1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

LUẬN văn THẠC sĩ PHÁT HUY NGUỒN lực CON NGƯỜI TRONG sự NGHIỆP CÔNG NGHIỆP hóa HIỆN đại hóa ở TỈNH lâm ĐỒNG HIỆN NAY

93 562 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 588,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhân loại đang b¬ước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên của những phát minh khoa học vĩ đại, với nền kinh tế tri thức, toàn cầu hoá kinh tế. Chưa bao giờ nguồn lực con người được chú trọng như ngày nay. Trong cuộc cạnh tranh quyết liệt của toàn cầu hoá, mỗi quốc gia đều tự tìm cho mình một chiến lược phát triển, nguồn lực con người đang rất được coi trọng, phần chiến thắng sẽ thuộc về quốc gia có nguồn lực con ng¬ười chất lượng cao, có khả năng sáng tạo và chiếm lĩnh đỉnh cao của tri thức khoa học tiên tiến. Vai trò của con ngư¬ời ngày càng cao, do vậy, việc phát huy vai trò nguồn lực con ngư¬ời luôn đ¬ược đặt ở vị trí trung tâm hàng đầu trong chiến lược phát triển của nhiều quốc gia, nhất là những quốc gia đang tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hoá. Trong văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng đã khẳng định: “Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, gắn với phát triển kinh tế tri thức

Trang 1

MỤC LỤC

Trang

Chương 1 THỰC CHẤT VÀ NHỮNG NHÂN TỐ CƠ BẢN TÁC

ĐỘNG TỚI PHÁT HUY VAI TRÒ NGUỒN LỰC CON NGƯỜI TRONG SỰ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ Ở LÂM ĐỒNG HIỆN NAY 11 1.1 Thực chất phát huy vai trò nguồn lực con người

trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Lâm Đồng

11

1.2 Những nhân tố cơ bản tác động đến phát huy vai trò

nguồn lực con người trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Lâm Đồng hiện nay 29

Chương 2 THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP CƠ BẢN

PHÁT HUY VAI TRÒ NGUỒN LỰC CON NGƯỜI TRONG SỰ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN

2.1 Thực trạng và những mâu thuẫn đặt ra đối với phát

huy vai trò nguồn lực con người trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Lâm Đồng hiện nay 452.2 Quan điểm và một số giải pháp cơ bản phát huy vai trò

nguồn lực con người trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Lâm Đồng hiện nay 63

MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài

Trang 2

Nhân loại đang bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên của những phát minh khoa học vĩ đại, với nền kinh tế tri thức, toàn cầu hoá kinh tế Chưa bao giờ nguồn lực con người được chú trọng như ngày nay Trong cuộc cạnh tranh quyết liệt của toàn cầu hoá, mỗi quốc gia đều tự tìm cho mình một chiến lược phát triển, nguồn lực con người đang rất được coi trọng, phần chiến thắng sẽ thuộc về quốc gia có nguồn lực con người chất lượng cao, có khả năng sáng tạo và chiếm lĩnh đỉnh cao của tri thức khoa học tiên tiến Vai trò của con người ngày càng cao, do vậy, việc phát huy vai trò nguồn lực con người luôn được đặt ở vị trí trung tâm hàng đầu trong chiến lược phát triển của nhiều quốc gia, nhất là những quốc gia đang tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hoá Trong văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng đã khẳng định: “Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, gắn với phát triển kinh tế tri thức”[16, tr 28]

Việc phát huy vai trò nguồn lực con người, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao, đang là một trong những hướng ưu tiên và là khâu đột phá để thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá và đổi mới đất n-ước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Ở nước ta nói chung, tỉnh Lâm Đồng nói riêng, cùng với quá trình đổi mới toàn diện và đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phát triển kinh tế tri thức thì việc xây dựng và phát huy vai trò nguồn lực con người đang là một đòi hỏi cấp bách hiện nay

Quán triệt Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc và Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ VIII (nhiệm kỳ 2006 - 2010), Lâm Đồng đã chú trọng phát triển kinh tế xã hội trên cơ sở phát huy vai trò nguồn lực con người Là một tỉnh có vị trí chiến lược quan trọng về kinh tế, chính trị, quốc phòng, an ninh của khu vực Tây Nguyên Đảng bộ và nhân dân các dân tộc Lâm Đồng có truyền thống cách mạng, đoàn kết gắn bó với Đảng, với chế độ; có

ý chí anh dũng kiên cường, bất khuất trong đấu tranh giải phóng dân tộc; là nơi

Trang 3

có nhiều nét văn hóa đặc sắc Lâm Đồng lại có lợi thế về khí hậu, cảnh quan môi trường, đất đai, khoáng sản, để phát triển du lịch, dịch vụ, rau, hoa quả và cây công nghiệp…, nằm ở hành lang vùng kinh tế trọng điểm phía Nam có các cơ sở nghiên cứu, đào tạo của Trung ương đóng trên địa bàn, rất thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội

Qua hơn 20 năm cùng với cả nước thực hiện công cuộc đổi mới, nhất là

3 năm gần đây, trong điều kiện còn nhiều khó khăn nhưng Đảng bộ, chính quyền

và nhân dân các dân tộc trong tỉnh đã nỗ lực phấn đấu thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ VII đạt nhiều thành tựu quan trọng, tương đối toàn diện trên các mặt, phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng an ninh, đời sống của đại bộ phận nhân dân đã được cải thiện Tuy nhiên, trong quá trình xây dựng và phát triển, đến nay Lâm Đồng vẫn là tỉnh nghèo Tốc độ phát triển chậm và chưa vững chắc, quy mô nền kinh tế nhỏ, chất lượng tăng tr-ưởng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp, chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế của tỉnh “Công nghiệp chiếm tỷ trọng thấp, quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá diễn ra với quy mô nhỏ và chậm GDP bình quân đầu người chỉ đạt 64% mức bình quân chung của cả n-ước”[7, tr 12] Mặt bằng dân trí và tỷ lệ lao động được đào tạo nghề thấp, trình độ đội ngũ cán bộ, nhất là tuyến cơ sở, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số còn nhiều hạn chế Đời sống một bộ phận nhân dân còn nhiều khó khăn

Để khai thác có hiệu quả các tiềm năng và thế mạnh của mình, những năm gần đây, Lâm Đồng đã đầu tư cho phát triển công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đạt được những thành tựu quan trọng bước đầu Nhưng nhìn chung đến nay nhiều tiềm năng to lớn, nhất là tiềm năng con người của Lâm Đồng vẫn chưa được khai thác và phát huy có hiệu quả, chưa chuyển hoá thành nội lực cho sự phát triển nhanh và bền vững, chưa đáp ứng được yêu cầu cho sự

Trang 4

nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ VIII đã chỉ ra: “Chất lượng nguồn nhân lực chưa đáp ứng yêu cầu của quá trình hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế” [7, tr 38] Vì vậy, để tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Lâm Đồng, vấn đề nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực tại chỗ đi đôi với tiếp tục thu hút vốn và phân bố lại lực lượng lao động theo quy hoạch là vấn đề có ý nghĩa rất quan trọng

Tham khảo kinh nghiệm của nhiều nước trên thế giới, cũng như từ thực tiễn hơn 20 năm tiến hành sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta cho thấy, sự nghiệp đó chỉ có thể thành công khi biết phát huy sức mạnh tổng hợp của các nguồn lực, trong đó “lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững” Đối với Lâm Đồng, việc phát huy vai trò nguồn lực con người trong quá trình công nghiệp hoá, hiện

đại hoá càng trở nên cấp bách Do vậy, tác giả lựa chọn vấn đề: “Phát huy vai

trò nguồn lực con người trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở tỉnh Lâm Đồng hiện nay” làm luận văn khoa học.

2 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài

Ngày nay, trên cả bình diện lý luận và thực tiễn, các nhà khoa học đều nhất trí khẳng định rằng, trong sự phát triển của nền kinh tế tri thức, sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia, vấn đề mấu chốt không phải dựa vào tài nguyên thiên nhiên, nguồn vốn vật chất như trước đây mà là việc phát huy vai trò của nguồn lực con người trong sự phát triển Từ ý nghĩa và tầm quan trọng của nguồn lực con người trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá mà những năm gần đây, xung quanh vấn đề công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đã được nhiều nhà khoa học nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau Trong sự toàn diện và phong phú của các vấn đề đã được nghiên cứu, có thể khái quát thành mấy khuynh hướng chính sau đây:

Trang 5

Thứ nhất: vấn đề con người và vai trò của nguồn lực con người trong

sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá Tiêu biểu cho khuynh hướng này

có các công trình: “Vấn đề con người trong sự nghiệp công nghiệp hoá,

hiện đại hoá”, Phạm Minh Hạc chủ biên Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,

1995; “Nguồn lực con người, yếu tố quyết định sự nghiệp công nghiệp hóa,

hiện đại hóa đất nước”, Đoàn Văn Khái, Tạp chí Triết học số 4/ 1995; “Về vai trò của nguồn lực con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa”, Phạm Văn Đức, Tạp chí Triết học số 6/1998; “Nguồn nhân lực, động lực của công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”, Nguyễn Thế Nghĩa, Tạp

chí Triết học số 1/1996; “Phát triển con người Việt Nam với tư cách là mục

tiêu, là động lực của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”,

Đặng Hữu Toàn, Tạp chí Khoa học xã hội, số 3/1997; “Phát triển nguồn

nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”, Nguyễn Thanh,

Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002; “Tài nguyên con người trong quá trình

công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước trong thời đại hiện nay”, Nguyễn

Quang Du, Tạp chí Cộng sản số 8/ 1994; “Nguồn nhân lực trong công nghiệp

hoá, hiện đại hoá đất nước”, Nguyễn Trọng Chuẩn, Tạp chí Triết học số 2/

1994

Các công trình trên đã đề cập một cách tương đối có hệ thống cơ sở

lý luận và thực tiễn về vai trò của nguồn lực con người trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phân tích sự tác động qua lại giữa nguồn lực con người với các nguồn lực khác: nguồn vốn, tài nguyên thiên nhiên, cơ

sở vật chất kỹ thuật, vị trí địa lý,… Từ đó, đi đến khẳng định yếu tố quyết định thuộc về nguồn lực con người

Thứ hai: phát triển giáo dục - đào tạo, khoa học và công nghệ với sự

nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá Tiêu biểu cho khuynh hướng này có các

công trình như: “Để cho khoa học và công nghệ trở thành động lực của sự

Trang 6

nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa”, Nguyễn Trọng Chuẩn, Tạp chí Triết

học, số 1/1997; “Phát triển giáo dục đào tạo phục vụ đắc lực cho sự nghiệp

công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”, Đỗ Mười, Tổng Bí thư Ban chấp hành

Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu giáo dục, số 2/1996;

“Để giáo dục- đào tạo thực sự trở thành quốc sách hàng đầu”, Phạm Ngọc

Minh, Tạp chí Triết học, số 2/1997; “Nghiên cứu giáo dục con người và nguồn

nhân lực Việt Nam trên con đường phát triển và hội nhập”, Vũ Minh Chi, Tạp

chí Nghiên cứu con người, số 5/2002; “Nguồn lực trí tuệ trong sự nghiệp đổi mới

ở Việt Nam”, Bùi Thị Ngọc Lan, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002; “Vai trò, vị trí của người thầy giáo trong việc nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực vì

sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”, Vũ Thiện Vương, Báo cáo

khoa học thuộc đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở, Hà Nội, 1999; “Phát triển

giáo dục đào tạo với tư cách điều kiện tiên quyết để phát huy nguồn lực con người, thực trạng và giải pháp”; Vũ Thiện Vương, Tạp chí Khoa học xã hội số 3/ 2001;

“Những quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về tiềm năng con người và phát huy tiềm năng trí tuệ của con người”, Nguyễn An Ninh, Tạp chí Nghiên cứu lý luận số

