1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

LUẬN văn THẠC sĩ bước đầu tìm HIỂU tín NGƯỠNG THỜ CÚNG tổ TIÊN ở các QUỐC GIA ĐÔNG bắc á và VIỆT NAM

101 1,3K 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 609 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tín ngưỡng là một bộ phận của ý thức xã hội, là một yếu tố thuộc lĩnh vực đời sống tinh thần, là hệ quả của các quan hệ xã hội, được hình thành trong quá trình lịch sửvăn hoá. Trên thế giới có hàng nghìn loại hình tín ngưỡng khác nhau, nhưng hiếm thấy có tín ngưỡng nào lại chứa đựng đạo lý sâu sắc như tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên. Thông thường một tôn giáo hay tín ngưỡng chỉ có yếu tố tâm linh làm nền tảng, trong khi đó, thờ cúng tổ tiên lại do hai yếu tố đạo lý và tâm linh cấu tạo thành.

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

-o0o -ĐINH VĂN NGHĨA

Bước đầu tìm hiểu tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên ở các quốc gia đông bắc á và việt nam

Chuyên ngành : Lịch sử thế giới

Luận văn thạc sĩ: khoa học lịch sử

Người hướng dẫn khoa học:

PGS.TS: Lương Thị Thoa

Trang 2

Giá trị đạo lý ở đây chính là lòng hiếu thảo, sự thành kính, biết ơn đối với những người đã có công sinh thành, tạo dựng cuộc sống, đó là việc hướng về cội nguồn, tìm về tổ tông bởi:

“Cây có gốc mới nở cành xanh ngọn Nước có nguồn mới bể rộng sông sâu Người ta nguồn gốc ở đâu?

Có tổ tiên trước rồi sau có mình”[54;134].

Giá trị độc đáo đó đã tạo cho tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên có một sức sống mạnh mẽ trong quá trình tồn tại và phát triển Ra đời vào cuối thời kỳ xã hội nguyên thuỷ, thờ cúng tổ tiên như một “tín ngưỡng thế giới”, nó có mặt ở nhiều quốc gia, dân tộc Cho dù có những biến động, những bước thăng trầm trong quá trình phát triển, nhưng cho đến nay, thờ cúng tổ tiên vẫn là một tín ngưỡng phổ biến ở nhiều dân tộc, quốc gia trên thế giới.

Trang 3

Việt Nam là quốc gia có sự tồn tại đan xen của nhiều loại hình tín ngưỡng, tôn giáo, phong tục tập quán Trong bức tranh chung đó thì thờ cúng tổ tiên là một loại hình tín ngưỡng phổ biến và giữ vai trò quan trọng hàng đầu trong đời sống tâm linh Hình thành từ xa xưa trong lịch sử và luôn tồn tại theo dòng chảy của lịch sử dân tộc, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên là một nét đẹp trong đời sống văn hoá tinh thần của người dân Việt Nam, bởi nó thể hiện đạo lý sống của con người Điều này đã được thể hiện trong nhận xét của cố thủ tướng Phạm Văn Đồng: “Từ xa xưa dân tộc Việt Nam ta không có tôn giáo theo nghĩa thông thường của nhiều nước khác Còn nói tôn giáo là thờ cúng, thì mọi người đều thờ cúng ông bà, mỗi họ đều thờ cúng tổ tiên, làng thì thờ cúng thành hoàng và các bậc anh hùng cứu nước, các tổ phụ ngành nghề, các danh nhân văn hoá Từ góc độ văn hoá, tôi thấy đây là một đặc trưng đáng trọng của người Việt Nam, ở chỗ nó tưởng nhớ những người có công trong việc tạo lập cuộc sống ngày nay của mọi gia đình và làng xóm” [63;97] Vì thế, đây là hình thức tín ngưỡng luôn được các thể chế chính quyền từ xưa đến nay trân trọng và thừa nhận, dù với những mức độ khác nhau.

Không chỉ ở Việt Nam, thờ cúng tổ tiên từ lâu cũng đã trở thành một trong những nội dung quan trọng trong đời sống tín ngưỡng - tôn giáo của cư dân các quốc gia Đông Bắc á ở Trung Quốc, khi bước sang xã hội có giai cấp và nhà nước, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên phát triển rất mạnh và là quốc gia điển hình về sự thờ cúng

tổ tiên tín ngưỡng này là bộ phận cơ bản nhất của hệ thống lễ nghi tôn giáo và còn được duy trì cho tới ngày nay, nó có ảnh hưởng sâu sắc tới toàn bộ đời sống của người dân Trung Quốc Còn ở Nhật Bản và Hàn Quốc, cho dù các tôn giáo bản địa (đạo Shinto ở Nhật Bản, đạo Shaman ở Hàn Quốc) là nền tảng của đời sống tâm linh thì thờ cúng tổ tiên vẫn có một vị trí quan trọng.

Việt Nam và các quốc gia Đông bắc á có nhiều điểm khá tương đồng về điều kiện tự nhiên, kinh tế, chính trị, xã hội và đặc biệt là văn hoá Đó là vì các quốc gia này chịu sự ảnh hưởng và tác động mạnh mẽ của các hệ tư tưởng, tôn giáo có nguồn

Trang 4

gốc từ ấn Độ, Trung Quốc trong thời kỳ cổ - trung đại Chính những nhân tố đó đã quy định sự tương đồng trong đời sống tín ngưỡng, tôn giáo giữa các quốc gia Đông Bắc á và Việt Nam mà thờ cúng tổ tiên là một ví dụ Cho đến nay, thờ cúng tổ tiên là tín ngưỡng phổ biến của cả một quốc gia, dân tộc chỉ còn ở Việt Nam, Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản Còn ở những quốc gia khác trên thế giới, tín ngưỡng này chỉ còn được lưu giữ ở từng nhóm người, tộc người.

Từ thực tế đó, việc tìm hiểu tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên ở các quốc gia Đông Bắc á và Việt Nam là việc làm cần thiết, vì thông qua việc tìm hiểu tín ngưỡng này

sẽ giúp chúng ta thấy được nguồn gốc, thời gian xuất hiện, các hình thức thể hiện, vị trí, vai trò và thực trạng thờ cúng tổ tiên ở mỗi quốc gia Từ đó giúp chúng ta hiểu hơn về diện mạo của loại hình tín ngưỡng này, cũng như bản sắc văn hoá của mỗi nước.

Ngày nay trong xu hướng quốc tế hoá, các quốc gia trên thế giới đang xích lại gần nhau, hợp tác, đối thoại để cùng tồn tại và phát triển Trong quá trình đó, việc hiểu biết về nền văn hoá truyền thống, về bản sắc văn hoá của mỗi quốc gia, dân tộc

có một ý nghĩa tích cực tới việc thiết lập quan hệ ngoại giao giữa các nước Trong khi đó, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên là một thành tố quan trọng trong đời sống văn hoá của mỗi quốc gia vì vậy, việc nghiên cứu, tìm hiểu về tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên ở các quốc gia láng giềng với Việt Nam vừa mang ý nghĩa tìm hiểu những đặc trưng của loại hình tín ngưỡng này, vừa góp phần thúc đẩy mối quan hệ Việt Nam với các nước.

Hiện nay, nước ta đang phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa quá trình đó cũng đã nẩy sinh nhiều vấn đề như sự may rủi trong cơ chế thị trường, sự phân hoá giầu nghèo trong xã hội, môi trường sinh thái bị tàn phá, xuất hiện các mặt tiêu cực do cuộc cách mạng khoa học và công nghệ đem lại, cộng với trình độ dân trí của mỗi bộ phận dân cư còn thấp v.v… đó là những nguyên nhân

xã hội, tâm lý và nhận thức dẫn đến việc các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo có chiều

Trang 5

hướng gia tăng Hoạt động thờ cúng tổ tiên trong các gia đình, dòng họ, làng xã, diễn

ra khá phổ biến ở khắp các địa phương trong cả nước Điều đó đã góp phần gìn giữ

và phát huy những giá trị tốt đẹp của văn hoá truyền thống Nhưng do sự tác động mạnh mẽ của lối sống hiện đại, đã làm cho tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên đang có những biểu hiện tiêu cực như phô trương về tiền tài, danh vọng, địa vị, gây chia rẽ,

bè phái; bầy ra lễ thức cầu kỳ, tốn kém làm mất đi tính thiêng liêng của tín ngưỡng; nặng về yếu tố mê tín hoặc cầu xin những nội dung không chính đáng v.v… Bởi vậy, việc khôi phục lại những giá trị tốt đẹp của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên là việc làm hết sức cần thiết và là trách nhiệm của mọi người Để làm tốt vấn đề này, việc tìm hiểu tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên ở những quốc gia khác cũng đóng một vai trò quan trọng.

Bên cạnh đó, việc tìm hiểu tín ngưỡng, tôn giáo của các quốc gia trong khu vực và trên thế giới còn là cơ sở để bảo tồn và đổi mới tôn giáo truyền thống theo xu thế hiện đại, nhằm bảo vệ và phát triển văn hoá truyền thống của dân tộc Vì trong giai đoạn hiện nay, những yếu tố văn hoá ngoại lai có điều kiện xâm nhập vào từng nước, trong đó không ít những yếu tố không phù hợp hoặc không lành mạnh, tạo nên một nguy cơ, một tai hoạ của sự diệt chủng văn hoá cho bất cứ dân tộc, quốc gia nào Trong hoàn cảnh đó, việc khôi phục nền văn hoá truyền thống vừa góp phần tạo nên “một con đê” ngăn chặn luồng văn hoá độc hại, vừa khơi dậy đạo lý, tình nghĩa con người Việt Nam, góp phần giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc.

Xuât phát từ những ý nghĩa trên, tôi chọn đề tài “bước đầu tìm hiểu tín

ngưỡng thờ cúng tổ tiên ở các quốc gia Đông Bắc á và Việt Nam” làm luận văn

thạc sĩ của mình.

2 Lịch sử vấn đề.

Thờ cúng tổ tiên là một loại hình tín ngưỡng đã xuất hiện từ lâu trong lịch sử nhân loại và tồn tại phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế giới Do đó, việc tìm hiểu,

Trang 6

nghiên cứu tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên cũng đã sớm thu hút được sự quan tâm của nhiều học giả trong và ngoài nước Thực tế cho thấy đã có một số công trình, tác phẩm, đi sâu vào tìm hiểu các hình thức tôn giáo, tín ngưỡng trong buổi sơ khai, khi mới xuất hiện, trong đó có đề cập đến tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên như: cuốn “Các hình thức tôn giáo sơ khai và sự phát triển của chúng” của nhà dân tộc học người Nga X.A.Tocarev, nhà xuất bản chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994; “Các hình thức thờ phụng của bộ lạc” của Ngọc Anh, Nhà xuất bản Văn hoá dân tộc, Hà Nội, 2002;

“Các tôn giáo” của Paul poupard, Nhà xuất bản thế giới, Hà Nội, 2001; …

Các công trình trên không đề cập riêng vấn đề tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, cũng như không phải chỉ nghiên cứu về tập quán, tín ngưỡng ở một quốc gia, một châu lục cụ thể Nội dung của các công trình này là khảo sát một cách chung nhất về bức tranh tín ngưỡng, tôn giáo của nhân loại trong buổi đầu mới xuất hiện.

