1.Tính cấp thiết của đề tài Đường lối đổi mới toàn diện của Đảng Cộng sản Việt Nam đã và đang đi vào cuộc sống, xã hội nước ta đang ở vào một thời kỳ mới có ý nghĩa rất trọng đại trong toàn bộ lịch sử dân tộc, đó là thời kỳ công nghiệp hóa hiện đại hóa xã hội chủ nghĩa. Đây là quá trình lịch sử sẽ đưa nhân dân ta, dân tộc ta thoát khỏi đói nghèo và lạc hậu, đồng thời là quá trình rất khó khăn và có nhiều thách thức lớn. Nó tiếp tục đặt ra và đòi hỏi phải giải đáp nhiều vấn đề quan trọng và cấp bách cả về thực tiễn và lý luận, nhằm làm sáng tỏ hơn nữa con đường phát triển chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Qua 25 năm đổi mới nước ta đã đạt được nhiều kết quả tốt đẹp, nhưng việc vận dụng học thuyết hình thái kinh tế xã hội cộng sản chủ nghĩa cũng còn có những sai lầm, hạn chế. Những sai lầm, hạn chế đó là do nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân về nhận thức. Do trình độ nhận thức về học thuyết còn hạn chế, thậm chí còn lệch lạc ở một số vấn đề cụ thể, mặt khác do sự vận dụng còn mang tính giáo điều, thiếu sáng tạo, chưa phản ánh đầy đủ hoàn cảnh lịch sử cụ thể của đất nước, vì thế dẫn đến những sai lầm trong thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội, ảnh hưởng tiêu cực tới tiến trình phát triển của đất nước. Muốn đưa đất nước tiến lên chủ nghĩa xã hội phải đổi mới nhận thức, phải vận dụng sáng tạo học thuyết vào trong điều kiện cụ thể của Việt Nam và đặc điểm mới của thời đại. Đặc biệt là từ sau khi chủ nghĩa xã hội hiện thực ở một số nước tan rã sụp đổ thì học thuyết Mác Lênin nói chung, học thuyết hình thái kinh tế xã hội nói riêng đang bị xuyên tạc và công kích từ nhiều phía. Các phần tử cơ hội dưới mọi màu sắc, tìm cách phủ nhận học thuyết. Có những người trong cán bộ, đảng viên cũng tỏ ra nghi ngờ, kém tin tưởng ở sức sống của học thuyết, do dự trong việc vận dụng học thuyết vào thực tiễn…Vì vậy việc khẳng định những giá trị khoa học đích thực của học thuyết, từ đó mà có phương hướng vận dụng đúng đắn và sáng tạo vào trong thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội là vấn đề đang đặt ra. Xuất phát từ nhận thức trên, em mạnh dạn chọn đề tài “Sự vận dụng hình thái kinh tế xã hội Cộng sản chủ nghĩa của Đảng ta trong công cuộc đổi mới hiện nay ở Việt Nam” làm đề tài tiểu luận tốt nghiệp cử nhân triết học của mình.
