1. Trang chủ
  2. » Kỹ Thuật - Công Nghệ

PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH HƯ HỎNG TRONG KẾT CẤU NHIỀU BẬC TỰ DO BẰNG THUẬT TOÁN MÁY HỖ TRỢ VÉC TƠ VÀ TẦN SỐ DAO ĐỘNG_TS. Hồ Thu Hiền, TS. Nguyễn Danh Thắng

6 324 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 314,82 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngày nay, bài toán xác định hư hỏng đã được quan tâm nhiều hơn, ngày càng có nhiều chuyên gia nghiên cứu các thông số ảnh hưởng và đưa ra các phương pháp xác định sớm sự xuất hiện, cũng như vị trí của hư hỏng trong kết cấu. Bài báo này mở rộng ứng dụng của thuật toán máy hỗ trợ véc tơ (Support Vector Machine – SVM) để xác định vị trí của hư hỏng trong kết cấu nhiều bậc tự do. Từ những kết quả phân tích trên các mô phỏng số, phương pháp này được kì vọng sẽ góp phần xác định được sự xuất hiện cũng như vị trí của hư hỏng trong kết cấu nhiều bậc tự do chỉ với số liệu về tần số dao động. Điểm đáng chú ý là phương pháp đươc đề nghị có ưu điểm vượt trội là chỉ sử dụng một vài tần số dao động của kết cấu làm dữ liệu đầu vào cho máy hỗ trợ véc tơ, từ đó xác định được vị trí của hư hỏng

Trang 1

PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH HƯ HỎNG TRONG KẾT CẤU NHIỀU BẬC TỰ DO BẰNG THUẬT TOÁN MÁY HỖ TRỢ VÉC TƠ VÀ TẦN SỐ DAO ĐỘNG

DAMAGE DETECTION METHOD IN MULTIPLE DEGREE OF FREEDOM STRUCTURES BY USING

SUPPORT VECTOR MACHINE AND NATURAL FREQUENCIES

TS Hồ Thu Hiền, TS Nguyễn Danh Thắng

TÓM TẮT

Ngày nay, bài toán xác định hư hỏng đã được quan tâm

nhiều hơn, ngày càng có nhiều chuyên gia nghiên cứu các

thông số ảnh hưởng và đưa ra các phương pháp xác định sớm

sự xuất hiện, cũng như vị trí của hư hỏng trong kết cấu Bài báo

này mở rộng ứng dụng của thuật toán máy hỗ trợ véc tơ

(Support Vector Machine – SVM) để xác định vị trí của hư

hỏng trong kết cấu nhiều bậc tự do Từ những kết quả phân tích

trên các mô phỏng số, phương pháp này được kì vọng sẽ góp

phần xác định được sự xuất hiện cũng như vị trí của hư hỏng

trong kết cấu nhiều bậc tự do chỉ với số liệu về tần số dao

động Điểm đáng chú ý là phương pháp đươc đề nghị có ưu

điểm vượt trội là chỉ sử dụng một vài tần số dao động của kết

cấu làm dữ liệu đầu vào cho máy hỗ trợ véc tơ, từ đó xác định

được vị trí của hư hỏng

T ừ khóa: Máy hỗ trợ véc tơ; Xác định hư hỏng; Tần số dao

động; Chỉ số định vị hư hỏng

ABSTRACT

Nowadays the damage detection problem was interested the

experts try to study on the parameters and give many damage

detection methods to detect damage in the structures This

study focus on the damage detection (DD) method using the

support vector machine (SVM) to localize the damage in

multiple degree of freedom (MDOF) structures From the

results of the simulation analysis, this method is expected to

detect the existence and location of damage in the MDOF

structures by using the natural frequencies only The valuable

thing of the proposed method is that used a few first natural

frequencies as the input data for SVM to detect the damage in

MDOF structures

Keywords: Support Vector Machine; Damage Detection;

