1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

LUẬN VĂN THẠC SĨ - HIỆU QUẢ CÔNG TÁC VẬN ĐỘNG QUẦN CHÚNG PHÒNG CHỐNG DI CƯ TỰ DO Ở KHU VỰC BIỆN GIỚI CỦA BỘ ĐỘI BIÊN PHỎNG CÁC TỈNH TÂY NGUYÊN HIỆN NAY

73 691 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 542 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh khẳng định: cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân; nhân dân luôn là lực lượng có ý nghĩa quyết định đối với sự thành bại của cách mạng. Lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam đã chứng minh đại đoàn kết dân tộc là nguồn sức mạnh to lớn để giành thắng lợi trong các cuộc chiến tranh chống ngoại xâm để bảo vệ CQAN biên giới của Tổ quốc cũng như trong xây dựng đất nước. Đảng và quân đội ta luôn coi nhiệm vụ VĐQC nhân dân tham gia bảo vệ chủ quyền biên giới quốc gia là yêu cầu khách quan và cấp bách trong mọi giai đoạn của cách mạng.

Trang 1

CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

1 Tính cấp thiết của đề tài

Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh khẳng định: cách mạng là

sự nghiệp của quần chúng nhân dân; nhân dân luôn là lực lượng có ý nghĩa quyếtđịnh đối với sự thành bại của cách mạng

Lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam đã chứng minh đạiđoàn kết dân tộc là nguồn sức mạnh to lớn để giành thắng lợi trong các cuộc chiếntranh chống ngoại xâm để bảo vệ CQAN biên giới của Tổ quốc cũng như trong xâydựng đất nước Đảng và quân đội ta luôn coi nhiệm vụ VĐQC nhân dân tham gia

Trang 2

bảo vệ chủ quyền biên giới quốc gia là yêu cầu khách quan và cấp bách trong mọigiai đoạn của cách mạng.

BĐBP là LLVT cách mạng của Đảng và Nhà nước, là lực lượng nòng cốtchuyên trách bảo vệ CQAN biên giới quốc gia Để thực hiện thắng lợi nhiệm vụthiêng liêng đó, BĐBP đã vận dụng nhiều biện pháp khác nhau; trong đó biện pháp

cơ bản quan trọng và có hiệu quả nhất là vận động nhân dân tham gia bảo vệ biêngiới Gần nửa thế kỷ qua, BĐBP luôn vận dụng tốt biện pháp VĐQC xây dựngphòng tuyến nhân dân, xây dựng thế trận lòng dân trong nhiệm vụ quản lý, bảo vệ

an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội trên KVBG

KVBG các tỉnh Tây Nguyên là địa bàn có vị trí chiến lược đặc biệt quantrọng về chính trị, kinh tế, quốc phòng và an ninh của cả nước Trong nhiều nămqua, CNĐQ và các thế lực thù địch luôn tìm mọi thủ đoạn chống phá cách mạngnước ta làm ảnh hưởng trực tiếp và sâu sắc tới tình hình an ninh chính trị, trật tự antoàn xã hội ở KVBG Tây Nguyên Một trong những biểu hiện của tình trạng mất

ổn định trên KVBG các tỉnh Tây Nguyên hiện nay là hiện tượng DCTD của nhândân từ địa bàn này sang địa bàn khác, từ nội địa ra biên giới và cả tình trạng vượtbiên giới trái phép sang cư trú, làm ăn trên lãnh thổ nước láng giềng

Vận động đồng bào các dân tộc KVBG Tây Nguyên phòng, chống DCTDtrở thành vấn đề đặc biệt quan trọng và cấp bách nhằm quản lý, bảo vệ CQAN lãnhthổ quốc gia và ổn định tình hình dân cư ở KVBG

BĐBP đã VĐQC nhân dân phòng, chống DCTD và thu được những kết quảquan trọng góp phần xây dựng phòng tuyến nhân dân bảo vệ biên giới quốc gia.Tuy nhiên hiệu quả công tác VĐQC phòng, chống DCTD ở KVBG của BĐBP cáctỉnh Tây Nguyên vẫn còn những hạn chế nhất định Vì vậy việc nghiên cứu cơ sở

lý luận và thực tiễn, đề xuất những giải pháp nâng cao hiệu quả công tác VĐQCphòng, chống DCTD ở KVBG các tỉnh Tây Nguyên hiện nay có ý nghĩa lý luận vàthực tiễn sâu sắc

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Hiệu quả công tác dân vận của QĐND Việt Nam nói chung và công tácVĐQC tham gia bảo vệ CQAN biên giới quốc gia của BĐBP nói riêng luôn là vấn

đề lớn được các nhà khoa học cũng như đội ngũ cán bộ hoạt động thực tiễn trong

và ngoài quân đội nghiên cứu Nhiều công trình nghiên cứu đã có những đóng góp

to lớn về lý luận và được vận dụng tốt trong hoạt động thực tiễn Tiêu biểu là: Thạc

sĩ Phạm Văn Đáng, “Nâng cao chất lượng công tác VĐQC của BĐBP tỉnh Lào Cai hiện nay”, đề tài khoa học cấp khoa, HVCTQS, 2000 Tiến sĩ Đặng Vũ Liêm,

“Nâng cao hiệu quả công tác VĐQC của BĐBP trong đấu tranh phòng, chống truyền đạo trái phép ở địa bàn biên giới Tây Bắc hiện nay”, đề tài khoa học cấp TCCT, Hà Nội, 2002 Tiến sĩ Đặng Vũ Liêm, “BĐBP với công tác đấu tranh

Trang 3

phòng, chống truyền đạo trái phép và DCTD ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số KVBG Tây Bắc, Tây Nguyên”, đề tài khoa học cấp TCCT, Hà Nội, 2002 Nguyễn Minh Mẫn, “Công tác VĐQC Công giáo tham gia bảo vệ CQAN vùng biển - đảo của BĐBP tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu trong tình hình mới”, đề tài cấp Bộ tư lệnh

BĐBP, 2001

Những công trình khoa học trên đã nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau vềcông tác VĐQC tham gia bảo vệ CQAN biên giới quốc gia của BĐBP, đây lànhững tài liệu khoa học có giá trị giúp cho tác giả nghiên cứu tham khảo, chọn lọc

và kế thừa

Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống hiệuquả công tác VĐQC phòng, chống DCTD của BĐBP ở các tỉnh Tây Nguyên Vì

vậy, tác giả chọn đề tài: “Hiệu quả công tác vận động quần chúng phòng chống

di cư tự do ở khu vực biên giới của bộ đội biên phòng các tỉnh Tây Nguyên hiện nay”.

3 Mục đích, nhiệm vụ, đối tượng, phạm vi nghiên cứu

- Mục đích: luận giải, làm sáng tỏ cơ sở lý luận, thực tiễn về hiệu quả công

tác VĐQC phòng, chống DCTD ở KVBG Trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp

cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả công tác VĐQC phòng, chống DCTD ở KVBGcủa BĐBP các tỉnh Tây Nguyên

- Nhiệm vụ:

+ Luận giải làm rõ khái niệm, vai trò, nội dung, hình thức công tác VĐQC

và hiệu quả công tác VĐQC phòng, chống DCTD ở KVBG của BĐBP các tỉnhTây Nguyên

+ Đánh giá thực trạng hiệu quả công tác VĐQC phòng, chống DCTD ởKVBG của BĐBP các tỉnh Tây Nguyên trong những năm qua, rút ra nguyên nhân

và những bài học kinh nghiệm

+ Xác định phương hướng, yêu cầu và những giải pháp cơ bản nâng cao hiệuquả công tác VĐQC phòng, chống DCTD ở KVBG của BĐBP các tỉnh TâyNguyên

- Đối tượng, phạm vi nghiên cứu:

+ Đối tượng nghiên cứu: hiệu quả công tác VĐQC phòng, chống DCTD ởKVBG của BĐBP các tỉnh Tây Nguyên

+ Phạm vi nghiên cứu: các hoạt động VĐQC và hiệu quả VĐQC phòng,chống DCTD ở KVBG của BĐBP các tỉnh Tây Nguyên trong đó đặc biệt đi sâuvào công tác VĐQC phòng, chống DCTD ở khu vực này từ năm 1998 đến 2002

4 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu

- Cơ sở lý luận của luận văn là hệ thống quan điểm lý luận của chủ nghĩaMác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về

Trang 4

quần chúng và công tác VĐQC; các nghị quyết, chỉ thị của Đảng uỷ Quân sựTrung ương, Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị, Bộ tư lệnh BĐBP về lãnh đạo,chỉ đạo công tác dân vận của LLVT nói chung và đối với công tác VĐQC tham giabảo vệ CQAN biên giới của BĐBP nói riêng; kế thừa có chọn lọc kết quả nghiêncứu của một số công trình khoa học có liên quan trực tiếp đến nội dung luận văn.

- Cơ sở thực tiễn của luận văn là công tác VĐQC phòng, chống DCTD ởKVBG của BĐBP các tỉnh Tây Nguyên; các báo cáo sơ kết, tổng kết, báo cáochuyên đề về công tác VĐQC phòng, chống DCTD ở KVBG và kết quả điều tra,khảo sát thực tế của tác giả ở một số đơn vị BĐBP Tây Nguyên

- Phương pháp nghiên cứu: trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa Mác –Lênin, tác giả sử dụng tổng hợp các phương pháp lôgíc - lịch sử, phương pháp cấutrúc, phương pháp sử dụng chuyên gia, phương pháp so sánh, tổng hợp và coitrọng phương pháp tổng kết thực tiễn

5 Ý nghĩa của luận văn

Kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp thêm những cơ sở khoa học để giúp cấp uỷ,người chỉ huy và cán bộ, chiến sĩ BĐBP các tỉnh Tây Nguyên lãnh đạo, chỉ đạo vàthực hiện có hiệu quả các nội dung, biện pháp, hình thức công tác VĐQC phòng,chống DCTD ở KVBG

Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo,nghiên cứu, giảng dạy môn CTĐ,CTCT ở các nhà trường trong quân đội

6 Kết cấu của luận văn

Gồm phần mở đầu, 2 chương (4 tiết), kết luận, danh mục tài liệu tham khảo

và phụ lục

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HIỆU QUẢ CÔNG TÁC VẬN ĐỘNG QUẦN CHÚNG PHÒNG, CHỐNG DI CƯ TỰ DO Ở KHU VỰC BIÊN GIỚI CỦA BỘ ĐỘI BIÊN PHÒNG CÁC TỈNH TÂY NGUYÊN

1.1 Công tác vận động quần chúng phòng, chống di cư tự do và hiệu quả công tác vận động quần chúng phòng, chống di cư tự do ở khu vực biên giới của bộ

đội biên phòng các tỉnh Tây Nguyên

1.1.1 Di cư tự do và công tác vận động quần chúng phòng, chống di cư tự

do ở khu vực biên giới của bộ đội biên phòng các tỉnh Tây Nguyên

* Di cư tự do ở KVBG các tỉnh Tây Nguyên

Hiện tượng du canh du cư vốn là tập quán lạc hậu lâu đời của các dân tộcthiểu số sống theo phương thức canh tác đốt nương làm rẫy ở các vùng rừng núi

Trang 5

nước ta Do thói quen du canh, du cư còn nặng nề, đời sống khó khăn; bên cạnh đólại có sự tác động từ các phần tử xấu nên tình hình DCTD ở KVBG của một bộphận đồng bào dân tộc thiểu số vẫn đang có diễn biến phức tạp Thời gian qua,hiện tượng DCTD diễn ra đồng thời ở nhiều khu vực với nhiều hình thức khácnhau, có cả người từ nơi khác đến KVBG và có cả người cư trú ở KVBG DCTDđến địa bàn khác.

Di cư theo Đại từ điển Tiếng Việt là “dời, chuyển đến nơi khác để sinhsống”[42,533]; còn “tự do” theo nghĩa trong cụm từ “DCTD” được hiểu là “tự dochủ nghĩa” tức là “chỉ muốn làm theo ý riêng, không chịu sự ràng buộc vào nhữngnguyên tắc tổ chức dẫn đến vô tổ chức, vô kỷ luật”[42,1763]

Từ những thành tố trên, có thể hiểu “DCTD ở KVBG” là hiện tượng nhândân tự động di chuyển chỗ ở, nơi sản xuất từ nội địa vào KVBG, hoặc vượt biêngiới trái phép sang cư trú, làm ăn ở nước láng giềng vì mục đích kinh tế, vì quan hệdân tộc, thân tộc, dòng họ hoặc do kẻ địch và các phần tử xấu lừa gạt, thúc ép phải

di chuyển, gây nên tình hình phức tạp về an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội

ở KVBG

Hiện tượng DCTD diễn ra hết sức phức tạp, không theo một chiều hướng nhấtđịnh nào Có thể có sự di chuyển của một bộ phận nhân dân từ các tỉnh, huyện ở nộiđịa vào làm ăn, cư trú ở KVBG; lại có bộ phận nhân dân (chủ yếu thuộc dân tộcH’Mông) từ KVBG các tỉnh phía Bắc di chuyển vào tạo thành cụm dân cư bất hợppháp ở KVBG các tỉnh Tây Nguyên (số này chủ yếu ở KVBG các tỉnh Lai Châu, Sơn

La, Thanh Hoá, Nghệ An vào KVBG tỉnh Đắc Lắc)

Theo số liệu thống kê từ năm 1995 đến nay đã có 4.656 hộ với 24.487 khẩu

từ phía Bắc di cư vào Tây Nguyên Riêng 3 tháng đầu năm 2002 đã có 483 hộ với2.692 khẩu di cư vào Đắc Lắc Đồng thời lại xảy ra hiện tượng đồng bào các dântộc thiểu số ở KVBG các tỉnh Tây Nguyên tự ý vượt biên giới sang cư trú và sinhsống bất hợp pháp trên lãnh thổ nước bạn Lào và Vương quốc Campuchia Đặcbiệt sau vụ bạo loạn chính trị ở Tây Nguyên tháng 02 năm 2001, số người ở KVBGcác tỉnh Tây Nguyên vượt biên giới trái phép sang Campuchia tăng lên một cáchđột biến trong thời gian ngắn Đồng thời tình trạng “vượt biên giới ngược”, nhândân nước láng giềng vượt biên giới vào lãnh thổ Việt Nam cư trú và làm ăn ởKVBG; số người này chủ yếu từ các xã, bản biên giới của nước bạn Lào vượt biêngiới sang KVBG tỉnh Kon Tum Trong 6 tháng đầu năm 2003 đã có 40 hộ 62 khẩu

là người Lào vượt biên giới sang cư trú trái phép ở KVBG tỉnh Kon Tum, số ngườinày chủ yếu tập trung ở huyện Sa Thầy

Các hoạt động DCTD ở KVBG đều trái với chủ trương, chính sách, pháp luậtcủa Đảng và Nhà nước Việt Nam, trái với quy định của địa phương, trái với quy chế

về cư trú, hoạt động trong KVBG và quy định về qua lại biên giới

Trang 6

Qua nghiên cứu cho thấy DCTD có nguyên nhân sâu xa từ tập quán truyềnthống lạc hậu của một bộ phận các dân tộc thiểu số, sống chủ yếu dựa vào phátnương rẫy, săn bắt và khai thác lâm sản Khi nguồn tài nguyên sẵn có đã trở nêncạn kiệt họ lại tiếp tục ra đi tìm vùng đất mới Trong khi đó ở KVBG các tỉnh TâyNguyên cho đến nay vẫn đang tồn tại những vùng rừng núi hoang dã chưa có sựkhai phá của con người Nguồn tài nguyên rừng ở đây còn phong phú và đa dạng,

đó chính là “miền đất hứa” đối với bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số quen sống ducanh du cư, phá rừng để sinh sống

Nguyên nhân trực tiếp của hiện tượng DCTD là do điều kiện kinh tế khókhăn, đất đai canh tác bạc màu, năng suất lao động quá thấp, sản xuất hàng hoáchưa phát triển; các hoạt động đầu tư phát triển kinh tế - xã hội giành cho vùngcao, vùng sâu, vùng xa hiệu quả chưa cao, chưa tạo được sự chuyển biến đáng kểtrong đời sống của đồng bào các dân tộc thiểu số Kết quả điều tra cho thấy trongtổng số 3125 hộ = 15625 khẩu DCTD từ các tỉnh phía Bắc vào Tây Nguyên thì có

