1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Công cuộc xây dựng nông thôn mới ở huyện định hóa, tỉnh thái nguyên từ năm 2007 đến năm 2015

94 435 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 2,81 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Năm 2015, tác giả Nguyễn Thị Minh Thanh đã thực hiện thành công Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Kinh tế Giải pháp đầu tư thành công cho nông nghiệp trong xây dựng nông thôn mới trên địa bà

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

NGUYỄN KHÁNH LY

CÔNG CUỘC XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI

Ở HUYỆN ĐỊNH HÓA, TỈNH THÁI NGUYÊN

TỪ NĂM 2007 ĐẾN NĂM 2015

Chuyên ngành: LỊCH SỬ VIỆT NAM

Mã số: 60.22.03.13

LUẬN VĂN THẠC SĨ NHÂN VĂN

Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN XUÂN MINH

THÁI NGUYÊN - 2016

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu

và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và chưa được

sử dụng để bảo vệ một học vị nào Các tài liệu tham khảo có nguồn trích dẫn

rõ ràng

Thái Nguyên, tháng 09 năm 2016

Tác giả

Nguyễn Khánh Ly

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các thầy, cô giáo đã tham gia giảng dạy lớp Cao học Lịch sử Việt Nam - những người thầy đã trang bị cho tác giả tri thức và kinh nghiệm quý báu trong học tập, nghiên cứu khoa học

Tác giả xin trân trọng cảm ơn các thầy, cô giáo thuộc Phòng Đào tạo; Khoa Lịch Sử Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên, các bạn bè đồng nghiệp đã động viên, nhiệt tình giúp đỡ tác giả và tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả hoàn thành luận văn này

Tác giả xin cảm ơn Ủy ban Nhân dân huyện Định Hóa, Phòng Nông nghiệp huyện Định Hóa, Ủy ban Nhân dân các xã trong huyện Định Hóa đã giúp đỡ tác giả hoàn thành nghiên cứu này

Đặc biệt, tác giả xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Nguyễn Xuân Minh – người đã nhiệt thành, ân cần hướng dẫn, chỉ dạy và giúp đỡ tác giả hoàn thành Luận văn này

Thái Nguyên, tháng 9 năm 2016

Tác giả

Nguyễn Khánh Ly

Trang 4

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục chữ viết tắt iv

Danh mục bảng, biểu, bản đồ v

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu và nhiệm vụ của đề tài 7

4 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu 8

5 Đóng góp của Luận văn 9

6 Cấu trúc của Luận văn 9

Chương 1 KHÁI QUÁT HUYỆN ĐỊNH HÓA, TỈNH THÁI NGUYÊN TRƯỚC KHI TIẾN HÀNH CUỘC VẬN ĐỘNG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI 10

1.1 Vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên và nguồn tài nguyên thiên nhiên 11

1.1.1 Vị trí địa lí và điều kiện tự nhiên 11

1.1.2 Nguồn tài nguyên thiên nhiên 12

1.2 Đặc điểm kinh tế, xã hội huyện Định Hóa 15

1.2.1 Đặc điểm kinh tế 15

1.2.2 Đặc điểm xã hội 21

Tiểu kết chương 1 26

Chương 2 QUÁ TRÌNH VẬN ĐỘNG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở HUYỆN ĐỊNH HÓA (2011 - 2015) 27

2.1 Chủ trương của Đảng, Nhà nước về xây dựng nông thôn mới 27

2.2 Sự vận dụng của đảng bộ, chính quyền địa phương và quá trình thực hiện cuộc vận động xây dựng nông thôn mới 32

Trang 5

2.2.1 Sự vận dụng của Đảng bộ, chính quyền tỉnh Thái Nguyên 32

2.2.2 Sự vận dụng của Đảng bộ, chính quyền huyện Định Hóa và quá trình thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới 37

Tiểu kết chương 2 56

Chương 3 THÀNH TỰU VÀ HẠN CHẾ TRONG CÔNG CUỘC VẬN ĐỘNG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở HUYỆN ĐỊNH HÓA 57

3.1 Thành tựu 57

3.1.1 Kinh tế, xã hội phát triển 57

3.1.2 Đời sống vật chất, văn hóa tinh thần của người dân được nâng lên rõ rệt 62

3.1.3 Kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội được tăng cường 64

3.1.4 Số tiêu chí đạt chuẩn theo Bộ Tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới được nâng lên 65

3.2 Hạn chế 70

Tiểu kết chương 3 72

KẾT LUẬN 73

TÀI LIỆU THAM KHẢO 77

PHỤ LỤC 84

Trang 6

DANH MỤC VIẾT TẮT

SKSS/KHHGĐ Sức khỏe sinh sản/ kế hoạch hóa gia

đình

VH-TT-DL Văn hóa- Thể thao- Du lịch

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ, BẢN ĐỒ

Trang

Hình 1.1: Bản đồ hành chính huyện Định Hóa 10

Biểu đồ 1.1- So sánh cơ cấu kinh tế của huyện Định Hóa (2005 - 2010) 16

Bảng 1.1- Thống kê lượng thủy sản chủ yếu (2005 - 2009) 19

Bảng 1.2 - Số lượng đàn trâu, bò, lợn ( 2013 – 2015) 58

Bảng 1.3- Thống kê kết quả thực hiện Bộ Tiêu chí Quốc gia xây dựng nông thôn mới các xã ở huyện Định Hóa 66

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Việt Nam là một quốc gia nông nghiệp, dân cư chủ yếu sinh sống ở vùng nông thôn rộng lớn Vì vậy, từ xưa đến nay, nông nghiệp, nông dân, nông thôn luôn đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong đời sống kinh tế, xã hội

Từ sau khi thực hiện đường lối đổi mới do Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986) đề ra, nền kinh tế của nước ta nói chung và kinh tế vùng nông thôn nói riêng có sự chuyển biến đáng kể Giá trị sản lượng kinh tế nông nghiệp không ngừng tăng lên; cơ cấu cây trồng cũng có sự thay đổi phong phú về số lượng chủng loại; năng suất và chất lượng ngày càng cao

Với Việt Nam, do xuất phát điểm là một nước nông nghiệp lại bị chiến tranh tàn phá nghiêm trọng trong thời gian dài nên sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, Đảng, Nhà nước đã có nhiều chính sách để phát

triển vùng nông thôn, miền núi Chương trình phát triển kinh tế , xã hội các xã

đặc biệt khó khăn vùng dân tộc thiểu số và miền núi (gọi là Chương trình 135),

là một trong các chương trình xóa đói, giảm nghèo ở Việt Nam được triển khai

từ năm 1998, qua hai giai đoạn: Giai đoạn 1 từ năm 1998 đến năm 2000 và giai đoạn 2 từ năm 2001 đến năm 2005 Đến năm 2006, Nhà nước ta quyết định kéo dài chương trình này thêm 5 năm, và gọi giai đoạn 1997 - 2006 là giai đoạn 1;tiếp theo là giai đoạn 2 (2006 - 2010) Ngoài ra, Đảng, Nhà nước còn nhiều chính sách khác để hỗ trợ và phát triển vùng nông thôn

Tuy là một quốc gia nông nghiệp, nhưng vùng nông thôn nước ta phát triển chưa tương xứng với tiềm năng vốn có của nó Nông nghiệp, nông thôn vẫn là một khu vực chậm phát triển, đời sống của nhân dân còn gặp nhiều khó khăn, chất lượng cuộc sống còn thấp Nhiều vấn đề đặt ra cần được giải quyết, như thu nhập bình quân của người dân vùng nông thôn còn thấp so với thành thị, nhất là các xã thuộc miền núi, vùng đặc biệt khó khăn, trình độ dân trí chưa cao, người dân thất nghiệp nhiều; sản xuất nông nghiệp còn nhỏ lẻ, manh mún, năng suất chưa cao và còn mang tính chất tự nhiên, tự cung tự cấp

Trang 9

Một trong những chủ trương có tầm chiến lược đặc biệt quan trọng của Đảng và Nhà nước trong những năm gần đây là chương trình xây dựng nông thôn mới trong phạm vi cả nước Chủ trương này nhằm cụ thể hóa việc thực hiện Nghị quyêt Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X)

về nông nghịêp, nông dân và nông thôn Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới đã được cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, nhất là cư dân nông thôn nhiệt liệt hưởng ứng

Định Hóa là một huyện miền núi nằm ở khu vực Tây Bắc tỉnh Thái Nguyên Trong thời kì kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954), Định Hóa thuộc vùng trung tâm An toàn khu (ATK) Trung ương Hầu hết các xã trong huyện đều là nơi đứng chân của các cơ quan Trung ương Đảng, Chính phủ, Mặt trận, Bộ Quốc phòng - Bộ Tổng Tham mưu để lãnh đạo cuộc kháng chiến đi tới thắng lợi

Trong nhiều năm gần đây, được sự quan tâm đầu tư của Đảng và Nhà nước, bộ mặt kinh tế - xã hội huyện Định Hóa đã có nhiều thay đổi Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020

do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ngày 4/6/2010 đã được các cấp ủy đảng, chính quyền và nhân dân trong huyện quyết tâm thực hiện, bắt đầu từ năm

2011 Sau 5 năm thực hiện cuộc vận động xây dựng nông thôn mới, huyện Định Hóa đã đạt được nhiều kết quả quan trọng Đến năm 2015, toàn huyện

đã có 2 xã đạt chuẩn nông thôn mới (Đồng Thịnh và Phượng Tiến); bình quân toàn huyện đạt 10,6/19 tiêu chí Cũng thông qua đó, Đảng bộ, chính quyền huyện đã rút được nhiều bài học kinh nghiệm để lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới trong những năm tiếp theo

Là người con của huyện Định Hóa, từng chứng kiến sự đổi thay của quê hương và hiện tại đang là giáo viên giảng dạy bộ môn Lịch sử ở một trường trung học phố thông trên địa bàn huyện, tôi thấy cần đi sâu tìm hiểu quá trình thực hiện cuộc vận động xây dựng nông thôn mới

Trang 10

Xuất phát từ những lí do trên, tôi chọn đề tài: Công cuộc xây dựng nông thôn mới ở huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên (từ năm 2007 đến năm 2015)

làm Luận văn Thạc sĩ Sử học

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Nông thôn Việt Nam đã trở thành đề tài quen thuộc của nhiều tác giả Không chỉ dừng lại ở trong những tác phẩm thơ, văn từ thời kì trung đại mà ngày nay, giới Sử học, Địa lí học, Sinh vật học… cũng nghiên cứu nhiều lĩnh vực thuộc về nông thôn Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, khi Đảng và Nhà nước ta thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn theo tinh thần Nghị quyết TW7 (khóa X), về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, thì vấn đề xây dựng nông thôn mới càng thu hút sự chú ý của nhiều nhà nghiên cứu