Việc đi sâu tìm hiểu tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên ở các quốc gia Đông Bắc á cho tới nay vẫn chưa có một công trình chuyên khảo nào Những nội dung về tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên ở các quốc gia này mới chỉ được đề cập đến ở các bài viết trong các sách, các tạp chí, hoặc được lồng vào khi trình bầy về các tôn giáo, tín ngưỡng nói chung.

Cuốn: “Lịch sử văn hoá Trung Quốc”, (hai tập), là một công trình đồ sộ, tập hợp các bài viết của nhiều học giả Trung Quốc, do Trần Ngọc Thuận, Đào Duy Đạt, Đào Phương Chi dịch, Nhà xuất bản Văn hoá thông tin, Hà Nội, 1999 Trong công trình này có bài viết của Tạ Duy Dương đề cập đến những nghi thức, định chế trong việc thờ cúng tổ tiên ở Trung Quốc thời cổ - trung đại.

Cuốn: “Lễ tết cổ truyền ở Trung Quốc” của Nguyễn Văn Căn, Nhà xuất bản khoa học xã hội, Hà Nội, 2004, trình bầy về nguồn gốc, xuất xứ, các thời điểm lễ tết

ở Trung Quốc, trong đó mới chỉ đề cập đến những thời điểm thờ cúng tổ tiên.

Trang 7

Cuốn: “Đạo giáo và các tôn giáo Trung Quốc ” của Henri Macspero, Nhà xuất bản khoa học xã hội, Hà Nội, 2000, trình bầy về đời sống tôn giáo, tín ngưỡng của nhân dân Trung Quốc nói chung, về ba tôn giáo lớn ở đây là Đạo giáo, Phật giáo và Nho giáo Trong cuốn sách này, tác giả chỉ dành một phần nhỏ để khái quát về tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên trong gia đình và thờ cúng thành hoàng ở các đô thị.

tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên ở Nhật Bản và Hàn Quốc cũng được các nghiên cứu viên của viện nghiên cứu Nhật Bản và Đông Bắc á tìm hiểu ở các khía cạnh như

vị trí, vai trò, thời điểm, nghi lễ thờ cúng v.v… Nhưng những nội dung đó vẫn còn nằm trong một tổng thể của đời sống tín ngưỡng, tôn giáo ở hai quốc gia này.

Cuốn “Những con đường tâm linh phương Đông, Phần II: Các tôn giáo Trung Hoa, Nhật Bản” của Theodore.M.Ludwig, Nhà xuất bản Văn hoá thông tin cũng chỉ

đề cập đến tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên ở Trung Quốc và Nhật Bản một cách khái lược nhất.

Đề cập đến tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên ở Hàn Quốc còn có cuốn “Tra cứu văn hoá Hàn Quốc ” của Hwang Gwi Yeon - Trịnh Cẩm Lan, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, 2002 Cuốn sách đã dành riêng một phần nói về tín ngưỡng và tôn giáo của Hàn Quốc, trong đó có mô tả những hình thức, lễ nghi và thời điểm người dân Hàn Quốc thờ cúng tổ tiên.

ở Việt Nam, do vị trí quan trọng hàng đầu của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên trong đời sống tinh thần, cho nên, đây là một vấn đề đã thu hút sự quan tâm chú ý của nhiều học giả Đã có những công trình chuyên sâu về vấn đề này như: “Phong tục thờ cúng tổ tiên trong gia đình Việt Nam” của Toan ánh, nhà xuất bản Văn hoá dân tộc, Hà Nội, 2001; “Những khía cạnh triết học trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ hiện nay” của Trần Đăng Sinh, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002; “thờ cúng tổ tiên (và lễ tang, ma chay, giỗ chạp) nên hiểu như thế nào” của Mai Thanh Hải, Nhà xuất bản Văn hoá thông tin, Hà Nội,

Trang 8

2005; v.v… Ngoài ra còn rất nhiều bài viết trong các sách, các tạp chí và những công trình nghiên cứu, đề cập đến nội dung tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên Những công trình này cũng chỉ dừng lại ở việc tìm hiểu tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên ở Việt Nam, chưa có sự liên hệ, so sánh loại hình tín ngưỡng này ở nước ta với các quốc gia khác, đặc biệt là những quốc gia có nhiều điểm tương đồng với nền văn hoá Việt Nam.

Cùng với các sách trên, còn có các bài viết, bài nghiên cứu đề cập đến tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của mỗi quốc gia, ở các góc độ khác nhau trong các tạp chí như: Tạp chí tôn giáo; Tạp chí nghiên cứu Trung Quốc; Tạp chí nghiên cứu Nhật Bản (từ 2002 là tạp chí nghiên cứu Nhật Bản và Đông Bắc á); Tạp chí Văn hoá nghệ thuật; Tạp chí tư tưởng Văn hoá; …

Nhìn chung việc tìm hiểu, nghiên cứu về tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên ở Việt Nam cũng như các quốc gia lân cận là đề tài được nhiều học giả quan tâm, đã có khá nhiều công trình, bài viết liên quan đến vấn đề này được công bố Tuy nhiên, việc nghiên cứu mới chỉ tìm hiểu thờ cúng tổ tiên ở từng quốc gia, từng dân tộc riêng biệt, nhìn nhận vấn đề ở mỗi khía cạnh khác nhau, và phần lớn còn đặt tín ngưỡng này trong một tổng thể văn hoá, tín ngưỡng dân gian, bản địa Việc tìm hiểu, nghiên cứu một cách sâu sắc, toàn diện bức tranh tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên ở Việt Nam và các quốc gia Đông Bắc á, để thấy được diện mạo của loại hình tín ngưỡng này, sự tương đồng và khác biệt của nó ở các quốc gia trong khu vực là việc làm hoàn toàn mới mẻ và cần thiết.

Từ thực tế đó, tác giả luận văn mong muốn trên cơ sở tập hợp các nguồn tư liệu và thừa hưởng những thành quả của các học giả đi trước, có thể phác hoạ được một bức tranh chung về hình thức tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên ở Việt Nam và các quốc gia trong khu vược Đông Bắc á.

3 Phạm vi nghiên cứu.

Luận văn tập trung vào việc tìm hiểu, nghiên cứu tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên

ở ba quốc gia Đông Bắc á là: Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc và thờ cúng tổ tiên

Trang 9

ở Việt Nam trên các khía cạnh như nguồn gốc, thời điểm xuất hiện, thực trạng và vai trò của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên trong đời sống tâm linh của nhân dân các quốc gia, dân tộc nói trên Qua đó, thấy được những điểm giống và khác nhau của tín ngưỡng này giữa các quốc gia trong khu vực.

Để đảm bảo tính lôgic của vấn đề, ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn còn tìm hiểu một cách chung nhất về khái niệm tín ngưỡng và tín ngưỡng thờ cúng

tổ tiên, về nguồn gốc hình thành, các hình thức thờ cúng và đề cập một cách khái lược thực trạng tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên trên thế giới từ khi xuất hiện đến nay.

4 Nguồn tư liệu.

Để phục vụ cho việc viết luận văn này, tôi đã tiến hành sưu tầm, tìm kiếm tư liệu tại một số thư viện như: Thư viện trường Đại học Sư phạm Hà Nội; Phòng tư liệu khoa lịch sử của trường; Thư viện Quốc gia; Viện thông tin khoa học xã hội, Viện nghiên cứu tôn giáo; Viện Văn hoá dân gian; Trung tâm nghiên cứu Trung Quốc; Trung tâm nghiên cứu Đông Bắc á …

Nhìn chung luận văn dựa trên các nguồn tài liệu chủ yếu sau:

- Các sách của các tác giả trong và ngoài nước.

- Các giáo trình lịch sử có liên quan đến vấn đề.

- Các bài nghiên cứu trong các tạp chí như: Tạp chí “Nghiên cứu lịch sử”; Tạp chí “Nghiên cứu tôn giáo”; Tạp chí “Nghiên cứu Trung Quốc”; Tạp chí

“Nghiên cứu Nhật Bản và Đông Bắc á”;…

5 Phương pháp nghiên cứu.

Chúng tôi chủ yếu sử dụng phương pháp chuyên nghành của bộ môn là phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic Ngoài ra, chúng tôi cũng kết hợp các phương pháp khác như: Phương pháp so sánh, tổng hợp, phân tích… để làm sáng tỏ vấn đề.

6 Nội dung nghiên cứu và đóng góp của đề tài.

Trang 10

- Nội dung nghiên cứu:

Với đề tài này, chúng tôi tập trung vào việc tìm hiểu tín ngưỡng thờ cúng tổ

tiên ở các quốc gia Đông Bắc á và Việt Nam về các nội dung cụ thể như nguồn gốc

và thời gian xuất hiện; sự tác động và ảnh hưởng của các tôn giáo khu vực đến tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên; vai trò của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên trong đời sống tâm linh của nhân dân các nước; việc thực hiện tín ngưỡng này ở mỗi quốc gia như thế nào?

- Đóng góp của đề tài:

Trên cơ sở nghiên cứu một cách chung nhất về bức tranh tín ngưỡng thờ cúng

tổ tiên ở các quốc gia Đông Bắc á và Việt Nam, tác giả bước đầu chỉ ra những đặc trưng riêng biệt của loại hình tín ngưỡng này ở mỗi quốc gia, cho thấy những điểm tương đồng và khác biệt trong bức tranh tín ngưỡng đó.

Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo khi nghiên cứu về đời sống văn hoá tâm linh ở các quốc gia Đông Bắc á cũng như Việt Nam; hoặc phục vụ cho việc tìm hiểu về tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên trên thế giới.

7 Cấu trúc luận văn.

Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, bố cục luận văn gồm có hai chương Chương I: Nguồn gốc hình thành và các loại hình tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên.

Chương II: Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên ở các quốc gia Đông Bắc á và Việt Nam.

nội dung

Chương I

Nguồn gốc hình thành và các loại hình tín ngưỡng

Trang 11

thờ cúng tổ tiên

1 Khái niệm tín ngưỡng và tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên.

1.1 Khái niệm tín ngưỡng.

Tín ngưỡng là một hiện tượng lịch sử, thuộc lĩnh vực tinh thần của đời sống xã hội Trên thế giới có tới hàng ngàn loại hình tín ngưỡng, rất phong phú và đa dạng.

Do cách tiếp cận, mục đích nghiên cứu khác nhau, nên các cách hiểu tín ngưỡng cũng rất khác nhau Để đưa ra một khái niệm khoa học, trong đó có thể khái quát được những nét đặc trưng nhất của tín ngưỡng, cần điểm qua một số quan điểm của giới nghiên cứu trong và ngoài nước.

a Các quan điểm ngoài Mác xít về tín ngưỡng.

+ Quan điểm của chủ nghĩa duy tâm: Chủ nghĩa duy tâm khách quan với các đại biểu như Platon, Hêghen,… cho rằng, tín ngưỡng, tôn giáo là một sức mạnh kỳ

bí, thuộc lĩnh vực“tinh thần”, tồn tại vĩnh hằng, là cái chủ yếu đem lại sinh khí cho con người.

+ Quan điểm của thần học: Các nhà thần học như Tômát Dacanh, J.Oát, Phôntilích, Klêmachơ, Êtôrôtcho v.v… xem tín ngưỡng, tôn giáo là niềm tin vào cái thiêng, cái huyền bí, ở đó ẩn chứa sức mạnh siêu nhiên có thể cứu giúp con người khỏi khổ đau và có được hạnh phúc.