1108 hộ = 5540 khẩu (chiếm 35,45%) là vì lý do kinh tế, đời sống

Một nguyên nhân quan trọng khác là CNĐQ đứng đầu là Mỹ cấu kết với cácthế lực phản động trong và ngoài nước luôn tìm mọi thủ đoạn tinh vi thâm độcnhằm chống phá cách mạng Việt Nam Chúng đặc biệt coi trọng thực hiện chiếnlược “DBHB” để phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc Việt Nam Lừa phỉnh, dụ dỗđồng bào dân tộc thiểu số “đi tìm Tổ quốc” hoặc lợi dụng thần quyền, giáo lý để épbuộc đồng bào di cư đến những khu vực có đạo Tin lành, truyền bá trái phép đạo

“Tin lành Đề Ga” trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở KVBG Qua điều tra củaBĐBP những năm qua thấy rằng tình trạng DCTD của người dân tộc thiểu số cáctỉnh biên giới phía Bắc vào Tây Nguyên đều có liên quan đến hoạt động của đạoTin lành Số liệu thống kê cho thấy, từ đầu năm 1999 đến 3 tháng đầu năm 2002 đã

có 2017 hộ với 11.320 khẩu là người dân tộc H’Mông ở các tỉnh biên giới phía BắcDCTD vào tỉnh Đắc Lắc Hiện nay 9/10 huyện của tỉnh Đắc Lắc có đồng bào dântộc H’Mông di cư đến, trong đó có 921 hộ với 5234 khẩu là tín đồ đạo Tin lành

Trên địa bàn tỉnh Gia Lai, theo số liệu thống kê đến hết tháng 6 năm 2002,

số lượng tín đồ theo đạo Tin lành có khoảng 56.000 người trong đó số tín đồ làngười dân tộc thiểu số có khoảng 40.000 người Tình trạng DCTD phát triển rấtphức tạp và liên quan chặt chẽ với hoạt động truyền bá trái phép đạo Tin lành Kếtquả điều tra cho thấy 10/10 xã, thị trấn của huyện Chư Sê thường xuyên có ngườivượt biên giới trái phép sang Ô Đa Đao (Campuchia) để nghe truyền đạo và lấykinh thánh Người Việt Nam sang đây đều được bọn cốt cán trong đạo Tin lànhgặp gỡ, bồi dưỡng kiến thức về đạo Tin lành và kích động để chống lại sự tuyêntruyền và quản lý của chính quyền ta

Trang 7

Một nguyên nhân nữa là sự yếu kém, thiếu hiệu quả trong công tác quản lýcủa chính quyền các cấp, nhất là ở cấp cơ sở Phần lớn đội ngũ làm công tác quản

lý ở cơ sở còn bị hạn chế về năng lực và nghiệp vụ chuyên môn Có cán bộ cònthiếu gương mẫu trong chấp hành chủ trương, đường lối, chính sách pháp luật củaĐảng và Nhà nước (trong đó có chính sách định canh, định cư) gây mất lòng tincủa dân; sự tác động khác từ bên ngoài làm cho một số đồng bào dân tộc thiểu sốphải di cư đến khu vực khác để cư trú và sinh sống

Bên cạnh đó, công tác nắm tình hình, phát hiện các dấu hiệu DCTD củaBĐBP còn nhiều hạn chế; chưa thật sự nhạy bén trong hoạt động làm tham mưucho cấp uỷ, chính quyền địa phương cũng như trong phối hợp với các ngành, đoànthể để tuyên truyền vận động nhân dân nhằm phòng ngừa và ngăn chặn từ gốc hiệntượng DCTD

Tình trạng DCTD, kể cả DCTD từ nơi khác đến và từ KVBG đi nơi khácđều gây nên hậu quả phức tạp và nặng nề DCTD gây nên tình trạng lộn xộn vềphân bố dân cư trái với chủ trương định canh, định cư của Đảng và Nhà nước Một

bộ phận những người DCTD là đối tượng có tiền án, tiền sự ở quê cũ, lợi dụng di

cư đến các KVBG xa xôi, hẻo lánh để trốn tránh sự trừng phạt của pháp luật Mặtkhác, số người vượt biên giới trái phép sang làm ăn, sinh sống trên lãnh thổ nướcláng giềng là vi phạm luật pháp và thông lệ quốc tế, làm phức tạp mối quan hệđoàn kết, hữu nghị giữa Việt Nam với hai nước Lào và Campuchia

Hiện tượng DCTD còn tạo cơ hội cho các phần tử chống đối lợi dụng vấn đềdân tộc, tôn giáo để kích động tư tưởng dân tộc hẹp hòi và lòng tin mù quáng củađồng bào các dân tộc thiểu số vào “Chúa trời”, vào “Đấng khai sáng”, gây nên sựmất ổn định về trật tự xã hội trong KVBG

DCTD ở KVBG còn là điều kiện để các loại tệ nạn xã hội hoạt động mộtcách tự do, nhất là những cụm dân cư mới hình thành một cách tự phát, chưa đượcđưa vào quản lý trong các đơn vị hành chính Hiện tượng DCTD còn gây tácđộng xấu đến môi trường, tài nguyên sinh thái; tài nguyên rừng bị xâm hại, môitrường và nguồn nước bị ô nhiễm do điều kiện sống tạm bợ và mất vệ sinh gâynên; trẻ em không được đến trường, tình trạng mù chữ, đói thông tin trở nên kháphổ biến Đây là miếng đất “màu mỡ” để kẻ địch và các phần tử xấu gieo rắc,nuôi dưỡng những hạt giống phản loạn, chống đối chế độ, âm mưu lật đổ chínhquyền

* Công tác VĐQC phòng, chống DCTD ở KVBG của BĐBP các tỉnh Tây Nguyên

Bảo vệ CQAN biên giới là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân củacác ngành, các cấp và các đoàn thể xã hội, trong đó BĐBP là lực lượng nòng cốtchuyên trách Nghị quyết của Bộ Chính trị về xây dựng BĐBP trong tình hình mới

Trang 8

đã xác định: “BĐBP là LLVT cách mạng của Đảng và Nhà nước, là một thành phầncủa QĐND Việt Nam, làm nòng cốt chuyên trách quản lý, bảo vệ CQAN lãnh thổquốc gia theo nhiệm vụ và quyền hạn được giao, đồng thời là một thành viên củakhu vực phòng thủ biên giới”[11,3].

Với chức năng quan trọng đó, Đảng và Nhà nước giao cho BĐBP 7 nhiệm

vụ cơ bản, toàn diện trên các lĩnh vực quốc phòng, an ninh, đối ngoại Để thựchiện thắng lợi 7 nhiệm vụ cơ bản được giao, BĐBP vận dụng một cách linh hoạtsáu biện pháp công tác cơ bản là VĐQC, biện pháp trinh sát biên phòng, biệnpháp kiểm soát hành chính, biện pháp tuần tra vũ trang, biện pháp công trình kỹthuật và biện pháp đối ngoại biên phòng

Công tác VĐQC tham gia bảo vệ CQAN biên giới của BĐBP: là tổng thể các hoạt động, các biện pháp chính trị, tư tưởng, tổ chức, nghiệp vụ do BĐBP tiến hành để tuyên truyền, giải thích, động viên, tổ chức, hướng dẫn cho nhân dân ở KVBG tự nguyện tham gia cùng BĐBP bảo vệ đường biên giới, mốc giới; bảo vệ chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ, an ninh, chính trị, trật tự xã hội, chống xâm nhập và vượt biên giới trái phép, buôn lậu qua biên giới; bảo vệ tài nguyên đất nước, xây dựng biên giới hoà bình hữu nghị hợp tác phát triển với nước láng giềng [41,9].

Tiếp thu và phát triển những tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin, ĐảngCộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh trong suốt quá trình lãnh đạo cáchmạng, luôn nhận thức sâu sắc và đánh giá đúng vai trò, sức mạnh của quần chúng,đặt quần chúng vào vị trí trung tâm của cách mạng Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳngđịnh “lực lượng của dân rất to” Vì thế “Việc dân vận rất quan trọng Dân vận kémthì việc gì cũng kém, dân vận khéo thì việc gì cũng thành công”[36, 700]

Sự lớn mạnh và trưởng thành của Đảng ta và cách mạng Việt Nam hơn 70năm qua luôn gắn với vai trò to lớn của quần chúng nhân dân Đảng ta luôn coicông tác VĐQC là một nhiệm vụ cơ bản thường xuyên, quan trọng, là trách nhiệmcủa toàn thể đảng viên, các tổ chức đảng Vận động thuyết phục quần chúng phục

vụ cách mạng là vấn đề có ý nghĩa quyết định đến sức mạnh và sự trường tồn củaĐảng Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI khẳng định: “Công tácVĐQC luôn luôn là vấn đề có tầm quan trọng chiến lược trong mọi thời kỳ củacách mạng”[8, 250]

Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta luôn đánh giá cao vai trò của đồng bàodân tộc thiểu số trong sự nghiệp cách mạng Trải qua hàng ngàn năm dựng nước vàgiữ nước, đồng bào các dân tộc thiểu số đã đoàn kết chặt chẽ, góp phần to lớn vào

sự nghiệp quản lý, bảo vệ biên cương của Tổ quốc, đánh bại các cuộc xâm lượccủa kẻ thù

Trang 9

Trong sự nghiệp quản lý, bảo vệ chủ quyền biên giới quốc gia, BĐBP phảiđương đầu với nhiều loại đối tượng, các loại kẻ thù có tổ chức, có âm mưu thâmđộc và có thủ đoạn xảo quyệt tinh vi Để đấu tranh có hiệu quả thì trước hết nhândân và các lực lượng đứng chân trên KVBG phải được tuyên truyền giáo dục, phảiđược tổ chức chặt chẽ, được trang bị kiến thức nghiệp vụ cần thiết mới có thể hànhđộng thống nhất, mới giành được thắng lợi.

- Công tác VĐQC phòng, chống DCTD ở KVBG là một hoạt động cơ bản của công tác VĐQC tham gia bảo vệ CQAN biên giới của BĐBP, bao gồm các hoạt động tuyên truyền, giáo dục, giải thích, động viên, tổ chức hướng dẫn nhân dân ở KVBG chấp hành nghiêm chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước về định canh, định cư và quy chế KVBG, tham gia xây dựng, phát triển kinh tế, văn hoá xã hội, góp phần ổn định sản xuất và đời sống nhân dân Phối hợp với các ngành, các cấp ở địa phương phát hiện, ngăn chặn các trường hợp di cư trái phép, giáo dục cảm hoá những người vi phạm và cảnh cáo, răn đe các phần tử kích động, bọn cầm đầu ngoan cố; làm tham mưu cho cấp uỷ, chính quyền địa phương giải quyết các vụ việc liên quan đến DCTD ở KVBG, xây dựng biên giới hoà bình hữu nghị với nước láng giềng.

Công tác VĐQC phòng, chống DCTD ở KVBG của BĐBP là một hoạt độngquan trọng trong công tác VĐQC của Đảng và của quân đội Trong khi vấn đềDCTD của đồng bào các dân tộc thiểu số ở KVBG các tỉnh Tây Nguyên đang cóchiều hướng gia tăng và trở nên phức tạp, thì công tác VĐQC của BĐBP càng trởthành một mũi nhọn xung kích để đấu tranh giữ vững CQAN biên giới Nhận thứcsâu sắc vấn đề trên, BĐBP các tỉnh Tây Nguyên xác định công tác VĐQC phòng,chống DCTD ở KVBG là một hoạt động quan trọng của công tác VĐQC tham giabảo vệ CQAN biên giới

- Nội dung, biện pháp công tác VĐQC phòng, chống DCTD ở KVBG Tây Nguyên của BĐBP là: căn cứ vào đường lối, chủ trương, chính sách pháp luật của

Đảng và Nhà nước, đặc biệt là chính sách định canh, định cư, chính sách dân tộc,chính sách tôn giáo, chủ trương xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc cùng vớinhững quy định, quy chế của Chính phủ Việt Nam về cư trú, hoạt động trongKVBG để tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức mọi mặt cho đồng bào cácdân tộc thiểu số Trên cơ sở giúp đồng bào nhận thức đúng đắn về chủ trương,chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước, BĐBP tiến hành động viên, tổ chứchướng dẫn nhân dân ở KVBG ổn định sản xuất, đời sống, tích cực tham gia cácphong trào hành động cách mạng của địa phương; chủ động phối hợp với BĐBPphát hiện, đấu tranh với các thế lực thù địch và các phần tử xấu kích động đồngbào DCTD hay tuyên truyền phát triển đạo trái phép ở KVBG

Trang 10

Nội dung công tác VĐQC phòng, chống DCTD của BĐBP còn là sự phối hợpchặt chẽ với cấp uỷ, chính quyền địa phương và các cấp, các ngành tham gia xâydựng phát triển kinh tế - xã hội, ổn định đời sống nhân dân Đây là nội dung quantrọng có ý nghĩa quyết định trong phòng, chống DCTD ở KVBG.

DCTD của đồng bào các dân tộc thiểu số Tây Nguyên còn bắt nguồn từ sựkích động, phá hoại của các phần tử thù địch Vì vậy, nội dung, biện pháp công tácVĐQC phòng, chống DCTD của BĐBP các tỉnh Tây Nguyên còn là sự kết hợpchặt chẽ với các biện pháp nghiệp vụ biên phòng khác, đặc biệt là biện pháp trinhsát biên phòng để kịp thời phát hiện những phần tử tuyên truyền, kích động lôi kéođồng bào di cư Cảnh cáo răn đe và đưa ra kiểm điểm công khai trước nhân dânnhằm vạch trần bản chất phá hoại của chúng đồng thời qua đó giáo dục, cảm hoánhững người bị kích động, lôi kéo

DCTD trên KVBG gây nên tình trạng phức tạp về mọi mặt, BĐBP phải chủđộng nắm bắt và xử lý tốt các vụ khiếu kiện, tranh chấp liên quan đến lợi ích củađồng bào các dân tộc thiểu số, phát hiện kịp thời và giải quyết thoả đáng các mâuthuẫn nảy sinh trong nội bộ nhân dân Làm trong sạch nội bộ đảng, chính quyền vàcác tổ chức chính trị, xã hội ở địa phương Nâng cao năng lực lãnh đạo của tổ chức

cơ sở đảng, hiệu lực quản lý của các cấp chính quyền và vai trò to lớn của các đoànthể xã hội trong VĐQC phòng, chống DCTD của đồng bào các dân tộc thiểu số ởKVBG

* Công tác VĐQC phòng, chống DCTD ở KVBG của BĐBP các tỉnh Tây Nguyên có những đặc điểm sau:

- Các hoạt động của cán bộ, chiến sĩ diễn ra trong điều kiện địa lý, tự nhiên rất phức tạp Tây Nguyên là một trong những địa bàn chiến lược quan trọng về

chính trị, kinh tế, quốc phòng, an ninh Diện tích của Tây Nguyên là 56.000 km2,địa hình rất đa dạng gồm đồi núi, cao nguyên và thung lũng xen kẽ nhau Địa bànTây Nguyên có nhiều khu rừng nguyên sinh trải dài từ Đông sang Tây, dân cư thưathớt, đường sá đi lại rất khó khăn; khu vực này là căn cứ cách mạng của ta trongkháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, nhưng hiện nay lại là nơi để các lực lượngphản động ẩn náu, xâm nhập và móc nối hoạt động chống phá Thời tiết, khí hậu ởKVBG các tỉnh Tây Nguyên rất khắc nghiệt; mỗi năm chia thành hai mùa rõ rệt: 6tháng mùa khô nắng nóng và hạn hán, 6 tháng mùa mưa gây khó khăn nghiêmtrọng cho giao thông, thông tin liên lạc nói chung và cho hoạt động quản lý bảo vệCQAN biên giới của BĐBP nói riêng

- Công tác VĐQC phòng, chống DCTD của BĐBP các tỉnh Tây Nguyên chịu ảnh hưởng quan trọng của tình hình dân cư và điều kiện kinh tế, văn hoá, chính trị, quốc phòng, an ninh ở KVBG.

Trang 11

Tuyến biên giới Tây Nguyên có chiều dài 591 km thuộc 3 tỉnh Kon Tum,Gia Lai và Đắc Lắc Toàn tuyến có 24 xã biên giới thuộc 11 huyện với 21 dân tộcanh em sinh sống; dân số trong KVBG có 16.952 hộ = 83.974 khẩu trong đó có10.970 hộ = 57.376 khẩu là đồng bào các dân tộc thiểu số (chiếm 68% dân số).Đồng bào các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên từ xưa đến nay luôn có truyền thốngyêu nước Từ ngày có Đảng, đồng bào một lòng theo Đảng, sức mạnh đại đoàn kếtcác dân tộc ngày càng được củng cố và phát huy, đồng bào luôn gắn bó và ủng hộBĐBP, có nhiều kinh nghiệm trong việc phối hợp với BĐBP quản lý, bảo vệCQAN biên giới Bản tính chung của đồng bào các dân tộc thiểu số Tây Nguyên làtrung thực, mạnh mẽ, chân thật, chịu đựng được gian khổ thiếu thốn, đó là nhữngđiều kiện rất thuận lợi đối với công tác VĐQC của BĐBP.