9/ 1996

Ở các công trình này các tác giả đều tập trung làm rõ vai trò của giáo dục - đào tạo đối với việc phát huy nguồn lực con người phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta Phân tích rõ vị trí, vai trò, chức năng của nguồn lực trí tuệ, bộ phận trung tâm, làm nên chất lượng và sức mạnh ngày càng tăng của nguồn lực con người, là tài sản vô giá của mỗi quốc gia, dân tộc và của toàn nhân loại

Thứ ba: công nghiệp hóa, hiện đại hóa với vấn đề xây dựng nền văn

hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, phát triển đời sống tinh thần Ở khuynh

hướng này có các công trình nghiên cứu tiêu biểu như: “Chủ tịch Hồ Chí

Minh với sự nghiệp xây dựng con người mới”, Võ Nguyên Giáp, Tạp chí

Trang 7

Cộng sản số 6/1990; “Gắn phát triển con người Việt Nam hiện đại với giữ gìn

và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc”, Đặng Hữu Toàn, Tạp chí Triết học số

2/ 2000; “Xây dựng đạo đức, lối sống và chuẩn giá trị xã hội để phát triển

toàn diện con người”, Huỳnh Khái Vinh, Tạp chí Thông tin lý luận số

3/1999; “Mấy vấn đề văn hoá và phát triển ở Việt Nam hiện nay” Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội 1993; “Văn hoá và lối sống của con người Việt Nam trong

công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”, Phạm Xuân Hằng, Nxb, Chính trị

quốc gia Hà Nội 2000

Các công trình này đều khẳng định văn hóa là nền tảng tinh thần của

xã hội, là động lực của sự phát triển Công nghiệp hoá, hiện đại hoá phải gắn liền với nền tảng, truyền thống văn hoá của dân tộc

Thứ tư: công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam và trên thế giới

hiện nay Ở khuynh hướng này, tác giả thấy có các nguồn tài liệu đáng quan tâm

sau đây: “Phát triển nguồn nhân lực - Kinh nghiệm thế giới và thực tiễn nước

ta”, Trần Văn Tùng, Lê Ái Lâm (Viện Kinh tế thế giới), Nxb Chính trị quốc

gia, Hà Nội 1996; “Công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam, lý luận và thực

tiễn”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2000 Các tài liệu trên đã giới thiệu khái

quát về quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá của một số nước trên thế giới, nhấn mạnh vai trò của nguồn lực con người trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá trên thế giới và ở Việt Nam hiện nay

Tác giả không đi sâu nghiên cứu từng vấn đề cụ thể, song việc nghiên cứu, tham khảo những công trình của các tác giả trên đã đem lại cách nhìn toàn diện, phong phú hơn, làm cơ sở cho việc xác định đề tài nghiên cứu Đồng thời qua khảo sát tình hình nghiên cứu, cho thấy, việc nghiên cứu vấn

đề phát huy nguồn lực con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Lâm Đồng thì vẫn chưa có công trình nào trực tiếp đề cập đến

Trang 8

Vì vậy, vấn đề: “Phát huy vai trò nguồn lực con người trong sự nghiệp

công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở tỉnh Lâm Đồng hiện nay” được tác giả lựa

chọn làm đề tài luận văn cao học của mình

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

Mục đích của luận văn

Luận giải dưới góc độ triết học những vấn đề lý luận, thực tiễn của việc phát huy vai trò nguồn lực con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Lâm Đồng; trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp mang tính định hướng cho việc phát huy vai trò nguồn lực con người trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở địa bàn chiến lược này

Nhiệm vụ của luận văn

- Phân tích rõ thực chất và những nhân tố cơ bản tác động đến phát

huy vai trò nguồn lực con người trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Lâm Đồng hiện nay

- Phân tích, đánh giá thực trạng, chỉ ra những mâu thuẫn cần giải quyết

nhằm phát huy vai trò nguồn lực con người trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Lâm Đồng hiện nay

- Đề xuất một số giải pháp mang tính định hướng cho việc phát huy

vai trò nguồn lực con người trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Lâm Đồng hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

- Đối tượng nghiên cứu: Vấn đề phát huy vai trò nguồn lực con người

trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Lâm Đồng hiện nay

Trang 9

- Phạm vi nghiên cứu: Phát huy vai trò nguồn lực con người trong sự

nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở tỉnh Lâm Đồng, trong thời gian từ năm 2005 đến 2010

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở thế giới quan, phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử; quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam về vai trò của nguồn lực con người, vai trò của giáo dục đào tạo nhằm phát huy vai trò nguồn lực con người trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Trong quá trình xây dựng và hoàn thiện luận văn, tác giả sử dụng một

số phương pháp cơ bản như: phân tích, tổng hợp; đối chiếu, so sánh; lôgíc, lịch sử, phương pháp thống kê, hệ thống hóa để làm sáng tỏ và cụ thể hóa nội dung nghiên cứu của luận văn

6 Những đóng góp mới của luận văn

- Phân tích làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn phát huy vai trò nguồn lực con người trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Lâm Đồng hiện nay

- Phân tích rõ những nhân tố cơ bản tác động tới phát huy vai trò nguồn lực con người trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Lâm Đồng hiện nay

- Đề xuất một số giải pháp mang tính định hướng nhằm phát huy vai trò nguồn lực con người trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Lâm Đồng từ nay đến năm 2010

7 Ý nghĩa của luận văn

Với những kết quả nghiên cứu bước đầu, luận văn sau khi được bảo vệ

và chỉnh sửa có thể dùng làm tài liệu tham khảo, nghiên cứu giảng dạy về vấn

đề nguồn nhân lực trong phát triển kinh tế - xã hội Đồng thời là cơ sở để các cấp lãnh đạo, các ngành trong tỉnh Lâm Đồng nghiên cứu, tham khảo trong

Trang 10

việc hoạch định các chủ trương, chính sách phát triển nguồn nhân lực của tỉnh.

8 Kết cấu của luận văn

Luận văn gồm: Mở đầu, 2 chương, 4 tiết, kết luận và danh mục các tài liệu tham khảo

Chương 1 THỰC CHẤT VÀ NHỮNG NHÂN TỐ CƠ BẢN TÁC ĐỘNG TỚI

PHÁT HUY VAI TRÒ NGUỒN LỰC CON NGƯỜI TRONG SỰ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ Ở LÂM ĐỒNG HIỆN NAY

1.1 Thực chất phát huy vai trò nguồn lực con người trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Lâm Đồng

1.1.1 Nguồn lực con người và vai trò nguồn lực con người trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa phải dựa trên tổng thể các nguồn lực: Đất đai, tài nguyên thiên nhiên, cơ sở hạ tầng, vốn, khoa học kỹ thuật, nguồn lực con người… “Nguồn lực” là tổng hợp các yếu tố vật chất và tinh thần đang và sẽ tạo ra năng lực, sức mạnh thúc đẩy quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá Như vậy, khái niệm “nguồn lực” chỉ ra cái khởi nguyên, cội nguồn sản sinh ra, nuôi dưỡng các yếu tố vật chất và tinh thần làm nên năng lực và sức mạnh của sự phát triển Nó bao gồm không chỉ những năng lực, sức mạnh hiện có thực tế, mà còn cả những năng lực, sức mạnh dưới dạng tiềm năng và khi có điều kiện sẽ trở thành hiện thực Với cách tiếp cận trên, nguồn lực con người hay còn gọi là (nguồn nhân lực) thường được hiểu là nguồn lực con người của một quốc gia hay một vùng lãnh thổ, một địa phương nhất định đang và sẽ tham gia vào quá trình phát triển kinh tế xã hội

Trang 11

Theo tổ chức Liên hiệp quốc, nguồn nhân lực là trình độ lành nghề, kiến thức và năng lực hiện có thực tế và dưới dạng tiềm năng của con người (lực lượng lao động) để phát triển kinh tế xã hội trong một cộng đồng Chương trình khoa học công nghệ cấp Nhà nước KX-07 của GS, VS, Phạm Minh Hạc rút ra kết luận: “Nguồn nhân lực cần được hiểu là sự thống nhất giữa dân số và trí tuệ, năng lực, phẩm chất và đạo đức của người lao động Là tổng thể nguồn nhân lực hiện có thực tế và tiềm năng được chuẩn bị sẵn sàng

để tham gia phát triển kinh tế xã hội của một quốc gia hay một địa phương nào đó” [20, tr 17] Với tư cách là nguồn lực con người - chủ thể không tồn tại biệt lập mà chúng liên kết với nhau thành một chỉnh thể thống nhất về tổ chức, tư t-ưởng và hành động Như vậy, nguồn lực con người (nguồn nhân lực) là tổng hợp những năng lực, sức mạnh hiện có thực tế và dưới dạng tiềm năng của lực lượng người, mà trước hết, là lực lượng lao động đang và sẵn sàng tham gia vào quá trình phát triển kinh tế xã hội của đất nước Đó là những người lao động có trí tuệ cao, tay nghề thành thạo, có phẩm chất đạo đức tốt, được đào tạo, bồi dưỡng

và phát huy bởi một nền giáo dục tiên tiến, gắn với khoa học hiện đại

Từ quan niệm nêu trên ta thấy, nguồn lực con người không chỉ bao gồm năng lực, sức mạnh đã qua, hiện có mà cả năng lực, sức mạnh dưới dạng tiềm năng Dạng hiện thực, là nguồn lực đang trực tiếp đóng góp vào quá trình phát triển Dạng tiềm năng, là những năng lực hiện có song còn tiềm ẩn, đang có xu hướng hiện thực hoá, đang cần những điều kiện để trở thành nguồn lực trong hiện thực Mục tiêu quan trọng của quá trình phát huy tiềm năng con người là làm cho tiềm năng của con người chuyển hoá thành nguồn lực trong hiện thực

Nguồn lực con người là sự thống nhất của ba yếu tố cơ bản: số lượng

nguồn nhân lực; chất lượng nguồn nhân lực; cơ cấu nguồn nhân lực Trong

đó chất lượng nguồn nhân lực là yếu tố cơ bản, đóng vai trò quyết định nhất, đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay, khoa học - công nghệ đang phát triển

Trang 12

mạnh mẽ thì nguồn nhân lực có chất lượng cao giữ vai trò quyết định trong sự phát triển nhanh và bền vững.

Trước hết, nguồn nhân lực được xem xét ở mặt số lượng: số lượng nguồn nhân lực là tổng số lao động đã và đang được đào tạo, đang và sẵn sàng tham gia vào quá trình phát triển kinh tế xã hội, nó được quy định bởi quy mô dân số (số lượng dân, mật độ dân số, tốc độ tăng dân số, cơ cấu độ tuổi, cơ cấu lao động trong các ngành, phân bố dân cư) Trong đó, số dân trong độ tuổi lao động là chỉ số phản ánh một cách rõ nhất về số lượng nguồn nhân lực Số lượng nguồn nhân lực đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế xã hội Nếu số lượng không tương xứng với tốc độ phát triển (thừa hoặc thiếu) đều tác động xấu đến sự phát triển kinh tế - xã hội Trên thực tế có hai nhóm yếu tố tự nhiên và xã hội tác động ảnh hưởng đến số lượng nguồn lực con người đó là: nhóm yếu tố tự nhiên là sự tác động của quy luật sinh học đến

tỷ lệ sinh đẻ và tử vong của con người, làm tăng hay giảm dân số và lao động một cách tự nhiên Nhóm yếu tố xã hội là quá trình di dân làm tăng hay giảm dân số và lao động trong một không gian và thời gian nhất định

Nguồn nhân lực khi xem xét về mặt chất lượng là tổng hợp những phẩm chất, năng lực, sức mạnh của người lao động đang và sẵn sàng tham gia vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội Nó bao gồm những yếu tố cơ bản như: thể lực, trí tuệ, kỹ năng lao động, phẩm chất đạo đức, văn hoá, trình độ chuyên môn của người lao động Trong đó trí tuệ, đạo đức, năng lực, trình độ chuyên môn là những yếu tố quan trọng nhất

Trí tuệ là năng lực nhận thức, năng lực tư duy sáng tạo, là sản phẩm sáng tạo về tinh thần của con người Nói đến trí tuệ là nói đến yếu tố tinh thần, trình

độ văn hoá và học vấn của con người, thể hiện qua việc huy động có hiệu quả lượng tri thức tích luỹ vào quá trình sáng tạo cái mới, nhằm cải biến tự nhiên, xã hội và bản thân con người trong sự phát triển xã hội Trí tuệ là yếu tố quyết định

Trang 13

phần lớn khả năng sáng tạo của con người, là yếu tố ngày càng đóng vai trò quan trọng và quyết định trong chất lượng nguồn lực con người Khi đánh giá về vai trò của trí tuệ đối với sự phát triển xã hội, C Mác đã chỉ rõ: “Lao động phức tạp chỉ là lao động giản đơn được nâng lên luỹ thừa, hay nói cho đúng hơn là lao động giản đơn được nhân lên” [25, tr 75] Điều này có nghĩa là trong cùng một điều kiện và một đơn vị thời gian, lao động phức tạp (lao động có hàm lượng trí tuệ cao) tạo ra được giá trị gấp nhiều lần giá trị của lao động giản đơn (lao động chủ yếu bằng sức cơ bắp) tạo ra.