Trang 1A MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Đường lối đổi mới toàn diện của Đảng Cộng sản Việt Nam đã và đang
đi vào cuộc sống, xã hội nước ta đang ở vào một thời kỳ mới có ý nghĩa rất
trọng đại trong toàn bộ lịch sử dân tộc, đó là thời kỳ công nghiệp hóa hiệnđại hóa xã hội chủ nghĩa Đây là quá trình lịch sử sẽ đưa nhân dân ta, dân tộc
ta thoát khỏi đói nghèo và lạc hậu, đồng thời là quá trình rất khó khăn và cónhiều thách thức lớn Nó tiếp tục đặt ra và đòi hỏi phải giải đáp nhiều vấn đềquan trọng và cấp bách cả về thực tiễn và lý luận, nhằm làm sáng tỏ hơn nữacon đường phát triển chủ nghĩa xã hội ở nước ta
Qua 25 năm đổi mới nước ta đã đạt được nhiều kết quả tốt đẹp, nhưngviệc vận dụng học thuyết hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa cũngcòn có những sai lầm, hạn chế Những sai lầm, hạn chế đó là do nhiềunguyên nhân, trong đó có nguyên nhân về nhận thức Do trình độ nhận thức
về học thuyết còn hạn chế, thậm chí còn lệch lạc ở một số vấn đề cụ thể, mặtkhác do sự vận dụng còn mang tính giáo điều, thiếu sáng tạo, chưa phản ánhđầy đủ hoàn cảnh lịch sử cụ thể của đất nước, vì thế dẫn đến những sai lầmtrong thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội, ảnh hưởng tiêu cực tới tiến trìnhphát triển của đất nước Muốn đưa đất nước tiến lên chủ nghĩa xã hội phảiđổi mới nhận thức, phải vận dụng sáng tạo học thuyết vào trong điều kiện cụthể của Việt Nam và đặc điểm mới của thời đại
Đặc biệt là từ sau khi chủ nghĩa xã hội hiện thực ở một số nước tan rãsụp đổ thì học thuyết Mác - Lênin nói chung, học thuyết hình thái kinh tế - xãhội nói riêng đang bị xuyên tạc và công kích từ nhiều phía Các phần tử cơhội dưới mọi màu sắc, tìm cách phủ nhận học thuyết Có những người trong
Trang 2cán bộ, đảng viên cũng tỏ ra nghi ngờ, kém tin tưởng ở sức sống của họcthuyết, do dự trong việc vận dụng học thuyết vào thực tiễn…Vì vậy việckhẳng định những giá trị khoa học đích thực của học thuyết, từ đó mà cóphương hướng vận dụng đúng đắn và sáng tạo vào trong thực tiễn xây dựngchủ nghĩa xã hội là vấn đề đang đặt ra.
Xuất phát từ nhận thức trên, em mạnh dạn chọn đề tài “Sự vận dụng hình thái kinh tế - xã hội Cộng sản chủ nghĩa của Đảng ta trong công cuộc đổi mới hiện nay ở Việt Nam” làm đề tài tiểu luận tốt nghiệp cử nhân
triết học của mình
2 Tình hình nghiên cứu của khóa luận
Vấn đề nghiên cứu và vận dụng học thuyết hình thái kinh tế - xã hộiCộng sản chủ nghĩa từ lâu đã được nhiều nhà khoa học và chính trị ở Liên Xô(cũ) và các nước xã hội chủ nghĩa quan tâm Đặc biệt từ sau khi chủ nghĩa xãhội hiện thực ở Đông Âu khủng hoảng và sụp đổ thì vấn đề trên được nhiều
nhà nghiên cứu ở Trung quốc đề cập tới Chẳng hạn tác giả Du Thúy “Mùa đông và mùa xuân Mátxcơva - Sự chấm dứt một thời đại” (Nxb Chính trị
quốc gia, Hà nội 1995), đã đề cập một số nguyên nhân sụp đổ của chủ nghĩa
xã hội hiện thực ở Liên Xô Một tập thể tác giả do Mã Hồng làm chủ biên
“kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa” (Nxb Chính trị quốc gia, Hà nội 1995),
đưa ra một số nhận định cần suy nghĩ về xây dựng chủ nghĩa xã hội trongđiều kiện kinh tế thị trường Ngoài ra còn có một số bài nghiên cứu của cáctác giả nước ngoài đăng trên các tạp chí khác trong và ngoài nước
Vấn đề trên được đặc biệt chú ý ở Việt Nam Trước đây các công trìnhnghiên cứu ở nước ta vẫn tập trung giải quyết vấn đề quá độ lên chủ nghĩa xãhội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa Tuy vậy thời gian đó hệ thống chủ nghĩa
xã hội vẫn chưa có khủng hoảng trầm trọng, chưa tan rã, nhận thức về chủnghĩa xã hội vẫn chưa có những biến đổi bước ngoặt, cho nên vấn đề trên
Trang 3được đặt ra và giải quyết có những điểm khác so với hiện nay Không thể nóinhững công trình nghiên cứu trước đây không còn giá trị đối với ngày nay,song đúng là thực tiễn đang đặt ra những vấn đề mới, cần được bổ sung làmsáng tỏ.