Tuy nhiên, tình hình phân bố dân cư trên tuyến biên giới các tỉnh TâyNguyên cũng có những tác động không thuận lợi đến hoạt động của BĐBP nóichung và công tác VĐQC phòng, chống DCTD nói riêng Do việc các dân tộc sinhsống thành từng khu vực tương đối rõ nét, số lượng các thành phần dân tộc khôngđều nhau, mỗi dân tộc lại có phong tục tập quán riêng, điều đó dễ dẫn đến mâuthuẫn giữa các dân tộc, dòng họ, gây khó khăn cho BĐBP trong quản lý, giáo dục,vận động thuyết phục và giúp đỡ đồng bào

Về văn hoá - xã hội: ở những buôn làng giáp đường biên giới vẫn tồn tạinhiều phong tục, tập quán lạc hậu; nhiều khi luật tục của dân tộc, dòng họ còn cósức nặng hơn luật pháp Quan hệ dòng họ vượt ra ngoài biên giới lãnh thổ quốcgia, nhân dân hai bên biên giới có những nét tương đồng về lịch sử, phong tục, tậpquán, ý thức về tộc người, dòng họ có khi còn sâu sắc hơn ý thức về biên giới quốcgia Nếu khai thác tốt điểm này sẽ tạo điều kiện thuận lợi trong việc xây dựng mốiđoàn kết tương trợ giúp đỡ nhau trong cuộc sống và góp phần xây dựng biên giớihoà bình, hữu nghị

Ở các xã biên giới hiện đang tồn tại 4 tôn giáo chính là Công giáo, Tin lành,Phật giáo và Cao đài với tổng số tín đồ 15.015 người chiếm 17,88% dân số; có 5

cơ sở thờ tự và 73 chức sắc tôn giáo (trong số này có đến 62 người được phong tráivới quy định của Chính phủ) Nổi cộm trong hoạt động của các tôn giáo ở KVBGTây Nguyên hiện nay là vấn đề phát triển trái phép đạo Tin lành Dưới tên gọi “Tinlành Đề Ga”, bọn phản động đội lốt các nhà truyền đạo đang ráo riết đẩy mạnhhoạt động tuyên truyền phát triển đạo làm cho đạo Tin lành ở KVBG phát triểnmột cách đột biến Hiện nay 11 trong tổng số 24 xã biên giới có đạo Tin lành hoạtđộng Đây là một vấn đề mới nảy sinh rất phức tạp và gây ảnh hưởng không thuậnlợi đến công tác quản lý bảo vệ CQAN biên giới và công tác VĐQC phòng, chốngDCTD

Trang 12

Về mặt kinh tế: KVBG các tỉnh Tây Nguyên là một trong những khu vực cótiềm năng kinh tế dồi dào nhưng chưa được đầu tư khai thác đúng mức vì vậy trình

độ phát triển kinh tế - xã hội vẫn ở mức thấp, đời sống vật chất, tinh thần của nhândân còn rất khó khăn Theo số liệu thống kê năm 2002, trên 24 xã biên giới TâyNguyên có 3.855 hộ thường xuyên thiếu ăn từ 3 đến 6 tháng trong một năm, 5.021

hộ thuộc diện hộ nghèo (trong đó đồng bào dân tộc thiểu số chiếm 90%); hiện naymới có 8/24 xã có điện lưới quốc gia Trẻ em trong độ tuổi đến trường bị thất họccòn nhiều, hiện tượng mù chữ, tái mù chữ giảm không đáng kể (hiện đang có 4.329trẻ em bị thất học; 16.053 người bị mù chữ và tái mù chữ, trong đó 87% là con emđồng bào dân tộc thiểu số)

Về cơ sở chính trị: trên 24 xã biên giới của Tây Nguyên hiện có 18 đảng bộ,

139 chi bộ với 1.223 đảng viên trong đó đảng viên là người dân tộc thiểu số chiếmhơn 80% Đây là điểm thuận lợi quan trọng đối với công tác VĐQC xây dựng cơ

sở chính trị ở KVBG, nơi có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống Qua phânloại phong trào bảo vệ CQAN biên giới hàng năm số xã khá và vững mạnh tănglên; theo kết quả phân loại, đến nay chất lượng phong trào bảo vệ CQAN biên giớicủa các xã biên giới Tây Nguyên không còn xã yếu kém (cụ thể: vững mạnh: 4;khá:16 và trung bình:4)

Tổ chức công an, dân quân xã hàng năm được huấn luyện theo chương trìnhquy định; lực lượng công an và dân quân cơ sở thường xuyên phối hợp với BĐBPtuần tra bảo vệ biên giới và giữ gìn an ninh chính trị, trật tự xã hội trong KVBG.Tuy nhiên, tổ chức cơ sở đảng, chính quyền ở một số xã chưa thực sự vững mạnh,năng lực lãnh đạo còn hạn chế Một bộ phận cán bộ, đảng viên trình độ văn hoáthấp, kinh tế gia đình còn khó khăn nên trong lãnh đạo, tổ chức quần chúng thựchiện các chương trình công tác của địa phương chưa có hiệu quả cao

Về an ninh chính trị: trong những năm qua, để thực hiện chiến lược

“DBHB”, CNĐQ đứng đầu là Mỹ cùng với các thế lực thù địch thường xuyên đẩymạnh các hoạt động chiến tranh tâm lý, gieo rắc hoài nghi, gây hoang mang trongcán bộ, đảng viên và nhân dân các dân tộc ở KVBG, làm cho họ giảm sút niềm tinvào Đảng, vào chế độ và cơ quan lãnh đạo, chính quyền, đoàn thể địa phương.Chúng triệt để lợi dụng đặc điểm vùng dân tộc thiểu số dân trí thấp, thông tin kémphát triển để khai thác những vấn đề lịch sử, những khó khăn hiện nay, nhất lànhững sơ hở thiếu sót của ta trong thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo Chúng rasức kích động, dụ dỗ, lôi kéo quần chúng và những phần tử thoái hoá biến chấttrong cán bộ, đảng viên để tập hợp lực lượng, khi có thời cơ là nổi dậy gây rối tiếntới gây bạo loạn, lật đổ chính quyền nhân dân

Dân tộc và tôn giáo đang là những vấn đề nổi lên hiện nay, các thế lực thùđịch đang thực hiện chiến lược “DBHB” trên hai lĩnh vực nhạy cảm này ở KVBG

Trang 13

Tây Nguyên Hoạt động của đạo Tin lành ở Tây Nguyên những năm qua đềuthường xuyên nhận được sự tài trợ của nước ngoài, chủ yếu là của Mỹ Các tổ chứcTin lành quốc tế do Mỹ thao túng luôn chú trọng phát triển đạo Tin lành lên TâyNguyên nhằm nhanh chóng thành lập các hội thánh trực thuộc Mặt khác chúngtăng cường đưa bọn phản động Fulrô được Mỹ huấn luyện xâm nhập trở lại địabàn để thực hiện chủ trương Fulrô hoá Tin lành, tập hợp lực lượng và hoạt động hợppháp Chủ trương hợp nhất lực lượng Fulrô hoá Tin lành để nâng cao hiệu quả hoạtđộng cả trong và ngoài nước nhằm gây áp lực buộc chính quyền Việt Nam thừanhận tư cách pháp nhân của đạo Tin lành và “Nhà nước Đề Ga độc lập”.

Từ hoạt động truyền đạo trái phép, các thế lực thù địch và bọn phản động lợidụng đạo Tin lành đã dựa vào lòng tin mù quáng của quần chúng đối với giáo lýcủa cái gọi là “Tin lành Đề Ga” để lôi kéo, thúc ép đồng bào di cư tạo nên làn sóngngười DCTD Hiện tượng DCTD ở KVBG Tây Nguyên có quan hệ chặt chẽ vớivấn đề dân tộc và tôn giáo, hơn nữa đằng sau nó có bàn tay chống phá của các thếlực thù địch với những mưu đồ chính trị hết sức thâm độc

- Công tác VĐQC phòng, chống DCTD của BĐBP Tây Nguyên được tiến hành trong một hệ thống tổ chức tập trung, thống nhất từ Trung ương đến cơ

sở (gồm Bộ tư lệnh BĐBP, Bộ chỉ huy biên phòng tỉnh và các đồn biên phòng).

Đảng uỷ, Bộ chỉ huy biên phòng tỉnh vừa chịu sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng uỷ

Bộ tư lệnh BĐBP, vừa chịu sự lãnh đạo của tỉnh uỷ Các đồn biên phòng đặt dưới

sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp uỷ, chính quyền địa phương; đồn biên phòng là đơn vị

cơ sở của BĐBP, là nơi trực tiếp tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương, chínhsách của Đảng, Nhà nước, nghị quyết, chỉ thị, mệnh lệnh của cấp trên về nhiệm vụcông tác biên phòng Tham gia các chương trình phát triển kinh tế - xã hội, quốcphòng, an ninh ở địa phương

Xuất phát từ chức năng, nhiệm vụ của BĐBP, các đồn biên phòng có quân

số, trang bị, biên chế tổ chức theo quy định của QĐND Việt Nam; có sự lãnh đạo,chỉ huy chặt chẽ trong quá trình thực hiện nhiệm vụ Trong hệ thống tổ chức củaBĐBP, lực lượng chuyên trách làm công tác VĐQC cũng được bố trí theo hệ thốngdọc; ở Bộ tư lệnh BĐBP có phòng VĐQC; ở Bộ chỉ huy biên phòng tỉnh có banVĐQC và các đồn biên phòng có đội VĐQC chuyên trách Đội VĐQC biên chế sĩquan chỉ huy làm đội trưởng, đội phó; số còn lại chủ yếu là QNCN và chiến sĩ.Quân số đội VĐQC thường biên chế từ 7 đến 9 đồng chí; do biên chế thành các tổcông tác nên rất thuận tiện trong cơ động bám sát địa bàn, bố trí hoạt động đến tậntừng buôn làng giáp biên để thực hiện nhiệm vụ Tuy nhiên, do quân số ít lại phảiđảm nhiệm những địa bàn rộng lớn, dân cư thưa thớt nên cũng có nhiều khó khăntrong công tác bám, nắm địa bàn và tiến hành tuyên truyền vận động

Trang 14

Đội ngũ chuyên trách công tác VĐQC ở các đồn biên phòng tuyến TâyNguyên luôn phải hoạt động ở những nơi khó khăn gian khổ, ít có điều kiện đểnghiên cứu, tiếp cận với những kiến thức mới để nâng cao trình độ Một bộ phậncán bộ, chiến sĩ chuyên trách VĐQC là người Kinh, chưa thạo tiếng dân tộc, hiểubiết và nắm phong tục, tập quán của đồng bào dân tộc thiểu số còn hạn chế nên gặprất nhiều khó khăn trong tiếp xúc, tuyên truyền vận động nhân dân Mặt khác, phầnlớn đội ngũ chuyên trách VĐQC từ khi ra trường về đơn vị công tác đều không cóđiều kiện đi tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ, chưa đổi mới nội dung, hình thứcphương pháp tuyên truyền, vận động, tài liệu sử dụng cho tuyên truyền thiếu làmảnh hưởng đến hiệu quả công tác VĐQC phòng, chống DCTD ở KVBG các tỉnhTây Nguyên.

1.1.2 Hiệu quả công tác vận động quần chúng, phòng chống di cư tự do

ở khu vực biên giới của Bộ đội biên phòng các tỉnh Tây Nguyên

* Quan niệm hiệu quả công tác VĐQC phòng, chống DCTD.

Thuật ngữ hiệu quả được sử dụng rộng rãi trong mọi lĩnh vực, cả trong xãhội cũng như trong hoạt động quân sự Theo Đại từ điển Tiếng Việt, hiệu quả cónghĩa là “kết quả đích thực”[42,806] Nói tới hiệu quả hoạt động cụ thể của conngười, bao giờ cũng phải tính đến một cách toàn diện các yếu tố, trong đó tập trungvào mục đích của hành động đó nhằm đạt tới điều gì, kết quả thu được như thếnào, chi phí thực tế cho hoạt động đó trong một điều kiện lịch sử, xã hội nhất định.Hiệu quả chính là kết quả thu được so với mục đích hoạt động đó đã được xác định

từ đầu Kết quả đạt được càng gần với mục đích đề ra ban đầu tức là hiệu quả càngcao Công tác VĐQC là một hoạt động của khoa học chính trị xã hội, khi nghiêncứu hiệu quả của nó cần phải đề cập đến những yếu tố đặc thù

- VĐQC là hoạt động chính trị - xã hội, đó là loại hoạt động ảnh hưởng rấtlớn đến sự phát triển tốt hay không tốt, nhanh hay chậm, đúng định hướng haykhông đúng định hướng chính trị trong công tác đấu tranh phòng, chống DCTD ởKVBG Đối tượng của công tác VĐQC là con người (cụ thể là đồng bào các dântộc thiểu số ở biên giới) và tổ chức (gồm cấp uỷ, chính quyền và các tổ chức chínhtrị, xã hội trên địa bàn biên giới) Xem xét hiệu quả công tác VĐQC phòng, chốngDCTD ở KVBG của BĐBP các tỉnh Tây Nguyên phải căn cứ vào kết quả của việcthực hiện mục tiêu tuyên truyền vận động đồng bào các dân tộc thiểu số ở KVBGthực hiện nghiêm chỉnh chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước,không tự ý di cư hoặc lôi kéo người khác di cư làm thước đo để đánh giá Điều đó

có nghĩa là xem xét hiệu quả công tác VĐQC phòng, chống DCTD ở KVBG củaBĐBP các tỉnh Tây Nguyên phải căn cứ vào hiệu quả chính trị, xã hội, kinh tế,quốc phòng, an ninh so với chi phí về công sức và tiền của, lực lượng, phương tiện,

cơ sở vật chất bỏ ra Cần tránh khuynh hướng chỉ chú ý đến những chi phí vật chất

Trang 15

của hành động đó so với kết quả đạt được bằng những con số mang tính định lượngthuần tuý.