Cùng với trí tuệ, đạo đức và năng lực (tài) là thành phần cơ bản không thể tách khỏi chất lượng nguồn nhân lực Năng lực hình thành và phát triển trên cơ

sở sự phát triển của trí tuệ thông qua hoạt động thực tiễn Theo Hồ Chí Minh, đức và tài luôn gắn bó với nhau, trong đó, đức là “gốc” Người có đức mà không

có tài thì chẳng khác nào ông bụt ngồi trong chùa, không làm hại ai, nhưng cũng chẳng có ích gì; ngược lại, người có tài mà không có đức thì chẳng khác gì một người làm kinh doanh giỏi, kiếm được nhiều lãi nhưng tham ô, lãng phí, ăn cắp của công thì như vậy chỉ có hại cho nước, cho dân, còn sự nghiệp của bản thân thì sớm muộn cũng bị đổ vỡ Vì vậy, đức là “gốc”, là vốn quý của cá nhân con người, của tập thể và của cả dân tộc Hồ Chí Minh cho rằng, một dân tộc biết cần, kiệm, biết liêm là một dân tộc văn minh, tiến bộ Do vậy phát triển nguồn lực con người là phải chú ý cả hai yếu tố đức và tài, trong đó đức là “gốc”

Với tư cách là yếu tố quan trọng của nguồn nhân lực, thầm mỹ định hướng việc bồi dưỡng nhu cầu, khát vọng của con người theo tiêu chuẩn của giá trị “chân, thiện, mỹ” Những giá trị đó gắn liền với năng lực tư duy và hành động cụ thể của con người, tạo nên chất lượng nguồn lực con người Sự phát triển của thẩm mỹ đúng đắn sẽ có tác động trở lại thúc đẩy sự phát triển trí tuệ ở trình độ cao hơn, đặc biệt nó có giá trị định hướng cho các hoạt động

Trang 14

trí tuệ, cho việc sử dụng các thành tựu của trí tuệ, của khoa học vào những mục đích nhân văn, tiến bộ xã hội, vì cuộc sống hạnh phúc của con người.Chất lượng nguồn nhân lực phụ thuộc vào các yếu tố sau: sức khoẻ và dinh dưỡng; giáo dục và đào tạo; văn hoá truyền thống dân tộc; tác phong và tinh thần làm việc; kỷ luật Sức khoẻ và dinh dưỡng của nguồn lực con người với sự phát triển xã hội là mối quan hệ hai chiều Sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước sẽ tạo ra những điều kiện thuận lợi cho việc chăm sóc sức khoẻ con người và ngược lại sức khoẻ và dinh dưỡng của con người được cải thiện

sẽ nâng cao chất lượng nguồn lực con người, phát huy được vai trò của nguồn lực con người trong phát triển kinh tế - xã hội Giáo dục và đào tạo là một trong những yếu tố quan trọng nhất trong sự phát triển tài năng, trí tuệ, phẩm chất nhân cách con người Do đó, con đường cơ bản nhất để phát huy vai trò nguồn lực con người trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá là giáo dục - đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực Văn hoá truyền thống dân tộc, là những nét văn hoá đặc trưng (truyền thống đạo đức, sự cố kết cộng đồng dân

cư, các mối quan hệ gia đình, xã hội v.v…) có tác động rất lớn đến hành vi ứng xử của con người trong công việc cũng như trong cuộc sống Tác phong, tinh thần làm việc và kỷ luật cần có là tác phong làm việc khẩn trương, có ý thức trách nhiệm cao đối với công việc, với cộng đồng, “mình vì mọi người, mọi người vì mình”, có tinh thần dám nghĩ, dám làm, chấp hành nghiêm kỷ luật lao động, luật pháp nhà nước Vì vậy nâng cao chất lượng nguồn nhân lực không thể tách khỏi những yếu tố văn hoá, đạo đức

Nguồn lực con người, tuỳ theo cách tiếp cận khác nhau mà có những cách phân chia khác nhau: Phân chia theo trình độ lao động; loại lao động; lực lượng lao động Trong đó, lực lượng lao động còn được phân chia thành các lực lượng cụ thể, tuỳ theo đặc điểm lứa tuổi, tính chất hoạt động Nguồn nhân lực sẵn có trong dân cư bao gồm toàn bộ những người nằm trong độ tuổi

Trang 15

lao động, có khả năng lao động, không kể đến trạng thái có việc làm hay không có việc làm, là tất cả những người có khả năng làm việc trong dân cư, tính theo độ tuổi lao động quy định Ở nước ta hiện nay, nam từ 15 - 60 tuổi,

nữ từ 15 - 55 tuổi Lực lượng này chiếm khoảng trên 50% dân số Nguồn nhân lực tham gia vào hoạt động kinh tế xã hội là số người có công ăn việc làm đang hoạt động trong các ngành kinh tế, văn hoá xã hội Nguồn nhân

lực dự trữ bao gồm những người tốt nghiệp ở các trường phổ thông, các

trường chuyên nghiệp (trung cấp, cao đẳng, đại học) đang tìm việc làm và những người đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự

Nguồn lực con người có vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá Bất cứ quốc gia nào muốn phát triển đều phải huy động và sử dụng có hiệu quả nhiều nguồn lực khác nhau (nguồn lực con người, nguồn vốn trong và ngoài nước, nguồn tài nguyên thiên nhiên, nguồn lực khoa học công nghệ…) Trong các nguồn lực đó, nguồn lực con

người giữ vai trò quyết định nhất Vai trò quyết định của nguồn lực con

người được biểu hiện ở những nội dung sau:

Thứ nhất: Nguồn lực con người, đặc biệt là năng lực trí tuệ có vai trò to

lớn trong sự phát triển kinh tế - xã hội

Trí tuệ của con người có sức mạnh vô cùng to lớn, nhất là trong thời đại nền kinh tế tri thức hiện nay Trí tuệ, nguồn “chất xám” của con người là vô hạn, càng sử dụng thì càng phát triển, (đối với từng con người là hữu hạn, nhưng đối với cả loài người là vô hạn) Trong khi đó các nguồn lực khác lại là hữu hạn Tài nguyên thiên nhiên, nguồn vốn, cơ sở vật chất kỹ thuật, vị trí địa lý thuận lợi đều

vô cùng quan trọng, thiếu chúng sẽ gặp rất nhiều khó khăn, gây ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình phát triển kinh tế - xã hội Song các nguồn lực này dù phong phú, đa dạng và giầu có đến mấy cũng chỉ tồn tại dưới dạng tiềm năng và tự nó không thể phát huy tác dụng Chúng chỉ thực sự có ý nghĩa và phát huy tác dụng

Trang 16

thông qua hoạt động có ý thức, sáng tạo của con người, nghĩa là được con người

sử dụng Mặt khác, các nguồn lực khác có phong phú đi bao nhiêu chăng nữa thì sau quá trình khai thác và sử dụng, đến một lúc nào đó cũng sẽ bị cạn kiệt Nguồn vốn cũng luôn bị giới hạn bởi nhu cầu của sự phát triển Công nghệ có hiện đại, tiên tiến mấy chăng nữa cũng sẽ bị lạc hậu theo thời gian

Con người là chủ thể sáng tạo ra công nghệ kỹ thuật, trí tuệ con người phát triển tới đâu sẽ tạo ra trình độ công nghệ, kỹ thuật tương ứng Vốn, tài nguyên thiên nhiên rất cần thiết cho quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, sự giàu có về tài nguyên thiên nhiên và những ưu thế về vị trí địa lý sẽ mất ý nghĩa nếu chủ nhân của nó - “con người” không biết khai thác và sử dụng có hiệu quả Sức mạnh của tài nguyên thiên nhiên phát huy tác được dụng đến đâu còn tuỳ thuộc vào yếu tố con người khi tiếp nhận các nguồn lực đó Xét đến cùng, thiếu

sự hiện diện của con người với những phẩm chất, trí tuệ và lao động thì mọi nguồn lực khác đều trở nên vô nghĩa

Cuộc cách mạng khoa học công nghệ trên thế giới đang phát triển như vũ bão đưa đến sự biến đổi to lớn trong đời sống nhân loại Sự phát triển này không chỉ được đánh dấu bởi số lượng của các phát minh khoa học, mà còn ở chiều sâu của các phát minh đó Người ta tính rằng, chỉ riêng 30 năm gần đây, lượng kiến thức nhân loại tiếp thu được về mặt khoa học - kỹ thuật bằng tổng số thu được trong hai ngàn năm trước đó “Dự đoán đến năm 2020 sẽ tăng ba, bốn lần so với hiện nay Tới năm 2050 những kiến thức khoa học - kỹ thuật đang áp dụng hiện giờ có khả năng chỉ chiếm 1% lượng kiến thức của thời đó” [6, tr 87]

Thứ hai: Trong sự phát triển của lực lượng sản xuất thì con người giữ

vai trò quyết định nhất

Con người là chủ thể của mọi nhận thức và cải tạo xã hội Trong quan niệm của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác, con người không chỉ là chủ thể hoạt động sản xuất vật chất, là yếu tố hàng đầu, yếu tố đóng vai trò quyết định trong

Trang 17

lực lượng sản xuất của xã hội, mà hơn nữa, nó còn đóng vai trò là chủ thể hoạt động của mọi quá trình lịch sử xã hội Bằng hoạt động thực tiễn của mình, con người đã in dấu ấn sáng tạo của bàn tay và trí tuệ của mình vào giới tự nhiên, không ngừng chinh phục thế giới khách quan, cải tạo hoàn cảnh, phát triển lực lượng sản xuất và qua đó, hoàn thiện và phát triển chính bản thân mình

Điều đó có nghĩa con người vừa là chủ thể, vừa là đối tượng của quá trình phát triển lịch sử Con người làm nên lịch sử của chính mình Lịch sử

là lịch sử của con người, do con người và vì con người Lịch sử đó không chỉ là một chuỗi những biến cố được tạo nên bởi những điều kiện khách quan, mà còn là một chuỗi những hoạt động do con người thực hiện Con người là sản phẩm của hoàn cảnh, nhưng đồng thời con người lại là chủ thể của tất cả những biến đổi to lớn của hoàn cảnh Bằng hoạt động thực tiễn lao động sáng tạo của mình, con người không chỉ làm cho bộ mặt tự nhiên thay đổi, mà cả bộ mặt xã hội cũng thay đổi và ngày một hoàn thiện

Tiến trình phát triển của lịch sử nhân loại, nhìn nhận một cách biện chứng, chính là quá trình giải quyết hàng loạt các mâu thuẫn của đời sống xã hội Lực lượng để giải quyết các mâu thuẫn đó không ai khác là con người Con người với khả năng lao động và năng lực sáng tạo của mình đã làm nên các cuộc cách mạng trong những thời đại văn minh, từ cổ đại đến hiện đại Với khả năng và năng lực đó, con người chính là động lực cho sự phát triển kinh tế

xã hội và là chủ thể sáng tạo ra các nền văn minh ấy Con người với năng lực nhận biết các quy luật khách quan và bằng hoạt động thực tiễn của mình đã biến khả năng thành hiện thực theo những quy luật vốn có của thế giới khách quan Điều đó cho thấy tính năng động chủ quan của con người trong mối quan hệ với

tự nhiên và xã hội, cho thấy con người không chỉ có khả năng cải tạo tự nhiên,

mà còn có khả năng cải tạo, biến đổi xã hội, cải tạo chính bản thân mình

Trang 18

Trong thời đại ngày nay, thời đại mà khoa học đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ hiện đại, với hàm lượng chất xám ngày càng chiếm tỷ lệ cao trong mỗi sản phẩm làm ra, con người càng tỏ rõ vai trò quyết định của mình trong tiến trình phát triển của lịch sử nhân loại Biện chứng của sự phát triển trong thời đại ngày nay đang đòi hỏi con người phải bộc lộ đầy đủ hơn nữa “sức mạnh bản chất người” của mình một cách hiện thực và sinh động hơn, phong phú và đa dạng hơn, văn hoá và trí tuệ hơn Đó là những phẩm chất và sức sáng tạo của con người hiện đại.