Vấn đề nêu trên đã được đề cập tới ở một số khía cạnh trong các sách
và bài viết của tác giả:
- Đào Duy Tùng: “Qúa trình hình thành con đường đi lên chủ nghĩa
xã hội ở Việt Nam ” (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994), đã khái quát các
giai đoạn tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta
- Giáo sư Trần Xuân Trường: “Định hướng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam một số vấn đề lý luận cấp bách ”(Nxb Chính trị quốc gia, Hà nội 1996),
đề cập đến một số vấn đề của lý luận hình thái kinh tế - xã hội và sự vậndụng nó trong tình hình mới
- Giáo sư, tiến sĩ khoa học Nguyễn Duy Qúy (Chủ biên) “Những vấn
đề về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”
(Nxb Chính trị quốc gia, Hà nội 1998), là những kết luận có ý nghĩa cả về lýluận và thực tiễn trên cơ sở khái quát quan điểm của C.Mác, Ăngghen,V.I.Lênin và Hồ chí Minh về chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa xã hội ở ViệtNam của Đảng ta
- Phó giáo sư, tiến sĩ Nguyễn Đức Bách, tiến sĩ Lê Văn Yên, Nhị Lê:
“Một số vấn đề về định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam ”(Nxb Lao động,
Hà nội 1998), đã xem xét những đặc thù của con đường lên chủ nghĩa xã hội
ở Việt Nam và một số nội dung của con đường đó
- Tiến sĩ Phạm Văn Chung: “Học thuyết về hình thái kinh tế- xã hội và
lý luận về con đường phát triển chủ nghĩa xã hội ở nước ta ” (Nxb Chính trị
quốc gia, Hà nội 2005), đã xem xét nội dung khoa học của học thuyết Mác về
Trang 4hình thái kinh tế - xã hội và mối liên hệ hữu cơ của nó đối với lý luận về conđường phát triển xã hội chủ nghĩa ở nước ta.
- Giáo sư Hồ Văn Thông: "Lý luận hình thái kinh tế - xã hội của chủ nghĩa Mác - Lênin trong thời đại ngày nay" (Tạp chí Cộng sản số 4-1994), đã
nêu lên sự cần thiết phải bổ sung, phát triển nhận thức về một số vấn đề của
- Giáo sư, tiến sĩ Phạm Ngọc Quang "Định hướng và giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa - một số vấn đề lý luận" (Tạp chí Sinh hoạt lý luận số
1-1999), đã đưa ra quan điểm trong nhận thức về vấn đề định hướng và giữvững định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta
Nhìn chung các công trình trên, đặc biệt là các công trình trong nướcđều tập trung vào việc bảo vệ lý luận hình thái kinh tế - xã hội và vận dụng
nó vào việc xác định mục tiêu, thực hiện mục tiêu xã hội chủ nghĩa ở ViệtNam trong điều kiện mới Tuy nhiên thực tiễn luôn vận động, đường hướng
xã hội chủ nghĩa ở nước ta đang đặt ra những vấn đề mới cần được tiếp tục lýgiải và khẳng định
Với tình hình nghiên cứu này, trên cơ sở kế thừa, tiếp thu và hệ thốnghóa kiến thức về những quan điểm khoa học của những người đi trước nhằm
Trang 5đi sâu hơn việc nghiên cứu vấn đề con đường phát triển tất yếu của chủ nghĩa
xã hội ở Việt nam dưới góc độ triết học, nhằm góp phần làm sáng tỏ và đầy
đủ hơn về mặt lý luận và thực tiễn của vấn đề cần nghiên cứu, tôi chọn đề tài
khóa luận tốt nghiệp của mình là “Sự vận dụng hình thái kinh tế – xã hội Cộng sản chủ nghĩa của Đảng ta trong công cuộc đổi mới hiện nay ở Việt Nam”.