Vì vậy, khi đánh giá hiệu quả công tác VĐQC phòng, chống DCTD ởKVBG của BĐBP các tỉnh Tây Nguyên phải căn cứ vào việc thực hiện mục đích,nhiệm vụ, nội dung công tác đã được xác định; thể hiện ở việc giữ vững ổn địnhchính trị, xây dựng được hệ thống cơ sở chính trị ở các buôn làng, xã biên giớivững mạnh; về kinh tế, quốc phòng, an ninh phải tạo được sự ổn định dân cư, ổnđịnh và phát triển sản xuất gắn với bảo vệ vững chắc CQAN biên giới quốc gia vàcủng cố, xây dựng khu vực phòng thủ trên biên giới

- Khi xem xét hiệu quả công tác VĐQC phòng, chống DCTD ở KVBG củaBĐBP các tỉnh Tây Nguyên cần phải có quan điểm toàn diện, phải xem xét hoạtđộng đó trong tổng thể vì hoạt động này là một chỉnh thể thống nhất bao gồmnhiều yếu tố hợp thành như chủ thể, đối tượng, mục tiêu, nhiệm vụ, nội dung, hìnhthức, phương tiện Nói đến hiệu quả công tác VĐQC phòng, chống DCTD ởKVBG của BĐBP các tỉnh Tây Nguyên là phải nói đến hiệu quả hoạt động củatừng yếu tố đó; yếu tố nào, bộ phận nào có hiệu quả thấp sẽ ảnh hưởng không tốttới hiệu quả của toàn bộ hoạt động Vì vậy trong đánh giá phải nghiên cứu từngmặt, từng yếu tố cấu thành của nó; nhưng mỗi mặt, mỗi yếu tố lại có chức năng,nhiệm vụ cụ thể nên lại phải có phương pháp xem xét cụ thể

Trên đây là phương pháp luận để nhận biết, xác định hiệu quả của một hoạtđộng nói chung Trong thực tế, mỗi loại hoạt động cụ thể khác nhau thì phươngpháp đánh giá hiệu quả cũng khác nhau Phương pháp đánh giá hiệu quả hoạt độngcủa một công trình khoa học xã hội khác với phương pháp đánh giá hiệu quả hoạtđộng của một công trình khoa học kỹ thuật, khoa học tự nhiên Trong lĩnh vựckhoa học kỹ thuật, khoa học tự nhiên, người ta có thể sử dụng các phương tiện kỹthuật hiện đại để xác định hiệu quả một cách nhanh chóng thông qua các chỉ sốđược đo đạc chính xác Còn trong lĩnh vực khoa học xã hội hiệu quả hoạt độngthường không thể thấy được trực tiếp mà phải thông qua nhiều yếu tố khác; hiệuquả có khi thể hiện ngay nhưng cũng có khi phải sau một thời gian dài mới thấyđược Công tác VĐQC phòng, chống DCTD ở KVBG của BĐBP các tỉnh TâyNguyên là sự tác động vào con người và tổ chức, hiệu quả của nó bao gồm cả phầnđịnh tính và định lượng Khi xem xét hiệu quả của công tác này phải dựa trên kếtquả hiện thực như số lượng đồng bào được tuyên truyền, giáo dục, số người cóchuyển biến tốt, tự nguyện chuyển về quê cũ, số người cam kết không tự ý dichuyển, số lượng cơ sở chính trị được xây dựng, củng cố; mức sống của đồng bàocác dân tộc thiểu số ở KVBG năm sau so với năm trước như thế nào Việc theodõi, nghiên cứu, thu thập, phân tích, tổng hợp và xác định về mặt định lượng cácthông số chính là cơ sở để rút ra những kết luận cần thiết về hiệu quả hoạt độngcủa công tác VĐQC phòng, chống DCTD ở KVBG

Trang 16

Tuy nhiên, đánh giá hiệu quả công tác VĐQC phòng, chống DCTD ởKVBG chủ yếu phải căn cứ vào mặt định tính; đó chính là những thông số phảnánh kết quả tác động của công tác VĐQC phòng, chống DCTD ở KVBG đạt được

so với mục tiêu đề ra thể hiện ở mức độ nhận thức, tình cảm, niềm tin của đồngbào các dân tộc thiểu số ở KVBG Tây Nguyên với sự lãnh đạo và quản lý của cấp

uỷ, chính quyền địa phương, sự quan tâm giúp đỡ đối với BĐBP trong hoạt độngđấu tranh phòng chống DCTD nói riêng và trong quản lý, bảo vệ CQAN biên giớiquốc gia nói chung

- Xem xét hiệu quả công tác VĐQC phòng, chống DCTD ở KVBG củaBĐBP các tỉnh Tây Nguyên phải đặt trong điều kiện không gian, thời gian cụ thể,trong hoàn cảnh lịch sử cụ thể Tiến hành công tác VĐQC phòng, chống DCTDchịu sự chi phối, tác động của ngoại cảnh, của những biến đổi về kinh tế, chính trị,

xã hội trên biên giới cũng như của đất nước Vì vậy khi xem xét hiệu quả của nóphải tính đến tình hình kinh tế - xã hội của đất nước, của địa phương và các yếu tốkhác cả khách quan và chủ quan như hình thức, nội dung, phương pháp tiến hànhVĐQC, năng lực hoạt động của chủ thể, khả năng tiếp nhận của đối tượng và sựchống phá của kẻ thù Có như vậy việc xác định đánh giá hiệu quả mới thực sựtrung thực, khách quan, chính xác, tránh được những kết luận cảm tính

Từ những phân tích trên, có thể quan niệm: Hiệu quả công tác VĐQC phòng chống DCTD ở KVBG của BĐBP các tỉnh Tây Nguyên là tổng hợp kết quả hoạt động lãnh đạo và tổ chức thực hiện các nội dung, hình thức, biện pháp VĐQC của các đơn vị BĐBP so với mục tiêu đặt ra, là việc huy động và sử dụng một cách tốt nhất các lực lượng, phương tiện hiện có vào thực hiện công tác VĐQC phòng, chống DCTD ở KVBG Tây Nguyên.

* Tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả công tác VĐQC phòng, chống DCTD ở KVBG của BĐBP các tỉnh Tây Nguyên.

Theo Đại từ điển Tiếng Việt, tiêu chuẩn là “Điều được quy định dùng làmchuẩn để phân loại đánh giá”[42,1640] Tiêu chuẩn được thể hiện ở các chỉ số,thông số, chỉ tiêu dùng làm thước đo, dựa vào đó để so sánh, đánh giá kết quả hoạtđộng Các chỉ số, thông số, chỉ tiêu càng cụ thể, chính xác bao nhiêu thì việc đánhgiá càng chính xác bấy nhiêu

Từ quan niệm về hiệu quả và phương pháp tiếp cận đánh giá hiệu quả, có thểxác định hệ thống tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả công tác VĐQC phòng, chốngDCTD ở KVBG của BĐBP các tỉnh Tây Nguyên bao gồm:

Thứ nhất, đánh giá khả năng của các chủ thể trong công tác VĐQC phòng,

chống DCTD ở KVBG của BĐBP các tỉnh Tây Nguyên thể hiện ở sự trong sạch,

vững mạnh của tổ chức đảng (trước hết là chi uỷ, chi bộ đồn biên phòng), sự quantâm của tổ chức đảng đối với công tác VĐQC phòng, chống DCTD thông qua việc

Trang 17

thường xuyên đưa nội dung, nhiệm vụ VĐQC phòng, chống DCTD ở KVBG vàocác nghị quyết lãnh đạo hàng tháng, hàng quý, ra các nghị quyết chuyên đề khi cầntập trung lãnh đạo; vai trò của người chỉ huy từ cấp tỉnh tới cấp đồn biên phòng đốivới việc tổ chức thực hiện các nghị quyết của Đảng uỷ, của chi bộ đồn biên phòng.Mọi cán bộ, chiến sĩ trong các đơn vị BĐBP đều có bản lĩnh chính trị kiên địnhvững vàng, tin tưởng vào sự lãnh đạo, chỉ đạo của tổ chức đảng và người chỉ huy,

có năng lực thực hiện nhiệm vụ giỏi, nắm vững đường lối, chủ trương, chính sách,pháp luật của Đảng và Nhà nước, hiểu biết sâu sắc về phong tục, tập quán củađồng bào các dân tộc và có kiến thức tổng hợp về kinh tế, văn hoá, xã hội đủ khảnăng làm tham mưu cho cấp uỷ, chính quyền địa phương trong những vấn đề liênquan đến công tác biên phòng Cấp uỷ, chính quyền, đoàn thể địa phương có chủtrương, biện pháp tuyên truyền, tổ chức hướng dẫn nhân dân tham gia đấu tranhphòng, chống DCTD, giúp đỡ BĐBP trong bảo vệ CQAN biên giới

Thứ hai, đánh giá kết quả thực hiện các nội dung, hình thức, biện pháp

công tác VĐQC phòng, chống DCTD ở KVBG của BĐBP các tỉnh Tây Nguyên: thể hiện qua việc BĐBP đã triển khai những hình thức, biện pháp công tác nào để tất cả các tổ chức ở KVBG được xây dựng, củng cố một cách vững chắc;

tổ chức đảng luôn giữ được vai trò là hạt nhân lãnh đạo đối với mọi tổ chức và mọihoạt động của địa phương Các tổ chức chính quyền và đoàn thể chính trị - xã hộihoạt động đúng chức năng, luôn giữ vững bản chất XHCN, củng cố khối đại đoànkết giữa các dân tộc, chống lại âm mưu chia rẽ, lôi kéo của kẻ thù, phát động đượcphong trào tự quản bảo vệ buôn làng và biên giới Tổ quốc, không DCTD và vượtbiên giới trái phép Quần chúng nhân dân có niềm tin vững chắc vào sự lãnh đạo củaĐảng, luôn vững vàng trước mọi điều kiện hoàn cảnh; tin tưởng vào sự lãnh đạo củacấp uỷ, sự quản lý điều hành của chính quyền địa phương; tin vào khả năng xâydựng phát triển kinh tế, củng cố quốc phòng, an ninh, giữ vững độc lập chủ quyềntoàn vẹn lãnh thổ quốc gia Đạt được điều đó chứng tỏ rằng các nội dung, hình thức,biện pháp VĐQC của BĐBP các tỉnh Tây Nguyên là phù hợp và có hiệu quả.Ngược lại, nếu những tiêu chuẩn trên chưa đạt được, có nghĩa là nội dung, hìnhthức, biện pháp VĐQC phòng, chống DCTD ở KVBG của BĐBP các tỉnh TâyNguyên chưa phù hợp, hiệu quả chưa cao

Thứ ba, đánh giá tác dụng thực tế của công tác VĐQC đối với thực hiện

nhiệm vụ đấu tranh phòng, chống DCTD ở KVBG của BĐBP các tỉnh Tây Nguyên, hay nói cách khác thông qua hoạt động thực tiễn của quần chúng để đánh

giá hiệu quả công tác VĐQC phòng, chống DCTD ở KVBG của BĐBP các tỉnhTây Nguyên

Công tác VĐQC là sự tác động của nhiều biện pháp, nhiều con đường vàonhận thức của con người để làm chuyển biến nhận thức của họ Tuy nhiên nếu chỉdừng lại ở nhận thức thì chưa khẳng định đầy đủ, chính xác hiệu quả của công tác

Trang 18

VĐQC phòng, chống DCTD mà cần phải thông qua hành động của đối tượng thìmới đánh giá đúng hiệu quả Lênin đã chỉ ra rằng: “Chúng ta căn cứ vào cái gì đểxét đoán tư tưởng và tình cảm thực của các cá nhân có thực? Tất nhiên căn cứ ấychỉ có thể là hành động của các cá nhân ấy”[25,172] Đây chính là biểu hiện kháchquan của hiệu quả công tác VĐQC nói chung và của công tác VĐQC phòng,chống DCTD ở KVBG của BĐBP các tỉnh Tây Nguyên nói riêng Như vậy thôngqua công tác tuyên truyền, vận động của BĐBP, trình độ nhận thức và kiến thứccủa quần chúng nhân dân được nâng lên, từ đó chuyển biến thành hành động thực

tế như tích cực ủng hộ và bảo vệ các cơ quan đảng, chính quyền, đoàn thể quầnchúng, bảo vệ cán bộ, đảng viên và các thành viên của các đoàn thể đó Thực hiệnnghiêm chỉnh các chủ trương, biện pháp, quy định của pháp luật Nhà nước và củađịa phương về phát triển kinh tế - xã hội ở địa bàn miền núi, biên giới, thực hiệnxoá đói giảm nghèo, tích cực tăng gia sản xuất ổn định đời sống, không du canh du

cư, không vượt biên giới trái phép, không bao che hoặc tiếp tay cho phần tử xấuhoạt động phá hoại Có trách nhiệm xây dựng mối quan hệ tốt đẹp với cơ quan Nhànước và lực lượng vũ trang đóng ở địa phương ủng hộ BĐBP trong xây dựng đơn

vị vững mạnh, trong đấu tranh phòng, chống DCTD ở KVBG và trong xây dựng,củng cố mối quan hệ đoàn kết hữu nghị với nước láng giềng Đây được coi là tiêuchuẩn quan trọng nhất đánh giá hiệu quả công tác VĐQC phòng, chống DCTD ởKVBG của BĐBP các tỉnh Tây Nguyên

1.2 Hiệu quả công tác vận động quần chúng phòng, chống di cư tự do ở khu vực biên giới của bộ đội biên phòng các tỉnh Tây Nguyên thời gian qua, thực trạng, nguyên nhân và những kinh nghiệm

1.2.1 Thực trạng công tác vận động quần chúng và hiệu qủa công tác vận động quần chúng phòng, chống di cư tự do ở khu vực biên giới của bộ đội biên phòng các tỉnh Tây Nguyên thời gian qua

Trang 19

lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước, các chỉ thị, nghị quyết của Đảng uỷ, Bộ tưlệnh BĐBP về công tác quần chúng nói chung và công tác VĐQC phòng, chốngDCTD nói riêng Từ đó đề ra các chủ trương, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo các đơn

vị cơ sở làm tốt công tác VĐQC, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân,xây dựng nền biên phòng toàn dân vững mạnh, bảo vệ vững chắc CQAN biên giới

và phòng, chống DCTD ở KVBG có hiệu quả

Sau khi có Nghị quyết 8b của BCHTƯ Đảng khoá VI (ngày 27/3/1990) về

“Đổi mới và tăng cường mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân”, Đảng uỷ BĐBP

đã ra Nghị quyết số 73 (ngày 11/6/1990) và Bộ tư lệnh BĐBP ban hành Chỉ thị số

17 (ngày 27/6/1990) về “Tăng cường đổi mới công tác VĐQC xây dựng nền biênphòng toàn dân vững mạnh” Quán triệt và thực hiện tinh thần các Nghị quyết củatrên, Đảng uỷ và chỉ huy BĐBP các tỉnh Tây Nguyên đã kịp thời đề xuất, thammưu với tỉnh uỷ, UBND các tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc xác định phươnghướng, mục tiêu, nội dung cụ thể giúp lãnh đạo các địa phương phối hợp, triểnkhai tổ chức thực hiện các hoạt động VĐQC trong thời kỳ đổi mới Đặc biệt khitình hình an ninh chính trị ở địa bàn biên giới Tây Nguyên có những diễn biếnphức tạp, nổi lên là hoạt động truyền đạo trái phép và kích động, lôi kéo DCTD,vượt biên giới trái phép, Bộ tư lệnh BĐBP đã phối hợp với tỉnh uỷ, UBND của 3tỉnh có biên giới ở Tây Nguyên tổ chức hội nghị “Công tác VĐQC của BĐBPtrên KVBG Tây Nguyên những năm qua” nhằm kiểm điểm, đánh giá những mặtđược và chưa được trong tiến hành công tác VĐQC ở KVBG, tìm ra nguyên nhân

và xác định những phương hướng, giải pháp công tác VĐQC trong giai đoạn hiệnnay Thực hiện các kết luận của hội nghị này, Đảng uỷ và Bộ chỉ huy BĐBP cáctỉnh Tây Nguyên đã nhanh chóng phối hợp với cấp uỷ, chính quyền địa phươngthống nhất các phương án hành động nhằm nâng cao hiệu quả công tác VĐQCtrên KVBG nói chung và VĐQC phòng, chống DCTD nói riêng; các đơn vịBĐBP cũng đã chủ động tham mưu cho cấp uỷ, chính quyền địa phương ra cácnghị quyết, chỉ thị, kế hoạch chỉ đạo các ban, ngành, đoàn thể ở địa phương (nhất

là với các huyện, xã có biên giới) tích cực đẩy mạnh công tác VĐQC phòng,chống DCTD Cho đến đầu năm 2002, cả 3 tỉnh đều đã có nghị quyết chuyên đề

về đấu tranh phòng, chống DCTD Mọi cán bộ, chiến sĩ trong các đơn vị BĐBPcác tỉnh Tây Nguyên đều được học tập quán triệt và có nhận thức đầy đủ về tínhchất phức tạp của vấn đề DCTD ở KVBG cũng như vị trí, tầm quan trọng củacông tác VĐQC phòng, chống DCTD ở KVBG của BĐBP

- Trong những năm qua, công tác VĐQC phòng, chống DCTD của BĐBP các tỉnh Tây Nguyên đã đổi mới về hình thức, phương pháp và tổ chức sử dụng lực lượng đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ đấu tranh phòng, chống DCTD trong tình hình mới.