Sự ứng dụng ngày càng rộng rãi những thành tựu của khoa học - công nghệ hiện đại vào quá trình sản xuất đã làm cho năng suất lao động tăng nhanh Tuy nhiên, khoa học - công nghệ dù có to lớn đến đâu cũng không thể thay thế hoàn toàn vai trò của con người Nguồn lực con người vẫn đóng một vai trò quan trọng, quyết định quá trình sản xuất, tăng trưởng

và phát triển kinh tế - xã hội Thế giới đang có xu hướng chuyển từ nền kinh tế dựa vào sự giầu có của các nguồn tài nguyên sang kinh tế tri thức Trong bối cảnh như vậy, nguồn lực con người trở thành động lực chủ yếu của sự phát triển nhanh và bền vững của xã hội Cương lĩnh xây dựng đất

nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và Chiến lược phát triển

kinh tế - xã hội của Đảng đã chỉ rõ: con người là nguồn lực quan trọng

nhất, là nguồn lực của mọi nguồn lực, quyết định sự hưng thịnh của đất nước Tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Đảng ta đã khẳng định

sự cần thiết phải thực hiện một cách có hiệu quả chiến lược phát triển con người Đại hội lần thứ X của Đảng xác định một trong những nhiệm vụ chủ yếu của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội từ nay đến năm 2010: “Phát triển mạnh khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo, nâng cao chất

Trang 19

lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá và phát triển kinh tế tri thức” [16, tr 187].

Con người với tư cách là nguồn lực quan trọng nhất của sự phát triển xã hội, chủ thể sáng tạo lịch sử mới nên con người phải không ngừng hoàn thiện những phẩm chất, năng lực, trình độ trí tuệ mới Như vậy con người là nguồn lực chủ yếu, vững chắc, lâu bền nhất trong sự phát triển, là chủ thể sáng tạo, là nguồn lực của mọi nguồn lực

Thứ ba: Vai trò nguồn lực con người còn được xác định, con người vừa

là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội

Mục tiêu của phát triển kinh tế - xã hội là vì con người, động lực của phát triển kinh tế - xã hội là do con người Để tồn tại và phát triển, con người cần phải được đáp ứng những nhu cầu ngày càng cao về vật chất và tinh thần Mọi nền sản xuất xã hội, xét đến cùng đều nhằm phục vụ con người Sản xuất càng phát triển thì càng có nhiều sản phẩm để đáp ứng ngày càng đầy đủ hơn cho con người Chính sự đòi hỏi phải đáp ứng những nhu cầu đó trong điều kiện các nguồn lực kinh tế - xã hội có hạn đã thúc đẩy con người phải không ngừng nâng cao khả năng lao động sáng tạo của mình để sản xuất ra nhiều sản phẩm phục vụ ngày càng tốt hơn nhu cầu của con người

Ở nước ta từ buổi đầu của công cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa, khi vận dụng quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về con người và giải phóng con người, Đảng ta đã khẳng định rằng, con người là vốn quý nhất, chăm lo cho hạnh phúc của con người là mục tiêu phấn đấu cao nhất của chế độ ta Trong quá trình cách mạng, việc chăm lo cho hạnh phúc mọi người, mọi nhà được Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt lên vị trí hàng đầu và coi đó là nhiệm vụ trung tâm của cách mạng Vì vậy, mọi chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta đều nhằm quán triệt tư tưởng, chăm lo bồi dưỡng và phát huy nhân tố con người, hướng tới mục tiêu phát triển toàn diện

Trang 20

con người Việt nam Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã khẳng định: Phát triển con người toàn diện về chính trị, tư tưởng, trí tuệ, đạo đức, thể chất, năng lực sáng tạo, có ý thức cộng đồng, lòng nhân ái khoan dung, tôn trọng nghĩa tình, lối sống có văn hoá, quan hệ hài hoà trong gia đình, cộng đồng và xã hội.

Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn khẳng định, cách mạng là sự nghiệp của dân, do dân, vì dân Chúng ta cần tiếp tục phát huy khả năng to lớn của các giai cấp, các tầng lớp nhân dân, tạo nên sức mạnh của cộng đồng dân tộc, phấn đấu xây dựng một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giầu mạnh

vì hạnh phúc của nhân dân Xuất phát từ nhận thức đó Đảng ta đã có những quyết sách đúng đắn trong việc đổi mới công tác quần chúng trong điều kiện nền kinh tế thị trường, nhờ vậy mà khối đại đoàn kết toàn dân được củng cố vững chắc Những ý kiến, sáng kiến và nguyện vọng của nhân dân là nguồn gốc hình thành đường lối đổi mới của Đảng và cũng do nhân dân hưởng ứng đường lối đổi mới, quyết tâm phấn đấu, vượt qua khó khăn gian khổ thử thách

mà công cuộc đổi mới đạt được những thành tựu như hôm nay

Sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước của nhân dân ta dưới

sự lãnh đạo của Đảng, trong những năm qua đã thu được nhiều thành tựu to lớn, từng bước đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng, đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế tương đối cao và ổn định, đời sống nhân dân từng bước được cải thiện,

bộ mặt của xã hội có những thay đổi đáng kể Một trong những tiền đề tạo ra

sự thành công đó là Đảng ta đã đánh giá đúng vị trí vai trò của việc phát triển nguồn lực con người phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, từng bước xây dựng và phát triển kinh tế tri thức, đáp ứng nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực Kết quả của hơn 20 năm tiến hành công cuộc đổi mới đất nước cũng đã chứng minh rằng, đường lối, chính sách đúng đắn của Đảng đều xuất phát từ con người, do con người và vì con người Chính vì

Trang 21

vậy việc phát huy vai trò nguồn lực con người cần phải được coi là vấn đề chiến lược của công cuộc đổi mới, là vấn đề sống còn của đất nước, đáp ứng yêu cầu cấp bách của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước hiện nay.

Thứ tư: Vai trò của nguồn lực con người ngày càng được thể hiện sinh

động trong thực tiễn

Thực tiễn nước ta và kinh nghiệm của nhiều nước trên thế giới cho thấy

sự thành công của công nghiệp hoá, hiện đại hoá phụ thuộc chủ yếu vào việc hoạch định đường lối chiến lược, sách lược và năng lực tổ chức hoạt động thực tiễn của chủ thể - (con người) Trên thế giới, không hiếm những nước giầu có về tài nguyên thiên nhiên nhưng vẫn không thành công trong công nghiệp hoá, hiện đại hoá Trong khi đó có những nước tài nguyên thiên nhiên hạn chế nhưng vẫn có sự phát triển vượt bậc Chẳng hạn Singapore, một đất nước không được thiên nhiên ưu đãi về mặt tài nguyên, nhưng đã phát huy tốt vai trò nguồn lực con người, có cơ cấu kinh tế phù hợp, đã có tốc độ phát triển kinh tế rất cao và trở thành một nước có tổng sản phẩm quốc nội bình quân đầu người cao nhất trong khu vực Nước Nhật cũng là nước có bước phát triển thần

kỳ từ sau chiến tranh, mặc dù không có lợi thế về tài nguyên thiên nhiên, nước Nhật đã có bước phát triển kỳ diệu và có tổng sản phẩm quốc dân đứng thứ nhì thế giới sau Mỹ Sự phát triển thần kỳ đó bắt nguồn từ yếu tố con người và phát huy vai trò to lớn của nguồn lực con người Hàn Quốc cũng là một trong những điển hình của sự phát triển kỳ diệu đó Chỉ trong hơn bốn thập kỷ, Hàn Quốc từ một nước nghèo, lại bị tàn phá của chiến tranh Triều Tiên đã trở thành một trong những nước công nghiệp hoá phát triển vào loại hùng mạnh nhất về kinh tế của các nước thuộc thế giới thứ ba

Trong con mắt của các học giả nước ngoài, những thành tựu của Hàn Quốc trong thời kỳ công nghiệp hoá có thể được coi là một “kỳ tích sông Hàn”

Trang 22

Tuy nhiên, trong con mắt của người Hàn Quốc thì những thành tựu đó không có

gì là kỳ tích, nếu như thấy rõ những cố gắng của người dân lao động làm việc rất vất vả, được tổ chức một cách hết sức chặt chẽ, dưới sự quản lý và nuôi dưỡng bằng văn hoá Khổng Giáo Mặc dù những quyết định về chiến lược phát triển của chính phủ và những điều kiện thuận lợi trong môi trường thương mại quốc tế

là những thuận lợi hết sức quan trọng, không thể thiếu được Song nguồn lực con người và phát huy vai trò của nguồn lực con người vẫn là cái quyết định trong quá trình công nghiệp hoá đất nước Nếu thừa nhận khả năng của nguồn lực con người là nguyên nhân của sự phát triển kinh tế thì tại sao nhiều nước khác có khả năng cung cấp lực lượng lao động rất dồi dào lại không thể phát triển nhanh như Hàn Quốc? Như vậy, khả năng cung cấp nguồn lực con người mới chỉ là điều kiện cần chứ chưa thể là điều kiện đủ cho sự phát triển kinh tế Thực chất kỳ diệu của sự phát triển kinh tế Hàn Quốc trong thời kỳ công nghiệp hoá còn bao gồm một loạt các điều kiện khác quy định chất lượng nguồn nhân lực, cũng như những yếu tố kích thích tính tích cực của nguồn lực đó

Từ những cơ sở lý luận và thực tiễn nêu trên, cho thấy vai trò của nguồn lực con người rất quan trọng, nó quyết định việc tổ chức và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực khác Trong khi khẳng định vai trò của nguồn lực con người cần phải thấy được vai trò to lớn của đội ngũ cán bộ quản lý, cán bộ khoa học kỹ thuật Đây là lực lượng cơ bản, lưc lượng nòng cốt của nguồn lực con người

Vị trí, vai trò quan trọng của đội ngũ này thể hiện ở chỗ: Một là, bồi dưỡng,

đào tạo lại lực lượng lao động hiện có và quy hoạch đào tạo mới nguồn nhân

lực Hai là, góp phần soạn thảo chiến lược, các chính sách của công nghiệp

hoá, hiện đại hoá đồng thời cụ thể hoá chúng bằng các chương trình, kế hoạch

và phương pháp hành động cụ thể Ba là, sáng tạo và tiếp thu những thành tựu

khoa học - công nghệ hiện đại, ứng dụng chúng vào trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội (kinh tế, chính trị, văn hoá, khoa học, giáo dục - đào tạo,