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của khóa luận
Mục đích của đề tài khóa luận là làm sáng tỏ quan điểm lý luận cơ bảncủa chủ nghĩa Mác - Lênin về hình thái kinh tế - xã hội Cộng sản chủ nghĩa
và sự vân dụng của Đảng ta trong công cuộc đổi mới ở Việt Nam
Nhiệm vụ của đề tài khóa luận:
- Một là: Phân tích sâu sắc quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin vềhình thái kinh tế - xã hội Cộng sản chủ nghĩa Từ đó làm sáng tỏ xu thế vậnđộng tất yếu khách quan của chủ nghĩa xã hội trong quá trình lịch sử - tựnhiên của xã hội loài người
- Hai là: Làm rõ nguyên nhân của sự lựa chọn con đường quá độ đi lênchủ nghĩa xã hội bỏ qua giai đọan phát triển chế độ tư bản chủ nghĩa là đúngđắn của Đảng cộng sản Việt Nam
- Ba là: Nêu lên sự vận dụng của Đảng ta vào sự nghiệp xây dựng chủnghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của khóa luận
- Cơ sở lý luận của khóa luận: Phép biện chứng duy vật và quan điểmđường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa
xã hội ở Việt Nam hiện nay
- Phương pháp nghiên cứu của khóa luận: Là các phương pháp phântích-tổng hợp, phương pháp lôgíc-lịch sử và một số phương pháp khác
5 Đóng góp của khóa luận
Trang 6- Đề tài của khóa luận góp phần làm rõ tính đúng đắn thực sự khoa
học của sự lựa chọn con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư
bản của Đảng Cộng sản Việt Nam Đồng thời góp phần vào việc tìm ra các
nguyên tắc và giải pháp của sự vận dụng hình thái kinh tế-xã hội Cộng sảnchủ nghĩa của Đảng ta trong điều kiện mới của Việt Nam hiện nay
6 Kết cấu của khóa luận
- Ngoài phần mục lục, phần mở đầu, phần kết luận, và danh mục tài
liệu tham khảo, nội dung của đề tài được chia làm 2 chương với 5 tiết:
Chương 1: Những nội dung cơ bản của triết học Mác-Lênin về hình
thái kinh tế-xã hội
1 1 Phạm trù hình thái kinh tế-xã hội
1 2 Sự phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội là một quá trìnhlịch sử tự nhiên
1 3 Hình thái kinh tế - xã hội Cộng sản chủ nghĩa
Chương 2: Sự vận dụng hình thái kinh tế-xã hội Cộng sản chủ nghĩa
của Đảng cộng sản Việt Nam vào công cuộc đổi mới hiện nay ở Việt Nam
2 1 Sự lựa chọn con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ
tư bản chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay
2 2 Những nội dung cơ bản trong thời kỳ đổi mới định hướng xã hội
chủ nghĩa hiện nay ở Việt Nam
B NỘI DUNG Chương 1: NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN
Trang 7CỦA TRIẾT HỌC MÁC-LÊNIN VỀ HÌNH THÁI KINH TẾ-XÃ HỘI 1.1 Phạm trù hình thái kinh tế-xã hội
1.1.1 Khái niệm hình thái kinh tế - xã hội
Hình thái kinh tế - xã hội là một phạm trù của chủ nghĩa duy vật lịch
sử dùng để chỉ xã hội ở từng giai đoạn lịch sử nhất định, với một kiểu quan
hệ sản xuất đặc trưng cho xã hội đó phù hợp với một trình độ nhất định củalực lượng sản xuất và với một kiến trúc thượng tầng tương ứng được xâydựng trên những quan hệ sản xuất ấy
1.1.2 Kết cấu của hình thái kinh tế - xã hội
Kết cấu của hình thái kinh tế - xã hội gồm 3 bộ phận cơ bản:
Lực lượng sản xuất: là nền tảng cơ sở vật chất, kỹ thuật của hình thái
kinh tế - xã hội, là bộ phận xét đến cùng quyết định sự hình thành và phát
triển của hình thái kinh tế - xã hội
Quan hệ sản xuất đặc trưng (thống trị): Quan hệ sản xuất được hình
thành một cách khách quan trong quá trình sản xuất vật chất, không phụthuộc vào ý muốn chủ quan của con người Quan hệ sản xuất phải phù hợpvới tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất, do đó không được thay đổitùy tiện kiểu quan hệ sản xuất nào đó nếu không phải xuất phát từ nhu cầuphát triển của lực lượng sản xuất
