1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lý hoạt động bồi dưỡng kĩ năng tư vấn giáo dục cho giáo viên chủ nhiệm các trường THPT huyện chiêm hóa, tỉnh tuyên quang

132 369 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 132
Dung lượng 2,13 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

cho học sinh về các vấn đề trong học tập cũng như các vấn đề về tâm lý tình cảm, các vấn đề ứng xử trong đời sống xã hội, các xu hướng mới của thời đại như ứng xử trên mạng internet, việ

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

LÝ THỊ HỒNG

QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƯỠNG KĨ NĂNG

TƯ VẤN GIÁO DỤC CHO GIÁO VIÊN CHỦ NHIỆM CÁC TRƯỜNG THPT HUYỆN CHIÊM HÓA,

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

LÝ THỊ HỒNG

QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƯỠNG KĨ NĂNG

TƯ VẤN GIÁO DỤC CHO GIÁO VIÊN CHỦ NHIỆM CÁC TRƯỜNG THPT HUYỆN CHIÊM HÓA,

TỈNH TUYÊN QUANG

Chuyên ngành: Quản lý giáo dục

Mã ngành: 60.14.01.14

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: TS HÀ THỊ KIM LINH

THÁI NGUYÊN - 2016

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Luận văn “Quản lý hoạt động bồi dưỡng kĩ năng tư vấn giáo dục cho giáo

thực hiện từ tháng 9 năm 2015 đến tháng 4 năm 2016 Luận văn sử dụng những thông tin từ nhiều nguồn khác nhau, các thông tin đã được ghi rõ nguồn gốc, số liệu đã được tổng hợp và xử lý

Tôi xin cam đoan, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này hoàn toàn trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào

Thái Nguyên, ngày 11 tháng 7 năm 2016

Tác giả

Lý Thị Hồng

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Với lòng kính trọng sâu sắc và tình cảm chân thành tác giả xin trân trọng cảm ơn: Phòng Đào tạo, khoa Tâm lý Giáo dục trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên cùng các nhà khoa học, các thầy cô giáo đã trực tiếp giảng dạy, góp ý, chỉ bảo, tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Cảm ơn các đồng chí lãnh đạo, chuyên viên Sở GD&ĐT Tuyên Quang, các đồng chí là cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên các trường THPT huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang đã tạo điều kiện, cung cấp thông tin, tư liệu giúp

đỡ tác giả trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Đặc biệt tác giả xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đối với

TS Hà Thị Kim Linh, người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo, động viên tác giả

nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Mặc dù đã có nhiều cố gắng, nhưng bản luận văn này chắc chắn vẫn còn nhiều thiếu sót, tác giả rất mong nhận được ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo, các nhà khoa học và các bạn đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện hơn

Thái Nguyên, ngày 11 tháng 7 năm 2016

Tác giả

Lý Thị Hồng

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT iv

DANH MỤC CÁC BẢNG v

DANH MỤC BIỂU ĐỒ vi

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 2

4 Giả thuyết khoa học 2

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 2

6 Phạm vi nghiên cứu 3

7 Phương pháp nghiên cứu 3

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƯỠNG KĨ NĂNG TƯ VẤN GIÁO DỤC CHO GIÁO VIÊN CHỦ NHIỆM Ở TRƯỜNG THPT 5

1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 5

1.1.1 Những nghiên cứu ở nước ngoài 5

1.1.2 Những nghiên cứu trong nước 6

1.2 Khái niệm cơ bản 7

1.2.1 Quản lý 7

1.2.2 Quản lý giáo dục 8

1.2.3 Hoạt động bồi dưỡng 9

1.2.4 Tư vấn giáo dục và kĩ năng tư vấn giáo dục 10

1.2.5 Bồi dưỡng kĩ năng tư vấn giáo dục cho GVCN ở trường THPT 14

1.2.6 Quản lý hoạt động bồi dưỡng kĩ năng tư vấn giáo dục cho GVCN ở trường THPT 14

1.3 Một số vấn đề về kĩ năng tư vấn giáo dục của GVCN ở trường THPT 15

1.3.1 Người GVCN ở trường THPT 15

Trang 6

1.3.2 Kỹ năng tư vấn giáo dục của GVCN ở trường THPT 19

1.3.3 Các kỹ năng thành phần thuộc kỹ năng tư vấn giáo dục của GVCN 20

1.3.4 Quá trình hình thành và phát triển kỹ năng tư vấn giáo dục của GVCN ở trường THPT 24

1.4 Một số vấn đề về bồi dưỡng kĩ năng tư vấn giáo dục cho giáo viên chủ nhiệm ở các trường THPT 25

1.4.1 Mục tiêu bồi dưỡng kĩ năng tư vấn giáo dục cho GVCN ở trường THPT 25

1.4.2 Ý nghĩa của hoạt động bồi dưỡng kĩ năng tư vấn giáo dục cho GVCN ở trường THPT 26

1.4.3 Nội dung bồi dưỡng kĩ năng tư vấn giáo dục cho GVCN ở trường THPT 27

1.4.4 Phương pháp bồi dưỡng kĩ năng tư vấn giáo dục cho GVCNL ở trường THPT 30

1.4.5 Hình thức bồi dưỡng kĩ năng tư vấn giáo dục cho GVCN ở trường THPT 32

1.5 Quản lý hoạt động bồi dưỡng kĩ năng tư vấn giáo dục cho GVCN ở trường THPT 33

1.5.1 Mục tiêu quản lý hoạt động bồi dưỡng kĩ năng tư vấn cho GVCN 33

1.5.2 Nội dung quản lý hoạt động bồi dưỡng KNTVGD cho GVCN ở trường THPT 34

1.5.3 Nguyên tắc quản lý hoạt động bồi dưỡng kĩ năng tư vấn giáo dục cho GVCN ở trường THPT 36

1.5.4 Phương pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng kĩ năng tư vấn giáo dục cho GVCN ở trường THPT 37

1.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động bồi dưỡng KNTVGD cho đội ngũ GV chủ nhiệm lớp ở trường THPT 39

1.6.1 Sự quan tâm của các cấp lãnh đạo 39

1.6.2 Trình độ chuyên môn và năng lực của GVCN lớp 40

1.6.3 Hệ thống văn bản chỉ đạo của Ngành, Sở GD&ĐT về vấn đề bồi dưỡng KNTVGD cho GVCN 40

1.6.4 Vấn đề xây dựng kế hoạch bồi dưỡng KNTVGD cho GVCN 40

1.6.5 Năng lực của người lãnh đạo, quản lý 41

1.6.6 Nhu cầu, ý thức, thái độ của đội ngũ GVCNL 41

Kết luận chương 1 42

Trang 7

Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƯỠNG KĨ NĂNG TƯ VẤN GIÁO DỤC CHO GIÁO VIÊN CHỦ NHIỆM CÁC

TRƯỜNG THPT HUYỆN CHIÊM HÓA, TỈNH TUYÊN QUANG 44

2.1 Vài nét về khảo sát thực trạng 44

2.1.1 Một vài nét về học sinh và giáo viên ở các trường THPT huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang 44

2.1.2 Mục tiêu khảo sát 45

2.1.3 Nội dung khảo sát 45

2.1.4 Phương pháp khảo sát và cách xử lý kết quả 46

2.2 Kết quả khảo sát thực trạng 46

2.2.1 Thực trạng nhận thức 46

2.2.2 Thực trạng kĩ năng tư vấn giáo dục của GVCN các trường THPT huyện Chiêm Hóa 52

2.2.3 Thực trạng hoạt động bồi dưỡng kỹ năng TVGD cho GVCN các trường THPT huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang 60

2.2.4 Thực tra ̣ng quản lý hoạt động bồi dưỡng kĩ năng tư vấn giáo dục cho giáo viên chủ nhiệm các trường THPT huyện Chiêm Hóa 65

2.2.5 Thực trạng yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động bồi dưỡng KNTVGD cho GVCN các trường THPT huyện Chiêm Hóa 68

2.3 Đánh giá chung về khảo sát thực trạng 70

2.3.1 Những ưu điểm 70

2.3.2 Những hạn chế 71

Kết luận chương 2 72

Chương 3 BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƯỠNG KĨ NĂNG TƯ VẤN GIÁO DỤC CHO GIÁO VIÊN CHỦ NHIỆM CÁC TRƯỜNG THPT HUYỆN CHIÊM HÓA, TỈNH TUYÊN QUANG 73

3.1 Các nguyên tắc đề xuất biện pháp 73

3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo mục đích 73

3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống 74

3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa, tính thực tiễn 74

3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi, tính hiệu quả và toàn diện 74

Trang 8

3.2 Biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng kĩ năng tư vấn cho giáo viên chủ nhiệm

các trường THPT huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang 75

3.2.1 Nâng cao nhận thức của cán bộ quản lý, GVCNL về hoạt động bồi dưỡng kĩ năng tư vấn giáo dục của GVCN ở trường THPT 75

3.2.2 Xây dựng chương trình bồi dưỡng kĩ năng tư vấn giáo dục cho GVCN phù hợp với thực tiễn các trường THPT 77

3.2.3 Chỉ đạo đổi mới nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức hoạt động bồi dưỡng kỹ năng tư vấn giáo dục cho GVCN 79

3.2.4 Tăng cường nguồn tài chính, cơ sở vật chất và thiết bị phục vụ cho hoạt động bồi dưỡng kĩ năng tư vấn giáo dục cho GVCN 81

3.2.5 Tăng cường kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động bồi dưỡng kĩ năng tư vấn giáo dục cho GVCN 83

3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp 84

3.4 Khảo nghiệm tính cần thiết và khả thi của các biện pháp đề xuất 85

3.4.1 Khảo nghiệm tính cần thiết của các biện pháp 85

3.4.2 Khảo sát tính khả thi của các biện pháp 86

Kết luận chương 3 89

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 90

1 Kết luận 90

2 Khuyến nghị 92

TÀI LIỆU THAM KHẢO 94

PHỤC LỤC 96

Trang 9

DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT

CBQL : Cán bộ quản lý CBQLGD : Cán bộ quản lý giáo dục

GD : Giáo dục GD&ĐT : Giáo dục và Đào tạo

GV THPT : Giáo viên trung học phổ thông

GV : Giáo viên GVCN : Giáo viên chủ nhiệm GVCNL : Giáo viên chủ nhiệm lớp HĐBD : Hoạt động bồi dưỡng

HS THPT : Học sinh trung học phổ thông

HS : Học sinh KNTVGD : Kỹ năng tư vấn giáo dục

THPT : Trung học phổ thông TVGD : Tư vấn giáo dục

Trang 10

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Đánh giá về sự cần thiết của hoạt động tư vấn giáo dục và hoạt

động bồi dưỡng kĩ năng tư vấn giáo dục cho GVCN 46 Bảng 2.2 Nhận thức của CBQL, GVCN về tư vấn giáo dục 48 Bảng 2.3 Nhận thức của CBQL, GVCN về kĩ năng tư vấn giáo dục 49 Bảng 2.4 Nhận thức của CBQL, GVCN về hoạt động bồi dưỡng kĩ năng tư

vấn giáo dục 50 Bảng 2.5 Nhận thức của CBQL, GVCN về quản lý hoạt động bồi dưỡng kĩ

năng tư vấn giáo dục 51 Bảng 2.6 Tự đánh giá của GVCN các trường THPT huyện Chiêm Hóa, tỉnh

Tuyên Quang về kĩ năng tư vấn giáo dục 53 Bảng 2.7 Tự đánh giá của CBQL các trường THPT huyện Chiêm Hóa, tỉnh

Tuyên Quang về kĩ năng tư vấn giáo dục 55 Bảng 2.8 Đánh giá của HS các trường THPT huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên

Quang về kĩ năng tư vấn giáo dục 57

Bảng 2.9 Thực trạng những trường hợp mà ho ̣c sinh cần sự tư vấn của giáo

viên chủ nhiê ̣m 59

Bảng 2.10 Thực trạng xây dựng kế hoa ̣ch bồi dưỡng kĩ năng tư vấn giáo du ̣c

cho GVCN 60 Bảng 2.11 Thực trạng nội dung bồi dưỡng kĩ năng TVGD cho GVCN các

trường THPT huyện Chiêm Hóa- Tuyên Quang 61

Bảng 2.12 Thực tra ̣ng mức đô ̣ tổ chức bồi dưỡng kĩ năng tư vấn giáo du ̣c cho

giáo viên chủ nhiê ̣m lớp 63 Bảng 2.13 Thực trạng hình thức bồi dưỡng kĩ năng tư vấn giáo dục cho GVCN 64

Bảng 2.14 Thực tra ̣ng quản lý hoạt động bồi dưỡng KNTVGD cho GVCN 66

Bảng 2.15 Thực tra ̣ng phương pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng kĩ năng tư vấn

giáo dục cho giáo viên chủ nhiệm 68 Bảng 2.16 Thực trạng yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động bồi dưỡng KNTVGD cho

