1. Trang chủ
  2. » Kỹ Thuật - Công Nghệ

PHÂN TÍCH TĨNH VÀ DAO ĐỘNG TỰ DO CỦA TẤM COMPOSITE LAMINATE SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP PHẦN TỬ CHUYỂN ĐỘNG_Lương Văn Hải, Phạm Hùng

7 476 2

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 580,04 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong bài báo này, phương pháp phần tử chuyển động MEM (Moving Element Method) được phát triển nhằm phân tích ứng xử tĩnh và dao động tự nhiên của tấm composite laminate dựa trên lý thuyết biến dạng cắt bậc nhất. Tấm sẽ được chia nhỏ thành những “phần tử chuyển động”. Những phần tử này không phải chuyển động thật so với tấm đứng yên mà là chuyển động giả tưởng cùng với lực tác động di chuyển trên kết cấu tấm. Do đó, phương pháp này sẽ tránh được việc cập nhật vectơ tải trọng so với mô hình tấm truyền thống. Các phương trình chuyển động cũng như các ma trận của phần tử tấm được xây dựng trên một hệ trục tọa độ chuyển động với vận tốc không đổi. Các kết quả số trong phân tích tấm composite laminate cho thấy phương pháp MEM đạt độ tin cậy cao so với các kết quả khác đã được công bố trước đây.

Trang 1

PHÂN TÍCH TĨNH VÀ DAO ĐỘNG TỰ DO CỦA TẤM COMPOSITE LAMINATE SỬ

DỤNG PHƯƠNG PHÁP PHẦN TỬ CHUYỂN ĐỘNG STATIC AND FREE VIBRATION ANALYSIS OF LAMINATED COMPOSITE PLATES

USING MOVING ELEMENT METHOD

Lương Văn Hải, Phạm Hùng

TÓM TẮT

Trong bài báo này, phương pháp phần tử chuyển động MEM

(Moving Element Method) được phát triển nhằm phân tích ứng

xử tĩnh và dao động tự nhiên của tấm composite laminate dựa

trên lý thuyết biến dạng cắt bậc nhất Tấm sẽ được chia nhỏ

thành những “phần tử chuyển động” Những phần tử này không

phải chuyển động thật so với tấm đứng yên mà là chuyển động

giả tưởng cùng với lực tác động di chuyển trên kết cấu tấm Do

đó, phương pháp này sẽ tránh được việc cập nhật vectơ tải trọng

so với mô hình tấm truyền thống Các phương trình chuyển

động cũng như các ma trận của phần tử tấm được xây dựng trên

một hệ trục tọa độ chuyển động với vận tốc không đổi Các kết

quả số trong phân tích tấm composite laminate cho thấy phương

pháp MEM đạt độ tin cậy cao so với các kết quả khác đã được

công bố trước đây

Từ khóa: Phương pháp phần tử chuyển động, tấm composite

laminate, phân tích tĩnh, dao động tự do

ABSTRACT

This paper develops a recently new method, namely moving

element method (MEM), for predicting the static and free

vibration response of laminated composite plates based on the

first shear deformation theory In this method, the plate is

discretized into a number of elements called “the moving

elements” These moving elements are not physical elements

fixed to the plate, but are conceptual elements that “flow” with

the moving load through the plate Thus, the proposed method

eleminates the need of keeping track the location of moving

load relative to the element mesh The governing equations of

motion as well as structural matrices of moving element are

formulated in a relative coordinate system travelling at a

constant speed Numerical results for analysis of laminated

composite plates show that the MEM performs quite well

compared to several other published results in the literature

Keywords: Moving element method, composite laminate plate,

static analysis, free vibration

PGS TS Lương Văn Hải

Khoa Kỹ thuật Xây dựng, Trường Đại học Bách khoa – Đại học

Quốc Gia TP.HCM

Email: lvhai@hcmut.edu.vn

Điện thoại: 0944 282 090

KS Phạm Hùng

Học viên Cao học, Khoa Kỹ thuật Xây dựng, Trường Đại học

Bách khoa – Đại học Quốc Gia TP.HCM

1 Giới thiệu

Kể từ khi ngành khoa học về vật liệu composite ra đời, đã

có rất nhiều nghiên cứu được thực hiện để ứng dụng loại vật

liệu này trong xây dựng dựa trên mô hình phần tử dầm, tấm hay

vỏ Đặc biệt là những nghiên cứu về ứng xử của tấm composite

laminate dưới tác động của các loại tải trọng trên các loại nền thường được ứng dụng rộng rãi trong ngành xây dựng dân dụng

và cầu đường như: tính toán kết cấu móng, dầm, sàn của các tòa nhà; thiết kế, tính toán kết cấu áo đường giao thông hay sân bay,