Kiến trúc thượng tầng: là “da thịt” của cơ thể xã hội, do cơ sở hạ tầng
sinh ra
Ngoài ba bộ phận cơ bản nói trên, hình thái kinh tế - xã hội còn chứa
đựng các quan hệ khác như quan hệ gia đình, quan hệ dân tộc, quan hệ giaicấp…
1.2 Sự phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội là quá trình lịch
sử - tự nhiên
Trang 8Xã hội loài người đã phát triển trải qua nhiều hình thái kinh tế - xã hộinối tiếp nhau Trên cơ sở phát hiện ra các quy luật vận động phát triển kháchquan của xã hội, C.Mác đã đi đến kết luận: "Sự phát triển của những hìnhthái kinh tế - xã hội là một quá trình lịch sử - tự nhiên"[16, 21]
Hình thái kinh tế - xã hội là một hệ thống, trong đó, các mặt không ngừng tácđộng qua lại lẫn nhau tạo thành các quy luật vận động, phát triển khách quancủa xã hội Đó là quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độphát triển của lực lượng sản xuất, quy luật cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúcthượng tầng và các quy luật xã hội khác Chính sự tác động của các quy luậtkhách quan đó mà các hình thái kinh tế - xã hội vận động phát triển từ thấpđến cao
Nguồn gốc sâu xa của sự vận động phát triển của xã hội là ở sự phát
triển của lực lượng sản xuất Chính sự phát triển của lực lượng sản xuất đãquyết định, làm thay đổi quan hệ sản xuất Đến lượt mình, quan hệ sản xuấtthay đổi sẽ làm cho kiến trúc thượng tầng thay đổi theo, và do đó mà hìnhthái kinh tế - xã hội cũ được thay thế bằng hình thái kinh tế - xã hội mới caohơn, tiến bộ hơn Quá trình đó diễn ra một cách khách quan chứ không phảitheo ý muốn chủ quan V.I Lênin viết: "Chỉ có đem quy những quan hệ sảnxuất vào trình độ của những lực lượng sản xuất thì người ta mới có được một
cơ sở vững chắc để quan niệm sự phát triển của những hình thái xã hội là mộtquá trình lịch sử - tự nhiên"[8, 163] Con đường phát triển của mỗi dân tộckhông chỉ bị chi phối bởi các quy luật chung, mà còn bị tác động bởi các điềukiện về tự nhiên, về chính trị, về truyền thống văn hóa, về điều kiện quốc tếv.v Chính vì vậy, lịch sử phát triển của nhân loại hết sức phong phú, đadạng Mỗi dân tộc đều có nét độc đáo riêng trong lịch sử phát triển của mình
Có những dân tộc lần lượt trải qua các hình thái kinh tế - xã hội từ thấp đếncao; nhưng cũng có những dân tộc bỏ qua một hay một số hình thái kinh tế -
Trang 9xã hội nào đó Tuy nhiên, việc bỏ qua đó cũng diễn ra theo một quá trình lịch
sử - tự nhiên chứ không phải theo ý muốn chủ quan
Như vậy, quá trình lịch sử - tự nhiên của sự phát triển xã hội chẳngnhững diễn ra bằng con đường phát triển tuần tự, mà còn bao hàm cả sự bỏqua, trong những điều kiện nhất định, một hoặc một vài hình thái kinh tế - xãhội nhất định
1.3 Hình thái kinh tế - xã hội Cộng sản chủ nghĩa
Bốn là, công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội là một công việc mới
mẻ, khó khăn và phức tạp, cần phải có thời gian để giai cấp công nhân từngbước làm quen với những công việc đó
Đặc điểm và thực chất của thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội:
Đặc điểm nổi bật của thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa
xã hội là sự tồn tại những yếu tố của xã hội cũ bên cạnh những nhân tố mớicủa chủ nghĩa xã hội trong mối quan hệ vừa thống nhất vừa đấu tranh vớinhau trên tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội
Trên lĩnh vực kinh tế
Trang 10Trên lĩnh vực chính trị.
