ ở cả gia đình, nhà trường và cả xã hội để đào tạonhững con người có đủ năng lực và bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạođức trong sáng để có con người “vừa hồng vừa chuyên” Có nghĩa làkhông chỉ đào tạo chuyên môn mà phải giáo dục nhân cách của conngười
Thực tế cho thấy, việc giáo dục phát triển nhân cách cho conngười ở nước ta trong điều kiện hiện nay có nhiều thuận lợi
Đó là: Xu hướng toàn cầu hóa đã cho người Việt Nam có điềukiện giao lưu học hỏi những thành tựu các nền văn hóa khác nhau từ
Trang 3đó hình thành bản sắc văn hóa của riêng mình Nhưng những thuậnlợi đó cũng gặp không ít khó khăn, đó là: một bộ phận người ViệtNam chúng ta đặc biệt là thế hệ trẻ có xu hướng sống thực dụngtrong học tập và đạo đức Sự ảnh hưởng của văn hóa, lối sống bênngoài xã hội thông qua mạng internet, phim ảnh…đã ảnh hưởng rấtmạnh đến môi trường cuộc sống Song điều đáng nói là sự quản lýcông tác giáo dục của hệ thống gia đình và nhà trường cũng như xãhội chưa thật đồng bộ và quan tâm đúng mức và đạt chất lượng theo
hệ chuẩn
Do đó, vấn đề cấp thiết đặt ra là phải giáo dục nhân cách conngười để phát huy được tính tích cực đem lại lợi ích cho xã hội, đồngthời làm cho nền kinh tế phát triển cũng như nâng cao trình độ nhậnthức cho mọi người Đó là, tất cả mọi cá nhân trong xã hội có trình
độ tư tưởng văn hóa đạo đức cao nhằm chống lại thái độ bảo thủ xemnhẹ vai trò đạo đức và trách nhiệm xây dựng xã hội phồn vinh
Chính vì, những lý do đó mà chúng tôi chọn đề tài “Vấn đề bản tính con người – từ lý luận đến thực tiễn giáo dục nhân cách con người ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của
mình
2 Tình hình nghiên cứu khóa luận
Trong lịch sử triết học vấn đề bản tính con người và sự hìnhthành nhân cách con người là đề tài gây nhiều tranh luận gay gắt,mỗi trường phái triết học đều có một quan điểm riêng, nhưng nhìnchung tác giả đã có một đóng góp nhất định cho nhân loại, trong
Trang 4những thập kỷ gần đây Vấn đề này được nhiều nhà nghiên cứu bànluận Ở Việt Nam cũng có nhiều công trình viết về con người giáodục đạo đức nhân cách như:
-“Một số vấn đề nghiên cứu nhân cách” – Phạm Minh Hạc, LêĐức Phúc
-“Sự phát triển của cá nhân trong nền kinh tế thị trường địnhhướng xã hội chủ nghĩa”- Đoàn Đức Hiếu
- “Mấy vấn đề đặc điểm trong nền kinh tế thị trường ở nước tahiện nay”, Phạm Minh Hạc, Giáo dục nhân cách đào tạo nhân lực
Ngoài ra các văn kiện, Nghị quyết, Cương lĩnh của Đảng cũng
đề cập đến nhiều vấn đề về giáo dục đào tạo, vấn đề nguồn nhân lựccon người Trên các tạp chí Triết học, cũng có nhiều bài viết về giáodục đạo đức, nhân cách con người:
Nguyễn Tấn Hùng: Tạp chí Triết học; số 4;8/2004 ''Môitrường và giáo dục gia đình với hình thành nhân cách ở trẻ em”
Nguyễn Tấn Hùng: Tạp chí Giáo dục; (127), 12/2005 “Vai tròcủa điều kiện và môi trường giáo dục trong quá trình đào tạo”
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của khóa luận.
Mục đích
Khóa luận có mục đích nghiên cứu làm sáng tỏ bản tính conngười trong triết học trên cơ sở tiếp thu chọn lọc những yếu tố hợp lýcủa các trường phái triết học và từ đó vận dụng vào việc giáo dụcnhân cách con người Việt Nam hiện nay
Nhiệm vụ
Trang 5Để thực hiện mục đích trên khóa luận giải quyết những vấn đềsau:
- Nghiên cứu về bản tính con người trong triết học
- Làm rõ việc giáo dục nhân cách con người Việt Nam tronggiai đoạn hiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của khóa luận.