Natural Frequency; Damage Location Indicator

TS Hồ Thu Hiền

Giảng viên, Khoa Kỹ Thuật Xây Dựng, Trường Đại Học Bách

Khoa – Đại Học Quốc Gia Tp.HCM

Email: hothuhien@hcmut.edu.vn

Điện thoại: +84.918.415.435

TS Nguyễn Danh Thắng

Giảng viên, Khoa kỹ thuật Xây dựng, Trường Đ ại Học Bách

Khoa – Đại Học Quốc Gia Tp.HCM

Email:

ndthang@hcmut.edu.vnmailto:ntqui270388@gmail.com

Điện thoại: +84.913.883.456

1 Gi ới thiệu

Quan trắc sức khỏe kết cấu (Structural Health Monitoring –

SHM) đã trở thành chuyên ngành được chú ý nhiều trong lĩnh

vực động lực học kết cấu Nghiên cứu, giới thiệu, phát triển các

phương pháp phát hiện hư hỏng trong kết cấu là vai trò chính

của SHM Rất nhiều phương pháp phát hiện hư hỏng đã được

nghiên cứu trong vài thập niên gần đây, chủ yếu dựa trên

những đặc trưng của kết cấu như tần số dao động riêng, dạng

dao động, hay đường cong của dạng dao động … Tuy nhiên,

hầu hết các phương pháp đã được nghiên cứu gặp khó khăn khi

xác định vị trí và mức độ của hư hỏng, hay chỉ xác định được hai yếu tố đó với độ chính xác không cao (Mita, 2003)

Mặc dù phương pháp xác định hư hỏng dựa trên sự thay đổi

tần số dao động riêng rất đơn giản nhưng khi áp dụng vào thực

tế thì lại có rất nhiều hạn chế Bởi vì sự thay đổi riêng lẽ của giá trị của tần số dao động riêng không cho thấy rõ sự xuất hiện cũng như vị trí của hư hỏng (Hien, Mita – 2012)

Thời gian gần đây, việc đo lường giá trị tần số dao động riêng đã mang lại kết quả với độ chính xác rất cao và việc lắp đặt thiết bị không còn phức tạp Salawu (1997) đã tổng hợp các phương pháp phát hiện hư hỏng trong kết cấu dựa trên sự thay đổi giá trị tần số dao động riêng Xu hướng chung của các phương pháp là chỉ ra sự nhạy cảm của tần số dao động riêng đối với sự xuất hiện của hư hỏng trong kết cấu Bài báo nhấn

mạnh và đưa ra nhiều luận chứng để bàn luận về mối quan hệ

giữa sự thay đổi tần số dao động riêng và sự xuất hiện của hư

hỏng

Rất nhiều phương pháp xác định hư hỏng dựa trên tần số dao động đưa ra những kết quả khả quan trong những kết cấu đơn giản, ít bậc tự do Riêng những công trình lớn, số lượng các tần số dao động có thể đo được luôn nhỏ hơn số bậc tự do nên những phương pháp đã được đề nghị không thể áp dụng được

Thuật toán máy hỗ trợ véc tơ (SVM) là một công cụ đắc lực cho bài toán nhận dạng mẫu (pattern recognition), nó thực sự

hữu ích cho việc xác định trạng thái kết cấu bị hư hỏng Dữ

liệu đầu vào yêu cầu cần có hai dạng: dữ liệu cho kết cấu bình thường và dữ liệu cho kết cấu đã bị hư hỏng SVM sẽ giúp phân loại dữ liệu cần kiểm tra vào một trong hai dạng dữ liệu nêu trên để xác định xem kết cấu có bị hư hỏng hay chưa Trong nghiên cứu của các tác giả Mita và Hgiwara (2003), phương pháp xác định hư hỏng bằng SVM đã đưa ra kết quả chính xác cao cho sự xuất hiện, xác định vị trí cũng như mức

độ hư hỏng trong kết cấu Từ đó, mục tiêu chính của nghiên

cứu này là phát triển và cải tiến phương pháp được giới thiệu

kể trên Phương pháp đề nghị trong bài báo này chỉ cần dữ liệu đầu vào là ba tần số dao động đầu tiên của kết cấu, từ ba tần số dao động đó thành lập nên chỉ số xác định vị trí hư hỏng (damage location index – DLI) Từ các véc tơ DLI đó, SVM sẽ giúp xác định được vị trí của hư hỏng trong kết cấu nhiều bậc

tự do

2 Phương pháp xác định hư hỏng trong kết cấu bằng thuật toán máy h ỗ trợ véc tơ SVM

2.1 Ch ỉ số xác định hư hỏng DLI

Tần số dao động thứ r của một kết cấu “khỏe mạnh” có N

bậc tự do (như Hình 1) được Luco và các đồng tác giả (1992)