+ Quan điểm thuần tuý xã hội học về tín ngưỡng: các nhà xã hội học tư sản như Spenser, Durkheim, M.Weber,… từ giác độ xã hội học đã có những cái nhìn mới về tín ngưỡng, tôn giáo Emile Durkheim cho rằng, tín ngưỡng là những trạng thái tư tưởng, nằm ở các biểu tượng và được biểu hiện thông qua các nghi lễ thờ cúng + Các quan điểm khác về tín ngưỡng:

Trang 12

- E.Tylor, từ góc độ nhân loại học xem tín ngưỡng, tôn giáo là “lòng tin vào những vật linh”, các vật linh ấy là mama hay wakan mang tính siêu nhiên và đều có linh hồn (animé).

- W.Schmidt đi từ giác độ dân tộc học lịch sử để xem xét tín ngưỡng Theo ông, tín ngưỡng chẳng qua là hình thức tôn giáo nguyên sơ - tiền tôn giáo, là niềm tin vào một vị chúa vĩ đại, vĩnh hằng, thần bí, nhân từ và sáng tạo đang ngự ở trên trời Tín ngưỡng là hiện tượng phổ biến, có ở giai đoạn khởi đầu của mọi dân tộc.

- Jablokov, Troibi, Đaosơn, Malinôpxki trên bình diện văn hoá học xem tín ngưỡng, tôn giáo là một yếu tố của văn hoá, là một hiện tượng văn hoá Trong văn hoá nói chung có văn hoá tôn giáo Văn hoá tôn giáo được cấu thành từ hai yếu tố chính là ý thức tôn giáo và nghi lễ thờ cúng.

* Tóm lại: Có thể nói: “các cách tiếp cận trên về tín ngưỡng do hạn chế lịch sử

và lợi ích giai cấp đã đi đến những kết luận chưa có cơ sở khoa học”[54;18].

b Quan điểm triết học Mác xít về tín ngưỡng.

Trước khi trình bày quan điểm triết học Mácxít về tín ngưỡng, cần điểm qua một số ý kiến, quan niệm của các học giả Việt Nam trước kia và hiện nay về vấn đề này.

- Các học giả như Phan Kế Bính, Nhất Thanh, Toan ánh, Tân Việt,… đã tiếp cận tín ngưỡng từ giác độ văn hoá dân gian, xem tín ngưỡng là tín ngưỡng dân gian với các nghi lễ thờ cúng thể hiện qua lễ hội, phong tục, tập quán truyền thống của dân tộc Việt Nam.

- Đặng Nghiêm Vạn lại cho rằng: “ở nước ta, thuật ngữ tín ngưỡng có thể có hai nghĩa Khi ta nói tự do tín ngưỡng, người ngoại quốc có thể hiểu đó là tự do về ý thức (conscience) hay tự do về tín ngưỡng tôn giáo (croyance religieuse) Nếu hiểu tín ngưỡng là conscience thì tín ngưỡng bao trùm lên tôn giáo; nhưng nếu hiểu là

Trang 13

croyance religieuse thì tín ngưỡng chỉ là một bộ phận chủ yếu nhất cấu thành của tôn giáo”[64;68].

- Nguyễn Chính cho tín ngưỡng là tín ngưỡng tâm linh, vì tín ngưỡng tâm linh

là hạt nhân của tín ngưỡng tôn giáo đó là niềm tin, sự trông cậy và yêu mến một thế giới siêu nhiên mà con người với tri thức và kinh nghiệm đã có chưa thể lý giải được.

- Tô Ngọc Thanh lại cho tín ngưỡng là niềm tin của con người vào những điều, những sự vật, những nhân vật nào đó Niềm tin này không thể lý giải bằng logic thông thường vì nó đối lập với tư duy khoa học.

- Nguyễn Văn Kiệm lại cho rằng:“Tín ngưỡng, nếu hiểu theo nghĩa của từ croyance (tiếng Pháp) không phải là một từ để chỉ một tôn giáo Tín ngưỡng trong trường hợp này chỉ nên hiểu là một niềm tin tôn giáo và mỗi tín đồ của một tôn giáo nào đó đều có tín ngưỡng của mình, khác với tín ngưỡng của tín đồ tôn giáo khác” Nói cách khác, “tín ngưỡng là thuộc tính đương nhiên của mỗi tín đồ của một tôn giáo nào đó”[54;20].

- Nguyễn Quốc Phẩm xem tín ngưỡng theo nghĩa hẹp là niềm tin, sự ngưỡng

mộ của con người và thường gắn với niềm tin tôn giáo.Theo nghĩa rộng, tín ngưỡng

là khái niệm có nội hàm hẹp hơn tôn giáo, thuộc ý thức xã hội, phản ánh niềm tin, sự ngưỡng mộ của quần chúng nhân dân vào các lực lượng siêu nhiên ít nhiều mang mầu sắc tôn giáo.

- Nguyễn Chí Bền, từ góc độ văn hoá xem tín ngưỡng là một bộ phận cấu thành của văn hoá, được thể hiện thông qua nghi lễ thờ cúng, là lòng ngưỡng mộ, thành kính với những thế lực có ảnh hưởng trong quan hệ với con người.

- Quan điểm của các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin về tín ngưỡng C.mác cho rằng: “Đời sống xã hội, về thực chất, là có tính chất thực tiễn Tất cả những sự thần bí đang đưa lý luận đến chủ nghĩa thần bí, đều được giải đáp một cách

Trang 14

hợp lý trong thực tiễn của con người và trong sự hiểu biết thực tiễn ấy”[39;12] Như vậy, tín ngưỡng về bản chất, không phải là sản phẩm của thần thánh, là cái siêu nhiên, thần bí, mà là sản phẩm của xã hội Là một hiện tượng xã hội, không tách rời

xã hội, mang bản chất xã hội, tín ngưỡng cũng là hiện tượng thuộc đời sống tinh thần của xã hội, chịu sự quy định của đời sống vật chất.

Trong các tác phẩm của C.Mác và Ph.Ăngghen, các ông đã xem sản xuất vật chất là cơ sở của sự hình thành và phát triển của các hiện tượng mang tính lịch sử, xã hội, trong đó có tín ngưỡng, tôn giáo Các ông xem tín ngưỡng, tôn giáo không tách rời lịch sử và là một hiện tượng lịch sử, một sản phẩm của thời đại lịch sử nhất định Như vậy, khác hẳn các nhà triết học duy tâm lấy ý thức, tín ngưỡng, tôn giáo để giải thích lịch sử, coi tín ngưỡng, tôn giáo là phạm trù vượt qua lịch sử, là cái thần

bí, vĩnh hằng Họ lấy sự biến thiên của tín ngưỡng, tôn giáo để phân định lịch sử Các nhà triết học Mácxít lấy lịch sử để giải thích tín ngưỡng, và đi đến nhận định chung mang tính khách quan, khoa học là: tín ngưỡng cũng là một hiện tượng lịch

sử, là sự phản ánh điều kiện kinh tế - xã hội của các thời đại, có quá trình hình thành, biến đổi và có ảnh hưởng nhất định đối với tiến trình lịch sử.

Tín ngưỡng, theo cách hiểu thông thường là tín ngưỡng tôn giáo Thực ra về mặt nội dung và hình thức phản ánh thì tín ngưỡng và tôn giáo tuy có sự tương đồng, nhưng cũng có sự khác biệt Sự tương đồng biểu hiện ở chỗ:

+ tín ngưỡng và tôn giáo đều là sự phản ánh hư ảo của ý thức xã hội về tồn tại

xã hội, và chịu sự quy định của chính tồn tại xã hội đã sinh ra chúng Tín ngưỡng, tôn giáo đều có nguồn gốc xã hội, nguồn gốc nhận thức và nguồn gốc tâm lý trong quá trình hình thành và tồn tại; đều có chức năng đền bù, xoa dịu nỗi đau hiện thực

và hướng tới sự giải thoát về tinh thần

+ tín ngưỡng và tôn giáo đều là sự thể hiện niềm tin, sự ngưỡng mộ của con người vào một thực thể siêu nhiên nào đó như thượng đế, thần, phật, tổ tiên …

Trang 15

Bên cạnh những điểm giống nhau, giữa tín ngưỡng và tôn giáo cũng có những điểm khác nhau cơ bản, đó là:

+ Tín ngưỡng, xét về mặt logic hình thức là khái niệm có nội hàm hẹp hơn tôn giáo, bởi tôn giáo nào cũng đều bao hàm niềm tin, sự ngưỡng mộ, song không phải mọi hình thức tín ngưỡng đều là tôn giáo Bởi vì chúng thiếu hoặc chỉ là sự thể hiện

mờ nhạt những đặc trưng cơ bản của tôn giáo như: Đấng sáng thế, giáo chủ, hệ thống tổ chức, hệ thống giáo lý, kinh sách và hệ thống các điện thờ…

+ Tín ngưỡng được hình thành trực tiếp từ cuộc sống phong phú, đa dạng, chủ yếu do xúc cảm, kinh nghiệm mang lại Nó là sự phản ánh thiếu sự tinh chắt, sàng lọc, khái quát, hệ thống và thiếu cơ sở lý luận chặt chẽ, do đó nó mang tính dân gian, đời thường Còn tôn giáo thường được hình thành và tồn tại trên cơ sở lý luận chặt chẽ, cho nên nó có tính khái quát và hệ thống hơn.

+ tín ngưỡng có kết cấu đơn giản, nó hình thành và tồn tại dựa trên cơ sở niềm tin vào các khả năng lạ, đấng siêu nhiên, vào thế giới vô hình như thần linh, tổ tiên,

âm ty, địa ngục, ma quỷ… Niềm tin ấy mang tớnh huyền hoặc, mờ ảo, khụng rừ ràng, chưa đạt đến trỡnh độ khỏi quỏt cao, mang tớnh đơn giản, dựa vào sự cảm nhận của chủ thể Cũn tụn giỏo thỡ cú kết cấu phức tạp với cỏc yếu tố thế giới quan, nhõn sinh quan, ý thức, tõm lý, tỡnh cảm, niềm tin…ở tụn giỏo, niềm tin đặc biệt được đề cao, song cũng đũi hỏi sự lý giải mang tớnh hệ thống, lụ gớc, được xõy dựng và củng cố trờn cơ sở thế giới quan tụn giỏo.

+ Trong cỏc yếu tố của tớn ngưỡng và tụn giỏo, cựng với niềm tin thỡ nghi lễ

cú vai trũ hết sức quan trọng nghi lễ được thực hiện trong tớn ngưỡng mang tớnh đơn giản Cũn với tụn giỏo thỡ nghi lễ là yếu tố đặc biệt được coi trọng, nú mang tớnh hệ thống, được quy định chặt chẽ bởi giỏo lý, giỏo luật, được duy trỡ thường xuyờn, cú tổ chức và mang tớnh bắt buộc với tớn đồ.

Trang 16

Căn cứ vào những đặc trưng cơ bản của tớn ngưỡng trờn cơ sở phõn biệt sự

giống và khỏc nhau giữa tớn ngưỡng và tụn giỏo, cú thể quan niệm: tớn ngưỡng là một bộ phận của ý thức xó hội, là một yếu tố thuộc lĩnh vực đời sống tinh thần, là

hệ quả của cỏc quan hệ xó hội, được hỡnh thành trong quỏ trỡnh lịch sử - văn hoỏ, là sự biểu hiện niềm tin dưới dạng tõm lý xó hội vào cỏi thiờng liờng thụng qua hệ thống lễ nghi thờ cỳng của con người và cộng đồng người trong xó hội.