Đối tượng nghiên cứu
- Quan điểm về bản tính con người trong triết học
- Vai trò giáo dục nhân cách con người Việt Nam hiện nay
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Về cơ sơ lý luận: khóa luận dựa trên thế giới quan và biện phápduy vật biện chứng và duy vật lịch sử
Về phương pháp nghiên cứu: khóa luận kết hợp các biện pháp:Phân tích và tổng hợp, logic và lịch sử, đối chiếu và so sánh
6 Đóng góp của khóa luận
Thông qua khóa luận tác giả muốn làm rõ việc giáo dục nhâncách con người mới ở Việt Nam hiện nay
Đây là một vấn đề đang được Đảng và Nhà nước quan tâmtrong việc giáo dục con người mới ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới,
Trang 6từ đó đưa ra những định hướng và giải pháp cơ bản nhằm giáo dụcnhân cách trong việc phát triển con người hiện nay.
Ngoài ra, khóa luận còn là đề tài tham khảo cho sinh viên quantâm đến những vấn đề này
7 Kết cấu của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo,Khóa luận gồm 2 chương và 4 tiết
B NỘI DUNG
Chương 1 QUAN NIỆM VỀ BẢN TÍNH CON NGƯỜI
Trang 7Triết học Ấn Độ chịu ảnh hưởng nặng nề của tôn giáo Nên khiluận bàn về bản tính con người không thể thoát khỏi triết học của tôngiáo Các đạo giáo hay một vài học thuyết đều theo quan điểm “Nhấtthần” làm mục đích tín ngưỡng.
Để đi tìm đạo đức sống của con người và để tinh thần vượt quađược sự mê hoặc của thế giới thì triết học Ấn Độ phải lý giải về vũtrụ, để vạch ra sự tương ứng, tương đồng giữa nội tâm và ngoại giới,giữa cái “đại ngã” và cái “tiểu ngã” mọi sự vật hiện tượng trong thếgiới đều là tinh thần vũ trụ tối cao - Brahman là cái bản tính của tựngã, nghĩa là cái bản chất vốn có của “cái ta” về tinh thần tâm linhcũng với thực tại của vũ trụ, vì không thấy được cái niết bàn, thanhtịnh nên con người đã bị tách khỏi cái bản tính đồng nhất đó để rồiphải trăn trở trong bể khổ Vòng sinh tử bị chìm đắm trong cái ta, ảotưởng và thế giới hiện tượng vụt mất, chỉ còn bến ảo phù du vớinhững dục vọng si mê lôi kéo hết tự do, tự tại
Các nhà triết học triết học Ấn Độ luôn trung thành với kinhVeda và khẳng định rằng linh hồn cá thể (Atman) Là sự biểu hiệncủa cái thiện, cái bản tính thiện của con người Còn thể xác là chổ trúngụ tạm thời của linh hồn, ý chí cảm giác và những dục vọng của conngười đã làm cho linh hồn bị giam hãm trong thể xác nên không trở
về với chính mình Bản tính con người ở trần tục bị biến dạng thahóa, không trở về giá trị đạo đức của chính mình Cho nên muốn giảithoát sự ràng buộc khỏi đời sống vật chất tầm thường thì phải tuluyện để siêu thoát
Trang 8Phật giáo khuyên con người phải biết diệt ái dục, khuyên conngười sống khoan dung độ lượng, và con người phải biết yêu thươngnhau, giúp đỡ đồng loại.
Để đi đến hoàn thiện bản tính trong con người, phật giáokhuyến khích con người phải học các điều răn của phật
Phật giáo phân chia bản tính con người theo cấp bậc đạo đức và
sự tu luyện Phật là có bản tính tốt nhất, vì trong quá trình tu luyện đãtiêu diệt hết mọi ham muốn, dục vọng, thoát khỏi sinh, lão, bệnh, tửtheo quy luật nhân quả và luân hồi nên đã đạt đến niết bàn Còn “bồTát” là có bản tính của con người tốt, tuy đã tu luyện đến trình độsiêu thoát nhưng chưa muốn nhập niết bàn nên còn mang nặng tráchnhiệm cứu giúp giác ngộ chúng sinh
Với trường phái Yoga thì cho rằng để linh hồn siêu thoát thìcần phải có phương pháp tu luyện theo phương pháp “Bát đảo tupháp” Một là, cấm chế; hai là, khuyến chế; ba là, Tạo pháp; bốn là,điều tức; năm là, chế cảm; sáu là, chấp trì; bảy là, thiền định; tám là,tuệ
Theo triết học Yoga, nếu thực hiện đúng tám phương pháp nàythì linh hồn bất tử sẽ được giải thoát khỏi đời sống vật chất tầmthường và trở thành linh hồn có sức mạnh toàn năng
Nhìn chung, triết học Ấn Độ đều có mục đích chung là đi tìm ýnghĩa đích thực trong đời sống con người Họ đều nhất trí ngững nét
cơ bản về đạo đức Tư tưởng triết học Ấn Độ không chỉ là tri thức
Trang 9học vấn mà còn tìm ra chân lý, lý tưởng sống hay sống tốt cho nhânloại.