đề nghị tính bằng công thức như sau:

Với là tần số dao động đầu tiên của kết cấu “khỏe

mạnh” ban đầu

Trang 2

Mặt khác, năm 2002, các tác giả Zhu và Wu đưa ra cách

tính hằng số truyền sóng trong dao động của dạng dao động thứ

r ở trạng thái an toàn là:

(3)

Hình 1 Mô hình kết cấu N bậc tự do

Ở trạng thái phần tử thứ i của kết cấu bị hư hỏng, ta có công

thức:

Cũng theo đó, giá trị phụ thuốc vào hệ số được

tính từ công thức (5):

+

Từ phương trình (5) ở trên, giá trị chỉ phụ thuộc vào

vị trí của hư hỏng trong kết cấu (i) và số bậc tự do N của kết

cấu

Kết hợp các phương trình (3), (4) và (5), sự thay đổi của tần

số dao động sẽ được tính như sau:

Sự thay đổi tần số được tính giống với phương trình 29b

trong nghiên cứu của tác giả Zhu và Wu (2002), như sau:

Tỉ số của sự thay đổi tần số thứ r và thứ s được dùng như

mẫu nhận dạng PR để xác định vị trí của hư hỏng trong kết

cấu:

(8)

Từ phương trình (8) cho chúng ta thấy tỉ số của sự thay đổi

tần số dao động của một vài dạng dao động đầu tiên thay đổi

phụ thuộc vào vị trí của hư hỏng Tỉ số này sẽ được dung như

chỉ số xác định vị trí hư hỏng DLI

2.2 Thi ết lập véc tơ đặc trưng cho máy hỗ trợ véc tơ:

Rất nhiều nghiên cứu đã đưa ra sự nhạy cảm của tần số dao động tự nhiên, sự thay đổi của sức khỏe kết cấu sẽ gây nên sự thay đổi của tần số dao động Tuy nhiên trong một vài trường

hợp, kết quả thực tế không thu được hết tất cả số lượng tần số dao động tự nhiên của kết cấu chính vì như thế nên phải tính đến phương pháp định vị hư hỏng dựa trên số liệu không hoàn

chỉnh, chỉ một vài giá trị tần số ban đầu

Để giải quyết vấn đề khó khan được đặt ra như thế, các tác

giả thiết lập một chỉ số xác định vị trí hư hỏng DLI, các chỉ số này có khả năng nhận dạng mẫu với ba giá trị tần số dao động đầu tiên Từ phương trình (8), các tác giả đưa ra hai chỉ số xác định vị trí hư hỏng như trong hai phương trình (9a) và (9b):

(9a)

(9b) Giá trị hai chỉ số và được dùng như các hệ véc tơ đặc trưng cho SVM

2.3 Thu ật toán máy hỗ trợ véc tơ SVM

Máy hỗ trợ véc tơ - Support Vector Machine (SVM) là

phương pháp phân lớp dựa trên lý thuyết học thống kê, được đề

xuất bởi Vapnik (1995) SVM được dùng trong ngành phát

hiện hư hỏng trong kết cấu bởi vì nó có khả năng phân lớp với nhiều điều kiện biên khác nhau từ các dữ liệu đầu vào rất ít ỏi

Để đơn giản, ta sẽ xét bài toán phân lớp nhị phân, từ đó mở

rộng vấn đề tượng tự cho bài toán phân nhiều lớp Xét một ví

dụ của bài toán phân lớp như hình vẽ; ở đó ta phải tìm một đường thẳng sao cho bên trái nó toàn là các điểm đen, bên phải

nó toàn là các điểm trắng Bài toán mà dùng đường thẳng để phân chia này được gọi là phân lớp tuyến tính (Linear Classification) Trong hầu hết các trường hợp ứng dụng, sự phân lớp phi tuyến (Nonlinear) sử dụng tiến trình tương tự

