1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Nhà sáng lập học thuyết nguyên tử, đỉnh cao của chủ nghĩa duy vật cổ đại – Lơxíp đã từng nói: “Không có sự vật nào phát sinh một cách vô cớ, mà tất cả đều phát sinh trên một căn cứ nào đấy và do tính tất nhiên”. Đúng như vậy, điều này đã gây tranh cãi trong suốt chiều dài lịch sử triết học với hai trường phái chính duy vật và duy tâm. Tuy nhiên Lútvích Phơ Bách đã từng nhận xét rằng: “Chân lí không phải là chủ nghĩa duy vật hay chủ nghĩa duy tâm, mà chân lí chính là nhân bản học”. Trên một số khía cạnh nào đó chủ nghĩa duy vật sẽ không bao giờ hoàn thiện nếu thiếu chủ nghĩa duy tâm. Bởi nó chính là hai mặt thống nhất của một vấn đề, đó là vấn đề lịch sử triết học. Thật sai lầm khi đứng trên đỉnh cao của chủ nghĩa Mác – Lênin để nhìn chủ nghĩa duy tâm bằng một con mắt. Đừng quên rằng đỉnh cao của triết học duy tâm Đức cuối thế kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX là tiền đề trực tiếp cho triết học Mác – Lênin mà đại biểu của nó không ai khác ngoài triết gia lỗi lạc Gioócgiơ Vinhem Phriđrích Hêghen (1770 – 1831). Đối với hầu hết chúng ta triết học Hêghen quả là một dấu chấm hỏi to tướng. Ở ông có sự hội ngộ và lan tỏa của các dòng triết học đương đại, đến nỗi người ta phải lấy ông làm ngã rẽ cho lịch sử triết học. Đúng như vậy, triết học của Hêghen là một hệ thống đồ sộ, những lĩnh vực nghiên cứu của ông đâu đâu cũng mở ra cho nhân loại một chân trời mới. Cho đến nay ngót gần hai thế kỉ, đứng trước ngưỡng của thế kỉ XXI mà ngoảnh lại người ta phải bàng hoàng và lạ lẫm. Vậy Hêghen là ai? Vai trò của con người này ra sao? Ở ông có gì đặc biệt?. Gioócgiơ Vinhem Phriđrích Hêghen (1770 – 1831) là triết gia thuộc dòng triết học cổ điển Đức, là người đầu tiên trong lịch sử triết học trước Mác đã trình bày một cách có hệ thống phép biện chứng mà sau này nó trở thành nội dung cốt cán của triết học Mác – Lênin. Tất cả những tư tưởng này được ông luận giải trong tác phẩm đồ sộ “Lôgích học” với việc trình bày ba qui luật và những cặp phạm trù cơ bản. Việc này đã xứng đáng đưa Hêghen trở thành triết gia thiên tài trong mọ triết gia thiên tài. Trong hoạt động vật chất phong phú và đa dạng đang diễn ra hàng ngày hàng giờ. Dù bất cứ ở lĩnh vực nào trong tự nhiên, xã hội, tư duy hay trong sự sinh thành, tồn tại, phát triển và diệt vong của một hạt bụi, một con người hay cả một thể chế xã hội đâu đâu cũng có sự hiện hữu của cái gọi là “mâu thuẫn”. Vậy thế nào là mâu thuẫn? Vai trò của nó ra sao? Ai là người trình bày một cách có hệ thống nhất trong lịch sử triết học trước Mác?. Để trả lời những câu hỏi này không còn cách nào khác chúng ta phải ngược dòng lịch sử triết học để đến với con người này. Chưa hẳn là tiến quá sâu vào lịch sử để tìm lại Hêraclít, Arixtốt, Đêmôcrít hay Lão Tử hoặc phải mở những cánh cửa nặng nề của nhà thờ Thiên chúa giáo để gặp Oguytxtanh, Tômát Đacanh. Cũng không cần phải quay lại thời kì phát sinh của chủ nghĩa Tư bản để tìm Ph.Bêcơn, Đêcáctơ hay Spinôza… mà chúng ta hãy đến với nước Đức giai đoạn cuối thế kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX để chiêm nghiệm tài năng của một triết gia thiên tài, nhà biện chứng bẫm sinh G.V.P Hêghen. Plêkhanốp – một học giả uyên bác đã nhận xét rằng: “Chắc chắn sẽ mãi mãi được giành một địa vị cao quí nhất trong lịch sử tư tưởng nhân loại. Trong các khoa học mà người Pháp gọi là: Khoa tinh thần và chính trị, không có một khoa học mà không chịu ảnh hưởng mãnh liệt và phong phú của thiên tài Hêghen: 4, 458. Với tầm quan trọng của học thuyết mâu thuẫn, sự hấp dẫn lí thú của triết học Hêghen, với tinh thần học hỏi để khai mở tri thức triết học tôi xin chọn đề tài “Thực chất và ý nghĩa của học thuyết về mâu thuẫn trong triết học Hêghen” được ông trình bày trong “học thuyết bản chất”, được coi là tinh thần của triết học Hêghen.