Triết học Trung Quốc khi bàn đến bản tính con người lại cótriết lý sâu sắc hơn Các Nho Gia thời này đã đưa ra đường lối trịnước theo con đường “đức trị” và “nhân tri”
Khổng Tử cho rằng: Bản tính con người là ngay thẳng, là trungdung, trung thứ, là thành thật với chính mình và đem lòng ứng xử vớingười rất tốt, ông cho rằng bản tính con người khi mới sinh ra làgiống nhau, nhưng do ảnh hưởng khác nhau mà xa nhau
Mạnh Tử cho rằng “bản tính con người là thiện” cái thiện là cái
do trời phú, là cái tiên thiên chứ không phải do con người lựa chọn,
vì đã là con người thì ai cũng có tính thiện
Tuân Tử cho rằng: “Con người vốn có tính ác” theo ông cáitham lam, ích kỷ, gian ác, đố kỵ, dâm loạn là thuộc về bản năng vốn
có của con người
Với Pháp Gia lại dung hình thức thưởng phạt nghiêm minh để
ổn định xã hội
Hàn Phi Tử cho rằng bản tính con người là do trời sinh “Thiêntính”, nó là bản tính vốn có trời phú cho con người, đặc trưng củathiên tính là không học mà biết, không dạy mà có khả năng biết mọicái
Còn với Cáo Tử, khi bàn đến bản tính con người ông cho rằngbản tính con người là: Chẳng phải thiện, cũng chẳng phải bất thiện
Trang 10Đạo Gia cho rằng, bản tính con người là: “siêu thiện ác”.
Lão Tử cho rằng: Bản tính con người là siêu thiện ác, ông nêucao học thuyết “Vô vi” vì theo ông con người cũng như vạn vật trong
vũ trụ “Sinh ra từ hữu, hữu sinh ra từ vô” con người hình thành từđạo
Trang Tử, có phần đi xa hơn và cho rằng bản tính tốt đẹp nhấtcủa con người là “đạt đạo”, “tề vật”, “tiêu giao du” với vạn vật để trởthành chân nhân
Tóm lại, quan điểm về bản tính con người trong triết họcPhương Đông, tuy có những hạn chế và mục đích lịch sử của mỗidân tộc trong thời đại đó Nhưng đã để lại những dấu ấn sâu sắctrong người Á Đông đặc biệt là con người Việt Nam
1.1.2 Quan điểm về bản tính con người trong triết học Phương Tây
Ở triết học Phương Tây, các nhà triết học duy tâm khách quanthường hay thần thánh hóa về mặt tinh thần trong đời sống của conngười Vì vậy, họ quan niệm bản tính con người có từ “ý niệm”(Platon) hay là “ý niệm tuyệt đối” (Heghen) Các đại biểu duy tâmchủ quan thì lại tuyệt đối hóa “cái tôi” của con người tức là yếu tốchủ quan trong bản tính con người
Ở vào thời cổ đại Hy Lạp, Xôcrat là một nhà duy tâm chủ quan
đã lấy con người làm trung tâm của nghiên cứu triết học đặc biệt làtrong lĩnh vực đạo đức ông quan niệm rằng: Triết học không phải làcái gì khác hơn sự nhận thức của con người, về chính bản thân mình
Trang 11Triết học là học thuyết dạy con người sống Con người chỉ có thểnhận biết được những gì nằm trong quyền hạn của mình.