Trên thế giới có rất nhiều nghiên cứu về phân tích ứng xử của kết cấu tấm composite laminate trong những thập kỷ gần đây Vào năm 1963, Thompson [1] đã nghiên cứu ứng xử của kết cấu đường chịu tải trọng di chuyển bằng cách giả định đường là tấm mỏng dài vô hạn tựa trên nền đàn hồi (resting elastic foundation) Kim và Roesset (1998) [2] đã nghiên cứu tấm vô hạn tựa trên nền đàn hồi Winkler chịu tải trọng di chuyển sử dụng phép biến đổi Fourier Wu và cộng sự (1987) [3] đã sử dụng phương pháp phần tử hữu hạn để phân tích ứng

xử của tấm phẳng chịu tải trọng di chuyển Pan và Atluri (1995) [4] đã phân tích ứng xử của đường băng có kích thước hữu hạn trên nền đàn hồi chịu tải trọng di chuyển sử dụng phương pháp FEM/BEM kết hợp Musharraf Zaman và cộng sự (1991) [5] đã

sử dụng phương pháp phần tử hữu hạn bốn nút để phân tích ứng

xử động của tấm dày trên nền đàn nhớt (viscoelastic foundation) chịu tải trọng di chuyển Như vậy, phương pháp phần tử hữu hạn FEM truyền thống đã được sử dụng phổ biến để giải quyết nhiều bài toán phức tạp Trong phương pháp này, tất cả các ma trận kết cấu sẽ được thực hiện trên một hệ trục tọa độ cố định Khi tải trọng di chuyển từ phần tử này sang phần tử khác thì vectơ tải trọng phải được cập nhật sau mỗi bước thời gian Do

đó, đối với những phần tử có chiều dài khác nhau thì việc tính toán lập trình sẽ khó khăn và mất thời gian Đồng thời, tải trọng

có thể tiến tới biên và vượt ra khỏi biên nên cần phải thiết lập điều kiện biên cập nhập Tất cả các nhược điểm trên được minh họa ở Hình 1

Để giải quyết những khó khăn của các phương pháp truyền thống gặp phải, việc phân tích ứng xử của tấm composite laminate dựa trên phương pháp phần tử chuyển động (Moving Element Method-MEM) đang là hướng nghiên cứu mới được quan tâm (thể hiện trên Hình 2) Người đi tiên phong của phương pháp này là Koh (2003) [6] đã đề xuất sử dụng phương pháp phần tử chuyển động trong việc khảo sát ứng xử động của tàu cao tốc Vào năm 2006, Koh và cộng sự [7] đã phát triển phương pháp phần tử chuyển động để phân tích ứng xử động của nền bán không gian đàn hồi dưới tác dụng của tải trọng di động Chen và Huang (2000) [8] đã xét một tải không đổi di chuyển với vận tốc không đổi dọc theo một dầm Timoshenko dài vô hạn trên nền đàn nhớt Các ma trận độ cứng động lực cho các dầm bán vô hạn thu được trong lúc số bước sóng phức tạp

và các hình dạng chuyển vị phức tạp Ngoài ra, Ang và cộng sự (2013) [9] đã phân tích động lực học của hệ thống tàu cao tốc trên nền đàn nhớt hai thông số Nghiên cứu này sử dụng phương pháp phần tử chuyển động trong việc khảo sát ứng xử động của tàu cao tốc Năm 2009, Xu và cộng sự [10] sử dụng phương pháp phần tử chuyển động để phân tích dao động ngẫu nhiên của tấm Kirchhoff trên nền Kelvin chịu tải trọng di động sử dụng phần tử tứ giác

Trang 2

Hình 1 Mô hình phương pháp FEM

Hình 2 Mô hình phương pháp MEM

Trong bài báo này, phương pháp MEM được sử dụng để

phân tích tĩnh và dao động tự do của tấm composite laminate

tựa trên nền đàn hồi chịu các loại tải trọng Các phương trình

chuyển động của tấm, các ma trận kết cấu cũng được thiết lập

trong hệ tọa độ tương đối chuyển động cùng vận tốc của lực

Mô hình tấm đặt trên nền đàn hồi và tấm không đặt trên nền

được khảo sát để xét ảnh hưởng của nền Đồng thời, các thông

số như tỉ số module đàn hồi, tỉ số cạnh/bề dày và các dạng dao

động ảnh hưởng đến tần số dao động tự nhiên của kết cấu tấm

cũng được phân tích Các kết quả thu được sẽ là tài liệu hữu ích

cho việc nghiên cứu và thiết kế các kết cấu tấm composite

laminate trong thực tiễn

2 Cơ sở lý thuyết

Xét tấm composite laminate chịu biến dạng uốn bởi các lực

vuông góc với mặt phẳng tấm, hệ trục tọa độ Oxyz được chọn

sao cho mặt phẳng tọa độ Oxy trùng với mặt trung bình

2

R

Ω ⊂ và trục z vuông góc với mặt phẳng tấm Theo lý

thuyết biến dạng cắt bậc nhất (Reddy, 1997 [11]), trường

chuyển vị tại một điểm bất kỳ trong tấm được biểu diễn thông

qua trường chuyển vị tại điểm tương ứng trên mặt trung hòa

như sau:

( , ) , ,

2 2

h h

u x y z u x y z x y

v x y z v x y z x y

w x y z w x y

β

β ∈ Ω ∈ −

=

trong đó u , v , w là các thành phần chuyển vị theo phương x, y,

z; β βx, y lần lượt là các góc xoay của pháp tuyến của mặt trung

hòa quanh trục Oy và Ox của hệ tọa độ địa phương với quy

ước chiều dương cho ở Hình 3, Ω là mặt trung hòa của tấm và

h là bề dày của tấm

Hình 3 Quy ước chiều dương của chuyển vị u , v , w và 2

chuyển vị xoay ,β βx y của tấm composite laminate

Phần tử tứ giác 9 nút ( )Q9 được sử dụng trong nghiên cứu

này Tất cả các phần tử đều được gắn vào hệ trục cố định ( )x y,

và được đánh số từ 1-9 như được thể hiện trên Hình 4

Hình 4 Phần tử Q9 trong tọa độ vuông góc (tổng thể) Tất cả các phần tử Q9 trong tọa độ thông thường được quy

về hệ tọa độ tự nhiên ( ξ η, ) như Hình 5

Hình 5 Phần tử Q9 trong tọa độ tự nhiên Các hàm dạng của phần tử Q9 trong hệ tọa độ tự nhiên được cho bởi (Ghafoori, 2010 [12]):

9

1

1 1 2

N

ξ η

= − −

(2)

Bằng cách sử dụng các hàm dạng, vectơ chuyển vị tại một điểm bất kì T

u v w β β

u sẽ được nội suy từ hàm dạng và chuyển vị của các nút

trong đó N là ma trận các hàm dạng chuyển vị và được xác định bởi:

=

d là vectơ chuyển vị nút:

Trang 3

[u01 v01 w01 βx1 βy1 u09 v09 w09 βx9 βy9]T

=

Biến dạng của tấm bao gồm biến dạng màng, uốn và biến

dạng cắt Các thành phần biến dạng này được cho bởi các công

thức sau:

0 , y y, y

0 , y 0 , x x, y y,

u

,

,

xz

s

w

w

β γ

+

+

 

Trong lý thuyết tấm trực hướng, ứng suất tại lớp thứ k được

đưa ra từ định luật Hook:

21 22 26

61 62 66

55 54

45 44

0 0

0 0

0 0

0 0 0

0 0 0

=

(6)

trong đó các hằng số vật liệu được tính như sau:

12 21 12 21 12 21

66 12 55 13 44 23 16 26 45

(7)

Quan hệ ứng suất biến dạng của tấm tại lớp thứ k (lớp bất

kỳ so với mặt phẳng tham chiếu) có dạng:

21 22 26

61 62 66

55 54

45 44

0 0

0 0

0 0

0 0 0

0 0 0

=

(8)

trong đó Qij là hằng số vật liệu biến đổi của lớp thứ k (Reddy,

1997 [11])

Phương trình dạng yếu Galerkin cho phân tích ứng xử động

lực học của tấm composite laminate trên nền đàn nhớt có dạng:

u q



(9)

trong đó εp = [ εm κ ]; q = [ 0 0 q x y ( , ) 0 0 ]T, với

( , )

gồm khối lượng riêng ρ và bề dày h của tấm

h iag

ρ

=

D, Ds là ma trận hằng số vật liệu được cho bởi:

2

/ 2

5

6

h

mb b

Q dz i j

trong đó:

1

1

1

1

1

1

2 1

3

k

k

k

k

k

k

z

z

z

+

+

+

+

+

+

D

D

D

(12)

Chuyển vị đứng w được nội suy từ chuyển vị nút phần tử:

w

trong đó Nw là ma trận chứa các hàm dạng

[0 0 1 0 0 0 0 9 0 0]

Giả sử tải trọng di động theo phương x với vận tốc không

đổi V Bằng cách sử dụng phương pháp MEM, một hệ tọa độ

( )r s, gắn liền với tải trọng di động được thiết lập Mối quan hệ giữa hai trục tọa độ được xác định như sau:

r = − x Vt (15)

trong đó ( )x y, lần lượt là hệ tọa độ cố định; ( )r s, lần lượt là

hệ tọa độ chuyển động; V và t lần lượt là vận tốc và thời gian

di chuyển của tải

Khi đó trường chuyển vị và các đạo hàm riêng trong hệ tọa

độ chuyển động được biểu diễn như sau:

( )x t, ( )r t, ( )r t,

V

2

2

u

( ), ( ), ( ),

w x t w r t w r t

2

2

trong đó

T

T

   

Tại thời điểm t , miền bài toán trong hệ tọa độ cố định là

Ω = + × Tuy nhiên, trong hệ tọa độ chuyển động ( )r s, thì miền này là Ω =[0 a] [× 0 b], trong đó ,

a b là kích thước tấm, và dΩ =dr×ds Sau khi biến đổi hệ trục tọa độ, phương trình (11) được viết lại:

,

2 1

2

T

d

N mN

(21)

Từ phương trình (23), các ma trận khối lượng, ma trận cản,

ma trận độ cứng của phần tử tấm và vectơ tải trọng lần lượt được cho bởi:

Trang 4

=∫ Ω

,

= −∫ Ω +∫ Ω

2

(24)

