1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

SKKN THCS: Hướng dẫn học sinh lớp 8 nắm vững bản chất vật lý khi giải các bài tập về áp suất chất lỏng tại trường THCS Chu Văn An Huyện Nga Sơn

14 601 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 260,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong khuôn khổ bài viết này tôi chỉ đưa ra một vài hiện tượng vật lý và bản chất của các hiện tượng đó vấn đề ở đây là nói lên được tầm quan trọng của việc hiểu được bản chất của một hiện tượng và cách ứng dụng nó vào giải bài tập vật lý như thế nào? Nên tôi đã chọn đề tài “ Hướng dẫn học sinh lớp 8 nắm vững bản chất vật lý khi giải các bài tập về áp suất chất lỏng tại trường THCS Chu Văn An Huyện Nga Sơn”

Trang 1

A.ĐẶT VẤN ĐỀ

1 Lý do chọn đề tài.

Vật lý là một môn học mới đối với học sinh bậc THCS, các hiện tượng vật

lý tuy xẩy ra thường xuyên trong đời sống hằng ngày nhưng việc hiểu bản chất của hiện tượng đối với học sinh không phải là một việc dễ, vì nhiều hiện tượng vật lý học sinh chỉ nhìn thấy biểu hiện bên ngoài mà không thể quan sát được quá trình xẩy ra bên trong

Ví dụ:

+ Khi bỏ một vật vào trong chất lỏng thì: Vật đó có thể nổi trên mặt chất lỏng hoặc lơ lững bên trong lòng chất lỏng hoặc chìm hẳn xuống đáy bình Tại sao lại như vậy? Bản chất của hiện tượng này là gì ?

+ Một vật khi nào thì đứng yên, chuyển động đều? Bản chất của hiện tượng trên là gì ?

Qua hai ví dụ trên cho ta thấy: Nếu chỉ quan sát được hiện tượng vật lý bên ngoài mà không hiểu hết bản chất bên trong của hiện tượng đó thì học sinh không thể giải quyết tận cùng bài toán vật lý và kết quả là: học sinh chỉ thực hiện nhiệm

vụ giải một bài toán học thuần túy

Thực tế, khi giải các bài toán vật lý học sinh chủ yếu mới chỉ dựa vào các công thức, định luật vật lý để giải bài toán và mong đi đến kết quả mà chưa chú ý bản chất của hiện tượng vật lý Vì vậy khi gặp phải những bài toán đòi hỏi đi sâu hơn vào bản chất vật lý thì học sinh lại hết sức lúng túng

Ở trình độ của học sinh cấp THCS, tôi không có tham vọng là làm cho học sinh hiểu thật sâu sắc bản chất của mọi hiện tượng vật lý được học mà chỉ dừng lại

ở mức độ: làm cho học sinh hiểu cơ bản về bản chất của một số hiện tượng để giải các bài tập vật lý và giải thích các hiện tượng vật lý qua kiến thức được học nhằm tạo cơ sở để cho các em học tốt, say sưa hơn khi học môn vật lý

Thực trạng ở cấp THCS hiện nay giáo viên dạy môn vật lý chỉ mới quan tâm đến việc cung cấp công thức để học sinh giải bài tập mà chưa quan tâm nhiều đến bản chất của hiện tượng vật lý vì vậy khi cần giải thích một số hiện tượng vật lý học sinh không giải quyết được Từ chỗ đó làm cho học sinh không còn say sưa nghiên cứu môn vật lý vì vậy năng lực học vật lý của học sinh ngày càng yếu dần

đi

Trong khuôn khổ bài viết này tôi chỉ đưa ra một vài hiện tượng vật lý và bản chất của các hiện tượng đó vấn đề ở đây là nói lên được tầm quan trọng của việc hiểu được bản chất của một hiện tượng và cách ứng dụng nó vào giải bài tập vật lý như

thế nào? Nên tôi đã chọn đề tài “ Hướng dẫn học sinh lớp 8 nắm vững bản chất vật lý khi giải các bài tập về áp suất chất lỏng tại trường THCS Chu Văn An Huyện Nga Sơn”

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.