Trên lĩnh vực tư tưởng – văn hóa
Nội dung của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội:
Trong lĩnh vực kinh tế: Nội dung cơ bản trên lĩnh vực kinh tế của thời
kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là thực hiện việc sắp xếp, bố trí lại các tư liệusản xuất hiện có của xã hội; cải tạo quan hệ sản xuất cũ, xây dựng quan hệsản xuất mới theo hướng tạo ra sự phát triển cân đối của nền kinh tế, bảo đảmphục vụ ngày càng tốt đời sống nhân dân lao động
Trong lĩnh vực chính trị: Nội dung cơ bản trong lĩnh vực chính trị củathời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là tiến hành cuộc đấu tranh chống lạinhững thế lực thù địch chống phá sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội; tiếnhành xây dựng, củng cố Nhà nước và nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ngàycàng vững mạnh, bảo đảm quyền làm chủ trong hoạt động kinh tế, chính trị,văn hóa, xã hội của nhân dân lao động; xây dựng các tổ chức chính trị - xãhội thực sự là nơi thực hiện quyền làm chủ của nhân dân lao động; xây dựngĐảng Cộng sản ngày càng trong sạch, vững mạnh ngang tầm với các nhiệm
vụ của mỗi thời kỳ lịch sử
Trong lĩnh vực tư tưởng – văn hóa: Nội dung cơ bản trong lĩnh vực
tư tưởng – văn hóa của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là thực hiện tuyêntruyền, phổ biến những tư tưởng khoa học và cách mạng của giai cấp côngnhân trong toàn xã hội; khắc phục những tư tưởng và tâm lý có ảnh hưởngtiêu cực đối với tiến trình xây dựng chủ nghĩa xã hội; xây dựng nền văn hóamới xã hội chủ nghĩa, tiếp thu giá trị tinh hoa của cá nền văn hóa trên thếgiới
Trong lĩnh vực xã hội: Nội dung cơ bản trong lĩnh vực xã hội củathời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là phải thực hiện việc khắc phục những tệnạn xã hội do xã hội cũ để lại; từng bước khắc phục sự chênh lệch phát triển
Trang 11giữa các vùng miền, các tầng lớp dân cư trong xã hội nhằm thực hiện mụctiêu bình đằng xã hội; xây dựng mối quan hệ tốt đẹp giữa người với ngườitheo mục tiêu lý tưởng là tự do của người này là điều kiện, tiền đề cho sự tự
do của người khác
1.3.2 Chủ nghĩa xã hội
Những đặc trưng cơ bản của xã hội xã hội chủ nghĩa:
Xã hội xã hội chủ nghĩa (chủ nghĩa xã hội - giai đoạn thấp của củachủ nghĩa cộng sản) là một xã hội có những đặc trưng cơ bản sau đây:
Thứ nhất, cơ sở vật chất - kỹ thuật của xã hội xã hội chủ nghĩa là nềnđại công nghiệp
Thứ hai, chủ nghĩa xã hội xóa bỏ chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa, thiếtlập chế độ công hữu về tư liệu sản xuất
Thứ ba, xã hội xã hội chủ nghĩa là một chế độ xã hội tạo ra được cách