T d

trong đó ( ),rlà đạo hàm bậc nhất theo r và ( ),rr là đạo hàm

bậc hai theo r

Sau khi tổng hợp các ma trận kết cấu và vectơ tải trọng cho

toàn bộ tấm, phương trình động lực học của hệ trên có dạng:

trong đó M , C và K lần lượt là các ma trận khối lượng, cản

và độ cứng tổng thể của hệ và P là vectơ tải trọng tổng thể của

hệ

Phương trình phân tích tĩnh của tấm composite laminate cho

bởi:

=

trong đó vectơ tải trọng được xác định :

T

d

Tấm dao động với tần số ϖ thì phương trình cân bằng trở

thành

0 ω

Giải hai phương trình (29) và (31) ta thu được bài toán tĩnh

và dao động tự do của hệ

3 Các ví dụ số

Để chứng minh sự tin cậy của phương pháp được đề xuất,

các ví dụ số về phân tích tĩnh và dao động tự do sẽ lần lượt

được thực hiện thông qua việc so sánh với các phương pháp

khác sử dụng các phần tử như CS-DSG3 (phương pháp phần tử

tam giác hữu hạn trơn), FEM-9 (FEM sử dụng phần tử tứ giác 9

nút) và các kết quả khác đã được công bố trước đây

3.1 Phân tích tĩnh

Trong phân tích này, mô hình tấm vuông composite

laminate tựa và không tựa trên nền đàn hồi với điều kiện biên là

tựa đơn 4 cạnh (S-S-S-S) và ngàm 4 cạnh (C-C-C-C) được khảo

sát

3.1.1 Tấm vuông chịu tải hình sin và phân bố đều

Kết cấu tấm vuông với biên tựa có các kích thước như sau: cạnh

a và bề dày h Vật liệu cấu tạo tấm là M1 thể hiện ở Bảng 1

Tấm chịu tác dụng của tải hình sin (SSL) và tải phân bố đều

(UDL) với q0=1N/m tại giữa tấm Có 2 loại tấm được khảo sát

là tấm 3 lớp (00/900/00), 4 lớp (00/900/900/00) Kết cấu tấm sẽ

được chia thành phần tử có kích thước NxN với N=16

Tải phân bố hình sin (SSL) Tải phân bố đều (UDL)

Hình 6 Mô hình tấm tựa đơn 4 cạnh

Bảng 1 Thông số vật liệu tấm Module Loại vật liệu

M1 M2 M3

E11 (GPa) 25.0 40.0 20.0

E22 (GPa) 1.0 1.0 1.0

G12 (GPa) 0.5 0.6 0.6

G13 (GPa) 0.5 0.6 0.6

G23 (GPa) 0.2 0.5 0.5

12 23 13

ν =ν =ν 0.25 0.25 0.25 Bảng 2 thể hiện kết quả chuyển vị tại tâm tấm thu được bằng phương pháp phần tử chuyển động MEM9, được so sánh với kết quả của phương pháp CS-DSG3 và các kết quả đã được công bố trong các bài báo Hình 7 và Hình 8 cho thấy kết quả của phương pháp MEM là gần như trùng khớp với kết quả của Reddy (1997) [11] Chứng tỏ phương pháp phần tử chuyển động MEM là đáng tin cậy Ngoài ra, việc sử dụng phần tử tứ giác 9 nút giúp cho phân tích đạt độ chính xác rất cao

Bảng 2 Độ võng không thứ nguyên tại tâm của tấm

( )

2

100 /

Góc

Kết quả thực

FEM-T3

FEM-Q4 Tải hình sin (SSL)

00/900/00

00/900/900/00

Tải phân bố (UDL)

00/900/00

00/900/900/00

Hình 7 So sánh độ võng không thứ nguyên *

w giữa các phương pháp (tải phân bố hình sin SSL)

Trang 5

Hình 8 So sánh độ võng không thứ nguyên *

w giữa các phương pháp (tải phân bố đều UDL)