Trước hết phải kể đến tác phẩm Phát triển nông thôn do GS Phạm Xuân

Nam (chủ biên), nhà xuất bản Khoa học xã hội xuất bản năm 1997 Cuốn sách

là một công trình nghiên cứu chuyên sâu về phát triển nông thôn Qua tác phẩm, tác giả đã đưa ra một số nội dung về phát triển kinh tế - xã hội nông thôn nước ta như dân số, lao động, việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, vấn đề sử dụng và quản lí nguồn lực tài nguyên thiên nhiên, vấn đề phân tầng xã hội và xóa đói giảm nghèo Đồng thời tác phẩm cũng chỉ ra những yếu kém và thách thức trong phát triển nông nghiệp ở Việt Nam, từ đó cần phải hoàn thiện bộ máy, chính sách và cách thức chỉ đạo của Nhà nước

Năm 2012, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia xuất bản cuốn sách Xây dựng nông thôn mới - Những vấn đề lí luận và thực tiễn của nhóm tác giả do

Vũ Văn Phúc chủ biên Các tác giả đã nêu rõ những cơ sở lí luận và thực tiễn trong xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam Đồng thời tác phẩm cũng trình bày những kinh nghiệm của quốc tế trong xây dựng nông thôn mới và thực tiễn xây dựng nông thôn mới tại Việt Nam Cuốn sách đã đề cập trực tiếp tới quá trình xây dựng nông thôn mới tại một số tỉnh ở Việt Nam, như Lào Cai, Nghệ An, Lai Châu…

Trang 11

Năm 2012, Tiến sĩ Nguyễn Đỗ Anh Tuấn đã thực hiện thành công Luận

án Tiến sĩ Thực trạng, giải pháp và định hướng đầu tư cho Tam Nông Tác giả

đã chỉ ra nguyên nhân khiến hiệu quả đầu tư công cho nông nghiệp bị hạn chế Đồng thời tác giả cũng đề xuất định hướng và giải pháp đầu tư ở Việt Nam tận dụng được lợi thế sẵn có

Cuốn sách Xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam của GS.TS Tô Xuân

Lâm, GS.TSKH Lê Văn Viện, TS Đỗ Trọng Hùng, Nhà xuất bản Hà Nội, xuất bản năm 2013, trình bày từng bước thực hiện xây dựng nông thôn mới Cũng trong năm 2013, Quỹ hỗ trợ sáng tạo văn học nghệ thuật Hà Nội cho ra đời

cuốn sách Hỏi đáp về chương trình xây dựng nông thôn mới, do Nhà xuất bản

Thông tấn xuất bản Cuốn sách trình bày có hệ thống các câu hỏi liên quan đến công tác xây dựng nông thôn mới trong cả nước nói chung Ngoài ra còn rất nhiều tác phẩm khác

Từ khi chương trình xây dựng nông thôn mới được thực hiện tại các tỉnh trong cả nước, đã có nhiều công trình nghiên cứu công cuộc xây dựng nông thôn mới ở các vùng miền

Trong Tạp chí Khoa học và Công nghệ của Đại học Thái Nguyên, số 105

năm 2013, có bài viết của tác giả Nguyễn Thị Thuận, Nguyễn Xuân Trường

với tiêu đề Phát triển giao thông nông thôn trong công cuộc xây dựng nông thôn mới ở tỉnh Tuyên Quang Bài viết đã đưa ra giải thích vì sao cần xây dựng

nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang Tác giả đã khẳng định xây dựng giao thông nông thôn ở Tuyên Quang là một bước đột phá trong xây dựng nông thôn mới theo chủ trương của Đảng Đây là một điểm sáng trong quá trình xây dựng NTM trên cả nước nói chung và của tỉnh Tuyên Quang nói riêng

Năm 2013, Thạc sĩ Nông nghiệp Phạm Thị Tiến đã nghiên cứu Thực trạng và giải pháp xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh Tác giả đã đánh giá thực trạng triển khai thực hiện xây dựng nông

thôn mới trên địa bàn huyện Lương Tài tỉnh Bắc Ninh, phân tích những khó

Trang 12

khăn, thuận lợi, cơ hội và thách thức trong việc thực hiện xây dựng nông thôn mới để đưa ra những giải pháp hợp lí nhằm thúc đẩy quá trình xây dựng nông thôn mới một cách nhanh chóng và toàn diện

Năm 2014, Thạc sĩ Triệu Tiến Trường đã thực hiện thành công đề tài

Vận dụng Bộ Tiêu chí xây dựng nông thôn mới trên địa bàn xã Hải Yến, huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2011 - 2013 Tác giả đã tìm hiểu thực trạng

xây dựng nông thôn mới ở xã Hải Yến, huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn; rút ra những kết luận mang tính khoa học và thực tiễn làm tiền đề cho việc đẩy mạnh chương trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn cả nước hướng tới 2020

Năm 2015, tác giả Nguyễn Thị Minh Thanh đã thực hiện thành công

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Kinh tế Giải pháp đầu tư thành công cho nông nghiệp trong xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang Tác giả đã tính toán mức đầu tư công cho nông nghiệp trong xây dựng

nông thôn mới, từ đó góp phần đánh giá thực trạng và giải pháp đầu tư công cho nông nghiệp trong các năm 2012 - 2014 Đồng thời tác giả đề xuất một số giải pháp đầu tư công cho nông nghiệp trong quá trình xây dựng nông thôn mới

ở huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang

Cũng trong năm 2015, Thạc sĩ Kinh tế Triệu Đức Phượng đã nghiên cứu

thành công đề tài Nâng cao vai trò của Hội Nông dân trong xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Ba Chẽ tỉnh Quảng Ninh Tác giả đã đánh giá thực

trạng vai trò của Hội Nông dân trong việc tham gia xây dựng nông thôn mới tại huyện Ba Chẽ tỉnh Quảng Ninh Từ đó, tác giả đã rút ra bài học kinh nghiệm,

đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao vài trò của Hội Nông dân trong công cuộc xây dựng nông thôn mới tại địa phương

Tại tỉnh Thái Nguyên, sau khi triển khai chương trình xây dựng nông thôn mới, đã có một số cuộc hội thảo được tổ chức, nhiều công trình nghiên cứu về nông thôn mới được công bố Ngày 6/7/2013, tại thành phố Thái Nguyên, Văn phòng Điều phối Trung ương Chương trình mục tiêu Quốc gia

Trang 13

xây dựng nông thôn mới phối hợp với tỉnh Thái Nguyên tổ chức Hội thảo về chương trình xây dựng nông thôn mới các tỉnh phía Bắc Hội thảo có ý nghĩa quan trọng trong việc tìm ra giải pháp tháo gỡ vướng mắc, giúp các tỉnh có cơ sở pháp lí chỉ đạo thống nhất để thực hiện thành công mục tiêu của chương trình

Năm 2013, tác giả Lưu Thành Công đã bảo vệ thành công đề tài Luận

văn Thạc sĩ Nghiên cứu xây dựng mô hình nông thôn mới ở huyện Võ Nhai,

Thái Nguyên giai đoạn 2011 - 2015, định hướng đến năm 2020 Tác giả đã đi

sâu phân tích quá trình xây dựng nông thôn mới tại huyện Võ Nhai tỉnh Thái Nguyên, làm rõ những kết quả đã đạt được trong giai đoạn 2011-2015; đưa ra định hướng phát triển trong giai đoạn 5 năm tiếp theo (2015 -2020)

Năm 2013, tác giả Phạm Khánh Luyện đã thực hiện thành công đề tài

Giải pháp chủ yếu nhằm xây dựng nông thôn mới ở huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên Tác giả đã phân tích cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn khi tiến hành xây

dựng nông thôn mới tại huyện Phổ Yên tỉnh Thái Nguyên; đồng thời đánh giá thực trạng việc xây dựng nông thôn mới, đề xuất một số giải pháp chủ yếu thúc đẩy quá trình xây dựng nông thôn tại huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên

Cũng trong năm 2013, Thạc sĩ Lịch sử Nguyễn Thị Kim Nhung đã thực

hiện đề tài Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh Thái Nguyên với cuộc vận động xây dựng nông thôn mới (2008 - 2012) Tác giả đã nghiên cứu hoạt động của Hội Liên

hiệp Phụ nữ Thái Nguyên trong phong trào xây dựng nông thôn mới, từ đó khẳng định tính đúng đắn, sáng tạo trong công tác lãnh đạo của Hội nói riêng

và hệ thống chính trị của tỉnh nói chung Qua đó, tác giả rút ra một số kinh nghiệm có thể tham khảo vận dụng trong những năm tiếp theo

Năm 2014, với đề tài Luận văn Thạc sĩ: Nghiên cứu thực trạng và giải pháp đẩy mạnh xây dựng nông thôn mới tại thị xã Sông Công tỉnh Thái Nguyên, tác giả Nguyễn Huy Liệu đánh giá thực trạng việc triển khai thực hiện

xây dựng NTM trên địa bàn Thị xã; nêu rõ những khó khăn, thuận lợi, cơ hội

và thách thức trong việc thực hiện xây dựng NTM Từ đó, tác giả đề xuất

Trang 14

những giải pháp nhằm đẩy mạnh quá trình xây dựng NTM một cách nhanh chóng và hiệu quả

Năm 2014, tác giả Nguyễn Thị Hiếu đã thực hiện thành công Luận văn

Thạc sĩ chuyên ngành Kinh tế: Giải pháp đẩy mạnh xây dựng nông thôn mới tại huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên Tác giả đã hệ thống hóa cơ sở lí luận và

thực tiễn về xây dựng nông thôn mới ở nước ta hiện nay; đánh giá thực trạng quá trình xây dựng nông thôn mới và các yếu tố ảnh hưởng đến xây dựng nông thôn mới ở huyện Đồng Hỷ, từ đó đề xuất định hướng các giải pháp chủ yếu đẩy mạnh quá trình xây dựng nông mới tại địa phương

Năm 2015, đề tài Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Địa lí: Nghiên cứu xây dựng nông thôn mới ở huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên của Lê Thị Bích

Hồng đã làm rõ thực trạng việc thực hiện xây dựng nông thôn mới của huyện Phú Lương, đi sâu nghiên cứu địa bàn 2 xã điểm (Sơn Cẩm và Cổ Lũng) Từ

đó, tác giả đánh giá những kết quả đạt được, phân tích những tồn tại, hạn chế cùng các nguyên nhân trong quá trình thực hiện xây dựng nông thôn mới; đồng thời đề xuất các giải pháp phát triển mô hình nông thôn mới trên địa bàn huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên đến năm 2020

Như vậy, cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu về công cuộc xây dựng nông thôn mới ở huyện Định Hóa một cách đầy đủ chi tiết Thực hiện

đề tài này, chúng tôi mong muốn sẽ phản ánh một cách khách quan, trung thực

về công cuộc xây dựng nông thôn mới trong huyện

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu và nhiệm vụ của đề tài

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu công cuộc xây dựng nông thôn mới ở huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên

3.2 Phạm vi nghiên cứu

3.2.1 Phạm vi nội dung

Đề tài giới thiệu khái quát vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên và các nguồn tài nguyên thiên nhiên; đặc điểm kinh tế và xã hội; tập trung làm rõ chủ trương của