Từ các tổ, đội công tác đến các đồn biên phòng, các đơn vị cơ động và Đảng

uỷ, Bộ chỉ huy BĐBP các tỉnh đã thường xuyên làm tham mưu cho cấp uỷ, chính

Trang 20

quyền các cấp trên mọi lĩnh vực hoạt động như xây dựng, củng cố cơ sở kinh tế văn hoá - xã hội, tham gia giải quyết các vụ tranh chấp đất đai liên quan đếnDCTD, xây dựng biên giới hoà bình hữu nghị

-BĐBP các tỉnh Tây Nguyên đã chủ động phối hợp, hiệp đồng với các ngành,các lực lượng cùng tham gia VĐQC phòng, chống DCTD ở KVBG; bằng nhữngchủ trương và dự án đầu tư cụ thể, thiết thực gắn với việc bồi dưỡng, hướng dẫntạo điều kiện cho các đoàn thể chính trị xã hội ở địa phương hoạt động đúng chứcnăng, đúng định hướng làm cho công tác tuyên truyền VĐQC phòng, chống DCTD

ở KVBG trở nên đa dạng, phong phú, sâu sắc và hiệu quả

Đồng thời, BĐBP các tỉnh Tây Nguyên gắn chặt giữa việc tập trung lựclượng giải quyết các điểm nóng, nơi có tình hình tranh chấp phức tạp, có dấu hiệuphá hoại của địch với giải quyết những vấn đề thường xuyên Kết hợp giữa xây vàchống, coi trọng xây dựng điển hình tiên tiến, thường xuyên sơ tổng kết rút kinhnghiệm và nhân rộng điển hình, thực hiện khen thưởng và xử phạt kịp thời, nghiêmminh

Hiệu quả công tác VĐQC phòng, chống DCTD ở KVBG của BĐBP trongnhững năm vừa qua được thể hiện trên những mặt sau:

Công tác tuyên truyền vận động đồng bào các dân tộc thiểu số ở KVBG tham gia phòng chống DCTD: ở biên giới các tỉnh Tây Nguyên, vấn đề DCTD

luôn gắn với vấn đề dân tộc và tôn giáo Giải quyết vấn đề này một cách hiệu quảnhất chỉ có thể thông qua tuyên truyền VĐQC nhân dân Những năm qua, BĐBPcác tỉnh Tây Nguyên đã tập trung tuyên truyền cho quần chúng nhân dân ở KVBG

về đường lối, chủ trương, chính sách tôn giáo và chính sách định canh, định cư.Đồng thời cán bộ, chiến sĩ BĐBP còn giúp đồng bào các dân tộc nhận rõ âm mưu,thủ đoạn của kẻ thù cùng với những luận điệu xuyên tạc đường lối, chính sách, kíchđộng lôi kéo, lừa bịp quần chúng nhân dân DCTD của chúng Từ đó nâng cao tinhthần cảnh giác cho quần chúng nhân dân, động viên đồng bào phát hiện, tố cáo cáchành vi chống phá của kẻ địch BĐBP các tỉnh Tây Nguyên đã chủ động phối hợpvới các cơ quan chức năng của tỉnh uỷ và UBND tỉnh mà trước hết là ban Tuyêngiáo tỉnh uỷ biên soạn các tài liệu tuyên truyền cho phù hợp Các đơn vị BĐBP kếthợp chặt chẽ nhiều hình thức tuyên truyền như tổ chức họp dân để tuyên truyền,thông qua các cuộc họp của buôn làng, các buổi sinh hoạt của các đoàn thể quầnchúng hoặc các dịp lễ hội, sinh hoạt văn hoá truyền thống của đồng bào các dân tộc

mà tuyên truyền Qua các hoạt động văn hoá, văn nghệ, tổ chức xem video, xemchương trình thời sự ở những điểm thu được sóng truyền hình, các lớp xoá mù chữ

do BĐBP tổ chức, các hoạt động khám chữa bệnh cho đồng bào trong chương trìnhquân dân y kết hợp và việc triển khai thực hiện các dự án kinh tế - xã hội ở địaphương để phổ biến chủ trương, đường lối chính sách và sự quan tâm của Đảng,

Trang 21

Nhà nước đối với vùng cao biên giới và đồng bào dân tộc thiểu số Các đồn, trạmbiên phòng cũng đã tranh thủ và phát huy tốt vai trò của đội ngũ cán bộ cốt cán ởcác buôn làng, tộc trưởng các dòng họ, tranh thủ các chức sắc tiến bộ trong các tôngiáo để tuyên truyền vận động đồng bào các dân tộc không DCTD.

Quán triệt tư tưởng chủ động tiến công kẻ địch, các đơn vị BĐBP đã thammưu cho địa phương và phối hợp với đội ngũ cán bộ cốt cán ở cơ sở vạch trần bảnchất phản động, lừa bịp của các phần tử xấu Tăng cường lực lượng bám địa bàn,bám đồng bào, tận tình hướng dẫn cho đồng bào cách làm ăn và tổ chức cuộc sốngvăn minh; phổ biến rộng rãi và cùng với địa phương đẩy mạnh cuộc vận động

“toàn dân đoàn kết xây dựng cuộc sống văn hoá” góp phần ổn định và nâng caođời sống mọi mặt của nhân dân Trong những năm qua, BĐBP các tỉnh TâyNguyên đã phối hợp chặt chẽ với địa phương và các ngành, các lực lượng liênquan tổ chức được 824 buổi tuyên truyền tập trung cho 3795 lượt người nghe Kếtquả thăm dò ý kiến ở đơn vị cơ sở cho thấy 120/163 người được hỏi (73,61%) chorằng tổ chức họp dân để tuyên truyền tập trung là hình thức phổ biến và có hiệuquả cao Cùng với hoạt động tuyên truyền tập trung, hình thức tuyên truyền cá biệt

và tuyên truyền lồng ghép đã góp phần nâng cao nhận thức, củng cố niềm tin củađồng bào các dân tộc thiểu số KVBG đối với chủ trương, đường lối của Đảng,chính sách, pháp luật của Nhà nước để đồng bào chủ động, cảnh giác đấu tranh cóhiệu quả với các thủ đoạn xuyên tạc, lừa gạt, kích động DCTD của kẻ địch và cácphần tử xấu

Tham gia xây dựng, củng cố cơ sở chính trị ở các xã biên giới: BĐBP các

tỉnh Tây Nguyên đã thường xuyên nắm vững tình hình mọi mặt ở địa bàn, làmtham mưu cho cấp uỷ, chính quyền địa phương xây dựng, củng cố hệ thống cơ sởchính trị ở các xã biên giới Thực hiện Chỉ thị số 133 của Đảng uỷ Quân sự Trungương, Chỉ thị số 19/CT-TV của Đảng uỷ BĐBP về tăng cường cán bộ cho cơ sở,BĐBP các tỉnh Tây Nguyên đã kịp thời triển khai các tổ, đội công tác thườngxuyên bám địa bàn, bám quần chúng, thực hiện 4 cùng (cùng ăn, cùng ở, cùng làm,cùng nói tiếng dân tộc) với quần chúng nhân dân, làm tốt công tác nắm tình hình

để tham mưu cho địa phương xây dựng, củng cố cơ sở chính trị

Đồng thời Đảng uỷ và bộ chỉ huy BĐBP các tỉnh Tây Nguyên còn lựa chọnnhững cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức tốt, năng lựcchuyên môn giỏi, có hiểu biết sâu sắc về tâm lý, phong tục tập quán các dân tộcthiểu số và có kiến thức toàn diện về kinh tế, chính trị, văn hoá xã hội, quốc phòng,

an ninh để tăng cường cho các xã biên giới Tính đến tháng 3 năm 2001, BĐBP cáctỉnh Tây Nguyên đã lựa chọn và bố trí được 24 sĩ quan và QNCN xuống 24 xã biêngiới Trong số 24 cán bộ BĐBP tăng cường cho các xã biên giới, đã có 7 đồng chíđược bầu vào UBND xã, 3 đồng chí tham gia HĐND xã và đều hoàn thành tốtnhiệm vụ Thông qua việc trực tiếp ăn ở, sinh hoạt, lao động sản xuất và giải quyết

Trang 22

công việc cùng với nhân dân và cán bộ cơ sở, đội ngũ cán bộ BĐBP tăng cường chocác xã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ cán bộ cơ sở nâng cao kiến thức và năng lựchoạt động thực tiễn Khi được hỏi về tác dụng của việc tăng cường cán bộ xuốngcùng tham gia với cấp uỷ, chính quyền địa phương giải quyết các công việc, đa số ýkiến (156/163 người = 95%) cho rằng đây là việc làm cần thiết, phù hợp với địa bànbiên giới Tây Nguyên và có tác dụng rất tốt đối với hoạt động của BĐBP nói chung

và với công tác VĐQC phòng, chống DCTD ở KVBG nói riêng

BĐBP Tây Nguyên đã chú trọng tham gia xây dựng tổ chức bộ máy và độingũ cán bộ chủ chốt, nâng cao chất lượng hoạt động của các cấp uỷ đảng, HĐND,UBND, xây dựng và củng cố lực lượng công an, dân quân xã vững mạnh Đồngthời chăm lo xây dựng, củng cố các tổ chức chính trị, xã hội của quần chúng, đẩymạnh xây dựng, củng cố tổ chức, vận động phát triển đoàn viên, hội viên ở cácbuôn làng và giúp đỡ, hỗ trợ các tổ, nhóm, chi hội, chi đoàn của các đoàn thể quầnchúng nâng cao chất lượng hoạt động, mang lại lợi ích thiết thực cho hội viên,đoàn viên cả về vật chất và tinh thần Theo thống kê, các đơn vị BĐBP TâyNguyên đã tham mưu cho cấp uỷ, chính quyền địa phương củng cố, kiện toàn 13lượt đảng bộ, 84 chi bộ, 22 chi đoàn thanh niên, 36 chi hội phụ nữ, 11 trung độidân quân, 17 ban công an xã, 121 tổ an ninh nhân dân; phát hiện và bồi dưỡng 45thanh niên ưu tú là con em đồng bào các dân tộc thiểu số giới thiệu với địa phươngtheo dõi, tạo nguồn kết nạp vào đảng và bố trí vào các cương vị quản lý, lãnh đạo ởcác buôn làng, xã biên giới [45] Đây thực sự là biện pháp tích cực, chủ động và cóhiệu quả để thu hút tập hợp quần chúng chống lại sự kích động, lôi kéo của kẻ địch

và củng cố mối quan hệ gắn bó giữa BĐBP với cấp uỷ, chính quyền và nhân dânKVBG Khi đánh giá về quan hệ giữa các đơn vị BĐBP với địa phương, 163/163người được hỏi = 100% thống nhất đánh giá ở mức rất tốt

Không chỉ chú trọng vào việc tham gia xây dựng, củng cố cơ sở chính trị ởcác xã biên giới, các đơn vị BĐBP Tây Nguyên còn thường xuyên coi trọng bồidưỡng lực lượng cốt cán trong đồng bào các dân tộc thiểu số, đó là những già làng,tộc trưởng các dòng họ, trưởng buôn, trưởng làng và các chức sắc tiến bộ trong cáctôn giáo Trong những năm qua, 100% các đồn biên phòng Tây Nguyên thườngxuyên duy trì chế độ tổ chức gặp mặt, tặng quà nhân các dịp lễ tết, trao đổi tìnhhình với các già làng và những người có uy tín trong địa bàn đồn phụ trách; Bộ chỉhuy BĐBP các tỉnh định kỳ tổ chức hội nghị biểu dương công lao các già làng, tộctrưởng, trưởng các buôn làng và các chức sắc tiến bộ trong các tôn giáo, nhữngngười có thành tích trong tham gia bảo vệ CQAN biên giới và trong tuyên truyềnVĐQC nhân dân phòng, chống DCTD Nhờ tranh thủ được sự ủng hộ và giúp đỡcủa lực lượng này, nên công tác VĐQC nhân dân thực hiện đường lối, chủ trương,chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước, tham gia bảo vệ CQAN biên giới,phòng, chống DCTD ở KVBG đạt hiệu quả ngày càng cao

Trang 23

Coi trọng tham gia xây dựng, củng cố hệ thống cơ sở chính trị ở các xã biêngiới vững mạnh gắn với việc phát huy vai trò to lớn của các đoàn thể quần chúngnhân dân và đội ngũ cốt cán ở các buôn làng biên giới, BĐBP các tỉnh Tây Nguyên

đã góp phần tích cực vào xây dựng thế trận biên phòng vững mạnh, làm cơ sởvững chắc bảo đảm cho việc tiến hành công tác VĐQC phòng, chống DCTD ởKVBG đạt hiệu quả

Tham gia phát triển kinh tế - văn hoá - xã hội ở KVBG Tây Nguyên.

Quán triệt các chỉ thị, nghị quyết của Đảng và Chính phủ về phát triển kinh

tế - xã hội miền núi, về xoá đói giảm nghèo, về xây dựng và phát triển kinh tế - xãhội, củng cố quốc phòng - an ninh ở các xã, phường biên giới, hải đảo và thực hiệnChỉ thị số 31/CT-BTL ngày 28/5/2000 của Bộ tư lệnh BĐBP về “Tăng cường thamgia các chương trình kinh tế - văn hoá - xã hội ở các xã, phường biên giới, hảiđảo”, BĐBP các tỉnh Tây Nguyên xác định trách nhiệm, xây dựng chương trình kếhoạch, triển khai tổ chức thực hiện có hiệu quả việc tham gia xây dựng, phát triểnkinh tế - văn hoá - xã hội trên địa bàn biên giới

BĐBP các tỉnh Tây Nguyên đã bám sát địa bàn, khảo sát nắm vững tình hìnhkinh tế, đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số ở các buôn làng, xã, huyện biêngiới Tích cực, chủ động tham mưu, đề xuất với địa phương và trực tiếp tham giathực hiện các dự án xây dựng, phát triển kinh tế - văn hoá - xã hội ở những địa bànđặc biệt khó khăn, cơ sở hạ tầng kém phát triển, trình độ dân trí thấp, tỷ lệ đóinghèo cao bước đầu thu được những kết quả rất quan trọng BĐBP các tỉnh TâyNguyên còn tự mình đảm nhiệm nhiều dự án xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triểnkinh tế, xã hội trên biên giới Riêng số dự án do BĐBP các tỉnh Tây Nguyên đảmnhiệm làm chủ đầu tư đã có giá trị hơn 20 tỷ đồng Điển hình là dự án xây dựngthuỷ điện, các công trình thuỷ lợi, cung cấp nước sạch cho nhân dân và phát triểnchăn nuôi do BĐBP tỉnh Gia Lai đảm nhiệm có tổng số vốn lên đến 8,3 tỷ đồng.BĐBP tỉnh Kon Tum thực hiện tốt dự án định canh, định cư cho 73 hộ/385 khẩuđồng bào dân tộc Brâu và 78 hộ/335 khẩu đồng bào dân tộc Rơmăm là những dântộc thiểu số đặc biệt khó khăn Đồn biên phòng 717 Gia Lai đã đảm nhận xây dựngmột công trình thuỷ lợi, 5 phòng học, khai hoang 30 ha ruộng nước, hướng dẫn chođồng bào hình thành thói quen trồng lúa nước BĐBP đã góp phần ổn định cuộcsống, ổn định sản xuất cho đồng bào các dân tộc ở biên giới, khắc phục được tìnhtrạng du canh, du cư dẫn tới DCTD, giải quyết được tình trạng thiếu đói từ 3-6tháng hàng năm của khoảng 70% số hộ dân trong địa bàn biên giới Đồng thời cácđơn vị BĐBP Tây Nguyên còn giúp nhân dân trong địa bàn 2467 ngày công laođộng sản xuất, quyên góp ủng hộ 13.415 kg gạo, tiền và đồ dùng sinh hoạt trị giá249,9 triệu đồng cho đồng bào các dân tộc

Trang 24

Để nâng cao dân trí, BĐBP các tỉnh Tây Nguyên đã triển khai thực hiện rấttốt chương trình xoá mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học ở KVBG Trong nhữngnăm qua, các đơn vị BĐBP Tây Nguyên đã tích cực vận động và trực tiếp giảngdạy cho 174 lớp xoá mù chữ với 4.035 học sinh, 93 lớp phổ cập giáo dục tiểu họccho 2.355 học viên trong đó có nhiều học viên là cán bộ chủ chốt của các xã, buônlàng biên giới BĐBP các tỉnh Tây Nguyên còn vận động được 43.167 em học sinhtrong độ tuổi đến trường, ủng hộ 358 bộ bàn ghế cho các nhà trường và hỗ trợdụng cụ học tập trị giá hơn 100 triệu đồng cho con em gia đình chính sách và họcsinh nghèo vượt khó Hoạt động mạnh và có hiệu quả nhất trong chương trình này

là BĐBP tỉnh Kon Tum đã tổ chức được 226 lớp xoá mù chữ và phổ cập giáo dụctiểu học, bồi dưỡng được đội ngũ “Thầy giáo quân hàm xanh” gồm 82 cán bộ chiến

sĩ thường xuyên trực tiếp giảng dạy trên lớp, quyên góp ủng hộ 221 bộ bàn ghế, 48bảng đen và đồ dùng học tập cho học sinh nghèo trị giá hơn 14 triệu đồng Các đơn

vị BĐBP tỉnh Đắc Lắc trong 5 năm qua cũng đã trích quỹ tăng gia sản xuất của đơn

vị để tặng các nhà trường và hỗ trợ học sinh nghèo số tiền lên đến 180 triệu đồng

Thực hiện chương trình phối hợp với Bộ Văn hoá - Thông tin, các tổ, độituyên truyền văn hoá của BĐBP các tỉnh Tây Nguyên đã tổ chức gần 200 buổituyên truyền chính sách, pháp luật kết hợp với biểu diễn văn hoá, văn nghệ với hơn25.000 lượt người tham gia Các đơn vị còn phối hợp với cơ quan chức năng lắpđặt 15 ăngten parabon để đáp ứng nhu cầu xem truyền hình của cán bộ, chiến sĩ vàđồng bào các dân tộc vùng cao, vùng sâu và phối hợp với cơ quan văn hoá - thôngtin các xã, huyện biên giới khôi phục được 40 đội văn hoá cồng chiêng Đây lànguồn vốn rất quý về văn hoá truyền thống cần được bảo tồn và phát triển Lựclượng này đã hoạt động rất có hiệu quả phục vụ nhu cầu thưởng thức văn hoátruyền thống của các tầng lớp nhân dân, đặc biệt trong các dịp lễ, tết cổ truyền củađồng bào dân tộc