Platon là đại biểu lớn nhất của chủ nghĩa duy tâm khách quanthời cổ đại Ông cho rằng “tinh thần”, “ý niệm” mới là “cái tồn tạichân chính” còn sự vật cảm tính chỉ là “cái bóng của ý niệm” Ông
đã đồng nhất bản tính của con người với linh hồn bất tử
Ông khẳng định tri thức của con người bắt nguồn từ ý niệmsinh ra, và do con người có sự kết hợp của ba yếu tố: lý tính - là cơ
sở của sự thông thái, ý chí là cơ sở của lòng dũng cảm, nhục dục
-là cơ sở của sự hiểu biết Vì vậy bản tính con người hoàn thiện được
và vượt lên ý niệm tối cao của cái thiện
Arixtôt là một nhà triết học có nhiều cống hiến về đạo đức,theo ông đạo đức là một phẩm chất linh hồn trong cuộc sống của conngười, nó không bằng con đường tự nhiên bẩm sinh mà bằng sự tựrèn luyện và hoạt động của con người Ông cho rằng, chỉ có việc pháttriển quyền lợi chính trị, khoa học mới tạo được con người có đạođức
Bước sang thời kỳ Trung cổ, các nhà thần học Kitô giáo đứngtrên lập trường duy tâm khách quan đã cho rằng: Con người khôngtồn tại độc lập, quá trình nhận thức của con người là do nhận thứccủa thượng đế, thượng đế sáng tạo ra tất cả Vì vậy, bản tính conngười cũng do thượng đế sáng tạo ra, cho nên mọi hạnh phúc, khổ
sở, gian xảo, thiện, ác cũng đều do thượng đế sắp đặt
Trang 12Ôguytanh đã quan niệm thế giới là do thượng đế định đoạtđược trước ý chí của con người.
Téctulieng đi đến khẳng định tự do của con người là tùy thuộcvào ý chúa
TômátĐcanh (1225 - 1274) cũng cho rằng chúa là người cócông lao sáng tạo, sắp đặt trật tự thế giới, thế giới được chúa sắp đặt
từ các sự vật không có linh hồn đến con người thần thánh và cao nhất
là chúa
Bước sang thời kỳ Phục Hưng và Cận đại vấn đề con ngườiđược quan tâm nhiều hơn, bởi vì thời kỳ này triết học và khoa họcluôn hướng đến mục tiêu vì con người và phát triển con người
Với Bêkenit Spinoda lại quan niệm, con người chính là dạngthức của thực thể là sản phẩm của giới tự nhiên và mọi hoạt động của
nó phải tuân theo qui luật của tự nhiên, con người được cấu tạo từlinh hồn và thể xác có mối quan hệ hữu cơ với nhau Bêkenit spinodakết luận: “bản tính của con người là nhận thức”
Điđơrô cũng xem con người được cấu thành từ linh hồn và thểxác, linh hồn là tổng thể các hiện tượng tâm lý của người, không có
cơ thể người thì không có linh hồn bởi vậy quá trình tư duy của conngười gắn với quá trình phát triển của cấu trúc vật chất từ vô cơ, hữu
cơ đến sự sống của con người
Còn với Phoiơbắc lại khẳng định rằng: con người là sản phẩmcủa tự nhiên, là cái gương của vụ trụ, thông qua giới tự nhiên conngười nhận thức và ý thức được chính bản thân mình Những điều
Trang 13kiện môi trường, hoàn cảnh sống giúp con người khám phá ra giới tựnhiên và sau đó tác động lớn đến tư duy và ý thức của con người.
Quan điểm duy tâm về con người và bản tính con người mộtlần nữa lại được các đại biểu của triết học Cổ điển Đức đề cập đếnnhư:
Cantơ đã coi vai trò hoạt động thưc tiễn của đạo đức là quátrình hình thành bản tính của con người Bởi vì theo ông các khátvọng của giác tính chỉ đưa con người tới chổ hưởng thụ cá nhân, ích
kỷ phi đạo đức và đạo đức con người chỉ cần “lý tính” là đủ, “lýtính” ở đây Cantơ gọi là “mệnh lệnh tuyệt đối” Nên người có “lýtính” thì được coi là người có đạo đức Người có đạo đức là ngườisống theo lẽ phải và tôn trọng sự thật
Heghen đứng trên lập trường duy tâm khách quan khi cho rằngbản tính con người là hiện thân của ý niệm tuyệt đối Bởi vậy, theoông mọi bất công tệ nạn xã hội là những tất yếu của sự phát triển của
xã hội đều bắt nguồn từ bản tính con người
1.2 Quan điểm về bản chất con người trong triết học Mác – Lênin
1.2.1 Con người là một thực thể thống nhất giữa mặt sinh vật với mặt xã hội
Yếu tố sinh vật của con người, tức là người phụ thuộc bởi quyluật của tự nhiên, bởi vì giới tự nhiên là tiền đề vật chất đầu tiên quyđịnh sự tồn tại của con người do đó bản tính tự nhiên của con ngườibao hàm cả tính sinh học và tính loài của nó, yếu tố sinh học là điều