GVCNL các trường THPT huyện Chiêm Hóa 69

Trang 11

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 3.1 Ý kiến của cán bộ quản lý về mức độ cần thiết của các biện pháp 85 Biểu đồ 3.2 Ý kiến của cán bộ quản lý về mức độ khả thi của các biện pháp 87

Trang 12

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong nhà trường phổ thông, GVCN có một vai trò hết sức quan trọng trong

các hoạt động giáo dục của nhà trường, trong việc hình thành và phát triển nhân cách của học sinh Ngày nay, dưới góc độ về quản lý giáo dục, GVCN được xem như một nhà quản lý với các vai trò: Người lãnh đạo lớp học; Người điều khiển lớp học; Người làm công tác tổ chức lớp học; Người giúp hiệu trưởng thực hiện việc kiểm tra

sự tu dưỡng và rèn luyện của học sinh; Người có trách nhiệm phản hồi tình hình lớp… Như vậy có thể thấy rõ tầm quan trọng của GVCN trong các hoạt động giáo dục toàn diện của nhà trường phổ thông Sự phát triển của nhà trường gắn liền với sự tiến bộ và trưởng thành của từng tập thể lớp học, gắn liền với sự tiến bộ và trưởng thành của đội ngũ GV, đặc biệt là đội ngũ GVCN Chất lượng giáo dục của nhà trường phụ thuộc nhiều vào chất lượng của đội ngũ GV nói chung và đội ngũ GVCN nói riêng Chính vì vậy việc xây dựng, phát triển và bồi dưỡng năng lực cho đội ngũ GVCN là góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện của nhà trường

Trong bối cảnh xã hội có nhiều thay đổi hiện nay, với xu hướng toàn cầu hóa,

sự phát triển nhanh chóng của nguồn thông tin tri thức cũng như sự phát triển mạnh

mẽ của công nghệ thông tin đã khiến cho con người gần nhau hơn và dễ dàng tiếp cận với các kênh thông tin khác khau Trong bối cảnh xã hội mới, học sinh THPT chịu những tác động nhất định từ phía xã hội cả mặt tích cực và tiêu cực Các em cũng phải đương đầu với nhiều vấn đề mà bản thân không thể tự đưa ra được hướng giải quyết nên rất cần sự định hướng, tư vấn, hướng dẫn đúng đắn của giáo viên, cha mẹ Trong nhà trường phổ thông, giáo viên chủ nhiệm là người gần gũi và nắm được đặc điểm tâm lý, điều kiện của học sinh vì vậy GVCN là người giữ vai trò quan trọng trong việc định hướng, tư vấn cho học sinh Muốn làm tốt vai trò này GVCN phải có các kĩ năng tư vấn giáo dục cho học sinh thì mới trở thành người “dẫn đường” đúng đắn cho học sinh

Tuy nhiên thực tế hiện nay hoạt động bồi dưỡng kĩ năng tư vấn giáo dục cũng như công tác quản lý hoạt động bồi dưỡng kĩ năng tư vấn giáo dục cho GV các trường THPT còn nhiều bất cập từ đó dẫn đến nhiều GVCN chưa có kĩ năng tư vấn

Trang 13

cho học sinh về các vấn đề trong học tập cũng như các vấn đề về tâm lý tình cảm, các vấn đề ứng xử trong đời sống xã hội, các xu hướng mới của thời đại như ứng xử trên mạng internet, việc tiếp nhận, đánh giá thông tin…

Xuất phát từ những lý do trên chúng tôi lựa chọn vấn đề “Quản lý hoạt động

bồi dưỡng kĩ năng tư vấn giáo dục cho giáo viên chủ nhiệm các trường THPT huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang” làm đề tài luận văn thạc sĩ

2 Mục đích nghiên cứu

Đề tài đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng kĩ năng tư vấn

giáo dục cho GVCN ở các trường THPT huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu

Bồi dưỡng kỹ năng chủ nhiệm lớp cho GVCN ở trường THPT

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng kĩ năng tư vấn giáo dục cho GVCN các trường THPT huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang

4 Giả thuyết khoa học

Bồi dưỡng kỹ năng tư vấn giáo dục cho GVCNL các trường THPT của huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang đã được quan tâm chú ý trong thực hiện phát triển đội ngũ GVCN lớp đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục trong giai đoạn hiện nay Tuy nhiên quá trình thực hiện còn những hạn chế, bất cập nhất định Nếu đề xuất được các biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng kĩ năng tư vấn giáo dục cho đội ngũ GVCN lớp ở các trường THPT huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang đảm bảo tính khoa học, khả thi, phù hợp với thực tiễn sẽ góp phần phát triển năng lực giáo dục, cải thiện hiệu quả giáo dục học sinh của đội ngũ GVCN các trường THPT huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang hiện nay

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý hoạt động bồi dưỡng kĩ năng tư vấn

giáo dục cho GVCN ở trường THPT

5.2 Nghiên cứu thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng kĩ năng tư vấn giáo

dục cho GVCN các trường THPT huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang

Trang 14

5.3 Đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng kĩ năng tư vấn giáo

dục cho GVCN các trường THPT huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang

6 Phạm vi nghiên cứu

6.1 Đề tài tập trung nghiên cứu quản lý hoạt động bồi dưỡng kỹ năng tư vấn

hướng nghiệp, tư vấn học tập, tư vấn giáo dục giới tính, tư vấn về tiếp cận và sử dụng thông tin từ mạng Internet

6.2 Tập trung khảo sát 18 CBQLGD, 120 GVCN, 300 học sinh tại 6 trường

THPT huyện Chiêm Hóa bao gồm: Trường THPT Chiêm Hóa; trường THPT Minh Quang; trường THPT Hà Lang; trường THPT Đầm Hồng; trường THPT Kim Bình; trường THPT Hòa Phú

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý thuyết

Đọc, phân tích, tổng hợp và hệ thống hóa lý thuyết từ các công trình khoa học, tài liệu, sách có liên quan để phục vụ cho việc xây dựng cơ sở lý luận về hoạt động bồi dưỡng kĩ năng tư vấn giáo dục cho GVCNL và quản lý hoạt động bồi dưỡng kĩ năng tư vấn giáo dục cho GVCNL ở trường THPT

7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

Chúng tôi sử dụng kết hợp phương pháp điều tra bằng an-ket, phương pháp chuyên gia, phương pháp phỏng vấn nhằm thu thập các thông tin cần thiết phục vụ quá trình nghiên cứu đề tài

Nhóm nghiên cứu sử dụng phương pháp khảo nghiệm nhằm khẳng định tính khả thi, cần thiết của các biện pháp đề xuất để nâng cao hiệu quả công tác quản lý hoạt động bồi dưỡng kĩ năng tư vấn giáo dục cho GVCNL ở các trường THPT huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang

Nhóm phương pháp phỏng vấn, đàm thoại: Sử dụng phương pháp này trong trao đổi và phỏng vấn cán bộ quản lý các trường THPT trên địa bàn huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang nhằm thu thập thông tin phục vụ việc nghiên cứu đề tài

7.3 Các phương pháp khác: Đề tài sử dụng các phương pháp thống kê toán

học để phân tích định lượng, định tính kết quả khảo sát bằng phiếu điều tra để làm rõ thực trạng của vấn đề nghiên cứu

Trang 15

8 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị và danh mục tài liệu tham khảo, Phụ lục Luận văn gồm ba chương:

Chương 1 Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động bồi dưỡng kĩ năng tư vấn giáo

dục cho giáo viên chủ nhiệm ở trường THPT

Chương 2 Thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng kĩ năng tư vấn giáo dục

cho giáo viên chủ nhiệm các trường THPT huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang

Chương 3 Một số biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động bồi dưỡng kĩ

năng tư vấn giáo dục cho giáo viên chủ nhiệm các trường THPT huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang

Trang 16

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƯỠNG

KĨ NĂNG TƯ VẤN GIÁO DỤC CHO GIÁO VIÊN CHỦ NHIỆM

Ở TRƯỜNG THPT 1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề

1.1.1 Những nghiên cứu ở nước ngoài

Nghiên cứu về tư vấn và kĩ năng tư vấn học đường có nhiều tác giả trên thế giới quan tâm, những nghiên cứu này được thể hiện dưới nhiều tài liệu khác nhau

Tại Hoa Kỳ, tư vấn học đường được bắt nguồn từ phong trào hướng nghiệp vào đầu thế kỷ XX bởi Jesse B Davis Ông được xem là người đầu tiên cung cấp một chương trình học có hướng dẫn một cách hệ thống Tiếp bước của Jesse B David, Frank Parons là người sáng lập ra ngành hướng dẫn tư vấn nghề ở Mỹ, ông đã xuất bản cuốn sách “Cẩm nang hướng nghiệp” nhằm trợ giúp các cá nhân trong việc lựa chọn nghề nghiệp, tìm ra cách bắt đầu và xây dựng một nghề nghiệp thành công và hiệu quả Ông luôn mong muốn công tác hướng dẫn tư vấn nghề nghiệp được đưa vào trường học Năm 1940 Carl Rogers nhấn mạnh vào việc giúp đỡ các mối quan hệ trong trường học Điều này đã ảnh hưởng lớn đến quá trình hình thành nghề tư vấn học đường [11]

Năm 1953 hiệp hội các nhà tư vấn tâm lý học đường Hoa Kỳ (ASCA) tham gia vào APGA - tiền thân của hiệp hội tư vấn tâm lý Hoa Kỳ hiện nay Năm 1962 cuốn sách “The Counselor in a Changing World” của tác giả Wrenn đã định chế hóa các mục tiêu của tư vấn học đường Năm 1964 ASCA phát triển các vai trò và chức năng dành cho các nhà tư vấn học đường [11]

Cuối những năm 1990, Pat Martin - một giáo viên toán học kiêm cố vấn học đường tại Mỹ cùng với tổ chức giáo dục The Trust thiết lập một dự án về tư vấn học đường chủ yếu nhằm vào việc rút ngắn những khoảng cách, những cản trở để đi đến thành công trong cuộc sống của trẻ em và thanh thiếu niên Kể cả những trẻ em da màu, trẻ song ngữ, trẻ bị khuyết tật Dự án của Martin tập trung vào tư vấn cho học sinh, cha mẹ, người giám hộ

Trang 17

Năm 1997, tiêu chuẩn quốc gia dành cho các chương trình tư vấn học đường (National Standards for School Counseling Programs) ra đời và kể từ đó ngành tư vấn học đường được xem như là đã hoàn thiện Hiện nay, hiệp hội các nhà tư vấn học đường Hoa Kỳ (ASCA) được xem là nguồn tham khảo và kiểu mẫu cho chương trình

tư vấn tâm lý học đường của hầu hết các nước trên thế giới

Các kỹ năng tư vấn, chăm sóc tâm lý cần phát triển cho người học một phần nào đó nằm trong nhóm các kỹ năng mềm và việc giáo dục các kỹ năng mềm cho người học được các nước trên thế giới quan tâm rất nhiều trong những năm gần đây

vì vậy tài liệu nghiên cứu về vấn đề này rất phong phú

Trong tài liệu “Tập huấn tham vấn cơ bản dành cho cộng đồng” của Unicef

cũng đề cập đến vấn đề phân biệt giữa tư vấn và tham vấn, các kỹ năng tham vấn, vai trò của tham vấn trong đời sống cộng đồng… những thông tin trong tài liệu cung cấp

là sơ sở để tác giả xác định phần lý luận của đề tài

1.1.2 Những nghiên cứu trong nước

Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của tư vấn ở Việt Nam từ đầu thập kỷ 80, việc nghiên cứu kĩ năng tư vấn cũng bắt đầu được quan tâm Nổi bật nhất trong các tài liệu về

tư vấn là các nghiên cứu về tư vấn hướng nghiệp Có thể kể đến một số nghiên cứu của các tác giả: Phạm Tất Dong, Phạm Huy Thụ, Nguyễn Thế Tường, Trần Trọng Thủy, Lê Đức Phúc Các nghiên cứu này chủ yếu tập trung vào tìm hiểu công cụ đo lường tâm lý của các tác giả nước ngoài vào Việt Nam trong lĩnh vực tư vấn hướng nghiệp