1.1: Đối tượng nghiên cứu

Trang 2

- Nghiên cứu về bản chất vật lý của áp suất chất lỏng, áp dụng giảng dạy cho học sinh cấp THCS

1.2: Phạm vi nghiên cứu

- Nghiên cứu về chương áp suất chất lỏng Nêu ra một số hiện tượng vật lý, làm rõ bản chất của hiện tượng đó, tầm quan trong của việc nắm vững bản chất vật

lý của hiện tượng trong việc giải bài tập áp suất chất lỏng

3.Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu.

3.1: Mục tiêu: Nghiên cứu cơ sở lý luận về phương pháp tìm lời giải cho các bài tập vật lý có tính đặc trưng của môn học, đặc biệt là những dạng bài tập đi sâu vào bản chất của các hiện tượng vật lý, nhằm mục đích kích thích sự tìm tòi sáng tạo và lòng đam mê của học sinh đối với môn học

3.2: Nhiệm vụ nghiên cứu

Nghiên cứu để phục vụ cho công tác giảng dạy môn vật lý ở các trường THCS, phục vụ cho việc nâng cao kiến thức cho giáo viên và học sinh, bổ trợ và phục vụ cho công tác bồi dưỡng học sinh giỏi cấp THCS

B GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

I Cơ sở lý luận.

Đối với học sinh THCS các em chưa có nhiều định hướng nghề nghiệp cho tương lai nên ý thức học tập chưa cao, đặc biệt là đối với bộ môn vật lý là một môn học khó, đòi hỏi tư duy nhiều, nên học sinh thương lảng tránh Do đặc thù của môn học, nên người giáo viên phải chủ động về kiến thức và phong phú về phương pháp luôn tìm kiếm các phương pháp mới trong giảng dạy, gây hứng thú học tập cho học sinh, truyền tải cho học sinh hiểu cặn kẻ các kiến thức vật lý đặc biệt là bản chất hiện tượng vật lý giúp các em say sưa hơn trong quá trình học tập

Xây dựng nội dung chương trình, phương pháp giáo dục, nhằm nâng cao chất lượng giáo dục thế hệ trẻ, đáp ứng được yêu cầu phát triển nguồn nhân lực phục vụ cho công cuộc công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, phù hợp với thực tiển và truyền thống Việt Nam tiếp cận trình độ giáo dục phổ thông ở các nước phát triển trên thế giới

- Do yêu cầu của sự phát triển kinh tế - xã hội đối với đào tạo nguồn nhân lực trong giai đoạn mới

- Do sự phát triển nhanh mạnh mang tính bùng nổ của khoa học kỷ thuật hiện nay Đối với giáo dục cũng cần có sự thay đỏi mạnh mẽ để theo kịp với sự phát triển chung của đất nước

- Tuy nhiên đối với học sinh hiện nay do hạn chế về mặt thời gian, thời lượng của chương trìnhnên việc đi sâu và phát triển tri thức cho các em còn có phần hạn chế, đặc biệt là đi sâu vào việc nghiên cứu các dạng bài tập khó và phức tạp như trong đề tài đã đưa ra

Trang 3

II Thực trạng trước khi thực hiện đề tài.