Trang 23

quản lý…) để thúc đẩy xã hội phát triển Bốn là, đưa ra các phương án, biện

pháp để điều chỉnh và định hướng quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đồng thời góp phần giải quyết các mâu thuẫn nảy sinh trong quá trình này

Năm là, dự báo những thuận lợi và khó khăn, khả năng, triển vọng phát triển

của đất nước và cả nguy cơ (nếu có)

Xem xét vai trò nguồn lực con người phải trên cơ sở quan điểm toàn diện của phương pháp luận duy vật biện chứng, có nghĩa là phải thấy được vai trò quyết định của nguồn lực con người và vai trò rất quan trọng của các nguồn lực khác Không được tuyệt đối hoá một yếu tố nào, đồng thời phải xem xét chúng trong một chỉnh thể thống nhất của các nguồn lực trong sự phát triển kinh tế xã hội Nguồn lực con người không thể tồn tại một cách biệt lập, bởi lẽ, con người

là một thực thể tự nhiên - xã hội Để tồn tại và phát triển, con người phải quan hệ với tự nhiên, khai thác tài nguyên thiên nhiên bằng trí tuệ và sức lao động của mình nhằm cải tạo tự nhiên, tạo ra của cải vật chất nuôi sống con người Mặt khác chính trong thực tiễn hoạt động lao động sản xuất, con người lại không ngừng phát triển trí tuệ, phẩm chất, sức khoẻ Đây là mối quan hệ biện chứng trong sự phát triển của các nguồn lực

1.1.2 Thực chất phát huy vai trò nguồn lực con người trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Lâm Đồng

Theo Từ điển tiếng Việt, phát huy là “làm cho cái hay, cái tốt, cái đúng toả tác dụng và tiếp tục nảy nở thêm” [41, tr 1023] Đó là việc khơi dậy, sử dụng và phát huy các yếu tố tích cực, tiến bộ và hữu ích trong sự vật, hiện tượng vào một mục đích nào đó Phát huy là một quá trình liên tục từ thấp đến cao, gắn với cái hay, cái đúng, cái tốt được nảy nở và gia tăng không ngừng, gắn liền với sự loại bỏ cái không hay, cái lỗi thời, lạc hậu

Như vậy, về quan niệm chung: Phát huy vai trò nguồn lực con người là

quá trình phát hiện, khơi dậy tiềm năng, trí sáng tạo, nâng cao sự nỗ lực của

Trang 24

mỗi cá nhân, mọi tầng lớp xã hội, nhằm phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của con người trong hoạt động thực tiễn gắn với mỗi giai đoạn phát triển của đất nước.

Về nội hàm của khái niệm phát huy vai trò nguồn lực con người bao

gồm: thứ nhất, phát hiện ra những năng lực, xu thế vận động và phát triển của

nguồn lực con người, tạo ra những tiền đề, điều kiện để tiềm năng của họ được bộc lộ ra; giải phóng những tiềm năng hiện có và nâng lên một trình độ

phát triển mới Thứ hai, bên cạnh việc phát huy những ưu điểm, những mặt

tích cực, đồng thời còn phải khắc phục những hạn chế, điều chỉnh những xu hướng lệch lạc có thể làm giảm thiểu những năng lực hiện có

Trên cơ sở cách tiếp cận như trên, tác giả đưa ra quan niệm: phát huy vai

trò nguồn lực con người trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Lâm Đồng là quá trình từng bước hoàn thiện cơ cấu nguồn nhân lực Đồng thời phát hiện, khơi dậy, kích thích mọi tiềm năng, trí sáng tạo, nâng cao sự

nỗ lực cố gắng, của người lao động phù hợp với đặc điểm, điều kiện kinh tế -

xã hội của tỉnh.

Thực chất của việc phát huy vai trò nguồn lực con người trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá của Lâm Đồng là chủ thể (các nhà quản lý) phải tìm ra được những động lực bên trong và những nhân tố tác động thúc đẩy họ hành động một cách tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo nhằm đưa đến sự phát triển về kinh tế - xã hội của tỉnh

Phát huy vai trò nguồn lực con người trong sự nghiệp công nghiệp hoá,

hiện đại hoá ở Lâm Đồng là sự thống nhất biện chứng của một quá trình từ việc đánh giá, phát hiện, bồi dưỡng đến sử dụng nguồn nhân lực Quá trình đó được thể hiện trên các phương diện cơ bản như: hoàn thiện cơ cấu nguồn nhân lực; bồi dưỡng nguồn nhân lực; sử dụng nguồn nhân lực gắn với đặc điểm, điều kiện kinh tế - xã hội của tỉnh

Trang 25

Thứ nhất, hoàn thiện cơ cấu nguồn nhân lực Để phát huy vai trò

nguồn lực con người trước hết tỉnh phải có một lực lượng lao động dồi dào, chất lượng cao, cơ cấu lao động hợp lý Hoàn thiện cơ cấu nguồn nhân lực

là gia tăng lực lượng lao động với quy mô và cơ cấu hợp lý, bảo đảm một lực lượng lao động dồi dào với cơ cấu trẻ Trước hết cần bảo đảm một tỷ lệ sinh hợp lý, phù hợp với quy mô và tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh; bảo đảm cơ cấu về độ tuổi, cơ cấu trình độ học vấn, cơ cấu trình độ chuyên môn kỹ thuật, cơ cấu về giới tính, thích hợp với từng giai đoạn phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Mỗi quốc gia hay địa phương có quy mô dân số hợp

lý, lực lượng lao động dồi dào với cơ cấu trẻ là điều kiện tốt nhất để phát triển nguồn nhân lực về mặt chất lượng

Để phát triển kinh tế - xã hội theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá thì

cơ cấu kinh tế của Lâm Đồng phải chuyển dịch theo hướng công nghiệp và dịch vụ; trong từng ngành, từng lĩnh vực cũng phải có sự chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ lệ nguồn nhân lực có chất lượng cao Lĩnh vực nông - lâm nghiệp và kinh tế nông thôn phải phát triển theo hướng chú trọng ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật để tăng năng suất và chất lượng sản phẩm, chuyển đổi cơ cấu giống, cây trồng phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng khí hậu của từng vùng, từ đó đòi hỏi phải có lực lượng lao động có chất lượng cao Hiện nay Lâm Đồng đang có sự mất cân đối về cơ cấu nguồn nhân lực, ở khu vực nông thôn, miền núi có số lượng đông nhưng chất lượng thấp Vì vậy đang đặt ra vấn đề giáo dục đào tạo, chăm sóc sức khoẻ cho người dân ở khu vực nông thôn, miền núi Số lượng nguồn nhân lực đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội, nếu

số lượng không tương xứng với tốc độ phát triển (thừa hoặc thiếu) đều tác động xấu đến sự phát triển kinh tế xã hội Giữa số lượng và chất lượng của nguồn nhân lực có quan hệ chặt chẽ với nhau Nếu số lượng nguồn nhân lực quá ít sẽ gây khó khăn cho quá trình phân công lao động xã hội Nếu nguồn nhân lực

Trang 26

đông nhưng không mạnh, chất lượng thấp sẽ là gánh nặng cho xã hội, kìm hãm sự phát triển của xã hội Ngược lại, chất lượng nguồn nhân lực được nâng cao sẽ góp phần làm giảm số lượng người lao động trong một đơn vị sản xuất, kinh doanh, trong một tổ chức xã hội làm cho năng suất lao động được nâng cao Vì vậy hoàn thiện cơ cấu nguồn nhân lực của tỉnh phải giải quyết hài hoà giữa số lượng và chất lượng

Thứ hai, bồi dưỡng nguồn nhân lực: từ việc nghiên cứu cấu trúc và vai

trò của nguồn lực con người trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá,

từ thực chất của việc phát huy vai trò của nguồn lực con người Chiến lược bồi dưỡng nguồn nhân lực, phải chú trọng đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực của tỉnh để đáp ứng sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá Đào tạo, bồi dưỡng con người như thế nào thì có kết quả nguồn nhân lực tương ứng Yêu cầu phát triển nguồn nhân lực trong từng thời kỳ ở mức độ nào thì phải có chiến lược con người phù hợp Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ năm khoá VIII đã xác định chiến lược xây dựng con người Việt Nam trong giai đoạn cách mạng mới với những đức tính là: có tinh thần yêu nước, tự cường dân tộc, phấn đấu vì độc lập dân tộc, vì chủ nghĩa xã hội, có ý chí vươn lên đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu Có ý thức tập thể, đoàn kết phấn đấu vì lợi ích chung Có lối sống lành mạnh, nếp sống văn minh, cần kiệm, trung thực, nhân nghĩa, tôn trọng kỷ cương phép nước, quy ước của cộng đồng, có ý thức bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái Lao động chăm chỉ với lương tâm nghề nghiệp, có kỹ thuật, sáng tạo, năng suất cao vì lợi ích bản thân, gia đình, tập thể và xã hội Thường xuyên học tập, nâng cao hiểu biết, trình độ chuyên môn, trình độ thẩm mỹ và thể lực

Để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, Lâm Đồng cần phải tạo sự chuyển biến căn bản, toàn diện về giáo dục - đào tạo để đáp ứng yêu cầu về con người, nguồn nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá

Trang 27

của tỉnh Đẩy mạnh đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao và cơ cấu hợp lý, bồi dưỡng những người lao động lành nghề, có phẩm chất đạo đức tốt, phù hợp với sự phát triển trên nhiều lĩnh vực, nhất là những lĩnh vực có ứng dụng công nghệ kỹ thuật cao như công nghệ sinh học để sản xuất hoa, rau, củ, quả cho xuất khẩu Ưu tiên đào tạo nguồn nhân lực phục vụ phát triển nông nghiệp nông thôn, du lịch của tỉnh Bên cạnh đó phải đào tạo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quản lý, cán bộ khoa học kỹ thuật ngang tầm, đủ sức đảm đương những trọng trách được giao phó

Thứ ba, sử dụng nguồn nhân lực: là việc chủ thể quản lý, sắp xếp, điều

hành, bằng các cơ chế, chính sách, căn cứ vào yêu cầu nhiệm vụ, đặc điểm, tính chất công việc, phẩm chất, năng lực của người lao động để bố trí, sử dụng họ vào những công việc phù hợp nhất để họ phát huy tối đa tiềm năng

và sức lực của mình trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá Để sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực, trước hết phải đánh giá đúng số lượng, chất lượng nguồn nhân lực của tỉnh hiện có Đánh giá đúng, định hướng sử dụng đúng sẽ là xung lực kích thích tài năng, sức lực của họ vào sự phát triển kinh

tế - xã hội của tỉnh Trái lại, khi họ bị rơi vào khoảng trống của sự “thờ ơ” hoặc sự đánh giá chưa đầy đủ, sử dụng không đúng có thể sẽ chuyển sang trạng thái đối lập với những biểu hiện bất mãn, bế tắc, giảm sút lòng tin, sẽ là lực cản, thủ tiêu động lực phấn đấu vươn lên của họ Ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển kinh tế - xã hội Khi nói về việc sử dụng đội ngũ cán bộ, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, “Dùng người như dùng mộc” tránh tình trạng thợ mộc thì đi rèn dao, thợ rèn thì đi đóng tủ Bởi lẽ trong mỗi con người, do những đặc điểm

về tâm lý, điều kiện xã hội cụ thể họ có thể làm việc này tốt hơn việc kia Phải đánh giá đúng năng khiếu, sở trường của họ để sử dụng họ vào những lĩnh vực công tác cho phù hợp, tạo điều kiện cho họ phát huy tốt nhất sở trường của mình Điều đó không chỉ có lợi cho bản thân họ mà còn có lợi cho xã hội