Các công trình nghiên cứu về kĩ năng tư vấn hướng nghiệp có thể kể đến nghiên cứu của các tác giả Đào Danh Tình, Mạc Văn Trang, Lý Ngọc Sáng Các tác giả này đã đưa ra một số kỹ năng thu thập, phân tích, so sánh thông tin, đưa ra lời khuyên cho học sinh khi chọn nghề Bên cạnh tư vấn hướng nghiệp, tư vấn học đường cũng được nhiều tác giả quan tâm Hoạt động tư vấn học đường được khai thác dưới nhiều góc độ khác nhau, dưới góc độ tư vấn của GVCN cho hoạt động tự quản

của tập thể học sinh đã được tác giả Hà Nhật Thăng đề cập đến trong tài liệu “Công

tác chủ nhiệm lớp ở trường phổ thông”, Nxb Giáo dục, năm 2004 Kỹ năng sư phạm

được tác giả Nguyễn Văn Hộ khai thác dưới góc độ kỹ năng xử lý tình huống sư

phạm cho sinh viên trong “Tuyển tập các tình huống sư phạm”, NXBGD năm 2001

Trang 18

Tác giả Bùi Văn Quân khai thác kỹ năng tư vấn và chăm sóc tâm lý với chuyên đề phát triển chuyên môn liên tục, kỹ năng hướng dẫn, tư vấn và chăm sóc tâm lý cho giáo viên THCS, tài liệu tập huấn phát triển năng lực giáo viên THCS, năm 2010 Tác

giả Trần Thị Minh Huế với công trình “Phát triển kĩ năng tư vấn, chăm sóc tâm lý

cho sinh viên Đại học Thái Nguyên”, đề tài cấp đại học, 2012 đã đề cập đến các vấn

đề lý luận, thực trạng và đề xuất các biện pháp để phát triển kĩ năng tư vấn, chăm sóc tâm lý cho sinh viên [12]

Các công trình nghiên cứu về quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho

GV trong các trường THPT nhìn chung khá đa dạng và phong phú, trong đó đa số nghiên cứu về quản lý hoạt động dạy học, quản lý hoạt động tổ chuyên môn, quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, quản lý hoạt động hướng nghiệp chưa có nhiều công trình nghiên cứu về quản lý hoạt động bồi dưỡng kĩ năng tư vấn giáo dục cho giáo viên chủ nhiệm (GVCN) ở trường THPT, vì vậy tác giả lựa chọn vấn đề này làm đề tài nghiên cứu với mục đích đề xuất được một số biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động bồi dưỡng kĩ năng tư vấn giáo dục cho GVCN ở các trường THPT huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang

1.2 Khái niệm cơ bản

1.2.1 Quản lý

Quản lý là một loại hình lao động của con người trong cộng đồng nhằm thực hiện các mục tiêu mà tổ chức hoặc xã hội đặt ra Trong xã hội loài người, quản lý là một hoạt động bao trùm mọi mặt đời sống xã hội Quản lý là nhân tố không thể thiếu được trong đời sống và sự phát triển của xã hội Loài người đã trải qua nhiều thời kỳ phát triển với nhiều hình thái xã hội khác nhau nên cũng trải ra nhiều hình thức quản

lý khác nhau Các triết gia, các nhà chính trị từ thời cổ đại đến nay đều rất coi trọng vai trò của quản lý trong sự ổn định và phát triển của xã hội Nó là một phạm trù tồn tại khách quan và là một tất yếu lịch sử

Trong quá trình tồn tại và phát triển của quản lý, đặc biệt trong quá trình xây dựng lý luận về quản lý, khái niệm quản lý được nhiều nhà lý luận đưa ra, nó thường phụ thuộc vào lĩnh vực hoạt động, nghiên cứu của mỗi người

Theo quan điểm kinh tế học F.W Taylor cho rằng “Quản lý là nghệ thuật biết

rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và làm cái đó thế nào bằng phương pháp tốt nhất

và rẻ tiền nhất” [19, tr.8]

Trang 19

Tác giả Nguyễn Quốc Chi - Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng: “Hoạt động quản

lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [5]

Tác giả Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt cho rằng: “Quản lý là một quá trình

định hướng, qúa trình có mục tiêu, quản lý một hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định” [14]

Như vậy, xem xét một cách tổng quát nhất thì quản lý được xem là quá trình

“tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định”, đó là sự kết hợp giữa tri thức và lao động trên phương diện điều hành Dưới góc độ chính trị, quản lý được hiểu là hành chính, là cai trị, dưới góc độ xã hội, quản lý là điều hành, điều khiển, chỉ huy Dù tiếp cận ở góc độ nào, quản lý vẫn phải dựa trên những cơ sở, nguyên tắc đã được định sẵn và nhằm đạt được hiệu quả, mục đích của quản lý

Tác giả Nguyễn Thị Tính, trong giáo trình “Lý luận chung về quản lý và quản

lý giáo dục” đã phân tích khái niệm quản lý dưới nhiều quan điểm khác nhau và đưa

ra khái quát chung “Quản lý là sự tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể

quản lý đến đối tượng quản lý trong tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành đạt được muc tiêu đã đề ra” [19, tr.10] Dưới góc độ nghiên cứu của đề tài, nhóm nghiên

cứu lựa chọn khái niệm trên làm khái niệm công cụ của đề tài

1.2.2 Quản lý giáo dục

Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quan là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển

xã hội Quản lý giáo dục được tiếp cận dưới hai góc độ vĩ mô và góc độ vi mô Ở góc

độ vĩ mô chủ thể quản lý giáo dục là hệ thống giáo dục quốc dân và hệ thống quản lý, mục tiêu của quản lý là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho đất

nước, vì vậy khái niệm quản lý có thể được hiểu như sau: “Quản lý giáo dục là

những tác động có hệ thống, có mục đích, hợp quy luật của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các mắt xích của hệ thống giáo dục, nhằm đảm bảo cho hệ thống giáo dục vận hành, phát triển, thực hiện mục tiêu của nền giáo” [13]

Ở góc độ vi mô, chủ thể quản lý giáo dục là chủ thể quản lý nhà trường (Hiệu trưởng, giám đốc cơ sở giáo dục), đối tượng của quản lý là các quá trình dạy học, quá

Trang 20

trình giáo dục và các thành tố tham gia vào các quá trình đó (giáo viên, học sinh, các lực lượng khác, cơ sở vật chất, tài chính,…) vì vậy khái niệm quản lý có thể hiểu

như sau: “Quản lý nhà trường là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp

quy luật của chủ thể quản lý nhà trường giúp cho nhà trường vận hành theo đường lối, quan điểm giáo dục của Đảng, thực hiện được mục tiêu, tính chất của nhà trường Việt Nam đó là hình thành phát triển nhân cách người học theo yêu cầu xã hội” [13, tr 23-24]

1.2.3 Hoạt động bồi dưỡng

Theo từ điển Tiếng Việt, "bồi dưỡng là làm tăng thêm năng lực hoặc phẩm chất" [16]

Theo các tài liệu của UNESCO bồi dưỡng được hiểu như sau: Bồi dưỡng là quá trình cập nhật, bổ sung kiến thức, kỹ năng, thái độ để nâng cao năng lực, trình độ, phẩm chất của người lao động về một lĩnh vực hoạt động mà người lao động đã có một trình độ năng lực chuyên môn nhất định qua một hình thức đào tạo nào đó Bồi dưỡng có ý nghĩa nâng cao nghề nghiệp, quá trình này chỉ diễn ra khi cá nhân và tổ chức có nhu cầu nâng cao kiến thức hay kỹ năng chuyên nghiệp

Tác giả Nguyễn Minh Đường quan niệm "bồi dưỡng có thể là một quá trình

cập nhật kiến thức và kỹ năng còn thiếu đã lạc hậu trong cấp học, bậc học và thường được xác nhận bằng chứng chỉ" [10]

Từ những quan niệm có thể hiểu:

Chủ thể của hoạt động bồi dưỡng đã được đào tạo để có một trình độ chuyên môn nhất định

Bồi dưỡng thực chất là quá trình cập nhật bổ sung tri thức, kỹ năng để nâng cao trình độ trong lĩnh vực hoạt động chuyên môn nào đó

Xem xét khái niệm bồi dưỡng trong Giáo dục - Đào tạo, bồi dưỡng được hiểu

là một dạng đào tạo phi chính qui, về bản chất bồi dưỡng là một hình thức đào tạo, người được bồi dưỡng là cán bộ quản lý, giáo viên, viên chức đang phục vụ trong các

cơ quan quản lý giáo dục, các cơ sở đào tạo, trong các trường học

Về quá trình bồi dưỡng Michael Amstrong khi nghiên cứu về quá trình đào tạo

đã nêu: Nghiên cứu quá trình đào tạo bồi dưỡng như là quá trình đào tạo có kế hoạch xác định, nó là những tác động có xem xét cất nhắc nhằm đảm bảo có được sự học

Trang 21

tập để nâng cao khả năng làm việc thực tế Quá trình đào tạo, bồi dưỡng có kế hoạch

là quá trình bao gồm các công đoạn sau: [3]

- Xây dựng kế hoạch chương trình bồi dưỡng:

+ Xác định chủ thể bồi dưỡng chuyên môn và đối tượng được bồi dưỡng chuyên môn

+ Xác định nội dung cụ thể bồi dưỡng chuyên môn

+ Xác định phương pháp, phương tiện thực hiện bồi dưỡng chuyên môn

- Xây dựng địa điểm và phân công người đảm nhiệm việc bồi dưỡng

- Triển khai thực hiện kế hoạch bồi dưỡng

- Đánh giá và hiệu chỉnh kết quả thực hiện kế hoạch bồi dưỡng

Có thể hiểu bồi dưỡng chính là quá trình cập nhật kiến thức, kỹ năng cho đối

tượng bồi dưỡng trên cơ sở của những kiến thức và kỹ năng hiện có ở đối tượng giáo dục thông qua sử dụng hệ thống các phương pháp, hình thức tổ chức bồi dưỡng phù hợp nhằm cải thiện năng lực lao động, năng lực hoạt động cho đối tượng bồi dưỡng đáp ứng được yêu cầu và vị trí việc làm của đối tượng bồi dưỡng

Hoạt động bồi dưỡng là các hoạt động cập nhật kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp

cho đối tượng bồi dưỡng nhằm giúp họ nâng cao kiến thức, kỹ năng, cải thiện năng lực lao động trong thực tiễn đáp ứng tốt những yêu cầu của xã hội đề ra

1.2.4 Tư vấn giáo dục và kĩ năng tư vấn giáo dục

Tư vấn - trong tiếng Anh là Consultation - được xem như quá trình tham khảo

về lời khuyên hay sự trao đổi quan điểm về vấn đề nào đó để đi đến một quyết định

Tư vấn trong từ điển tiếng Việt được định nghĩa như là sự phát biểu ý kiến về những vấn đề được hỏi đến, nhưng không có quyền quyết định Hoạt động này phần nhiều diễn ra dưới dạng hỏi và đáp

Trang 22

Theo các chuyên gia Hiệp hội Tâm lý học Mỹ: “Tư vấn tâm lý là quá trình

giúp các cá nhân khắc phục những trở ngại tâm lý trong quá trình trưởng thành, khiến người ta phát triển một cách lý tưởng” [2]

Tổ chức tư vấn thế giới đưa ra khái niệm: “Tư vấn là một quá trình trợ giúp

dựa trên các kỹ năng, trong đó một người dành thời gian, sự quan tâm và sử dụng thời gian một cách có mục đích để giúp đỡ thân chủ khai thác tình huống, xác định và triển khai các giải pháp khả thi trong thời gian cho phép” [2]

Theo tác giả Phạm Tất Dong và Nguyễn Như Ất tư vấn được hiểu là:

+ Tư vấn là một dịch vụ trí tuệ, một hoạt động “chất xám” cung ứng cho khách hàng những lời khuyên đúng đắn và thích hợp chứ không phải là lời khuyên chung chung với một tình huống, một thời gian nhất định Và những lời khuyên, đóng góp ý kiến nhà tư vấn đưa ra chỉ thích hợp với một tình huống cụ thể, một chủ thể cụ thể tồn tại trong một hoàn cảnh và một thời gian cụ thể chứ nó không thích hợp với một hoàn cảnh khác, một chủ thể khác và một thời gian khác

+ Tư vấn không chỉ đơn thuần là đưa ra lời khuyên mà còn phải chỉ vẽ hướng thực hiện lời khuyên đưa ra sao cho có thể đạt được hiệu quả cao nhất [6]

Tác giả Vũ Dũng cho rằng "tư vấn được định nghĩa là sự phán quyết, khẳng

định của chuyên gia với tư cách một lời khuyên giúp cho chủ thể giải quyết một vấn

đề nào đó Tư vấn được hiểu là quá trình tìm hiểu vấn đề của khách hàng, đưa ra các giải pháp và lời khuyên để họ có khả năng tự quyết định một phương án hành động tốt nhất Hiểu theo cách này tư vấn không chỉ giúp cá nhân nâng cao hiểu biết, mà còn là sự hướng dẫn để giúp cá nhân đưa ra được sự lựa chọn tốt nhất cho vấn đề của họ Với cách tiếp cận này thì tư vấn chính là quá trình đưa ra giải pháp giúp đối tượng được tư vấn giải quyết vấn đề mình đang gặp phải" [8, tr.25]