Hình 2 mô tả sự mở rộng của sự phân lớp từ tuyến tính lên phi tuyến

Hình 2 Sự mở rộng của phân lớp tuyến tính lên phân lớp phi tuyến

Tầng 2

Tầng 1

k N

Tầng N

Tầng N-1

k i

m2

k2

m1

k1

mN

Trang 3

3 K ết quả của phương pháp trên mô phỏng số

Để kiểm tra phương pháp được đề nghị, kết cấu N bậc tự do

được mô hình hóa như Hình 1 Hai mô phỏng số cho kết cấu 5

tầng và 9 tầng được đưa ra phân tích với các đặc trưng khi mô

phỏng: tần số thu thập dữ liệu là 200 Hz, hệ số giảm chấn

(damping ratio) là 3%

Hư hỏng trong kết cấu được mô phỏng hóa là sự suy giảm

độ cứng của từng tầng trong kết cấu Các véc tơ đặc trưng được

huấn luyện cho ba mức độ suy giảm độ cứng là 10%, 20% và

30% cho mỗi tầng Đối với mỗi mẫu dữ liệu hư hỏng hệ véc tơ

đặc trưng tương ứng được dùng để làm véc tơ

đặc trưng nhận dạng được SVM huấn luyện Một véc tơ {0}

bao gồm tất cả các phần tử 0 được dùng cho trường hợp kết cấu

không bị hư hỏng

Từ mô phỏng số (simulation) đã được lập, thiết lập 5 mức

độ hư hỏng trong kết cấu, độ cứng mỗi tầng lần lượt giảm 8%,

16%, 24%, 32% và 40%, phương pháp được đề nghị cần kiểm

tra (5 x N) bộ véc tơ Năm cột dữ liệu đầu tiên đại diện cho số

liệu của tầng 1 bị giảm độ cứng 8%, 16%, 24%, 32% và 40%

Năm cột số liệu tiếp theo là của trường hợp hư hỏng tương ứng

ở tầng 2, tương tự cho tầng 3, N Cột dữ liệu cuối cùng là

cho trường hợp kết cấu không bị hư hỏng

SVMi là kết quả của mẫu dữ liệu nhận dạng hư hỏng xuất

hiện ở vị trí tầng thứ i

3.1 K ết cấu 5 tầng (N=5)

Kết cấu 5 tầng được thiết kế cùng khối lượng, cùng độ cứng

cho tất cả các tầng: mi = 1000 tấn, ki = 2x103 MN/m

-20

0

20

SVM0

-5

0

5

SVM1

-20

0

20

SVM2

-50

0

500 5 10 SVM315 20 25

-10

0

100 5 10 SVM415 20 25

-20

0

20

SVM5

Hình 3 Kết quả của SVM0 đến 5 với ba tần số dao động theo phương

pháp của Mita và Hagiwara

-5 0

-2 0

-2 0

-2 0

-2 0

-2 0

Hình 4 Kết quả của SVM0 đến 5 với hai chỉ số xác định vị trí hư hỏng

theo phương pháp cải tiến

Kết cấu không bị hư hỏng sẽ có tần số dao động là: 2.03, 5.91, 9.32, 11.98 và 13.66 Hz Như đã phân tích ở phần đầu

của mục 3, năm trường hợp hư hỏng được giả định xảy ra ở năm tầng với năm mức độ khác nhau, ta có 25 dữ liệu đầu tiên,

dữ liệu thứ 26 là cho trường hợp kết cấu không bị hư hỏng

Hình 3 cho thấy kết quả của các SVMi từ phương pháp do các tác giả Mita và Hagiwara (2003) đề nghị trước đây nếu chỉ dùng dữ liệu là sự thay đổi của ba tần số dao động đầu tiên

Từ kết quả này cho thấy SVM1 và SVM3 không thể nhận dạng được mẫu dữ liệu hư hỏng ở tầng

1 và tầng 3 Hình 4 cho thấy kết quả chính xác của phương

pháp được cải tiến trong nghiên cứu này, dùng các chỉ số định

vị hư hỏng trong phương trình (9a) và (9b) làm các véc tơ đặc trưng

3.2 K ết cấu 9 tầng (N=9)

Kết cấu 9 tầng được thiết kế cùng độ cứng ki = 1.3x103 MN/m cho tất cả các tầng Khối lượng của 9 tầng lần lượt được

chọn là:

m1 = 1000 tấn, m2 = 950 tấn, m3 = 900 tấn,

m4 = 850 tấn, m5 = 800 tấn, m6 = 750 tấn,

m7 = 700 tấn, m8 = 650 tấn, và m9 = 600 tấn

Dãy tần số dao động của kết cấu không bị hư hỏng là: 1.12, 3.16, 5.14, 6.99, 8.64, 10.03, 11.14, 12.07 và 13.22 Hz