Trang 28

Trong sử dụng nguồn nhân lực của tỉnh phải đa dạng hoá các hình thức

sử dụng gắn với lợi ích của người lao động, kết hợp hài hoà lợi ích nhà nước, tập thể và cá nhân, trong biên chế, ngoài biên chế nhà nước, trong các tổ chức doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh nhằm tận dụng lao động nhàn rỗi Các trình độ khác nhau của người lao động đều được tận dụng theo hướng ngày càng chuyên môn hoá Đào tạo nghề gắn với tạo việc làm cho người lao động, giải quyết tình trạng thất nghiệp trong tỉnh hiện nay, góp phần đáp ứng nhu cầu chuyển dịch cơ cấu lao động nông nghiệp sang công nghiệp, dịch vụ để rút ngắn khoảng cách giữa thành thị và nông thôn

Như vậy phát huy vai trò nguồn lực con người trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá là vấn đề có tính chiến lược, điều đó không chỉ xác định trên phạm vi cả nước, mà phải được nhận thức và chủ động thực hiện ở từng địa phương, đơn vị cụ thể Đối với Lâm Đồng, việc phát huy vai trò của nguồn lực con người trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá của tỉnh trong những năm tới phải đặc biệt quan tâm đầu tư hơn nữa cho sự nghiệp giáo dục - đào tạo, chăm sóc sức khoẻ của người lao động là một trong những yếu tố cơ bản quyết định đến sự thành công của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá của Lâm Đồng hiện nay

1.2 Những nhân tố cơ bản tác động đến phát huy vai trò nguồn lực con người trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Lâm Đồng hiện nay

Việc xem xét các nhân tố tác động đến phát huy vai trò nguồn lực con người trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Lâm Đồng hiện nay có thể tiếp cận trên nhiều bình diện khác nhau như: các nhân tố khách quan, chủ quan; trực tiếp, gián tiếp; một chiều hay nhiều chiều…Ở đây tác giả tiếp cận trên một số nhân tố bên trong, bên ngoài Phát huy vai trò nguồn lực con người trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Lâm Đồng là sự tác động tổng hợp của các nhân tố, trong đó có các nhân tố cơ bản sau:

Trang 29

1.2.1 Phát huy vai trò nguồn lực con người trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá phụ thuộc vào chất lượng giáo dục đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực ở Lâm Đồng.

Để phát huy vai trò nguồn lực con người, giáo dục - đào tạo được xem là con đường cơ bản nhất, vừa có tính lâu dài, vừa có tính đột phá nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo nên và tăng cường năng lực nội sinh để phát triển kinh tế xã hội Sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Lâm Đồng phụ thuộc rất lớn vào chất lượng nguồn nhân lực Vì vậy phải chăm lo bồi dưỡng nguồn nhân lực Bồi dưỡng nguồn nhân lực, chính là việc phát triển nguồn nhân lực về mặt chất lượng Đó là phát triển những năng lực bản chất người về mặt sức khoẻ, văn hoá, tri thức, đạo đức, năng lực chuyên môn nhằm đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá của tỉnh Người lao động trong nền kinh tế tri thức phải có trình độ học vấn cao, bởi đó là “tư liệu sản xuất” quan trọng nhất để tạo ra giá trị Trình độ học vấn ấy phải được liên tục tích luỹ thông qua hệ thống giáo dục - đào tạo, bảo đảm cho người lao động có thể thích ứng với sự thay đổi của công việc và sự thay đổi liên tục của công nghệ Hơn nữa, sản phẩm làm ra phải có hàm lượng chất xám cao, đòi hỏi tương ứng với nó là trình độ học vấn, kỹ năng của người lao động Sự phát triển của mỗi quốc gia, dân tộc phụ thuộc rất nhiều vào nguồn lực con người, đó là năng lực trí tuệ và tinh thần thế hệ trẻ Trong thời đại khoa học - công nghệ hiện nay đã đưa con người vươn lên không phải bằng sức mạnh cơ bắp mà chủ yếu là sức mạnh tri thức, trí tuệ Vì vậy giáo dục - đào tạo nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là vấn đề có ý nghĩa chiến lược trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Lâm Đồng hiện nay

Thực hiện nhiệm vụ “nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài” Ngành giáo dục - đào tạo Lâm Đồng trong những năm qua đã góp phần

Trang 30

quan trọng vào việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Hiện nay về cơ bản Lâm Đồng đã hoàn thành chỉ tiêu xoá nạn mù chữ, phổ cập tiểu học và đang thực hiện phổ cập trung học cơ sở Những năm gần đây, Lâm Đồng rất coi trọng việc nâng cao trình độ học vấn cho nguồn nhân lực của tỉnh, đồng thời chú trọng công tác đào tạo nghề cho người lao động, xem đây là bước đột phá, hình thành nên động lực mới về chất lượng nguồn nhân lực Sự phát triển khá mạnh và đồng bộ của hệ thống giáo dục - đào tạo của Lâm Đồng đã góp phần quan trọng tạo nên sự chuyển biến cả chất và lượng nguồn nhân lực của tỉnh trong những năm vừa qua Yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá và sự chuyển dịch

cơ cấu kinh tế ở Lâm Đồng đòi hỏi hệ thống giáo dục của Lâm Đồng phải cung ứng cho tỉnh nguồn lao động chất lượng cao, giúp cho người lao động thích ứng với thị trường lao động Trong khi đó, hệ thống giáo dục - đào tạo ở Lâm Đồng hiện nay tuy đã đạt được những kết quả đáng khích lệ, nhưng nhìn chung hệ thống giáo dục - đào tạo của Lâm Đồng hiện nay còn nhiều bất cập

Cơ sở vật chất kỹ thuật, thiết bị dạy học còn nhiều thiếu thốn; tỷ lệ trường đạt chuẩn quốc gia thấp, chất lượng giáo dục toàn diện nhìn chung còn hạn chế, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số Cơ cấu đào tạo và dạy nghề chưa đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá của tỉnh Cơ cấu lao động chuyển dịch mang tính tự phát Điều này đặt ra cho ngành giáo dục Lâm Đồng phải xây dựng mục tiêu

cụ thể cho từng cấp học phù hợp, đủ sức cung cấp cho tỉnh nguồn nhân lực chất lượng cao phù hợp với đặc điểm kinh tế - xã hội của tỉnh Kết hợp các loại hình đào tạo, các hình thức đào tạo, đào tạo tập trung, đào tạo tại chức, tự đào tạo trong các cơ quan doanh nghiệp để bảo đảm cơ cấu và chất lượng nguồn nhân lực Trong giáo dục - đào tạo đặc biệt chú ý đào tạo các nhà quản lý; các nhà khoa học để ứng dụng các tiến bộ khoa học vào trong sản xuất

Trang 31

nông nghiệp, chế biến nông sản xuất khẩu của tỉnh Để đáp ứng yêu cầu của

sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá của tỉnh hiện nay, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng lần thứ VIII đã xác định: “Đa dạng hoá các loại hình trường lớp, hình thức học tập và hợp tác đào tạo; củng cố hệ thống trường quốc lập, mở rộng quy mô đào tạo nghề để phát triển cả về quy mô, cơ cấu và chất lượng giáo dục - đào tạo một cách vững chắc, đặc biệt là vùng dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa” [7, tr 54]

Cùng với giáo dục - đào tạo, chăm sóc sức khoẻ người lao động cũng có vai trò rất quan trọng tới việc nâng cao chất lượng nguồn lực con người Sức khoẻ là điều kiện để duy trì và phát triển trí tuệ, là phương tiện để chuyển tải tri thức vào hoạt động thực tiễn, biến tri thức thành sức mạnh vật chất, sức khoẻ là sự phát triển hài hoà giữa thể chất lẫn tinh thần Nguyên Tổng bí thư

Đỗ Mười đã viết: “Trí tuệ là tài sản quý giá nhất trong mọi tài sản, nhưng chính sức khoẻ là một tiền đề cần thiết để làm ra tài sản đó” [30, tr 92]

Sức khoẻ cơ thể là sự cường tráng, phát triển cân đối, hài hoà các cơ quan trong cơ thể theo quy luật “tạo hoá” của tự nhiên, đồng thời còn là sự hoạt động dẻo dai của cơ bắp, sự nhạy bén của các giác quan Các chỉ số sinh học biểu hiện trạng thái sức khoẻ, thể chất của mỗi người như chiều cao, cân nặng, khả năng hoạt động của cơ bắp, của các giác quan Sự khoẻ mạnh của

cơ thể là tiền đề cho một tinh thần minh mẫn, sáng suốt Sức khoẻ tinh thần là

sự linh hoạt, khoẻ mạnh của hệ thống thần kinh, là sức mạnh của sự sáng tạo, của niềm tin và ý chí Như vậy, điều kiện vật chất để hoạt động trí tuệ của con người là sức khoẻ, là sự khoẻ mạnh cả thể chất lẫn tinh thần Chúng ta thường nhấn mạnh khía cạnh nguồn vốn tri thức khi đề cập đến nguồn vốn con người song, không thể coi nhẹ khía cạnh sức khoẻ, vì một lẽ đơn giản là nếu thiếu sức khoẻ thì không thể phát huy vốn tri thức, thậm chí không thể thực hiện nhu cầu lao động sản xuất thông thường của con người Sức khoẻ của người

Trang 32

lao động liên quan mật thiết đến khả năng lao động, năng suất lao động Chính vì vậy, chăm sóc sức khoẻ cho con người là nhiệm vụ rất cơ bản để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo tiền đề để phát huy tiềm năng trí tuệ của con người trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá của tỉnh.

Hiện nay Ngành Y tế Lâm Đồng có mạng lưới được hình thành rộng khắp các địa bàn trong tỉnh Các cơ sở điều trị tuyến tỉnh được trang bị máy móc tương đối đầy đủ, đội ngũ cán bộ y tế cơ bản đáp ứng được yêu cầu khám chữa bệnh cho nhân dân, trong khi đó tuyến huyện, xã còn nhiều thiếu thốn, rất khó khăn cho việc chăm sóc sức khoẻ tại địa phương Người dân muốn đi khám chữa bệnh phải lên tỉnh, trong khi điều kiện kinh tế, hệ thống giao thông ở nông thôn, miền núi rất khó khăn Mặt khác, những đặc điểm về

tự nhiên, kinh tế - xã hội của Lâm Đồng phát sinh những vấn đề môi sinh, môi trường Khí hậu tuy có mát mẻ nhưng rất nặng vì nằm ở độ cao hơn 1000

m so với mặt nước biển nên có ảnh hưởng rất lớn đến tình trạng sức khoẻ của người lao động Ngoài ra thành phố Đà Lạt - Lâm Đồng là điểm du lịch, nghỉ dưỡng của nhiều du khách trong và ngoài nước, tuy có đem lại thu nhập cao trong lĩnh vực du lịch nhưng cũng đặt ra những thách thức không nhỏ cho ngành y tế phải giải quyết, nhất là dịch cúm A/ H1N1 hiện nay

Bên cạnh trí tuệ và sức khoẻ, yếu tố góp phần quan trọng tạo ra chất lượng toàn diện của nguồn lực con người chính là nhân cách đạo đức Đó là sự nỗ lực cống hiến to lớn cho xã hội, là sự tận tụy với công việc, là sự trung thành với chế

độ xã hội mà họ phục vụ, là trách nhiệm công dân, lương tâm nghề nghiệp của người lao động, tinh thần kỷ luật tự giác, tiết kiệm vv…đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá khó có thể đạt được kết quả tốt nếu không có những công dân yêu nước, ham học hỏi, cần cù lao động và sáng tạo, có tinh thần tập thể, khắc phục khó khăn vươn lên, không cam chịu nghèo nàn, lạc hậu, biết kết hợp hài hoà yếu tố truyền thống và hiện đại, phấn đấu vì mục tiêu “dân giầu, nước mạnh, xã hội

Trang 33

công bằng, dân chủ, văn minh” Đây là những yếu tố “văn hoá” trong lao động

Vì vậy, trong giáo dục đào tạo bồi dưỡng nguồn nhân lực ở Lâm Đồng phải chú trọng giáo dục toàn diện đức, trí, thể, mỹ

1.2.2 Phát huy vai trò nguồn lực con người trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá phụ thuộc vào cơ chế, chính sách sử dụng nguồn nhân lực

ở Lâm Đồng.