Thụng thường thuật ngữ tớn ngưỡng bao gồm tớn ngưỡng tụn giỏo và tớn ngưỡng dõn gian.

Tớn ngưỡng tụn giỏo là niềm tin vào lực lượng siờu nhiờn theo những nguyờn tắc thực hành tụn giỏo nhất định.

Tớn ngưỡng dõn gian là niềm tin vào thần linh thụng qua những nghi lễ, gắn liền với tập tục, thúi quen truyền thống Nú là một bộ phận của văn hoỏ dõn gian, phản ỏnh những ước nguyện tõm linh của con người và cả cộng đồng.

Ở Việt Nam phần lớn cỏc nhà nghiờn cứu tớn ngưỡng và tụn giỏo cho rằng, tớn ngưỡng thờ cỳng tổ tiờn là một loại hỡnh tớn ngưỡng dõn gian, là yếu tố thuộc đời sống tinh thần, phản ỏnh niềm tin của con người vào hệ thống thần linh thụng qua lễ nghi thờ cỳng, phong tục, tập quỏn truyền thống của dõn tộc.

1.2 Tớn ngưỡng thờ cỳng tổ tiờn.

Thờ cỳng tổ tiờn là một hiện tượng xó hội đó xuất hiện từ xa xưa trong lịch sử nhõn loại và đó từng tồn tại ở nhiều chõu lục, nhiều quốc gia Cho đến nay, tớn ngưỡng thờ cỳng tổ tiờn vẫn giữ vai trũ quan trọng trong đời sống tinh thần của nhiều tộc người Tuy vậy, việc đỏnh giỏ vai trũ, ý nghĩa của nú trong từng giai đoạn lịch sử và ở mỗi quốc gia lại khụng như nhau Việc nhỡn nhận tớn ngưỡng thờ cỳng

tổ tiờn là một tụn giỏo, một tớn ngưỡng hay một phong tục vẫn chưa cú sự thống nhất, ngay cả khỏi niệm về tớn ngưỡng thờ cỳng tổ tiờn cũng đang cũn nhiều ý kiến tranh luận.

Trang 17

- Cỏc học giả như Toan Ánh, Hoàng Quốc Hải… đó khẳng định rằng, thờ cỳng

tổ tiờn khụng phải là tụn giỏo mà thực chất đú là một phong tục, một tớn ngưỡng Trong chuyờn luận của mỡnh, tỏc giả Toan Ánh viết: “Thực ra thờ phụng tổ tiên không phải là một tôn giáo, … Thờ phụng tổ tiên do lòng thành kính và biết ơn của con cháu đối với cha mẹ, ông bà, cụ kỵ đã khuất”[2;22] Cũn Hoàng Quốc Hải trong sỏch “văn hoỏ phong tục” viết: “ phải khẳng định rằng, thờ cỳng tổ tiờn ở nước ta chỉ là một tớn ngưỡng mang tớnh đạo lý, chứ khụng phải là một tụn giỏo” [21;14].

- Trong khi cỏc học giả trờn khụng thừa nhận tớn ngưỡng thờ cỳng tổ tiờn là một tụn giỏo thỡ cố giỏo sư Nguyễn Đổng Chi lại phõn võn: “nú gần như một thứ tụn giỏo” [59;52] Cũn giỏo sư Đặng Nghiờm Vạn khẳng định thờ cỳng tổ tiờn là tụn giỏo và nằm trong “hệ thống tụn giỏo dõn tộc” Tỏc giả viết: “Cũng cần lưu ý rằng,

ta khụng thấy ghộp từ giỏo sau cỏc tụn giỏo mới phỏt sinh như Cao Đài, Hoà Hảo… hay cỏc tụn giỏo truyền thống như đạo tổ tiờn, đạo thờ thành hoàng… Gần đõy, bản thõn tỏc giả muốn gọi là hệ thống tụn giỏo dõn tộc” [64;24] X.A.Tocarev - nhà dõn tộc học nổi tiếng người Nga - cũng khẳng định: “sự thờ cỳng tổ tiờn là một hỡnh thức tụn giỏo, từ lõu đó được thừa nhận trong khoa học Vỡ thế khụng cần phải chứng minh sự tồn tại của nú với tư cỏch là một hỡnh thức tụn giỏo riờng biệt” [60;312].

- Học giả Phan Ngọc, trong sỏch “Bản sắc văn hoỏ Việt Nam” - Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội, 2001 - lại cú một cỏch gọi khỏc khi khụng gọi thờ cỳng tổ tiờn là tụn giỏo, tớn ngưỡng hay phong tục, mà lại gọi là chế độ: “Chế độ thờ cỳng tổ tiờn đúng vai trũ then chốt trong việc xõy dựng đặc điểm khu biệt văn hoỏ Việt Nam là văn hoỏ nhõn cỏch luận, đối lập với văn hoỏ phương Tõy là văn hoỏ cỏ nhõn luận…”[22;10].

- Linh mục Lộopold Cadiốre - một người cú nhiều cụng trỡnh nghiờn cứu về văn hoỏ và tớn ngưỡng Việt Nam - lại xếp thờ cỳng tổ tiờn vào tớn ngưỡng quỷ thần, ụng viết: “… trong người Việt Nam, tớn ngưỡng quỷ thần (la religion des

Trang 18

esprits) gồm thờ cỳng vong hồn tổ tiờn được tụn kớnh trong mỗi gia đỡnh, vong hồn những người bị nhiều đau khổ, sau khi chết trở nờn độc ỏc và cần phải làm dịu bớt

để họ khỏi làm hại người sống; và tất cả cỏc thần - dự gốc là người hay là sức mạnh

tự nhiờn được nhõn cỏch hoỏ - mà người Việt tụn là thần của làng xúm” [22;9].

Ở miền nam nước ta, tớn ngưỡng thờ cỳng tổ tiờn được người dõn gọi với một cỏi tờn thống nhất là đạo ụng bà Nguyễn Đỡnh Chiểu viết:

“Thà đui mà giữ đạo nhà Cũn hơn cú mắt ụng cha khụng thờ”.

Theo một số nhà nghiờn cứu thỡ gọi là đạo cũng được, nhưng “đạo” ở đõy khụng cú nghĩa là một tụn giỏo như đạo Kitụ, đạo phật, đạo Ixlam, mà phải hiểu nú như là đạo làm con, đạo làm người, đạo hiếu nghĩa…, những đạo ấy khụng thể là tụn giỏo trong tỏc phẩm “tớn ngưỡng và văn húa tớn ngưỡng ở Việt Nam”, tỏc giả Ngụ Đức Thịnh viết: “ trong cụng trỡnh này, đõy đú chỳng tụi sử dụng thuật ngữ “đạo” như đạo Mẫu, đạo tổ tiờn…”, và tỏc giả giải thớch: “khỏi niệm đạo ở đõy theo ý nghĩa là “ con đường”, “cỏch thức” đưa con người đạt tới niềm tin vào cỏi thiờng liờng, siờu nhiờn” [59;17].

- Trong khi đú ở ngoài Bắc, đa số dựng khỏi niệm đạo thờ cỳng tổ tiờn hoặc tớn ngưỡng thờ cỳng tổ tiờn v.v…

Như vậy, thờ cỳng tổ tiờn là một phong tục, tớn ngưỡng hay tụn giỏo thỡ vẫn đang cũn nhiều ý kiến khỏc nhau, bởi theo tiờu chớ truyền thống về tụn giỏo, cỏc yếu tố cần cú như người sỏng lập, giỏo lý, giỏo luật, giỏo hội, lễ nghi… là những tiờu chớ rất quan trọng Theo lý thuyết này, chỉ cú thể kể tới cỏc tụn giỏo cú tớnh chất quốc tế như phật giỏo, Kitụ giỏo, Ixlam giỏo, hay những tụn giỏo cú tớnh khu vực như khổng giỏo, ấn Độ giỏo, Bàlamụn giỏo, và cú thể kể cả những tụn giỏo bản địa như đạo Cao Đài, Hòa Hảo ở Việt Nam, cũn hầu hết cỏc hỡnh thức thờ cỳng, tế

lễ khỏc được coi là tớn ngưỡng Quan niệm rộng rói hơn, cú người coi tất cả là tụn

Trang 19

giỏo (hoặc tụn giỏo chớnh thống, hoặc tụn giỏo sơ khai) Cũng cú thể coi thờ cỳng tổ tiờn là một phong tục đó được tụn giỏo hoỏ, hoặc những hành vi cú tớnh chất tụn giỏo được thế tục hoỏ để trở thành phong tục Về mặt lý luận, vấn đề này cần được thảo luận thờm nhiều mới hi vọng cú sự thống nhất Tuy nhiờn hiện nay cú một cỏch dựng, một thuật ngữ mang tớnh chất “trung hoà”, đú là Đạo (nghĩa là con đường, là cỏch thức) - đạo thờ cỳng tổ tiờn Cũn theo quan niệm truyền thống, tương đối phổ biến, thờ cỳng tổ tiờn vẫn được coi là một tớn ngưỡng Tác giả luận văn cũng đồng tình với việc coi thờ cúng tổ tiên là một tín ngưỡng với ba lý do cơ bản: Thứ nhất, thờ cúng tổ tiên được hình thành trực tiếp từ cuộc sống phong phú, đa dạng, có kết cấu đơn giản, mang tính dân gian đời thường; Thứ hai, thờ cúng tổ tiên thiếu những tiêu chí cơ bản của một tôn giáo như người sáng lập, hệ thống tổ chức, giáo lý, giáo luật, lễ nghi v.v…; Thứ ba, trong việc thờ cúng tổ tiên, yếu tố đạo lý giữ vai trò quan trọng hàng đầu chứ không phải là niềm tin tôn giáo, đó là việc làm để tưởng nhớ về

tổ tiên, nguồn cội Bởi vậy, trong luận văn này, tỏc giả xin tạm sử dụng thuật ngữ

“tớn ngưỡng thờ cỳng tổ tiờn”.

Về mặt khỏi niệm, thờ cỳng tổ tiờn cú thể được hiểu như sau:

- “Thờ”: cú ý bao hàm một hành động biểu hiện sự sựng kớnh ( bao hàm cả ý nếu làm điều gỡ sai trỏi sợ bị quở trỏch) một đấng siờu linh như thần thỏnh, tổ tiờn, đồng thời cũng cú nghĩa là cỏch ứng xử với bề trờn cho phải đạo như thờ vua, thờ cha mẹ, thờ thầy, hay thờ một người mỡnh mang ơn hay mỡnh lấy làm biểu tượng

để cố noi theo “Thờ” trong thờ cỳng tổ tiờn là yếu tố thuộc ý thức về tổ tiờn, là tõm linh, tỡnh cảm của con chỏu hướng về cội nguồn Thờ tổ tiờn là sự thể hiện lũng thành kớnh, biết ơn, tưởng nhớ tổ tiờn, đồng thời cũng là sự thể hiện niềm tin vào sự che chở, bảo hộ, trợ giỳp của tổ tiờn.