tổ chức lao động và kỷ luật lao động mới
Thứ tư, xã hội xã hội chủ nghĩa là một chế độ xã hội thực hiện nguyêntắc phân phối theo lao động, coi đó là nguyên tắc cơ bản nhất
Thứ năm, xã hội xã hội chủ nghĩa là một xã hội mà ở đó nhà nướcmang bản chất giai cấp công nhân, có tính nhân dân rộng rãi, tính dân tộc sâusắc
Thứ sáu, xã hội xã hội chủ nghĩa là một xã hội đã thực hiện được sựgiải phóng con người khỏi ách áp bức, bóc lột; thực hiện bình đẳng xã hội,tạo điều kiện cho con người phát triển toàn diện
1.3.3 Chủ nghĩa cộng sản
Trên cơ sở nghiên cứu quá trình phát triển lực lượng sản xuất của xãhội loài người, C.Mác đã có những dự báo về sự xuất hiện giai đoạn cao củahình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa (giai đoạn cao của chủ nghĩacộng sản)
Trang 12Về mặt kinh tế: lực lượng sản xuất phát triển vô cùng mạnh mẽ, củacải xã hội đã trở nên dồi dào, ý thức con người được nâng lên, khoa học pháttriển, lao động của con người được giảm nhẹ, lúc đó nhân loại mới có thểthực hiện được nguyên tắc “làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu”.
Về mặt xã hội: Trình độ xã hội ngày càng phát triển, con người có điềukiện phát triển năng lực của mình, tri thức con người được nâng lên cao,không còn có sự khác biệt giữa thành thị và nông thôn
Như vậy, tới giai đoạn cao của hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủnghĩa, con người sẽ được giải phóng hoàn toàn và được phát triển một cáchthực sự toàn diện Khi đó, nhân loại có thể chuyển từ “vương quốc của tấtyếu sang vương quốc của tự do”, có điều kiện phát triển toàn diện năng lực,mang hết tài năng và trí tuệ cống hiến cho xã hội
Chương 2: SỰ VẬN DỤNG HÌNH THÁI KINH TẾ - XÃ HỘI CỘNG SẢN CHỦ NGHĨA
CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VÀO CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI HIỆN NAY Ở VIỆT NAM 2.1 Sự lựa chọn con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ
tư bản chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay
2.1.1 Giai đoạn những năm trước 1960
Sau khi Nguyễn Ái Quốc đọc bản “Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa” của Lênin, từ đó Người đưa ra
kết luận “Chỉ có giải phóng giai cấp vô sản thì mới giải phóng được dân tộc,
cả hai cuộc giải phóng này chỉ có thể là sự nghiệp của chủ nghĩa vô sản”[20,314] Kết luận đó cho thấy Nguyễn Ái Quốc đã đặt cách mạng giải phóngdân tộc và cách mạng xã hội chủ nghĩa Như thế cũng có nghĩa là Người đã
Trang 13lựa chọn con đường xã hội chủ nghĩa cho nước ta và Người đã chuẩn bị choviệc thành lập chính đảng của giai cấp công nhân.