Với chương trình quân dân y kết hợp, các đơn vị BĐBP Tây Nguyên đãthường xuyên cùng cơ quan chuyên môn cấp trên tăng cường đủ số lượng quân ycho các đồn biên phòng để góp phần xây dựng, củng cố mạng lưới y tế ở cơ sở.Quân y các đồn biên phòng đã tiến hành khám và điều trị cho 9073 lượt người dân,điều trị miễn phí cho bệnh nhân là đồng bào ở địa bàn biên giới trị giá hàng trămtriệu đồng; tham gia cùng y tế tuyến cơ sở tiêm chủng mở rộng cho hàng chụcngàn lượt người và vận động được hàng trăm phụ nữ dân tộc thiểu số thực hiện kếhoạch hoá gia đình Quân y các đơn vị BĐBP còn phối hợp với địa phương pháthiện và dập tắt kịp thời nhiều đợt dịch bệnh nguy hiểm, hướng dẫn cho đồng bàocách thức sinh hoạt, ăn ở hợp vệ sinh, khi ốm đau phải đến các cơ sở y tế để khámchữa bệnh

Việc tham gia chương trình xây dựng và phát triển văn hoá xã hội của cácđơn vị BĐBP Tây Nguyên đã góp phần to lớn vào việc nâng cao dân trí, ổn định và

Trang 25

nâng cao đời sống mọi mặt cho đồng bào các dân tộc thiểu số ở KVBG, tạo cơ sởvững chắc để đồng bào hiểu và tin tưởng vào chủ trương, đường lối, chính sáchcủa Đảng, pháp luật của Nhà nước, tin tưởng vào cấp uỷ, chính quyền địa phương

và BĐBP Đó chính là động lực thúc đẩy phong trào quần chúng tham gia bảo vệCQAN biên giới phát triển mạnh, là một trong những nhân tố có ý nghĩa quyếtđịnh hiệu quả của công tác VĐQC phòng chống DCTD ở KVBG

Vận động tổ chức phong trào quần chúng tham gia bảo vệ CQAN biên giới và phòng, chống DCTD: bảo vệ CQAN biên giới là nhiệm vụ của các cấp, các ngành,

các lực lượng và mọi công dân, trong đó BĐBP là lực lượng nòng cốt, chuyên trách.Nhận thức sâu sắc vấn đề này, trong những năm qua BĐBP các tỉnh Tây Nguyên đãhuy động và tổ chức cho đồng bào tích cực tham gia các chương trình xây dựng khuvực phòng thủ, phát quang đường biên giới, phối hợp với BĐBP tuần tra canh gác bảo

vệ buôn làng, bảo vệ CQAN biên giới

Nhờ tổ chức phát động tốt phong trào quần chúng tham gia bảo vệ CQANbiên giới và phòng, chống DCTD nên trong những năm qua, quần chúng nhân dân ởcác buôn làng biên giới đã trực tiếp cung cấp cho BĐBP hàng trăm nguồn tin có giátrị phục vụ cho công tác nghiệp vụ Lực lượng dân quân và công an địa phươngthường xuyên phối hợp với các đơn vị BĐBP tuần tra, kiểm soát bảo vệ biên giới;cùng với BĐBP phát hiện và xử lý hàng trăm vụ vi phạm quy chế biên giới với hàngngàn đối tượng, tham gia tích cực đấu tranh chống xâm canh, xâm cư và xâm nhậptrái phép Đồng bào các dân tộc và LLVT địa phương cũng phối hợp chặt chẽ vớiBĐBP trong đấu tranh phòng, chống các loại tội phạm hình sự trên biên giới, vậnđộng nhân dân tự giác thu nộp 65 khẩu súng và nhiều lựu đạn, chất cháy nổ

Đặc biệt sau vụ bạo loạn chính trị ở Tây Nguyên (tháng 2/2001) tình hìnhvượt biên giới trái phép sang Campuchia có những diễn biến ngày càng phức tạp

do sự kích động, lừa gạt của kẻ địch Quần chúng nhân dân đã phát hiện, cung cấpthông tin giúp các đồn biên phòng bắt giữ được 10 vụ với 46 đối tượng là ngườiViệt Nam vượt biên giới trái phép sang Campuchia Nhờ làm tốt công tác tuyêntruyền vận động, tổ chức phát động phong trào quần chúng bảo vệ CQAN biên giới

và phòng, chống DCTD nên trong khi bạo loạn chính trị xảy ra ở nhiều huyện, thịcủa Tây Nguyên thì ở 24/24 xã biên giới của 3 tỉnh vẫn giữ được ổn định chính trị,hầu như không có quần chúng nhân dân tham gia

Công tác VĐQC trực tiếp tham gia giải quyết các vụ DCTD ở KVBG Tây Nguyên: chấp hành ý kiến chỉ đạo của Đảng uỷ và Bộ tư lệnh BĐBP về việc tăng

cường lực lượng, kết hợp đồng bộ nhiều biện pháp công tác nhằm phòng ngừa vàđấu tranh ngăn chặn có hiệu quả hiện tượng DCTD ở KVBG, BĐBP các tỉnh TâyNguyên đã kịp thời triển khai lực lượng tăng cường cho các địa bàn trọng điểm,phức tạp về chính trị và có biểu hiện DCTD, nhanh chóng nắm tình hình và xử lý

Trang 26

các thông tin có liên quan để tham mưu cho địa phương chủ động giải quyết Dochủ động và thường xuyên bám nắm địa bàn, nắm quần chúng nên BĐBP các tỉnhTây Nguyên đã kịp thời nắm vững tình hình Đẩy mạnh các hoạt động tuyêntruyền, giáo dục, vận động, chủ động phối hợp giữa công tác VĐQC với các biệnpháp nghiệp vụ biên phòng để phòng ngừa và ngăn chặn; mặt khác tích cực làmtham mưu cho cấp uỷ, chính quyền địa phương, phối hợp chặt chẽ với các ngành,các lực lượng giải quyết có hiệu quả các vụ DCTD Trong những năm qua, các đơn

vị BĐBP Tây Nguyên đã tham gia cùng với địa phương giải quyết ổn định cuộcsống cho 580 hộ = 2.005 khẩu DCTD đến khu KVBG (số này chủ yếu là đồng bàocác dân tộc thiểu số ở các tỉnh phía Bắc di cư vào) Các đơn vị BĐBP ở những khuvực có người di cư đến đã kết hợp với địa phương vận động được 271 hộ với 1.212khẩu quay trở về quê cũ làm ăn BĐBP tỉnh Đắc Lắc đã vận động và phối hợp vớiBinh đoàn 16 đưa được 81 hộ = 359 khẩu là đồng bào dân tộc H’Mông từ các tỉnhLai Châu và Sơn La di cư đến vào các đội sản xuất của Binh đoàn BĐBP tỉnh KonTum đã tuyên truyền, vận động và phối hợp với các cơ quan chức năng của tỉnh làmviệc với chính quyền tỉnh Atôpư của nước bạn Lào đưa được 81 hộ = 416 khẩungười Lào vượt biên giới trái phép quay trở lại nước Lào và hiện nay vẫn tiếp tụcvận động để đưa số còn lại về nước theo thoả thuận giữa hai Chính phủ Các đồnbiên phòng tỉnh Kon Tum cũng đã tham mưu cho cấp uỷ, chính quyền địa phươngsắp xếp, ổn định nơi ở, đất sản xuất và xây dựng cơ sở chính trị của 4 làng kinh tếmới từ Quảng Nam di cư đến nhằm tạo điều kiện cho nhân dân yên tâm sản xuất,không tự ý bỏ đi nơi khác BĐBP tỉnh Gia Lai cũng tích cực tham mưu cho cấp uỷ,chính quyền địa phương sắp xếp cho 18 hộ = 45 khẩu là đồng bào dân tộc Gia Rai ởnội địa DCTD đến KVBG vào chỗ ở mới có sẵn đất canh tác để ổn định cuộc sống

Trong quá trình trực tiếp tham gia giải quyết các vụ DCTD, các đơn vịBĐBP Tây Nguyên đã chủ động tham mưu và phối hợp chặt chẽ với địa phương;coi trọng các hoạt động tuyên truyền, giáo dục, thuyết phục làm cho những người

từ nơi khác đến cũng như quần chúng nhân dân trong địa bàn thông hiểu chủtrương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước để tự giác chấphành Các vụ DCTD ở KVBG các tỉnh Tây Nguyên hầu như được giải quyết kịpthời, dứt điểm (đặc biệt những vụ DCTD có gắn với hoạt động truyền đạo Tin lànhtrái phép) không để kéo dài phức tạp, không sơ hở để kẻ địch có cớ lợi dụng, kíchđộng quần chúng nhân dân Sau khi giải quyết xong một vụ DCTD phức tạp, cácđơn vị đều tổ chức rút kinh nghiệm, đánh giá những mặt được và chưa được để làm

cơ sở cho các đợt công tác tiếp sau được thực hiện hiệu quả hơn

Trang 27

pháp hành chính hoặc nghiệp vụ đơn thuần Khi được hỏi đơn vị đồng chí sử dụnghình thức, biện pháp nào để phòng, chống DCTD, vẫn có 43/163 người (26,35%)cho rằng phải sử dụng LLVT để ngăn chặn và đẩy đuổi Trong quá trình thực hiệncông tác VĐQC thì nội dung, hình thức tuyên truyền vận động còn đơn điệu, chưathực sự nắm bắt tâm tư, nguyện vọng, tình cảm của quần chúng để giải quyết thoảđáng nên hiệu quả tuyên truyền vận động chưa cao Nghị quyết Đại hội Đảng bộBĐBP lần thứ XI chỉ rõ: “Nhận thức của một số cấp uỷ, chỉ huy về nhiệm vụ xâydựng cơ sở chính trị tham gia phát triển kinh tế - xã hội chưa sâu, chưa thấy hết yêucầu mới Tổ chức thực hiện còn thiếu chủ động, tích cực, hiệu quả chưa cao, VĐQCchống bạo loạn, chống truyền đạo trái phép, DCTD hiệu quả còn thấp”[6, 61].

Do nhận thức về vai trò công tác VĐQC phòng, chống DCTD ở KVBGchưa đầy đủ nên khi hỏi mục đích của công tác VĐQC phòng, chống DCTD, vẫncòn một bộ phận cán bộ, chiến sĩ ở các đồn biên phòng trả lời là để củng cố mốiquan hệ giữa BĐBP với địa phương (52 /163 người = 32,4 %); khi được hỏi về chủthể tiến hành công tác VĐQC phòng, chống DCTD ở KVBG gồm những ai, cómột số cán bộ, chiến sĩ trả lời đó là Ban VĐQC của phòng chính trị của BĐBP tỉnh

và lực lượng VĐQC chuyên trách của đồn, số này có 24/163 người (14,72%) haymột bộ phận khác (17/163 người = 10,42%) trả lời đó là việc của cấp uỷ, chínhquyền địa phương Qua số liệu điều tra cho thấy công tác giáo dục, nâng cao nhậnthức cho bộ đội về tính chất phức tạp của vấn đề DCTD và sự khó khăn của côngtác VĐQC phòng, chống DCTD ở KVBG còn có nơi làm chưa thật tốt

- Một bộ phận cán bộ, chiến sĩ chưa tích cực học tập, rèn luyện, nhất là họctập lý luận chính trị nên phẩm chất lối sống cũng như năng lực công tác chuyên mônkhông cao Có trường hợp do không chịu rèn luyện, thiếu hiểu biết về truyền thống,phong tục tập quán của đồng bào dân tộc thiểu số nên trong quá trình thực hiệnnhiệm vụ tuyên truyền VĐQC ở địa bàn còn sơ hở, mất cảnh giác dẫn đến vi phạm

kỷ luật quân đội và kỷ luật dân vận Trong hoạt động tuyên truyền vẫn còn biểu hiệnlàm qua loa đại khái, không thực hiện đúng, đủ chức trách nhiệm vụ của người cán

bộ làm công tác VĐQC, gây ảnh hưởng không tốt đến hiệu quả công tác VĐQCphòng, chống DCTD ở KVBG

Mặt khác, có một số cán bộ, chiến sĩ do nhận thức chính trị - xã hội hạn chếnên không đủ khả năng, trình độ để lý giải những hiện tượng thông thường trongcuộc sống; không đủ cơ sở khoa học để đập lại những luận điệu phản tuyên truyềncủa kẻ địch và phần tử xấu Trong đấu tranh chống các hiện tượng tiêu cực còn hạnchế, việc phân định đúng sai, tốt xấu trong các hiện tượng xã hội phức tạp chưa rõràng làm ảnh hưởng xấu đến lòng tin của quần chúng nhân dân đối với bộ đội CụHồ

Trang 28

- Công tác điều tra cơ bản về tình hình kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội ởđịa bàn của một số đồn biên phòng chưa mang tính hệ thống, thiếu chiều sâu,chưa toàn diện gây khó khăn cho công tác tổng hợp, phân tích đánh giá tìnhhình; nắm và quản lý hoạt động của các loại đối tượng liên quan đến DCTD ởKVBG không đầy đủ nên có nơi DCTD xảy ra rồi mới bị động đối phó.

Cấp uỷ, chỉ huy một số đồn biên phòng chưa quan tâm chuẩn bị cho bộ độitrước khi xuống địa bàn làm nhiệm vụ VĐQC; khi được hỏi trước khi đội công tácVĐQC xuống địa bàn làm nhiệm vụ, chỉ huy đồn thường tiến hành những nội dungnào; phần lớn ý kiến (142/163 người = 87,11%) xác nhận chỉ huy đồn biên phòngthường quán triệt mục đích, ý nghĩa của đợt công tác, phổ biến các quy định trongquan hệ quân dân, quán triệt tình hình địa bàn và đối tượng cho đội công tác Tuynhiên vẫn còn một bộ phận khẳng định chỉ huy đồn không làm gì trước khi độicông tác xuống địa bàn (21/163 người = 12,88%) Điều đó cũng gây nên ảnhhưởng không tốt tới hiệu quả công tác VĐQC phòng, chống DCTD

- Trong quá trình tiến hành công tác VĐQC phòng, chống DCTD ở KVBG,các đơn vị BĐBP Tây Nguyên chưa thực sự kết hợp đồng bộ các biện pháp nghiệp

vụ biên phòng; chưa phát huy hết sức mạnh tổng hợp của các lực lượng, các ngành,các đoàn thể ở KVBG cũng như khu vực nội địa vào các hoạt động tuyên truyền,giáo dục VĐQC phòng, chống DCTD ở KVBG; chưa xây dựng được cơ chế phốihợp, hiệp đồng trong luyện tập và thực hiện các phương án đối phó Khi có những

vụ việc phức tạp còn bị động, lúng túng trong xử lý, giải quyết chưa thật gọn, hiệuquả thấp

- Việc tham gia thực hiện các chương trình xây dựng, phát triển kinh tế - xãhội trên địa bàn biên giới chưa thật sự tích cực và thiếu đồng bộ Ở các đơn vị còn

có nhận thức, cách làm khác nhau dẫn đến kết quả tham gia thực hiện chương trìnhcòn hạn chế, chưa mang lại lợi ích thiết thực cho nhân dân địa phương làm hạn chếđến kết quả công tác tuyên truyền vận động, tổ chức phong trào quần chúng thamgia bảo vệ CQAN biên giới và phòng, chống DCTD Cá biệt, có đơn vị do trình độquản lý yếu kém dẫn đến hậu quả là công trình đã xây dựng xong nhưng không sửdụng được hoặc hiệu quả kinh tế thấp; gây nên thiệt hại về vật chất và dư luận xấutrong nhân dân

- Chưa có sự chỉ đạo chung thống nhất về các hoạt động phòng, chống

DCTD ở KVBG giữa BĐBP các tỉnh trong khu vực Khi có DCTD xảy ra trong

địa bàn phụ trách, các đơn vị chưa kịp thời báo cáo cấp trên để xin ý kiến chỉ đạo.Một số đơn vị coi DCTD là công việc của địa phương nên chỉ báo cáo cấp uỷ,chính quyền địa phương và giải quyết vụ việc theo quan điểm của địa phương.Điều này gây ra sự khác nhau trong biện pháp xử lý giữa các đơn vị và ảnh hưởngđến hiệu quả đấu tranh phòng, chống DCTD trên toàn tuyến Việc sơ, tổng kết