- “Cỳng”: theo Hỏn ngữ đại từ điển (1992) thỡ “cỳng” cú thể hiểu là hiến dõng,

là tế, là cung phụng, là hiến tế, cũng cú nghĩa là vật dõng tế Ở Việt Nam, cỳng cú nghĩa là dõng lễ vật cho cỏc đấng siờu linh, cho người đó khuất Cỳng ở đõy mang

Trang 20

tớnh lễ nghi, là sự thực hành một loạt động tỏc của người được quyền thờ cỳng Đú

là hoạt động dưới dạng hành lễ, được quy định do quan niệm, phong tục, tập quỏn của mỗi cộng đồng, dõn tộc.

Thờ và cỳng là hai yếu tố tỏc động qua lại, thống nhất với nhau trong tớn ngưỡng thờ cỳng tổ tiờn.

Sự “thờ”, “tụn thờ” chớnh là nội dung, cũn hoạt động “cỳng” là hỡnh thức biểu đạt của nội dung thờ cỳng ý thức tụn thờ, thành kớnh, biết ơn, tưởng nhớ, hy vọng

sự trợ giỳp, trỏnh sự trừng phạt của tổ tiờn là nội dung cốt lừi của tớn ngưỡng thờ cỳng tổ tiờn Nếu khụng cú “ thờ” mà chỉ cú “cỳng” thỡ tự bản thõn tớn ngưỡng thờ cỳng tổ tiờn khụng cú “hồn thiờng”, khụng cú sức hấp dẫn nội tại và dễ thành nhạt nhẽo, vụ vị, mai một Sự “cỳng”, tuy chỉ là hỡnh thức biểu đạt, song nú tụn vẻ linh thiờng, huyền bớ, mờ ảo, tạo nờn sức hấp dẫn, nú chớnh là hương vị, mầu sắc, keo dớnh thoả món niềm tin tụn giỏo, đỏp ứng nhu cầu của chủ thể thờ cỳng.

- “Tổ tiờn”: theo nghĩa thụng thường là khỏi niệm để chỉ những người cú cựng huyết thống đó mất như kỵ, cụ, ụng bà, cha mẹ…, là những người cú cụng sinh thành và nuụi dưỡng, cú ảnh hưởng lớn về đời sống vật chất cũng như tinh thần đến cỏc thế hệ con chỏu.

Khụng phải ngay từ đầu, khỏi niệm tổ tiờn đó mang ý nghĩa chỉ con người thật.

tổ tiờn trong xó hội nguyờn thuỷ cú nguồn gốc là tổ tiờn tụ tem trong tụ tem giỏo của thị tộc Từ tổ tiờn tụ tem giỏo chuyển sang tổ tiờn người thật nằm trong quỏ trỡnh chuyển từ chế độ thị tộc mẫu hệ sang chế độ thị tộc phụ hệ.

Trong quỏ trỡnh phỏt triển của lịch sử, khỏi niệm tổ tiờn cũng cú sự biến đổi, phỏt triển Tổ tiờn khụng cũn bú hẹp trong phạm vi huyết thống là gia đỡnh, họ tộc,

mà đó mở rộng ra trong phạm vi cộng đồng, xó hội sự hỡnh thành và phỏt triển của cỏc quốc gia, dõn tộc, thường gắn liền với tờn tuổi của những người cú cụng tạo dựng, giữ gỡn cuộc sống Khi cũn sống, họ được cỏc thành viờn trong cộng đồng đề

Trang 21

cao, tụn kớnh Đú là cỏc thủ lĩnh của cỏc phong trào quần chỳng, những người cú cụng truyền nghề, khai làng, lập ấp; cỏc vua chỳa, quan lại cú cụng trong việc xõy dựng, bảo vệ cuộc sống của cộng đồng Họ được xó hội thừa nhận, cấp sắc phong thần, được nhõn dõn ghi cụng ơn và được tụn thờ trong cỏc am, miếu, đỡnh, đền, thỏnh thất…

Qua việc tỡm hiểu trờn cú thể hiểu: tớn ngưỡng thờ cỳng tổ tiờn là một bộ phận của ý thức xó hội, là một loại hỡnh tớn ngưỡng dõn gian, được hỡnh thành

từ thời nguyờn thuỷ trong chế độ thị tộc phụ quyền với niềm tin thiờng liờng rằng, tổ tiờn tuy đó chết nhưng linh hồn vẫn cũn tồn tại, cú khả năng che chở, phự giỳp con chỏu, được thể hiện thụng qua lễ nghi thờ phụng Nú là sự phản ỏnh quyền hành của người đứng đầu thị tộc phụ hệ, gia đỡnh phụ quyền, được duy trỡ và phỏt triển trong xó hội cú giai cấp sau này Đú là sự biết ơn, tưởng nhớ

và tụn thờ những người cú cụng sinh thành, tạo dựng, bảo vệ cuộc sống như kỵ,

cụ, ụng bà, cha mẹ,tổ sư, tổ nghề, thành hoàng, tổ nước…

Thụng thường tớn ngưỡng thờ cỳng tổ tiờn được hiểu theo hai nghĩa:

* Nghĩa hẹp: tớn ngưỡng thờ cỳng tổ tiờn là việc thờ cỳng tổ tiờn, ụng bà, cha

mẹ - những người cựng huyết thống đó mất - là những người đó cú cụng sinh thành

và nuụi dưỡng con chỏu.

Theo X.A Tocarev: Thờ cỳng tổ tiờn, “đú là sự thờ cỳng ụng bà, cha mẹ và những người đồng tộc đó chết và trước hết là cỏc hỡnh thức gia đỡnh - thị tộc của sự thờ cỳng đú, tức là lũng tin rằng tổ tiờn đó chết che chở cho con chỏu đang sống, và những lễ nghi cầu xin do cỏc thành viờn thị tộc hay gia đỡnh tiến hành nhằm thờ phụng tổ tiờn” [60;313] Ở đõy, Tocarev đó gạt ra ngoài những hỡnh thức, đối tượng được thờ cỳng chung của toàn bộ lạc hoặc dõn tộc, mà chỉ bú hẹp trong phạm vi gia đỡnh và thị tộc

Trang 22

* Nghĩa rộng: tớn ngưỡng thờ cỳng tổ tiờn khụng chỉ là thờ cỳng những người

có cùng huyết thống trong gia đình, họ tộc, mà cũn mở rộng ra cả tổ tiờn của làng

xó, đất nước, bao gồm việc thờ trời đất; thờ người cú cụng dựng nước, giữ làng, cú cụng với cộng đồng, làng xúm; thờ các thần linh cú liờn quan đến cuộc sống thường nhật của con người Về điểm này, giỏo sư Đặng Nghiờm Vạn viết: “đạo thờ cỳng tổ tiờn được hiểu theo nghĩa rộng, khụng chỉ thờ những người cú cụng sinh dưỡng đó khuất, nghĩa là những người cú cựng huyết thống, mà thờ cả những người cú cụng với cộng đồng làng xó, đất nước”[63;305].

Như vậy, cú thể núi tớn ngưỡng thờ cỳng tổ tiờn theo nghĩa rộng được thể hiện qua ba cấp độ từ nhà đến nước:

Một là, trong phạm vi gia đỡnh - dũng họ thờ cha mẹ, ụng bà đến ụng tổ của dũng họ theo huyết thống.

Hai là, trong phạm vi làng xó, thờ cỳng thành hoàng là những ụng tổ nghề, người cú cụng khai phỏ vựng đất mới, dựng làng, lập ấp, đỏnh giặc, cứu dõn,… được dõn làng tụn vinh, thờ phụng.

Ba là, trong phạm vi cả nước thờ những người được coi là thuỷ tổ của quốc gia, thờ Trời hoặc những ụng vua được tụn vinh như là vị thần của quốc gia, dõn tộc Thờ cỳng tổ tiờn của từng gia đỡnh - họ tộc, làng xó và quốc gia cú nhiều khõu, nhiều mức, nhiều hỡnh thức khỏc nhau, nhưng đó trở thành một chỉnh thể cú quan

hệ chặt chẽ, nương tựa, hỗ trợ lẫn nhau, nó phản ỏnh quan hệ gắn bú giữa cỏ nhõn với cộng đồng, gia đỡnh với đất nước Vậy tớn ngưỡng thờ cỳng tổ tiờn cú nguồn gốc hỡnh thành như thế nào?

2 Nguồn gốc hỡnh thành tớn ngưỡng thờ cỳng tổ tiờn.

2.1 Nguồn gốc xó hội.

Xuất phỏt từ quan điểm triết học Mỏcxớt, xem tớn ngưỡng núi chung (trong đú

cú tớn ngưỡng thờ cỳng tổ tiờn) là một hiện tượng lịch sử và đồng thời cũng là một

bộ phận của ý thức xó hội, cú quy luật hỡnh thành và tồn tại riờng, được nảy sinh

Trang 23

trờn cơ sở kinh tế - xó hội nhất định, và chịu sự quy định của tồn tại xó hội Do đú, tỡm hiểu nguồn gốc hỡnh thành của loại hỡnh tớn ngưỡng này khụng phải tỡm trong

“ý thức”, mà cần bỏm vào lịch sử - xó hội, lịch sử hoạt động thực tiễn của con người.

Như chỳng ta đó biết, lịch sử xó hội loài người là sự phỏt triển kế tiếp nhau của cỏc hỡnh thỏi kinh tế xó hội, theo chiều hướng phỏt triển từ thấp đến cao Hỡnh thỏi kinh tế xó hội đầu tiờn là cụng xó nguyờn thủy, một hỡnh thỏi kinh tế xó hội hết sức thấp kộm và lạc hậu Nền kinh tế của người nguyên thuỷ lấy săn bắt, hỏi lượm là chớnh, cuộc sống lệ thuộc rất nhiều vào mụi trường tự nhiờn.

Về mặt tổ chức xó hội, ở giai đoạn đầu người nguyờn thuỷ sống theo bầy đàn, quan hệ với nhau rất lỏng lẻo Cho đến hậu kỡ đồ đỏ cũ, khi người Hụmụsapiens xuất hiện thỡ tổ chức bầy đàn bị phỏ vỡ, người nguyờn thuỷ sống thành cỏc thị tộc,

“sự ra đời của thị tộc là một bước tiến dài vững chắc trong tiến trỡnh phỏt triển của

xó hội loài người”[20;135] Thị tộc là những cộng đồng người cú đặc điểm cơ bản là cựng huyết thống, sống trờn cựng địa vực cư trỳ, hợp tỏc, tương trợ trong lao động sản xuất, trong đấu tranh chống thiờn tai và chống sự xõm lấn lónh thổ của cỏc thị tộc.

Thời kỡ đầu của xó hội nguyờn thủy cộng cụ lao động cũn hết sức thụ sơ, đơn giản, trỡnh độ lao động sản xuất thấp, do đú năng suất lao động khụng cao Vỡ vậy, cuộc sống của người nguyờn thuỷ vẫn khụng cỏch xa cuộc sống của loài vật, ý thức

cỏ nhõn chưa định hỡnh, dẫn tới việc ý thức xó hội của họ cũng chỉ mang tớnh chất bầy đàn đơn thuần.

Theo dũng chảy của thời gian, lực lượng sản xuất ngày càng phỏt triển, cựng với nú là việc tỡm ra lửa, dựng cung tờn trong săn bắn… đó tạo ra bước thay đổi căn bản trong ý thức người nguyờn thuỷ Con người dần thoỏt khỏi giới hạn “ bầy đàn”

Trang 24

và mang tớnh xó hội rộng lớn í thức của họ cũng mang tớnh xó hội - ý thức cộng sản nguyờn thuỷ.