Tác giả Chu Liên Anh quan niệm“Tư vấn là sự trợ giúp, trong đó người tư

vấn thông qua mối quan hệ tin cậy, tự nguyện, trao đổi thông tin để cung cấp giải pháp nhằm giúp khách hàng tìm ra phương án tốt nhất giải quyết vấn đề của họ” [1]

Nhóm nghiên cứu lựa chọn khái niệm tư vấn theo quan điểm này để làm rõ khái niệm

tư vấn giáo dục

Trong khái niệm này, tư vấn có những đặc điểm cụ thể như sau: Tư vấn là sự trợ giúp về mặt tâm lý, giúp nâng cao khả năng hành động cho cá nhân; mục tiêu của

Trang 23

tư vấn là cung cấp giải pháp giải quyết vấn đề; tư vấn là mối quan hệ tự nguyện, bình đẳng và tin cậy; người thực hiện tư vấn là người có kiến thức về chuyên môn mà họ tiến hành tư vấn, có kỹ năng cũng như các thái độ đạo đức cần thiết của hoạt động; đối tượng được tư vấn là người đang gặp khó khăn trong giải quyết vấn đề và cần có

sự trợ giúp

Khi đề cập đến tư vấn, hướng dẫn cho học sinh trong trường học, khái niệm thường được nhắc đến là “tư vấn học đường”

Theo tác giả Lê Sơn, Lê Hồng Minh, "tư vấn học đường bao gồm cả ý nghĩa

hướng dẫn và tư vấn tâm lý Hướng dẫn, cố vấn, cung cấp thông tin hướng nghiệp: trắc nghiệm, thông tin về kết quả trắc nghiệm tâm lý, tích cách con người, thông tin

về thị trường lao động, về thế giới nghề nghiệp liên quan; tư vấn tâm lý, phát triển nhân cách (tư vấn phát triển, lắng nghe, khơi dậy…)" [17]

Theo thời gian và kinh nghiệm, hoạt động hướng nghiệp và tư vấn tâm lý trong nhà trường không chỉ là hoạt động đơn lẻ, mà là hoạt động nhằm xúc tác, thúc đẩy nhiều hoạt động khác trong trường học, dưới sự lãnh đạo giáo dục đặc biệt của hiệu trưởng, dưới hình thức một chương trình tổng thể tư vấn học đường Tóm lại, tư vấn học đường ngoài ý nghĩa thông thường bao gồm hoạt động hướng nghiệp và tư vấn tâm lý, còn phải mang trách nhiệm là một chương trình giáo dục từng thời kì, có

sự thông đạt và tham gia tổng lực của nhà trường, quan tâm đến kiến thức kỹ năng học sinh và cả giáo viên, phụ huynh là những người trực tiếp tham gia giáo dục học sinh (chương trình tổng thể tư vấn học đường)

Tư vấn giáo được hiểu là sự trợ giúp, hướng dẫn của giáo viên đến học sinh trong toàn bộ quá trình giáo dục khi học sinh có mong muốn, nhu cầu được tư vấn hay khi học sinh gặp khó khăn trong học tập, trong tham gia các hoạt động ở trường học

Có thể hiểu tư vấn giáo dục như sau: Tư vấn giáo dục là một hình thức hỗ trợ

đối tượng giáo dục nhằm giúp cho đối tượng giáo dục vượt qua những khó khăn trong học tập, khó khăn về tâm lý, những khó khăn trong mối quan hệ với người xung quanh để họ thực hiện hoạt động học tập, hoạt động xã hội một cách hiệu quả qua đó tạo điều kiện thuận lợi nhất cho quá trình phát triển nhân cách

Trang 24

Đối với GVCNL, tư vấn giáo dục là một nhiệm vụ của GVCN lớp Để thực

hiện tốt nhiệm vụ này đòi hỏi GVCNL phải có những kiến thức và kỹ năng nhất định mới có thể thực hiện thành công nhiệm vụ tư vấn giáo dục cho học sinh của mình Như vậy có thể hiểu tư vấn giáo dục của GVCNL là quá trình GVCNL trợ giúp, hỗ trợ học sinh trong lớp chủ nhiệm một cách kịp thời thông qua hệ thống các phương pháp, cách thức tư vấn trên cơ sở của việc vận dụng kiến thức và kỹ năng tư vấn phù hợp trong từng trường hợp, đối tượng và hoàn cảnh cụ thể, qua đó giúp các em học sinh vượt qua được những khó khăn trong học tập và khó khăn trong cuộc sống, thu nhận được kiến thức và kỹ năng cần thiết để phát triển nhân cách đáp ứng yêu cầu của điều kiện xã hội hiện nay

1.2.4.2 Kĩ năng tư vấn giáo dục

Tác giả Chu Liên Anh cho rằng“Kĩ năng tư vấn là sự vận dụng kiến thức, kinh

nghiệm nghề nghiệp của người tư vấn vào việc xây dựng mối quan hệ tin cậy, bình đẳng với khách hàng, trao đổi thông tin để cung cấp giải đáp, giúp họ đưa ra được quyết định tốt nhất cho vấn đề khó khăn mà họ gặp phải” [1]

Theo khái niệm này, nội hàm của kĩ năng tư vấn gồm các nội dung sau:

- Kỹ năng tư vấn được hình thành trên cơ sở vận dụng hiểu biết, tri thức và giá trị nghề nghiệp Đó là các hiểu biết về mục đích của tư vấn, về các nguyên tắc, giá trị của tư vấn và các hiểu biết, kinh nghiệm xã hội

- Kỹ năng tư vấn được thể hiện ra bên ngoài bằng tập hợp các thao tác hay các hành động để xây dựng mối quan hệ và tìm hiểu, cung cấp thông tin

- Kết quả của sự vận dụng kỹ năng tư vấn giúp người được tư vấn có khả năng

tự quyết định được phương thức giải quyết vấn đề một cách hiệu quả

Khi đề cập đến kĩ năng tư vấn giáo dục có thể hình dung ngay đến kĩ năng hướng dẫn, tư vấn của giáo viên đối với những vấn đề học sinh đang cần trợ giúp, ở đây chính là sự vận dụng kinh nghiệm, tri thức, năng lực ở giáo viên một cách linh hoạt phù hợp để hỗ trợ học sinh giải quyết những khó khăn khi họ gặp phải

Từ những phân tích trên, khái niệm kĩ năng tư vấn giáo dục có thể được hiểu

như sau: kĩ năng tư vấn giáo dục là sự vận dụng kiến thức và kỹ năng tư vấn của nhà

giáo dục vào quá trình hỗ trợ, trợ giúp học sinh giúp các em vượt qua được những

Trang 25

trở ngại và khó khăn trong học tập, trong mối quan hệ với những người xung quanh, trong tham gia hoạt động giáo dục một cách hiệu quả đồng thời tạo điều kiện thuận lợi nhất cho quá trình phát triển nhân cách của các em

1.2.5 Bồi dưỡng kĩ năng tư vấn giáo dục cho GVCN ở trường THPT

Bồi dưỡng kĩ năng tư vấn giáo dục cho GVCN ở trường THPT là quá trình tổ chức một cách có mục đích, có kế hoạch việc cập nhật, bổ sung kiến thức và kĩ năng

tư vấn giáo dục học sinh lớp chủ nhiệm cho GVCNL, được thực hiện trong mối quan

hệ thống nhất biện chứng giữa chủ thể bồi dưỡng (nhà QL) và đối tượng bồi dưỡng (GVCNL) thông qua việc triển khai một cách có hệ thống nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức bồi dưỡng đáp ứng yêu cầu phát triển năng lực của đội ngũ giáo viên chủ nhiệm lớp trong bối cảnh xã hội hiện nay

1.2.6 Quản lý hoạt động bồi dưỡng kĩ năng tư vấn giáo dục cho GVCN ở trường THPT

Quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên là một trong những nội dung của công tác quản lý giáo dục, là quá trình tác động của chủ thể quản lý giáo dục tới khách thể quản lý (tập thể giáo viên) tạo điều kiện cho giáo viên, đồng thời cũng là những yêu cầu và chuyển hóa yêu cầu thành nhu cầu tham gia các hoạt động bồi dưỡng được tổ chức trong và ngoài nhà trường ở mỗi giáo viên thông qua quá trình triển khai hiệu quả các phương pháp, hình thức quản lý trong các đơn vị giáo dục Thông qua các cách thức quản lý hiệu quả của nhà quản lý giúp cho mỗi GVCN lớp nhận thức được việc cập nhật, bổ sung kiến thức, kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ là cần thiết, nhận thức được những yêu cầu của nghề đặt ra áp lực cho chính đội ngũ GVCN lớp, từ đó

họ nhận thức được việc tham gia các lớp bồi dưỡng là cần thiết Đồng thời bên cạnh

đó, trong quá trình quản lý cũng rất cần những thiết chế cụ thể để chuyển hóa nhận thức của GVCNL thành những hành động cụ thể, thành quá trình tham gia vào các hoạt động bồi dưỡng và tự bồi dưỡng nâng cao năng lực sư phạm nhằm đáp ứng yêu cầu của người GVCNL trong giai đoạn hiện nay

Quản lý hoạt động bồi dưỡng kĩ năng tư vấn giáo dục cho GVCN ở trường THPT là quá trình tác động đến hoạt động bồi dưỡng KNTVGD (mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức và kết quả bồi dưỡng) hợp quy luật của nhà quản lý đến các khâu, các cấp, các mắt xích của hoạt động bồi dưỡng nhằm nâng cao chất lượng,

Trang 26

hiệu quả hoạt động bồi dưỡng KNTVGD cho GVCNL, phát triển hệ thống KNTVGD cho GVCNL đáp ứng yêu cầu năng lực người GVCNL trong giai đoạn hiện nay

Cán bộ quản lý phải có những biện pháp quản lý mang tính đồng bộ thì mới đảm bảo được hoạt động bồi dưỡng kĩ năng tư vấn giáo dục cho GVCN diễn ra liên tục, thường xuyên, hiệu quả Chức năng quản lý hoạt động bồi dưỡng kĩ năng tư vấn giáo dục cho GVCN gồm: điều tra nguyện vọng, nhu cầu cần được bồi dưỡng của giáo viên, xây dựng kế hoạch bồi dưỡng, tổ chức triển khai thực hiện kế hoạch, quản

lý việc chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ bồi dưỡng, kiểm tra, đánh giá kết quả bồi dưỡng Nội dung bồi dưỡng kĩ năng tư vấn giáo dục cho GVCN gồm: Bồi dưỡng để nâng cao kiến thức về tư vấn giáo dục, bồi dưỡng để nâng cao, phát triển kĩ năng tư vấn giáo dục (cách vận dụng kiến thức về kĩ năng tư vấn để hỗ trợ cho học sinh) cho GVCN

Quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên nói chung, bồi dưỡng kĩ năng tư vấn giáo dục cho GVCN nói riêng là quá trình tác động có ý thức của chủ thể quản lý giáo dục tới khách thể quản lý (GVCN) tạo cơ hội cho GVCN tham gia các hoạt động bồi dưỡng trong và ngoài nhà trường nhằm cập nhật, bổ sung kiến thức, kỹ năng về tư vấn giáo dục, bồi dưỡng tư tưởng tình cảm nghề nghiệp nhằm nâng cao phẩm chất và năng lực sư phạm của GVCN đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp giáo dục đào tạo trong bối cảnh xã hội hiện nay

1.3 Một số vấn đề về kĩ năng tư vấn giáo dục của GVCN ở trường THPT

1.3.1 Người GVCN ở trường THPT

1.3.1.1 GVCN ở trường THPT

Giáo viên chủ nhiệm ở trường THPT là một trong những giáo viên đang giảng dạy ở lớp có đủ các tiêu chuẩn và điều kiện đứng ra làm chủ nhiệm lớp trong một năm học hoặc trong tất cả các năm tiếp theo của cấp học Giáo viên chủ nhiệm lớp thực hiện nhiệm vụ quản lí lớp học và là nhân vật chủ chốt, là linh hồn của lớp, người tập hợp, dìu dắt giáo dục học sinh phấn đấu trở thành những người có phẩm chất, năng lực và xây dựng một tập thể học sinh vững mạnh

1.3.1.2 Vai trò của GVCN lớp ở trường THPT

GVCN là người thay mặt hiệu trưởng quản lý lớp học Vai trò quản lý đó được thể hiện trong việc xây dựng kế hoạch giáo dục; tổ chức các hoạt động giáo dục; đôn