Trang 1MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Nhà sáng lập học thuyết nguyên tử, đỉnh cao của chủ nghĩa duy vật cổ đại – Lơxíp đã từng nói: “Không có sự vật nào phát sinh một cách vô cớ, mà tất cả đều phát sinh trên một căn cứ nào đấy và do tính tất nhiên”
Đúng như vậy, điều này đã gây tranh cãi trong suốt chiều dài lịch sử triết học với hai trường phái chính duy vật và duy tâm Tuy nhiên Lútvích Phơ Bách đã từng nhận xét rằng: “Chân lí không phải là chủ nghĩa duy vật hay chủ nghĩa duy tâm, mà chân lí chính là nhân bản học” Trên một số khía cạnh nào đó chủ nghĩa duy vật sẽ không bao giờ hoàn thiện nếu thiếu chủ nghĩa duy tâm Bởi nó chính là hai mặt thống nhất của một vấn đề, đó là vấn
đề lịch sử triết học Thật sai lầm khi đứng trên đỉnh cao của chủ nghĩa Mác – Lênin để nhìn chủ nghĩa duy tâm bằng một con mắt Đừng quên rằng đỉnh cao của triết học duy tâm Đức cuối thế kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX là tiền đề trực tiếp cho triết học Mác – Lênin mà đại biểu của nó không ai khác ngoài triết gia lỗi lạc Gioócgiơ Vinhem Phriđrích Hêghen (1770 – 1831)
Đối với hầu hết chúng ta triết học Hêghen quả là một dấu chấm hỏi to tướng Ở ông có sự hội ngộ và lan tỏa của các dòng triết học đương đại, đến nỗi người ta phải lấy ông làm ngã rẽ cho lịch sử triết học Đúng như vậy, triết học của Hêghen là một hệ thống đồ sộ, những lĩnh vực nghiên cứu của ông đâu đâu cũng mở ra cho nhân loại một chân trời mới Cho đến nay ngót gần hai thế kỉ, đứng trước ngưỡng của thế kỉ XXI mà ngoảnh lại người ta phải bàng hoàng và lạ lẫm Vậy Hêghen là ai? Vai trò của con người này ra sao? Ở ông có gì đặc biệt?
Trang 2Gioócgiơ Vinhem Phriđrích Hêghen (1770 – 1831) là triết gia thuộc dòng triết học cổ điển Đức, là người đầu tiên trong lịch sử triết học trước Mác đã trình bày một cách có hệ thống phép biện chứng mà sau này nó trở thành nội dung cốt cán của triết học Mác – Lênin Tất cả những tư tưởng này được ông luận giải trong tác phẩm đồ sộ “Lôgích học” với việc trình bày ba qui luật và
những cặp phạm trù cơ bản
Việc này đã xứng đáng đưa Hêghen trở thành triết gia thiên tài trong mọ triết gia thiên tài Trong hoạt động vật chất phong phú và đa dạng đang diễn ra hàng ngày hàng giờ Dù bất cứ ở lĩnh vực nào trong tự nhiên, xã hội, tư duy
hay trong sự sinh thành, tồn tại, phát triển và diệt vong của một hạt bụi, một
con người hay cả một thể chế xã hội đâu đâu cũng có sự hiện hữu của cái gọi
là “mâu thuẫn”
Vậy thế nào là mâu thuẫn? Vai trò của nó ra sao? Ai là người trình bày một cách có hệ thống nhất trong lịch sử triết học trước Mác? Để trả lời những câu hỏi này không còn cách nào khác chúng ta phải ngược dòng lịch sử triết học để đến với con người này Chưa hẳn là tiến quá sâu vào lịch sử để tìm lại Hêraclít, Arixtốt, Đêmôcrít hay Lão Tử hoặc phải mở những cánh cửa nặng
nề của nhà thờ Thiên chúa giáo để gặp Oguytxtanh, Tômát Đacanh Cũng không cần phải quay lại thời kì phát sinh của chủ nghĩa Tư bản để tìm Ph.Bêcơn, Đêcáctơ hay Spinôza… mà chúng ta hãy đến với nước Đức giai đoạn cuối thế kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX để chiêm nghiệm tài năng của một triết gia thiên tài, nhà biện chứng bẫm sinh G.V.P Hêghen Plêkhanốp – một học giả uyên bác đã nhận xét rằng: “Chắc chắn sẽ mãi mãi được giành một địa vị