Thời kỡ này ý thức về tổ tiờn tụ tem giỏo là một yếu tố của ý thức cụng xó nguyờn thuỷ, phản ỏnh sự bất lực của con người trước sức mạnh của tự nhiờn Cỏc hiện tượng của tự nhiờn như sấm, chớp, mõy, mưa, giú bóo, động đất, chỏy rừng… luụn luụn là những điều kỡ bớ, thường xuất hiện và đe doạ cuộc sống bỡnh yờn của

họ Và sau này, cựng với lực lượng bớ ẩn của giới tự nhiờn là lực lượng mang tớnh

xó hội luụn thống trị cuộc sống hàng ngày của họ Ph.Ăngghen viết: “ những lực lượng này đối lập với con người, một cỏch cũng xa lạ, lỳc đầu cũng khụng thể hiểu được đối với họ và cũng thống trị họ với cỏi vẻ tất yếu bề ngoài giống như bản thõn những lực lượng tự nhiờn vậy”[41;437].

Sự bế tắc và bất lực của người nguyờn thuỷ trong cuộc sống hiện thực đó dẫn

họ đi tỡm sự giải thoỏt trong đời sống tinh thần Cựng với biểu tượng về cỏc thần linh, biểu tượng về tổ tiờn tụ tem giỏo đó xuất hiện trong thời kỡ thị tộc mẫu hệ Chỉ đến thời kỡ thị tộc phụ hệ, tổ tiờn gia đỡnh và thị tộc mới thực sự phổ biến: “hai hỡnh thức thờ cỳng: sự thờ cỳng cỏc vật thiờng và thần che chở cho gia đỡnh và thị tộc, và sự thờ cỳng tổ tiờn của gia đỡnh và thị tộc Hai hỡnh thức đú phự hợp với hai giai đoạn phỏt triển của tổ chức thị tộc - thị tộc mẫu quyền và thị tộc phụ quyền” [60;295].

Theo Tocarev, sự thờ cỳng tổ tiờn trong thời kỡ thị tộc mẫu hệ mới chỉ là manh nha chứ chưa phải là hiện tượng phổ biến Bởi theo ụng, mẫu mực cổ điển của chế

độ thị tộc mẫu hệ là cỏc bộ lạc Bắc Mỹ, đặc biệt là những bộ lạc sống ở lưu vực sụng Mitxixipi và ở phớa Đụng vựng này, họ vẫn duy trỡ việc thờ cỳng cỏc thần che chở, cỏc vật thiờng chứ chưa biết đến thờ cỳng tổ tiờn: “đú khụng phải là sự thờ cỳng tổ tiờn, đú là sự thờ cỳng cỏc thần che chở và vật thiờng của thị tộc (cũng như gia đỡnh) mà một phần được thể hiện thụng qua cỏc vật thể” [60;298] Tuy nhiờn, ở một vài nơi như vựng Mờlanờdi, Tõy tõn Ghinờ đó cú dấu vết sự thờ cỳng tổ tiờn,

Trang 25

đú là việc thờ cỳng những di cốt, đặc biệt là xương sọ của tổ tiờn Ở một số bộ lạc vựng Đụng bắc Tõn Ghinờ, sự thờ cỳng tổ tiờn gắn liền với việc thờ cỳng những nhạc cụ bằng gỗ mà người dõn ở đõy cho rằng hồn ma người chết biến thành Đặc điểm chủ yếu của tớn ngưỡng thờ cỳng tổ tiờn thời kỳ này là việc thờ tổ tiờn tụ tem giỏo Mỗi thị tộc đó thần thỏnh hoỏ bất kỳ một vật trong tự nhiờn, coi đú là vật tổ của thị tộc mỡnh và tiến hành thờ cỳng

Sang thời kỡ thị tộc phụ hệ, tớn ngưỡng thờ cỳng tổ tiờn theo huyết thống đó định hỡnh và dần trở nờn phổ biến Thực tế đú đó phản ỏnh sự thay đổi lớn trong phõn cụng lao động xó hội Lỳc này người đàn ụng giữ vai trũ chủ đạo trong đời sống kinh tế, do đú cú ảnh hưởng rất lớn trong đời sống cộng đồng Trước đấy cuộc sống của con người lệ thuộc hoàn toàn vào tự nhiờn, điều kiện lịch sử lỳc đú đó củng

cố và nõng cao vị trớ của người phụ nữ trong đời sống xó hội Cũn bõy giờ, khi trỡnh độ sản xuất của người nguyờn thuỷ ngày càng được phỏt triển, họ khụng cũn

lệ thuộc hoàn toàn vào tự nhiờn nữa mà đó dần tỏch khỏi tự nhiờn, làm chủ tự nhiện, được biểu hiện bằng việc loài người đó chuyển từ kinh tế chiếm đoạt sang kinh tế trồng trọt và chăn nuụi Cựng với quỏ trỡnh này là việc chuyển từ vai trũ của người phụ nữ sang vai trũ của người đàn ụng được nõng cao, lịch sử loài người bước sang một giai đoạn mới, cao hơn- thời kỡ chế độ thị tộc phụ quyền.

Ở giai đoạn thị tộc phụ quyền, người đàn ụng bắt đầu nắm giữ quyền hành quản

lớ gia đỡnh, do họ đó cú vai trũ quan trọng trong hoạt động kinh tế Vợ và con cỏi

họ tuyệt đối phục tựng và tụn trọng cỏi uy quyền đó được xỏc lập ấy, khụng chỉ khi

họ cũn sống mà cả khi đó chết và phải chăng cỏc nghi thức ma chay, thờ cúng tổ tiờn cũng chớnh là “hỡnh thức phản ỏnh hoang đường quyền hành gia trưởng trong mỗi gia đỡnh”? [60;233].

Như vậy, cú thể xem nguyờn nhõn sõu xa dẫn tới sự hình thành tớn ngưỡng thờ cỳng tổ tiờn là do trỡnh độ sản xuất hết sức thấp kộm của thời nguyờn thuỷ Tớnh hạn chế của lực lượng sản xuất kộo theo sự hạn chế trong quan hệ kộp giữa con

Trang 26

người với tự nhiờn và giữa con người với nhau trong xó hội C.Mỏc cho rằng, tớnh chất hạn chế đú đó phản ỏnh vào trong những tụn giỏo cổ đại và vào trong tớn ngưỡng của nhõn dõn, thể hiện sự bất lực trước thế giới hiện thực.

Nguyờn nhõn trực tiếp mang tớnh xó hội của tớn ngưỡng thờ cỳng tổ tiờn là sự phõn cụng lao động trong xó hội thị tộc phụ hệ, đó dần tới việc đề cao vai trũ, vị trớ của người đàn ụng trong gia đỡnh và xó hội “Những người này, bằng uy tớn của mỡnh đó củng cố và thiờng liờng hoỏ sự thờ cỳng tổ tiờn đó cú manh nha trong thời

kỡ thị tộc mẫu quyền”[54;42].

Bước sang xó hội cú giai cấp, sự ỏp bức búc lột giai cấp, sự tự tỳng, bế tắc trong cuộc sống hiện thực, cũng là nguyờn nhõn xó hội quan trọng cho tớn ngưỡng thờ cỳng tổ tiờn được nảy sinh và củng cố Lờnin cho rằng: “Sự bất lực của giai cấp

bị búc lột trong cuộc đấu tranh chống bọn búc lột tất nhiờn đẻ ra lũng tin vào một cuộc đời tốt đẹp hơn ở thế giới bờn kia, cũng giống y như sự bất lực của người dó man trong cuộc đấu tranh chống thiờn nhiờn đẻ ra lũng tin vào thần thỏnh, ma quỷ, vào những phộp mầu” [54;42] Nhưng ở đõy khụng phải là ma quỷ, thần thỏnh ở thế giới bờn kia, mà là tổ tiờn cú thể che chở, phự hộ, giỳp đỡ họ.

Từ việc phõn tớch cơ sở xó hội ở trờn cú thể thấy rằng, quá trình chuyển biến từ chế độ thị tộc mẫu quyền sang chế độ thị tộc phụ quyền, quá trình xác lập địa vị và

uy tín của người đàn ông trong gia đình cũng như ngoài xã hội đã có một ý nghĩa to lớn trong việc chuyển đổi từ việc thờ cúng tổ tiên là tổ tiên tô tem giáo, là thần che chở cho các gia đình và thị tộc sang việc thờ cúng tổ tiên là con người thật theo dòng máu.

Việc truy tỡm nguồn gốc xó hội của sự hỡnh thành tớn ngưỡng thờ cỳng tổ tiờn chớnh là việc truy tỡm nguồn gốc khỏch quan Bờn cạnh đú, trỡnh độ nhận thức của con người cũng là một nguyờn nhõn quan trọng, là cơ sở dẫn tới sự hỡnh thành và tồn tại của loại hỡnh tớn ngưỡng này.

Trang 27

2.2 Nguồn gốc nhận thức.

Một trong những nguồn gốc dẫn đến việc hỡnh thành tớn ngưỡng núi chung và tớn ngưỡng thờ cỳng tổ tiờn núi riờng, đú chớnh là sự phỏt triển của trỡnh độ nhận thức, trỡnh độ tư duy của người nguyờn thuỷ.

Nhận thức là quỏ trỡnh phản ỏnh hiện thực khỏch quan của con người, là quỏ trỡnh tạo thành tri thức trong bộ úc con người trước hiện thực khỏch quan Nhờ cú nhận thức, con người mới cú ý thức về thế giới xung quanh í thức về cơ bản là kết quả của quỏ trỡnh nhận thức thế giới.

Khụng phải ngay khi con người xuất hiện là tớn ngưỡng và tụn giỏo được hỡnh thành, trỏi lại tớn ngưỡng và tụn giỏo chỉ xuất hiện khi trỡnh độ tư duy và trỡnh độ xó hội của con người đạt đến một trỡnh độ nhất định Với những phỏt hiện

và đúng gúp của cỏc ngành khảo cổ học, dõn tộc học, và trờn cơ sở nghiờn cứu những xó hội sơ khai cũn tồn tại đến ngày nay, cỏc nhà dõn tộc học ngày càng miờu thuật đầy đủ và phong phỳ hơn rằng: “tụn giỏo chỉ cú điều kiện xuất hiện khi nhận thức của con người đó phỏt triển đến mức độ nhất định và khi xó hội con người đó được tổ chức tương đối ổn định Tụn giỏo được sản sinh ra khỏ muộn mằn, nhiều lắm là khoảng chục vạn năm” [63;16].