Trang 27

đốc, hướng dẫn việc thực hiện các hoạt động giáo dục theo kế hoạch; kiểm tra, đánh giá kết quả học tập, tu dưỡng của học sinh trong lớp GVCN chịu trách nhiệm về kết quả học tập và rèn luyện của học sinh trong lớp trước hiệu trưởng, hội đồng nhà trường và cha mẹ học sinh Do đó, có thể nói trách nhiệm của GVCN lớp rất nặng nề Đồng thời GVCN là linh hồn của tập thể lớp, là người tập hợp học sinh thành một khối đoàn kết

Trong quá trình làm việc, GVCN là người tổ chức các hoạt động giáo dục học sinh trong lớp Vai trò tổ chức của GVCN được thể hiện trong các việc: i) - Thành lập

bộ máy tự quản của lớp; ii) - Phân công trách nhiệm cho từng cá nhân và cho các tổ, nhóm; iii) - Tổ chức các hoạt động của lớp theo mục tiêu giáo dục đã được xây dựng; iv) - Các hoạt động của lớp thực hiện theo năm mặt toàn diện, GVCN phải quán xuyến tất cả các hoạt động của lớp một cách chặt chẽ Chất lượng học tập và tu dưỡng đạo đức của học sinh trong lớp phụ thuộc rất nhiều vào khả năng tổ chức giáo dục của GVCN

GVCN là người cố vấn đắc lực của Chi đoàn Thanh niên trong việc tổ chức sinh hoạt tập thể Ở đây, GVCN làm cố vấn cho các tổ chức đoàn thể về việc lập kế hoạch công tác, thành lập các Ban chấp hành Chi đoàn, tổ chức các mặt hoạt động, sinh hoạt các đoàn thể và phối hợp với các hoạt động của tập thể lớp nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục chung

GVCN giữ vai trò chủ động trong việc phối hợp các lực lượng giáo dục: Gia đình, nhà trường, xã hội là ba lực lượng giáo dục, trong đó nhà trường là lực lượng giáo dục có tính chất chuyên nghiệp GVCN là người giữ vai trò chủ động trong việc phối hợp các lực lượng giáo dục Do vậy, GVCN phải là người đứng ra điều phối và kết hợp cùng các lực lượng giáo dục để tổ chức các hoạt động giáo dục một cách có hiệu quả nhất

Năng lực chuyên môn, đạo đức, uy tín và kinh nghiệm công tác của GVCN là điều kiện quan trọng nhất cho việc tổ chức, phối hợp thành công các hoạt động giáo dục học sinh của lớp

1.3.1.3 Nhiệm vụ của GVCN ở trường THPT

Điều 31, Điều lệ trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học, GVCN trước hết phải là GV giảng dạy bộ môn, đã được quy định rõ như sau:

Trang 28

“1 GV bộ môn có những nhiệm vụ sau đây: a) Dạy học và GD theo chương trình, kế hoạch GD, kế hoạch dạy học của nhà trường theo chế độ làm việc của GV

do Bộ trưởng Bộ GD&ĐT quy định; QL học sinh trong các hoạt động GD do nhà trường tổ chức; tham gia các hoạt động của tổ chuyên môn; chịu trách nhiệm về chất lượng, hiệu quả GD; tham gia nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng; b) Tham gia công tác phổ cập GD ở địa phương; c) Rèn luyện đạo đức, học tập văn hoá, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ để nâng cao chất lượng, hiệu quả giảng dạy và GD; vận dụng các phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo, rèn luyện phương pháp tự học của HS; d) Thực hiện Điều lệ nhà trường; thực hiện quyết định của Hiệu trưởng, chịu sự kiểm tra, đánh giá của Hiệu trưởng và các cấp QLGD; đ) Giữ gìn phẩm chất, danh dự, uy tín của nhà giáo, gương mẫu trước HS; thương yêu, tôn trọng HS, đối xử công bằng với HS, bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của HS; đoàn kết, giúp đỡ đồng nghiệp; tạo dựng môi trường học tập và làm việc dân chủ, thân thiện, hợp tác, an toàn và lành mạnh; e) Phối hợp với GVCN, các GV khác, gia đình HS, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh trong dạy học và GD học sinh; g) Thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật

2 Ngoài các nhiệm vụ quy định tại khoản 1 của Điều này, GVCN còn có những nhiệm vụ sau đây: a) Xây dựng kế hoạch các hoạt động GD thể hiện rõ mục tiêu, nội dung, phương pháp GD bảo đảm tính khả thi, phù hợp với đặc điểm HS, với hoàn cảnh và điều kiện thực tế nhằm thúc đẩy sự tiến bộ của cả lớp và của từng HS; b) Thực hiện các hoạt động GD theo kế hoạch đã xây dựng; c) Phối hợp chặt chẽ với gia đình HS, với các GV bộ môn, Đoàn thanh niên Cộng sản HCM, Đội Thiếu niên Tiền phong HCM, các tổ chức xã hội có liên quan trong việc hỗ trợ, giám sát việc học tập, rèn luyện, hướng nghiệp của HS lớp mình chủ nhiệm và góp phần huy động các nguồn lực trong cộng đồng phát triển nhà trường; d) Nhận xét, đánh giá và xếp loại HS cuối kỳ và cuối năm học; đề nghị khen thưởng và kỷ luật HS; đề nghị danh sách HS được lên lớp thẳng, phải kiểm tra lại, phải rèn luyện thêm về hạnh kiểm trong kỳ nghỉ hè, phải ở lại lớp; hoàn chỉnh việc ghi sổ điểm và học bạ HS; đ) Báo

Trang 29

cáo thường kỳ hoặc đột xuất về tình hình của lớp với Hiệu trưởng” [Thông tư số12/2011/TT-BGDĐT]

Từ vai trò và nhiệm vụ của GVCN ở trường THPT cho thấy GVCN có mối quan hệ mật thiết với học sinh, gần gũi với học sinh vì vậy bồi dưỡng kĩ năng tư vấn giáo dục cho học sinh là điều cần thiết giúp GVCN thực hiện tốt các nhiệm vụ chuyên môn của GVCN trong trường THPT, đặc biệt hoạt động này sẽ hỗ trợ tích cực cho quá trình dạy học, giáo dục học sinh đạt được mục tiêu giáo dục như mong muốn

1.3.1.4 Nội dung công tác chủ nhiệm

Tìm hiểu và nắm vững đối tượng giáo dục: GVCN hiểu rõ được học sinh mới thực hiện được chức năng quản lý để giáo dục toàn diện học sinh, lựa chọn được những biện pháp tác động phù hợp, mới biến quá trình GD của GV thành quá trình tự

GD của HS với tư cách HS là chủ thể của quá trình GD, mới đánh giá đúng đắn và chính xác chất lượng và hiệu quả của GD Tìm hiểu và nắm vững đối tượng GD vừa

là nội dung, vừa là điều kiện để làm tốt công tác của GVCN

Lập kế hoạch chủ nhiệm: Xây dựng kế hoạch nhằm đảm bảo việc đạt được mục tiêu đề ra một cách khoa học và hiệu quả GVCN lập kế hoạch sẽ luôn nắm vững mục tiêu và thực hiện một cách khoa học để đạt mục tiêu trong công tác chủ nhiệm

Xây dựng lớp thành một tập thể HS vững mạnh có ý nghĩa to lớn trong công tác

GD vì tập thể HS vừa là môi trường, vừa là phương tiện GD hữu hiệu nhất GVCN cần chú ý đến các biện pháp xây dựng tập thể HS vững mạnh Xây dựng các mối quan hệ đúng đắn trong tập thể Một tập thể vững mạnh là một tập thể có các mối quan hệ lành mạnh, đúng đắn Tổ chức tốt các loại hình hoạt động và giao lưu trong tập thể HS Xây dựng đội ngũ cán bộ lớp vững mạnh Đội ngũ cán bộ lớp là những thành viên tích cực,

là cánh tay đắc lực của GVCN trong việc tổ chức và lãnh đạo tập thể

Quan tâm GD học sinh cá biệt Học sinh cá biệt là những học sinh có biểu hiện đặc biệt so với học sinh bình thường Những biểu hiện này diễn ra theo 2 hướng: Tích cực: Thể hiện khả năng vượt trội, luôn có sự sáng tạo đòi hỏi GVCN phải nhạy cảm

để nắm bắt và hướng dẫn các em phát triển đúng hướng; Tiêu cực: Thể hiện thiếu ý thức tổ chức kỷ luật; học tập yếu kém; vô lễ, thiếu tôn trọng thầy, cô và người lớn tuổi; không vâng lời cha mẹ; chây lười trong các hoạt động chung; sinh hoạt bê tha,

Trang 30

ăn chơi, đua đòi, quậy phá GVCN chú ý phát hiện những HS cá biệt, tìm hiểu nguyên nhân, có kế hoạch GD có hiệu quả

1.3.2 Kỹ năng tư vấn giáo dục của GVCN ở trường THPT

Kĩ năng tư vấn giáo dục là một trong các thành phần thể hiện năng lực sư

phạm của GVCN Nếu GVCN có kĩ năng tư vấn giáo dục tốt sẽ tạo được nhiều thuận lợi trong quá trình giáo dục học sinh GVCN ở trường phổ thông phải thực hiện rất nhiều nhiệm vụ khác nhau, là người định hướng cho tập thể học sinh, là người kết nối tập thể học sinh với nhà trường và các tổ chức đoàn thể khác GVCN cần làm tốt công tác tổ chức lớp học, các hoạt động để giáo dục học sinh Vì vậy khi có kĩ năng

tư vấn giáo dục GVCN sẽ giúp định hướng, hỗ trợ cho học sinh trong học tập có kết quả cao hơn, có thể xây dựng tập thể lớp thành một tập thể vững mạnh, đoàn kết Như vậy, khi GVCN có kĩ năng tư vấn giáo dục là đã góp phần giúp họ thực hiện tốt các nhiệm vụ của GVCN ở trường phổ thông

Xây dựng một trường học thân thiện, có sự tin tưởng giữa GV và HS, GV với

GV, GV với phụ huynh HS và các tổ chức xã hội trong và ngoài nhà trường luôn là mục tiêu đặt ra của các nhà trường Để xây dựng được mối quan hệ thân thiện mang tính chia sẻ, hợp tác, tin tưởng lẫn nhau trong môi trường giáo dục thì có sự tích cực chủ động từ nhiều phía trong đó đội ngũ GVCN đóng vai trò quan trọng Khi GVCNL luôn biết lắng nghe cũng như hiểu được tâm tư, nguyện vọng của học sinh, luôn khích lệ học sinh thì các em sẽ cảm thấy thoải mái học tập, sẽ tích cực tham gia các hoạt động của trường lớp Khi tập thể lớp có sự chia sẻ, yêu thương lẫn nhau thì

sẽ tạo ra môi trường tích cực với những tác động tích cực đến sự phát triển nhân cách học sinh Như vậy khi GVCN có kĩ năng tư vấn giáo dục sẽ góp phần thiết lập mối quan hệ thân thiện, tin tưởng giữa GV và HS, GV với GV, GV với phụ huynh HS

Hoạt động bồi dưỡng kĩ năng tư vấn giáo dục sẽ góp phần phát triển liên tục năng lực nghề nghiệp cho GV Khi giáo viên nhận thức được tầm quan trọng của hoạt động tư vấn giáo dục trong nhà trường họ sẽ tích cực tham gia vào các quá trình bồi dưỡng kĩ năng với nhiều con đường khác nhau, từ đó những kĩ năng mới được hình thành, những kĩ năng đã có được rèn luyện thành thạo hơn

Trang 31

1.3.3 Các kỹ năng thành phần thuộc kỹ năng tư vấn giáo dục của GVCN

Kỹ năng tư vấn giáo dục của GVCN là khái niệm rộng bao gồm nhiều thành phần

kỹ năng khác nhau, trong phạm vi nghiên cứu của đề tài nhóm nghiên cứu tìm hiểu các

kĩ năng thành phần thuộc kĩ năng tư vấn giáo dục sau: kĩ năng tư vấn học tập, kĩ năng tư vấn hướng nghiệp, kĩ năng tư vấn tình cảm, giới tính, kĩ năng tư vấn cách tiếp cận thông tin trên mạng Internet trong hình thành giá trị sống và kĩ năng sống

* Kĩ năng tư vấn học tập

Học tập là nhiệm vụ chính của học sinh, hoạt động học là hoạt động chủ đạo của học sinh khi tham gia các hoạt động ở trường phổ thông Khi thực hiện các nhiệm vụ học tập học sinh luôn nhận được sự định hướng của giáo viên tuy nhiên việc thực hiện các nhiệm vụ học tập không phải lúc nào cũng diễn ra thuận lợi, có nhiều học sinh thường gặp khó khăn trong quá trình học tập vì vậy cần có sự hướng dẫn, trợ giúp của giáo viên

để các em khắc phục được những khó khăn trên Vì vậy kĩ năng tư vấn về học tập là kĩ năng thành phần quan trọng trong các kĩ năng về tư vấn giáo dục của giáo GVCN ở trường THPT