Chín trường hợp hư hỏng lần lượt xảy ra ở chín tầng cũng được giả định với 5 mức độ khác nhau ở mỗi tầng, ta có 45 dữ

liệu đầu tiên, dữ liệu thứ 46 là cho trường hợp kết cấu không bị

hư hỏng Hình 5 biểu diễn sự thay đổi của ba tần số dao động

đầu tiên đối với vị trí của hư hỏng trong kết cấu Từ đồ thị cho

thấy mỗi tần số dao động có một hoặc một vài vị trí chịu ảnh hưởng lớn của vị trí hư hỏng của kết cấu, trong khi các vị trí hư

hỏng ở chỗ khác thì không gây ảnh hưởng gì nhiều

Data number

Data number

Trang 4

1 2 3 4 5 6 7 8 9

0

0.05

0.1

Mass

The 1st mode

0

0.05

0.1

The 2nd mode

0

0.05

0.1

The 3 mode

Hình 5 Sự thay đổi của các tần số dao động đầu tiên đối với vị trí hư hỏng

của kết cấu Hình 6 biểu diễn các bộ mẫu dữ liệu phụ thuộc vào vị trí xuất hiện của hư hỏng trong kết cấu

Các kết quả của SVMi từ phương pháp do các tác giả Mita

và Hagiwara (2003) đề nghị trước đây nếu chỉ dùng dữ liệu là

sự thay đổi của ba tần số dao động đầu tiên

được mô tả trong Hình 7 Từ kết quả

này cho thấy xuất hiện lỗi khi xác nhận mẫu dữ liệu của hư

hỏng xuất hiện ở SVM1, SVM2, SVM5, SVM6, và SVM8

Hình 6 Sự thay đổi của các giá trị phụ thuộc vào vị trí của hư hỏng trong kết cấu

Dạng thứ 2

Dạng thứ 1

Số thứ tự tầng

Hư hỏng

Trang 5

0 10 20 30 40

-20

0

20

SVM0

-5

0

5

SVM1

-20

0

20

SVM2

-20

0

20

SVM3

-20

0

20

SVM4

-2

0

SVM5

-20

0

20

SVM6

-20

-100

SVM7

-10

0

10

SVM8

-200

20

Hình 7 Kết quả của SVM0 đến 9 với ba tần số dao động theo phương

pháp của Mita và Hagiwara Hình 8 cho thấy kết quả của phương pháp được đề nghị

phân loại được vị trí của hư hỏng xuất hiện ở bất kì tầng nào

của kết cấu

4 K ết quả của phương pháp trên mô hình thực nghiệm

4.1 S ố liệu thực nghiệm

Một mô hình khung 5 tầng được thiết kế như Hình 9a Tấm

nhôm ở mỗi tầng có khối lượng 2.34 kg được tính bằng khối

lượng của cả tầng trong kết cấu khung

-50

SVM0

-20

SVM1

-20

SVM2

-50

SVM3

-50

SVM4

-20

SVM5

-20

SVM6

-20

SVM7

-20

SVM8

-20

SVM9

Hình 8 Kết quả của SVM0 đến 9 với hai chỉ số xác định vị trí hư hỏng

theo phương pháp cải tiến

Độ cứng của từng tầng được tính từ độ cứng của các thanh

hợp kim có kích thước (0.0025×0.03×0.24 m3) Độ cứng của

mỗi tầng là 1.3563×104 N/m

Kết cấu được xem là “khỏe mạnh”, không hư hỏng khi các thanh hợp kim dạng nguyên hình Hư hỏng trong kết cấu này được giả định là giảm độ cứng 32.72% do thay hai cột hợp kim

có tiết diện nhỏ hơn (0.003×0.006×0.24 m3; như Hình 9b)

4.2 K ết quả thực nghiệm

Các bộ véc tơ đặc trưng được thiết lập từ các chỉ số xác

định hư hỏng, sẽ được dùng cho các SVM từ SVM0 và SVMi

(với i = 1, 2,…, 5)