Con người cú ý thức đầu tiờn trong lịch sử là người Homosapiens (người thụng minh) Cỏch đõy khoảng 4-5 vạn năm (vào hậu kỳ đồ đỏ cũ) người khụn ngoan (Homosapiens) đó sống thành tập thể, biết dựng lều ở, hỡnh thành ngụn ngữ với lời núi chia thành õm tiết, quan trọng hơn họ đó biết chụn người chết cú đồ tuỳ tỏng kốm theo Thực tế đú đó chứng minh cơ quan tư duy là bộ nóo của người Homosapiens đó khỏ phỏt triển Quan niệm về cỏi chết và cuộc sống sau khi chết ở thế giới bờn kia chứng tỏ khả năng trừu tượng hoỏ của họ.Quan niệm này chứng tỏ người tinh khụn đã cho rằng, trong mỗi con người được cấu tạo nờn từ hai phần cụ thể, đú là phần xỏc và phần hồn khi người ta sống, phần hồn hoà nhập vào trong

Trang 28

phần xỏc và điều khiển hành vi của phần xỏc Khi con người chết đi thỡ hai phần này sẽ tỏch rời nhau, phần xỏc bị huỷ hoại và tan vào trong cỏt bụi, trỏi lại phần hồn vẫn cũn tồn tại bất diệt, hồn bước vào một thế giới mới mà thế giới đú cú tờn gọi phổ biến là cừi õm, và vẫn cần những nhu cầu như khi người đú cũn sống Đú là nguyờn nhõn giải thớch tại sao người Homosapiens lại chụn cất cỏc đồ tuỳ tỏng theo người chết

í niệm về linh hồn người chết được thể hiện qua lễ nghi mai tỏng của người Homosapiens, một trong những yếu tố cơ bản nằm trong những phức hợp, những biểu tượng về tổ tiờn Đú là việc chụn theo người chết cỏc đồ tuỳ tỏng gồm cỏc dụng

cụ sinh hoạt và đồ trang sức Ở đõy, niềm tin vào sự tồn tại của linh hồn ở thế giới bờn kia đó giỳp ta lý giải được nguồn gốc của biểu tượng về linh hồn tổ tiờn, về sức mạnh và khả năng “phự hộ, độ trỡ” của tổ tiờn.

Trước đú, một yếu tố tư tưởng khỏc cú phần xưa hơn so với ý niệm về linh hồn,

cú ảnh hưởng tới sự phỏt triển những biểu tượng về tổ tiờn là hỡnh ảnh tổ tiờn tụ tem giỏo, hỡnh ảnh thần che chở cho gia đỡnh - thị tộc như vậy, cú thể núi quỏ trỡnh hỡnh thành của tớn ngưỡng thờ cỳng tổ tiờn lần lượt trải qua cỏc cung bậc từ thấp đến cao, từ ý niệm về tổ tiờn tụ tem giỏo, ý niệm về tổ tiờn là thần che chở cho cỏc gia đỡnh thị tộc, đến ý niệm về linh hồn của con người sau khi chết.

Như đó trỡnh bầy ở phần nguồn gốc xó hội, do sức sản xuất hết sức thấp kộm của con người thời nguyờn thuỷ, tớnh hạn chế của lực lượng sản xuất và cựng với nú

là trỡnh độ tư duy thấp kộm của con người, làm họ khiếp sợ trước cỏc hiện tượng của tự nhiờn như sấm, chớp, mõy, mưa, giú, bóo v.v… Con người bế tắc, bất lực trước những khú khăn, trước sự sợ hói của cuộc sống và cho rằng trong cỏc sự vật, hiện tượng tự nhiờn đú đều cú một sức mạnh thần bớ, siờu nhiờn Núi cỏch khỏc, trong các sự vật, hiện tượng đó cú sự ngự trị của cỏc thần linh, từ đú người nguyờn thuỷ tiến hành tụn thờ, sựng bỏi cỏc sự vật, hiện tượng trong tự nhiờn Với quan niệm như vậy, mỗi thị tộc đó chọn cho mỡnh một sự vật, hiện tượng tự nhiờn bất kỡ,

Trang 29

được coi là linh thiờng với thị tộc mỡnh để sựng bỏi Chớnh sự vật, hiện tượng đú được coi là tổ tiờn của mỗi thị tộc, hỡnh ảnh tổ tiờn tụ tem giỏo xuất hiện Hỡnh thức tớn ngưỡng này được coi là hạt nhõn ban đầu trong quỏ trỡnh thai nghộn cho

sự ra đời của hỡnh thức tớn ngưỡng thờ cỳng tổ tiờn là con người thực.

Khụng chỉ cú tớn ngưỡng tổ tiờn tụ tem giỏo, trong thị tộc mẫu hệ cũn phổ biến tớn ngưỡng về sự tụn thờ, sựng bỏi đối với cỏc vật thiờng và thần che chở cho gia đỡnh, thị tộc Theo Tụcarev: “Hai hỡnh thức thờ cỳng: sự thờ cỳng cỏc vật thiờng và thần che chở cho gia đỡnh và thị tộc, và sự thờ cỳng tổ tiờn của gia đỡnh và thị tộc Hai hỡnh thức đú phự hợp với hai giai đoạn phỏt triển và tổ chức thị tộc - thị tộc mẫu quyền và thị tộc phụ quyền” [60;295] Khi miờu tả về tàn dư sự thờ cỳng của cỏc thị tộc mẫu hệ của cỏc dõn tộc ở Xibờri, nhà dõn tộc học Tụcarev cho biết, tớn ngưỡng thờ cỏc vật thiờng và thần che chở rất phổ biến ở trong mỗi gia đỡnh của từng thị tộc khỏc nhau thỡ hỡnh ảnh vật thiờng và thần che chở cũng khỏc nhau: đối với người Tructra là một cỏi bật lửa đặc biệt (một cỏi dõy lửa làm bằng một phiến gỗ mỏng hỡnh người, rất thụ); vật thiờng trong gia đỡnh của người Nanai là cỏi bếp lũ;

ở người Evencơ cỏc vật thiờng đú thường là những vật hỡnh người hoặc một vật cổ hay hiếm cú nào đú v.v… Nhưng nhỡn chung: “ở cỏc dõn tộc đú, vật thiờng chủ yếu của gia đỡnh và thị tộc là lửa bếp, đụi khi cả một số vật cú liờn quan với lửa bếp; thụng thường là sự thờ cỳng cỏc ngẫu tượng cú ở trong từng nhà” [60;298].

Như vậy, cú thể khỏi quỏt là: thờ cỳng tổ tiờn là sản phẩm của sự kết hợp giữa

ba yếu tố cơ bản: ý niệm về linh hồn người chết, tổ tiờn tụ tem và thần che chở của gia đỡnh - thị tộc.

Trang 30

Đỏnh giỏ về nguồn gốc của nhận thức đối với việc nẩy sinh tớn ngưỡng thờ cỳng tổ tiờn, C.Mỏc cho rằng, những quan niệm “thiển cận và ngu dốt của thời kỡ mụng muội” phản ỏnh sự phỏt triển của tư duy, ý thức tuy đó đạt tới trỡnh độ trừu tượng, song về cơ bản cũn mang tớnh “ấu thơ” bởi vỡ, về thực chất, đú chỉ là sự phản ỏnh hư ảo những sức mạnh trần thế, biến thành sức mạnh siờu trần thế.

Cũn Ph.Ăngghen đó chỉ rừ nguồn gốc nhận thức của tụn giỏo núi chung, trong

đú cú cả tớn ngưỡng thờ cỳng tổ tiờn là:“Tụn giỏo sinh ra trong một thời đại hết sức nguyờn thuỷ, từ những khỏi niệm hết sức sai lầm, nguyờn thuỷ của con người về bản chất của chớnh họ và về giới tự nhiờn bờn ngoài, xung quanh họ”[42;445] tư tưởng tụn thờ tổ tiờn cũng được xõy dựng trờn trỡnh độ nhận thức ngõy thơ và hạn chế ấy Ngoài những nguyờn nhõn trờn, tõm lý, tỡnh cảm của con người cũng đúng một vai trũ quan trọng đối với sự hỡnh thành và tồn tại của tớn ngưỡng thờ cỳng tổ tiờn.

2.3 Nguồn gốc tõm lý.

Tõm lý, tỡnh cảm xột dưới gúc độ triết học là một bộ phận của ý thức xó hội, ở trỡnh độ thấp, phản ỏnh trực tiếp hiện thực phong phỳ, sinh động Tớn ngưỡng thờ cỳng tổ tiờn được hỡnh thành trờn cơ sở của tõm lớ, tỡnh cảm của con người và cộng đồng người trong xó hội Vỡ vậy, cú thể nhỡn nhận vai trũ của tõm lớ xó hội đối với sự ra đời của tớn ngưỡng thờ cỳng tổ tiờn ở một số khớa cạnh sau đõy:

Một là: Do con người quan niệm, trong mỗi con người được cấu thành nờn từ

hai yếu tố cơ bản là phần xỏc và phần hồn Hai yếu tố này gắn bú chặt chẽ với nhau, khụng tỏch rời nhau khi con người cũn sống Đến khi con người chết đi, hai phần đú mới tỏch rời nhau, phần xỏc thỡ bị phõn huỷ và trở thành cỏt bụi, cũn phần hồn thỡ tồn tại vĩnh viễn và có một năng lực đặc biệt Phần hồn bước vào một thế giới mới, tạo dựng cuộc sống mới ở một nơi mà dõn gian hay gọi là cừi õm Chớnh bởi vậy, khi con người chết đi, người ta khụng coi đú là sự chết, mà chỉ cho rằng đú là sự

Trang 31

chuyển đổi “trạng thỏi sống” từ thế giới hữu hỡnh sang thế giới vụ hỡnh Thực tế của tư duy này được phản ỏnh thụng qua cỏch người dõn thường dựng những từ như khuất nỳi, về nơi suối vàng, về với tổ tiờn v.v… để núi về cỏi chết.

Trờn cơ sở niềm tin đú, con người khi gặp phải những khú khăn trong cuộc sống, gặp phải những bất hạnh, rủi ro họ đó nghĩ đến việc cầu xin sự trợ giỳp, phự

hộ của tổ tiờn, ụng bà là những người thõn đó mất Như vậy, từ quan niệm về linh hồn tổ tiờn, về sức mạnh màu nhiệm ở tổ tiờn và nhu cầu tõm lý muốn tõm sự, gửi gắm, giải toả những bức xỳc trong đời sống tõm linh thụng qua việc thờ cỳng là một trong những cơ sở để tớn ngưỡng thờ cỳng tổ tiờn ra đời.

Hơn thế nữa, cuộc sống của con người luụn phỏt triển theo một quy luật tất yếu:

“sinh - trụ - dị - diệt”, cỏi chết luụn là nỗi ỏm ảnh kinh hoàng đối với mỗi con người, chết đồng nghĩa với hết, đú là sự xa lỡa vĩnh viễn thế giới và người thõn Sự sợ hói

đú cũng khụng thể giỳp con người trốn trỏnh được cỏi chết Nhưng bự đắp lại, bằng nghi thức thờ cỳng tổ tiờn con người đó gúp phần lớ giải về cỏi chết và cuộc sống sau khi chết Rừ ràng nỗi sợ hói cỏi chết được giảm bớt thụng qua việc thờ cỳng ụng

bà, cha mẹ mỡnh Qua thờ cỳng tổ tiờn vẫn thường xuyờn đi về với gia đỡnh, mỗi lần thờ cỳng là mỗi lần con cháu linh cảm thấy tổ tiờn trở về, ngự trờn ban thờ và hưởng những đồ hương hoa mà con chỏu kớnh dõng khi đú khoảng cỏch giữa người cừi dương và người cừi õm rất gần dự cho khụng thể sờ thấy, nhỡn thấy và vỡ vậy, khi nghĩ về cỏi chết đó cú phần trở nờn nhẹ nhàng hơn.