Cơ chế, chính sách xã hội đối với người lao động chính là sự cụ thể hoá đường lối, chủ trương chính sách của Đảng và nhà nước nhằm phát huy tính tích cực của con người, là công cụ quan trọng của quản lý nhà nước nhằm thực hiện và điều chỉnh các mối quan hệ của con người xoay quanh vấn đề lợi ích cá nhân và xã hội Chính sách xã hội đúng đắn vì hạnh phúc của con người là động lực to lớn khơi dậy tiềm năng của con người, tạo điều kiện thuận lợi để người lao động phát huy năng lực sáng tạo của mình đóng góp cho sự phát triển của cá nhân và cộng đồng xã hội Ngược lại, nếu hệ thống chính sách không phù hợp, thiếu đồng bộ thì sẽ trở thành rào cản kìm hãm năng lực và tư duy sáng tạo của người lao động

Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, con người với tư cách là chủ thể sáng tạo ra lịch sử, là những con người cụ thể chứ không phải là con người chung chung, trừu tượng Hành động của con người cụ thể bao giờ cũng xuất phát từ lợi ích của bản thân mình Chính vì vậy, cơ chế, chính sách xã hội đúng đắn sẽ là yếu tố cơ bản tác động trực tiếp đến phát huy vai trò nguồn lực con người Cơ chế, chính sách phải bảo đảm lợi ích chính đáng của người lao động, phải thể hiện được sự đãi ngộ xứng đáng của Đảng và Nhà nước đối với người lao động, bảo đảm những điều kiện

cơ bản cho con người sống và làm việc, lao động, học tập, sáng tạo Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội tại Đại hội lần thứ VII của Đảng đã khẳng định: “Chính sách xã hội đúng đắn, vì

Trang 34

hạnh phúc của con người là động lực to lớn, phát huy mọi tiềm năng sáng tạo của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội” [8, tr 13].Thực tiễn lịch sử cũng đã chứng minh: Thời kỳ nào cách mạng biết phát huy mạnh mẽ nhân tố con người, tạo mọi điều kiện cho con người phát huy tính năng động sáng tạo của mình thì con người Việt Nam luôn biết “chuyển bại thành thắng”, chuyển tình thế khó khăn thành lợi thế để phát triển Thực tiễn công cuộc đổi mới cho thấy chỉ với một cơ chế khoán 10 mà giai cấp nông dân Việt Nam đã phát huy được tối đa tính năng động sáng tạo, làm thay đổi căn bản bộ mặt của nền nông nghiệp nước nhà

Như vậy, trong đời sống xã hội, việc tạo động lực hành động cho người lao động thực chất là thiết lập được môi trường pháp lý thuận lợi cũng như những điều kiện thích hợp để con người có thể phát huy tối đa tính tích cực, sáng tạo của mình trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá

Hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực phụ thuộc chủ yếu vào hai vấn đề là mức độ lành nghề và thái độ của người lao động đối với công việc Việc nâng cao trình độ chuyên môn - nghề nghiệp của người lao động đòi hỏi phải có thời gian Vì vậy, điều mà chúng ta có thể và cần phải làm ngay là khơi dậy, nuôi dưỡng và phát huy tính tích cực của người lao động, hướng họ vào thực hiện các mục tiêu công nghiệp hoá, hiện đại hoá bằng các cơ chế chính sách kinh tế - xã hội đúng đắn, vừa phù hợp với điều kiện và khả năng hiện thực, vừa kịp thời đáp ứng những nhu cầu chính đáng, tâm tư nguyện vọng của người lao động, đó là việc làm và thu nhập cao, bình đẳng và công bằng xã hội, nhu cầu nâng cao hiểu biết, tự khẳng định bản thân…Việc thoả mãn hay không thoả mãn những nhu cầu này có liên quan mật thiết đến thái độ của người lao động đối với công việc

Để phát huy hơn nữa tính tích cực của người lao động trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, cơ chế quản lý và chính sách xã hội của Lâm Đồng trong giai đoạn hiện nay phải bảo đảm được những yêu cầu cơ bản sau

Trang 35

đây: Một là, cơ chế quản lý và chính sách xã hội phải thể hiện rõ bản chất của

một chế độ dân chủ, nghĩa là bản thân nó chứa đựng những khả năng to lớn

và điều kiện thực tế để bảo đảm cho việc thu hút đông đảo các tầng lớp nhân

dân lao động tham gia vào phát triển kinh tế xã hội Hai là, phải lấy con người

là trung tâm, vì con người, hướng tới con người mà khai thác, phát huy mọi

tiềm năng sáng tạo của con người Ba là, phải xây dựng được đội ngũ cán bộ

quản lý có năng lực và phẩm chất, thành thạo về nghiệp vụ quản lý

Sử dụng nguồn nhân lực phải hết sức coi trọng việc bồi dưỡng và trọng dụng nhân tài trong tỉnh Trong mọi giai đoạn phát triển, nhân tài thời nào cũng

có và có ở hầu hết các lĩnh vực Nếu biết phát hiện và sử dụng đúng, nhân tài sẽ trở thành “nguyên khí của quốc gia” Ngược lại, nếu không phát hiện được và sử dụng không đúng, nhân tài sẽ bị mai một, thiệt hại không chỉ riêng cá nhân họ

mà còn lãng phí cả một nguồn tài nguyên quan trọng, nguồn tài nguyên con người, năng lực có sức mạnh vô giá

Kinh nghiệm lịch sử cho thấy, ở mỗi địa phương, cả nước và các nước trong khu vực, động lực của sự phát triển phụ thuộc một phần quyết định vào cơ chế sử dụng nhân tài Hồ Chí Minh là người đã nhận thức và hiểu rất rõ tầm quan trọng của các nhà trí thức, nhân tài đất nước Trong bài “tìm người tài đức”, Người viết: “Trong số 20 triệu đồng bào, chắc không thiếu người tài đức E Chính phủ nghe không đến, thấy không khắp, đến nỗi những bậc tài đức không thể xuất thân Khuyết điểm này tôi xin thừa nhận” [28, tr 451] Nhờ lời cảnh báo đầy tâm huyết ấy của Hồ Chí Minh và dưới sự chỉ đạo của Người, đã thu hút được rất nhiều người tài đức trong cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cứu nước Đó chính là do biết tạo cơ chế, phát hiện và trọng dụng đúng mức “những kẻ hiền năng” theo cách gọi của Người Tư chất thông minh và năng lực sáng tạo của nhân tài mới chỉ là điều kiện cần, môi trường xã hội là điều kiện

Trang 36

và chất xúc tác quan trọng để nhân tài phát huy được năng lực sáng tạo của mình Tài năng thường là những yếu tố có tính bẩm sinh, nhờ được phát hiện, bồi dưỡng và giáo dục kịp thời sẽ nảy nở và phát triển Phải tạo được môi trường tốt nhất để nhân tài phát huy tối đa tiềm năng sáng tạo của mình Đảng bộ và chính quyền địa phương phải quy tụ và tập hợp nhân tài bằng các cơ chế chính sách đãi ngộ thoả đáng

Bồi dưỡng, sử dụng, đãi ngộ đội ngũ cán bộ công chức nhà nước là một ưu tiên trong chính sách đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng nguồn nhân lực của tỉnh từ nay đến 2015, nhằm phát huy vai trò đội ngũ cán bộ, công chức, thu hút nhân tài về tỉnh Uỷ ban nhân dân tỉnh đã ban hành một số chính sách ưu đãi đối với cán bộ công chức của tỉnh, đã tạo ra động lực thúc đẩy

và thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao về cho tỉnh Qua hơn 2 năm thực hiện từ năm 2007 - 2009 hàng trăm cán bộ công chức của tỉnh đã được tạo điều kiện học tập nâng cao trình độ; thu hút nhiều sinh viên về tỉnh công tác Đội ngũ cán bộ công chức đang từng bước phát huy vai trò trách nhiệm, năng lực công tác, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá Tuy nhiên “hiện nay đội ngũ cán bộ của Lâm Đồng vẫn còn hẫng hụt, chưa đồng bộ, thiếu cán bộ giỏi về quản lý kinh tế, sản xuất kinh doanh, cán bộ khoa học kỹ thuật” [42, tr 26] Cơ chế, chính sách của tỉnh chưa thật sự là động lực mạnh mẽ tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về chất trong đội ngũ cán bộ công chức của tỉnh Số lượng cán bộ tuy có tăng nhưng cán bộ có trình độ đại học và sau đại học còn ít, đặc biệt là đội ngũ cán bộ cấp xã, phường Chính sách cũng chưa tạo ra sự ràng buộc nhất định, nên còn một số cán bộ được tỉnh đưa đi đào tạo, sau khi ra trường đã chuyển đi nơi khác làm việc, nhất là cán bộ trẻ có năng lực Điều này đòi hỏi Lâm Đồng cần chú trọng nhiều hơn đến chiến lược nhân tài của tỉnh trong thời gian tới

Trang 37

1.2.3 Phát huy vai trò nguồn lực con người trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội đặc thù của Lâm Đồng

Phát huy vai trò nguồn lực con người là ý muốn chủ quan của Lâm Đồng, nhưng để phát huy vai trò nguồn lực con người một cách có hiệu quả phải nhận thức đầy đủ những điều kiện khách quan chi phối về tự nhiên, kinh

tế - xã hội của tỉnh Nét đặc thù của Lâm Đồng khác với các địa phương khác trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đó là: công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Lâm Đồng chủ yếu diễn ra trên lĩnh vực nông nghiệp nông thôn, du lịch; nông, lâm nghiệp gắn với công nghiệp chế biến nông lâm sản Phát huy vai trò nguồn lực con người ở Lâm Đồng trong điều kiện đa thành phần dân tộc, tôn giáo, trình độ dân trí thấp, nhất là vùng đồng bào dân tộc thiếu số; tình hình chính trị xã hội có nhiều biến động Đây là những yếu tố cơ bản tác động tới việc phát huy vai trò nguồn lực con người của Lâm Đồng hiện nay Phát huy vai trò nguồn lực con người trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Lâm Đồng phải quán triệt và nhận thức đầy đủ các vấn đề sau

Thứ nhất, về điều kiện tự nhiên, Lâm Đồng nằm trong vùng có khí hậu

nhiệt đới điển hình; nơi đầu nguồn của 7 hệ thống sông suối chính Vị trí này tạo điều kiện cho tỉnh hình thành một hệ thống cây trồng, vật nuôi ôn đới và á nhiệt đới; phát triển du lịch sinh thái và nghỉ dưỡng Diện tích tự nhiên khoảng 976.474 ha; rừng và đất rừng chiếm 64% diện tích toàn tỉnh; đất nông nghiệp chiếm 80% Lâm Đồng có quỹ đất rất phong phú, trong đó đáng lưu ý hơn là đất đỏ Bazan, đây là loại đất tốt, có độ phì nhiêu cao rất thuận lợi để phát triển các cây công nghiệp có giá trị như cà phê, chè, atisô, cây nguyên liệu giấy phục vụ cho phát triển công nghiệp chế biến Do đó việc khai thác tiềm năng đất đai và lao động nông thôn là vấn đề có tính chiến lược trong sự phát triển Nghị quyết lần thứ bảy Ban chấp hành Trung ương khoá X của

Trang 38

Đảng đã xác định: “Các vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn phải được giải quyết đồng bộ, gắn với quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước” [1, tr 48] Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ VIII cũng xác định: “Lấy công nghiệp hoá, hiện đại hoá làm nhiệm vụ trọng tâm của sản xuất nông nghiệp và phát triển kinh tế nông thôn Đầu tư thâm canh các vùng sản xuất nguyên liệu tập trung có năng suất, chất lượng cao gắn với công nghiệp chế biến và sản xuất hàng xuất khẩu… Đẩy mạnh việc thu hút đầu tư vào vùng đồng bào dân tộc thiểu số, đặc biệt là các doanh nghiệp sản xuất nông nghiệp, chế biến nông - lâm sản cho xuất khẩu của tỉnh” [7, tr 49,51].