Kĩ năng tư vấn học tập của GVCN là sự vận dụng kiến thức, kinh nghiệm tư vấn học tập của giáo viên vào việc xây dựng mối quan hệ cởi mở, chân thành, tin cậy để trao đổi thông tin, cung cấp giải pháp giúp học sinh THPT giải quyết những khó khăn mà họ gặp phải trong quá trình học tập trên lớp, quá trình tự học, tự nghiên cứu, trong thực hiện nội quy của nhà trường…nhằm giúp học sinh thực hiện các nhiệm vụ học tập một cách hiệu quả nhất

Nội dung cơ bản của kĩ năng tư vấn học tập là GVCN phải xây dựng được mối quan hệ tin cậy, chuẩn mực với học sinh, thường xuyên trao đổi thông tin với học sinh từ

đó đưa ra các cách hỗ trợ giúp học sinh giải quyết những vấn đề học tập đang gặp phải Trong quá trình làm công tác chủ nhiệm lớp và tham gia giảng dạy giáo viên có thể chủ động nhận biết được những vấn đề học sinh của mình gặp phải trong quá trình học tập từ

đó chủ động đưa ra các cách tư vấn, hỗ trợ cho học sinh Bên cạnh đó giáo viên cần nhiệt tình giúp đỡ khi học sinh có nhu cầu được tư vấn, hỗ trợ

Kĩ năng tư vấn học tập được cấu thành nên từ hệ thống các kĩ năng sau: kĩ năng

tư vấn học sinh xây dựng kế hoạch học tập, kĩ năng tư vấn phương pháp học tập, kĩ năng

Trang 32

tư vấn học sinh nghiên cứu khoa học, kĩ năng tư vấn cách thu thập xử lý thông tin trong quá trình học tập, kĩ năng hợp tác, chia sẻ trong học tập, kĩ năng thuyết trình, kĩ năng làm việc nhóm…Các kĩ năng này luôn có mối quan hệ mất thiết với nhau trong hệ thống kĩ năng tư vấn học tập của GVCN

* Kĩ năng tư vấn hướng nghiệp

Tư vấn hướng nghiệp có thể được hiểu như một hoạt động thông tin nhằm giúp đối tượng nâng cao nhận thức, hiểu biết về thế giới nghề, huy động nghề và lĩnh vực nghề riêng biệt Trên cơ sở đó giúp cho đối tượng có những định hướng và lựa chọn nghề một cách phù hợp tránh tình trạng lựa chọn nghề theo cảm tính dẫn đến sự không phù hợp về nghề giữa chủ thể lao động và yêu cầu của nghề từ đó kéo theo nhiều hệ lụy khác Tư vấn nghề là một hoạt động có đối tượng, trong đó chủ thể là một cá nhân hay một tổ chức có kinh nghiệm nắm vững một hoạt động nào đó Chủ thể tư vấn là nơi thu nhận, sàng lọc, chuyền tải thông tin nghề và có khả năng ứng xử với đối tượng để thỏa mãn nhu cầu của đối tượng tư vấn ở mức độ cần thiết Mối quan hệ giữa chủ thể tư vấn

và đối tượng tư vấn là mối quan hệ tác động, cải biến, trong đó chủ thể tư vấn ở vị trí tạo nên sự tác động nhờ việc chuyển tải thông tin, phân tích, khuyên nhủ Đối tượng tư vấn ở

vị trí của những người được cải biến nhờ việc tiếp nhận những thông tin chưa rõ ràng hoặc thiếu hụt Kết quả cuối cùng của tư vấn có thể là những chuyển biến về nhận thức của đối tượng về nghề và cũng có thể là sự thay đổi những quyết định lớn của cuộc đời

Đối với lứa tuổi học sinh THPT hoạt động hướng nghiệp là hoạt động chủ đạo đặc biệt với học sinh cuối cấp Lúc này các em đang đứng trước nhiều con đường lựa chọn về nghề nghiệp cho tương lai Có em đã định hướng được nghề nghiệp cho bản thân nhưng cũng có nhiều em còn gặp khó khăn trong việc lựa chọn khối thi, ngành học

và con đường tương lai của mình Mặt khác ở lứa tuổi này việc lựa chọn nghề còn thiên

về cảm tính và bị những yếu tố bên ngoài của nghề hay cha mẹ, bạn bè… chi phối nên không tránh khỏi được việc lựa chọn trường thi, ngành học không phù hợp với năng lực, tính cách của bản thân từ đó dẫn đến sự không phù hợp về nghề, sự chán nản thất vọng Chính vì vậy GVCN là người cần trang bị cho mình đầy đủ các kiến thức về thế giới nghề nghiệp cũng như những kỹ năng tư vấn về nghề để có thể sẵn sàng tư vấn nghề cho học sinh

Trang 33

Kĩ năng tư vấn hướng nghiệp được hiểu là sự vận dụng linh hoạt kiến thức, kinh nghiệm về thế giới nghề nghiệp của giáo viên để đưa ra những hỗ trợ tích cực cho học sinh trong quá trình tìm hiểu, lựa chọn nghề nghiệp, giúp các em lựa chọn được nghề nghiệp phù hợp với trình độ, năng lực, đặc điểm tâm lý của học sinh cũng như nhu cầu của xã hội

Kĩ năng tư vấn hướng nghiệp bao gồm hệ thống các kĩ năng như: kĩ năng tư vấn

về cách tìm hiểu thông tin nghề nghiệp, kĩ năng tư vấn học sinh lựa chọn nghề phù hợp với năng lực và tính cách của học sinh, kĩ năng sử dụng công cụ chuẩn đoán tâm lý, kĩ năng tư vấn về xu hướng nghề nghiệp cho học sinh…

* Kĩ năng tư vấn tình cảm, giới tính

Một trong những vấn đề học sinh THPT quan tâm và ảnh hưởng nhiều đến học tập, cuộc sống của các em đó là vấn đề liên quan đến tình bạn, tình yêu, các mối quan hệ giao tiếp ứng xử trong gia đình, nhà trường, xã hội Học sinh THPT thường có rất nhiều khúc mắc về tình cảm mà ở lứa tuổi này các em chưa thể tự giải quyết được nên các em cần đến sự tư vấn của người lớn trong đó có các thầy cô của mình Bản thân đây là vấn

đề tế nhị nên giáo viên cũng cần phải khéo léo, có kỹ năng để giúp người học giữ gìn được những tình cảm trong sáng, tạo dựng được mối quan hệ đúng mực, thân thiện với mọi người

Tình bạn chiếm một vị trí quan trọng trong đời sống tình cảm của học sinh THPT Nhu cầu về tình bạn, tâm tình cá nhân cũng tăng lên rõ rệt, phạm vi và đối tượng kết bạn được mở rộng Những yêu cầu đặt ra cho bạn mình cũng cao hơn, các em thường lựa chọn những người có cùng tính cách, sở thích, quan điểm sống làm bạn thân Nhu cầu về tình bạn khác giới tăng lên, các em không còn nhiều e ngại như giai đoạn lứa tuổi trước

Do phạm vi kết bạn ngày càng được mở rộng nên cũng có nhiều vấn đề từ đó nảy sinh như việc lựa chọn đối tượng để làm bạn, những xích mích trong nhóm bạn, sự nhầm lẫn giữa tình bạn với tình yêu, cách bạn bè ảnh hưởng đến nhau Một đặc điểm nổi bật trong

sự phát triển tâm lý của lứa tuổi này đó là sự xuất hiện của tình yêu học trò Tình yêu học trò là thứ tình cảm hết sức trong sáng, hồn nhiên, giàu cảm xúc, chân thành và nó chi phối nhiều đến đời sống tinh thần của các em Tuy nhiên tình yêu mới nảy sinh này cũng

có thể phát triển không bình thường nếu như các em thiếu sự quan tâm của gia đình, thầy

Trang 34

cô và không có được những sự định hướng đúng đắn hay gặp phải thái độ can thiệp gay gắt, bảo thủ từ phía người lớn Từ đó sẽ dẫn đến sự sao nhãng trong học tập hay có những hành vi tiêu cực làm ảnh hướng đến tương lai của các em Trong trường học giáo viên cần phải là người quan sát để nhận biết được những tình cảm, các mối quan hệ của học sinh đồng thời là những người bạn để các em có thể chia sẻ, là nhà tư vấn có thể đưa

ra những lời khuyên cho học sinh của mình

Trong trường phổ thông học sinh có nhu cầu giao tiếp rộng, ham hiểu biết và nhạy bén với những vấn đề mới nhưng lại thiếu kinh nghiệm và bản lĩnh, do đó các em

tỏ ra lúng túng trong ứng xử, hay giải quyết vấn đề, hoặc xử lý tình huống trong giao tiếp hàng ngày Có những mối quan hệ mà tự học sinh không thể tự giải thoát hay tháo gỡ, các em cần sự trợ giúp của giáo viên hay người thân Vì vậy giáo viên phải là người trợ giúp tốt nhất cho học sinh trong các mối quan hệ với thầy cô, cha mẹ, bạn bè hay các mối quan hệ xã hội khác Tư vấn hỗ trợ về quan hệ giao tiếp, ứng xử chính là việc giúp cho đối tượng được tư vấn giải quyết những vướng mắc về các quan hệ giao tiếp ứng xử, giúp họ hiểu những yêu cầu về chuẩn mực trong giao tiếp để người học có thể tiếp nhận, rèn luyện, từ đó có lời nói phù hợp với hành vi chuẩn mực Muốn làm được điều này thì bản thân người giáo viên cũng phải là một chuẩn mực trong các mối quan hệ với đồng nghiệp, gia đình, học sinh…cũng phải trang bị cho mình những kỹ năng về giao tiếp, ứng

xử, kỹ năng về thiết lập và duy trì các mối quan hệ để có thể tạo ra những ảnh hưởng tốt đến học sinh của mình cũng như trợ giúp học sinh khi các em gặp khó khăn trong đời sống tình cảm, trong các mối quan hệ xã hội

* Kĩ năng tư vấn cách tiếp cận thông tin trên mạng Internet trong hình thành giá trị sống và kĩ năng sống

Trong bối cảnh công nghệ thông tin phát triển mạnh mẽ cùng với đó là các nguồn tiếp cận thông tin là mở, học sinh có thể dễ dàng tiếp cận các dạng thông tin khác nhau đặc biệt là từ mạng internet Với sự phát triển mạnh của mạng xã hội, của các hình thức kết nối thông tin vì vậy xuất hiện nhiều vấn đề mới trong học sinh THPT hiện nay mà nguyên nhân chủ yếu do xuất phát từ mạng xã hội Bên cạnh những ảnh hưởng tích cực của việc học sinh dễ dàng tiếp nhận các thông tin như phục vụ học tập, giao lưu, cập nhật thông tin thời sự… cùng với nó là những mặt tiêu cực nếu học sinh không có kĩ năng lựa

Trang 35

chọn, đánh giá thông những nguồn thông tin mà học sinh được tiếp cận trên mạng internet Thông tin học sinh tiếp cận thường xuyên có ảnh hưởng lớn đến việc hình thành giá trị sống, kĩ năng sống của học sinh vì vậy GVCN là người có vai trò quan trọng trong định hướng cách tiếp cận nguồn thông tin tích cực của học sinh

Xuất phát từ nhu cầu của thực tế, GVCN cần có kĩ năng tư vấn cho học sinh về cách tiếp cận thông tin đặc biệt thông tin trên mạng internet trong việc hình thành giá trị sống và kĩ năng sống của học sinh GVCN cần có kĩ năng định hướng để học sinh có thể đánh giá được những thông tin mình tiếp nhận là đúng hay sai, cách sử dụng mạng internet thế nào cho hiệu quả và mang lại những lợi ích cho học sinh

Kĩ năng tư vấn cách tiếp cận thông tin trên mạng Internet trong hình thành giá trị sống và kĩ năng sống bao gồm các kĩ năng: kĩ năng đánh giá thông tin, kĩ năng lựa chọn thông tin, kĩ năng phê phán thông tin không chính xác, kĩ năng sử dụng mạng intetnet phục vụ học tập,… Để hình thành, phát triển kĩ năng tư vấn về cách tiếp cận thông tin cho giáo viên chủ nhiệm cần thông qua nhiều hình thức bằng nhiều con đường khác nhau

1.3.4 Quá trình hình thành và phát triển kỹ năng tư vấn giáo dục của GVCN ở trường THPT

Kĩ năng tư vấn giáo dục là một thành phần thuộc năng lực của GVCN cụ thể thuộc nhóm năng lực giáo dục của người giáo viên vì vậy quá trình hình thành và phát triển kĩ năng tư vấn giáo dục của GVCN cũng tuân theo quá trình hình thành năng lực sư phạm của người giáo viên