Trang 29

công tác VĐQC phòng, chống DCTD chưa được tiến hành một cách thường xuyên

để rút kinh nghiệm trong lãnh đạo, chỉ đạo và thực hiện Những mô hình và kinhnghiệm hay chưa được nghiên cứu chu đáo và nhân rộng ra trong phạm vi toàntuyến để góp phần nâng cao hiệu quả công tác VĐQC phòng, chống DCTD ởKVBG các tỉnh Tây Nguyên

- Trong xây dựng, bồi dưỡng đội ngũ chuyên trách VĐQC và lực lượngtăng cường ở các xã biên giới còn thiếu tích cực chủ động; phần lớn các đơn vịđều trông chờ vào hướng dẫn của cấp trên Nội dung, hình thức bồi dưỡng thiếutính sáng tạo, thường lặp lại những nội dung đã bồi dưỡng của năm trước nênchưa tạo được sự đổi mới đáng kể trong mặt hoạt động này Vấn đề tạo nguồnđội ngũ cán bộ VĐQC là người dân tộc thiểu số còn hạn chế nên nhìn chung ở

cả 3 tỉnh, lực lượng này quá mỏng chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ

Ở một số đồn biên phòng, số lượng và chất lượng đội ngũ chuyên tráchVĐQC chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong thời kỳ mới Hình htức, phương pháptuyên truyền vận động nhân dân chậm đổi mới; việc tranh thủ và phát huy vai tròđội ngũ cốt cán ở cơ sở, các già làng, tộc trưởng và những chức sắc tiến bộ trongcác tôn giáo vào công tác VĐQC phòng, chống DCTD mặc dù đã có chủ trương từtrên xuống nhưng ở các đơn vị cơ sở do trình độ có hạn, kinh nghiệm vận động còn

ít nên hiệu quả công tác chưa cao

- Đội ngũ cán bộ chính trị nói chung và phó đồn trưởng chính trị các đồnbiên phòng trên tuyến biên giới Tây Nguyên “phần lớn chưa được đào tạo chuyênsâu về nghiệp vụ CTĐ,CTCT nên chất lượng công tác còn hạn chế”[19,10] Về sốlượng đã từng bước được kiện toàn, bố trí 2 phó đồn trưởng về chính trị nhưng dophân công nhiệm vụ chưa rõ nên vẫn còn hiện tượng chồng chéo, có nơi không bốtrí được phó đồn trưởng chuyên trách chỉ đạo công tác VĐQC Về chất lượng củađội ngũ này mặc dù đã có được nâng lên đáng kể nhưng so với yêu cầu nhiệm vụvẫn còn bất cập cả về trình độ nhận thức và phương pháp, tác phong công tác Khảnăng dự báo, nhận định đánh giá tình hình về âm mưu, thủ đoạn của kẻ địch thựchiện “DBHB”, bạo loạn lật đổ và lợi dụng vấn đề DCTD để kích động nhân dânvượt biên giới trái phép chưa kịp thời, thiếu nhạy bén về chính trị nên nhiều lúccòn bất ngờ, lúng túng trước những diễn biến phức tạp của tình hình Có phó đồntrưởng về chính trị do bản lĩnh chính trị và nhận thức lý luận thấp kém dẫn đếnthiếu tinh thần trách nhiệm, vi phạm kỷ luật trong chỉ đạo VĐQC phòng, chốngDCTD, gây nên những sơ hở đáng tiếc để kẻ địch và phần tử xấu lợi dung tung tin,kích động đồng bào dân tộc thiểu số ở KVBG DCTD và vượt biên trái phép sangCampuchia

1.2.2 Nguyên nhân và một số kinh nghiệm công tác vận động quần chúng phòng, chống di cư tự do của bộ đội biên phòng các tỉnh Tây Nguyên

Trang 30

* Nguyên nhân ưu điểm:

Nguyên nhân khách quan

Một là, Đảng và Nhà nước ta luôn trung thành và vận dụng đúng đắn, sáng

tạo các quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về công tácquần chúng Đề ra chủ trương, chính sách đúng đắn, kịp thời chỉ đạo công tácVĐQC

Công tác VĐQC là một mặt hoạt động quan trọng của Đảng, Nhà nướcnhằm xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân Trong suốt tiến trình lãnh đạo cáchmạng, Đảng ta luôn trung thành và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tưtưởng Hồ Chí Minh về công tác quần chúng; đề ra đường lối, chủ trương đúng đắn,kịp thời lãnh đạo công tác VĐQC nhân dân Từng bước nâng cao giác ngộ chính trịcho quần chúng, tập hợp và hướng dẫn quần chúng đấu tranh giành thắng lợi chocách mạng

Hai là, nhân dân Việt Nam nói chung và đặc biệt là đồng bào các dân tộc

thiểu số Tây Nguyên vốn có truyền thống yêu nước, đoàn kết xung quanh Đảng đểxây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Nhân dân ta có lòng nồng nàn yêu nước, đó là truyền thống quý báu của dântộc, đồng bào ta dù đa số hay thiểu số, miền xuôi hay miền ngược từ khi có Đảngđều một lòng theo Đảng để làm cách mạng Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ

Tổ quốc hiện nay, đồng bào các dân tộc thiểu số Tây Nguyên vẫn trung thành vớiĐảng, với sự nghiệp cách mạng Tích cực giúp đỡ BĐBP trong bảo vệ CQAN biêngiới và phòng, chống DCTD

Nguyên nhân chủ quan

Một là, lãnh đạo, chỉ huy các cấp từ tỉnh đến cơ sở và cán bộ, chiến sĩ trong

tỉnh đã chủ động nghiên cứu nắm vững và thực hiện sáng tạo quan điểm tư tưởngcủa Đảng vào công tác biên phòng và hoạt động của BĐBP trong thực hiện chứcnăng làm nòng cốt, quản lý, bảo vệ CQAN biên giới

Nhận thức rõ vai trò công tác VĐQC phòng, chống DCTD ở KVBG, BĐBPcác tỉnh Tây Nguyên luôn nghiên cứu nắm vững và thực hiện sáng tạo các quanđiểm của Đảng trong công tác biên phòng Nhờ vậy, trong quản lý, bảo vệ CQANbiên giới nói chung và VĐQC phòng, chống DCTD ở KVBG nói riêng thời gian quađạt được nhiều kết quả quan trọng

Hai là, đã chỉ đạo và thực hiện tốt các nội dung, hình thức, phương pháp

VĐQC nhân dân tham gia bảo vệ an ninh chính trị, trật tự xã hội trong KVBG vàothực hiện công tác VĐQC phòng, chống DCTD với nhiều hình thức, cách làm sángtạo, phù hợp với tình hình thực tế Đây là nguyên nhân trực tiếp để công tác VĐQC

Trang 31

phòng, chống DCTD ở KVBG của BĐBP các tỉnh Tây Nguyên đạt hiệu quả Trên

cơ sở nắm vững tình hình mọi mặt và chỉ thị, nghị quyết của cấp trên, các đơn vịBĐBP Tây Nguyên vận dụng nhiều hình thức, cách làm sáng tạo, phù hợp đưa lạihiệu quả cao trong công tác VĐQC phòng, chống DCTD

Ba là, luôn chú trọng xây dựng, củng cố mối quan hệ phối hợp công tác với

cấp uỷ, chính quyền địa phương và các lực lượng trong KVBG vì mục đích giữvững độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia và phòng ngừa, ngăn chặnDCTD ở KVBG

Công tác VĐQC phòng, chống DCTD ở KVBG là nhiệm vụ của nhiều cấp,nhiều ngành, nhiều đoàn thể BĐBP các tỉnh Tây Nguyên đã thường xuyên chú ýxây dựng mối quan hệ phối hợp, hiệp đồng với địa phương và các lực lượng trênđịa bàn, tạo nên sức mạnh tổng hợp để VĐQC phòng, chống DCTD

Bốn là, xây dựng, bồi dưỡng được đội ngũ chuyên trách VĐQC bước đầu

đáp ứng được yêu cầu của nhiệm vụ VĐQC phòng, chống DCTD; có tình cảm và ýthức trách nhiệm cao đối với đồng bào các dân tộc thiểu số ở biên giới, thực hiện

“đồn là nhà, biên giới là quê hương, đồng bào các dân tộc là anh em ruột thịt”

Đội ngũ chuyên trách VĐQC là nòng cốt trong VĐQC phòng, chống DCTD

ở KVBG Nhờ thường xuyên được chăm lo xây dựng, bồi dưỡng nên bước đầu độingũ này đã phát huy tác dụng tốt, góp phần đưa công tác VĐQC phòng, chốngDCTD đạt hiệu quả

* Nguyên nhân hạn chế

Nguyên nhân khách quan

Một là, việc đầu tư phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước giành cho Tây

Nguyên còn ít, triển khai thực hiện chậm và hiệu quả chưa cao Đây là nguyênnhân quan trọng dẫn đến tình trạng đời sống đồng bào các dân tộc thiểu số KVBGvẫn khó khăn, gây nên tâm lý muốn tìm đến vùng đất mới để có cuộc sống kháhơn Vấn đề này cùng với tập quán sống du canh, du cư của đồng bào dân tộc thiểu

số làm cho DCTD trở thành một hiện tượng xã hội lâu dài, khó chấm dứt

Hai là, các thế lực thù địch đứng đầu là Mỹ luôn kích động, lôi kéo

DCTD để phục vụ cho ý đồ chính trị phản động Đế quốc Mỹ chưa từ bỏ mụctiêu chống phá cách mạng nước ta; chúng coi Tây Nguyên là địa bàn chiến lượcnên tìm mọi cách cấu kết với bọn phản động trong nước và bọn phản động lưuvong để thực hiện chiến lược “DBHB” ở Tây Nguyên Chúng coi DCTD là biệnpháp quan trọng để gây mất ổn định nên thường xuyên lôi kéo, kích động tạonên làn sóng DCTD và vượt biên giới trái phép Nguyên nhân này ảnh hưởng rấtlớn đến hiệu quả VĐQC phòng, chống DCTD ở KVBG Tây Nguyên

Trang 32

Ba là, sự chỉ đạo của cơ quan chức năng và các ngành các cấp trong hệ

thống chính trị đối với công tác VĐQC phòng, chống DCTD ở KVBG chưa kịpthời, chưa thống nhất Biện pháp giải quyết thiếu đồng bộ, thiếu nhất quán Chưaxây dựng được quy chế hoạt động để xác định rõ trách nhiệm của từng ngành, từngcấp, từng lực lượng trong phòng ngừa, ngăn chặn và giải quyết các vụ DCTD ởbiên giới Vấn đề bảo đảm kinh phí hoạt động, chế độ đãi ngộ đối với lực lượngchuyên trách VĐQC chưa thoả đáng, chưa rõ ràng cũng ảnh hưởng đến hiệu quảcông tác VĐQC phòng, chống DCTD ở KVBG của BĐBP các tỉnh Tây Nguyêntrong những năm qua

Nguyên nhân chủ quan

Một là, cấp uỷ, chỉ huy một số đơn vị cơ sở chưa nhận thức đầy đủ về tính

chất phức tạp của DCTD ở KVBG và ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác VĐQCphòng, chống DCTD ở KVBG

Hai là, đội ngũ chuyên trách VĐQC chưa được quan tâm đúng mức trong

việc giáo dục, xây dựng bản lĩnh chính trị cũng như bồi dưỡng về năng lực nghiệp

vụ chuyên môn; số lượng biên chế quá ít so với yêu cầu nhiệm vụ, năng lực, trình

độ công tác còn có nhiều điểm hạn chế trong khi đó cấp trên lại ít tổ chức các đợttập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ Tỷ lệ cán bộ, chiến sĩ BĐBP là người dân tộc thiểu

số rất ít, số người trực tiếp làm công tác VĐQC biết nói tiếng dân tộc và thônghiểu phong tục tập quán của đồng bào các dân tộc thiểu số ở KVBG không nhiều

Vì vậy hiệu quả công tác tuyên truyền, giáo dục VĐQC nhân dân phòng, chốngDCTD còn hạn chế

Ba là, cấp uỷ, chỉ huy và cán bộ, chiến sĩ một số đơn vị còn chủ quan, coi

thường hoạt động DCTD Trong quá trình tổ chức thực hiện nhiệm vụ đấu tranhphòng ngừa và ngăn chặn DCTD ở KVBG còn xem nhẹ biện pháp công tác VĐQC.Chưa kết hợp đồng bộ và phát huy hiệu lực của các biện pháp công tác để tạo nênsức mạnh tổng hợp Cá biệt có cán bộ chỉ huy còn cho rằng công tác VĐQC phòng,chống DCTD chỉ là trách nhiệm của lực lượng chuyên trách nhằm đối phó vớinhững người thường xuyên qua lại, làm ăn ở KVBG

* Một số kinh nghiệm nâng cao hiệu quả công tác VĐQC phòng, chống DCTD ở KVBG của BĐBP các tỉnh Tây Nguyên.

Một là, phải quán triệt và thực hiện đúng chủ trương, đường lối của Đảng,

pháp luật của Nhà nước, chỉ thị, nghị quyết của cấp uỷ, chỉ huy các cấp và bám sát vào tình hình thực tiễn địa bàn.

Công tác VĐQC phòng, chống DCTD ở KVBG là một bộ phận quan trọngtrong toàn bộ công tác vận động cách mạng của Đảng nhằm xây dựng thế trận biênphòng toàn dân vững chắc bảo vệ CQAN biên giới, phòng ngừa và ngăn chặn có hiệu

Trang 33

quả tình trạng DCTD Để cho hoạt động tuyên truyền, giáo dục, vận động đạt đượchiệu quả, lãnh đạo, chỉ huy các đơn vị và mọi cán bộ, chiến sĩ BĐBP phải thườngxuyên quán triệt và vận dụng đúng đắn, sáng tạo các quan điểm, đường lối của Đảng,các chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác dân tộc, công tác tôn giáo, vềđịnh canh, định cư, về xây dựng và phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội ở miền núi, biêngiới Nắm vững và tổ chức thực hiện nghiêm chỉnh các chỉ thị, nghị quyết của Đảng

uỷ Quân sự Trung ương và Bộ Quốc phòng, của Đảng uỷ, Bộ tư lệnh BĐBP và củatỉnh uỷ, UBND các tỉnh có biên giới Đây là những căn cứ cơ bản, quan trọng trựctiếp chỉ đạo, hướng dẫn hoạt động tuyên truyền, giáo dục, vận động của các đơn vị,bảo đảm cho công tác VĐQC phòng, chống DCTD ở KVBG của BĐBP các tỉnh TâyNguyên đạt hiệu quả cao

Mặt khác, các đơn vị BĐBP Tây Nguyên đã nghiên cứu và vận dụng thànhcông 5 bước công tác phát động quần chúng của Đảng vào thực tiễn, đó là điều tra,tuyên truyền, tổ chức, huấn luyện và hướng dẫn quần chúng hành động cách mạng.Luôn coi đó là những bước đi, những mắt khâu quan trọng trong toàn bộ quy trìnhphát động quần chúng, không thể tuyệt đối hoá hoặc coi nhẹ một khâu nào

Những năm qua, các đơn vị BĐBP Tây Nguyên đã cùng với cấp uỷ, chínhquyền địa phương và các cấp, các ngành, các đoàn thể đạt được những thành tựuđáng kể trong phòng, chống DCTD ở KVBG là nhờ thường xuyên quán triệt vàvận dụng đúng đắn sáng tạo quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luậtcủa Nhà nước Bám sát tình hình, đặc điểm mọi mặt ở địa bàn để kịp thời xây dựng

kế hoạch, xác định chủ trương biện pháp tuyên truyền, vận động phù hợp với điềukiện hoàn cảnh thực tế và khả năng, nguyện vọng của quần chúng

Hai là, coi trọng xây dựng, củng cố cơ sở chính trị, tích cực tham gia xây

dựng, phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội ở các xã, buôn làng biên giới, coi đó là điều kiện bảo đảm cho công tác VĐQC phòng, chống DCTD ở KVBG có hiệu quả cao.

Hệ thống cơ sở chính trị ở các xã, buôn làng biên giới là nhân tố quan trọnghàng đầu, có ý nghĩa quyết định đối với việc chấp hành đường lối, chính sách phápluật của Đảng và Nhà nước Chỉ khi các tổ chức, đoàn thể chính trị - xã hội ở cơ sởđược xây dựng và củng cố vững chắc thì BĐBP mới có chỗ dựa cần thiết để thựchiện vai trò tham mưu, đề xuất của mình đối với các hoạt động phòng, chốngDCTD ở KVBG

Các đơn vị BĐBP Tây Nguyên đã coi trọng việc tham gia, phối hợp vớiđịa phương và các ngành, các cơ quan chức năng thực hiện các dự án xây dựng,phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội ở miền núi, biên giới nhằm góp phần cảithiện, nâng cao một bước tiến tới ổn định đời sống nhân dân Tham mưu với cấp

Trang 34

uỷ, chính quyền địa phương xây dựng và củng cố niềm tin của đồng bào đối vớiĐảng, Nhà nước, với cấp uỷ, chính quyền địa phương và BĐBP, góp phần tíchcực vào công tác tuyên truyền, vận động nhân dân phòng ngừa và ngăn chặn cóhiệu quả tình trạng DCTD ở buôn làng mình, ở địa bàn của mình.