Thứ hai, về vấn đề kinh tế, thế mạnh về kinh tế của Lâm Đồng là nông

nghiệp và du lịch Nông nghiệp chủ yếu là trồng hoa, rau, củ quả, chè, cà phê, atisô gắn với công nghiệp chế biến Trên địa bàn tỉnh hiện nay có 51 doanh nghiệp, 150 cơ sở, hộ gia đình chế biến chè; 16 doanh nghiệp chế biến cà phê;

21 doanh nghiệp chế biến các sản phẩm nông sản Thị trường tiêu thụ trong nước chủ yếu là TP Hồ Chí Minh và các tỉnh miền trung; thị trường nước ngoài chủ yếu là các sản phẩm trà, cà phê, rau xuất khẩu đi các nước Đài Loan, Nhật Bản, các nước Trung Đông và Châu Âu với sản lượng mỗi năm hàng trăm ngàn tấn Toàn tỉnh hiện có 62 doanh nghiệp chế biến gỗ; 7 doanh nghiệp và 24 cơ sở chế biến lâm sản khác ngoài gỗ; 381 cơ sở sản xuất hàng mộc gia dụng và thủ công mỹ Đây một trong những lợi thế về khai thác và sử dụng nguồn nhân lực trong lĩnh vực sản xuất nông, lâm nghiệp của tỉnh Kinh

tế Lâm Đồng chủ yếu là sản xuất nông nghiệp (chiếm 51% trong cơ cấu kinh tế) Lĩnh vực nông, lâm nghiệp và kinh tế nông thôn có bước phát triển khá, giá trị sản xuất ngành nông - lâm nghiệp tăng bình quân 7.4%/năm, đã hình thành một số khu sản xuất nông nghiệp công nghệ cao Hiện nay tỉnh đang hình thành và phát triển một số khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khai thác

Trang 39

khoáng sản và nông lâm sản của tỉnh, mở ra khả năng huy động các nguồn lực

để phát triển trong thời gian tới

Lĩnh vực du lịch, Lâm Đồng với lợi thế đặc biệt về khí hậu, rừng và cảnh quan thiên nhiên Đây là đặc trưng nổi bật mà các địa phương khác không thể nào có được Với khí hậu thời tiết quanh năm mát mẻ, ôn hoà, nhiệt độ trung bình từ 17 đến 25o C Tiềm năng du lịch của tỉnh rất đa dạng và phong phú với

91 khu, điểm du lịch, danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, văn hoá, trong đó có

79 điểm có khả năng đầu tư khai thác, kinh doanh (bao gồm 20 điểm hồ, 25 điểm thác, 3 điểm dinh thự, 2 điểm bảo tàng, 2 điểm vùng căn cứ cách mạng, 2 vườn quốc gia, 1 khu di chỉ, 20 điểm các công trình kiến trúc và tài nguyên khác,

4 điểm làng nghề) Một số cảnh quan du lịch tự nhiên nổi tiếng như, Khu du lịch Đan Kia - Suối Vàng; khu du lịch hồ Tuyền Lâm, hồ Xuân Hương, hồ Than Thở, hồ Đa Thiện khu du lịch thác Cam Ly, thác Prem, thác Đatanla, thác Hang Cọp, thác Đambri, thác Măng Lin; thung lũng Tình Yêu; đồi Mộng mơ và rất nhiều biệt thự sang trọng, là những điạ danh rất có giá trị cho phát triển du lịch Đồng bào các dân tộc trong tỉnh có sắc thái văn hoá riêng, đây là nét văn hoá của người bản địa rất thuận tiện cho phát triển văn hoá du lịch Đại hội đại biểu Đảng

bộ tỉnh đã xác định mục tiêu phát triển về du lịch: “Đẩy mạnh phát triển toàn diện về du lịch, trong đó chú trọng phát triển du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng và hội nghị, hội thảo; huy động mọi nguồn lực trong và ngoài nước để đầu tư phát triển

du lịch, sớm tạo ra một số dự án du lịch quan trọng, vừa hiện đại, vừa mang đậm

đà bản sắc văn hoá dân tộc Tây Nguyên, xây dựng Đà Lạt trở thành một trung tâm du lịch lớn của cả nước, có tầm cỡ khu vực và quốc tế” [7, tr 16] Đây là một trong những lợi thế quan trọng trong phát triển nguồn nhân lực trên lĩnh vực

du lịch của tỉnh trong thời gian tới

Thứ ba, về vấn đề xã hội, Lâm Đồng là tỉnh đa dạng về thành phần

dân tộc và tôn giáo Toàn tỉnh hiện nay có 40 dân tộc anh em trên cả nước

Trang 40

về đây sinh sống, đồng bào dân tộc thiểu số chiếm 21% dân số (dân tộc gốc Tây Nguyên chiếm 17%) Dân số năm 2007 khoảng 1.214000 người, mật độ dân cư 118 người/km2, phân bố không đều, tập trung chủ yếu dọc các trục lộ, các trung tâm thành phố, thị xã, thị trấn; dân số tăng nhanh do di cư tự do (tính từ năm 1975 đến 2005 thì số di cư tự do lên tới 55.285 hộ/246,038 nhân khẩu Toàn tỉnh có 143 xã, phường, thị trấn, trong đó có 49 xã và 64 thôn buôn đặc biệt khó khăn, phần lớn trong số này là các xã, thôn, buôn có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống, nằm ở vùng sâu, vùng xa Trong những năm gần đây, dân số Lâm Đồng có biến động do tăng cơ học, chủ yếu là do di dân tự do từ các tỉnh phía Bắc và miền Trung vào Lâm Đồng Sự đa dạng cộng đồng dân cư ở Lâm Đồng mang nhiều đặc điểm đa dạng của các vùng miền khác nhau, hội tụ nhiều nét văn hoá tốt đẹp của cộng đồng dân tộc đó là, cần cù, năng động, sáng tạo, có nhiều kinh nghiệm trong sản xuất kinh doanh, với cơ cấu ngành nghề khá đa dạng, tạo nên sự đa dạng về tập quán sản xuất

và tay nghề của người dân trong tỉnh Mặt khác, vấn đề dân tộc thiểu số và tăng cơ học dân số luôn là yếu tố gây nghèo, bất lợi đối với tăng trưởng kinh

tế và công tác xoá đói giảm nghèo, tạo sức ép lớn cho tỉnh về giải quyết các vấn đề đời sống xã hội, an ninh chính trị, môi trường sinh thái và giải quyết công ăn việc làm ở Lâm Đồng hiện nay

Về đời sống văn hoá, tâm lý của các dân tộc Lâm Đồng có những mặt tích cực như thật thà, chịu khó trong lao động sản xuất, tinh thần đoàn kết Đây là những mặt thuận lợi để người dân Lâm Đồng bước vào xây dựng cuộc sống mới văn minh, tiến bộ Mặt hạn chế là đồng bào dân tộc thiểu số trình độ dân trí thấp, tập tục còn lạc hậu người dân các dân tộc Lâm Đồng vẫn còn duy trì nhiều phong tục, tập quán lạc hậu, chậm đổi mới, ít sáng tạo, bảo thủ Trình độ dân trí vùng đồng bào dân tộc, vùng sâu, vùng kinh tế mới còn thấp, một bộ phận còn nặng tư tưởng ỷ lại vào nhà

Ngày đăng: 10/12/2016, 16:17

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban Tuyên giáo Trung ương (2008), Tài liệu học tập các Nghị quyết Trung ương Bảy khoá X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu học tập các Nghị quyết Trung ương Bảy khoá X
Tác giả: Ban Tuyên giáo Trung ương
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2008
2. Vũ Minh Chi (2002), “Nghiên cứu giáo dục, con người và nguồn nhân lực Việt Nam trên con đường phát triển và hội nhập”, Tạp chí Nghiên cứu con người, số (5) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu giáo dục, con người và nguồn nhân lực Việt Nam trên con đường phát triển và hội nhập”, "Tạp chí Nghiên cứu con người
Tác giả: Vũ Minh Chi
Năm: 2002
3. Nguyễn Trọng Chuẩn (1994) “Nguồn nhân lực trong công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”, Tạp chí Triết học số (2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguồn nhân lực trong công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”, "Tạp chí Triết học
4. Nguyễn Trọng Chuẩn (1997), “Để cho khoa học và công nghệ trở thành động lực của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa”, Tạp chí Triết học, số (1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Để cho khoa học và công nghệ trở thành động lực của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa”, "Tạp chí Triết học
Tác giả: Nguyễn Trọng Chuẩn
Năm: 1997
5. Nguyễn Quang Du (1994), “Tài nguyên con người trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước trong thời đại hiện nay”, Tạp chí Cộng sản số (8) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài nguyên con người trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước trong thời đại hiện nay”, "Tạp chí Cộng sản
Tác giả: Nguyễn Quang Du
Năm: 1994
8. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1991
9. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1991
10. Đảng Cộng sản Việt Nam (1993), Văn kiện Hội nghị lần thứ tư, Ban chấp hành Trung ương khoá VII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ tư, Ban chấp hành Trung ương khoá VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1993
11. Đảng Cộng sản Việt Nam (1994), Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy, Ban chấp hành Trung ương khoá VII, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy, Ban chấp hành Trung ương khoá VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1994
12. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1996
13. Đảng Cộng sản Việt Nam (1997), Văn kiện Hội nghị lần thứ hai, Ban chấp hành Trung ương khoá VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ hai, Ban chấp hành Trung ương khoá VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1997
14. Đảng Cộng sản Việt Nam (1998), Nghị quyết của Bộ Chính trị về một số vấn đề phát triển nông nghiệp và nông thôn, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết của Bộ Chính trị về một số vấn đề phát triển nông nghiệp và nông thôn
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1998
15. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
16. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
17. Phạm Văn Đức (1998), “Về vai trò của nguồn lực con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa”, Tạp chí Triết học số (6) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về vai trò của nguồn lực con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa”, "Tạp chí Triết học
Tác giả: Phạm Văn Đức
Năm: 1998
18. Võ Nguyên Giáp (1990), “Chủ tịch Hồ Chí Minh với sự nghiệp xây dựng con người mới”, Tạp chí Cộng sản số (6) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ tịch Hồ Chí Minh với sự nghiệp xây dựng con người mới”, "Tạp chí Cộng sản
Tác giả: Võ Nguyên Giáp
Năm: 1990
19. Phạm Minh Hạc (1996), Vấn đề con người trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề con người trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Tác giả: Phạm Minh Hạc
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1996
20. Phạm Minh Hạc (1996), Vấn đề con người trong công cuộc đổi mới, Chương trình KH - CN cấp nhà nước KX 07, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề con người trong công cuộc đổi mới
Tác giả: Phạm Minh Hạc
Năm: 1996
21. Phạm Xuân Hằng (2000), Văn hoá và lối sống của con người Việt Nam trong công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá và lối sống của con người Việt Nam trong công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Tác giả: Phạm Xuân Hằng
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2000
22. Đoàn Văn Khái (1995), “Nguồn lực con người, yếu tố quyết định sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”, Tạp chí triết học số (4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguồn lực con người, yếu tố quyết định sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”, "Tạp chí triết học
Tác giả: Đoàn Văn Khái
Năm: 1995

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w