Quá trình phát triển kĩ năng tư vấn giáo dục được hình thành từ khi GVCN là sinh viên trong trường đại học, được đào tạo với chương trình dành cho cử nhân sư phạm vì vậy khi tốt nghiệp trường đại học, sinh viên sư phạm đã hình thành được những kĩ năng cơ bản về tư vấn giáo dục cho học sinh Thông qua các hoạt động dạy học, hoạt động rèn luyện nghiệp vụ sư phạm thường xuyên, hoạt động ngoại khóa, hoạt động thực tập sư phạm tại trường phổ thông sinh viên sư phạm được trang bị các kiến thức, kĩ năng về tư vấn, chăm sóc tâm lý cho học sinh Ví dụ qua hoạt động thực tập ở trường phổ thông sinh viên không chỉ được thực hành công việc giảng dạy mà còn được làm công tác chủ nhiệm qua đó sinh viên có cơ hội tìm hiểu tâm tư, nguyện vọng

Trang 36

cũng như những khó khăn của học sinh từ đó có thể định hướng, trợ giúp cho học sinh của mình Trên cơ sở đó sinh viên sẽ phát triển được những kỹ năng nghề nghiệp cũng như các kỹ năng tư vấn, chăm sóc tâm lý cho học sinh Như vậy, khi tốt nghiệp trường đại học, sinh viên sư phạm đã có những kiến thức, kĩ năng nền tảng cơ bản về tư vấn giáo dục cho học sinh tất nhiên vốn kiến thức, kĩ năng về tư vấn giáo dục ở mỗi cá nhân là khác nhau

Thực tiễn hoạt động nghề nghiệp ở trường phổ thông là con đường nhanh nhất

để hình thành và phát triển kĩ năng tư vấn giáo dục cho GVCN Qua công tác giảng dạy, công tác chủ nhiệm lớp và các nhiệm vụ khác ở trường học, năng lực sư phạm của giáo viên được tích lũy qua thời gian và phát triển ở mức độ cao hơn GVCN thiết lập các mối quan hệ với nhà quản lý, với đồng nghiệp, phụ huynh học sinh, với học sinh và những lực lượng liên quan từ đó có thêm các kinh nghiệm trong hoạt động nghề nghiệp

Thực tiễn dạy học, giáo dục học sinh giúp GVCN được tiếp xúc cũng như giải quyết nhiều tình huống nảy sinh trong quá trình từ đó vốn kiến thức, kinh nghiệm thực

tế được tích lũy, khả năng vận dung các kiến thức kinh nghiệm để giúp học sinh giải quyết các vấn đề trở nên thành thục hơn, nghĩa là kĩ năng tư vấn giáo dục của giáo viên ngày một phát triển qua các hoạt động nghề nghiệp của giáo viên

Một kĩ năng muốn bền vững phải được tập luyện thường xuyên, do đó con đường tự học, tự bồi dưỡng để phát triển kĩ năng tư vấn giáo dục của GVCN là rất cần thiết

Tóm lại Quá trình hình thành và phát triển kỹ năng tư vấn giáo dục của GVCN

ở trường THPT được hình thành qua các giai đoạn sau: Hoạt động học tập, rèn luyện ở trường đại học, hoạt động nghề nghiệp, thông qua các hình thức bồi dưỡng, tự học, tự nâng cao cần được tham gia dưới nhiều hình thức bồi dưỡng trên

1.4 Một số vấn đề về bồi dưỡng kĩ năng tư vấn giáo dục cho giáo viên chủ nhiệm

ở các trường THPT

1.4.1 Mục tiêu bồi dưỡng kĩ năng tư vấn giáo dục cho GVCN ở trường THPT

Bồi dưỡng kĩ năng tư vấn giáo dục cho GVCN nhằm phát triển kĩ năng tư vấn giáo dục một cách thường xuyên, liên tục cho GVCN, nâng cao kiến thức, kĩ năng về

Trang 37

tư vấn giáo dục hiện có của mỗi GVCN từ đó đáp ứng được những yêu cầu về công tác giáo dục học sinh để nâng cao chất lượng giáo dục, đáp ứng yêu cầu của xã hội

Bồi dưỡng kĩ năng tư vấn giáo dục cho GVCN lớp ở trường THPT hướng đến những mục tiêu cụ thể sau: Bồi dưỡng để chuẩn hoá năng lực tư vấn giáo dục cho học sinh, để cập nhật kiến thức về tư vấn giáo dục cho học sinh, để giáo dục học sinh đáp ứng việc đổi mới chương trình phổ thông và sách giáo khoa sau năm 2015, để tiếp tục phát triển, nâng cao kĩ năng tư vấn giáo dục cho giáo viên

1.4.2 Ý nghĩa của hoạt động bồi dưỡng kĩ năng tư vấn giáo dục cho GVCN ở trường THPT

Thông qua hoạt động bồi dưỡng kĩ năng tư vấn giáo dục, giáo viên có cơ hội được học tập, trau dồi thêm các kiến thức, kĩ năng, kinh nghiệm về tư vấn giáo dục từ

đó phát triển kĩ năng tư vấn ở mức cao hơn

Nắm vững và sử dụng nhuần nhuyễn các kĩ năng tư vấn giáo dục góp phần giúp giáo viên thực hiện tốt các nhiệm vụ của GVCN ở trưởng phổ thông Cùng với trình độ giáo dục được nâng cao và sự mở rộng về chức năng, vai trò người giáo viên đảm trách ngày càng phức tạp Họ phải đáp ứng đủ mọi nhu cầu từ học sinh đến đồng nghiệp, phụ huynh học sinh, cơ quan hành chính giáo dục và xã hội Trong khi đó, các em không chỉ hi vọng giáo viên là người truyền đạt tri thức và người quản lí kĩ thuật mà còn hi vọng giáo viên là người bạn trong cuộc sống, là tri ân và người trợ giúp về tâm lý

Khi GVCN có kĩ năng tư vấn giáo dục tốt sẽ hỗ trợ cũng như đưa ra sự định hướng, trợ giúp tích cực cho học sinh trong học tập, trong lựa chọn nghề nghiệp cũng như trong cuộc sống từ đó góp phần đạt được mục tiêu giáo dục đặt ra

Góp phần giúp giáo viên thực hiện tốt các nhiệm vụ của GVCN ở trưởng phổ thông Vận dụng các kĩ năng tư vấn giáo dục trong quá trình giáo dục học sinh góp phần thiết lập mối quan hệ thân thiện, tin tưởng giữa GV và HS, GV với GV, GV với phụ huynh HS Qua đó, học sinh cũng như gia đình của các em có sự an tâm khi tâm

sự, giãi bày những khó khăn, vướng mắc họ đang gặp phải nhằm tìm kiếm sự trợ giúp của GV

Trang 38

Sử dụng thành thạo các kĩ năng tư vấn còn góp phần phần phát triển liên tục năng lực nghề nghiệp cho GV Bởi mỗi học sinh là một cá thể riêng biệt, không trùng lặp với bất kì ai, do đó kĩ năng tư vấn sử dụng cho từng em cũng khác nhau Thông qua mỗi trường hợp tư vấn, giáo viên có dịp nâng cao kĩ năng của bản thân Qua đó, năng lực nghề nghiệp được phát triển liên tục, góp phần nâng cao chất lượng dạy học

1.4.3 Nội dung bồi dưỡng kĩ năng tư vấn giáo dục cho GVCN ở trường THPT

Nội dung của bồi dưỡng kĩ năng tư vấn giáo dục cho GVCN ở trường THPT là tiếp nối những tri thức, kĩ năng về tư vấn giáo dục Do đó, nội dung bồi dưỡng phải kĩ năng tư vấn giáo dục phải phong phú, phù hợp với mục tiêu và hình thức của từng loại hình bồi dưỡng và nội dung bồi dưỡng cần đáp ứng nhu cầu của giáo viên cũng như nhiệm vụ mới trong công tác giáo dục học sinh THPT

Nội dung bồi dưỡng kĩ năng tư vấn giáo dục cho GVCN ở trường THPT cần tập trung vào nhóm kĩ năng sau:

(i) Nhóm kĩ năng tư vấn học tập:

GVCNL thông qua sử dụng các kỹ năng thành phần để thực hiện tư vấn học tập cho học sinh một cách hiệu quả nhất

Nội dung cơ bản của quản lý nhóm kĩ năng tư vấn học tập là nhà quản lý cần xây dựng được mối quan hệ tin cậy, thường xuyên trao đổi thông tin với GVCNL, từ đó phát hiện ra những khó khăn, vướng mắc mà GVCNL đang gặp phải khi thực hiện nhóm kĩ năng tư vấn học tập cho học sinh Qua đó, đưa ra các cách hỗ trợ giúp GVCNL giải quyết những vấn đề đang gặp phải Bên cạnh đó, trong quá trình tham gia giảng dạy, nhà quản lý có thể chủ động nhận biết được những vấn đề học sinh đang gặp phải trong quá

Trang 39

trình học tập từ đó chủ động đưa ra các cách tư vấn, hỗ trợ cho học sinh, đồng thời tư vấn cho GVCNL cách thức giải quyết vấn đề

Nhóm kĩ năng tư vấn học tập cho học sinh bao gồm: Tư vấn về phương pháp học tập; tư vấn về lập kế hoạch học tập; tư vấn về quản lý thời gian trong học tập; tư vấn về hợp tác, chia sẻ trong học tập và tư vấn học sinh làm nghiên cứu khoa học

(ii) Nhóm kĩ năng tư vấn hướng nghiệp

Khi bước vào nhà trường THPT, các em học sinh, đặc biệt học sinh cuối cấp đang đứng trước nhiều lựa chọn nghề nghiệp cho tương lai Có em đã định hướng được nghề nghiệp cho bản thân nhưng cũng có nhiều em còn gặp khó khăn trong việc lựa chọn nghề nghiệp tương lai của mình Trong quá trình lựa chọn nghề, các em cần nhận được sự tư vấn, hỗ trợ của thầy cô giáo, đặc biệt là GVCN Chính vì vậy, GVCN cần quan tâm nhóm kĩ năng tư vấn hướng nghiệp

Nhóm kĩ năng tư vấn hướng nghiệp được hiểu là sự vận dụng linh hoạt kiến thức, kinh nghiệm của GVCN để đưa ra những hỗ trợ tích cực cho HS trong quá trình tư vấn, giúp đỡ học sinh tìm hiểu, lựa chọn nghề nghiệp phù hợp với trình độ, năng lực, đặc điểm tâm lý của học sinh cũng như nhu cầu của xã hội

Nhóm kĩ năng tư vấn hướng nghiệp bao gồm: giới thiệu hệ thống nghề nghiệp trong xã hội và địa phương cho HS; tư vấn HS lựa chọn nghề nghiệp phù hợp; viê ̣c sử dụng công cụ trắc nghiệm xu hướng nghề cho học sinh; kĩ năng tư vấn xu hướng nghề nghiệp cho bản thân và kĩ năng thuyết phục, định hướng

(iii) Nhóm kĩ năng tư vấn về tâm lý, tình cảm, sức khỏe giới tính

Một trong những vấn đề mà GVCN ở trường THPT quan tâm là đó là vấn đề liên quan đến tình bạn, tình yêu, các mối quan hệ giao tiếp ứng xử trong gia đình, nhà trường,

xã hội của các em học sinh Các mối quan hệ tình cảm này ảnh hưởng nhiều đến học tập, cuộc sống của các em , trong khi bản thân các em chưa thể tự giải quyết được nên các em cần đến sự tư vấn của người lớn trong đó có các thầy cô của mình

Kĩ năng tư vấn tình cảm, giới tính cho học sinh là vấn đề tế nhị nên GVCN có

sự định hướng, hỗ trợ để thực hiện nhóm kĩ năng này sao cho khéo léo giúp người học giữ gìn được những tình cảm trong sáng, tạo dựng được mối quan hệ đúng mực, thân thiện với mọi người

Trang 40

Để thực hiện kĩ năng tư vấn tình cảm, giới tính, GV cần thực hiện các biện pháp sau: Nắm đặc điểm tâm, sinh lý của học sinh; tư vấn cho học sinh các vấn đề về sức khỏe giới tính; tư vấn về tình cảm, về thiết lập mối quan hệ bạn bè của học sinh; trợ giúp học sinh trong giải quyết các vấn đề về giao tiếp, ứng xử và quản lý viê ̣c giúp học sinh ứng phó với căng thẳng, stress trong học tập, trong mối quan hệ với bạn bè, với giáo viên và với cha mẹ