Trang 15

Đảng và Nhà nước về xây dựng nông thôn mới; sự vận dụng của đảng bộ và chính quyền địa phương trong quá trình thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới ở huyện Định Hóa Trên cơ sở đó, nhận định đánh giá kết quả đạt được cũng như những hạn chế cấn khắc phục

rõ công cuộc xây dựng nông thôn mới ở huyện Định Hóa bắt đầu từ năm 2010 đến năm 2015

3.3 Nhiệm vụ của đề tài

- Khái quát huyện Định Hóa trước khi tiến hành xây dựng nông thôn mới

- Làm rõ quá trình thực hiện xây dựng nông thôn mới ở huyện Định Hóa

- Đánh giá thành tựu và hạn chế trong công cuộc xây dựng nông thôn mới ở huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên

4 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu

4.1 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài, tác giả Luận văn sử dụng các phương pháp lịch sử, kết hợp với phương pháp logic là chủ yếu Bằng phương pháp lịch sử, dựa vào các nguồn tư liệu, tác giả trình bày một cách hệ thống, chân thực, khách quan

về quá trình xây dựng nông thôn mới tại huyện Định Hóa Trên cơ sở phân tích các sự kiện, hiện tượng lịch sử, tác giả rút ra những nhận định, làm rõ bản chấtcủa vấn đề Ngoài hai phương pháp trên, các phương pháp so sánh, tổng hợp, phương pháp phỏng vấn cũng được vận dụng trong quá trình thực hiện đề tài

Trang 16

4.2 Nguồn tài liệu

Trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả Luận văn tham khảo các tài liệu sau:

- Các chỉ thị, nghị quyết của Trung ương và của các cấp bộ đảng, chính quyền địa phương về vấn đề nông nghiệp, nông dân và nông thôn

- Các báo cáo tổng kết của Đảng bộ, Ủy ban Nhân dân, Hội đồng Nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc huyện Định Hóa về xây dựng nông thôn mới

- Các công trình khoa học liên quan đến đề tài

- Các tài liệu thu thập từ khảo sát thực tế tại huyện Định Hóa

5 Đóng góp của Luận văn

- Luận văn là công trình nghiên cứu đầu tiên trình bày có hệ thống công cuộc xây dựng nông thôn mới ở huyện Định Hóa

- Kết quả nghiên cứu của Luận văn góp phần tổng kết, đánh giá thành tựu và hạn chế công cuộc xây dựng nông thôn mới ở huyện Định Hóa Trên cơ

sở đó, rút ra nguyên nhân thành công và chưa thành công giúp địa phương có thêm cơ sở để hoạch định chính sách phát triển kinh tế, xã hội

- Luận văn có thể dùng làm tài liệu cho việc giảng dạy lịch sử địa phương ở các trường phổ thông trên địa bàn

6 Cấu trúc của Luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục và Tài liệu tham khảo, nội dung

Luận văn được cấu trúc thành 3 chương

Chương 1: Khái quát huyện Định Hóa tỉnh Thái Nguyên trước khi tiến hành cuộc vận động xây dựng nông thôn mới

Chương 2: Quá trình vận động xây dựng nông thôn mới ở huyện Định Hóa (2011 - 2015)

Chương 3: Thành tựu và hạn chế trong công cuộc xây dựng nông thôn mới ở huyện Định Hóa

Trang 17

Hình 1.1: Bản đồ hành chính huyện Định Hóa

Nguồn: Phòng địa chính huyện Định Hóa

Trang 18

Chương 1 KHÁI QUÁT HUYỆN ĐỊNH HÓA, TỈNH THÁI NGUYÊN TRƯỚC KHI TIẾN HÀNH CUỘC VẬN ĐỘNG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI 1.1 Vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên và nguồn tài nguyên thiên nhiên

1.1.1 Vị trí địa lí và điều kiện tự nhiên

Định Hóa là một huyện miền núi thuộc khu vực Tây Bắc tỉnh Thái Nguyên, nằm trong khoảng tọa độ từ 105o29’ đến 105o43' kinh Đông, 21o45’ đến 22o30’

vĩ Bắc; phía bắc và phía đông bắc giáp huyện Chợ Đồn và huyện Bạch Thông của tỉnh Bắc Kạn, phía tây giáp huyện Yên Sơn và Sơn Dương của tỉnh Tuyên Quang, phía nam giáp huyện Đại Từ và huyện Phú Lương của tỉnh Thái Nguyên Huyện lị đặt ở thị trấn Chợ Chu, cách thành phố Thái Nguyên khoảng

50 km Toàn huyện có 24 đơn vị hành chính, gồm 1 thị trấn (Chợ Chu) và 23 xã: Bảo Cường, Bảo Linh, Bình Thành, Bình Yên, Bộc Nhiêu, Điềm Mặc, Định Biên, Phú Tiến, Đồng Thịnh, Kim Phượng, Kim Sơn, Lam Vỹ, Linh Thông, Phú Đình, Phúc Chu, Phượng Tiến, Quy Kỳ, Sơn Phú, Tân Dương, Tân Thịnh, Thanh Định, Trung Hội, Trung Lương

Địa hình huyện Định Hoá khá phức tạp và tương đối hiểm trở, có núi thấp và đồi cao, về cơ bản được chia làm hai vùng:

- Vùng núi cao gồm các xã ở khu vực phía Bắc huyện (Linh Thông, Quy

Kỳ, Lam Vỹ, Tân Thịnh, Kim Phượng, Kim Sơn, Phúc Chu, Bảo Linh) Vùng này có các dãy núi cao từ 200 đến 400m so với mặt biển, thuộc phần cuối của dãy núi đá vôi cánh cung Sông Gâm, chạy theo hướng tây bắc - đông nam, từ phía bắc qua trung tâm huyện đến xã Trung Hội Vùng này có nhiều rừng già, suối nhỏ, đất canh tác ít, dân cư thưa thớt

- Vùng núi thấp bao gồm thị trấn Chợ Chu và các xã ở khu vực phía Nam huyện (Trung Lương, Bảo Cường, Trung Hội, Tân Dương, Định Biên, Đồng Thịnh, Phượng Tiến, Thanh Định, Bình Yên, Điềm Mặc, Sơn Phú, Phú Đình,

Trang 19

Bộc Nhiêu, Phượng Tiến, Bình Thành) Đây là vùng núi đất, có độ cao từ 50 đến dưới 200m, độ thoải lớn, có nhiều rừng già và những cánh đồng tương đối rộng, màu mỡ

Phần lớn diện tích huyện Định Hóa là vùng núi cao, có độ dốc lớn, địa hình hiểm trở, bị chia cắt mạnh Những vùng đất tương đối bằng phẳng thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp chiếm tỉ lệ nhỏ, phân tán dọc theo các khe, ven sông, suối hoặc thung lũng vùng núi đá vôi

Định Hoá nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới, chia làm hai mùa Mùa nóng từ tháng 4 đến tháng 10, thời điểm nóng nhất là tháng 8, nhiệt độ trung bình khoảng 280C, có những ngày nhiệt độ lên đến 410C Mùa nóng trùng với mùa mưa; lượng mưa chiếm từ 85% dến 90% lượng mưa cả năm Mùa lạnh từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, lạnh nhất là tháng 1, nhiệt độ trung bình khoảng

150C; thường có gió mùa đông bắc, kèm theo những cơn mưa lạnh buốt Vào mùa lạnh, nhiều khi có hiện tượng sương muối, ảnh hưởng không tốt tới sự sinh trưởng của cây trồng, vật nuôi

Dù là huyện miền núi, nhưng trong những năm gần đây do được Nhà nước đầu tư đối với vùng ATK, nên Định Hóa có hệ thống giao thông tương đối thuận lợi

Từ trung tâm huyện tỏa đi có nhiều tuyến giao thông nối liền với một số tỉnh của Việt Bắc: Về phía tây, có đường sang Tuyên Quang, lên Hà Giang; phía bắc có đường lên Bắc Kạn, đến Cao Bằng Từ Định Hóa có nhiều con đường đi tới các địa phương trong tỉnh, như thành phố Thái Nguyên, các huyện Đại Từ, Phú Lương, Võ Nhai Trên địa bàn huyện là một mạng lưới đường liên xã, liên thôn dày đặc, nối liền các địa phương với nhau

Giao thông vận tải được cải tạo, nâng cấp là một trong những điều kiện thuận lợi cho việc phát triển kinh tế, xã hội trên địa bàn huyện

1.1.2 Nguồn tài nguyên thiên nhiên

- Tài nguyên nước

Trang 20

Nguồn nước mặt: Do cấu trúc địa chất theo hướng tây bắc - đông nam và

địa hình đồi núi đất, núi đá xen kẽ, chia cắt, nên hệ thống sông suối phân bố khá đều với nguồn nước phong phú Lãnh thổ huyện Định Hoá là nơi bắt nguồn của các nhánh suối và hình thành 3 hệ thống sông chính, đó là: Sông Chợ Chu,

sông Công, sông Đu

Lớn nhất là sông Chợ Chu được hợp bởi nhiều khe suối nhỏ trên địa bàn

huyện với 3 nhánh chính là suối Chao, suối Múc, suối Tao, chảy qua các xã trên địa bàn huyện; sau đó dòng sông chảy sang địa phận xã Yên Ninh (huyện Phú Lương) và hợp lưu với sông Cầu ở Chợ Mới Sông Chu có lưu vực rộng

437 km2, lưu lượng nước bình quân trong năm 3,06 m3/giây

Sông Công (trên địa bàn huyện Định Hoá là thượng nguồn) có hai nhánh Nhánh thứ nhất bắt nguồn từ xã Thanh Định, chảy qua xã Bình Yên, Sơn Phú Nhánh thứ hai bắt nguồn từ dãy núi Khuôn Tát xã Phú Đình chảy qua xã Phú Đình, hợp lưu với nhánh thứ nhất ở xã Bình Thành rồi chảy sang xã Minh Tiến (huyện Đại Từ) đổ về hồ Núi Cốc Tổng diện tích lưu vực trên địa bàn huyện là

128 km2, lưu lượng nước bình quân 3,06m3/giây

Sông Đu bắt nguồn từ xã Yên Trạch (Phú Lương), đoạn chảy qua xã Phú Tiến (Định Hoá) dài khoảng 3,5km Sau đó sông chảy xuống huyện Phú Lương, hoà vào sông Cầu ở xã Sơn Cẩm (Phú Lương) Sông Đu có tổng diện tích lưu vực 70 km2, lưu lượng nước bình quân 1,68m3/giây

Cùng với 3 con sông lớn kể trên là các khe suối nhỏ chảy qua hầu khắp các xã với hệ thống kênh mương dày đặc Ngoài nguồn nước do các dòng sông, suối cung cấp, huyện Định Hoá còn có trên 100 ha hồ lớn, nhỏ Đặc biệt, hồ Bảo Linh có diện tích mặt nước khoảng 80 ha và 200 đập dâng tưới cho trên 3.500 ha [8, Tr12] Nhờ hệ thống thủy văn phân bố đều khắp trên địa bàn huyện nên rất thuận lợi cho việc tưới tiêu đồng ruộng canh tác