3.1.2 Tấm vuông chịu tải tập trung

Kết cấu tấm vuông với biên ngàm có các kích thước như

sau: cạnh a=20m và bề dày h=0.5m Vật liệu cấu tạo tấm là

M3 thể hiện ở Bảng 1, khối lượng riêng tấm ρ=2550kg/m3

Tấm chịu tác dụng của tải tập trung P=1000N tại giữa tấm

Có 3 loại tấm được khảo sát là tấm 3 lớp (00/900/00), 4 lớp

(00/900/900/00) và 5 lớp (00/900/00/900/00) Kết cấu tấm sẽ được

chia thành các phần tử có kích thước N×Nvới

8,10,12,14,16, 20

Hình 9 thể hiện sự hội tụ của chuyển vị tại điểm đặt lực với các

lưới chia phần tử của kết cấu tấm Có thể nhận thấy rằng khi

lưới càng được chia mịn thì các các phương pháp khác nhau cho

nghiệm chuyển vị càng gần nhau và nghiệm dần tiến tới hội tụ

Cũng từ kết quả này cho thấy nghiệm của MEM và FEM-9 là

hoàn toàn giống nhau vì cùng sử dụng phần tử tứ giác 9 nút

Đồng thời từ Hình 9 ta thấy rằng sự hội tụ của phương pháp

MEM nhanh hơn phương pháp CS-DSG3 vì MEM sử dụng

phần tử có số nút lớn hơn

Hình 9 Chuyển vị của tấm 5 lớp theo các mức lưới phần tử

Ngoài ra, dựa vào kết quả chuyển vị của từng dạng tấm

trong Hình 10 cho thấy: tấm có cùng bề dày h và cấu tạo bởi

cùng loại vật liệu nhưng tấm có nhiều lớp hơn thì độ võng cũng

như chuyển vị ở tâm tấm cũng nhỏ hơn Nguyên nhân là khi các

lớp tấm có các hướng sợi khác nhau được ghép đan xen với

nhau thì sự liên kết các phần tử giữa các lớp tấm càng trở nên

chặt chẽ hơn và khăng khít hơn, tạo nên một kết cấu tổng thể

vững chắc và khó bị phá vỡ hơn

Hình 10 Chuyển vị của 3 loại tấm với mức lưới phần tử 20x20

3.1.3 Tấm vuông chịu tải tập trung trên nền đàn hồi

Trong bài toán này, thông số tấm vẫn được sử dụng tương tự

Ví dụ 3.1.2 và có thêm hệ số nền đàn hồi 7 3

10 N/m

f

Hình 11 thể hiện chuyển vị của tấm tại điểm đặt lực Tương

tự như kết quả đạt được từ Ví dụ 3.1.2, khi tấm đặt trên nền đàn hồi thì phương pháp MEM trùng khớp với các phương pháp FEM-9 vì đều cùng sử dụng phần tử tứ giác 9 nút

Hình 12 thể hiện sự so sánh chuyển vị tại điểm đặt lực giữa tấm đặt trên nền đàn hồi và tấm không đặt trên nền đàn hồi Ta thấy rằng chuyển vị tấm trên nền đàn hồi nhỏ hơn tấm không

trên nền đàn hồi 4.39 lần, chuyển vị giảm từ -3.29x10-5

m xuống còn -0.75x10-5m Khảo sát trên cho thấy được ảnh hưởng quan trọng của hệ nền đối với ứng xử của tấm khi chịu tải trọng bên ngoài tác dụng Kết quả này có thể áp dụng trong thực tế thiết

kế và thi công: muốn giảm ứng xử của tấm thì ta cần phải gia cố nền với độ cứng thích hợp

Hình 11 Chuyển vị tấm tại điểm đặt lực

Hình 12 So sánh giữa chuyển vị tại điểm đặt lực của tấm trên nền đàn hồi và tấm không đặt trên nền đàn hồi

3.2 Phân tích dao động tự do

Trong mục này, việc khảo sát tính chính xác và sự hữu dụng của phương pháp MEM trong việc phân tích tần số dao động tự nhiên của kết cấu tấm được thực hiện Hai điều kiện biên được

áp dụng cho tấm là bốn biên tựa đơn (S-S-S-S) và bốn biên ngàm (C-C-C-C) Tấm được chia với nhiều hệ lưới khác nhau Kết quả của phương pháp MEM sẽ được so sánh với phương

Trang 6

pháp khác sử dụng các phần tử như FEM-9 và kết quả được

công bố trong bài báo của tác giả Reddy (1997) [11] và phương

pháp p-Ritz [13] Đồng thời việc phân tích ảnh hưởng của tỉ số

module E 1 /E 2 , tỉ số chiều dài/bề dày của tấm đến tần số dao

động tự nhiên của tấm cũng được thực hiện

3.2.1 Sự ảnh hưởng của tỉ số module E 1 /E 2 đến tần số

dao động tự nhiên

Tấm composite laminate 4 lớp (00/900/900/00) tựa đơn bốn

cạnh (SS-SS-SS-SS) được khảo sát Thông số của tấm

/ 5

a h= , vật liệu cấu tạo tấm là M2 thể hiện ở Bảng 1 Tỉ số

module E 1 /E 2 thay đổi từ 10, 20 đến 40 Kết cấu tấm sẽ được

chia thành các phần tử có kích thước N×Nvới

7, 9,11,13,15

N= để khảo sát trong bài toán

Bảng 3 thể hiện kết quả tần số dao động thứ nhất giữa các

phương pháp Phương pháp MEM cho lời giải hoàn toàn giống

với FEM-9 và lời giải chính xác của Reddy (1997) [11] Điều

này chứng tỏ rằng phương pháp MEM tỏ ra hiệu quả trong việc

phân tích tần số dao động tự nhiên của kết cấu tấm

Bảng 3 Bảng so sánh tần số dao động không thứ nguyên

( )

2

ω = ω ρ giữa các phương pháp

Phương pháp Chia lưới E 1 /E 2

10 20 40 MEM9 7x7 8.2990 9.5679 10.8546

9x9 8.2985 9.5674 10.8542 11x11 8.2983 9.5672 10.8541 13x13 8.2982 9.5672 10.8540 15x15 8.2982 9.5671 10.8540 FEM9 15x15 8.2982 9.5671 10.8540