(iv) Nhóm kĩ năng tư vấn cách tiếp cận thông tin trên mạng Internet

Trong thời đại bùng nổ công nghệ thông tin như hiện nay, học sinh có thể dễ dàng tiếp cận các dạng thông tin khác nhau đặc biệt là từ mạng internet Với sự phát triển mạnh của mạng xã hội, của các hình thức kết nối thông tin vì vậy xuất hiện nhiều vấn đề mới trong học sinh THPT hiện nay mà nguyên nhân chủ yếu do xuất phát từ mạng xã hội Bên cạnh những ảnh hưởng tích cực như: học sinh dễ dàng tiếp nhận các thông tin như phục vụ học tập, giao lưu, cập nhật thông tin thời sự… cùng với nó là những mặt tiêu cực nếu học sinh không có kĩ năng lựa chọn, đánh giá thông những nguồn thông tin

mà học được tiếp cận trên mạng internet Xuất phát từ nhu cầu của thực tế, GVCN cần

có kĩ năng tư vấn cho học sinh về cách tiếp cận thông tin đặc biệt thông tin trên mạng internet trong việc hình thành giá trị sống và kĩ năng sống của học sinh

Nhóm kĩ năng này bao gồm: Kĩ năng nắm thông tin về nhu cầu sử dụng internet của học sinh lớp chủ nhiệm; Tư vấn học sinh về đánh giá thông tin trên mạng internet; Tư vấn học sinh cách khai thác thông tin trên mạng internet phục vụ hoạt động học; Kĩ năng tư vấn về sử dụng mạng xã hội đúng cách; Tư vấn HS sử dụng thông tin trên mạng internet để hỗ trợ hoạt động giáo dục, tổ chức hoạt động tập thể

và ư vấn học sinh về cách thức chia sẻ thông tin qua internet

(v) Các kĩ năng khác

Trong quá trình thực hiện các nhóm kĩ năng tư vấn giáo dục, bên cạnh việc quan tâm các nhóm kĩ năng tư vấn học tập, nhóm kĩ năng tư vấn hướng nghiệp, nhóm kĩ năng tư vấn tình cảm giới tính, nhóm kĩ năng tư vấn cách tiếp cận thông tin trên mạng Internet, GVCN cần quan tâm đến các nhóm kĩ năng khác như: kĩ năng lắng nghe; kĩ năng giao tiếp với học sinh; quản lý kĩ năng thuyết phục học sinh; kĩ năng chia sẻ thông tin với học sinh; kĩ năng nhận biết cảm xúc và kĩ năng khích lệ học sinh

Ngày đăng: 10/12/2016, 17:10

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Chu Liên Anh (2009), Kỹ năng tư vấn pháp luật của luật sư, Luận án tiến sĩ, Viện Khoa học xã hội vùng Trung Bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ năng tư vấn pháp luật của luật sư
Tác giả: Chu Liên Anh
Năm: 2009
2. Nguyễn Thị Ánh (2009), Hình thành kỹ năng tư vấn cho sinh viên trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên, Luận văn thạc sĩ Giáo Dục Học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hình thành kỹ năng tư vấn cho sinh viên trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên
Tác giả: Nguyễn Thị Ánh
Năm: 2009
3. Đào Thanh Âm (2004), Lịch sử giáo dục thế giới, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử giáo dục thế giới
Tác giả: Đào Thanh Âm
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2004
4. Nguyễn Thanh Bình, Giáo dục một số kỹ năng sống cho học sinh THPT, Mã số B2005-75-126 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục một số kỹ năng sống cho học sinh THPT
5. Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc (2003), Quản lý nhà trường, Tài liệu giảng dạy dành cho học viên cao học quản lý giáo dục, Khoa Sư phạm, Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý nhà trường
Tác giả: Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc
Năm: 2003
6. Phạm Tất Dong (1984), Tâm lý học lao động, Cục Đào tạo bồi dưỡng, Bộ Giáo dục và Đào tạo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học lao động
Tác giả: Phạm Tất Dong
Năm: 1984
7. Ngô Thị Dung, Nguyễn Thị Hồng Nga (2009), “Xây dựng môn hình tư vấn học đường - Một tổ chức hỗ trợ học sinh, sinh viên học tập, lập nghiệp”, Tạp chí Tâm lý học (11/128) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng môn hình tư vấn học đường - Một tổ chức hỗ trợ học sinh, sinh viên học tập, lập nghiệp”
Tác giả: Ngô Thị Dung, Nguyễn Thị Hồng Nga
Năm: 2009
8. Vũ Dũng, Từ điển tâm lý học, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tâm lý học
Nhà XB: NXB Giáo dục
9. Trần Thị Minh Đức (2000), Tư vấn và tham vấn - thuật ngữ và cách tiếp cận, Tạp chí Tâm lý học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư vấn và tham vấn - thuật ngữ và cách tiếp cận
Tác giả: Trần Thị Minh Đức
Năm: 2000
10. Nguyễn Minh Đường, Vấn đề bồi dưỡng và đào tạo lại các loại hình lao động nhằm đáp ứng nhu cầu của sự phát triển kinh tế xã hội, Đề tài KX 07-04 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề bồi dưỡng và đào tạo lại các loại hình lao động nhằm đáp ứng nhu cầu của sự phát triển kinh tế xã hội
11. Nguyễn Văn Hộ (2001), Tuyển tập các tình huống sư phạm, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập các tình huống sư phạm
Tác giả: Nguyễn Văn Hộ
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2001
12. Trần Thị Minh Huế (2012), Phát triển kĩ năng tư vấn, chăm sóc tâm lý cho sinh viên Đại học Thái Nguyên, Mã số ĐH 2011-13-01 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Phát triển kĩ năng tư vấn, chăm sóc tâm lý cho sinh viên Đại học Thái Nguyên
Tác giả: Trần Thị Minh Huế
Năm: 2012
13. Trần Kiểm (1997), Giáo trình Quản lý giáo dục và trường học, Giáo trình dành cho học viên cao học giáo dục học, Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Quản lý giáo dục và trường học
Tác giả: Trần Kiểm
Năm: 1997
14. Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt, Giáo trình Khoa học quản lý, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Khoa học quản lý
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
15. Nguyễn Thị Oanh (2008), Tư vấn tâm lý học đường, NXB trẻ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư vấn tâm lý học đường
Tác giả: Nguyễn Thị Oanh
Nhà XB: NXB trẻ
Năm: 2008
16. Hoàng Phê (1998), Từ điển Tiếng Việt, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Tiếng Việt
Tác giả: Hoàng Phê
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1998
17. Lê Sơn, lê Hồng Minh (2010, 2013), Tài liệu Bồi dưỡng Giáo viên làm tư vấn viên học đường Tây Ninh, Khánh Hoà, Hậu Giang, Lưu hành nội bộ, Trung tâm ƯDKH TLGD Phía Nam - Viện Nghiện Cứu EBM (Giáo dục và QTKD) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bồi dưỡng Giáo viên làm tư vấn viên học đường Tây Ninh, Khánh Hoà, Hậu Giang
18. Hà Nhật Thăng (2004), Công tác chủ nhiệm ở trường phổ thông, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác chủ nhiệm ở trường phổ thông
Tác giả: Hà Nhật Thăng
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2004
19. Nguyễn Thị Tính, Giáo trình lý luận chung về quản lý và quản lý giáo dục, Tài liệu dùng cho học viên cao học, Đại học Sư phạm-Đại học Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình lý luận chung về quản lý và quản lý giáo dục

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Đánh giá về sự cần thiết của hoạt động tư vấn giáo dục và hoạt động - Quản lý hoạt động bồi dưỡng kĩ năng tư vấn giáo dục cho giáo viên chủ nhiệm các trường THPT huyện chiêm hóa, tỉnh tuyên quang
Bảng 2.1. Đánh giá về sự cần thiết của hoạt động tư vấn giáo dục và hoạt động (Trang 57)
Bảng 2.2. Nhận thức của CBQL, GVCN về tư vấn giáo dục - Quản lý hoạt động bồi dưỡng kĩ năng tư vấn giáo dục cho giáo viên chủ nhiệm các trường THPT huyện chiêm hóa, tỉnh tuyên quang
Bảng 2.2. Nhận thức của CBQL, GVCN về tư vấn giáo dục (Trang 59)
Bảng 2.3. Nhận thức của CBQL, GVCN về kĩ năng tư vấn giáo dục - Quản lý hoạt động bồi dưỡng kĩ năng tư vấn giáo dục cho giáo viên chủ nhiệm các trường THPT huyện chiêm hóa, tỉnh tuyên quang
Bảng 2.3. Nhận thức của CBQL, GVCN về kĩ năng tư vấn giáo dục (Trang 60)
Bảng 2.4. Nhận thức của CBQL, GVCN về hoạt động bồi dưỡng kĩ năng tư vấn - Quản lý hoạt động bồi dưỡng kĩ năng tư vấn giáo dục cho giáo viên chủ nhiệm các trường THPT huyện chiêm hóa, tỉnh tuyên quang
Bảng 2.4. Nhận thức của CBQL, GVCN về hoạt động bồi dưỡng kĩ năng tư vấn (Trang 61)
Bảng 2.5. Nhận thức của CBQL, GVCN về quản lý hoạt động - Quản lý hoạt động bồi dưỡng kĩ năng tư vấn giáo dục cho giáo viên chủ nhiệm các trường THPT huyện chiêm hóa, tỉnh tuyên quang
Bảng 2.5. Nhận thức của CBQL, GVCN về quản lý hoạt động (Trang 62)
Bảng 2.6. Tự đánh giá của GVCN các trường THPT huyện Chiêm Hóa, tỉnh - Quản lý hoạt động bồi dưỡng kĩ năng tư vấn giáo dục cho giáo viên chủ nhiệm các trường THPT huyện chiêm hóa, tỉnh tuyên quang
Bảng 2.6. Tự đánh giá của GVCN các trường THPT huyện Chiêm Hóa, tỉnh (Trang 64)
Bảng 2.7. Tự đánh giá của CBQL các trường THPT huyện Chiêm Hóa, - Quản lý hoạt động bồi dưỡng kĩ năng tư vấn giáo dục cho giáo viên chủ nhiệm các trường THPT huyện chiêm hóa, tỉnh tuyên quang
Bảng 2.7. Tự đánh giá của CBQL các trường THPT huyện Chiêm Hóa, (Trang 66)
Bảng 2.8. Đánh giá của HS các trường THPT huyện Chiêm Hóa, - Quản lý hoạt động bồi dưỡng kĩ năng tư vấn giáo dục cho giáo viên chủ nhiệm các trường THPT huyện chiêm hóa, tỉnh tuyên quang
Bảng 2.8. Đánh giá của HS các trường THPT huyện Chiêm Hóa, (Trang 68)
Bảng 2.11. Thực trạng nội dung bồi dưỡng kĩ năng TVGD cho GVCN - Quản lý hoạt động bồi dưỡng kĩ năng tư vấn giáo dục cho giáo viên chủ nhiệm các trường THPT huyện chiêm hóa, tỉnh tuyên quang
Bảng 2.11. Thực trạng nội dung bồi dưỡng kĩ năng TVGD cho GVCN (Trang 72)
Bảng 2.13. Thực trạng hình thức bồi dưỡng kĩ năng tư vấn giáo dục cho GVCN - Quản lý hoạt động bồi dưỡng kĩ năng tư vấn giáo dục cho giáo viên chủ nhiệm các trường THPT huyện chiêm hóa, tỉnh tuyên quang
Bảng 2.13. Thực trạng hình thức bồi dưỡng kĩ năng tư vấn giáo dục cho GVCN (Trang 75)
Bảng 2.16. Thực trạng yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động bồi dưỡng KNTVGD cho GVCN các trường THPT huyện Chiêm Hóa - Quản lý hoạt động bồi dưỡng kĩ năng tư vấn giáo dục cho giáo viên chủ nhiệm các trường THPT huyện chiêm hóa, tỉnh tuyên quang
Bảng 2.16. Thực trạng yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động bồi dưỡng KNTVGD cho GVCN các trường THPT huyện Chiêm Hóa (Trang 80)
Bảng 2.6. Tự đánh giá của GVCN các trường THPT huyện Chiêm Hóa, tỉnh - Quản lý hoạt động bồi dưỡng kĩ năng tư vấn giáo dục cho giáo viên chủ nhiệm các trường THPT huyện chiêm hóa, tỉnh tuyên quang
Bảng 2.6. Tự đánh giá của GVCN các trường THPT huyện Chiêm Hóa, tỉnh (Trang 126)
Bảng 2.7. Tự đánh giá của CBQL các trường THPT huyện Chiêm Hóa, - Quản lý hoạt động bồi dưỡng kĩ năng tư vấn giáo dục cho giáo viên chủ nhiệm các trường THPT huyện chiêm hóa, tỉnh tuyên quang
Bảng 2.7. Tự đánh giá của CBQL các trường THPT huyện Chiêm Hóa, (Trang 129)
Bảng 2.8. Đánh giá của HS các trường THPT huyện Chiêm Hóa, - Quản lý hoạt động bồi dưỡng kĩ năng tư vấn giáo dục cho giáo viên chủ nhiệm các trường THPT huyện chiêm hóa, tỉnh tuyên quang
Bảng 2.8. Đánh giá của HS các trường THPT huyện Chiêm Hóa, (Trang 131)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w