Nguồn nước ngầm: Định Hoá không những chỉ có những nguồn nước

mặt phong phú mà nguồn nước ngầm rất dồi dào Dù chưa có công trình nghiên

Trang 21

cứu và điều kiện điều tra chuyên sâu về trữ lượng cũng như sự phân bố nguồn nước ngầm, nhưng thực tế việc người dân đào giếng lấy nước phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt của họ cho thấy nước ngầm thường xuất hiện ở độ sâu khoảng vài chục mét, lưu lượng bình quân 360 lít/giây, chất lượng nước tốt và phân bố đều trên địa bàn huyện

- Tài nguyên đất

Tổng diện tích đất tự nhiên toàn huyện 513,51 km2, chiếm 14,76% diện tích tự nhiên toàn tỉnh; trong đó, đất nông nghiệp 111,42 km2, đất lâm nghiệp 335,9 km2, đất nuôi trồng thủy sản 8,9 km2, đất chuyên dùng 16,71 km2, đất ở 10,41 km2, đất chưa sử dụng 30,17 km2 [8, Tr10] Dựa trên cơ sở phân loại, đánh giá đất theo FAO, UNESCO, huyện Định Hoá có 6 nhóm đất; đó là: Đất phù sa, đất dốc tụ, đất đen và nâu thẫm, đất vàng xám, đất đỏ và nâu vàng, đất mới biến đổi 6 nhóm đất này được chia làm 11 loại: Đất phù sa không được bồi, đất vàng đỏ trên đá Macma axit, đất thung lũng do sản phẩm dốc tụ, đất đỏ vàng biến đổi do trồng lúa, đất phù sa ngòi suối, đất vàng nhạt trên đá cát, đất nâu vàng trên phù sa cổ, đất đỏ vàng trên đá biến đổi, đất nâu đỏ trên đá Macma trung tính và Bagiơ, đất đỏ vàng trên đá phiến thạch, đất mùn vàng đỏ trên đá Macma axit

Nhìn chung, các loại đất trên địa bàn huyện Định Hóa thích hợp với việc trồng các loại cây lương thực, cây công nghiệp và cây ăn quả

- Tài nguyên khoáng sản

Huyện Định Hoá có nhiều núi đá vôi, thuận lợi cho việc khai thác, sản xuất vật liệu xây dựng Ngoài ra, dọc các triền sông có thể khai thác cát, sỏi

phục vụ cho việc xây dựng

- Tài nguyên rừng

Huyện Định Hóa có diện tích đất lâm nghiệp tương đối lớn (27.439ha); trong đó, rừng sản xuất 12.138 ha, rừng đặc dụng 7.053,2 ha, rừng phòng

Trang 22

hộ:8.247,8 ha, [8, Tr10] Trong đó diện tịch rừng phòng hộ, rừng đặc dụng và rừng sản xuất cơ bản được giao hộ nông dân quản lí Trong những năm trước khi xây dựng NTM, lâm nghiệp đã được quan tâm phát triển, diện tích đất trống đồi trọc trên địa bàn huyện cơ bản không còn Kinh tế rừng đem lại nguồn thu nhập đáng kể, nhiều hộ đã có thu nhập khá từ kinh tế đồi rừng Trong các khu rừng có nhiều loại gỗ quý (lim, lát, sến…) và rất nhiều tre, nứa, cọ Tuy nhiên,

do việc khai thác không đi liền với công tác bảo vệ rừng, nên hiện nay các loại

gỗ quý hiếm chỉ còn một số lượng không đáng kể

1.2 Đặc điểm kinh tế, xã hội huyện Định Hóa

1.2.1 Đặc điểm kinh tế

Định Hóa là một huyện nghèo, chủ yếu là sản xuất nông nghiệp mang nặng tính tự cấp, tự túc Từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (12/1986), cùng cả nước, Định Hóa chuyển dần sang cơ chế thị trường Sau 20 năm thực hiện đường lối đổi mới, đến năm 2006, nền kinh tế của huyện đã đạt được

Trang 23

những kết quả đáng khích lệ, có bước tăng trưởng nhanh, năm sau cao hơn năm trước Đặc biệt, trong 7 năm thực hiện Nghị quyết của Hội đồng Nhân dân huyện Định Hóa khóa XVII, nhiệm kì 2004 - 2011, kinh tế của huyện phát triển

ổn định, tốc độ tăng trưởng bình quân mỗi năm đạt 12,38%, vượt 0,38% so với chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ lần thứ XXI đề ra Theo đó, thu nhập bình quân đầu người năm 2010 so với năm 2004 cũng tăng hơn 2 lần

49.2

13.537.3

14.1

Biểu đồ 1.1- So sánh cơ cấu kinh tế của huyện Định Hóa (2005 - 2010)

(Nguồn: Báo cáo tóm tắt tình hình kinh tế - xã hội huyện Định Hóa nhiệm kì

2004-2011 và phương hướng nhiệm vụ nhiệm kì 2011-2016)

Biểu đồ trên cho thấy: Cơ cấu kinh tế huyện Định Hóa có sự chuyển dịch theo hướng tích cực: Tăng dần tỉ trọng các ngành Công nghiệp - Xây dựng và Thương mại - Dịch vụ, giảm dần tỉ trọng các ngành Nông - Lâm - Ngư nghiệp Tuy nhiên, quá trình chuyển dịch diễn ra còn chậm, ngành Nông nghiệp vẫn chiếm tỉ trọng lớn trong nền kinh tê của địa phương

- Sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp

Định Hóa vốn là một huyện miền núi, với nhiều điều kiện thuận lợi cho sự phát triển sản xuất nông – lâm nghiệp Sản xuất nông – lâm nghiệp được coi là thế mạnh kinh tế của huyện, trong đó cây lúa, ngô, chè là cây trồng chủ đạo được trồng ở hầu khắp các xã trong huyện

2010

2005

Nông - Lâm - Ngư nghiệp Công nghiệp - Xây dựng Thương mại - Dịch vụ

Trang 24

Nông nghiệp là nghề chính của nhân dân các dân tộc huyện Định Hóa Diện tích trồng cây lương thực có hạt từ 8.033 ha (năm 2001), tăng lên 9.033

ha (năm 2003) Sản lượng lương thực bình quân đầu người từ 364 kg (năm 2001), tăng lên 466 kg (năm 2003) Trong những năm 2000 trở lại đây, nhân dân các dân tộc huyện Định Hóa đã chú trọng phát triển cây ngô và cây lúa Do

đó, sản lượng lương thực có hạt đạt 39.056 tấn (năm 2006), riêng sản lượng thóc đạt 35.483 tấn [8, Tr3,4] Cùng với huyện Đại Từ và huyện Phú Lương trong tỉnh Thái Nguyên, Định Hóa cũng là huyện có nhiều tiềm năng về sản xuất cây chè Năm 2003, toàn huyện có 2.415 ha cây chè, đứng thứ ba toàn tỉnh về sản lượng chè, đạt 13.640 tấn, chiếm 14,55% tổng sản lượng chè toàn tỉnh Đến năm 2006, sản lượng chè đạt 18.379 tấn, tương đương 49,623 triệu đồng [8, Tr11]

Bước vào năm 2010 là năm cuối cùng thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XXI và kế hoạch 5 năm 2006 - 2010, tình hình kinh tế đã có nhiều chuyển biến tích cực theo hướng tăng dần tỉ trọng ngành Công nghiệp - Xây dựng, giảm dần tỉ trọng ngành Nông - Lâm nghiệp Tuy nhiên, trong cơ cấu nội bộ ngành Nông nghiệp lại có sự chuyển biến theo hướng tăng tỉ trọng ngành Chăn nuôi và Lâm nghiệp, giảm tỉ trọng ngành Trồng trọt, song ngành Trồng trọt vẫn chiếm tỉ trọng cao Đến năm 2010, sản lượng lương thực có hạt đạt 41.255/46.000 tấn, tăng hơn 4.000 tấn so với năm 2004; tổng diện tích gieo cấy lúa cả năm đạt 8.024,6/8.230 ha, bằng 97,5% kế hoạch; năng suất bình quân cả năm đạt 48,7 tạ/ha; giá trị sản phẩm bình quân trên 1 ha đất nông nghiệp trồng trọt đạt 51/45 triệu đồng, bằng 111,1% kế hoạch; diện tích ngô cả năm 1.090,4/1.336,8 ha, đạt 81,6% kế hoạch, năng suất bình quân 39,9 tạ/ha, sản lượng ngô đạt 4.352/5.145 tấn, bằng 84,6% kế hoạch; diện tích trồng chè toàn huyện đạt 41,6/70 ha, bằng 59,4% kế hoạch (chỉ tiêu trồng chè năm 2010 không đạt kế hoạch do không đủ giống) [42, Tr3]

Trang 25

Các đề án, dự án về chăn nuôi trên địa bàn huyện được tích cực triển khai hằng năm nhằm tăng tổng đàn gia súc, gia cầm Năm 2009, giá trị ngành Chăn nuôi đạt 145,808 triệu đồng, chiếm 24,8% trong cơ cấu giá trị giữa trồng trọt - chăn nuôi - dịch vụ Năm 2009, số lượng đàn trâu là 11.490 con, đến năm 2010 tăng lên 14.000 con, bằng 100,04% kế hoạch; tổng đàn bò năm 2009 có 2.655 con, đến năm 2010 đạt 4.000 con, bằng 101,2% kế hoạch; tổng đàn lợn năm 2009

có 41.735 con, đến năm 2010 tăng lên 70.000 con, bằng 100,5% kế hoạch [48,

1] Nuôi trồng thủy sản trên địa bàn huyện đã và đang duy trì nhưng quy mô

còn nhỏ, sản lượng chưa cao, chủ yếu mới phục vụ được nhu cầu của gia đình

và một phần của địa phương Ngoài ra, huyện còn duy trì chăn nuôi các loại gia cầm (gà, vịt, ngan, ngỗng ) để lấy trứng, thịt phục vụ cho nhu cầu hằng ngày

và cải thiện kinh tế của gia đình

Công tác tập huấn chuyển giao ứng dụng khoa học kĩ thuật vào sản xuất nông, lâm nghiệp được chú trọng Trong năm 2010, huyện tổ chức tập huấn 208 lớp học với 9.795 lượt người tham gia, nội dung chủ yếu là tập huấn về kĩ thuật trồng trọt, chăm sóc cây lâm nghiệp, kĩ thuật nuôi dưỡng và phòng bệnh cho gia súc, gia cầm…

Địa hình dạng núi thấp đồi cao của Định Hóa đã tác động đến cơ cấu ngành Lâm nghiệp trong vùng Trước năm 1990, rừng và đất rừng chiếm 90% diện tích đất tự nhiên, tạo tiềm năng mạnh về lâm nghiệp cho nơi đây Rừng Định Hóa có lâm sản quý (gỗ lát, sến, lim ) Năm 2009, diện tích trồng rừng toàn huyện là 27.439ha (trong đó, rừng tự nhiên 17.185 ha, rừng trồng là 10.254 ha) [8, Tr11] Diện tích rừng phòng hộ, rừng đặc dụng và rừng sản xuất

cơ bản giao cho hộ nông dân quản lí Từ năm 2000 trở đi, ngành Lâm nghiệp được quan tâm phát triển, phủ xanh toàn bộ diện tích đất trống đồi trọc trên địa bàn huyện, mỗi năm khai thác được 14.000 - 16.000 m3 gỗ tròn, 80.000 -100.000 tấn gỗ củi Giá trị sản xuất ngành Lâm nghiệp mỗi năm đạt 43 đến 45

tỉ đồng Kinh tế rừng trong vùng đã đem lại nguồn thu đáng kể, thúc đẩy sự phát triển kinh tế hộ gia đình nói riêng và kinh tế trong toàn huyện nói chung