1 Thuận lợi:

- Hầu hết các giáo viên đều có trình độ đạt chuẩn và trên chuẩn, có kiến thức vững vàng, luôn trau dồi kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ sư pham và luôn có ý chí vươn lên

- Nhà trương có cơ sở vật chất chưa thật tốt chưa có phòng học dành cho bộ môn để triển khai giảng dạy môn học theo đúng yêu cầu và đặc thù của bộ môn

2 Khó khăn:

Địa bàn trong huyện rộng, khó khăn trong việc đi lại, một số em cũng chưa

có ý thức tự rèn luyện bản thân tìm tòi các dạng tài liệu dể tham khảo

Mặt khác đề tài này cần sự quan tâm đúng mức của giáo viên và học sinh vì trong đề tài xuất hiện nhiều bài tập tương đối khó nhằm nâng cao kiến thức cũng như kích thích sự tìm tòi sáng tạo của học sinh để chuẩn bị cho đội tuyển học sinh giỏi

3 Số liệu thống kê

- Độ tuổi học sinh tham gia làm đối tượng nghiên cứu là học sinh lớp 8 có độ tuổi từ 13 đến 14 tuổi

- Kết quả học sinh giỏi các cấp bộ môn vật lý trong năm học 2013-2014 là:

- Học sinh tích cực tham gia vào học tập các buổi chuyên đề nâng cao môn học vật lý, chương trình theo đúng chuẩn kiến thức kỹ năng và chương trình của bộ giáo dục

- Đề tài cũng đã được triển khai trước giáo viên

III Nội dung đề tài

1 Cơ sở lý thuyết:

Một số hiện tượng vật lý và bản chất của hiện tượng đó

Khi bỏ một vật vào trong bình chất lỏng thì hiện tượng xẩy ra là:

1) Vật nổi trên mặt chất lỏng

2) Vật lơ lửng trong lòng chất lỏng

3) Vật chìm hẳn xuống đáy bình

Bản chất của các hiện tượng trên là:

* Khi vật nổi lên trên mặt chất lỏng và đứng yên

-Vật nổi chứng tỏ d < d’( d là trọng lượng riêng của vật d’ là trọng lương riêng của chất lỏng)

-Vật đứng yên chứng tỏ các lực tác dụng lên vật cân bằng P = FA

* Khi vật lơ lửng trong lòng chất lỏng và đứng yên

- Vật lơ lửng trong lòng chất lỏng chứng tỏ d = d’

Trang 4

- Vật đứng yên chứng tỏ các lực tác dụng lên vật là cân bằng P = FA

* Khi vật chìm hẳn xuống đáy bình và đứng yên

- Vật chìm hẳn xuống đáy bình chứng tỏ d > d’

- Vật đứng yên chứng tỏ các lực tác dụng lên vật là cân bằng

P = FA+N ( N là phản lực của đáy bình tác dụng lên vật )

Các hiện tượng trên đều nói về sự nổi của vật Trong các hiện tượng đó chỉ dừng lại ở chỗ các vật đặt trong chất lỏng và đứng yên

Bản chất của các hiện tượng này là do mối quan hệ giữa trọng lượng riêng của vật và trọng lượng riêng của chất lỏng và các lực tác dụng lên vật cân bằng

2.Các bài tập ứng dụng

Với các hiện tượng và bản chất của các hiện tượng đã nêu trên ta có thể ứng dụng để giải những bài toán sau:

Bài 1: Bỏ một khối gỗ hình lập phương cạnh a = 1dm vào trong một bình

nước thấy phần khối gỗ nổi trên mặt nước là

3

1

tính lực đẩy Ác si mét tác dụng lên khối gỗ Biết trọng lượng riêng của nước là dn = 10000N/m3

Giải

Thể tích của khối gỗ là

V = a3 = 13 = 1(dm3)

Thể tích phần gỗ chìm trong nước là:

V’= 32 V = 32 (dm3) = 32 10-3(m3)

Lực đẩy Ác si mét tác dụng lên khối gỗ là:

FA = dn.V’= 10000 32 10-3 = 203 (N)

Nhận xét và lời bình:

Với bài toán 1 là một bài toán sử dụng công thức thuần túy để giải vì vậy những học sinh nào nắm vững công thức đều có thể giải bài toán một cách dễ dàng Nhưng theo tôi đây chỉ là những bài toán lắp ráp công thức thuần túy, nếu chúng ta chỉ dừng lại ở những bài toàn lắp ráp công thức thuần túy như vậy thì học sinh của chúng ta sẽ trở thành những người thợ giải toán, mà là những người thợ bình thường

