Xuất phát từ những lí do trên, qua nhiều năm giảng dạy ở trường trung học cơ sở, qua nghiên cứu sách vở và tình hình thực tế tôi và nhiều đồng nghiệp thường trăn trở, băn khoăn tìm các phương pháp dạy cho các em nhằm giúp các em dễ dàng tìm được lời giải bài toán hình học góp phần phát triển tư duy logic cho các em, làm cho các em có hứng thú hơn khi giải các bài toán hình học đồng thời góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn toán ở trường THCS. Chính vì vậy trong quá trình giảng dạy cùng với việc đổi mới phương pháp dạy học và tích lũy kinh nghiệm của bản thân, xin trình bày một vài kinh nghiệm trong đề tài “Phát triển tư duy logic cho học sinh lớp 7 thông qua giải bài toán hình học bằng phương pháp phân tích đi lên” với mong muốn được sự ủng hộ của hội đồng khoa học giáo dục các cấp
Trang 1A- ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong cuộc sống hằng ngày, mọi hoạt động của con người đều thông qua tư
duy của họ Khác với hành động của con vật mang tính bản năng, hành động của
con người luôn mang tính tự giác Con người, trước khi bắt tay vào hoạt động
thực tiễn cải tạo thế giới, đều đã có sẵn dự án trong đầu Sự khác biệt ấy là vì
con người có tư duy và biết vận dụng sức mạnh của tư duy vào việc thực hiện
các mục đích của mình Trong quá trình hoạt động đó, con người dần dần phát
hiện ra các thao tác của tư duy Cùng với sự phát triển của thực tiễn và của nhận
thức, con người càng ngày càng có sự hiểu biết đầy đủ hơn, sâu sắc hơn, chính
xác hơn về bản thân tư duy đang nhận thức Chính quá trình hiểu biết ấy là cơ sở
tạo ra sự phát triển của logic học Sự ra đời của logic học hiện đại tạo ra bước
ngoặt trong sự phát triển của khoa học và công nghệ Điều này là hoàn toàn rõ
ràng và thể hiện rõ nét nhất trong lĩnh vực công nghệ hiện đại
Toán học là môn học công cụ để phát triển tư duy logic và giải toán là một
hình thức rất tốt để rèn luyện, phát triển tư duy logic và các kỹ năng Giải toán
còn là hình thức tốt nhất để kiểm tra về năng lực, mức độ tiếp thu và vận dụng
kiến thức Ngoài ra giải toán còn rèn luyện những đức tính tốt nhất Chính vì
vậy, qua các giờ lên lớp và qua tiếp xúc hàng ngày, người giáo viên dạy toán
phải truyền thụ nghiêm túc, chính xác những kiến thức cho học sinh, đồng thời
phải cho các em thấy rõ những hiểu biết đó rất cần thiết cho cụôc sống hiện tại,
hướng dẫn các em biết vận dụng chúng vào cuộc sống hiện tại và sản xuất
Muốn như thế việc giảng dạy của giáo viên phải gắn liền với thực tế, phải rèn
luyện cho học sinh nắm vững kiến thức, biết suy luận, biết diễn đạt, có những kỹ
năng kỹ xảo cần thiết
Giải bài toán hình học là một hình thức rèn luyện, phát triển tư duy logic, giúp
cho học sinh có các kỹ năng, kỹ xảo và đức tính tốt nhất Giải một bài toán hình
học cũng giống như các bài toán khác, đều phải tuân thủ theo bốn bước Cả bốn
bước giải một bài toán, bước nào cũng quan trọng nhưng bước quan trọng nhất
mang tính quyết định có giải được bài toán hay không là bước phân tích tìm lời
giải Giải bài toán hình học đối với nhiều em học sinh bậc THCS thực sự là một
vấn đề khó, đòi hỏi sự tư duy logic của các em rất cao, yêu cầu các em phải nhớ
rất nhiều kiến thức cũ như các định nghĩa, định lý, tính chất, các hệ qủa … và
đặc biệt là biết vận dụng nó để thực hiện tốt bước phân tích tìm lời giải bài toán,
đây là điều mà nhiều học sinh không làm được nên các em ngán ngẩm khi giải
bài toán hình học, thậm chí chán học môn hình học Xuất phát từ những lí do
trên, qua nhiều năm giảng dạy ở trường trung học cơ sở, qua nghiên cứu sách vở
và tình hình thực tế tôi và nhiều đồng nghiệp thường trăn trở, băn khoăn tìm các
phương pháp dạy cho các em nhằm giúp các em dễ dàng tìm được lời giải bài
toán hình học góp phần phát triển tư duy logic cho các em, làm cho các em có
1
Trang 2hứng thú hơn khi giải các bài toán hình học đồng thời góp phần nâng cao chất
lượng dạy học môn toán ở trường THCS Chính vì vậy trong quá trình giảng dạy
cùng với việc đổi mới phương pháp dạy học và tích lũy kinh nghiệm của bản
thân, xin trình bày một vài kinh nghiệm trong đề tài “Phát triển tư duy logic cho
học sinh lớp 7 thông qua giải bài toán hình học bằng phương pháp phân tích đi
lên” với mong muốn được sự ủng hộ của hội đồng khoa học giáo dục các cấp.
B- GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I CƠ SỞ LÝ LUẬN
Chìa khóa để tối ưu hóa khả năng phát triển cá nhân và khả năng hoạch định
tổ chức công việc một cách hiệu quả, đó chính là "Tư duy có logic" Tư duy
logic phản ánh thế giới xung quanh và là cơ sở, là mục đích, là tiêu chuẩn của
hoạt động thực tiễn của con người trong quan hệ với thế giới nhằm đạt được kết
quả, đạt được mục đích đã định trước
Toán học là công cụ để phát triển tư duy logic, chính vì vậy việc giải toán có
ý nghĩa rất quan trọng trong việc phát triển tư duy logic cho học sinh Trong
khuôn khổ của đề tài này, tôi chỉ xin đề cập đến ý nghĩa của việc giải các bài
toán hình học bằng phương pháp phân tích đi lên nhằm phát triển tư duy logic
cho học sinh lớp 7 Trong các phương pháp đã thực hiện trong chương trình
THCS, giải bài tập hình học bằng phương pháp phân tích đi lên là phương pháp
giúp học sinh dễ hiểu, có kỹ thuật giải toán hình hệ thống, chặt chẽ và hiệu quả
nhất Vậy thế nào là phương pháp phân tích đi lên? Có thể khái niệm rằng, đây
là phương pháp dùng lập luận để đi từ vấn đề cần chứng minh dẫn tới vấn đề đã
cho trong một bài toán Cách lập luận đó không có gì xa lạ mà chính là các định
nghĩa, định lý, các tính chất, các dấu hiệu nhận biết đã được dạy và học Nói
cách khác, đây là phương pháp dùng lập luận phân tích theo kiểu “thăng tiến”,
biết cái này là do đã biết cái kia, biết vấn đề A từ cơ sở của vấn đề B… Hiểu đơn
giản hơn, trong quá trình thực hiện phương pháp này, học sinh phải trả lời cho
được các câu hỏi theo dạng: “để chứng minh kết luận này ta cần chứng minh gì?
Như vậy, muốn chứng minh A không có nghĩa là ta đi chứng minh trực tiếp A
mà thông qua việc chứng minh B thì ta đã chứng minh được A một cách gián
tiếp theo kiểu đi lên Học sinh giải bài tập hình học sử dụng phương pháp phân
tích đi lên được rèn luyện, phát triển tư duy logic rất tốt, khả năng suy luận của
các em sẽ ngày càng chặt chẽ, logic hơn
Từ kinh nghiệm giảng dạy thực tế, tôi thấy phương pháp phân tích đi lên luôn
có tác dụng gợi mở, tác động mạnh đến tư duy phân tích và tư duy tổng hợp của
học sinh Từ đó giúp các em hệ thống và nhớ được các kiến thức liên quan đã
học trước đó Trong quá trình giải bài tập, các em vừa đi tìm đáp số vừa có dịp
“hồi tưởng” lại những kiến thức mình đã học mà có khi không nhớ hết Từ đó
khi dạy học sinh giải bài toán hình học, giáo viên cần phải hướng dẫn học sinh
2
Trang 3lập sơ phân tích theo mạch tư duy logic để không những tìm được lời giải bài
toán mà còn phát hiện được các cách giải khác nhau cho bài toán
II THỰC TRẠNG
1 Đối với giáo viên
Khi dạy học sinh giải bài tập hình học thì đa số các giáo viên đều tuân thủ các
bước như: yêu cầu học sinh đọc kỹ đề bài, vẽ hình, viết giả thiết, kết luận rồi cho
học sinh suy nghĩ giải hoặc gợi ý để học sinh giải chứ không hướng dẫn, rèn
luyện cho học sinh lập sơ đồ tư duy tìm lời giải Một phần là do giáo viên sợ học
sinh không nắm vững kiến thức cũ, phần nữa là giáo viên sợ không đủ thời gian
sẽ bị cháy giáo án, cũng có những giáo viên không thực hiện công việc đó
thường xuyên nên không quen, dẫn đến học sinh không được rèn luyện nên khi
giải bài toán hình học, học sinh rất lúng túng, không tìm được hướng giải và tâm
lí ngày càng chán nản khi giải bài tập hình học Từ đó học sinh ít được rèn luyện
tư duy, không thể hiện được tính sáng tạo, không rèn được các kỹ năng cần thiết,
không phát triển được khả năng tư duy logic cho học sinh
2 Đối với học sinh
Trong thực tế giảng dạy, tôi nhận thầy rằng phần lớn học sinh rất sợ học hình
học, bởi vậy chất lượng học tập hình của các em rất yếu Qua kinh nghiệm của
bản thân và một số đồng nghiệp tôi rút ra được một số nguyên nhân sau:
- Học sinh chưa có những khái niệm cơ bản, rõ ràng, không nắm được bản chất,
chưa hiểu tường tận các định nghĩa, tính chất, định lý, hệ quả…
- Học sinh không vận dụng được các định nghĩa, tính chất, định lý, hệ quả một
cách linh hoạt, đúng lúc, đúng chỗ
- Một số em có thể do tâm lý ngại học hoặc sợ môn hình nên càng làm cho bài
toán từ dễ trở thành khó Học sinh chưa biết nghĩ từ đâu? nghĩ như thế nào? cách
trình bày, lập luận ra sao ở một bài toán hình học
- Trong sách giáo khoa bài toán mẫu còn ít, hướng dẫn gợi ý không đầy đủ nên
khó tiếp thu Hơn nữa khối lượng kiến thức, bài tập trong sách giáo khoa khá
nhiều đôi khi thầy và trò không làm hết trong thời gian qui định Vì vậy giúp học
sinh hiểu, biết làm các bài tập hình học là rất quan trọng, đó cũng là mục đích
của việc giảng dạy
Qua khảo sát chất lượng giải bài tập chứng minh hình học của 40 học sinh lớp
7C trường THCS Nga Thái đầu năm học 2014-2015, kết quả thu được như sau:
Tổng
số
học
sinh
Kết quả
3
Trang 4Đây là kết quả rất đáng lo ngại cho chất lượng học sinh, chính vì vậy mà việc
phát triển tư duy logic cho học sinh để các em tìm lời giải cho bài toán hình học
là rất cần thiết, giúp các em có thể giải được bài toán hình học một cách dễ dàng
hơn, tôi đã tiến hành vận dụng dạy học sinh giải bài toán hình học bằng phương
pháp này và bước đầu thu được kết quả tốt hơn
III CÁC GIẢI PHÁP TỔ CHỨC THỰC HIỆN
1 Phát triển tư duy logic cho học sinh thông qua việc lập sơ đồ tư duy tìm lời
giải một số bài toán:
1.1 Bài toán 1.(Bài 43 SGK Toán 7 tập I)
Cho góc xOy khác góc bẹt Lấy các điểm A, B thuộc tia Ox sao cho OA < OB
Lấy các điểm C, D thuộc tia Oy sao cho OC = OA, OD = OB Gọi E là giao
điểm của AD và BC Chứng minh rằng:
a) AD = BC ;
b) ∆EAB = ∆ECD ;
c) OE là tia phân giác của góc xOy
* Phân tích, lập sơ đồ tư duy logic để tìm lời giải
GT xOy < 1800, A, B Ox: OA < OB;
C, DOy: OC = OA, OD = OB AD cắt BC tại E
KL a) AD = BC
b) ∆EAB = ∆ECD
c) OE là tia phân giác của góc xOy
a) Chứng minh AD = BC
Đây là dạng toán chứng minh hai đoạn thẳng bằng nhau nên yêu cầu học sinh
nhớ lại các cách chứng minh hai đoạn thẳng bằng nhau, sau đó dựa vào giả thiết
để tư duy xem sử dụng cách chứng minh nào cho hợp lí
Mục đích cần đạt với học sinh ở đây là dựa vào giả thiết, tư duy rằng giả thiết
cho các đoạn thẳng bằng nhau và liên quan đến góc nên chọn cách chứng minh
ghép hai đoạn thẳng AD và BC vào hai cạnh tương ứng của hai tam giác OAD
và OCB rồi chứng minh cho hai tam giác đó bằng nhau để suy ra AD = BC Sau
đó lại đi tìm cách để chứng minh ∆OAD = ∆OCB dựa vào đặc điểm của hai tam
giác này có chung góc O và giả thiết đã cho OA = OC, OD = OB thì đã đủ điều
kiện kết luận ∆OAD = ∆OCB theo trường hợp cạnh – góc – cạnh, đến đây đã
hoàn thành việc tư duy logic tìm ra cách giải Mạch tư duy ở đây là “Để có A thì
cần phải có B”, sau đó tiếp tục tư duy để có B thì cần phải có gì? Từ đó hình
thành được mạch tư duy logic để tìm được cách giải như sau: Để chứng minh
AD = BC ta cần phải chứng minh ∆OAD = ∆OCB Hai tam giác này đã có
4
O
A
y
.
.
E
Trang 5chung góc O và OA = OC; OD = OB theo giả thiết nên đủ điều kiện để kết luận
∆OAD = ∆OCB theo trường hợp cạnh – góc – cạnh Khi đó ta có sơ đồ sau:
AD = BC (Hai cạnh tương ứng)
∆OAD = ∆OCB ( c-c-c)
OA = OC (GT), O chung, OD = OB (GT)
+ Trình bày lời giải:
Học sinh cần lưu ý sơ đồ trình bày từ trên xuống thì sơ đồ có dạng đi lên nhưng
khi trình bày lời giải ta phải trình bày bắt đầu từ dưới lên theo trình tự như vậy
mới đảm bảo hợp logic, chặt chẽ và khoa học
Xét hai tam giác OAD và OCB, có: OA = OC (GT),
Góc O chung,
OD = OB (GT)
Suy ra ∆OAD = ∆OCB ( c-c-c) AD = BC (Hai cạnh tương ứng)
b) Chứng minh ∆EAB = ∆ECD
Với mạch tư duy tương tự ở câu a, trước hết học sinh phải nhớ lại được các
cách chứng minh cho hai tam giác bằng nhau, sau đó dựa vào đặc điểm của hình
vẽ và giả thiết để chọn cách chứng minh nào cho hợp lí
Trước hết phải xét xem hai tam giác EAB và ECD đã có những yếu tố cạnh, góc
nào bằng nhau rồi, hai tam giác này mới chỉ có AEB = CED Khi đó phải
liên hệ sang câu a đã giải sẽ suy ra được ABE = CDE (từ ∆OAD =
∆OCB) Phải tìm thêm yếu tố bằng nhau về cạnh nữa mới tiếp tục có hướng giải,
nhận thấy OC = OA, OD = OB nên dễ dàng suy ra được AB = CD Đến đây có
thể lựa chọn cách chứng minh ∆EAB = ∆ECD, cách thích hợp là chứng minh
theo trường hợp góc - cạnh – góc vì rất khó để liên hệ đến cặp cạnh bằng nhau
nữa của hai tam giác này Theo đó, để chứng minh ∆EAB = ∆ECD theo trường
hợp góc - cạnh – góc ta cần phải chứng minh BAE = DCE Tiếp tục tư
duy để chứng minh BAE = DCE ta liên hệ đến hai góc OAD và OCB vì
góc BAE kề bù với góc OAD, góc DCE kề bù với góc OCB rồi chứng minh cho
OAD = OCB, mà hai góc này bằng nhau được suy ra từ ∆OAD = ∆OCB
ở câu a Như vậy ta đã tư duy suy luận logic đề tìm được cách giải cho bài toán
Từ đó ta có mạch tư duy logic tìm cách giải như sau: Muốn chứng minh
∆EAB = ∆ECD (g-c-g) ta cần chứng minh ABE =CDE, AB = CD,
BAE = DCE, màABE = CDE được suy ra từ ∆OAD = ∆OCB ở câu
a, AB = CD được suy ra từ giả thiết OC = OA, OD = OB nên để chứng minh
BAE = DCE ta cần chứng minh OAD = OCB, điều này được suy ra từ
∆OAD = ∆OCB ở câu a Ta có sơ đồ sau:
5
Trang 6∆EAB = ∆ECD (g-c-g)
ABE =CDE AB = CD BAE = DCE
∆OAD = ∆OCB (câu a) ; OC = OA, OD = OB ; OAD = OCB
∆OAD = ∆OCB(câu a)
+ Trình bày lời giải:
Ta có OC = OA, OD = OB (GT) OB – OA = OD – OC hay AB = CD Theo
câu a, ∆OAD = ∆OCB ABE = CDE và OAD = OCB màBAE
kề bù vớiOAD,DCE kề bù với OCB nên BAE = DCE Hai tam
giác EAB và ECD có ABE =CDE, AB = CD và BAE = DCE suy ra
∆EAB = ∆ECD (g-c-g)
c) Chứng minh OE là tia phân giác của góc xOy
Bằng cách tư duy suy luận logic như ở câu a, b, học sinh sẽ hình thành ngay
được mạch tư duy như sau: Để chứng minh OE là tia phân giác của góc xOy ta
cần chứng minh BOE =DOE hay AOE =COE Đến đây học sinh tư
duy có thể theo hai hướng, hoặc là để chứng minh BOE =DOE thì ta cần
phải chứng minh ∆OBE = ∆ODE, hoặc là để chứng minh AOE =COE ta
cần phải chứng minh ∆OAE = ∆OCE Xét đến các đặc điểm về yếu tố cạnh của
hai cặp tam giác OBE, ODE vàOAE, OCE thì dễ dàng nhận ra được hai cặp tam
giác này đều bằng nhau theo trường hợp cạnh – cạnh – cạnh Từ đó ta có sơ đồ
sau:
OE là tia phân giác của góc xOy
BOE =DOE AOE =COE
∆OBE = ∆ODE(c.c.c) ∆OAE = ∆OCE(c.c.c)
OE chung OB = OD(GT) OE chung OA = OC(GT)
BE = DE AE = CE
∆EAB = ∆ECD (câu a)
1.2 Bài toán 2.(Bài 70 SGK Toán 7 tập I)
6
Trang 7Cho tam giác ABC cân tại A Trên tia đối của tia BC lấy điểm M, trên tia đối
của tia CB lấy điểm N sao cho BM = CN
a) Chứng minh rằng tam giác AMN là tam giác cân
b) Kẻ BHAM (HAM), Kẻ CKAN (KAN) Chứng minh rằng BH = CK
c) Chứng minh rằng AH = AK
d) Gọi D là giao điểm của HB và KC Tam giác OBC là tam giác gì? Vì sao?
e) Khi BAC = 600 và BM = CN = BC, hãy tính số đo các góc của tam giác
AMN và xác định dạng của tam giác OBC
* Phân tích, lập sơ đồ tư duy logic để tìm lời giải
Trước khi tư duy tìm lời giải cho bài toán thì yêu cầu học sinh thực hiện vẽ hình,
viết giả thiết, kết luận cho bài toán
a) Chứng minh rằng tam giác AMN là tam giác cân
Với mạch tư duy logic giải bài toán bằng phương pháp phân tích đi lên
như ở bài toán 1, học sinh có thể tư duy phân tích tìm lời giải như sau:
Để chứng minh tam giác AMN là tam giác cân, ta cần chứng minh AM = AN
hoặc AMN = ANM hayAMB = ANC Muốn chứng minh AM = AN
hoặc AMB = ANC ta cần chứng minh ∆ABM = ∆ACN, hai tam giác này
đã có đặc điểm về cạnh AB = AC(∆ABC cân tại A), BM = CN(GT), nên để
chứng minh ∆ABM = ∆ACN, ta cần chứng minh ABM = ACN Nhận thấy
ABM kề bù với ABC, ACN kề bù với ACB mà ABC = ACB
(∆ABC cân tại A) nên dễ dàng suy ra ABM = ACN
Khi đó đã hoàn thành việc tìm lời giải cho bài toán và ta có sơ đồ sau:
Tam giác AMN là tam giác cân
7
A
M
H B
K
O
Trang 8AM = AN AMB = ANC
∆ABM = ∆ACN(c.g.c)
BM = CN AB = AC(∆ABC cân tại A)
ABM = ACN
ABM + ABC=180 0 ACN + ACB=180 0
ABC = ACB
∆ABC cân tại A(GT)
+ Trình bày lời giải:
Cũng theo cách trình bày lời giải đi từ dưới của sơ đồ đi lên, ta có lời giải như
sau: ∆ABC cân tại A(GT) ABC = ACB và AB = AC, mà ABM kề
bù với ABC, ACN kề bù với ACB ABM = ACN Xét hai tam
giác ABM và ACN có, AB = AC, ABM = ACN, BM = CN(GT)
∆ABM = ∆ACN(c.g.c) AMB = ANC hay AMN = ANM do
đó tam giác ABC là tam giác cân tại đỉnh A
b) Chứng minh rằng BH = CK
Để chứng minh BH = CK thì cũng xoay quanh việc ghép BH, CK vào hai cạnh
tương ứng của hai tam giác BHM và CKN rồi chứng minh ∆BHM = ∆CKN Hai
tam giác BHM và CKN là hai tam giác vuông có đặc điểm về yếu tố cạnh, góc
đó là có cạnh huyền bằng nhau BM = CN và hai góc nhọn bằng nhau
HMB = KNC (theo câu a,AMB = ANC) nên đủ điều kiện kết luận
∆BHM = ∆CKN (cạnh huyền-góc nhọn) Từ đó ta có sơ đồ tư duy tìm lời giải
sau:
BH = CK
∆BHM = ∆CKN
HMB = KNC (câu a), BM = CN(GT)
+ Trình bày lời giải:
Xét hai tam giác vuông BHM và CKN, có BM = CN(GT), HMB = KNC
(vì AMB = ANC), suy ra ∆BHM = ∆CKN (CH –GN) BH = CK
c) Chứng minh rằng AH = AK
8
Trang 9Để chứng minh AH = AK thì học sinh có thể tư duy theo hai cách, cách thứ
nhất là chứng minh cho AM = AN từ tam giác AMN cân tại A ở câu a và
HM = KN từ ∆BHM = ∆CKN ở câu b; cách thứ hai là chứng minh cho hai tam
giác vuông AHB và AKC bằng nhau theo trường hợp cạnh huyền-góc nhọn Ta
có sơ đồ tư duy tìm lời giải như sau:
Cách 1:
AH = AK
AM – HM = AN - KN
AM = AN HM = KN
∆AMN cân tại A(câu a) ∆BHM = ∆CKN (câu b)
Cách 2:
AH = AK
∆AHB = ∆AKC
AB = AC(∆ABC cân tại A) ;HAB = KAC (∆ABM = ∆ACN câu a)
+ Trình bày lời giải:
Cách 1: Theo câu a, ∆AMN cân tại A AM = AN (1) Mặt khác, theo câu b,
∆BHM = ∆CKN HM = KN(2) Từ (1) và (2) suy ra AM – HM = AN – KN
hay AH = AK
Cách 2: Xét hai tam giác vuông AHB và AKC, có AB = AC; HAB =
KAC
Suy ra ∆AHB = ∆AKC (cạnh huyền-góc nhọn) AH = AK
d) Tam giác OBC là tam giác gì? Vì sao?
Mục tiêu đạt được với học sinh là tư duy bằng cách dự đoán tam giác OBC là
tam giác cân tại O Khi đó để giải thích được vì sao tam giác OBC là tam giác
cân thì phải chứng tỏ được OBC = OCB, mà OBC = HBM(đối đỉnh)
và OCB = KCN(đối đỉnh), do đó để chứng tỏ OBC = OCB thì chỉ
cần chứng tỏ HBM = KCN, hai góc này bằng nhau được suy ra từ
∆BHM = ∆CKN ở câu b Như vậy ta có sơ đồ tư duy tìm cách giải như sau:
OBC là tam giác cân tại O
9
Trang 10OBC = OCB
OBC = HBM(đối đỉnh) OCB = KCN(đối đỉnh)
HBM = KCN
∆BHM = ∆CKN ở câu b
+ Trình bày lời giải:
Theo câu b, ∆BHM = ∆CKN HBM = KCN, mà OBC = HBM(đối
đỉnh), OCB = KCN(đối đỉnh) OBC = OCB Do đó OBC là tam
giác cân tại O
e) Khi BAC = 600 và BM = CN = BC, hãy tính số đo các góc của tam giác
AMN và xác định dạng của tam giác OBC
Để giải được bài toán này trước hết yêu cầu học sinh vẽ lại hình như sau:
Với giả thiết của bài toán BAC = 600 ta nhận thấy ngay ∆ABC là tam giác
đều Đề bài yêu cầu tính các góc của tam giác AMN, ta phải tính M,N,
MAN, mà M = N vì ∆AMN cân tại A,MAN =MAB + BAC +
NAC Xét thấy ∆AMB cân tại B(BA = BM) nên M = MAB, ∆ANC cân tại
C(CA = CN) nên N = NAC Do đó để tính các góc của tam giác AMN ta
cần phải tính góc M Góc M cũng là góc của tam giác cân ABM, góc ABC là
góc ngoài của tam giác cân ABM nên BAC = M +MAB = 2M, suy
ra 2M = 600 M = 300 Từ đó N = 300, MAB = 300, NAC = 300
và
MAN =MAB + BAC + NAC = 300 + 600 + 300 = 1200
+ Trình bày lời giải:
Tam giác cân ABC có BAC = 600 nên ∆ABC là tam giác đều ABC =
600
10
A
M
H
B
K
O
60 0