ES-DSG3 8.3295 9.5849 10.8465

MISQ20 8.3094 9.5698 10.8471

MLSDQ 8.2924 9.5613 10.8490

RBF 8.3101 9.5801 10.8640

Giải tích

(Reddy) 8.2982 9.5671 10.8540

Hình 13 Sự ảnh hưởng tỉ số E 1 /E 2 trong phương pháp MEM so

với kết quả giải tích của Reddy

Đồng thời từ Hình 13 cho thấy nếu tỉ số E 1 /E 2càng lớn thì

sự hội tụ của tần số dao động tự nhiên càng chính xác và khi

lưới được chia càng mịn thì phương pháp MEM càng cho lời

giải tiến đến gần lời giải chính xác đưa ra trong bài báo của

Reddy (1997) [11] Vì lưới càng mịn thì các phần tử sẽ được

chia nhỏ hơn và khả năng liên kết các phần tử cũng trở nên chặt chẽ hơn giúp cho mô hình càng gần với kết cấu ở ngoài thực tế

3.2.2 Sự ảnh hưởng của tỉ số cạnh và bề dày tấm đến tần

số dao động tự nhiên

Trong bài toán này, thông số tương tự như Ví dụ 3.2.1 với tỉ

số module E 1 /E 2=40 Tiến hành khảo sát tần số dao động tự

nhiên của tấm theo sự thay đổi tỉ số cạnh và bề dày tấm a/h

(thay đổi từ 5, 10, 20, 25, 50, 100) với mức lưới phần tử khảo sát là 15x15 Bảng 4 và Hình 14 thể hiện tần số dao động tự nhiên không thứ nguyên ứng với tỉ số cạnh và bề dày tấm là a/h

khác nhau Kết quả thu được cho thấy rằng kết quả sử dụng phương pháp MEM rất gần với kết quả của p-Ritz với sai số rất nhỏ 0.03% thể hiện qua Hình 15

Bảng 4 Tấm composite laminate (00/900/900/00): tần số dao động không thứ nguyên * ( 2 )

2

Phương pháp

a/h

5 10 20 25 50 100 MEM9 10.85 15.14 17.66 18.07 18.68 18.84 ES-DSG3 10.85 15.14 17.65 18.06 18.66 18.82 MISQ20 10.85 15.17 17.72 18.14 18.75 18.92 HSDT 10.99 15.27 17.67 18.05 18.46 18.76 p-Ritz 10.86 15.14 17.66 18.07 18.67 18.84 RBF 10.81 15.10 17.63 18.05 18.66 18.82 HOIL

theory 10.67 15.07 17.54 18.05 18.67 18.84 Local

theory 10.68 15.07 17.64 18.06 18.67 18.84 Global

theory 10.69 15.07 17.64 18.06 18.67 18.84

Hình 14 So sánh tần số dao động không thứ nguyên ω* giữa

các phương pháp

Hình 15 Sai số của tần số dao động không thứ nguyên ω* các

phương pháp đối với phương pháp p-Ritz Đồng thời, kết quả trên Hình 14 còn cho thấy nếu tấm càng mỏng thì dao động tự nhiên của tấm càng lớn và điều này hoàn toàn phù hợp với thực tế khảo sát

Trang 7

3.2.3 Khảo sát các dạng dao động của tấm

Trong bài toán này, tấm composite laminate 3 lớp

(00/900/00) biên ngàm bốn cạnh (C-C-C-C) được khảo sát

Thông số vật liệu tương tự Ví dụ 3.2.1, tỉ số module E 1 /E 2=40,

tỉ số a/h =10 Tấm được khảo sát trong bài toán có hệ lưới phần

tử 15x15 Tần số các dạng dao dộng được so sánh với phương

pháp p-Ritz [13] để chứng tỏ tính đúng đắn của MEM

Bảng 5 thể hiện tần số dao động tự nhiên ứng với 5 mode

dao động đầu tiên của phương pháp MEM và các phương pháp

đã công bố Kết quả thu được cho thấy kết quả sử dụng phương

pháp MEM rất gần với kết quả của p-Ritz (sai số ở mode 5 là

0.47%) Điều này chứng tỏ tính chính xác của MEM trong phân

tích dao động tự do Các dạng dao động của tấm với các tần số

dao động tự nhiên khác nhau được thể hiện trong Hình 16

Bảng 5 Các tần số dao động tự nhiên của tấm biên ngàm

C-C-C-C (a/h =10)

Phương pháp Modes

1 2 3 4 5 MEM9 7.44 10.43 13.99 15.49 15.88

ES-DSG3 7.48 10.65 14.08 16.00 16.35

p-Ritz 7.41 10.39 13.91 15.43 15.81

Global-local theory 7.48 10.21 14.34 14.86 16.07

Galerkin method 7.45 10.45 13.99 15.53 15.90

MLSDQ 7.43 10.40 13.96 15.47 15.84

Hình 16 Hình dáng 6 dạng dao động đầu tiên của tấm biên

ngàm với a/h =10

4 Kết luận

Trong bài báo này việc phân tích ứng xử tĩnh và dao động tự

nhiên của tấm composite laminate sử dụng phương pháp phần

tử chuyển động MEM đã được thực hiện Thông qua các kết

quả nghiên cứu, một số kết luận quan trọng có thể rút ra như

sau:

 Phương pháp MEM có tính khả thi cao trong việc phân tích

tĩnh và dao động tự do của kết cấu tấm composite laminate

Các kết quả thu được từ MEM đã được kiểm chứng với

FEM và các kết quả đã công bố

 Phương pháp MEM cho nghiệm chính xác và hội tụ nhanh

hơn so với phương pháp FEM truyền thống hay phương

pháp CS-DSG3

LỜI CẢM ƠN

Nghiên cứu được tài trợ bởi Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh (ĐHQG-HCM) trong khuôn khổ Đề tài mã số C2015-20-17: “Phân tích động lực học tấm trên nền đàn nhớt chịu tải trọng di động sử dụng phần tử 2-D chuyển động ”

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Thompson WE, “Analysis of dynamic behavior of roads

subject to longitudinally moving loads”, HRB, vol.39, pp

1-24, 1963

2 Kim SM, Roesset JM, “Moving loads on a plate on elastic

foundation”, Journal of Engineering Mechanics, vol 124,

pp 1010–1017, 1998

3 Wu JS, Lee ML, Lai TS, “The dynamic analysis of a flat plate under a moving load by the finite element method”,

International Journal for Numerical Methods in Engineering, vol.24, pp.743–762, 1987

4 Pan G, Atluri SN, “Dynamic response of finite sized elastic runways subjected to moving loads: a coupled BEM/FEM

approach”, International Journal for Numerical Methods in Engineering, vol 38, pp 3143–3167, 1995

5 Zaman M, Taheri MR, Alvappillai A, “Dynamic response of

a thick plate on viscoelastic foundation to moving loads”,

International Journal for Numerical and Analytical Methods

in Geomechanics, vol 15, pp 627-647, 1991

6 C G Koh, J S Y Ong, D K H Chua and J Feng,

“Moving element method for train-track dynamics”,

International Journal for Numerical Methods in

7 C.G Koh, G.H Chiew, C.C Lim “A numerical method for

moving load on contiuum”, International Journal of Mechanical Sciences, vol 300, pp 126-138, July.2006

8 Chen YH, Huang YH, “Dynamic stiffness of infinite Timoshenko beam on viscoelastic foundation in moving

coordinate”, International Journal for Numerical Methods

9 Tran Minh Thi, Ang Kok Keng, and Luong Van Hai (2013) Dynamic analysis of high-speed rail system on

two-parameter elastic damped foundation International Conference on Advanced Computing and Applications ACOMP, 23-25/10/2013, Ho Chi Minh City , Vietnam

10 W.T Xu, J.H Lin, Y.H Zhang, D Kennedy and F.W Williams, “2D moving element method for random vibration analysis of vehicles on Kirchho plate with Kelvin

foundation”, Latin American Journal of Solids and

11 Reddy JN, “Mechanics of laminated composite plates –

Theory and Analysis”, New York: CRC Press, 1997

12 E Ghafoori, M Asghari “Dynamic analysis of laminated composite plates traversed by a moving mass based on a

first order theory”, Composite structure, vol 92, pp

1865-1867, 2010

13 H H Phan Dao, H Nguyen Xuan, C Thai Hoang and T Nguyen Thoi, “An Edge-Based Smoothed Finite Element

Method for Analysis of Laminated Composite Plates”, International Journal of Computational Methods, vol 10,