Vận dụng lý luận về quá trình lịch sử tự nhiên của sự phát triển xã hội
và lý luận cách mạng không ngừng của chủ nghĩa Mác – Lênin, Đảng ta ngay
từ khi mới ra đời, đã chọn khả năng phát triển rút ngắn cho cách mạng Việt
Nam Chính cương vắn tắt của Đảng thông qua tại hội nghị thành lập Đảng
(3-2-1930) đã xác định cách mạng Việt Nam là “làm tư sản dân quyền cáchmạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản” tức là từ cách mạng tưsản dân quyền chống đế quốc phong kiến nhằm thực hiện độc lập cho dântộc, rộng dất cho nông dân, sau đó chuyển sang cách mạng xã hội chủ nghĩakhông thông qua chế độ tư bản Mục tiêu, lý tưởng phấn đấu của nước ta làđộc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội
Tại Đại hội II của Đảng Lao động Việt Nam (1951) đã thảo luận và
thông qua báo cáo quan trọng mang tên “Bàn về cách mạng Việt Nam” do
đồng chí Trường Chinh trình bày, đã bổ sung, phát triển các cương lĩnh trước
đó, và chỉ rõ cách mạng Việt Nam là cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân.Cách mạng Việt Nam do giai cấp công nhân lãnh đạo, nên con đường tất yếucủa nó là tiến lên chủ nghĩa xã hội và con đường này là lâu dài, phức tạp vìđiểm xuất phát của chúng ta là thuộc địa nửa phong kiến
Như vậy, chủ nghĩa xã hội được xác định trong Chính cương vắn tắt
của Đảng thông qua tại hội nghị thành lập Đảng, sau đó được phát triển tại
Đại hội II năm 1951 là mục tiêu, phương hướng tiến lên của cách mạng ViệtNam Để đi tới mục tiêu ấy, bước đi tất yếu của Đảng và nhân dân ta là phải
“làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộngsản” các nhiệm vụ cụ thể về chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội, về lực lượngcách mạng và lãnh đạo cách mạng Phương hướng tiến lên trong tương lai
Trang 14của cách mạng Việt Nam có ảnh hưởng quyết định đến tính chất triệt để vàsức mạnh của “tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng”
2.1.2 Giai đoạn từ những năm 1960 đến 1985
Năm 1960, tại Đại hội III, Đảng ta đã khẳng định nhiệm vụ cách mạng cảnước và từng miền Đối với miền Bắc quá độ lên chủ nghĩ xã hội bỏ qua chế
độ tư bản chủ nghĩa với đặc điểm lớn nhất là nền kinh tế lạc hậu Trên cơ sở
ấy, Đại hội dã xây dựng đường lối cơ bản xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miềnBắc Tiếp sau đó còn có nhiều nghị quyết của Trung ương và Bộ Chính trị vềvấn đề ấy
Trong Đại hội IV(1976), Đảng ta đã phát triển một bước đường lối đãthông qua tại Đại hội III, vạch ra đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội trênphạm vi cả nước là: “nắm vững chuyên chính vô sản; phát huy quyền làmchủ tập thể của nhân dân lao động; tiến hành đồng thời ba cuộc cách mạngcách mạng quan hệ sản xuất, cách mạng khoa học–kỹ thuật, cách mạng tưtưởng văn hóa (trong đó cách mạng khoa học - kỹ thuật là then chốt); đẩymạnh công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trung tâm của cả thời kỳquá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội; xây dựng chế độ làm chủ tập thể xã hội chủnghĩa, xây dựng nền sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền văn hóamới, con người mới xã hội chủ nghĩa…”[32, 67] Thực hiện nghị quyết Đạihội IV chúng ta bước đầu đã đạt được những thành tựu đáng khích lệ, tuynhiên trong quá trình cải tạo xã hội chủ nghĩa chúng ta đã gặp phải nhữngkhó khăn và yếu kém không nhỏ Sở dĩ như vậy là bởi chúng ta chưa nhậnthức đầy đủ về thời kỳ quá độ đó là một thời kỳ lịch sử lâu dài phải trải quanhiểu chặng đường, mặt khác chúng ta đã phạm sai lầm trong việc xác địnhmục tiêu, bước đi về xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, cải tạo xã hội chủnghĩa và quản lý kinh tế