Trang 26

Trong những năm gần đây, công tác trồng và bảo vệ rừng được các cấp chính quyền ở địa phương coi trọng hàng đầu Năm 2010, diện tích trồng rừng mới toàn huyện là 1.523ha/1.000 ha, đạt 152,3% kế hoạch Trong đó, trồng rừng phòng hộ và trồng rừng đặc dụng 439,45/270 ha, đạt 163% kế hoạch; trồng rừng sản xuất 1.084/730 ha, đạt 148,5% kế hoạch [42, Tr3] Ngoài ra, chương trình trồng cây phân tán năm 2010 đạt 500 ha Công tác chăm sóc và bảo vệ rừng được tăng cường Tuy nhiên, tình trạng vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng vẫn chưa được khắc phục, nên còn xảy ra một số vụ cháy rừng

Do diện tích chủ yếu là đồi núi nên kinh tế ngư nghiệp trong huyện Định Hóa không có nhiều thuận lợi để phát triển Có thể nói, ngành Thủy sản chiếm

tỉ lệ nhỏ nhất trong cơ cấu ngành Nông - Lâm - Ngư nghiệp Năm 2009, diện tích mặt nước nuôi thủy sản toàn huyện có gần 710 ha, sản lượng nuôi trồng thủy sản hằng năm đạt 600 - 700 tấn Sản lượng nuôi trồng và đánh bắt thủy sản có sự thay đổi qua các năm từ 2005 đến 2009

Bảng 1.1- Thống kê lượng thủy sản chủ yếu (2005 - 2009)

Trang 27

- Sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp - thương mại và dịch vụ

Sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp ở huyện hoạt động chưa thực

sự có hiệu quả Trên địa bàn huyện có nhà máy chè Kim Anh (xã Bình Yên), nhà máy giấy, gỗ Delta (xã Bảo Cường), xưởng đũa (xã Quy Kỳ) Các cơ sở sản xuất khác (rèn, mộc, xay xát, khai thác cát sỏi, làm mì ) chủ yếu do tư nhân tự lập với quy mô nhỏ lẻ, phân tán, tự phát, hiệu quả kinh tế chưa cao Thương mại và dịch vụ ngày càng được mở rộng Tại siêu thị và các cửa hiệu, số lượng hàng hóa ngày càng tăng, nhiều chủng loại, không chỉ ở khu vực thị trấn mà còn có mặt ở các xã, xóm vùng nông thôn, đáp ứng được phần lớn nhu cầu của người dân trong huyện Các hoạt động dịch vụ, như điện năng, viễn thông, giao thông vận tải, bảo hiểm cũng phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người dân trong huyện

Năm 2010, sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, kinh doanh

thương mại và dịch vụ tuy gặp nhiều khó khăn, song các cơ sở đã có nhiều cố

gắng, từng bước khắc phục để ổn định sản xuất Giá trị sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp năm 2010 của huyện đạt 75/70 tỉ đồng, bằng 107% kếhoạch, tăng 11,4% so với cùng kì năm 2009 Hoạt động thương mại và dịch vụ trên địa bàn huyện cơ bản đáp ứng nhu cầu sản xuất và tiêu dùng của nhân dân Tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ đạt 600/517,5 tỉ đồng, bằng 116% kế hoạch, tăng 33,3% so với năm 2009

Trên địa bàn huyện, nhiều doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực xây dựng, sản xuất, vận tải hoạt động có hiệu quả Tổng thu ngân sách Nhà nước năm 2010 đạt 234,153/178,810 tỉ đồng, bằng 131% kế hoạch huyện, 134,2% kế hoạch tỉnh; thu trong cân đối đạt 16,541/14,6 tỉ đồng, bằng 113,3% kế hoạch huyện, 142,7% kế hoạch tỉnh

Nhìn chung, tốc độ tăng trưởng kinh tế hằng năm của huyện tuy cao, nhưng chưa bền vững Thu nhập bình quân đầu người/năm còn thấp so với toàn tỉnh và cả nước Cơ cấu kinh tế của huyện đã chuyển dịch đúng hướng nhưng

Trang 28

chậm Ngành Nông nghiệp phát triển nhưng chưa tương xứng với tiềm năng của vùng, còn lệ thuộc nhiều vào thiên nhiên; sản lượng lương thực, diện tích gieo cấy lúa có năm (năm 2010) không đạt kế hoạch Ngành Ngư nghiệp chưa

có nhiều điều kiện phát triển Hệ thống hồ, đập không đủ khả năng cung cấp nước phục vụ nuôi trồng thủy sản Ngành Công nghiệp chưa tạo ra được lợi thế mạnh để phát triển nhanh như các địa phương khác trong tỉnh Quy mô sản xuất công nghiệp còn nhỏ, các cơ sở sản xuất hầu như không làm hết công suất vì thiếu nguyên liệu Các cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp còn nhỏ lẻ, tự phát, chưa có sự liên doanh, liên kết trong cung ứng nguyên liệu, tổ chức sản xuất cũng như tiêu thụ sản phẩm Trong quá trình hình thành những làng nghề truyền thống, chưa có sự quan tâm khuyến khích, quản lí chặt chẽ của cơ quản

lí nhà nước Các hoạt động của làng nghề chưa được coi là nghề nghiệp chính của làng và hộ sản xuất kinh doanh Thương mại dịch vụ trong huyện cũng còn nhiều hạn chế Khu vực thương mại Nhà nước không giữ được vai trò chủ đạo Thương mại tư nhân hoạt động theo cơ chế thị trường chủ yếu là tự phát, chưa

có sự quản lí chặt chẽ của cơ quan có thẩm quyền Quy mô kinh doanh không lớn, thiếu các kênh chủ đạo, bán buôn, bán lẻ Một số chợ hoạt động hiệu quả thấp Công tác quản lí chợ còn nhiều bất cập Hoạt động thương mại - dịch vụ

về cơ bản chưa hướng tới phục vụ du lịch

Những đặc điểm nêu trên về kinh tế là một trong những căn cứ để Đảng bộ

và chính quyền huyện Định Hóa xác định các chỉ tiêu và giải pháp thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2011 - 2015

1.2.2 Đặc điểm xã hội

1.2.2.1 Dân cư, dân tộc

Tính đến năm 2010, tổng dân số của huyện là 87.722 người thuộc 10 thành phần dân tộc: Tày, Kinh, Sán Chay, Nùng, Dao, Hoa, Mông, Sán Dìu, Mường, Thái Người Tày được coi là dân tộc bản địa, định cư sớm nhất, chiếm

tỉ lệ dân số cao nhất và phân bố đều khắp trên địa bàn huyện, góp thành một bộ

Trang 29

phận quan trọng trong đời sống văn hóa tinh thần của Định Hóa Các dân tộc: Nùng, Hoa, Sán Chay, Dao, Mông, Sán Dìu, Mường, Thái, v.v đến cư trú và sinh sống tại Định Hóa muộn hơn Từ những năm 60 của thế kỉ XX, Định Hóa được đón nhận đồng bào dân tộc Kinh từ các tỉnh miền xuôi lên tham gia phát triển kinh tế, văn hóa Dân số của huyện tăng dần qua các năm, từ 79.137 người (1989), 79.452 người (1999), 86.200 người (2009), tăng lên 87.722 (năm 2010), trong đó dân số nam chiếm 49,42% (43.351 người) Mật độ dân số phân

bố không đồng đều giữa các vùng trong huyện; số dân sống ở vùng nông thôn chiếm 93,04%, còn lại là dân số sống ở thị trấn Chợ Chu Tỉ lệ số dân trong độ tuổi lao động chiếm 55,9% dân số của huyện [9, Tr2]

Mặc dù có những nét riêng biệt về phong tục, tập quán, nhưng các thành phần dân tộc sinh sống trên địa bàn huyện luôn gần gũi, chan hòa, yêu thương giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc sống và canh tác Nhân dân các dân tộc huyện Định Hóa có truyền thống yêu nước và cách mạng, đã từng hết lòng che chở, bảo vệ các cơ quan Trung ương trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp Trong thời kì kháng chiến chống Mĩ cứu nước cũng như trong thời kì xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nhân dân các dân tộc huyện Định Hóa tích cực tăng gia sản xuất, phát triển kinh tế, văn hóa, từng bước làm thay đổi bộ mặt nông thôn miền núi Đây chính là một thuận lợi khi Đảng bộ và chính quyền huyện triển khai thực hiện cuộc vận động xây dựng nông thôn mới trên địa bàn

Bên cạnh thuận lợi, huyện cũng gặp không ít khó khăn trong quá trình xây dựng NTM Tỉ lệ hộ nghèo, hộ cận nghèo (theo chuẩn mới) còn cao: Theo kết quả rà soát sơ bộ, tỉ lệ hộ nghèo toàn huyện chiếm trên 33%, số hộ cận nghèo trên 32%; tỉ lệ lao động phổ thông được đào tạo nghề còn rất thấp

1.2.2.2 Giáo dục

Hệ thống giáo dục trên địa bàn huyện ngày càng được phát triển, góp phần nâng cao trình độ văn hóa trong nhân dân Toàn huyện Định Hóa có 74 trường học (2011); trong đó có 24 trường Mầm non, 24 trường Tiểu học, 24

Trang 30

trường Trung học cơ sở và 2 trường Trung học phổ thông với tổng số 18.573 học sinh Trên địa bàn huyện còn có 1 Trung tâm Giáo dục thường xuyên, 1 Trung tâm dạy nghề, 24 Trung tâm học tập cộng đồng tại 24 xã, thị trấn

[48, Tr1] Công tác giáo dục và đào tạo tiếp tục được quan tâm và có bước phát triển toàn diện Ngành Giáo dục đã thực hiện có hiệu quả cuộc vận động Hai không và phong trào Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực Chất

lượng giáo dục được nâng lên Kết quả giáo dục toàn diện hằng năm của các cấp học được giữ vững Số học sinh đạt giải trong các kì thi học sinh giỏi các cấp và số học sinh thi đỗ vào các trường đại học, cao đẳng và trung học chuyên

nghiệp tăng dần qua các năm Tổng kết năm học 2010 - 2011 và 10 năm thực

hiện công tác phổ cập giáo dục, huyện Định Hóa đã đạt được một số kết quả: 5 giải nhất thi Toán và tiếng Anh trên mạng Internet Trung học cơ sở cấp tỉnh, 6 giải