Khi học sinh gặp phải các vật lý yêu cầu đi sâu về mặt bản chất vật lý học sinh sẽ hết sức lúng túng và thạm chí là không tìm ra hướng giải

Trong các bài tập tiếp theo chúng ta thử tìm hiếu về các dạng bài tập yêu cầu

đi sâu hơn về bản chất của các hiện tượng vật lý Khi đó ta thấy nếu chỉ sử dụng công thức mà không nắm được bản chất vật lý thì không thể nào giải được

Bài 2: Bỏ một khối gỗ hình lập phương cạnh bằng 1dm vào trong một bình

nước thấy khối gỗ nổi trên mặt nước.Tính lực đẩy Ácsimét tác dụng lên khối gỗ biết trọng lượng riêng của gỗ là d = 6700N/m3

Trang 5

Phân tích bài toán

Bài toán này mặc dù giống bài toán 1 giống cả về hiện tượng và bản chất của hiện tượng và cũng không phải là bài toán khó, tuy vậy nếu học sinh chỉ mới nắm vững công thức tính lực đẩy Ácsimét thì chưa đủ và cũng không thể giải bài toán này mà vấn đề là học sinh cần nắm vững bản chất vật lý của hiện tượng mới có thể giải quyết bài toán một cách trọn vẹn được

Chú ý: Vật đang đứng yên nên các lực tác dụng lên vật là cân bằng Cụ thể ở đây là có hai lực tác dụng trọng lực và lực đẩy Ác si mét

Lời giải

Thể tích của miếng gỗ là: V = 1dm3 = 0,001m3

Khối gỗ nổi và đứng yên trên mặt nước vì vậy các lực tác dụng lên khối gỗ cân bằng: FA = P = d.V = 6700.0,001 = 6,7(N)

Vậy FA = 6,7 (N)

Nhân xét:

Đối với bài toán 2 tuy là một bài tập đơn giản nhưng nếu học sinh chỉ nhớ công thức mà không nắm vững bản chất vật lý của hiện tượng đó ( tức là không biết được bản chất của vật đứng yên thì các lực tác dụng lên nó là cân bằng) thì bài toán không dễ dàng chút nào Trong các bài toán tiếp theo ta tiếp tục nâng dần độ khó của các bài toán lên

Bài 3: Trong một bình nước có một miếng gỗ ở giữa có gắn một quả cầu

bằng chì, nổi trên mặt nước, nếu quay ngược miếng gỗ cho quả cầu nằm trong nước thì mực nước thay đổi như thế nào? Tại sao?

Bài toán 3 cũng là một vật được đặt vào chất lỏng nổi và đứng yên trên mặt chất lỏng tuy hai cách đặt khác nhau nhưng vẫn cùng một hệ vật Học sinh thường nhầm lẩn lúc quả cầu ở trong nước thì thể tích chất lỏng bị vật chiếm chỗ nhiều hơn, như vậy học sinh chi quan sát hiện tượng và suy đoán mà không chú ý đến bản chất của hiện tượng đó là vật đang dứng yên

Nếu trong bài toán này học sinh chỉ quan tâm đến hiện tượng và chạy theo công thức mà không quan tâm đến bản chất của hiện tượng vật lý (tức hệ vật đang đứng yên) thì không thể nào giải quyết được

Lời giải

Trang 6

-Gọi trọng lượng của hệ vật là P, thể tích của hệ ngập trong nước khi quả cầu chì

ở phía trên là V1 và thể tích của hệ ngập trong nước khi quả cầu nằm trong nước là

V2

-Do cả hai trường hợp hệ vật đều đứng yên nên ta có:

FA1 = V1.dn = P

FA2 = V2.dn = P

 V1 = V2 ( d n là trọng lượng riêng của nước)

Thể tích của phần hệ vật ngập trong nước trong hai trường hợp bằng nhau Vậy mực nước không thay đổi so với lúc đầu

Bài 4: Người ta bỏ một viên nước đá vào một

bình nước thấy viên nước đá nổi trên mặt

nước.Sau khi viên nước đá tan hết Hỏi mực nước

trong bình tăng hay giảm (xem nhiệt độ của nước

trước và sau khi viên nước đá tan thay đổi không

đáng kể)

(Trích đề thi chọn HSG

Huyện Nga Sơn năm năm 2004 – 2005)

Phân tích bài toán

Trong bài toán này cũng là một vật được đặt vào chất lỏng, nổi và đứng yên trên mặt chất lỏng Tuy vậy trong trường hợp này viên nước đá tan dần và thể tích của nó được thay thế dần bởi thể tích của nước do nó tan ra Thường thì học sinh không để ý đến mối quan hệ giữa các lực khi vật đứng yên mà chỉ quan tâm đến thể tích của cục nước đá và thể tích mà nó chiếm chỗ vì vậy học sinh thường mắc sai lầm là sau khi tan thì mực nước sẽ dâng lên Vì thể tích của cục nước đá lớn hơn thể tích phần nước bị nước đá chiếm chỗ

Đây là một bài toán có liên quan đến lực đẩy Ácsimét nhưng ngoài ra còn sự cân bằng giữa hai lực Trọng lực và lực đẩy Ácsimét

Lời giải

Gọi V là thể tích của viên nước đá, d là trọng lượng riêng của viên nước đá,

Vo là thể tích nước do viên nước đá tan ra, do là trọng lượng riêng của nước, V’ là thể tích viên nước đá chiếm chỗ ban đầu

-Do trước và sau khi tan trọng lượng của viên nước đá và trong lượng của phần nước do nó tan ra là không đổi

Nên ta có d.V = doVo = P (trọng lượng của viên nước đá)

Do khi bỏ viên nước đá vào trong nước thì viên nước đá nổi và đứng yên nên ta có:

FA = P  do.Vo = do.V’ Vo = V’

Vậy mực nước trong bình không thay đổi

 F1 = F2 = P  V1.dn = V2.dn

Trang 7

( cần chú ý nếu nhiệt độ của nước thay đổi đáng kể thì bài toán không thể giải theo

phương pháp trên)

Bài 5: Trong một bình nước hình trụ diện tích

đáy là S,có nổi một cục nước đá.Cục nước đá này được

giữ bởi một sợi chỉ và đầu kia của sợi chỉ được buộc vào

đáy bình.Khi nước đá tan hết thì mực nước trong bình

hạ xuống một đoạn h, trọng lượng riêng của nước là dn

Tìm sức căng của sợi giây

(Xem nhiệt độ của nước trước và sau khi cục nước đá tan thay đổi không đáng kể)

(Trích đề thi chọn HSG9 Tỉnh Thanh Hóa năm học 2003-2004)

Phân tích bài toán

Trong bài toán này chúng ta cần chú ý đến hiện tượng là viên đá đứng yên vì vậy các lực tác dụng lên viên nước đá là cân bằng

- Hiện tương là viên nước đá đứng yên trong chất lỏng

- Bản chất của hiện tượng là: các lực tác dụng lên vật là cân bằng

- Ta thấy có ba lực tác dụng lên cục nước đá đó là trọng lực P, lực đẩy Ácsimét FA và lực căng T của sợi dây

- Cũng chú ý rằng các lực tác dụng lên vật là cân bằng vì vật đứng yên

Lời giải

Gọi sức căng của sợi chỉ là T, d và dn lần lượt là trọng lượng riêng của nước

đá, và của nước, V và Vn lần lượt là thể tích của cục nước đá và thể tích phần nước

đá ngập trong nước

Vì viên nước đá đứng yên nên ta có:

FA = P + T  T = FA – P = dn.Vn – d.V (1)

Khi nước đá tan hết do trọng lượng của nước đá không đổi nên ta có:

d.V = dn.V’ ( V’ là thể tích nước do cục nước đá tan ra)

Vậy ta có: V’ =

n d

V d.

Gọi Vo là thể tích ban đầu của nước trong bình, ta có:

S

V V S

V

V o n o  '

= h

 Vn- V’ = S.h  Vn= S.h +

n d

dV

(2)

Từ (1) và (2) T = dn(Sh +

n d

dV

) – d.V  T = dnSh

Chú ý: trong bài toán này cần có nhiệt độ của nước trong bình trước và sau

khi cục nước đá tan thay đổi không đáng kể

Ngoài các công thức như đã biết thì học sinh cần nắm được bản chất của hiện tượng này đó là khi một vật đứng yên thì các lực tác dụng lên vật là cân bằng

.

FA

P T

Trang 8

Bài 6: Một cốc nhẹ có đặt quả cầu nhỏ nổi trong bình chứa nước Mực nước

thay đổi ra sao nếu lấy quả cầu bỏ vào nước.(quả cầu đặc làm bằng sắt)

Phân tích bài toán

Với bài toán này lúc đầu hệ vật nổi và đứng yên trên mặt nước.Sau khi lấy quả cầu sắt ra và bỏ vào nước thì quả cầu chìm hẳn xuống đáy bình Như vậy lúc đầu ta thấy lực đẩy Ácsimét cân bằng với trọng lực của hệ, khi ta bỏ quả cầu vào trong nước thì lực đẩy Ácsimét không còn cân bằng với trọng lực của hệ nữa do qủa cầu lúc này chìm hẳn xuống đáy bình

Học sinh khi quan sát thấy hiện tượng này thường cho rằng mực nước trong bình sẽ dâng lên vì lúc này quả cầu đã ngập hoàn toàn vào trong nước và cho rằng thể tích chiếm chổ của hệ vật lúc này lớn hơn khi chưa lấy quả cầu ra khỏi cốc

Lời giải

Gọi V1, V2 lần lượt là thể tích lúc đầu của hệ ngập trong nước và thể tích của

hệ sau khi vớt quả cầu bỏ vào nước d là trọng lượng riêng của nước

Do trọng lượng riêng của sắt lớn hơn trọng lượng riêng của nước nên quả cầu chìm hẳn xuống đáy bình

Gọi P là trọng lượng của hệ thì ta có:

- Khi chưa vớt quả cầu ta có: P = FA1 (1)

- Khi vớt quả cầu bỏ vào nước ta có: P > FA2 (2)

( P là trọng lượng của hệ, FA1,FA2 lần lượt là lực đẩy Acsimét tác dụng lên hệ vật trước và sau khi vớt quả cầu bỏ vào nước)

Từ (1) và (2)  FA1> FA2  d.V1> d.V2  V1 > V2

Như vậy sau khi bỏ quả cầu sắt vào nước thì mực nước tụt xuống

Bài 7: Trong một bình nước có nhúng một ống hình trụ đường kính d;ép sát

miệng đầu dưới của ống là một tấm nhựa đặc hình trụ có đường kính D chiều cao h

và có khối lượng riêng là ρ lớn hơn khối lượng riêng ρn của nước (H V) Ống được nâng chậm lên phía trên Xác định độ cao H để tấm nhựa bắt đầu tách rời ra khỏi miệng ống

( Trong trường hợp tâm của ống nhựa trùng với tâm của tấm nhựa phía dưới)

Trang 9

( Trích đề thi vào trương THPT Năng Khiếu Hà Tĩnh 2008-2009)

Phân tích bài toán

Trong bài toán này vì sao tấm nhựa lại dính sát được với ống nhựa Ở đây không phải là do hiện tượng dính ướt mà là do lực đẩy Ácsimét tác dụng vào vật lúc này lớn hơn trọng lượng của vật Vậy khi nào thì vật có thể tách ra khỏi miệng ống?

Để miếng nhựa bắt đầu tách khỏi ống thì trọng lượng của miếng nhựa lúc này phải bằng lực đẩy Ácsimét tác dụng lên vật

Vì vậy trong bài này học sinh cần nắm rõ bản chất của hiện tượng khi miếng nhựa dính sát vào đầu ống là do lực đẩy Ác si mét tác dụng lên miếng nhựa lớn hơn trọng lượng của vật, và nó chỉ bắt đầu rời ra khi trọng lượng của vật bắt đầu lớn hơn lực đẩy Ác si mét tác dụng lên vật

Lời giải

Gọi áp lực tác dụng lên mặt trên của miếng nhựa là F1,áp lực tác dụng lên mặt dưới là F2.Diện tích mặt của tấm nhựa là S, Tiết diện của ống hình tru là S’.Khi

dó ta có:

S = 

2

2

 D ; S’ = 

2

2

 d

Áp lực tác dụng lên mặt trên của miếng nhựalà

F1 = ρnH

2 2

2 2

d D

Áp lực tác dụng lên mặt dưới của miếng nhựa là

F2 = ρn (H + h) 

2

2 

 D

Lực đẩy Ác si mét tác dụng lên tấm nhựa là

FA = F2 - F1 = ρn (H + h) 

2

2

 D

2 2

2 2

d D

= ρn 4

( D2h + d2H) H

Trang 10

Để miếng nhựa bắt đầu rời ra khỏi ống thì trọng lượng của vật phải bằng lực đẩy Ácsimét tác dụng lên vật

 ρn 4

( D2h + d2H) = h . 4

2

D

ρn ( D2h + d2H) = hD2ρ  H =  2 

2 2

2 2

d

h D d

h D hD

n

n n

n

Vậy nếu H =  2 

2

d

h D n

n

 

thì miếng nhựa bắt đầu tách rời ống

Nhận xét

Trong bài toán trên mặc dù cần phải tính toán lại lực đẩy Ácsimét tuy vậy để giải quyết được bài toán thì ta cần sự cân bằng giữa hai lực là lực đẩy Ác si mét và trọng lực

- Trong trường hợp tâm của ống không trùng với tâm của tấm nhựa thì tác dụng lên tấm nhựa là không cùng phương thì bài toán trở nên phức tạp hơn nhiều

Vì trong khuôn khổ bài viết này tôi chỉ muốn sử dụng tới hai lực cân bằng nên chúng ta không đi sâu vào việc xét trường hợp ống và tấm nhựa không đồng tâm

Bài 8: Một bình đựng hai chất lỏng dầu và nước (HV) ở giữa có một viên

nước đá Biết nước có trọng lượng riêng là dn, trọng lượng riêng của nước đá là do

và trọng lượng riêng của dầu là dd (dd < do < dn) hỏi sau khi nước đá tan hết

a) Mực nước trong bình tăng hay giảm

b) Mực chất lỏng trong bình tăng hay giảm

Phân tích bài toán

Trong bài toán này mặc dù viên nước đá được đặt vào giữa hai chất lỏng tuy vậy ta cần chú ý là viên nước đá vẩn đứng yên và vì vậy các lực tác dụng lên viên nước đá là cân bằng

Lời giải

a) Gọi phần thể tích của cục nước đá là Vo, thể tích phần nước do đá tan ra là

V1 thể tích nước đá ngập trong nước là V’

Do trọng lượng của nước đá bằng trọng lượng của phần nước do đá tan ra nên ta có

dn.V1 = do.Vo = P ( Trọng lượng của viên nước đá)

Lực đẩy Ácsimét tác dụng lên cục nước đá là: FA = V’dn + (Vo – V’) dd

Ngày đăng: 10/12/2016, 15:26

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w