cao quí nhất trong lịch sử tư tưởng nhân loại Trong các khoa học mà người
Pháp gọi là: Khoa tinh thần và chính trị, không có một khoa học mà không chịu ảnh hưởng mãnh liệt và phong phú của thiên tài Hêghen: [4, 458] Với tầm quan trọng của học thuyết mâu thuẫn, sự hấp dẫn lí thú của triết học
Trang 3Hêghen, với tinh thần học hỏi để khai mở tri thức triết học tôi xin chọn đề tài
“Thực chất và ý nghĩa của học thuyết về mâu thuẫn trong triết học Hêghen” được ông trình bày trong “học thuyết bản chất”, được coi là tinh thần của triết học Hêghen
2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Nghiên cứu về Hêghen nói chung và qui luật mâu thuẫn trong triết học Hêghen nói riêng Từ trước đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu, nhiều bài viết và nhiều hội thảo khoa học trong cũng như ngoài nước như: “Những
tư tưởng cơ bản của Hêghen về lôgích học với tính cách là lôgích biện chứng” của T.S Nguyễn Đình Tường, Tạp chí KHXH, 2004
Ở đó tác giả đã cho chúng ta một cách nhìn khá đầy đủ về hệ thống lôgích học của Hêghen với những tư tưởng biện chứng sâu sắc, trong đó có
“Học thuyết về bản chất” Bên cạnh đó “Quan điểm cơ bản của G.V.P Hêghen về lôgích học” của T.S Lê Thanh Tâm, Đại học KHXH và NV, 2003 lại cho chúng ta thấy rõ hơn sự vận động của “lý tính thế giới” trong “Khoa học lô gích” Ngoài ra “Tập bài giảng Triết học cổ Đức” của T.S Nguyễn Thanh Tân, Đại học Khoa học Huế đã cung cấp cho chúng ta những kiến thức
cơ bản nhất về triết học cổ điển Đức nói chung và triết học Hêghen nói riêng Với tinh thần đó, tôi muốn nghiên cứu học thuyết mâu thuẫn của Hêghen ở một góc độ mới để chiêm nghiệm đầy đủ hơn tài năng của thiên tài
3 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
Mục đích nghiên cứu của đề tài: Nhằm xác định vị trí và nội dung của
“Học thuyết mâu thuẫn” trong triết học Hêghen Khi đã xác định được “tọa độ” của học thuyết mâu thuẫn, chúng tôi trình bày ý nghĩa của nó đối với hệ thống triết học Hêghen nói riêng và lịch sử tư tưởng nhân loại nói chung Qua
Trang 4đó làm bật lên những giá trị của “Học thuyết mâu thuẫn” mà ông đã để lại cho hậu thế
Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài: Để xác định được vị trí và nội dung của “Học thuyết mâu thuẫn” trong hệ thống triết học của Hêghen chúng tôi cố gắng trình bày khái quát ba bộ phận triết học Hê ghen gồm: Khoa học lôgích, Triết học tự nhiên và Triết học tinh thần Khi có cái nhìn khái quát về triết học Hêghen chúng tôi đi vào phần trọng tâm để làm minh bạch nội dung “Học thuyết mâu thuẫn” Để nhiệm vụ này được hoàn thành chúng tôi đã khảo sát một số quan niệm trước Hêghen về mâu thuẫn Cuối cùng là trình bày về sự triển khai “Học thuyết mâu thuẫn của Hêghen” Sau khi thấy được vị trí và nội dung của “học thuyết mâu thuẫn” trong triết học Hêghen, chúng tôi cố gắng đánh giá một số ý nghĩa cơ bản của nó đối với hệ thống triết học Hêghen
và lịch sử tư tưởng nhân loại Thông qua so sánh, đối chiếu với các quan niệm