Hình 10 trình bày kết quả ứng dụng của phương pháp được

đề nghị trên số liệu của mô hình thực nghiệm Số hiệu của cột

dữ liệu chính là số thứ tự của tầng bị hư hỏng, dữ liệu số 6 là cho trường hợp kết cấu không hư hỏng SVM0 xác định được trường hợp dữ liệu số 6 chỉ trường hợp kết cấu không bị hư

hỏng SVM1, SVM2 SVM5 xác định chính xác được vị trí

xuất hiện của hư hỏng trong kết cấu ở tầng thứ 1, 2 5 tương

ứng Từ kết quả thể hiện trong Hình 10 cho thấy phương pháp

được nghiên cứu trong bài báo này hoàn toàn có thể áp dụng cho số liệu thực

Data number

Data number

Trang 6

(b)

(a)

Hình 9 (9a) Mô hình thực nghiệm, (9b) Cột cho trạng thái “khỏe mạnh”

và trạng thái hư hỏng của kết cấu

-5

0

5

SVM0

-2

0

-5

0

5

SVM2

-2

0

-2

0

2

SVM4

-2

0

2

SVM5

Hình 10 Kết quả SVM của phương pháp cải tiến trên mô hình thực

nghiệm

5 K ết luận

Một phương pháp xác định hư hỏng bằng cách dùng máy

hỗ trợ véc tơ SVM với tần số dao động đã được cải tiến với số

lượng tần số dao động thu được là không đầy đủ, chỉ cần ba tần

số đầu tiên Phương pháp này có thể xác định được vị trí hư

hỏng trong kết cấu nhiều bậc tự do chỉ với hai gia tốc kế, một ở

tầng trệt để xác định dữ liệu đầu vào, một ở trên mái để xác

định dữ liệu đầu ra để tính tần số dao động của kết cấu Phương

pháp này chỉ cần ba giá trị tần số dao động đầu tiên, thiết lập

chỉ số xác định vị trí hư hỏng, dùng làm véc tơ đặc trưng mới

cho máy hỗ trợ véc tơ SVM

Tài li ệu tham khảo

1 Mita, A (2003), Structural Dynamic for Health

Monitoring, Sankeisha Co., Ltd, Nagoya, Japan

2 Hien H., Mita A (2012), Applicability of Mode-Based

Damage Assessment Methods to Severely Damaged Steel

Building, Proc SPIE 8345, Smart Structures and Material

2012: Sensors and Smart Structures Technologies for

Civil, Mechanical and Aerospace Systems, San Diego,

USA, 83453I

3 Salawu, O S (1997), Detection of structural damage

through changes in frequency: a review, Engineering

Structures, Vol 19, No 9, 718-723

4 Mita A và Hagiwara H (2003), Quantitative damage

diagnosis of Shear structures using Support Vector Machine, KSCE Journal of Civil Engineering, Vol 7, No

6, 683-689

5 Luco J E., Wong H L and Mita A (1992), Active control

of the seismic response of structures by combined use of base isolation and absorbing boundaries, Earthquake

Engineering and Structural Dynamics, Vol 21, 525-541

6 Zhu H., Wu M (2002), The characteristic receptance

method for damage detection in large mono-coupled periodic structures, Journal of Sound and Vibration, Vol