Quốc gia trong đó 1 Huy chương Bạc; còn lại là giải khuyến khích Kết quả thi

giáo viên dạy giỏi cấp huyện bậc Mầm non đạt 78,52%, bậc Trung học cơ sở đạt 54,7% Cuộc thi giáo viên dạy giỏi cấp tỉnh của bậc Mầm non đạt giải xuất sắc toàn đoàn [43, Tr6] Tỉ lệ học sinh đi học trong độ tuổi năm 2009 - 2010 như sau: Nhà trẻ đạt 25%, Mẫu giáo đạt 96%, Tiểu học đạt 99%, Trung học cơ

sở đạt 90%, Trung học phổ thông đạt 76%

Cơ sở vật chất trường lớp, trang thiết bị dạy và học được tăng cường Công tác xây dựng trường chuẩn Quốc gia được quan tâm đầu tư xây dựng Đến hết năm 2010, toàn huyện có 34/73 (46,57%) trường đạt chuẩn Quốc gia

độ 1; số cán bộ giáo viên có trình độ đào tạo trên chuẩn của năm 2010 tăng

20% so với năm 2005 [48, Tr1]

1.2.2.3 Y tế

Mạng lưới y tế từ tuyến huyện đến cơ sở được củng cố, tăng cường cả về

cơ sở vật chất và đội ngũ cán bộ Chất lượng khám, chữa bệnh, chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân ở tuyến huyện và cơ sở được duy trì và có nhiều chuyển biến tích cực Số lượng, chất lượng đội ngũ y, bác sĩ được tăng cường Đến hết

Trang 31

năm 2010, huyện Định Hóa đạt tỉ lệ 6,6 bác sĩ và 11,6 giường bệnh/10.000 dân Công tác phòng, chống dịch bệnh trong mùa hè, tiêm chủng mở rộng và các chương trình y tế khác được thực hiện kịp thời; trên địa bàn huyện không có dịch bệnh xảy ra Hoạt động thanh tra, kiểm tra của trạm y tế các xã về an toàn

vệ sinh thực phẩm tại các cơ sở sản xuất, chế biến thực phẩm được thực hiện thường xuyên

Toàn huyện có 1 bệnh viện đa khoa cấp huyện với quy mô 95 giường bệnh và 24 trạm y tế cấp xã Công tác xây dựng xã chuẩn Quốc gia về y tế được coi trọng Đến hết 2010, toàn huyện có 80% số xã đạt chuẩn Quốc gia về y tế, vượt 20% so với chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XXI đề ra

Tỉ lệ phát triển dân số bình quân 5 năm giữ ở mức 0,84%; tỉ lệ trẻ em suy dinh dưỡng dưới 5 tuổi giảm từ 26,2% năm 2006, xuống còn 20,1% năm 2010 [42,

Tr7] 1.2.2.4 Văn hóa - Thông tin - Thể dục thể thao

Các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao được chỉ đạo thực hiện khá tốt trong những năm gần đây Chất lượng hoạt động được nâng lên đáp ứng

nhu cầu sinh hoạt văn hóa lành mạnh của nhân dân Phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa có nhiều chuyển biến tích cực, chất lượng phong

trào ngày được nâng cao Công tác tuyên truyền các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước trên địa bàn được thực hiện thường xuyên, nhất

là thông tin về cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIII và đại biểu Hội đồng Nhân dân các cấp nhiệm kì 2011 - 2016, về Liên hoan trà Quốc tế lần thứ nhất tại Thái Nguyên Cùng với việc đầu tư nâng cấp Đài Truyền thanh - Truyền hình, huyện tập trung chỉ đạo xây dựng nhà văn hóa, xây dựng hoàn chỉnh hệ thống các cụm loa tự hành cho các xóm, phố Công tác khôi phục, bảo tồn và phát huy giá trị tinh hoa văn hóa các dân tộc huyện tiếp tục được quan tâm thực hiện, đặc biệt là duy trì, phát huy giá trị văn hóa - nghệ thuật hát Sli, hát Lượn, điệu Then của dân tộc Tày, Nùng; xây dựng, bảo tồn Làng Văn hóa - Du lịch bản Quyên xã Điềm Mặc Các thiết chế văn hóa được tiếp tục quan tâm đầu tư Năm

Trang 32

2011, toàn huyện xây dựng thêm 18 nhà văn hóa thôn bản, đưa tổng số nhà văn hóa của huyện lên 331/435 nhà, đạt tỉ lệ 76% Tuy nhiên, công tác đầu tư, xây dựng nhà văn hóa thôn bản còn gặp nhiều khó khăn do thiếu đất công; một số địa phương chưa tích cực huy động nhân dân đóng góp, một phần kinh phí hỗ trợ còn hạn hẹp [43, Tr5]

Phong trào thể dục, thể thao quần chúng của huyện tiếp tục phát triển sâu rộng qua các năm, thường xuyên tổ chức các giải thi đấu thể thao cấp huyện và tham gia thi đấu các giải cấp tỉnh đạt thành tích cao Năm 2010, huyện đã tổ chức tốt Đại hội Thể dục - Thể thao cấp xã, Đại hội Thể dục - Thể thao cấp huyện lần thứ IV Đặc biệt, huyện còn tham gia Đại hội Thể dục - Thể thao tỉnh

lần thứ VI, được xếp thứ ba toàn đoàn với với 12 Huy chương Vàng, 17 Huy chương Bạc và 18 Huy chương Đồng

1.2.2.5 Quốc phòng - An ninh chính trị

Phong trào Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc được duy trì thường xuyên

Công tác đảm bảo an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội được tăng cường Các ngày lễ, tết, đại hội Đảng các cấp được đảm bảo an toàn tuyệt đối Các biện pháp đấu tranh phòng, chống các loại tội phạm, tệ nạn xã hội, tệ nạn ma túy được đẩy mạnh Trong năm 2010, lực lượng Công an đã mở 4 đợt cao điểm tấn công truy quét tội phạm và tệ nạn xã hội, khám phá nhanh nhiều vụ phạm pháp hình sự và triệt phá được nhiều vụ liên quan đến tệ nạn xã hội Tổng số vụ

đã điều tra, khởi tố trong năm 2010 là 60 vụ, với 80 đối tượng (tăng 22 vụ, tăng

47 bị can so với cùng kì 2009) Công tác tuần tra, kiểm soát về an toàn giao thông của các lực lượng chức năng được thực hiện thường xuyên [42, Tr8,9]

Chế độ trực sẵn sàng chiến đấu của lực lượng vũ trang được thực hiện nghiêm túc Công tác giáo dục quốc phòng, huấn luyện và xây dựng lực lượng được thực hiện thường xuyên Hằng năm, huyện đều hoàn thành chỉ tiêu tuyển quân được giao; tổ chức bồi dưỡng kiến thức Quốc phòng - an ninh cho đối

tượng 3 và cán bộ xã, thị trấn

Trang 33

Công tác quy hoạch xây dựng thế trận quân sự khu vực phòng thủ huyện được khảo sát, triển khai các bước theo quy định Thông qua các đợt diễn tập, nhận thức và năng lực lãnh đạo của cấp uỷ, sự điều hành của các cấp chính quyền và khả năng tham mưu của cơ quan quân sự được nâng lên; đồng thời huy động được sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và lực lượng xã hội giải quyết các vấn đề trọng tâm, trọng điểm như tu sửa hệ thống giao thông, thủy lợi; đấu tranh phòng chống tệ nạn ma túy, cờ bạc làm trong sạch địa bàn, tăng thu ngân sách

Tiểu kết chương 1

Mặc dù là một huyện miền núi, nhưng Định Hóa có nhiều thuận lợi về điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên để phát triển kinh tế Từ khi thực hiện đường lối đổi mới do Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986) đề ra, Đảng bộ Định Hóa tập trung lãnh đạo nhân dân các dân tộc trong trong huyện thi đua sản xuất, phát triển kinh tế, xã hội, đem lại những kết quả quan trọng, từng bước làm thay đổi bộ mặt nông thôn miền núi Sự phát triển kinh tế, xã hội trong những năm gần đây chính là điều kiện thuận lợi để huyện bắt tay vào công cuộc XDNTM Bên cạnh những thuận lợi, huyện Định Hóa cũng gặp nhiều khó khăn do địa hình miền núi bị chia cắt, trình độ dân trí nói chung còn thấp Đó là chưa kể những khó khăn do thiên tai, hạn hán gây ra

Đối chiếu với các tiêu chí trong Bộ Tiêu chí Quốc gia xây dựng nông thôn mới, huyện mới đạt 10,6/19 tiêu chí Tuy nhiên, những kết quả đạt được trong 25 năm thực hiện đường lối đổi mới (1986 - 2011) là tiền đề quan trọng

để nhân dân các dân tộc trong huyện bắt tay vào việc xây dựng nông thôn mới

Trang 34

Chương 2 QUÁ TRÌNH VẬN ĐỘNG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI

Ở HUYỆN ĐỊNH HÓA (2011 - 2015)

2.1 Chủ trương của Đảng, Nhà nước về xây dựng nông thôn mới

Trong những năm gần đây, sự phát triển về kinh kế đất nước không chỉ biểu hiện rõ nét tại trung tâm các thành phố lớn, mà nông thôn cũng từng bước

có sự đổi thay Để thúc đẩy nông nghiệp, nông dân, nông thôn ngày một đi lên, Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương, chính sách; trong đó có chương trình xây dựng nông thôn mới Với sự quan tâm hàng đầu về nông nghiệp, nông thôn, chương trình xây dựng NTM như một cuộc cách mạng góp phần quan trọng trong công cuộc phát triển toàn diện đất nước ở thời kì hội nhập hiện nay

Nhìn lại lịch sử đất nước, bắt đầu từ năm 1986 cho đến nay, công cuộc đổi mới của Đảng đã đem lại nhiều thành tựu to lớn Một kết quả không thể phủ nhận là nền kinh tế nói chung và kinh tế nông nghiệp nói riêng đã chuyển từ nền kinh tế tự cấp tự túc sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Không dừng lại ở việc đảm bảo vững chắc vấn đề an ninh lương thực, thực phẩm cho cả nước, Đảng và Chính phủ luôn quan tâm đặt ra nhiều mục tiêu quan trọng, thúc đẩy phát triển vùng nông thôn Ngày 16/4/2009, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Bộ Tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới theo Quyết định số 491/ QĐ-TTg và Hướng dẫn số 54/2009/TT-BNNPTNT của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hướng dẫn thực hiện Bộ Tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới Bộ Tiêu chí là căn cứ để xây dựng nội dung Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng NTM

Trước khi Bộ Tiêu chí Quốc gia về NTM được chính thức đưa vào thực hiện, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã ban hành nhiều nghị quyết, thông tư gắn với qúa trình xây dựng NTM Trong đó phải kể đến Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 5/8/2008 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X, tại Hội

nghị lần thứ 7 Về nông nghiệp, nông dân, nông thôn Nghị quyết 26-NQ/TW đã

Trang 35

xác định vị trí chiến lược của nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc “là cơ sở và lực lượng quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội bền vững, giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo an ninh, quốc phòng; giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá dân

mục tiêu tổng quát trong xây dựng NTM “Không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của dân cư nông thôn, hài hoà giữa các vùng, tạo sự chuyển biến nhanh hơn ở các vùng còn nhiều khó khăn; nông dân được đào tạo có trình độ sản xuất ngang bằng với các nước tiên tiến trong khu vực và đủ bản lĩnh chính trị, đóng vai trò làm chủ nông thôn mới” Để thực hiện được mục

tiêu, Nghị quyết đã đưa ra những nhiệm vụ và giải pháp cụ thể khi bắt tay vào việc xây dựng NTM