Ba là, thường xuyên giữ vững và không ngừng tăng cường sự lãnh đạo, chỉ

đạo của cấp uỷ, chỉ huy các cấp; chăm lo đào tạo, bồi dưỡng, bổ sung lực lượng chuyên trách VĐQC đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.

Sự lãnh đạo của cấp uỷ các cấp, sự quản lý, chỉ đạo của chính quyền tỉnh,huyện và chỉ huy BĐBP các cấp đối với công tác VĐQC phòng, chống DCTD ởKVBG luôn là nhân tố quyết định sự thắng lợi trong thực hiện nhiệm vụ Các đơn

vị BĐBP thường xuyên củng cố, kiện toàn các tổ chức đảng (đặc biệt là chi uỷ, chi

bộ các đồn biên phòng) và chăm lo xây dựng, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chỉ huycác đồn biên phòng, các đội công tác biên phòng đủ về số lượng, có chất lượng caođáp ứng yêu cầu lãnh đạo, chỉ đạo công tác VĐQC phòng, chống DCTD ở KVBG

Nhận thức đúng vai trò quan trọng của đội ngũ chuyên trách công tácVĐQC; lãnh đạo, chỉ huy các cấp luôn quan tâm chăm lo, đào tạo, bồi dưỡng độingũ này cả về phẩm chất chính trị và năng lực công tác chuyên môn Trong quátrình thực hiện nhiệm vụ, bố trí lực lượng ổn định theo địa bàn chuyên trách,không điều chuyển hay cơ động nhiều, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả côngtác Lãnh đạo, chỉ huy luôn quan tâm giúp đỡ, động viên tạo điều kiện cho họ hoànthành nhiệm vụ một cách tốt nhất

Bốn là, kết hợp chặt chẽ các biện pháp nghiệp vụ biên phòng đồng thời coi

trọng bồi dưỡng phát huy vai trò đội ngũ cốt cán ở các buôn làng biên giới trong tiến hành công tác VĐQC phòng, chống DCTD.

Công tác VĐQC phòng, chống DCTD ở KVBG là một nội dung trong hoạtđộng quản lý, bảo vệ CQAN biên giới quốc gia của BĐBP, vì vậy phải kết hợpchặt chẽ các biện pháp nghiệp vụ biên phòng BĐBP các tỉnh Tây Nguyên đã kếthợp chặt chẽ, đồng bộ biện pháp VĐQC với các biện pháp nghiệp vụ khác màtrước hết là biện pháp trinh sát biên phòng nhằm nắm vững tình hình mọi mặt ở địabàn, quản lý được đối tượng

Đội ngũ cốt cán ở các buôn làng biên giới có vai trò rất to lớn trong tuyêntruyền VĐQC nhân dân phòng, chống DCTD Vì vậy, BĐBP các tỉnh Tây Nguyênđặc biệt chú ý xây dựng, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ buôn làng; tranh thủ sự ủng hộ,giúp đỡ của những người có uy tín như già làng, tộc trưởng, các chức sắc tiến bộtrong đạo Tin lành vào việc tuyên truyền VĐQC nhân dân Thường xuyên chăm lolợi ích, động viên tư tưởng đối với đội ngũ cốt cán để họ thực sự trở thành lựclượng quan trọng cùng sát cánh với BĐBP tuyên truyền VĐQC phòng, chốngDCTD ở KVBG

Trang 35

Năm là, tích cực chủ động làm tham mưu cho cấp uỷ, chính quyền địa

phương, gắn bó với nhân dân, phối hợp với các ngành, các đoàn thể, các lực lượng ở địa phương là vấn đề có ý nghĩa quyết định hiệu quả công tác VĐQC phòng, chống DCTD ở KVBG của BĐBP các tỉnh Tây Nguyên.

BĐBP là lực lượng nòng cốt trong đấu tranh phòng, chống DCTD ở KVBG.Muốn hoàn thành tốt nhiệm vụ, BĐBP phải làm tốt vai trò tham mưu cho cấp uỷ,chính quyền địa phương

Trên cơ sở nắm chắc tình hình mọi mặt, đánh giá mạnh, yếu, thuận lợi, khókhăn, nguyên nhân dẫn đến tình trạng DCTD để đề xuất chủ trương, kế hoạch cùngđịa phương thực hiện

Mọi hoạt động của BĐBP đều có ảnh hưởng trực tiếp đến nhân dân địaphương, mang tính địa phương sâu sắc Vấn đề củng cố mối quan hệ đoàn kết gắn

bó giữa BĐBP với đảng bộ, chính quyền địa phương, với nhân dân, với các ngành

là bản chất, truyền thống của lực lượng, có ý nghĩa quyết định đến việc hoàn thànhnhiệm vụ

Đề cao vai trò lãnh đạo của cấp uỷ đảng, chính quyền địa phương, phối hợpvới các ngành, đoàn thể, lực lượng thực hiện tốt các chương trình phát triển kinh tế

- xã hội ở địa phương Mỗi khi có cán bộ, chiến sĩ vi phạm kỷ luật quần chúng,phải nhanh chóng báo cáo với cấp uỷ, chính quyền địa phương thống nhất chủtrương, biện pháp giải quyết kịp thời

Các đơn vị BĐBP phải tăng cường các hoạt động kết nghĩa với địa phương

và các lực lượng, các ngành trong địa bàn Có nội dung hoạt động bổ ích, thiếtthực, làm cho nhân dân và các ngành, các đoàn thể hiểu rõ chức năng, nhiệm vụ,truyền thống của BĐBP từ đó tích cực, tự giác giúp đỡ BĐBP hoàn thành nhiệmvụ

Kết luận Chương 1

Công tác VĐQC của BĐBP có vai trò vô cùng quan trọng trong sự nghiệpbảo vệ CQAN biên giới Tổ quốc Đó là biện pháp nghiệp vụ cơ bản của BĐBP,làm cơ sở để tiến hành các biện pháp công tác khác nhằm giữ vững an ninh chínhtrị, trật tự xã hội trên biên giới, xây dựng thế trận biên phòng toàn dân

Ở KVBG các tỉnh Tây Nguyên trong những năm qua, tình trạng DCTD đangdiễn biến phức tạp Để đấu tranh phòng ngừa và ngăn chặn tình trạng DCTD ởKVBG, BĐBP các tỉnh Tây Nguyên đã huy động sức mạnh tổng hợp của cácngành, các cấp, các lực lượng đồng thời kết hợp chặt chẽ, tiến hành đồng bộ cácbiện pháp công tác biên phòng, trong đó VĐQC là biện pháp cơ bản quan trọng có

ý nghĩa quyết định hiệu quả công tác VĐQC phòng, chống DCTD ở KVBG TâyNguyên

Trang 36

Những năm qua, BĐBP các tỉnh Tây Nguyên đã phát huy vai trò nòng cốtchuyên trách trong bảo vệ CQAN biên giới, chủ động tham mưu đề xuất với cấp

uỷ, chính quyền địa phương và phối hợp với các cấp, các ngành đẩy mạnh công tácVĐQC Tích cực tham gia xây dựng, phát triển kinh tế, xã hội, thực hiện xoá đóigiảm nghèo, nâng cao đời sống của đồng bào ở KVBG

Kết quả công tác VĐQC của BĐBP Tây Nguyên trong những năm qua đãgóp phần rất quan trọng vào phòng ngừa và ngăn chặn DCTD ở KVBG Qua triểnkhai các nội dung, hình thức VĐQC phòng, chống DCTD ở KVBG, BĐBP cáctỉnh Tây Nguyên đã rút ra một số kinh nghiệm bước đầu rất quan trọng giúp chỉhuy, lãnh đạo tiếp tục nâng cao hiệu quả công tác VĐQC phòng, chống DCTD ởKVBG Tây Nguyên

Chương 2 PHƯƠNG HƯỚNG, YÊU CẦU VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP CƠ BẢN NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC VẬN ĐỘNG QUẦN CHÚNG PHÒNG, CHỐNG DI CƯ TỰ DO Ở KHU VỰC BIÊN GIỚI CỦA BỘ ĐỘI BIÊN

PHÒNG CÁC TỈNH TÂY NGUYÊN HIỆN NAY

2.1 Những yếu tố tác động và phương hướng yêu cầu nâng cao hiệu quả công tác vận động quần chúng phòng, chống di cư tự do ở khu vực biên giới của bộ đội biên phòng các tỉnh Tây Nguyên hiện nay

2.1.1 Những yếu tố tác động đến hiệu quả công tác vận động quần chúng phòng, chống di cư tự do ở khu vực biên giới Tây Nguyên

Công tác VĐQC phòng, chống DCTD ở KVBG của BĐBP các tỉnh TâyNguyên hiện nay chịu sự tác động mạnh mẽ của nhiều yếu tố cả khách quan vàchủ quan Có thể nêu ra một số yếu tố tác động ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quảcông tác VĐQC phòng, chống DCTD ở KVBG của BĐBP các tỉnh Tây Nguyênnhư sau:

* Âm mưu hoạt động của CNĐQ và các thế lực phản động chống phá cách mạng Việt Nam.

Những năm đầu của thế kỷ XXI, tình hình chính trị, kinh tế thế giới diễnbiến rất phức tạp chứa đựng nhiều yếu tố gây mất ổn định; Nghị quyết Đại hộiĐảng toàn quốc lần thứ IX nhận định: “Chiến tranh cục bộ, xung đột vũ trang,xung đột sắc tộc, tôn giáo, chạy đua vũ trang, can thiệp lật đổ, khủng bố còn xảy

ra ở nhiều nơi với tính chất phức tạp ngày càng tăng” [13, 79] CNĐQ đứng đầu

là Mỹ ngày càng bộc lộ rõ bản chất phản động, hiếu chiến, đẩy mạnh các hoạt

Ngày đăng: 10/12/2016, 16:08

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. BĐBP Gia Lai, (2003), “Báo cáo sơ kết 3 năm thực hiện đề án BĐBP tăng cường cán bộ tham gia các chương trình phát triển kinh tế - xã hội tại địa bàn biên giới”, số 32/BC-CT ngày 23.2.2003, Lưu hành nội bộ, 11 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo sơ kết 3 năm thực hiện đề án BĐBP tăng cường cán bộ tham gia các chương trình phát triển kinh tế - xã hội tại địa bàn biên giới
Tác giả: BĐBP Gia Lai
Năm: 2003
2. BĐBP Kom Tum, (2003), “Báo cáo sơ kết công tác VĐQC, tuyên truyền đặc biệt 6 tháng đầu năm 2003”, số 59/BC-BCH ngày 15.5.2003, Lưu hành nội bộ, 6 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo sơ kết công tác VĐQC, tuyên truyền đặc biệt 6 tháng đầu năm 2003
Tác giả: BĐBP Kom Tum
Năm: 2003
3. Bộ tư lệnh BĐBP, (2001), “Báo cáo hội nghị công tác VĐQC khu vực Tây Nguyên”, số 43/BC-VĐQC ngày 25.5.2001, Lưu hành nội bộ, 72 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo hội nghị công tác VĐQC khu vực Tây Nguyên
Tác giả: Bộ tư lệnh BĐBP
Năm: 2001
4. Bộ tư lệnh BĐBP, (2000), “Chỉ thị về tăng cường tham gia các chương trình kinh tế, văn hoá, xã hội ở các xã, phường biên giới, hải đảo ”, số 31/CT-BTL ngày 28.5.2000, Lưu hành nội bộ, 12 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị về tăng cường tham gia các chương trình kinh tế, văn hoá, xã hội ở các xã, phường biên giới, hải đảo
Tác giả: Bộ tư lệnh BĐBP
Năm: 2000
5. Trương Minh Dục, (2003), “Tìm hiểu đạo Tin lành ở Tây Nguyên”, Tạp chí Lý luận Chính trị số 3/2003, tr. 19-23 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu đạo Tin lành ở Tây Nguyên
Tác giả: Trương Minh Dục
Năm: 2003
6. Phạm Văn Đáng, (2000), “Nâng cao chất lượng công tác VĐQC của BĐBP tỉnh Lào Cai hiện nay”, Đề tài cấp khoa, Học viện Chính trị Quân sự, 2000; 76 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Nâng cao chất lượng công tác VĐQC của BĐBP tỉnh Lào Cai hiện nay
Tác giả: Phạm Văn Đáng
Năm: 2000
7. Đảng bộ BĐBP, (2001), “Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ BĐBP lần thứ XI”, Lưu hành nội bộ, 103 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), “Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ BĐBP lần thứ XI
Tác giả: Đảng bộ BĐBP
Năm: 2001
8. Đảng Cộng sản Việt Nam, (1986), “Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI”, Nxb Sự thật, H.1987, tr.251 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1986
9. Đảng Cộng sản Việt Nam, (1990), Nghị quyết 8b BCHTƯ về “Đổi mới công tác quần chúng của Đảng, tăng cường mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân”, Nxb CTQG, H.1990, 15 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Đổi mới công tác quần chúng của Đảng, tăng cường mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 1990
10. Đảng Cộng sản Việt Nam, (1992), “Quy định về tổ chức đảng trong QĐND Việt Nam”, (1992), số 36/QĐ-TƯ, 12 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy định về tổ chức đảng trong QĐND Việt Nam
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam, (1992), “Quy định về tổ chức đảng trong QĐND Việt Nam”
Năm: 1992
11. Đảng Cộng sản Việt Nam, (1991), “Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII”, Nxb CTQG, H.1991, tr.40 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 1991
12. Đảng Cộng sản Việt Nam, (1995), “Nghị quyết của Bộ Chính trị về xây dựng BĐBP trong tình hình mới”, 1995, Lưu hành nội bộ, 6 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết của Bộ Chính trị về xây dựng BĐBP trong tình hình mới
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 1995
13. Đảng Cộng sản Việt Nam, (1996), “Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII”, Nxb CTQG, H.1996, tr.78 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 1996
14. Đảng Cộng sản Việt Nam, (2001), “Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX”, Nxb CTQG, H.2001, tr.96 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2001
15. Đảng Cộng sản Việt Nam, (2003), “Nghị quyết Trung ương 7 (phần 2) về công tác dân tộc”, Nxb CTQG, H.2003, tr.17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết Trung ương 7 (phần 2) về công tác dân tộc
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2003
16. Đảng uỷ Quân sự Trung ương, (1990), “Chỉ thị về tăng cường công tác dân vận trong tình hình mới”, số 137/ĐUQSTƯ ngày 31.8.1990, Lưu hành nội bộ, 7 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị về tăng cường công tác dân vận trong tình hình mới
Tác giả: Đảng uỷ Quân sự Trung ương
Năm: 1990
17. Đảng uỷ BĐBP Đắc Lắc, (2001), “Nghị quyết chuyên đề về tăng cường công tác VĐQC trong hình hình mới”, Số 68/NQ-ĐU ngày 30.5.2001, Lưu hành nội bộ, 4 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết chuyên đề về tăng cường công tác VĐQC trong hình hình mới
Tác giả: Đảng uỷ BĐBP Đắc Lắc
Năm: 2001
18. Hoàng Trọng Hải, (2003), “Xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số ở Đắc Lắc”, Tạp chí Xây dựng Đảng số 2/2003, tr. 40-42 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số ở Đắc Lắc
Tác giả: Hoàng Trọng Hải
Năm: 2003
19. Lê Văn Hân, (2000), “Báo cáo tổng kết công tác dân vận của quân đội trong những năm đổi mới”, Kỷ yếu Hội nghị công tác dân vận, Nxb QĐND, H.2001, tr. 30-67 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết công tác dân vận của quân đội trong những năm đổi mới
Tác giả: Lê Văn Hân
Nhà XB: Nxb QĐND
Năm: 2000
20. Tăng Huệ, (1999), “Diễn biến mới trên các tuyến biên giới và kết quả quản lý bảo vệ biên giới năm 1999”, Thông tin Khoa học-kỹ thuật biên phòng số 7.1999, tr. 12-16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Diễn biến mới trên các tuyến biên giới và kết quả quản lý bảo vệ biên giới năm 1999
Tác giả: Tăng Huệ
Năm: 1999

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w