251 (2), 241-259

7 Vapnik, V.N (1995), The nature of Statistical Learning

Theory, Springer, Berlin

Data number

Ngày đăng: 11/12/2016, 22:22

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1. Mô hình kết cấu N bậc tự do - PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH HƯ HỎNG TRONG KẾT CẤU NHIỀU BẬC TỰ DO BẰNG THUẬT TOÁN MÁY HỖ TRỢ VÉC TƠ VÀ TẦN SỐ DAO ĐỘNG_TS. Hồ Thu Hiền, TS. Nguyễn Danh Thắng
Hình 1. Mô hình kết cấu N bậc tự do (Trang 2)
Hình 2 mô t ả sự mở rộng của sự phân lớp từ tuyến tính lên phi  tuy ến. - PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH HƯ HỎNG TRONG KẾT CẤU NHIỀU BẬC TỰ DO BẰNG THUẬT TOÁN MÁY HỖ TRỢ VÉC TƠ VÀ TẦN SỐ DAO ĐỘNG_TS. Hồ Thu Hiền, TS. Nguyễn Danh Thắng
Hình 2 mô t ả sự mở rộng của sự phân lớp từ tuyến tính lên phi tuy ến (Trang 2)
Hình 2. Sự mở rộng của phân lớp tuyến tính lên phân lớp phi tuyến - PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH HƯ HỎNG TRONG KẾT CẤU NHIỀU BẬC TỰ DO BẰNG THUẬT TOÁN MÁY HỖ TRỢ VÉC TƠ VÀ TẦN SỐ DAO ĐỘNG_TS. Hồ Thu Hiền, TS. Nguyễn Danh Thắng
Hình 2. Sự mở rộng của phân lớp tuyến tính lên phân lớp phi tuyến (Trang 2)
Hình 3. Kết quả của SVM0 đến 5 với ba tần số dao động theo phương - PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH HƯ HỎNG TRONG KẾT CẤU NHIỀU BẬC TỰ DO BẰNG THUẬT TOÁN MÁY HỖ TRỢ VÉC TƠ VÀ TẦN SỐ DAO ĐỘNG_TS. Hồ Thu Hiền, TS. Nguyễn Danh Thắng
Hình 3. Kết quả của SVM0 đến 5 với ba tần số dao động theo phương (Trang 3)
Hình 4. Kết quả của SVM0 đến 5 với hai chỉ số xác định vị trí hư hỏng - PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH HƯ HỎNG TRONG KẾT CẤU NHIỀU BẬC TỰ DO BẰNG THUẬT TOÁN MÁY HỖ TRỢ VÉC TƠ VÀ TẦN SỐ DAO ĐỘNG_TS. Hồ Thu Hiền, TS. Nguyễn Danh Thắng
Hình 4. Kết quả của SVM0 đến 5 với hai chỉ số xác định vị trí hư hỏng (Trang 3)
Hình 5. Sự thay đổi của các tần số dao động đầu tiên đối với vị trí hư hỏng - PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH HƯ HỎNG TRONG KẾT CẤU NHIỀU BẬC TỰ DO BẰNG THUẬT TOÁN MÁY HỖ TRỢ VÉC TƠ VÀ TẦN SỐ DAO ĐỘNG_TS. Hồ Thu Hiền, TS. Nguyễn Danh Thắng
Hình 5. Sự thay đổi của các tần số dao động đầu tiên đối với vị trí hư hỏng (Trang 4)
Hình 7. Kết quả của SVM0 đến 9 với ba tần số dao động theo phương - PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH HƯ HỎNG TRONG KẾT CẤU NHIỀU BẬC TỰ DO BẰNG THUẬT TOÁN MÁY HỖ TRỢ VÉC TƠ VÀ TẦN SỐ DAO ĐỘNG_TS. Hồ Thu Hiền, TS. Nguyễn Danh Thắng
Hình 7. Kết quả của SVM0 đến 9 với ba tần số dao động theo phương (Trang 5)
Hình  8  cho th ấy kết quả  của  phương  pháp  được  đề  nghị - PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH HƯ HỎNG TRONG KẾT CẤU NHIỀU BẬC TỰ DO BẰNG THUẬT TOÁN MÁY HỖ TRỢ VÉC TƠ VÀ TẦN SỐ DAO ĐỘNG_TS. Hồ Thu Hiền, TS. Nguyễn Danh Thắng
nh 8 cho th ấy kết quả của phương pháp được đề nghị (Trang 5)
Hình 8. Kết quả của SVM0 đến 9 với hai chỉ số xác định vị trí hư hỏng - PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH HƯ HỎNG TRONG KẾT CẤU NHIỀU BẬC TỰ DO BẰNG THUẬT TOÁN MÁY HỖ TRỢ VÉC TƠ VÀ TẦN SỐ DAO ĐỘNG_TS. Hồ Thu Hiền, TS. Nguyễn Danh Thắng
Hình 8. Kết quả của SVM0 đến 9 với hai chỉ số xác định vị trí hư hỏng (Trang 5)
Hình 9. (9a) Mô hình thực nghiệm, (9b) Cột cho trạng thái “khỏe mạnh” - PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH HƯ HỎNG TRONG KẾT CẤU NHIỀU BẬC TỰ DO BẰNG THUẬT TOÁN MÁY HỖ TRỢ VÉC TƠ VÀ TẦN SỐ DAO ĐỘNG_TS. Hồ Thu Hiền, TS. Nguyễn Danh Thắng
Hình 9. (9a) Mô hình thực nghiệm, (9b) Cột cho trạng thái “khỏe mạnh” (Trang 6)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w