về mâu thuẫn trước Hêghen
Nghiên cứu học thuyết mâu thuẫn trong triết học Hêghen có ý nghĩa hàng đầu làm cơ sở để giải thích quá trình xuất hiện và hình thành một trong
ba qui luật của phép biện chứng Bởi vì, Hêghen không chỉ là người tiền bối trực tiếp của C.Mác và Ph.Ăngghen và vì những người sáng lập chủ nghĩa Mác đã xuất thân từ trường phái Hêghen
4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu của đề tài: học thuyết về mâu thuẫn trong triết học Hêghen
Trang 5Phạm vi nghiên cứu của đề tài: khảo sát hệ thống triết học Hêghen, trong đó trọng tâm là “học thuyết bản chất” thuộc bộ phận “Khoa học lôgích”
để làm sáng tỏ thực chất và ý nghĩa của học thuyết về mâu thuẫn trong triết học Hêghen
5 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Cơ sở lý luận của đề tài là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của triết học Mác – Lênin
Phương pháp nghiên cứu của đề tài là: Kết hợp những nguyên lý của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử với nguyên tắc thống nhất lôgích và lịch sử; đồng thời sử dụng các phương pháp như: phân tích, tổng hợp, so sánh, đối chiếu để làm sáng tỏ các vấn đề mà nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra
6 ĐÓNG GÓP CỦA KHÓA LUẬN
Khóa luận đã trình bày hệ thống kiến thức cơ bản của triết học Hêghen trong dòng triết học cổ điển Đức Qua đó giúp cho người đọc nắm được nội dung của phương pháp triết học Hêghen Vậy khóa luận là tài liệu tham khảo cho những người quan tâm và yêu thích triết học Hêghen, góp phần làm phong phú triết học Mác – Lênin
7 KẾT CẤU CỦA KHÓA LUẬN
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung của khóa luận gồm có hai chương:
Trang 6Chương 1: Thực chất và ý nghĩa của “Học thuyết về mâu thuẫn” trong triết học Hêghen
Chương 2: Ý nghĩa của “Học thuyết về mâu thuẫn” trong triết học
Hêghen.
Trang 7CHƯƠNG 1 THỰC CHẤT CỦA HỌC THUYẾT VỀ MÂU THUẪN
TRONG TRIẾT HỌC HÊGHEN
1.1 Vị trí của “Học thuyết mâu thuẫn” trong hệ thống triết học Hêghen
1.1.1 Khoa học lôgích
Đây là bộ phận duy vật nhất, tất cả những gì được coi là hạt nhân hợp
lý của triết học Hêghen đều được thể hiện trong đó Với ông “Khoa học lôgích” có nhiệm vụ chỉ rõ xem “tinh thần thế giới” phát triển từ tồn tại thuần túy đến quan niệm tuyệt đối như thế nào Trong lôgích học Hêghen đã luận giải sự phát triển của ý niệm tuyệt đối thông qua ba vòng khâu chủ yếu đó là:
“Tồn tại”, “bản chất” và “khái niệm” Ba vòng khâu này chính là ba qui luật
cơ bản của phép biện chứng duy vật Mácxit, chỉ có điều Hê ghen đã trình bày
nó với tư thế lộn ngược đầu xuống đất Tính chất biện chứng mà Hê ghen đã thể hiện trong “Khoa học lôgích” nói riêng và trong toàn bộ hệ thống triết học của ông nói chung là điều mà không ai phủ nhận được Tuy nhiên sau khi Hê ghen qua đời, triết học của ông bị cắt xén và xuyên tạc nghiêm trọng Mỗi cá nhân, mỗi trường phái nắm giữ lấy một bộ phận trong đó rồi đem đối nghịch chúng với nhau Đó là việc làm không đúng, bởi vì hệ thống triết học của ông
là kết quả của sự vận động thông qua ba giai đoạn của “ý niệm tuyệt đối” Cho nên nếu tách rời đi một bộ phận nào cũng đồng nghĩa với việc làm đứt đoạn sự vận động biện chứng của “ý niệm tuyệt đối”
1.1.2 Triết học tự nhiên
Theo đánh giá của Lênin “Triết học tự nhiên” là bộ phận yếu nhất của triết học Hêghen Ở bộ phận này sơ đồ vận động tam đoạn thức lại được biểu hiện bằng ba bộ phận: “Cơ học”, “vật lý học” và “cơ thể học” Có thể nói rằng cống hiến quan trọng nhất của Hêghen ở “triết học tự nhiên” là ông đã đưa tri thức khoa học tự nhiên vào triết học Điều này cho chúng ta khẳng định:
Trang 8Hêghen là một mẫu mực trong việc tuân thủ mối liên minh chặt chẻ giữa triết học và khoa học tự nhiên Bản thân giới tự nhiên là vật chất nhưng ông luôn
áp đặt cho nó cái nội dung tinh thần Nặng nề hơn ông đã biến giới tự nhiên thành một mắt xích trên con đường “tha hóa” của “ý niệm tuyệt đối” Hậu quả
là giới tự nhiên bị kìm hãm, mất đi tính đa dang phong phú nhưng có tính thống nhất của nó Dù vậy ông đã vận dụng được phép biện chứng khi trình bày giới tự nhiên
1.1.3 Triết học tinh thần
Đây là giai đoạn hoàn thành và phát triển của lý tính sau khi khắc phục được sự “tha hóa” của nó ở giới tự nhiên Theo ông đối tượng của triết học tinh thần là: “Tinh thần thế giới” từ lĩnh vực tự nhiên trở về với bản thân mình Cũng là giai đoạn lý tính quay trở về bản chất tinh thần của mình và hoàn thiện sự phát triển, kết thúc một chu kỳ vận động của “ý niệm tuyệt đối”
và đồng thời mở ra một chu kỳ mới Triết học tinh thần được Hêghen trình bày qua ba bộ phận: “Tinh thần chủ quan”, “tinh thần khách quan” và “tinh thần tuyệt đối”
1.2 Nội dung của “Học thuyết mâu thuẫn” trong triết học Hêghen
1.2.1 Một số quan niệm trước Hê ghen về mâu thuẫn
Lịch sử phát triển đời sống tinh thần của xã hội cho thấy rằng: những quan điểm lý luận của mỗi thời đại không bao giờ xuất hiện trên mảnh đất trống không mà được tạo ra trên cơ sở kế thừa những tài liệu lý luận của những thời đại trước Các quan niệm về mâu thuẫn cũng vậy Ngay tại thời điểm Hêghen viết cuốn “Khoa học lôgích” chúng ta phải thừa nhận rằng Hêghen không phải là nhà triết học đầu tiên trong lịch sử triết học trình bày về mâu thuẫn Từ thời cổ đại Hy lạp – La mã chúng ta đã biết đến chủ nhân của câu tuyên ngôn “không ai có thể tắm hai lần trên một dòng sông”, đó chính là nhà biện chứng bẫm sinh Hêraclít Ông đã có những luận điểm mang tính tiền
Trang 9đề để hậu thế tiếp tục bàn về mâu thuẫn Ở phương Đông cổ đại chúng ta cũng bắt gặp “Đạo” của Lão Tử đã chứa đựng nội dung quan trọng về vấn đề mâu thuẫn Và trong hệ thống các tôn giáo lớn trên thế giới thì Phật giáo cũng
đã đóng góp những luận điểm sâu sắc về mâu thuẫn Thông qua các thời kỳ lịch sử, song hành với sự phát triển của triết học cũng đã tồn tại nhiều quan điểm, quan niệm về mâu thuẫn mà chúng ta chưa có điều kiện để tiếp xúc và nghiên cứu Song các quan niệm về mâu thuẫn trước Hêghen thường mang tính trực quan, cảm tính thiếu cơ sở khoa học và chưa mang tính hệ thống 1.2.2 Sự triển khai “Học thuyết mâu thuẫn” của Hêghen
Toàn bộ học thuyết mâu thuẫn được Hêghen trình bày trong “học thuyết bản chất” là vòng khâu thứ hai trong sự vận động của “ý niệm tuyệt đối” ở giai đoạn đầu mà Hêghen gọi là “Khoa học lôgích” Như đã biết khi