No.1, 2013

Ngày đăng: 11/12/2016, 22:22

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1. Mô  hình phương pháp FEM - PHÂN TÍCH TĨNH VÀ DAO ĐỘNG TỰ DO CỦA TẤM COMPOSITE LAMINATE SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP PHẦN TỬ CHUYỂN ĐỘNG_Lương Văn Hải, Phạm Hùng
Hình 1. Mô hình phương pháp FEM (Trang 2)
Hình 2. Mô  hình phương pháp MEM - PHÂN TÍCH TĨNH VÀ DAO ĐỘNG TỰ DO CỦA TẤM COMPOSITE LAMINATE SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP PHẦN TỬ CHUYỂN ĐỘNG_Lương Văn Hải, Phạm Hùng
Hình 2. Mô hình phương pháp MEM (Trang 2)
Hình 3. Quy  ước chiều dương của chuyển vị  u , v ,  w  và 2 - PHÂN TÍCH TĨNH VÀ DAO ĐỘNG TỰ DO CỦA TẤM COMPOSITE LAMINATE SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP PHẦN TỬ CHUYỂN ĐỘNG_Lương Văn Hải, Phạm Hùng
Hình 3. Quy ước chiều dương của chuyển vị u , v , w và 2 (Trang 2)
Hình 5 . Phần tử  9 Q trong tọa độ tự nhiên  Các  hàm  dạng  của  phần  tử  9Q trong  hệ  tọa  độ  tự  nhiên  được cho bởi (Ghafoori, 2010 [12]): - PHÂN TÍCH TĨNH VÀ DAO ĐỘNG TỰ DO CỦA TẤM COMPOSITE LAMINATE SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP PHẦN TỬ CHUYỂN ĐỘNG_Lương Văn Hải, Phạm Hùng
Hình 5 Phần tử 9 Q trong tọa độ tự nhiên Các hàm dạng của phần tử 9Q trong hệ tọa độ tự nhiên được cho bởi (Ghafoori, 2010 [12]): (Trang 2)
Bảng  2.  Độ  võng  không  thứ  nguyên  tại  tâm  của  tấm - PHÂN TÍCH TĨNH VÀ DAO ĐỘNG TỰ DO CỦA TẤM COMPOSITE LAMINATE SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP PHẦN TỬ CHUYỂN ĐỘNG_Lương Văn Hải, Phạm Hùng
ng 2. Độ võng không thứ nguyên tại tâm của tấm (Trang 4)
Hình 6. Mô  hình tấm tựa đơn 4 cạnh - PHÂN TÍCH TĨNH VÀ DAO ĐỘNG TỰ DO CỦA TẤM COMPOSITE LAMINATE SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP PHẦN TỬ CHUYỂN ĐỘNG_Lương Văn Hải, Phạm Hùng
Hình 6. Mô hình tấm tựa đơn 4 cạnh (Trang 4)
Bảng 1. Thông số vật liệu tấm - PHÂN TÍCH TĨNH VÀ DAO ĐỘNG TỰ DO CỦA TẤM COMPOSITE LAMINATE SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP PHẦN TỬ CHUYỂN ĐỘNG_Lương Văn Hải, Phạm Hùng
Bảng 1. Thông số vật liệu tấm (Trang 4)
Hình 7. So  sánh độ võng không thứ nguyên  w * giữa các  phương pháp (tải phân bố hình sin SSL) - PHÂN TÍCH TĨNH VÀ DAO ĐỘNG TỰ DO CỦA TẤM COMPOSITE LAMINATE SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP PHẦN TỬ CHUYỂN ĐỘNG_Lương Văn Hải, Phạm Hùng
Hình 7. So sánh độ võng không thứ nguyên w * giữa các phương pháp (tải phân bố hình sin SSL) (Trang 4)
Hình 13. Sự ảnh hưởng tỉ số  E 1 /E 2  trong  phương pháp MEM so - PHÂN TÍCH TĨNH VÀ DAO ĐỘNG TỰ DO CỦA TẤM COMPOSITE LAMINATE SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP PHẦN TỬ CHUYỂN ĐỘNG_Lương Văn Hải, Phạm Hùng
Hình 13. Sự ảnh hưởng tỉ số E 1 /E 2 trong phương pháp MEM so (Trang 6)
Bảng 3 thể hiện kết quả tần số dao động thứ nhất giữa các - PHÂN TÍCH TĨNH VÀ DAO ĐỘNG TỰ DO CỦA TẤM COMPOSITE LAMINATE SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP PHẦN TỬ CHUYỂN ĐỘNG_Lương Văn Hải, Phạm Hùng
Bảng 3 thể hiện kết quả tần số dao động thứ nhất giữa các (Trang 6)
Hình 14. So sánh  tần số dao động không thứ nguyên  ω * giữa - PHÂN TÍCH TĨNH VÀ DAO ĐỘNG TỰ DO CỦA TẤM COMPOSITE LAMINATE SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP PHẦN TỬ CHUYỂN ĐỘNG_Lương Văn Hải, Phạm Hùng
Hình 14. So sánh tần số dao động không thứ nguyên ω * giữa (Trang 6)
Bảng 3.  Bảng so sánh tần số dao động không thứ nguyên - PHÂN TÍCH TĨNH VÀ DAO ĐỘNG TỰ DO CỦA TẤM COMPOSITE LAMINATE SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP PHẦN TỬ CHUYỂN ĐỘNG_Lương Văn Hải, Phạm Hùng
Bảng 3. Bảng so sánh tần số dao động không thứ nguyên (Trang 6)
Bảng 4.  Tấm composite laminate (0 0 /90 0 /90 0 /0 0 ):  tần số dao  động không thứ nguyên  ω * = ( ω a 2 / h ) ρ / E 2 - PHÂN TÍCH TĨNH VÀ DAO ĐỘNG TỰ DO CỦA TẤM COMPOSITE LAMINATE SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP PHẦN TỬ CHUYỂN ĐỘNG_Lương Văn Hải, Phạm Hùng
Bảng 4. Tấm composite laminate (0 0 /90 0 /90 0 /0 0 ): tần số dao động không thứ nguyên ω * = ( ω a 2 / h ) ρ / E 2 (Trang 6)
Bảng 5 thể hiện tần số dao động tự nhiên ứng với 5 mode - PHÂN TÍCH TĨNH VÀ DAO ĐỘNG TỰ DO CỦA TẤM COMPOSITE LAMINATE SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP PHẦN TỬ CHUYỂN ĐỘNG_Lương Văn Hải, Phạm Hùng
Bảng 5 thể hiện tần số dao động tự nhiên ứng với 5 mode (Trang 7)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm