Hơn 85 năm qua, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam, một quân đội kiểu mới – Quân đội của dân, do dân, vì dân. Đó là một đội quân trăm trận trăm thắng, được tôi luyện trong lò lửa đấu tranh cách mạng của dân tộc, lập lên những chiến công rực rỡ. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Quân đội ta không ngừng được xây dựng và trưởng thành. Lịch sử quân đội trở thành một đối tượng nghiên cứu của khoa học quân sự và lịch sử quân sự, của khoa học xã hội và nhân văn Việt Nam thời hiện đại, không chỉ giới khoa học trong nước, mà còn được giới khoa học nhiều nước trên thế giới quan tâm nghiên cứu
Trang 1MỞ ĐẦU 3
Chương 1 QUAN ĐIỂM CƠ BẢN CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
VỀ XÂY DỰNG TỔ CHỨC QUÂN SỰ TRONG ĐẤU TRANH
1.1 Cơ sở lý luận, thực tiễn xác định quan điểm của
Đảng về xây dựng tổ chức quân sự cách mạng 81.2 Quá trình hình thành quan điểm cơ bản của Đảng về xây
dựng các tổ chức quân sự trong đấu tranh giành chính quyền 17
Chương 2 ĐẢNG CHỈ ĐẠO XÂY DỰNG CÁC TỔ CHỨC QUÂN
SỰ THỜI KỲ ĐẤU TRANH GIÀNH CHÍNH QUYỀN
2.1 Đảng chỉ đạo xây dựng các tổ chức quân sự thời kỳ đấu
2.2 Một số kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn Đảng lãnh đạo
xây dựng các tổ chức quân sự thời kỳ đấu tranh giành
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hơn 85 năm qua, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo xây dựng Quânđội nhân dân Việt Nam, một quân đội kiểu mới – Quân đội của dân, do dân,
vì dân Đó là một đội quân trăm trận trăm thắng, được tôi luyện trong lò lửađấu tranh cách mạng của dân tộc, lập lên những chiến công rực rỡ Dưới sựlãnh đạo của Đảng, Quân đội ta không ngừng được xây dựng và trưởng thành.Lịch sử quân đội trở thành một đối tượng nghiên cứu của khoa học quân sự vàlịch sử quân sự, của khoa học xã hội và nhân văn Việt Nam thời hiện đại,không chỉ giới khoa học trong nước, mà còn được giới khoa học nhiều nướctrên thế giới quan tâm nghiên cứu
Dưới góc độ bộ môn Lịch sử Đảng, nghiên cứu về quá trình ĐảngCộng sản Việt Nam lãnh đạo xây dựng các tổ chức quân sự trong thời kỳđấu tranh giành chính quyền (1930 – 1945) là vấn đề quan trọng, cần làm
rõ những cơ sở lý luận, thực tiễn để Đảng ta xác định quan điểm, quá trìnhhình thành các quan điểm cơ bản và sự chỉ đạo của Đảng xây dựng các tổchức quân sự từ buổi đầu của sự nghiệp đấu tranh cách mạng Đảng ta đãgây dựng được một lực lượng quân sự giữ vai trò làm nòng cốt cho cuộcTổng khởi nghĩa cách mạng tháng Tám năm 1945 giành thắng lợi Trên cơ
sở đó rút ra một số kinh nghiệm lịch sử, vận dụng vào quá trình xây dựngQuân đội nhân dân Việt Nam hiện nay Đồng thời, qua đó góp phần chốnglại các quan điểm phản động thực hiện âm mưu “phi chính trị hoá quânđội” hòng vô hiệu hoá quân đội Mặt khác, trong hoàn cảnh hiện nay,những tác động mặt trái của cơ chế thị trường đang hàng ngày, hàng giờgây ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống của cán bộ, chiến sĩ Trong thời gianqua đã xuất hiện một bộ phận cán bộ, đảng viên, chiến sĩ có biểu hiệngiảm sút niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng và công cuộc đổi mới, chạy
Trang 3theo lợi ích vật chất tầm thường, sa đoạ về lối sống, vun vén cá nhân, phai
mờ mục tiêu lý tưởng… gây tổn hại đến sức mạnh chiến đấu, bản chấttruyền thống tốt đẹp của Quân đội ta
Vì vậy, tìm hiểu đầy đủ quá trình hơn 60 năm Đảng lãnh đạo xây dựngquân đội, đặc biệt trong thời kỳ giành chính quyền là một việc làm cần thiết.Qua đó góp phần tăng cường công tác tuyên truyền, bảo đảm cho mọi cán bộ,chiến sĩ tin tưởng và tuyệt đối trung thành với Đảng, mãi mãi xứng danh “Bộđội Cụ Hồ”, luôn là lực lượng chính trị tin cậy, công cụ bạo lực sắc bén củaĐảng, Nhà nước và nhân dân ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Việt Nam XHCN Với lý do đó tôi chọn đề tài “Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo xây dựng các tổ chức quân sự trong đấu tranh giành chính quyền
từ 1930 đến 1945” làm luận văn cao học lịch sử chuyên ngành Lịch sử Đảng
Cộng sản Việt Nam
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Vấn đề Đảng lãnh đạo xây dựng các tổ chức quân sự trong thời kỳ đấutranh giành chính quyền đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đề cập ởcác góc độ khác nhau Có thể khái quát thành ba nhóm:
Một là: Nhóm tác phẩm của các đồng chí cán bộ lãnh đạo Đảng, Nhà
nước, Quân đội ta như: Lê Duẩn (1970), Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, vì độc
lập dân tộc, vì chủ nghĩa xã hội tiến lên giành thắng lợi mới, Nxb Sự thật, Hà
Nội; Lê Duẩn (1985), Về chiến tranh giải phóng và chiến tranh giữ nước ở
Việt Nam, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội; Võ Nguyên Giáp (1967), Những kinh nghiệm lớn của Đảng về lãnh đạo đấu tranh vũ trang và xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, Nxb Sự thật, Hà Nội; Võ Nguyên Giáp (2001);
Những chặng đường lịch sử, Nxb CTQG, Hà Nội; Phạm Văn Trà (2004),
60 năm Quân đội nhân dân Việt Nam xây dựng, chiến đấu, trưởng thành dưới
lá cờ vẻ vang của Đảng, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội Các tác phẩm này
có tính chất tổng kết lịch sử mang tầm khái quát lý luận quân sự và nghệ thuật
Trang 4quân sự Việt Nam, không đi sâu nghiên cứu từng giai đoạn lịch sử chiến tranhcách mạng ở nước ta.
Hai là: Nhóm các công trình khoa học mang tính tổng kết về lịch sử
Đảng, lịch sử quân đội viết về thời kỳ này như: Ban nghiên cứu lịch sử
Đảng Trung ương (1982), Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, tập 1, Nxb Sự
thật, Hà Nội; Ban nghiên cứu lịch sử quân đội thuộc Tổng cục Chính trị,
Viện Lịch sử quân sự Việt Nam (1999), Lịch sử Quân đội nhân dân Việt
Nam, tập 1, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội; Bộ Quốc phòng, Viện Lịch
sử quân sự Việt Nam (2004), Lịch sử các đội quân tiền thân của Quân đội
nhân dân Việt Nam, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội Đây là các tài liệu
khoa học có giá trị, nhưng thường trình bày lịch sử theo phạm vi rộng, baoquát nhiều nội dung, không đi sâu vào từng khía cạnh cụ thể
Ba là: Nhóm công trình chuyên khảo có liên quan đến đề tài như: Trịnh
Vương Hồng (2004) “Những quan điểm đầu tiên của Đảng chỉ đạo xây dựng
lực lượng vũ trang cách mạng Việt Nam”, Tạp chí Lịch sử Đảng 169 (12), tr.11-14; Dương Đình Lập (2004) “Các trung đội cứu quốc quân”, Nguyệt san
Báo Quân đội nhân dân, 128 (1), tr.14-15; Lê Liên (2004), “Từ chủ trương
của Đảng về vũ trang cách mạng đến sự ra đời của Quân đội công nông”,
Nguyệt san Báo Quân đội nhân dân, 128 (1), tr.4-5; Hồ Kiếm Việt (2004)
“Mấy bài học chủ yếu trong giữ vững và tăng cường bản chất cách mạng của
Quân đội nhân dân Việt Nam qua 60 năm”, Tạp chí Giáo dục lý luận chính trị
quân sự, 88 (6), tr.22-26 Trong các công trình kể trên, có nhiều tư liệu lịch sử
có giá trị và nhận định khoa học sắc sảo, nhưng các tác giả thường đi vàotrình bày những khía cạnh có tính chất chung cho cả quá trình lịch sử, khôngbàn riêng về sự lãnh đạo của Đảng đối với các tổ chức quân sự trong đấutranh giành chính quyền từ 1930 – 1945…
Tình hình trên cho thấy, các công trình nghiên cứu trước đó của cácđồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, quân đội và các nhà khoa học đã đề
Trang 5cập đến lịch sử cách mạng tháng Tám, lịch sử hình thành và phát triển lựclượng vũ trang cách mạng ở phạm vi rộng mang tính khái quát, hoặc chỉ
đi vào nghiên cứu những vấn đề hẹp phục vụ cho chuyên đề nghiên cứuriêng lẻ Đến nay chưa có công trình khoa học nào trình bày một cách hệthống về sự lãnh đạo của Đảng trong xây dựng các tổ chức quân sự thời
kỳ đấu tranh giành chính quyền (1930 – 1945) Các công trình đó lànhững tài liệu quý, tác giả có thể tham khảo, vận dụng trong quá trìnhthực hiện luận văn của mình
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
* Mục đích: Làm rõ sự lãnh đạo đúng đắn sáng tạo của Đảng ta
trong việc tổ chức xây dựng các tổ chức quân sự, trong thời kỳ đấutranh giành chính quyền (1930 – 1945) Từ đó khái quát rút ra nhữngkinh nghiệm lịch sử, vận dụng vào quá trình xây dựng quân đội trong giaiđoạn hiện nay
* Nhiệm vụ: Để thực hiện được mục đích đó, luận văn tập trung giải
quyết các nhiệm vụ cơ bản sau:
- Làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn và quá trình hình thành quan điểm cơbản của Đảng về xây dựng các tổ chức quân sự thời kỳ 1930 – 1945
- Trình bày về quá trình chỉ đạo của Đảng xây dựng các tổ chức quân sựlàm nòng cốt cho cuộc đấu tranh giành chính quyền từ 1930 đến 1945
- Rút ra một số kinh nghiệm lịch sử, vận dụng vào quá trình xây dựngquân đội trong giai đoạn hiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu của đề tài là: Sự lãnh đạo, chỉ đạo của
Đảng trong quá trình xây dựng các tổ chức quân sự thời kỳ 1930 – 1945
* Phạm vi nghiên cứu: Luận văn chỉ giới hạn nghiên cứu hoạt động
lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng về công tác xây dựng các tổ chức quân sự từkhi Đảng ra đời lãnh đạo cách mạng đến khi kết thúc thắng lợi Cách mạng
Trang 6tháng Tám 1945 Tuy nhiên để bảo đảm tính kế thừa có hệ thống, luận văn
có đề cập đến một số sự kiện liên quan trước năm 1930 và sau 1945
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
Luận văn dựa trên nguyên lý, quan điểm của học thuyết Mác-Lênin về chiếntranh và quân đội, tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối và chủtrương của Đảng Cộng sản Việt Nam, về xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng,xây dựng quân đội kiểu mới mang bản chất giai cấp công nhân
Phương pháp nghiên cứu của luận văn, dựa trên phương pháp luậnduy vật biện chứng và duy vật lịch sử Mác-Lênin, phương pháp luận sử họcmácxít, chủ yếu là phương pháp lịch sử kết hợp với phương pháp lôgíc và
sự kết hợp hai phương pháp đó Đồng thời, luận văn còn sử dụng cácphương pháp nghiên cứu khác như: thống kê, so sánh, phân tích tổng hợp
để làm sáng tỏ các vấn đề nghiên cứu của đề tài
6 Ý nghĩa của luận văn
Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần vào quá trình tổng kết lịch sửcách mạng nói chung, lịch sử xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam nói riêng.Qua đó làm cơ sở để thống nhất nhận thức, xây dựng niềm tự hào về Đảng quangvinh, Bác Hồ vĩ đại – Người sáng lập, giáo dục và rèn luyện Quân đội ta
Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu, giảngdạy lịch sử Đảng ở các nhà trường quân đội
7 Kết cấu của luận văn
Luận văn gồm có: Phần mở đầu, 2 chương (4 tiết), kết luận, danh mụctài liệu tham khảo và phụ lục
Trang 7Chương 1 QUAN ĐIỂM CƠ BẢN CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
VỀ XÂY DỰNG TỔ CHỨC QUÂN SỰ TRONG ĐẤU TRANH
là bạo lực vũ trang Điều kiện không thể thiếu để tiến hành cách mạng bạo lực
là phải có một tổ chức quân sự, công cụ quan trọng trong khởi nghĩa và chiếntranh nhằm thực hiện mục đích chính trị theo quan điểm giai cấp
Giai cấp tư sản vì đặc quyền, đặc lợi của mình không bao giờ tựnguyện rút khỏi vũ đài lịch sử Chúng luôn tìm mọi cách duy trì địa vịthống trị bằng bất cứ hình thức thủ đoạn nào Nhà nước tư sản có trong taymột bộ máy quân sự quy mô lớn, sẵn sàng đàn áp các cuộc đấu tranh cáchmạng của giai cấp công nhân và quần chúng lao động trong nước, cũng như
ở các nước thuộc địa Vì vậy, giai cấp công nhân muốn giải phóng mình,giải phóng dân tộc, giải phóng loài người thoát khỏi mọi sự áp bức, bóc lộtthì phải làm cách mạng và sử dụng bạo lực cách mạng đập tan bộ máy bạolực phản cách mạng và mọi sự phản kháng của chúng, đó là một tất yếukhách quan C.Mác và Ph.Ăngghen đã xác định được sứ mệnh lịch sử củagiai cấp công nhân quốc tế là người đào huyệt chôn chủ nghĩa tư bản vàxây dựng thành công chủ nghĩa cộng sản C.Mác và Ph.Ăngghen còn chỉ
Trang 8rõ: để thực hiện thắng lợi sứ mệnh của mình, giai cấp công nhân nhất thiếtphải tổ chức ra lực lượng quân sự làm công cụ chủ yếu tiến hành đấu tranh
vũ trang, lật đổ giai cấp thống trị bóc lột để thiết lập nên một chế độ mới,đồng thời bảo vệ thành quả cách mạng
Nghiên cứu vấn đề tư duy tổ chức quân sự của giai cấp công nhân,C.Mác và Ph.Ăngghen chủ trương “vũ trang cho giai cấp công nhân”, lấy
vũ trang nhân dân thay thế quân đội thường trực Các ông đã dự kiến quânđội thường trực của giai cấp tư sản phải được thay thế bằng nhân dân vũtrang, bằng lực lượng dân cảnh xã hội chủ nghĩa Các ông đánh giá rất caobài học của Công xã Pari về nhiệm vụ của giai cấp công nhân đối với việcđập tan quân đội thường trực C.Mác và Ph.Ăngghen chỉ rõ: “Pari sở dĩ đãchống cự lại được, chỉ là vì, do bị vây hãm, nó đã loại bỏ được quân đội vàthay bằng một đội vệ binh quốc gia gồm chủ yếu là công nhân Hiện nay,cần phải biến thực trạng đó thành một chế độ hẳn hoi; cho nên sắc lệnh đầutiên của Công xã là xoá bỏ quân đội thường trực và thay bằng nhân dân vũtrang” [42, tr.449]
Như vậy, C.Mác và Ph.Ăngghen không chỉ là người đầu tiên phát hiệnđược sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân mà còn chỉ rõ cho họ con đườnghoàn thành sứ mệnh lịch sử bằng bạo lực cách mạng Hình thức tổ chức quân
sự mới của giai cấp công nhân và quần chúng bị áp bức là: vũ trang cho giaicấp công nhân, vũ trang nhân dân, vũ trang quần chúng Đó là quan điểm rất
cơ bản, trở thành nền tảng lý luận về xây dựng lực lượng quân sự làm công cụbạo lực trong học thuyết Mác
Vận dụng và phát triển luận điểm “vũ trang cho giai cấp công nhân” củaC.Mác và Ph.Ăngghen trong điều kiện mới của lịch sử, V.I.Lênin đã nêu lên
sự cần thiết phải xây dựng tổ chức quân sự kiểu mới của nhà nước xã hội chủnghĩa và khẳng định rằng, trước nguy cơ xâm lược của chủ nghĩa đế quốc,nếu nước Cộng hoà Xô Viết trẻ tuổi không muốn trở thành miếng mồi ngon
Trang 9của chúng, thì về lực lượng quân sự không thể dừng lại ở hình thức dân cảnh
mà phải tiến lên hình thức tổ chức mới cao hơn, đó là: quân đội thường trực,
chính quy Trong tác phẩm “Quân đội cách mạng và chính phủ cách mạng” viết năm 1905, V.I.Lênin đã chỉ rõ quân đội cách mạng là “trụ cột của chính
Tổ chức quân sự “là công cụ mà quần chúng nhân dân và các giai cấp
trong nhân dân sử dụng để giải quyết những cuộc xung đột vĩ đại trong lịch sử” [32, tr.378] Luận điểm quân đội là “trụ cột” là “công cụ” trên của
V.I.Lênin đã chỉ rõ vai trò, tầm quan trọng và sự cần thiết của tổ chức quân sựcách mạng mà giai cấp công nhân, nhân dân lao động phải tổ chức ra quân độivới tư cách là “tổ chức vũ lực” trong cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh dântộc, trong quá trình cách mạng của giai cấp công nhân Việc tổ chức xây dựnglực lượng quân sự để bảo vệ thành quả cách mạng, bảo vệ Tổ quốc xã hội chủnghĩa sau khi giai cấp công nhân đã giành chính quyền V.I.Lênin còn luậngiải rằng, nếu không cầm vũ khí bảo vệ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa thìchúng ta không thể tồn tại được Bởi vì, chúng ta không chỉ sống trong mộtquốc gia mà còn sống trong một hệ thống quốc gia và không thể tưởng tượngđược rằng nước Cộng hoà Xô Viết lại tồn tại bình yên bên cạnh các nước đếquốc trong một thời gian lâu dài được Rốt cuộc, bên này hay bên kia phảichiến thắng và trước khi đi đến kết thúc thì không thể tránh khỏi một số cuộcxung đột ghê gớm giữa nước Cộng hoà Xô Viết và các nước tư bản Điều đó
có nghĩa là giai cấp công nhân đã chiến thắng ở nước Cộng hoà Xô Viết nếumuốn thống trị và nếu thực sự thống trị, thì phải tỏ rõ điều đó bằng tổ chức
Trang 10quân sự của mình Tiếp đó, V.I.Lênin còn nhiều lần nhấn mạnh vai trò của lựclượng quân sự trong đấu tranh cách mạng Người khẳng định muốn cứu thoátvĩnh viễn những người lao động khỏi ách địa chủ và tư bản, tất phải xây dựngmột đạo Hồng quân vĩ đại của người lao động Chính từ chủ trương đó, khi kýsắc lệnh thành lập Hồng quân Xô Viết (28.1.1918) V.I.Lênin một lần nữanhấn mạnh rằng: muốn bảo vệ được chính quyền công nông để chống bọn cámập, tức bọn địa chủ và tư bản, chúng ta phải có Hồng quân mạnh mẽ; chúng
ta đã chứng tỏ, bằng hành động chứ không phải bằng lời nói, rằng chúng ta cókhả năng thành lập được Hồng quân; có Hồng quân mạnh chúng ta sẽ vô địch
Sở dĩ V.I.Lênin luận giải rõ ràng và nhiều lần nhấn mạnh tầm quan trọng
và sự cần thiết của lực lượng quân sự trong sự nghiệp đấu tranh cách mạng là
vì Người mong muốn có sự thống nhất về nhận thức trong Đảng và quầnchúng cách mạng; tạo cơ sở cho quyết tâm cao xây dựng lực lượng vũ trangcủa nước Cộng hoà Xô Viết trong thực tiễn, cổ vũ quần chúng cách mạnghăng hái gia nhập Hồng quân, ủng hộ Hồng quân Một tổ chức quân sự làmnòng cốt để tiến hành phương pháp bạo lực cách mạng nhằm thực hiện mụcđích chính trị do Đảng của giai cấp công nhân đề ra Đây là cơ sở nền tảng đểĐảng ta xác định quan điểm xây dựng tổ chức quân sự cách mạng trong đấutranh giành chính quyền
Chủ trương vũ trang toàn dân, xây dựng tổ chức quân sự làm nòng cốtcho toàn dân đánh giặc của Đảng ta còn là sự kế thừa và phát triển những giátrị truyền thống khoa học nghệ thuật quân sự của dân tộc ta trong quá trìnhlịch sử dựng nước và giữ nước, đặc biệt là nghệ thuật tổ chức, xây dựng lựclượng vũ trang, xây dựng quân đội của dân tộc trong điều kiện lịch sử mới lênmột trình độ mới, phù hợp với đặc điểm mới của thời đại chống chủ nghĩathực dân, giải phóng dân tộc, giành độc lập, tự do cho Tổ quốc
Trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc, truyền thống vũ trang toàndân, mỗi người dân là một người lính, “trăm họ là binh”, xây dựng quân đội
Trang 11đậm nét tính nhân dân, truyền thống cố kết dân tộc để giữ nước “cả nướcchung sức đánh giặc” là đặc điểm nổi bật và xuyên suốt chiều dài lịch sửchống xâm lược của dân tộc Việt Nam Tạo nên nét đặc sắc đó không chỉ docác cuộc chống xâm lược của nhân dân ta là chính nghĩa, nhân dân ta có lòngyêu nước nồng nàn, mà còn do các nhà lãnh đạo quốc gia trong nhiều thời kỳlịch sử đã hết sức chăm lo cho sự bền vững xã hội, biết dựa vào dân, lấy dânlàm gốc, nếu rời dân nhất định thất bại.
Từ nhận thức đó, những người lãnh đạo đã giương cao ngọn cờ đạinghĩa dân tộc, chủ trương tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, phát huylòng yêu nước của mỗi người dân đứng lên chiến đấu chống quân xâm lược,giải phóng đất nước và bảo vệ Tổ quốc Nhiều triều đại đã thực hiện một sốchính sách tiến bộ phù hợp lòng dân như chăm lo bồi dưỡng sức dân, nângcao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân bằng nhiều biện pháp, trướchết là tạo điều kiện cho kinh tế nông nghiệp phát triển Quan điểm “khoan thưsức dân” thực chất là gắn việc huy động và bồi bổ lực lượng vật chất và tinhthần của dân, làm cho “thực túc binh cường”, nguồn lực trong nhân dânkhông bao giờ cạn kiệt mà trái lại ngày càng phát triển, qua đó mà nhà nướchuy động được nguồn lực trong dân ngày càng nhiều hơn để phục vụ cho sựnghiệp giữ nước Đặc biệt, chế độ “ngụ binh ư nông” (binh gửi trong dân)được áp dụng trong suốt thời Lý, Trần, Lê là một phương thức kết hợp kinh tếvới quốc phòng, vừa đảm bảo tập trung lao động cho nông nghiệp, vừa duy trìmột lực lượng quân đội thường trực cần thiết trong thời bình, vừa có thể huyđộng tối đa lực lượng khi đất nước có chiến tranh Trên nền tảng xã hội bềnvững, ổn định, quyền lợi của người dân được quan tâm, tinh thần yêu nướccủa mỗi người dân được phát huy, nhân dân hăng hái thực hiện các chủtrương của Nhà nước và tham gia các tổ chức vũ trang Vì vậy, nhân dân aicũng là binh Đi đôi với vũ trang toàn dân, quân đội của quốc gia Đại Việtthời Lý, Trần, Lê và Tây Sơn được xây dựng hùng hậu, chính quy, có tổ chức
Trang 12chặt chẽ, huấn luyện chu đáo, kỷ luật nghiêm, sẵn sàng xả thân vì nước Lựclượng vũ trang làm nòng cốt gồm nhiều thứ quân, có quân của triều đình (cấmquân, sương quân),có quân của các địa phương và các đội dân binh ở làng xã,động, bản…
Truyền thống tổ chức, xây dựng lực lượng vũ trang chống ngoại xâmcủa ông cha là một di sản quân sự quý giá, một nhân tố quan trọng đểĐảng ta kế thừa và phát triển lên một trình độ mới trong quá trình tổ chứcxây dựng lực lượng quân sự, tiến hành đấu tranh giành chính quyền, giảiphóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc nói chung và xây dựng quân đội nói riêngtrong điều kiện lịch sử mới
Việc tổ chức ra lực lượng quân sự làm công cụ bạo lực cách mạng củaĐảng trong đấu tranh giành chính quyền còn là sự tiếp thu có chọn lọc nhữngbài học kinh nghiệm các cuộc đấu tranh cách mạng của các nước, nhất là kinhnghiệm tổ chức, xây dựng lực lượng quân sự của Công xã Pari (1871) Đây làcuộc cách mạng vô sản đầu tiên trên thế giới mà giai cấp công nhân cùng vớiquần chúng nhân dân tiến hành bằng con đường vũ trang nhằm lật đổ bộ máythống trị của giai cấp tư sản phản động; đã nắm được chính quyền, giànhthắng lợi trong thời gian ngắn Nhiệm vụ cấp thiết lúc bấy giờ đối với Công
xã là phải củng cố lực lượng quân sự, tranh thủ đà thắng lợi, tiếp tục tiến côngđập tan sào huyệt bộ máy chính quyền cũ, bảo vệ chính quyền mới, nhưngCông xã đã không làm được Vì thế, sau khi củng cố được lực lượng quânđội, giai cấp tư sản mở cuộc phản công, bao vây Công xã Do bị bao vây,Công xã không liên minh được với quần chúng nên bị thất bại Sự thất bại củaCông xã, nó đã để lại bài học kinh nghiệm quí báu đối với phong trào côngnhân và cộng sản quốc tế sau này, nó chỉ rõ phải thực hiện chuyên chính vôsản triệt để và liên minh công nông, cần sử dụng quân đội làm công cụ bạolực chủ yếu đập tan bộ máy nhà nước cũ và xây dựng chính quyền nhà nướcmới
Trang 13Với thắng lợi vĩ đại của cách mạng tháng Mười Nga (1917) đã chứngminh sức mạnh của đông đảo quần chúng công nông, trong đó lực lượng
vũ trang cách mạng là lực lượng nòng cốt, giữ vai trò quyết định đếnthắng lợi Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản mácxít, các lực lượng vũtrang Xô Viết đã làm tròn nhiệm vụ bảo vệ vững chắc thành quả cáchmạng tháng Mười và Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, phát huy truyền thống tốtđẹp và bản chất giai cấp công nhân; trong chiến tranh vệ quốc vĩ đại(1941 – 1945) các lực lượng vũ trang Xô Viết đã đánh tan nhiều đạo quânxâm lược hung bạo nhất trên thế giới, cứu nhân loại khỏi thảm hoạ củachủ nghĩa phát xít
Ở Việt Nam trong những năm cuối thế kỷ XIX, đầu XX, thực dânPháp và phong kiến tay sai thực hiện chính sách cai trị hết sức dã man,nhân dân ta không hề được hưởng một chút quyền tự do tối thiểu nào.Chúng đã sử dụng cả bộ máy quân sự phản cách mạng thẳng tay đàn ápcác cuộc đấu tranh cách mạng, dìm phong trào cách mạng trong biểnmáu Vì thế, muốn lật đổ bộ máy thống trị của chúng, nhân dân ta không
có con đường nào khác là thực hiện cách mạng bạo lực, phải tổ chức ralực lượng quân sự của mình cùng toàn dân đập tan bộ máy quân sự vàách đô hộ thống trị của đế quốc, phong kiến; giành chính quyền về taynhân dân Trước yêu cầu khách quan của lịch sử xã hội Việt Nam đặt ra,
đã xuất hiện hai khuynh hướng là: khuynh hướng “bất bạo động”, tức làkhông dùng, không xem bạo lực là phương thức đấu tranh; và khuynhhướng “phưu lưu bạo động”, từ đó dẫn đến việc hoặc xem nhẹ hoặc chỉthấy vai trò của lực lượng vũ trang mà không nhận rõ vai trò của lựclượng chính trị quần chúng trong khởi nghĩa vũ trang và chiến tranh giảiphóng dân tộc Do vậy, kết cục dẫn đến sự thất bại Đó chính là bài họcthực tiễn giúp Hồ Chí Minh nhận thấy rằng, những con đường đó khôngthể xoay chuyển tình thế Bằng kinh nghiệm thực tiễn lại được trang bị
Trang 14lý luận chủ nghĩa Mác-Lênin, Hồ Chí Minh sớm nhận thức được bảnchất của kẻ thù và phương pháp đấu tranh cách mạng đúng đắn Ngay từnăm 1922, sau một thời gian nghiên cứu chế độ thực dân, Hồ Chí Minh
đã khẳng định: “chế độ thực dân, tự bản thân nó đã là hành động bạo
lực của kẻ mạnh đối với kẻ yếu Bạo lực đó, đem ra đối xử với trẻ em và phụ nữ lại càng bỉ ổi hơn nữa” [44, tr.96] Dưới ách thống trị của chế độ
thực dân đối với nhân dân ta, Người đã rút ra hai kết luận quan trọng.Thứ nhất, theo quy luật, có áp bức thì có đấu tranh Nhưng các cuộc đấutranh của nhân dân ta diễn ra mang tính bột phát, cục bộ, bị kẻ thù khủng
bố rất khốc liệt Bởi vậy, muốn tổ chức bạo động phải có kế hoạch chuđáo, có quyết tâm cao, có tổ chức chặt chẽ Thứ hai, trong cuộc đấutranh giải phóng dân tộc, lần đầu tiên trong lịch sử đã xuất hiện một lựclượng mới tham gia Đó là giai cấp công nhân Người coi đó là “dấu hiệumới của thời đại” Vấn đề đặt ra là phải tăng cường tình đoàn kết giaicấp cùng chống kẻ thù chung
Từ những cơ sở đó, năm 1924, Người đã khẳng định phương phápcách mạng ở các nước thuộc địa phải bằng khởi nghĩa vũ trang Khởinghĩa vũ trang là một phương thức cơ bản để giành chính quyền thôngqua việc lật đổ hệ thống chính quyền thực dân thuộc địa, chứ không phảibằng con đường cải cách dần dần, một cuộc đảo chính giản đơn, hay mộtcuộc cách mạng từ trên dội xuống Người nói về tổ chức càng nhiều càngtốt những nhóm vũ trang của những người nông dân và công nhân Đó lànhững tế bào có thể hợp thành hạt nhân của cuộc khởi nghĩa mà Ngườitin chắc chắn sẽ nổ ra Cũng trong năm 1924, trên cơ sở tổng kết lịch sử
và tổng kết thực tiễn phong trào đấu tranh yêu nước ở Việt Nam, Ngườiviết “Báo cáo về vấn đề Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ”, đề cập đến vấn
đề sức mạnh của chủ nghĩa dân tộc Trong Báo cáo đó, vấn đề khởi nghĩa
vũ trang lại được nêu ra Người nhấn mạnh rằng, cuộc khởi nghĩa vũ
Trang 15trang ở Đông Dương muốn thắng lợi phải có tính chất một cuộc khởinghĩa quần chúng chứ không phải một cuộc nổi loạn Cuộc khởi nghĩa vũtrang phải được chuẩn bị trong quần chúng nhân dân, cả dân tộc tiếnhành thì cách mạng mới thành công.
Trong bài “Đông Dương khổ nhục” viết năm 1928, Người nhấn
mạnh: “Bị khuất phục bằng vũ lực, bắt buộc phải chịu đựng bao nhiêu
điều nhục nhã, bị áp bức, bóc lột, dân Đông Dương không thể chịu ngồi yên mà không phá gông xiềng của chủ nghĩa đế quốc Pháp” [46, tr.365].
Trước đó, trong tác phẩm “Đường cách mệnh” được Bộ tuyên truyền củaHội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức Á Đông, xuất bản năm 1927, Người
đã giải đáp những vấn đề cơ bản đang đặt ra trước các lực lượng yêunước và cách mạng Việt Nam Người chỉ rõ: cách mạng Việt Nam trướchết là cách mạng giải phóng dân tộc nhằm đánh đuổi bọn áp bức và thựcdân Pháp giành độc lập, tự do Cách mạng giải phóng dân tộc đó khôngtách rời mà có quan hệ mật thiết với cách mạng giai cấp, đánh đuổi bọn
tư bản, địa chủ, giải phóng công nông Nó phải là cuộc cách mạng đếnnơi Vì vậy, con đường duy nhất đúng đắn của cách mạng Việt Nam chỉ
có thể là con đường cách mạng tháng Mười Nga Chỉ có đi theo conđường đó, con đường khởi nghĩa vũ trang dưới sự lãnh đạo của giai cấpcông nhân thì nhân dân ta mới giành được độc lập, tự do thực sự Về sau
Người khẳng định rõ: “Dân tộc Việt Nam nhất định phải được giải
phóng; muốn giải phóng phải đánh phát xít Nhật – Pháp Muốn đánh chúng thì phải có lực lượng quân sự” [49, tr.329] Theo tư tưởng của Người
“Cách mệnh thì phải đoàn kết dân chúng bị áp bức để đánh đổ cả cái giai
cấp áp bức mình, chứ không phải chỉ nhờ năm, bảy người, giết hai, ba anh vua, chín mười anh quan mà được” “Dân khí mạnh thì quân lính nào, súng ống nào cũng không chống lại nổi”, “cách mệnh thì phải tổ chức rất vững mới thành công” [45, tr.274] Những quan điểm tư tưởng Người nêu trong
Trang 16“Đường cách mệnh” đã trở thành cơ sở nền tảng để Đảng ta tiến hành xây
dựng tổ chức quân sự của Đảng sau này
Như vậy, chủ trương của Đảng về xây dựng các tổ chức quân sự, thời
kỳ đấu tranh giành chính quyền (1930 – 1945), có cơ sở lý luận và thựctiễn phong phú Đó là kết quả của sự nghiên cứu, vận dụng sáng tạo họcthuyết quân sự Mác-Lênin vào điều kiện thực tiễn nước ta; là sự kế thừa
và phát triển truyền thống xây dựng lực lượng vũ trang đặc sắc của dântộc; tiếp thu những nhân tố có giá trị về quân sự của các nước để phục vụcho việc xây dựng các tổ chức quân sự cách mạng ở Việt Nam Trongnhững cơ sở đó, học thuyết quân sự Mác-Lênin quyết định bản chất giaicấp, truyền thống xây dựng lực lượng vũ trang đặc sắc của dân tộc có vịtrí đặc biệt quan trọng đối với quá trình hình thành và phát triển quanđiểm của Đảng về xây dựng các tổ chức quân sự Tuy nhiên, các cơ sở đókhông tác động riêng rẽ mà tác động trong mối quan hệ biện chứng, thôngqua hoạt động, đúc kết thực tiễn sáng tạo của Đảng trước đòi hỏi của thựctiễn xây dựng các tổ chức quân sự cách mạng ở Việt Nam, Đảng từngbước bổ sung, phát triển trong đường lối cho phù hợp với từng thời điểm
cụ thể, đưa cuộc đấu tranh cách mạng tới thắng lợi
1.2 Quá trình hình thành quan điểm cơ bản của Đảng về xây dựng các tổ chức quân sự trong đấu tranh giành chính quyền
Ngày 3.2.1930 Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, có sứ mệnh lịch sửlãnh đạo đưa cách mạng Việt Nam đến thắng lợi trong thời đại mới Trên
cơ sở nắm vững quan điểm học thuyết Mác-Lênin, kế thừa và phát triểnnhững giá trị truyền thống xây dựng lực lượng vũ trang chống giặc ngoạixâm của dân tộc, từ yêu cầu thực tiễn lịch sử xã hội Việt Nam đặt ra, Đảng
ta ngay từ đầu đã lựa chọn phương pháp cách mạng bạo lực để tiến hànhgiải phóng dân tộc Trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng, đã xácđịnh rõ mục tiêu của cách mạng Việt Nam là: “làm tư sản dân quyền cách
Trang 17mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”[17, tr.2] Nhiệm vụcủa cách mạng về phương diện chính trị là đánh đổ đế quốc Pháp và bọnphong kiến, làm cho nước Việt Nam hoàn toàn độc lập, nhân dân được tự
do Đồng thời, Đảng cũng chỉ ra con đường đúng đắn nhất để đạt được mụctiêu trên là dùng sức mạnh bạo lực của quần chúng có tổ chức để đánh đổ
đế quốc và phong kiến tay sai, lập nên chính phủ công – nông – binh, tổchức ra quân đội công nông, nghĩa là tổ chức đội quân công nông chiến đấu
vì quyền lợi của đại bộ phận nhân dân, công nhân và nông dân
Sau đó, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ nhất(10.1930) thông qua Luận cương chính trị, xác định những nội dung cơ bảncủa cách mạng Việt Nam Luận cương tiếp tục khẳng định, con đường giànhchính quyền là bằng bạo lực của quần chúng được tiến hành dưới hình thứckhởi nghĩa vũ trang Về xây dựng lực lượng vũ trang, Luận cương chính trịnêu rõ: Đảng phải tổ chức ra đội tự vệ của công nông
Chủ trương và quan điểm của Đảng xây dựng các đội tự vệ của côngnông được thể hiện trong “Án nghị quyết về tình hình hiện tại ở ĐôngDương và nhiệm vụ cần kíp của Đảng” Nghị quyết Hội nghị xác định:Đảng đã bước vào thời kỳ tổ chức và lãnh đạo các cuộc bãi công, thị oaichính trị và dự bị võ trang bạo động “Điều cốt yếu trong công tác hàngngày của Đảng là phải thâu phục quảng đại quần chúng để làm cho cuộcbạo động trong tương lai được thắng lợi” [18, tr.112] Đối với công nhân,khi có các cuộc đấu tranh đột nhiên xẩy ra thì chi bộ phải can thiệp vàongay mà tìm cách chỉ huy, tổ chức đội tự vệ và dự bị cách đối phó với kẻthù Đảng phải tổ chức công nhân tự vệ Đối với nông dân, Đảng phảikhuyếch trương phong trào đấu tranh rộng lên; đồng thời phải tổ chức đội
tự vệ của nông dân Nghị quyết nhấn mạnh: “Đảng phải tổ chức bộ quân
sự của Đảng để: làm cho đảng viên được quân sự huấn luyện Giúp chocông nông hội tổ chức đội tự vệ Vận động trong quân đội của bọn địch
Trang 18nhơn” [18, tr.116], nghĩa là Đảng phải tổ chức ra bộ quân sự nhằm thựchiện các nhiệm vụ chính trị do Đảng xác định.
Hội nghị còn ra các nghị quyết riêng về nông dân vận động, cộng sảnthanh niên và quân đội vận động, trong đó nêu rõ chủ trương xây dựng đội tự
vệ công nông Án nghị quyết về nông dân vận động nêu: “Việc tổ chức và
khuyếch trương đội tự vệ của nông dân rất quan trọng và cần thiết cho cuộc đấu tranh ở nhà quê” [18, tr.155] Án nghị quyết về cộng sản thanh niên vận
động chỉ rõ: “phải tổ chức những “thanh niên vệ đội” tức là những đoàn thể
có tính chất bán võ bị cho quảng đại quần chúng thanh niên thành phố và nhà quê” [18, tr.240].
Án nghị quyết về quân đội vận động chỉ ra rằng: “Ở Đông Dương quânđội hoàn toàn ở dưới quyền của đế quốc chủ nghĩa Trong quân đội có haiphần: Phần đông hơn hết là những người bổn xứ; còn một phần nữa là nhữngđội quân chiếm cứ hoặc ở Pháp, hoặc ở các thuộc địa khác kéo tới Trongcuộc vận động cách mạng trong đám quân đội ấy, chiến lược của Đảng mộtmặt là phải lấy khẩu hiệu quân đội quốc gia (nghĩa là quân đội không phụthuộc với đế quốc chủ nghĩa) để làm cho binh lính bổn xứ hoá ra quân độicách mạng; còn một mặt nữa là phải thực hành cái chương trình thất bạichủ nghĩa (nghĩa là làm cho đế quốc chủ nghĩa bị thất bại, quân đội bị rờirã) kích thích ra những sự phân tán để làm cho bộ phận quân đội ấy bị thối,mục, tan nát” [18, tr.241]
Những chủ trương của Đảng về xây dựng đội tự vệ công nông được bàn
ra quyết định tại Hội nghị đã hình thành trên cơ sở con đường cách mạng bạolực, con đường “võ trang bạo động” và thực tiễn xây dựng lực lượng cáchmạng để làm nòng cốt cho phong trào cách mạng diễn ra ở trong nước Theo
đó, đội tự vệ công nông là cách gọi chung các đội tự vệ công nhân và các đội
tự vệ nông dân Vì công nhân và nông dân là lực lượng chính của cách mạng.Đội tự vệ công nông được xây dựng trên cơ sở chủ yếu từ thành viên của tổ
Trang 19chức công hội và nông hội, do Đảng tổ chức và lãnh đạo Đội tự vệ công nông
có vai trò, nhiệm vụ thị oai kẻ thù, bảo vệ các cuộc đấu tranh của công nhân
và nông dân và nhằm tạo vốn quân sự để dự bị tiến tới cuộc “tổng bãi côngbạo động” giành chính quyền Chủ trương đó thể hiện sự sáng tạo của Đảngtrong vận dụng tư tưởng cách mạng bạo lực, trong học thuyết Mác-Lênin vàohoàn cảnh cụ thể của cách mạng Việt Nam
Sau Hội nghị Trung ương (10.1930), vấn đề xây dựng đội tự vệ côngnông luôn được Trung ương Đảng quan tâm Ngày 9 tháng 12 năm 1930,trước tình hình có những ý kiến và quan điểm khác nhau về đội tự vệ côngnông, Trung ương Đảng gửi thư cho các cấp bộ Đảng để làm rõ vấn đề tổchức và xác định rõ vai trò của đội Trong thư, Trung ương xác định: “Đội
tự vệ: phong trào đấu tranh của quần chúng nhất là nông dân, đã dấy lênđến một trình độ kịch liệt và phải chống lại những cách khủng bố dã mancủa đế quốc, nên vấn đề tổ chức đội tự vệ của công nhân và nông dân làmột vấn đề quan trọng Có đội tự vệ thì công và nông mới giúp cho quầnchúng tổ chức đấu tranh hơn trước được…” [18, tr.241] Tiếp đó, trongthư gửi Xứ uỷ Bắc Kỳ ngày 26 tháng 1 năm 1931, Thường vụ Trung ươngĐảng chỉ ra: “Để lãnh đạo cuộc đấu tranh, trước hết hãy tổ chức một độibảo vệ thợ thuyền và dân cày Không nên xem là tàn bạo việc những tênlính hoặc quan lại bị đánh đập hay bị chết vì những trận đòn, trong quátrình phải tự vệ Trong nhiều nơi, người ta vẫn lẫn lộn sự tàn bạo vớinhững cuộc đấu tranh mãnh liệt Việc tự vệ là một vấn đề quan trọng hàngđầu, cần phải tổ chức và tuyên truyền ủng hộ việc này để cổ vũ quầnchúng đấu tranh” [19, tr.43 -44] Cũng trong tháng 1 năm 1931, Thường
vụ Trung ương Đảng còn ra “Thông cáo cho các Xứ uỷ”, phân tích tươngđối hệ thống vai trò, chức năng, phương hướng xây dựng lực lượng tự vệcông nông; đồng thời phê phán uốn nắn những ý kiến sai lầm về đội tự vệ
đã xuất hiện trong một số đảng bộ Trung ương Đảng chỉ rõ hiện thời thực
Trang 20dân Pháp đang ra sức khủng bố đàn áp phong trào cách mạng “Đảngkhông có phép tiên thần gì, Đảng cũng không có quân đội, tàu bay, tráiphá, Đảng chỉ có cách làm quần chúng giác ngộ, tự lấy lực lượng mà tranhđấu, lấy sức tổ chức của mình mà chống khủng bố” [20, tr.3] Trung ươngĐảng phân tích:
Đội tự vệ không phải tổ chức trong một lúc đấu tranh rồi giải tán đi, nhưng phải duy trì khuyếch trương ra làm một lực lượng vĩnh viễn của quần chúng Khi có tranh đấu thì đội tự vệ phải ra đi đầu, đi kèm quần chúng mà
hộ vệ, còn lúc thường thì phải tập luyện riêng, phải bàn định những cách hộ
vệ và bênh vực tranh đấu Có đồng chí nói rằng: tổ chức ra đội tự vệ mà không có võ trang cho họ thì tay không làm gì được mà hộ vệ cho quần chúng Nói như vậy rất sai lầm Trong lúc tranh đấu bây giờ thì không thể nói đến việc võ trang được Việc võ trang quần chúng không phải lúc nào cũng đề xướng ra được Phải hiểu rằng, tự vệ chứ không phải là hồng quân, hộ vệ anh
em tranh đấu hàng ngày chớ không phải xông pha cùng binh lính địch nhân
mà cướp chính quyền Vấn đề võ trang chưa phải là cần kíp phải có [20, tr.7
-8]
Từ đó, Trung ương Đảng chỉ rõ, đội tự vệ tuy không đủ võ trang,song có thể giúp quần chúng được nhiều Tuy tự vệ không có khí giới gìnhưng nó có tổ chức, nó có thao luyện, nó có kế hoạch thống nhất, nó cóđiều tra và hiểu rõ những thủ đoạn của quân đội, nó lại có sức hy sinhcương quyết, hiểu rõ trách nhiệm cách mạng của họ nữa, thì tự vệ cũngthành một lực lượng mạnh hơn mấy trăm ngàn người khác rồi “Thế đủbiết không cần có võ trang cũng vẫn tổ chức tự vệ được Nhưng đồng thờicũng đừng nghĩ lầm rằng đã tự vệ thì không được võ trang, không đượcdùng võ trang mà làm những sự bạo lực Đội tự vệ mà có dùng một ít võtrang (gậy, cây súng v.v ) và xung đột với quân địch trong lúc tranh đấu,không phải là đã bạo động đâu, đó cũng là một sự phải làm và không thể
Trang 21không xảy ra được Nói tóm lại, không cần phải có đủ võ trang cũng cóđội tự vệ được, mà cũng không phải đã là đội tự vệ thì không thể có mộtđôi chút võ trang là xung đột với lính đâu” [20, tr.8-9].
Khẳng định vai trò của đội tự vệ, Thường vụ Trung ương nêu rõ: Mộtvấn đề rất quan trọng cho sự tranh đấu quần chúng công nông bây giờ là vấn
đề tổ chức đội tự vệ của công nông Các đảng bộ phải góp sức với công, nônghội mà hết sức hô hào cổ động thiệt rộng trong quần chúng ý nghĩa và lợi íchcủa đội tự vệ… phải làm sao cho mỗi nhà máy, mỗi làng xã đều có đội tựvệ…
Trên cơ sở những vấn đề đó, Trung ương Đảng đưa ra kết luận: “khi tổchức và chỉ huy đội tự vệ phải chú ý làm cho họ hiểu thiệt rõ phận sự của họthì mới khỏi hành động sai lầm Lợi ích của đội tự vệ rõ rệt như vậy Mà đội
tự vệ đã có cái lợi ích như vậy thì tất nhiên sẽ được quần chúng hoan nghênh
và tham gia, sẽ thành một cái lợi khi kích thích tinh thần quần chúng thêmnữa; quần chúng biết rằng mình có anh em hết sức đi kèm mình, hộ vệ, che chở
đỡ cho mình thì thêm vững chí và thêm can đảm biết mấy Tổ chức ra đội tự vệcủa quần chúng có ít nhiều phương diện như vậy cho nên các đảng bộ phải đặcbiệt lưu tâm mà làm ngay đi, không nên để chậm trễ một ngày nào nữa” [20,tr.9] Cùng với sự nhấn mạnh tính cấp thiết của đội tự vệ, Thường vụ Trungương Đảng còn lưu ý các Xứ ủy rằng, tự vệ là lực lượng vũ trang cơ sở củacách mạng, thực hiện chức năng bảo vệ các cuộc mít tinh, biểu tình, bảo vệthành quả cách mạng đạt được ở cơ sở; chứ chưa phải là Hồng quân ra xôngpha cùng binh lực địch, cần phân biệt cho rõ để tránh những hành động sailầm
Tiếp tục quan điểm coi trọng vai trò lực lượng vũ trang cơ sở trongđấu tranh cách mạng của quần chúng, Hội nghị Trung ương lần thứ 2 củaĐảng họp ở Sài Gòn tháng 3 năm 1931, đã ra Án nghị quyết trong đónghiêm khắc phê phán:
Trang 22Trong những cuộc tranh đấu đã có nhiều nơi đảng viên cản trở quần chúng không để cho quần chúng hộ vệ tính mạng nữa Có lúc quần chúng xung đột với binh lính thì đảng bộ lại phê bình vô lý, lại đem câu
“bạo động non”, “manh động” mà cản trở sự xung đột… việc tranh đấu cướp chính quyền là việc làm không phải khi nào cũng được Chớ còn
ra tranh đấu biểu tình hàng ngày vì những mục đích quyền lợi rõ rệt mà xung đột với lính thì là một sự tự vệ rất cần kíp [21, tr.95].
Nghị quyết đã nêu tiếp vấn đề tổ chức đội tự vệ Lần đầu tiên, Hội nghịTrung ương Đảng đã đề cập đến vai trò của chi bộ Đảng trong việc tổ chức đội
tự vệ đảm bảo chất lượng chính trị Nghị quyết Hội nghị nêu rõ: “Chi bộ phảiđặc biệt chú ý về việc tổ chức đội tự vệ Đội tự vệ là một lợi ích tranh đấu rất cầnthiết để bảo vệ tranh đấu Chi bộ phải cùng với Công hội mà chuyên cần lo lắng,kéo đảng viên vào đội, đẩy người ra chỉ huy” [21, tr.112] Như vậy, ngay từ khi
ra đời lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta luôn chú trọng đến việc tổchức, phát triển Đội tự vệ công nông Đảng ta coi đây là một trong nhữngcông tác quan trọng trong nhiệm vụ tuyên truyền tập hợp quần chúng, xâydựng các tổ chức quân sự cách mạng, mà hình thức ban đầu là Đội tự vệcông nông làm nòng cốt cho toàn dân đấu tranh để đánh đổ chính quyềnthực dân, phong kiến tay sai, giành độc lập cho dân tộc, mà cương lĩnhđầu tiên của Đảng đã vạch ra
Sau cao trào 1930 – 1931, phong trào cách mạng tạm thời lắngxuống Những năm tiếp theo, chính quyền thực dân Pháp và phong kiếntay sai tiếp tục đẩy mạnh các cuộc khủng bố và đàn áp phong trào cáchmạng của nhân dân ta rất khốc liệt Hệ thống tổ chức đảng, đoàn thể quầnchúng cách mạng, đội tự vệ công nông phải chịu những tổn thất lớn.Trước hoàn cảnh đó, Trung ương Đảng quyết định tập trung giữ gìn, củng
cố lực lượng cách mạng; trong đó có đội tự vệ công nông, duy trì dưới
Trang 23hình thức mới Khi thời kỳ khó khăn những năm 1932 – 1934 đã vượtqua, Đảng ta lại quan tâm ngay đến những vấn đề vũ trang quần chúngbằng việc lập “đội tự vệ công nông”
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ nhất (3/1935) tại Ma Cao (TrungQuốc) Đảng ta đã thảo luận, thông qua Nghị quyết về Đội tự vệ Nghị quyếttổng kết kinh nghiệm tổ chức và hoạt động của Đội tự vệ công nông trong caotrào cách mạng 1930 – 1931 từ đó đề ra những nguyên tắc xây dựng và hoạtđộng của đội tự vệ Nghị quyết chỉ rõ sự cần thiết phải tổ chức đội tự vệ côngnông nhằm: “a) Ủng hộ quần chúng hàng ngày: b) Ủng hộ quần chúngtrong các cuộc đấu tranh; c) Ủng hộ các cơ quan cách mạng và chiến sĩcách mạng của công nông; d) Quân sự huấn luyện cho lao động cách mạng,chống quân thù giai cấp tấn công và làm cho vận động cách mạng pháttriển thắng lợi” [22, tr.91] Nghị quyết giải thích rõ: công nông tự vệ đội làlực lượng vũ trang cơ sở, khác với đội du kích và Hồng quân Đội du kíchkhông phải bao giờ muốn tổ chức thì tổ chức được ngay, còn đội tự vệ thì tráilại, hễ có vận động cách mạng, thì dù yếu mấy cũng có thể tổ chức được Tự
vệ đội càng mạnh thì càng có điều kiện thuận lợi để sau này tổ chức du kích,Hồng quân Nghị quyết xác định nguyên tắc xây dựng đội tự vệ công nông:thứ nhất là xây dựng đội tự vệ công nông về mặt chính trị; thứ hai là tổ chức,biên chế, trang bị và huấn luyện cho đội tự vệ công nông
Về nguyên tắc thứ nhất: Đội tự vệ công nông là một loại hình tổ chức cótính chất nửa quân sự của quần chúng nhân dân lao động, trước hết và chủyếu là của công nhân và nông dân do Đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo.Thành phần của đội tự vệ bao gồm những người lao động có nhiệt tình, cươngquyết, không phân biệt gái trai, hoặc dân tộc, từ 18 tuổi trở lên Đội tự vệ đặtdưới quyền chỉ huy thống nhất của Trung ương chấp uỷ của Đảng Cộng sản
Trang 24Từ Trung ương chấp uỷ tới mỗi thành uỷ, tỉnh uỷ phải tổ chức ngay quân uỷ,quân uỷ này một bộ phận thì lo quân đội vận động, một bộ phận thì lo tổ chức
và chỉ huy đội tự vệ Đồng thời, các đảng bộ “phải đem đảng viên và đoànviên cương quyết nhất vào Tự vệ và các cấp bộ chỉ huy của Tự vệ, nhưng thếkhông phải là không cho những hội viên thường hăng hái dự cuộc chỉ huy tự
vệ [22, tr.95] Nghị quyết quy định cụ thể trong các ban chỉ huy đội tự vệ
ở cấp trung đội và đại đội, bên cạnh đội trưởng và đội phó có một đại biểu củaĐảng “Đội trưởng và đại biểu Đảng phải hợp tác mà chỉ huy” [22, tr.95] Sựhành động hàng ngày thì phục tùng Đảng bộ tương đương Sự hành độngquân sự chung thì phục tùng thượng cấp tự vệ, và quân uỷ tương đương củaĐảng Đội trưởng và đại biểu Đảng có bất đồng ý kiến thì do thượng cấpquân uỷ giải quyết
Nguyên tắc tổ chức của Đảng là tập trung dân chủ, tính chất của đội
tự vệ công nông là tổ chức nửa vũ trang của quần chúng lao động Nghịquyết chỉ rõ: “Kỷ luật tự vệ công nông cách mạng không phải là kỷ luậtnhà binh, nhưng cũng nghiêm khắc Không thoả hiệp được với tính lườibiếng, sụt sè và bất tuân mệnh lệnh thượng cấp” [22, tr.95] Đặc biệt,trong bối cảnh kẻ thù đang khủng bố, đàn áp tàn khốc, các tổ chức đảng
và các đoàn thể quần chúng công hội, nông hội… đang hoạt động trongđiều kiện rất khó khăn, gian khổ, đội viên tự vệ phải có nhiệm vụ giữ bímật công tác của đội, tiểu đội nào chỉ được biết tiểu đội ấy, cấp trên vàcấp dưới quan hệ với nhau chỉ qua những người phụ trách cấp ấy Nghịquyết nhấn mạnh: trong đội tự vệ phải thực hiện dân chủ nội bộ: “Tự vệđội viên có quyền và cần phải thảo luận rộng rãi những vấn đề thuộc vềphương diện ủng hộ cách mạng vận động” Đối với quần chúng nhân dân:
“Đội tự vệ tổ chức và phát triển mật thiết liên lạc với quần chúng, hàngngày tự vệ phải chăm lo tranh đấu, ngăn cản bọn thù giai cấp nhũng nhiễu
Trang 25công nhân, nông dân Đội tự vệ phải hết sức ủng hộ quần chúng lao độngtrong các cuộc mít tinh, thị oai, kháng sưu, kháng thuế, bãi thị v.v [22,tr.96].
Giữ vững bản chất cách mạng của đội tự vệ, bảo đảm sự lãnh đạo tuyệtđối của Đảng, thực hiện chế độ dân chủ đi đôi với kỷ luật nghiêm minh, đoànkết nội bộ, quan hệ mật thiết với nhân dân là những nguyên tắc xây dựng đội
tự vệ về chính trị Đây là những quan điểm đầu tiên nhưng rất cơ bản củaĐảng trong xây dựng các tổ chức quân sự cho cách mạng Việt Nam
Về nguyên tắc thứ hai: Nghị quyết cũng xác định rõ nguyên tắc tổ chức,biên chế, trang bị, huấn luyện đội tự vệ công nông Theo đó, đội tự vệ côngnông từ 5 người tới 9 người tổ chức thành một tiểu đội Ba tiểu đội tổ chứcthành một trung đội Ba trung đội tổ chức thành một đại đội, cứ theo phép
“tam tam chế” mà tổ chức lên Tuỳ theo lực lượng phát triển của Đảng, Thanhniên cộng sản đoàn, các hội quần chúng mà tổ chức trong mỗi xí nghiệp, mỗilàng xã bao nhiêu tiểu đội, trung đội, đại đội… “Căn cứ vào khu vực mà hiệpcông nông Tự vệ đội thành bộ đội để tiện việc chỉ huy thao diễn [22, tr.95]
Đó là các đội tự vệ thường trực Nghị quyết nhấn mạnh: Đội tự vệ chẳngnhững cần phải hộ vệ quần chúng hàng ngày mà còn phải tập luyện, chớ đểtới cuộc tranh đấu mới tổ chức thì chậm trễ, có hại, tự vệ hành động khôngthống nhất, không thạo, không lanh, kế hoạch không tinh tường, nhiệm vụkhông thấu rõ và kỷ luật không nghiêm chỉnh Chỉ tổ chức tự vệ tạm thờitrong các cuộc đấu tranh rồi giải tán đi là một xu hướng sai lầm Do đó, tổchức tự vệ phải có các đội tự vệ thường trực được huấn luyện, có hệ thống tổchức, chỉ huy thống nhất, hàng ngày bảo vệ quần chúng đấu tranh chống áchthống trị thực dân, phong kiến
Đi đôi với việc tổ chức đội tự vệ thường trực, Nghị quyết xác địnhcần huấn luyện quân sự cho quần chúng tham gia công tác tự vệ, đồngthời phê phán xu hướng chỉ lo tổ chức tự vệ thường trực, mà không chú ý
Trang 26vận động quần chúng tham gia tự vệ là sai lầm Nghị quyết nêu rõ: “đếncác cuộc đấu tranh của quần chúng, Đội Tự vệ thường trực kia lấy thêmmột bộ phận quần chúng tranh đấu lo việc tự vệ dưới quyền chỉ huy củamình, theo kế hoạch của mình đã sắp đặt sẵn hay tuỳ hoàn cảnh mà xoaytrở Bộ phận quần chúng này sau cuộc tranh đấu thì nói chung là hết vai tự
vệ, tự vệ thường trực lựa kẻ cương quyết mà kết nạp thêm” [22, tr.92].Như vậy, trong tổ chức đội tự vệ vừa có lực lượng thường trực làm nòngcốt vững chắc, vừa thu hút cả lực lượng quần chúng trung kiên tham gia.Đây là cách tổ chức đội tự vệ công nông thích hợp với phong trào cáchmạng nước ta hồi đó, thể hiện quan điểm toàn dân tham gia xây dựng lựclượng vũ trang cách mạng của Đảng
Về trang bị của đội tự vệ công nông, Nghị quyết đề ra phương châm bêncạnh vũ khí thô sơ tự trang bị (gậy gộc, giáo mác, kiếm…), phải tìm cáchcướp lấy súng của địch mà trang bị cho mình, càng nhiều vũ khí càng tốt đểhuấn luyện và chiến đấu khi cần thiết, tránh khuynh hướng không cần vũ khí.Đối với công tác huấn luyện quân sự cho Đội tự vệ công nông, Nghịquyết nêu phương hướng huấn luyện về kỹ thuật và chiến thuật cho tự vệ biết
sử dụng các vũ khí thông thường như súng lục, súng trận, liên thanh, tạc đạn;biết chiến thuật đánh trong thành phố, chiến thuật du kích chiến tranh
Như vậy, từ “Chánh cương vắt tắt” “sách lược vắn tắt”- Cương lĩnhchính trị đầu tiên thông qua tại Hội nghị thành lập Đảng (3.2.1930), đếnLuận cương chính trị của Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ nhất(10.1930), Nghị quyết của Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ hai (3.1931),đặc biệt là Nghị quyết về Đội tự vệ của Đại hội Đảng lần thứ nhất (3.1935),những quan điểm của Đảng về xây dựng lực lượng vũ trang, xây dựng các
tổ chức quân sự, cụ thể là xây dựng đội tự vệ công nông đã hình thành Lầnđầu tiên những nguyên tắc xây dựng lực lượng vũ trang cũng như tổ chứcquân sự của Đảng về chính trị và quân sự đã được đề ra một cách cơ bản và
Trang 27tương đối toàn diện Những quan điểm trên được Đảng ta tiếp tục bổ sung,hoàn thiện và trở thành bộ phận cấu thành quan điểm về vũ trang toàn dân,xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng, xây dựng các tổ chức quân sự vàxây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam về sau.
Từ sau Đại hội lần thứ nhất (3.1935), tình hình thế giới có những biếnchuyển mới: nguy cơ phát xít gây chiến trên thế giới ngày càng tăng Trướctình hình ấy, căn cứ vào Nghị quyết của Đại hội lần thứ VII của Quốc tế Cộngsản và xuất phát từ điều kiện cụ thể của Việt Nam lúc đó, Hội nghị Ban Chấphành Trung ương Đảng lần thứ nhất khoá I (7.1936) đã quyết định tạm thờikhông nêu khẩu hiệu đánh đổ đế quốc Pháp và khẩu hiệu tịch thu ruộng đấtcủa địa chủ chia cho dân cày, chủ trương thành lập Mặt trận nhân dân phản đếĐông Dương, (sau đổi là mặt trận dân chủ Đông Dương) và khẳng định: Mặttrận nhân dân phản đế là cuộc liên hiệp hết thảy các giai cấp trong toàn dântộc bị áp bức đang tranh đấu đòi những quyền lợi hàng ngày cho toàn dân,chống chế độ thuộc địa vô nhân đạo, để dự bị điều kiện cho cuộc vận độngdân tộc giải phóng phát triển
Bước sang thời kỳ 1939 – 1945, cuộc Chiến tranh thế giới thứ haidiễn ra đã làm xuất hiện tình thế cách mạng cho phong trào đấu tranh giảiphóng các dân tộc thuộc địa Ở Việt Nam và các dân tộc Đông Dươngđang đứng trước yêu cầu cấp thiết của cuộc cách mạng giải phóng, vấn đềchính quyền đặt ra một cách trực tiếp Để có phương pháp đấu tranh cáchmạng cho phù hợp với tình hình mới, Đảng ta đã kịp thời chuyển hướngchỉ đạo chiến lược Chủ trương chuyển hướng chỉ đạo chiến lược củaĐảng thể hiện tập trung trong ba nghị quyết Hội nghị Trung ương: Trungương 6 (11.1939); trung ương 7 (11.1940); Trung ương 8 (5.1941) Đảng
ta đã quyết định chuyển từ đấu tranh giành dân sinh dân chủ sang thời kỳtrực tiếp đánh đổ chính quyền đế quốc và phong kiến tay sai để giải phóngdân tộc, từ đấu tranh hợp pháp và nửa hợp pháp sang đấu tranh bí mật, bất
Trang 28hợp pháp và khởi nghĩa vũ trang Cả ba nghị quyết (6,7,8) đều thống nhấtnhận định rằng: chuẩn bị cho khởi nghĩa vũ trang là nhiệm vụ trung tâmcủa Đảng và nhân dân ta trong giai đoạn hiện tại.
Trong Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 6 (11.1939) Đảng
ta khẳng định: Bước đường sinh tồn của các dân tộc Đông Dươngkhông còn có con đường nào khác hơn là con đường đánh đổ đế quốcPháp, chống tất cả các ách ngoại xâm, vô luận da trắng hay da vàng đểtranh lấy giải phóng độc lập Đế quốc Pháp chết thì dân chúng ĐôngDương mới còn Hội nghị chủ trương lập “quốc dân cách mạng quân”,đồng thời nhấn mạnh nhiệm vụ trước mắt phải xây dựng, phát triển đội
tự vệ, làm cho: “Đội tự vệ phải to rộng, đủ dũng cảm và điềm tĩnh,khôn khéo và hy sinh bảo vệ quần chúng” [23, tr.553] Có thể nói, đây
là mốc đánh dấu bước chuyển hướng chiến lược cách mạng đúng đắncủa Đảng, trong đó chủ trương tiếp tục duy trì và phát triển đội tự vệ(đã hình thành từ cao trào cách mạng những năm 1930 – 1931), chuẩn
bị điều kiện để từng bước xây dựng các đội du kích, tự vệ quy mô lớnhơn, phù hợp với thời kỳ cách mạng mới, đẩy mạnh cuộc đấu tranh giảiphóng của dân tộc Việt Nam
Một năm sau, tại Hội nghị trung ương lần thứ 7 (11.1940), Đảng ta đãquyết định việc duy trì lực lượng vũ trang tại chỗ, phát triển cơ sở cách mạng,tiến tới thành lập căn cứ du kích chuẩn bị cho khởi nghĩa vũ trang giành chínhquyền Đặc biệt, tại Hội nghị Trung ương lần thứ 8 (5.1941), trên cơ sở phântích tình hình cuộc chiến tranh thế giới, Trung ương Đảng dự đoán rằng “Nếucuộc đế quốc chiến tranh lần trước đã đẻ ra Liên Xô, một nước xã hội chủnghĩa thì cuộc đế quốc chiến tranh lần này sẽ đẻ ra nhiều nước xã hội chủnghĩa, sẽ do đó mà cách mạng nhiều nước thành công [21, tr.100] Sau khiphân tích tình hình thế giới và trong nước sâu sắc, toàn diện, Hội nghịkhẳng định: “Trong lúc này quyền lợi của bộ phận, của giai cấp phải đặt
Trang 29dưới sự sinh tử, tồn vong của quốc gia, của dân tộc Trong lúc này nếukhông giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập,
tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc cònchịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn nămcũng không đòi lại được Đó là nhiệm vụ của Đảng ta trong vấn đề dântộc” [24, tr.113]
Trên cơ sở đó, Hội nghị đã phát triển và bổ sung hoàn chỉnh cácnghị quyết của Hội nghị Trung ương lần thứ 6 và 7 về nhiệm vụ giảiphóng dân tộc; đồng thời, xác định rõ phương pháp cách mạng giànhchính quyền về tay nhân dân: “Cuộc cách mạng Đông Dương phải kếtliễu bằng một cuộc khởi nghĩa võ trang” [24, tr.129] Để chuẩn bị chokhởi nghĩa vũ trang giành chính quyền thắng lợi, thì việc xây dựng vàphát triển lực lượng vũ trang, xây dựng các tổ chức quân sự làm nòng cốtcho toàn dân tiến hành tổng khởi nghĩa là một yêu cầu cấp bách Vì thế,Hội nghị đã quyết định xây dựng những tổ chức tiểu tổ du kích, du kíchchính thức và ra nghị định “Điều lệ của Việt Nam tiểu tổ du kích cứuquốc”, một tổ chức quân sự rộng rãi của quần chúng có khả năng tiếnhành chiến tranh du kích ở các địa phương
Vấn đề xác định bản chất giai cấp trong xây dựng lực lượng vũ trang,xây dựng các tổ chức quân sự là vấn đề vô cùng hệ trọng Nhưng vấn đềnày đối với lực lượng vũ trang cơ sở đã được giải quyết sâu sắc trong Nghịquyết về Đội tự vệ (1935) Cho nên, Điều lệ của Việt Nam tiểu tổ du kíchcứu quốc không đi sâu giải quyết vấn đề đó nữa, mà tập trung xác định vào
8 vấn đề trọng tâm sau:
Thứ nhất, xác định tên gọi: Việt Nam tiểu tổ du kích cứu quốc
Thứ hai, xác định loại hình và mục đích tổ chức: Điều lệ nêu rõ rằng,
đây là một tổ chức cao hơn tự vệ đội và thấp hơn du kích chính thức Mụcđích xây dựng Việt Nam tiểu tổ du kích cứu quốc là nhằm bảo vệ và giải vây
Trang 30cho các chiến sĩ, giữ gìn các cơ quan cách mạng; giúp đỡ đội du kích chínhthức trong lúc hành quân và chiến đấu với quân thù, phá các cơ quan vận tảilương thực và khí giới của địch; biến chuyển thành đội du kích chính thức đểđánh đổ ách thống trị của thực dân Pháp và phát xít Nhật, làm cho nước ViệtNam hoàn toàn độc lập.
Thứ ba, xác định phương pháp tổ chức Điều lệ nêu rõ: Đoàn thể cứu
quốc của Việt Minh tổ chức ra tiểu tổ du kích Tiểu tổ du kích chịu dướiquyền chỉ huy của đoàn thể cứu quốc và Việt Minh đã tổ chức ra tiểu tổ dukích đó Về tổ chức lực lượng: Từ ba đến bẩy đội viên thì tổ chức thànhmột tiểu đội du kích cứu quốc, có một tiểu đội trưởng chỉ huy; từ hai tiểu tổ
du kích trở lên thì tổ chức thành liên tiểu tổ, có một liên đội trưởng và phóliên đội, một uỷ viên chính trị chỉ huy Điều lệ xác định: Những đội viêncủa tiểu tổ du kích khi có việc thì hợp nhau lại hành động, xong việc lạigiải tán, ai về nhà nấy sinh hoạt như thường dân Điều đó có nghĩa là, cácđội viên của Việt Nam tiểu tổ du kích cứu quốc không phải là những ngườithoát ly sản xuất
Thứ tư, xác định điều kiện kết nạp đội viên: những ai trong hội cứu quốc
của Việt Minh, có sức lực và hăng hái, thừa nhận điều lệ của đội, thì được gianhập vào tiểu tổ Đồng thời, Điều lệ cũng nêu rõ những trường hợp đặc biệthoặc ở những địa phương chưa có đoàn thể cứu quốc của Việt Minh thì nhữngngười hăng hái đánh Pháp, đuổi Nhật (mà không phải là Việt gian) thì có thể
tổ chức tiểu tổ du kích cứu quốc để hành động cho kịp thời
Thứ năm, trách nhiệm của Việt Nam tiểu tổ du kích cứu quốc: phải hăng
hái bảo vệ các cơ quan và chiến sĩ cách mạng Những lúc cơ quan cách mạng
và các chiến sĩ cách mạng bị vây, bị bắt, nhận được lệnh đoàn thể cứu quốccủa mình hoặc của Mặt trận Việt Minh thì lập tức hành động để giải vây.Những lúc có đội du kích chính thức giao chiến với quân thù trong địaphương mình thì phải giúp đỡ Trong những tình thế tiện lợi có thể phát động
Trang 31cuộc du kích chiến tranh đánh đuổi Pháp, Nhật thì biến chuyển thành đội dukích chính thức để hành động.
Thứ sáu, chế độ luyện tập: những tiểu tổ mới, tổ chức hoặc những hội
viên mới gia nhập phải luyện tập ít nhất 15 ngày rồi sau đó cứ cách nhau 15ngày lại tập một ngày Nội dung luyện tập là luyện cho thạo cách tập trunggiải tán, đánh tráo, giải vây, dùng hiệu lệnh; đồng thời phải luyện cách lộisông, trèo núi, tập võ, tập vẽ bản đồ và tập xem bản đồ, tập phá các đườnggiao thông, cầu cống, các cơ sở quân sự, kinh tế của địch
Thứ bẩy, về vũ khí: mỗi đội viên phải tự sắm lấy khí giới cần dùng như:
gươm dao, giáo mác, đồ phá đường, phá cầu Nếu có điều kiện mua sắm đượcsúng, cốt mìn, thuốc để băng bó v.v thì càng tốt
Thứ tám, về kỷ luật: trong lúc hành động, đội viên phải tuyệt đối phục
tùng đội trưởng Phải tham gia các cuộc luyện tập và những cuộc hành độngcủa tiểu tổ phải tuyệt đối giữ bí mật cho đội Nếu ai vi phạm quy định thì tuỳtheo nặng nhẹ mà phạt phê bình, cảnh cáo, khai trừ
Như vậy, tại Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8 (5.1941), cùngvới sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược cho cách mạng, Đảng đã đề raĐiều lệ của Việt Nam tiểu tổ du kích cứu quốc, xác định về lý luận nhiềuvấn đề quan trọng nhằm tổ chức loại hình lực lượng cao hơn đội tự vệ.Điều đó phản ánh bước tiến trong lý luận xây dựng lực lượng vũ trang,xây dựng các tổ chức quân sự của Đảng Tại Hội nghị, Đảng còn chỉ rõnhiệm vụ và vị trí của từng tổ chức Đội tự vệ cứu quốc là lực lượng vũtrang cơ sở có nhiệm vụ bảo vệ quần chúng trong các cuộc đấu tranh;tiểu tổ du kích cứu quốc là tổ chức cao hơn tự vệ thường nhưng lại thấphơn đội du kích chính thức (tập trung), thực chất đó là tự vệ chiến đấu;đội du kích chính thức chỉ ra đời khi phát động chiến tranh du kích, đóchính là lực lượng nòng cốt trực tiếp chiến đấu đánh đuổi Nhật – Pháp đểgiành lấy chính quyền Những quan điểm của Đảng về vũ trang quần
Trang 32chúng cách mạng, đi đôi với xây dựng quân đội chủ lực đã được hìnhthành một cách cơ bản Nghị quyết Hội nghị đã dự kiến sau khi đánhđuổi thực dân Pháp, phát xít Nhật sẽ thành lập Chính phủ của Việt NamDân chủ Cộng hoà và tổ chức Việt Nam nhân dân cách mạng quân và võtrang quần chúng.
Sau Hội nghị Trung ương lần thứ 8, Đảng tổ chức các hội cứu quốctrong các tổ chức của Mặt trận Việt Minh, trong đó có đội tự vệ cứuquốc Việt Nam Nhiệm vụ xây dựng lực lượng vũ trang, xây dựng các tổchức quân sự của Đảng bước vào thời kỳ mới, đẩy mạnh xây dựng cácđội vũ trang, các tổ chức quân sự cách mạng tập trung làm nòng cốt chophong trào đánh Pháp, đuổi Nhật, chuẩn bị cho khởi nghĩa từng phầngiành chính quyền từng địa phương Thực hiện Nghị quyết Hội nghịTrung ương Tám, công cuộc xây dựng lực lượng cách mạng và tạo dựng
về tổ chức quân sự ở các địa phương đã phát triển nhanh chóng, trọngtâm ở vùng Cao – Bắc – Lạng Các đội quân vũ trang tập trung đượcthành lập, nhằm tăng thêm sức mạnh tổ chức quân sự của Đảng, đủ sứcgiáng trả các đòn tiến công quân sự của đội quân nhà nghề để bảo vệ cơquan lãnh đạo của Đảng, vũ trang tuyên truyền trong quần chúng, huấnluyện tự vệ và tự vệ chiến đấu
Bước sang 1943, cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai và phong tràocách mạng trong nước có nhiều chuyển biến, Ban Thường vụ Trung ươngĐảng họp Hội nghị từ ngày 25 đến 28 tháng 2 năm 1943 tại Võng La(Đông Anh – Phúc Yên) Hội nghị nhận định: Chúng ta đang ở vào “tìnhthế khẩn cấp (chiến tranh và cách mạng), không còn là “tình thế hoà bình”nữa và nêu rõ tinh thần của Hội nghị Trung ương lần thứ 8 “chuẩn bị khởinghĩa là nhiệm vụ trung tâm của Đảng ta và dân ta trong giai đoạn hiệntại” [24, tr.298] và quyết định củng cố Mặt trận Việt Minh, phát triển cáclực lượng vũ trang, chuẩn bị khởi nghĩa
Trang 33Sau hơn một năm, trước tình hình quân đội Xô - Viết phản cônggiành thắng lợi trên nhiều mặt trận và căn cứ vào chủ trương của Đảng,
ngày 7 tháng 5 năm 1944 Tổng bộ Việt Minh ra chỉ thị về sửa soạn khởi
nghĩa Đối với việc xây dựng lực lượng vũ trang Chỉ thị nêu rõ phải “hết
sức phát triển và thống nhất các đội tự vệ sẵn có và tổ chức những đội tự
vệ mới” [24, tr.493], trên cơ sở đó tổ chức ra “các bộ đội du kích chính thức”[24, tr.494] Với sự hình thành, phát triển của các đội vũ trang tập trungvùng Cao – Bắc – Lạng, để đáp ứng với phương thức đấu tranh mới “từhình thức chính trị tiến lên hình thức quân sự” Đảng ta quyết định tổ chức
ra đội quân chủ lực đầu tiên
Theo tinh thần đó, tháng 12 năm 1944 lãnh tụ Hồ Chí Minh thay mặtTrung ương Đảng viết chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóngquân đã vạch ra những nét chính về hình thức tổ chức, xây dựng và hoạt độngcủa nó Chỉ thị nêu rõ:
“1 Tên, Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, nghĩa là chính trị
trọng hơn quân sự Nó là đội tuyên truyền Vì muốn hành động có kết quả thì
về quân sự, nguyên tắc chính là nguyên tắc tập trung lực lượng, cho nên, theochỉ thị mới của Đoàn thể sẽ chọn lọc trong hàng ngũ những du kích Cao – Bắc– Lạng số cán bộ và đội viên kiên quyết, hăng hái nhất và sẽ tập trung mộtphần lớn vũ khí để lập ra đội quân chủ lực
Vì cuộc kháng chiến của ta là cuộc kháng chiến của toàn dân, cần phải độngviên toàn dân, vũ trang toàn dân, cho nên trong khi tập trung lực lượng để lập mộtđội quân đầu tiên, cần phải duy trì lực lượng vũ trang trong các địa phương cùngphối hợp hành động và giúp đỡ về mọi phương diện Đội quân chủ lực trái lại cónhiệm vụ dìu dắt cán bộ vũ trang của các địa phương, giúp đỡ huấn luyện, giúp đỡ
vũ khí nếu có thể được, làm cho các đội này trưởng thành mãi lên
Trang 342 Đối với các đội vũ trang địa phương: đưa các cán bộ địa phương vềhuấn luyện, tung các cán bộ đã huấn luyện đi các địa phương, trao đổi kinhnghiệm, liên lạc thông suốt, phối hợp tác chiến.
3 Về chiến thuật: vận động lối đánh du kích, bí mật, nhanh chóng, tíchcực, nay Đông mai Tây, lai vô ảnh, khứ vô tung
Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân là đội quân đàn anh, mongcho chóng có những đội đàn em khác
Tuy lúc đầu quy mô của nó còn nhỏ, nhưng tiền đồ của nó rất vẻ vang
Nó là khởi điểm của giải phóng quân, nó có thể đi suốt từ Nam chí Bắc, khắpđất nước Việt Nam” [24, tr.356-357]
Bản chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, rấtngắn gọn, súc tích, nó thực sự là một văn kiện quân sự quan trọng của Đảng,mang tính chất cương lĩnh Nó đã xác định rõ những quan điểm cơ bản củađường lối quân sự và một số vấn đề có tính nguyên tắc trong xây dựng các tổchức quân sự cách mạng Việt Nam trong thời đại mới
Thứ nhất, bản chỉ thị khẳng định việc thành lập Đội Việt Nam tuyên
truyền giải phóng quân là theo “chỉ thị mới của đoàn thể” (Đảng) Nhiệm vụcủa “Đội” trong bước quá độ tiến lên hình thức đấu tranh vũ trang giải phóngdân tộc là đẩy mạnh hoạt động vũ trang tuyên truyền nhằm thúc đẩy phongtrào cách mạng phát triển nhanh, mạnh hơn nữa Nhiệm vụ đó phản ánh bảnchất cách mạng của đội Đội ra đời và phát triển là nhằm thực hiện các nhiệm
vụ chính trị do Đảng xác định
Thứ hai, từ trong phong trào chuẩn bị khởi nghĩa, khắp nơi đã có
các đội tự vệ cứu quốc, du kích cứu quốc Song, đó mới chỉ là lực lượng
vũ trang quần chúng, lực lượng tại chỗ Trên nền tảng tư tưởng “cuộckháng chiến của ta là kháng chiến của toàn dân, cần phải động viên toàndân, vũ trang toàn dân”, Đảng đã khẳng định việc xây dựng lực lượng vũ
Trang 35trang phải đồng thời tổ chức và phát triển các thứ quân (quân chủ lực vàquân địa phương), làm nòng cốt cho toàn dân đánh giặc cứu nước Trongbản chỉ thị này, Đảng đã bổ sung thêm điểm mới: đó là khi thành lập độiquân chủ lực đầu tiên phải tuân theo nguyên tắc chính là nguyên tắc tậptrung lực lượng, nghĩa là phải chọn những cán bộ, đội viên ưu tú nhất,tập trung một phần lớn vũ khí để thành lập đội quân chủ lực có sức chiếnđấu cao Đảng còn nêu rõ mối quan hệ giữa các lực lượng, vai trò củatừng thứ quân.
Thứ ba, về phương thức hoạt động, phải kết hợp chính trị với quân sự.
Bản chỉ thị nêu rõ rằng: Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân nghĩa
là chính trị trọng hơn quân sự Hàm ý của sự giải thích đó là quân sự phảiphục tùng chính trị, gắn với chính trị; vũ trang gắn với tuyên truyền; độiphải tham gia vận động, tổ chức quần chúng, xây dựng lực lượng chính trịcủa quần chúng làm chỗ dựa và cùng phối hợp hoạt động Về chiến thuật,bản chỉ thị nêu rõ là phải có cách đánh sáng tạo Đội quân chủ lực vừathành lập, muốn hành động có kết quả phải vận dụng lối đánh du kích, bímật, nhanh chóng, tích cực
Thứ tư, phải chăm lo xây dựng và phát triển đội quân chủ lực trưởng
thành nhanh chóng Trong phần cuối bản chỉ thị, Đảng khẳng định: ĐộiViệt Nam tuyên truyền giải phóng quân là đội quân đàn anh, khởi điểmcủa giải phóng quân Sự khẳng định đó vô cùng hệ trọng, đánh dấu sự rađời quân đội kiểu mới của cách mạng Việt Nam Đội quân đó đi suốt từNam chí Bắc, khắp đất nước Việt Nam Điều đó cũng có nghĩa là, độiquân chủ lực có tính chất cơ động trong toàn quốc chứ không phải hoạtđộng tại chỗ như các lực lượng vũ trang địa phương Mặc dù lúc đó cáchmạng chưa thành công trong cả nước, trên đất nước ta kẻ thù còn mạnh vàđầy âm mưu nguy hiểm, nhưng với niềm tin tưởng vào sự phát triển của
Trang 36cách mạng, Đảng ta và lãnh tụ Hồ Chí Minh khẳng định: tiền đồ của độiquân chủ lực rất vẻ vang.
Như vậy, tới cuối năm 1944, khi phong trào cách mạng đã phát triểnmạnh, Đảng ta và lãnh tụ Hồ Chí Minh quyết định thành lập đội quân chủ lựcđầu tiên Trong bản chỉ thị thành lập, đã phát triển những quan điểm xây dựngcác tổ chức quân sự lên một bước mới, xác định nội dung cơ bản về xây dựnglực lượng quân chủ lực
Ngày 9 tháng 3 năm 1945, Nhật làm cuộc đảo chính hất cẳng Pháp ởĐông Dương, Hội nghị Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra chỉ thị “Nhật– Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”, xác định rõ kẻ thù chính củanhân dân ta lúc này là phát xít Nhật Về nhiệm vụ tổ chức xây dựng tổchức quân sự, Đảng chủ trương: “Tổ chức thêm nhiều bộ đội du kích vàtiểu tổ du kích, thành lập những căn cứ địa mới Thống nhất các chiến khu
và thành lập Việt Nam cứu quốc quân” Tổ chức Uỷ ban quân sự cáchmạng” (tức uỷ ban khởi nghĩa) để thống nhất chỉ huy du kích các chiếnkhu” [24, tr.371] Chỉ thị nhấn mạnh rằng, các cuộc tuyên truyền và tranhđấu đều có tính chất quân sự hoá, nên việc huấn luyện quân sự cho cán bộcác cấp và đội trưởng các đội tự vệ là rất cần thiết Chỉ thị nêu rõ quyếtđịnh của Đảng phát động cao trào chống Nhật, cứu nước mạnh mẽ làmtiền đề cho tổng khởi nghĩa và sẵn sàng chuyển sang hình thức tổng khởinghĩa khi có điều kiện
Hơn một tháng sau ngày Nhật đảo chính Pháp, Ban Thường vụTrung ương Đảng triệu tập Hội nghị quân sự cách mạng Bắc Kỳ Hộinghị họp từ ngày 15 đến ngày 20.4.1945 tại Hiệp Hoà (Bắc Giang) doTổng Bí thư Trường Chinh chủ trì Đây là Hội nghị quân sự đầu tiêncủa Đảng, trọng tâm của Hội nghị là giải quyết cụ thể những vấn đềquân sự mà Hội nghị Thường vụ Trung ương Đảng đã đề ra từ tháng3.1935 và bàn những việc cần kíp chuẩn bị cho cuộc tổng khởi nghĩa
Trang 37Về nhiệm vụ xây dựng tổ chức quân sự, Hội nghị chủ trương thống nhấtViệt Nam tuyên truyền giải phóng quân, cứu quốc quân cùng với các tổchức quân sự khác thành một lực lượng và tổ chức thống nhất mang tên
là Việt Nam giải phóng quân để cùng nhân dân tiến hành khởi nghĩatừng phần, tiến tới tổng khởi nghĩa Tại Hội nghị này, Đảng đã vạch ranhững quan điểm cơ bản để xây dựng Việt Nam giải phóng quân như:
1 Thống nhất biên chế
2 Thống nhất việc huấn luyện chính trị, quân sự
3 Tổ chức công tác chính trị trong bộ đội, trau dồi kỷ luật, khen thưởngngười có công, chống khuynh hướng địa phương cục bộ
4 Mở trường quân chính kháng Nhật để đào tạo cán bộ
5 Ra sức thu nhặt và mua sắm vũ khí, lập xưởng sửa chữa vũ khí và chếtạo súng ống, bom đạn
6 Tích trữ lương thực, lập các kho thóc giải phóng quân ở các xã
7 Phát triển bộ đội giải phóng, tổ chức rộng rãi những đội tự vệ, tự vệchiến đấu và bộ đội địa phương
Tiếp đó, ngày 4 tháng 6 năm 1945, Tổng bộ Việt Minh triệu tập Hộinghị cán bộ 6 tỉnh Việt Bắc để bàn việc lập Khu giải phóng Tại Hội nghị,lãnh tụ Hồ Chí Minh đã chỉ thị công nhận tên “Việt Nam giải phóngquân” cho toàn thể bộ đội trong nước, đồng thời ra quyết định thành lậpKhu giải phóng Hội nghị còn nhấn mạnh: để chuẩn bị cho khởi nghĩa sắpđến, tất cả những khu vực quân giải phóng đã chiếm được thống nhất lạithành một khu gọi là Khu giải phóng Về nhiệm vụ quân sự, Nghị quyếtHội nghị đề cập giải quyết nhiều vấn đề trong tổ chức, xây dựng lựclượng vũ trang, các tổ chức quân sự vững mạnh làm nòng cốt cho toàndân đánh giặc; muốn phát triển đội quân chủ lực phải có căn cứ vững chắc
là khu giải phóng Nghị quyết Hội nghị đề ra việc chỉnh đốn Việt Namgiải phóng quân: nguyên tắc là chọn lọc kỹ càng; về biên chế, mỗi tiểu đội
Trang 3812 người, theo “tam tam chế” lên đến trung đội, đại đội, chi đội; trong batháng, các đội viên phải được huấn luyện chương trình quân sự, chính trị
sơ cấp; đặt chính trị ủy viên trong quân đội Tổ chức ra những Đội tuyêntruyền Việt Nam giải phóng quân
Trước thời cơ cách mạng chín muồi, Trung ương Đảng triệu tập Hộinghị đại biểu toàn quốc của Đảng ở Tân Trào (từ 13 – 15.8.1945) Trên cơ
sở phân tích diễn biến tình hình, nhận định về thời cơ cách mạng, Hội nghịchủ trương phát động và lãnh đạo toàn dân tiến hành Tổng khởi nghĩagiành chính quyền về tay nhân dân trước khi quân Đồng minh vào ViệtNam, đồng thời xác định nhiều vấn đề then chốt đảm bảo cho tổng khởinghĩa toàn thắng Về nhiệm vụ quân sự, Hội nghị coi trọng xây dựng lựclượng quân sự ngay cả trong quá trình diễn ra tổngkhởi nghĩa và quyếtđịnh: chấn chỉnh tổ chức và phát triển bộ đội; tổ chức thêm những bộ độimới Chỉnh đốn tự vệ chiến đấu và tiểu tổ du kích để thành lập quân giảiphóng ở ngoài khu giải phóng Hội nghị cho rằng, trong quá trình đó, phảithống nhất biên chế, khẩu lệnh, kỷ luật (định thể lệ thưởng phạt), cải thiệncông tác chính trị, đào tạo cán bộ quân sự, lập thêm trường quân chính,thống nhất chương trình dạy, tìm kiếm trang bị vũ khí cho lực lượng vũtrang bằng việc tước vũ khí của quân Nhật và tiếp tục chế tạo thêm
Sau Hội nghị toàn quốc của Đảng bế mạc, ngày 16.8.1945, Quốc dânĐại hội khai mạc Đại hội nhiệt liệt tán thành chủ trương tổng khởi nghĩa củaĐảng, thông qua lệnh khởi nghĩa của Tổng bộ Việt Minh, quyết nghị thi hành
10 chính sách lớn của Mặt trận Việt Minh, trong đó chính sách lớn thứ hai ghirõ: Võ trang nhân dân Phát triển Quân giải phóng Việt Nam Đại hội cử ra
Uỷ ban dân tộc giải phóng do lãnh tụ Hồ Chí Minh làm chủ tịch Từ thời điểm
đó, lãnh tụ Hồ Chí Minh chính thức trở thành người lãnh đạo tối cao của dântộc và các lực lượng vũ trang với tư cách chủ tịch uỷ ban dân tộc giải phóng,tức Chính phủ lâm thời
Trang 39Vậy là, để tiến tới thành lập đội quân chủ lực đầu tiên, Đảng đã đềcập, giải quyết một loạt vấn đề then chốt trong đường lối như động viêntoàn dân, vũ trang toàn dân, xây dựng lực lượng chủ lực, đồng thời duy trì
và phát triển lực lượng vũ trang ở các địa phương; khẳng định bản chấtcách mạng và nhiệm vụ của lực lượng vũ trang, xác định nguyên tắc xâydựng, nguyên tắc hoạt động, địa bàn đứng chân và tiền đồ phát triển.Những quan điểm cơ bản của Đảng được thể hiện trong bản chỉ thị thànhlập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, sau đó Mặt trận ViệtMinh đã bổ sung thêm nhiều điểm cụ thể Đó là cơ sở lý luận định hướngquá trình tổ chức, xây dựng lực lượng chủ lực Với lý luận soi sáng vàĐảng trực tiếp tổ chức lãnh đạo nên lực lượng chủ lực ra đời vào cuối
1944, nhanh chóng phát triển trong cao trào giải phóng dân tộc và Tổngkhởi nghĩa Tháng Tám năm 1945
*
* *
Từ việc xác định chính xác phương hướng chiến lược và phươngpháp cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam trong thời đại mới, nên
“chính cương vắn tắt” trình bày tại Hội nghị thành lập Đảng khẳng định
“Tổ chức ra quân đội công nông” để thực hiện các nhiệm vụ chính trị doĐảng xác định Chủ trương đó giữ vai trò định hướng ngay từ đầu cũngnhư suốt quá trình tổ chức xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng ViệtNam Từ đó, qua các văn kiện, nghị quyết Đảng đã từng bước hình thànhnội dung với nhiều quan điểm cơ bản, chính yếu nhất Quá trình hìnhthành các quan điểm về xây dựng lực lượng vũ trang cơ sở (đội tự vệ, ViệtNam tiểu tổ du kích cứu quốc, đội du kích tập trung thoát ly sản xuất đểhoạt động cách mạng) thông qua các Nghị quyết hội nghị của Đảng như
Trang 40Luận cương chính trị (10.1930); Thông cáo của Trung ương Đảng cho các
Xứ uỷ (1.1931); Nghị quyết Đại hội lần thứ nhất (3.1935); Nghị quyết Hộinghị Trung ương Đảng lần thứ 8 (5.1941) Trên nền tảng các quan điểmđược hình thành trước đó, Đảng ta tiếp tục bổ sung, phát triển những quanđiểm cơ bản về xây dựng lực lượng chủ lực (Đội Việt Nam tuyên truyềngiải phóng quân) biểu hiện tập trung trong Chỉ thị thành lập Đội Việt Namtuyên truyền giải phóng quân (12.1944); Nghị quyết Hội nghị cán bộ 6tỉnh Việt Bắc (6.1945) v.v… Nhìn chung, các quan điểm xây dựng lựclượng vũ trang và xây dựng các tổ chức quân sự trong thời kỳ 1930 –
1945 của Đảng hình thành hệ thống, có trọng điểm, trọng tâm trong mỗithời điểm cụ thể, đáp ứng nhu cầu xây dựng lực lượng chiến đấu của cáchmạng
Chương 2 ĐẢNG CHỈ ĐẠO XÂY DỰNG CÁC TỔ CHỨC QUÂN SỰ
THỜI KỲ ĐẤU TRANH GIÀNH CHÍNH QUYỀN (1930 – 1945) VÀ MỘT SỐ KINH NGHIỆM
2.1 Đảng chỉ đạo xây dựng các tổ chức quân sự thời kỳ đấu tranh giành chính quyền
Với đường lối xây dựng các tổ chức quân sự đúng đắn, ngay khi mớithành lập, Đảng đã phát động quần chúng gây thành một cao trào đấu tranhcách mạng mạnh mẽ và rộng lớn trong những năm 1930 – 1931
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, trực tiếp là của các xứ uỷ Bắc Kỳ, Trung
Kỳ, Nam Kỳ và các đảng bộ địa phương, các chi bộ ở các xí nghiệp, đồn điền,làng xã, các đội tự vệ công nông đã lần lượt ra đời, trở thành lực lượng nòngcốt hỗ trợ và bảo vệ quần chúng đấu tranh trên khắp ba miền Bắc – Trung –Nam