“tồn tại” đạt đến đỉnh của nó trong “độ” thì cái “bản chất” bắt đầu được nói đến Đến đây “tinh thần thế giới” nhận được một sự quy định mới sâu sắc hơn
và cụ thể hơn Khi trình bày “học thuyết bản chất” Hêghen đã triễn khai nó trong ba thiên đó là: “Bản chất với tính cách là bản chất”, “hiện tượng” và
“hiện thực” Thông qua sự trình bày này Hêghen đã làm hé lộ cái hạt nhân duy vật là học thuyết về mâu thuẫn Hay nói cách khác quy luật về mâu thuẫn
đã trở thành hình hài cụ thể với tư cách là nguồn gốc và động lực của mọi sự vận động và phát triển Chỉ có điều nó bị ràng buộc trong cái vòng luẫn quẫn của “ý niệm tuyệt đối”
Trang 10CHƯƠNG 2
Ý NGHĨA CỦA HỌC THUYẾT VỀ MÂU THUẪN
TRONG TRIẾT HỌC HÊGHEN
2.1 Ý nghĩa của “Học thuyết mâu thuẫn” đối với hệ thống triết học Hêghen 2.1.1 Ý nghĩa của “Học thuyết mâu thuẫn” với “Khoa học lôgích”
Có thể nói rằng “Học thuyết mâu thuẫn” cái mà sau này C.Mác đã cải tạo thành quy luật mâu thuẫn là linh hồn của lôgích học Hêghen Nó là nhân
tố cốt lõi tạo nên cái hạt nhân tiên tiến, bởi vậy mà người ta cho rằng lôgích học là bộ phận duy vật nhất trong hệ thống triết học của Hêghen
2.1.2.Ý nghĩa của “Học thuyết mâu thuẫn” với “Triết học tự nhiên”
Đây được coi là bộ phận yếu nhất trong hệ thống triết học của Hêghen nhưng vẫn mang tinh thần của phép biện chứng mà trong đó ta vẫn thấy sự hiện hữu của mâu thuẫn với tính cách là nguồn gốc sâu xa nhất của bộ phận triết học này Mâu thuẫn tiếp tục đóng vai trò làm người dẫn đường cho “ý niệm tuyệt đối” bị “tha hóa” thành giới tự nhiên
2.1.3.Ý nghĩa của “Học thuyết mâu thuẫn” với “Triết học tinh thần”
Toàn bộ bộ phận “Triết học tinh thần” cũng là một chuỗi sinh thành và phát triển “Công lao lớn của Hêghen là ở chỗ ông là người đầu tiên đã trình bày giới tự nhiên lịch sử và tinh thần dưới hình thức một quá trình Nghĩa là trong sự vận động liên tục, trong sự biến hóa và phát triển ông đã cố tìm ra mối liên hệ trong sự vận động và phát triển ấy” Cái mà Hêghen gọi là sự
“vượt bỏ” chính bản thân nó để trở thành cái khác Từ “tinh thần chủ quan” đến “tinh thần khách quan” và trở về với “tinh thần tuyệt đối” thực chất là một quá trình đấu tranh và thống nhất giữa các mặt đối lập trong bản thân từng bộ phận trước để sản sinh ra bộ phận sau Và dĩ nhiên ở đây vẫn không thể thiếu đi vai trò của mâu thuẫn, “ý niệm tuyệt đối” đến đây là dừng lại hay
Trang 11nói cách khác là nó đã trở về với bản thân nó trong tinh thần Đồng nghĩa mâu thuẫn cũng “nằm im chờ đợi” một chu kì hành trình mới
2.2 Ý nghĩa của “Học thuyết mâu thuẫn” với lịch sử tư tưởng nhân loại
Với lịch sử tư tưởng nhân loại nói chung và lịch sử triết học nói riêng, học thuyết mâu thuẫn mang một ý nghĩa hết sức to lớn Học thuyết mâu thuẫn
đã làm tiền đề cho C.Mác xây dựng thành quy luật mâu thuẫn và giờ đây nó đóng vai trò là hạt nhân của phép biện chứng Mácxit Nó khắc phục được hạn chế của chủ nghĩa duy tâm và thuyết bất khả tri Làm phong phú và hoàn thiện kho tàng của chủ nghĩa Mác Nó còn có ý nghĩa quan trọng là làm phương pháp luận cho các ngành khoa học khác Ngoài ra còn trang bị cho con người khả năng tư duy, nắm bắt và giải quyết vấn đề một cách khoa học nhất