Nghị quyết 26-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã trở thành cơ sở bước đầu đưa chương trình NTM vào thực hiện Nghị quyết nêu rõ

“Ban Cán sự Đảng Chính phủ, các bộ, ngành Trung ương, các tỉnh uỷ, thành

uỷ căn cứ vào Nghị quyết triển khai các nhiệm vụ cụ thể về nông nghiệp, nông dân, nông thôn Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phối hợp với các cấp uỷ, các tổ chức đoàn thể quần chúng phát động phong trào thi đua yêu nước, tham gia tích cực thực hiện Nghị quyết, xây dựng và triển khai các chương trình “xây dựng nông thôn mới”; “bảo tồn và phát triển làng nghề” “đào tạo nguồn nhân lực”; “phát triển kinh tế hợp tác” trong nông thôn Định kì sơ kết, tổng kết, nhân rộng các mô hình tốt, khen thưởng các tổ chức, cá nhân có thành tích; xử

lí trách nhiệm của các cấp ủy, người đứng đầu không thực hiện nghiêm túc các chủ trương của Đảng"

Bộ Tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới theo Quyết định số 491/QĐ-TTg

đã trở thành mục tiêu chung cho cả nước khi thực hiện chương trình NTM Theo đó, 19 tiêu chí bao gồm: 1- Quy hoạch và thực hiện quy hoạch; 2- Giao thông; 3- Thủy lợi; 4- Điện; 5- Trường học; 6- Cơ sở vật chất văn hóa; 7- Chợ

Trang 36

nông thôn; 8- Bưu điện; 9- Nhà ở dân cư; 10- Thu nhập bình quân đầu người/năm; 11- Tỉ lệ hộ nghèo; 12- Cơ cấu lao động; 13- Hình thức tổ chức sản xuất; 14- Giáo dục; 15- Y tế; 16- Văn hóa; 17- Môi trường; 18- Hệ thống tổ chức chính trị xã hội vững mạnh; 19- An ninh trật tự xã hội

Qua 19 tiêu chí và căn cứ vào nhiệm vụ cụ thể trong xây dựng NTM, ta

có thể thấy được nội dung chính trong xây dựng NTM là: Quy hoạch xây dựng nông thôn mới; Phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội; Chuyển dịch cơ cấu, phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập, tăng chất lượng dịch vụ; Giảm nghèo và an sinh xã hội đảm bảo; Đổi mới và phát triển các hình thức tổ chức sản xuất có hiệu quả ở nông thôn; Phát triển giáo dục - đào tạo ở nông thôn; Phát triển y tế, chăm sóc sức khoẻ của người dân nông thôn; Xây dựng đời sống văn hoá, thông tin và truyền thông nông thôn; Nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn; Nâng cao chất lượng tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể chính trị - xã hội trên địa bàn; Giữ vững an ninh, trật tự xã hội nông thôn

Khi chương trình NTM được triển khai thực hiện, từ mục tiêu chung hay nói đúng hơn là 19 tiêu chí lại được quy định cụ thể căn cứ vào đặc điểm tự nhiên, điều kiện kinh tế của từng vùng: Trung du miền núi phía Bắc, Đồng bằng sông Hồng, Bắc Trung Bộ, Duyên hải Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, và Đồng bằng sông Cửu Long Cụ thể là: Về tiêu chí giao thông, nếu

là xã ở Đồng bằng sông Hồng và Đông Nam Bộ, phải có 100% đường trục thôn, xóm được cứng hóa đạt chuẩn theo cấp kĩ thuật của Bộ Giao thông vận tải Đối với xã vùng Bắc Trung Bộ, Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên cần đạt 70% Còn lại với các xã Trung du miền núi phía Bắc và Đồng bằng sông Cửu Long chỉ cần đạt 50% Bên cạnh đó, có những tiêu chí phải đạt 100% đồng bộ Đó là tiêu chí về thủy lợi, yêu cầu tất cả các xã NTM đều phải đạt ở mức khá, đáp ứng nhu cầu về sản xuất và dân sinh; tiêu chí cơ sở vật chất văn hóa, cần đảm bảo có nhà văn hóa và khu thể thao xã đạt chuẩn của Bộ VH-TT-

DL theo Quyết định số 2448/QĐ-BVHTTDL ngày 7/7/2009 của Bộ Văn hoá

- Thể thao và Du lịch ban hành Quy chuẩn Trung tâm Văn hoá - Thể thao xã

Trang 37

Cùng với Quyết định 491/QĐ-TTg (16/4/2009) của Thủ tướng Chính phủ, Thông tư số 54/2009/TT-BNNPTNT (21/8/2009) của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hướng dẫn thực hiện Bộ Tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới có ý nghĩa vô cùng to lớn Thông tư ghi rõ: Chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có thể bổ sung thêm tiêu chí hoặc quy định mức đạt của các tiêu chí cho phù hợp với điều kiện cụ thể của địa phương nhưng không được thấp hơn mức quy định trong Bộ Tiêu chí Quốc gia

Ngày 4/6/2010, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020 tại Quyết định số 800/QĐ-TTg, đề ra mức phấn đấu đến năm 2015 có 20% số xã đạt tiêu chuẩn nông thôn mới và đến năm 2020 có 50% số xã đạt tiêu chuẩn nông thôn mới (theo Bộ Tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới Tiếp theo vào ngày 13/4/2011,

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn - Bộ Kế hoạch và Đầu tư - Bộ Tài

chính đã ban hành Thông tư liên tịch số 26 Hướng dẫn một số nội dung thực hiện Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 4/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn

2010 - 2020 Thông tư gồm 5 chương và 20 điều, nêu rõ những quy định chung

về phạm vi, đối tượng và các nguyên tắc thực hiện triển khai các nội dung của Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng NTM giai đoạn 2010 - 2020 (gọi tắt

là Chương trình xây dựng NTM) Thông tư cũng quy định các bước cụ thể, các

tổ chức thực hiện Chương trình xây dựng NTM và cơ chế quản lí các nguồn trong xây dựng thực tiễn Điều 3 chương II của Thông tư đã nêu rõ các bước

thực hiện xây dựng NTM: “Bước 1: Thành lập hệ thống quản lí, thực hiện; Bước 2: Tổ chức thông tin, tuyên truyền về thực hiện Chương trình xây dựng NTM (được thực hiện trong suốt quá trình triển khai thực hiện); Bước 3: Khảo sát đánh giá thực trạng nông thôn theo 19 tiêu chí của Bộ Tiêu chí Quốc gia NTM; Bước 4: Xây dựng quy hoạch NTM của xã; Bước 5: Lập, phê duyệt đề án xây dựng NTM của xã; Bước 6: Tổ chức thực hiện đề án; Bước7: Giám sát,

Trang 38

đánh giá và báo cáo về tình hình thực hiện Chương trình” [4, Tr3] Để công

cuộc xây dựng NTM triển khai rộng khắp và đạt kết quả cao, ngày 20/9/2011, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1620/QĐ-TTg về Kế hoạch tổ

chức thực hiện phong trào thi đua Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới (được gọi tắt là Phong trào thi đua) nhằm: “Phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị trong việc tuyên truyền, nâng cao nhận thức và trực tiếp tham gia thực hiện thắng lợi chủ trương xây dựng NTM của Đảng và Nhà nước; tổ chức Phong trào thi đua để phấn đấu đạt tỉ lệ xã chuẩn NTM đến năm 2015 tối thiểu là 20%, đến năm 2020 đạt 50%, cải thiện đáng kể đời sống vật chất và tinh thần cho người dân trên địa bàn nông thôn” Quyết định 1620/QĐ-TTg

cũng hướng dẫn cụ thể về nội dung thi đua, hình thức khen thưởng và tổ chức thực hiện Trong quá trình xây dựng NTM, các bộ, ban, ngành của Đảng và Nhà nước luôn quan tâm sát sao tới công tác triển khai tại các địa phương Ngày 22/7/2013, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ra chỉ thị về tăng cường triển khai Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới của ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

Trong năm 2014 và 2015, Trung ương Đảng và các ban, ngành đã có nhiều cuộc họp quan trọng và tiếp tục ban hành nhiều văn bản chỉ đạo, bổ sung Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng NTM toàn quốc Ngày 7/11/2014,

Bộ Y tế ra Quyết định số 4667/QĐ-BYT ban hành Bộ Tiêu chí Quốc gia về y tế

xã, giai đoạn 2011 - 2020 Bộ Tiêu chí trở thành tiêu chuẩn về y tế đối với xã đạt NTM Sau Bộ Y tế, ngày 31/12/2014, Bộ Công Thương ban hành Quyết định 12151/QĐ-BCT hướng dẫn thực hiện tiêu chí số 7 về chợ trong Bộ Tiêu chí Quốc gia xây dựng NTM Quyết định chỉ rõ những yêu cầu cụ thể về tiêu chí chợ trong xây dựng NTM: Chợ phải bảo đảm tối thiểu không nhỏ hơn mức quy định về chỉ tiêu sử dụng đất trên số điểm kinh doanh trong chợ; nhà chợ chính phải bảo đảm kiên cố hoặc bán kiên cố, phải có bộ phận phụ trợ và kĩ thuật công trình…Thông tư số 40/2014-TT-BNNPTNT ngày 13/11/2014 của

Trang 39

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hướng dẫn trình tự, thủ tục, hồ sơ xét công nhận và công bố xã, huyện, thành phố trực thuộc tỉnh đạt chuẩn NTM Thông tư đã cổ vũ tinh thần, khuyến khích quần chúng nhân dân cố gắng hơn khi xây dựng NTM để đạt chuẩn

NTM đã thực sự trở thành một chiến dịch đi vào đời sống người dân trên khắp cả nước dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng và Nhà nước cùng các cấp chính quyền Xây dựng NTM là xây dựng nông thôn có kết cấu hạ tầng kinh tế

- xã hội hiện đại, cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lí, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch,

xã hội nông thôn dân chủ ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc Từ đó tạo ra một niềm vui và tiếp thêm sức mạnh để người dân từ mọi miền đất nước chung tay xây dựng đất nước Trên tinh thần đó, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc tỉnh Thái Nguyên nói chung, huyện Định Hóa nói riêng đã và đang thực hiện thắng lợi Chương trình NTM

2.2 Sự vận dụng của đảng bộ, chính quyền địa phương và quá trình thực

hiện cuộc vận động xây dựng nông thôn mới

2.2.1 Sự vận dụng của Đảng bộ, chính quyền tỉnh Thái Nguyên

Xây dựng NTM đã trở thành một nhiệm vụ chiến lược của toàn Đảng, toàn dân Chỉ sau một thời gian ngắn, Nghị quyết Trung ương về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đã nhanh chóng đi vào cuộc sống, trở thành phong trào sôi nổi rộng khắp Đến nay, 63 tỉnh, thành phố đều hoàn thành việc đánh giá sơ bộ thực trạng NTM và có đề án cụ thể đi vào triển khai Các công tác cần thiết để triển khai Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng NTM đã được đẩy mạnh trên khắp cả nước

Thái Nguyên là vùng kinh tế trọng điểm của khu vực trung du, miền núi phía Bắc có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển nông nghiệp, nông thôn Tuy nhiên, Thái Nguyên cũng là tỉnh gặp không ít khó khăn trong công cuộc xây dựng nông thôn theo hướng văn minh, hiện đại theo tinh thần Nghị quyết

Trang 40

Trung ương 7 đề ra Thái Nguyên cũng là một tỉnh có tiềm năng thế mạnh về tài nguyên khoáng sản, đồng thời có diện tích đất cho canh tác nông nghiệp tương đối lớn Thái Nguyên có 76% trong tổng số 1,16 triệu dân sinh sống bằng nghề nông - lâm nghiệp Mặc dù số dân thuộc ngành Nông nghiệp chiếm

tỉ lệ cao, nhưng những kết quả đạt được chưa tương xứng với tiềm năng Nông nghiệp phát triển chưa đồng đều giữa các vùng, tốc độ tăng trưởng và sức cạnh tranh thấp Kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội còn nhiều hạn chế, nhất là về giao thông, thủy lợi ở các huyện xa thành phố Lực lượng lao động chưa ổn định, các hình thức tổ chức sản xuất chậm đổi mới, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển Đời sống vật chất và tinh thần của người dân nông thôn ở một số khu vực còn rất thấp; tỉ lệ hộ nghèo còn cao, nhất là ở các huyện vùng sâu vùng xa, như

Võ Nhai, Định Hóa Bởi vậy, việc tiến hành thực hiện Chương trình mục tiêuQuốc gia xây dựng NTM là vấn đề càng trở nên cần và cấp thiết đối với nhân dân trong toàn tỉnh Thái Nguyên

Ngay sau khi Nghị quyết Trung ương 7 về nông nghiệp, nông dân, nông thôn ra đời, Tỉnh ủy, Ủy ban Nhân dân tỉnh Thái Nguyên đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện Các cơ quan, ban, ngành đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo cũng như đẩy mạnh việc thực hiện Nghị quyết Trước hết, tỉnh tổ chức Hội nghị quán triệt và triển khai Nghị quyết, thông tư, văn bản đến các tầng lớp cán bộ, đảng viên Công tác tuyên truyền xây dựng NTM được đẩy mạnh Ủy ban Nhân dân từ cấp tỉnh đến cấp xã đều xây dựng chương trình hành động với các nội dung thiết thực, cụ thể thông qua quá trình khảo sát, đánh giá thực trạng Các cấp chính quyền đã thành lập Ban Chỉ đạo chương trình NTM và ban hành Đề án xây dựng NTM Ban Chỉ đạo ban hành những hướng dẫn cụ thể khi tiến hành và yêu cầu đánh giá thực trạng, có báo cáo kết quả để có chất lượng tốt và thiết thực

Một tổ chức đóng vai trò quan trọng trong công cuộc triển khai Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng NTM là Văn phòng Điều phối Ngày

Ngày đăng: 10/12/2016, 17:08

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Đào Duy Anh (1994), Đất nước Việt Nam qua các đời, Nxb Thuận Hóa, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đất nước Việt Nam qua các đời
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nxb Thuận Hóa
Năm: 1994
7. Lưu Thành Công (2013), Nghiên cứu xây dựng mô hình nông thôn mới ở huyện Võ Nhai, Thái Nguyên giai đoạn 2011 - 2015, định hướng đến năm 2020, Luận văn Thạc sĩ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu xây dựng mô hình nông thôn mới ở huyện Võ Nhai, Thái Nguyên giai đoạn 2011 - 2015, định hướng đến năm 2020
Tác giả: Lưu Thành Công
Năm: 2013
10. Phan Huy Chú (2006), Lịch triều hiến chương loại chí, tập I, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch triều hiến chương loại chí
Tác giả: Phan Huy Chú
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2006
11. Phan Huy Chú (2006), Lịch triều hiến chương loại chí, tập II, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch triều hiến chương loại chí
Tác giả: Phan Huy Chú
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2006
12. Khổng Diễn (1995), Dân số và dân số tộc người ở Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân số và dân số tộc người ở Việt Nam
Tác giả: Khổng Diễn
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1995
13. Khổng Diễn (1996) Những đặc điểm kinh tế xã hội các dân tộc miền núi phía Bắc,Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những đặc điểm kinh tế xã hội các dân tộc miền núi phía Bắc
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
14. Trần Thị Hằng (2008), Tình hình ruộng đất của huyện Định Hóa thế kỷ XIX qua tư liệu địa bạ Gia Long 4(1805) và Minh Mệnh 21 (804), Đề tài nghiên cứu, khoa học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình ruộng đất của huyện Định Hóa thế kỷ XIX qua tư liệu địa bạ Gia Long 4(1805) và Minh Mệnh 21 (
Tác giả: Trần Thị Hằng
Năm: 2008
15. Nguyễn Thị Hiếu (2014),Giải pháp đẩy mạnh xây dựng nông thôn mới tại huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên, Luận văn Thạc sĩ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp đẩy mạnh xây dựng nông thôn mới tại huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên
Tác giả: Nguyễn Thị Hiếu
Năm: 2014
16. Lê Thị Bích Hồng (2015), Nghiên cứu xây dựng nông thôn mới ở huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên, Luận văn Thạc sĩ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu xây dựng nông thôn mới ở huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên
Tác giả: Lê Thị Bích Hồng
Năm: 2015
17. Hoàng Ngọc La, Hoàng Hoa Toàn, Vũ Anh Tuấn (2020), Văn hóa dân gian Tày, Sở Văn hóa - Thông tin Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa dân gian Tày
Tác giả: Hoàng Ngọc La, Hoàng Hoa Toàn, Vũ Anh Tuấn
Năm: 2020
19. Tô Xuân Lâm, Lê Văn Viện,Đỗ Trọng Hùng (2013), Xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam, Nxb Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam
Tác giả: Tô Xuân Lâm, Lê Văn Viện,Đỗ Trọng Hùng
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 2013
20. Phạm Khánh Luyện (2013), Giải pháp chủ yếu nhằm xây dựng nông thôn mới ở huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên, Luận văn Thạc sĩ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp chủ yếu nhằm xây dựng nông thôn mới ở huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên
Tác giả: Phạm Khánh Luyện
Năm: 2013
21. Nguyễn Huy Liệu, (2014), Nghiên cứu thực trạng và giải pháp đẩy mạnh xây dựng nông thôn mới tại thị xã Sông Công tỉnh Thái Nguyên, Luận văn Thạc sĩ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu thực trạng và giải pháp đẩy mạnh xây dựng nông thôn mới tại thị xã Sông Công tỉnh Thái Nguyên
Tác giả: Nguyễn Huy Liệu
Năm: 2014
22. Phạm Xuân Nam (1997),Phát triển nông thôn, Nxb Khoa học xã hội Hà Nội 23. Nguyễn Thị Kim Nhung (2013), Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh Thái Nguyên vớicuộc vận động xây dựng nông thôn mới (2008 - 2012), Luận văn Thạc sĩ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển nông thôn", Nxb Khoa học xã hội Hà Nội 23. Nguyễn Thị Kim Nhung (2013), "Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh Thái Nguyên với "cuộc vận động xây dựng nông thôn mới (2008 - 2012)
Tác giả: Phạm Xuân Nam (1997),Phát triển nông thôn, Nxb Khoa học xã hội Hà Nội 23. Nguyễn Thị Kim Nhung
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội Hà Nội 23. Nguyễn Thị Kim Nhung (2013)
Năm: 2013
24. Vũ Văn Phúc (2012), Xây dựng nông thôn mới - Những vấn đề lí luận và thực tiễn, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng nông thôn mới - Những vấn đề lí luận và thực tiễn
Tác giả: Vũ Văn Phúc
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2012
25. Triệu Đức Phượng (2015), Nâng cao vai trò của Hội Nông dân trong xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Ba Chẽ tỉnh Quảng Ninh, Luận văn Thạc sĩ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao vai trò của Hội Nông dân trong xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Ba Chẽ tỉnh Quảng Ninh
Tác giả: Triệu Đức Phượng
Năm: 2015
26. Quỹ hỗ trợ sáng tạo văn học nghệ thuật Hà Nội (2011), Hỏi đáp về chương trình xây dựng NTM, Nxb Thông tấn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hỏi đáp về chương trình xây dựng NTM
Tác giả: Quỹ hỗ trợ sáng tạo văn học nghệ thuật Hà Nội
Nhà XB: Nxb Thông tấn
Năm: 2011
27. Đặng Kim Sơn, Phan Sỹ Hiếu (2001), Phát triển nông thôn bằng phong trào nông thôn mới (Saemaul Undong) ở Hàn Quốc, nxb Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển nông thôn bằng phong trào nông thôn mới (Saemaul Undong)
Tác giả: Đặng Kim Sơn, Phan Sỹ Hiếu
Nhà XB: nxb Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 2001
28. Nguyễn Thị Minh Thanh (2015), Giải pháp đầu tư thành công cho nông nghiệp trong xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang, Luận văn Thạc sĩ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp đầu tư thành công cho nông nghiệp trong xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang
Tác giả: Nguyễn Thị Minh Thanh
Năm: 2015
33. Nguyễn Thị Thuận, Nguyễn Xuân Trường (2013), Phát triển giao thông nông thôn trong công cuộc xây dựng nông thôn mới ở tỉnh Tuyên Quang, Tạp chí Khoa học và Công nghệ, Đại học Thái Nguyên, số 105 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển giao thông nông thôn trong công cuộc xây dựng nông thôn mới ở tỉnh Tuyên Quang, "Tạp chí "Khoa học và Công nghệ
Tác giả: Nguyễn Thị Thuận, Nguyễn Xuân Trường
Năm: 2013

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1: Bản đồ hành chính huyện Định Hóa - Công cuộc xây dựng nông thôn mới ở huyện định hóa, tỉnh thái nguyên từ năm 2007 đến năm 2015
Hình 1.1 Bản đồ hành chính huyện Định Hóa (Trang 17)
Bảng 1.1- Thống kê lượng thủy sản chủ yếu (2005 - 2009) - Công cuộc xây dựng nông thôn mới ở huyện định hóa, tỉnh thái nguyên từ năm 2007 đến năm 2015
Bảng 1.1 Thống kê lượng thủy sản chủ yếu (2005 - 2009) (Trang 26)
Bảng 1.3- Thống kê kết quả thực hiện Bộ Tiêu chí Quốc gia xây dựng nông - Công cuộc xây dựng nông thôn mới ở huyện định hóa, tỉnh thái nguyên từ năm 2007 đến năm 2015
Bảng 1.3 Thống kê kết quả thực hiện Bộ Tiêu chí Quốc gia xây dựng nông (Trang 73)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w