Hai là: Chế độ thị tộc mẫu hệ là miếng đất ớt phự hợp cho sự phỏt triển của thờ

cỳng tổ tiờn Trỏi lại, tớn ngưỡng này chỉ thực sự phổ biến trong xó hội thị tộc phụ quyền Tại sao vậy? trong chế độ phụ quyền thỡ quyền hành của người gia trưởng, tộc trưởng làm phỏt sinh ở con chỏu một cảm giỏc sợ hói, quy thuận Người nam giới lỳc này cú một vai trũ rất lớn, một địa vị quan trọng, từ trong sản xuất kinh tế đến trong cỏc hoạt động xó hội Vai trũ đó đó tụn vị trớ của người đàn ụng thành vị thủ lĩnh trong gia đỡnh cũng như trong thị tộc Vợ và con cỏi của họ tuyệt đối phục

Trang 32

tựng và tụn trọng cỏi uy quyền đó được xỏc lập ấy, khụng phải chỉ khi họ cũn sống

mà ngay cả khi họ đó qua đời, với quan niệm rằng người chết vẫn tiếp tục gõy ra sự

sợ hói, lũng quy thuận của con chỏu Từ đú hỡnh thành những hỡnh ảnh, biểu tượng

về tổ tiờn như cỏc vị thần linh cú thể giỏng hoạ xuống người sống Cho nên cần phải kớnh trọng, dõng cỳng những thức ăn ngon hoặc những thứ tổ tiờn cần, bởi có thờ cỳng thường xuyờn thỡ tổ tiờn mới khụng làm hại, mới che chở , bảo vệ và phự giỳp Về điểm này, Tocarev cú viết:“sự sợ hói trước cỏc dũng họ đó chết” [60;318] cũng là một trong những cơ sở của tục cỳng này

Tuy nhiờn, nếu quỏ nhấn mạnh nguyờn nhõn do sự sợ hói tổ tiờn khi còn sống cũng như khi đó mất mà phải thờ cỳng, từ đú tớn ngưỡng thờ cỳng tổ tiờn ra đời thỡ

đú chưa phải là nguyờn nhõn thoả đỏng, bởi nếu chỉ vỡ sợ hói mà thờ cỳng thỡ tớn ngưỡng thờ cỳng tổ tiờn chưa chắc đó cú thể tồn tại cho tới ngày nay Vậy điều gỡ

đó làm cho tớn ngưỡng này tồn tại một cỏch lõu bền như vậy? Cõu trả lời chỉ cú thể tỡm thấy được ở khớa cạnh thứ ba, đú là do tớn ngưỡng thờ cỳng tổ tiờn được bắt nguồn từ lũng hiếu thảo của con chỏu.

Mỗi một con người được sinh ra và khụn lớn đều khụng thể thiếu được “cụng cha” và “nghĩa mẹ”, đú là cụng sinh thành, giỏo dưỡng, cụng nuụi dạy con cỏi thành người Chớnh vỡ vậy, con cỏi phải cú bổn phận làm trũn chữ hiếu với ụng bà, cha

mẹ Đạo hiếu trước hết cần phải thực hiện ngay khi ụng bà, cha mẹ đang cũn sống, con chỏu cần phải biết võng lời, phải sống sao cho đỳng với thuần phong, mỹ tục của gia đỡnh, dũng họ, của quờ hương, làng bản để người trờn cảm thấy hài lũng sau đú, sự kớnh hiếu cha mẹ được tiếp nối bằng sự tụn thờ, sựng bỏi tổ tiờn Bổn phận kớnh trọng cha mẹ, bỏo hiếu đền ơn cụng sinh thành của cha mẹ cũng là bổn phận bỏo hiếu, đền ơn tổ tiờn Do đú, thờ cỳng tổ tiờn khụng chỉ là một tập tục, tớn ngưỡng mà cũn là “một nghĩa vụ” của con người, là đạo làm người

Trang 33

“ Một lũng thờ mẹ kớnh cha Cho trũn chữ hiếu mới là đạo con”.

Thờ cỳng tổ tiờn thể hiện lũng hiếu thảo, sự thành kớnh, biết ơn cỏc bậc đó sinh

ra mỡnh, nuụi nấng và tỏc thành cho mỡnh Học giả Insunyu khi nghiờn cứu về tớn ngưỡng này ở nước ta đó viết trong tỏc phẩm: “Luật và xó hội Việt Nam thế kỉ XVII

- XVIII” như sau: “Cỏc thành viờn trong gia đỡnh kớnh dõng cỏc đồ cỳng lễ là tuyệt đối cần thiết để cho linh hồn tổ tiờn cú được sự yờn nghỉ thanh thản ở thế giới bờn kia” [59;53].

Trong khi thực hành tớn ngưỡng này, người ta luụn chịu sự chi phối của quan niệm vừa mong được nhận “phỳc ấm của tổ tiờn”, “Sống vỡ mồ vỡ mả, ai sống vỡ

cả bỏt cơm”, vừa lo trỏch nhiệm để phỳc lộc cho con chỏu “phỳc đức tại mẫu” khi cỳng lễ tổ tiờn, một mặt con người hướng về quỏ khứ, định hướng cho hiện tại( giỏo dục truyền thống gia đỡnh) và mặt khỏc đó chuẩn bị hành trang đạo lớ cho thế hệ tương lai Đường dõy thế hệ mà cũng là đường dõy đạo lý sẽ luụn được nối tiếp, phỏt triển.

Trờn đõy là những nguồn gốc xó hội, nhận thức và tõm lý của tớn ngưỡng thờ cỳng tổ tiờn của nhiều dõn tộc trờn thế giới và Việt Nam, trong đú phải kể tới vai trũ quan trọng của quan niệm về sự tồn tại linh hồn con người sau khi chết Nếu khụng

cú lũng tin về sự tồn tại linh hồn của ụng bà, cha mẹ khi đó mất ở thế giới bờn kia thỡ khụng thể giải thớch được những nghi thức khi thực hiện thờ cỳng tổ tiờn Sự thờ cỳng này nhằm thiết lập, gỡn giữ mối quan hệ gần gũi về huyết thống giữa người đang sống và người đó chết, giữa con chỏu ở nơi dương thế với tổ tiờn ở cừi õm, giữa thế giới hiện hữu với thế giới vụ hỡnh, làm cho người chết mỏt lũng nơi chớn suối và người sống hạnh phỳc nơi trần gian.

3 Cỏc hỡnh thức tớn ngưỡng thờ cỳng tổ tiờn.

Trang 34

Theo quan niệm phổ biến hiện nay, thờ cỳng tổ tiờn khụng phải chỉ bú hẹp trong phạm vi gia đỡnh, dũng họ, hay núi rừ hơn là không chỉ thờ cỳng những người

cú cựng huyết thống, những người cú cụng nuụi dưỡng, sinh thành mà đó mở rộng

ra cả phạm vi làng xó và quốc gia Quan điểm của X.A.Tocarev lại khụng đồng thuận với quan điểm này, ông viết: “để quy định một ý nghĩa nhất định khỏi niệm thờ cỳng tổ tiờn, tụi muốn núi rằng đú là sự thờ cỳng ụng bà, cha mẹ và những người đồng tộc đó chết và trước hết là cỏc hỡnh thức gia đỡnh- thị tộc của sự thờ cỳng đú, tức là lũng tin rằng, tổ tiờn đó chết che chở cho con chỏu đang sống, và những lễ nghi cầu xin do cỏc thành viờn thị tộc hay gia đỡnh tiến hành để nhằm thờ phụng tổ tiên Ở đõy, tụi gạt ra một bờn cỏc hỡnh thức thờ cỳng tổ tiờn mà khụng gắn liền với gia đỡnh và thị tộc, đặc biệt là cỏc hỡnh thức chung toàn bộ lạc hoặc toàn dõn tộc,

sự thờ cỳng tổ tiờn cỏc thủ lĩnh và vua chỳa…”[60;312] theo quan điểm của Tocarev, thờ cỳng tổ tiờn điều cốt lừi phải là những người cú cựng huyết thống, cho nên ụng thừa nhận cả những hỡnh thức thờ cỳng tổ tiờn ở phạm vi thị tộc.

Nhưng với quan niệm phổ biến hiện nay coi hạt nhõn của tớn ngưỡng thờ cỳng

tổ tiờn là đạo hiếu, lũng biết ơn thỡ thờ cỳng tổ tiờn khụng phải chỉ thờ cỳng những người cựng huyết thống Cỏc hỡnh thức thờ cỳng những vị thuỷ tổ của dõn tộc, những người cú cụng khai dõn, lập ấp, cỏc anh hựng cú cụng trong việc bảo vệ tổ quốc, chống giặc ngoại xõm…cũng đều được xếp vào tớn ngưỡng thờ cỳng tổ tiờn với quan niệm này, tớn ngưỡng thờ cỳng tổ tiờn được diễn ra ở ba cấp độ là gia đỡnh, làng xó và đất nước.

3.1 Thờ cỳng tổ tiờn trong gia đỡnh, họ tộc.

Như đó khẳng định ở trờn, tớn ngưỡng thờ cỳng tổ tiờn là một trong những loại hỡnh tớn ngưỡng xuất hiện tương đối sớm trong lịch sử nhõn loại Nhưng khụng phải ngay từ khi mới xuất hiện, tớn ngưỡng này đó được thể hiện ngay ở ba cấp độ gia đỡnh - họ tộc, làng xó, quốc gia mà trải qua một quỏ trỡnh lịch sử khỏ dài, cỏc tổ chức xó hội là thị tộc, bộ lạc mới dần tan ró để thay thế bằng những tổ chức xó hội

Trang 35

cao hơn , cú kết cấu bền chặt hơn, đú là làng xó và nhà nước xuất hiện Và do vậy, tớn ngưỡng thờ cỳng tổ tiờn từ quy mụ hẹp, theo nghĩa hẹp, trong phạm vi gia đỡnh, thị tộc được mở ra trờn một quy mụ rộng, theo nghĩa rộng - đú là thờ cỳng tổ tiờn ở làng xó, quốc gia Cho nờn cú thể núi, hỡnh thức tớn ngưỡng thờ cỳng tổ tiờn trong gia đỡnh, họ tộc được xuất hiện sớm nhất và tồn tại phổ biến nhất Thờ cỳng tổ tiờn trong gia đỡnh, họ tộc cũng cú thể chia làm hai cấp độ, đú là gia đỡnh và họ tộc

a Thờ cỳng tổ tiờn ở gia đỡnh.

Thờ cỳng tổ tiờn trong gia đỡnh được xõy dựng trờn hai cơ sở tõm lý, tỡnh cảm

cơ bản là sự sợ hói và lũng hiếu thảo Hai yếu tố tõm lý này ở mỗi giai đoạn phỏt triển của tớn ngưỡng thờ cỳng tổ tiờn nú cú vị trớ khỏc nhau.

Ở buổi bỡnh minh của tớn ngưỡng thờ cỳng tổ tiờn, dưới chế độ thị tộc phụ quyền, do đặc điểm kinh tế xó hội quy định, người đàn ụng cú một vị trớ quyền lực quan trọng trong gia đỡnh cũng như ngoài xó hội Quyền lực đú của người gia trưởng khụng chỉ cú được khi người đú cũn sống, mà nú cũn tiếp tục tồn tại sau khi người đú đó qua đời Thực tế đú đó được C.Mỏc chỉ rừ khi nghiờn cứu về quyền thừa kế của người gia trưởng ở Rôma cổ đại: “Cú một điều mờ tớn là khi người chủ gia đỡnh qua đời, linh hồn ụng ta vẫn cũn ở lại trong nhà như một người cai quản sao cho mọi việc được thực hiện đỳng đắn và trừng phạt những người sống nếu tiến hành cụng việc sai lầm”[40;767] Chớnh bởi sự sợ hói quyền uy của người gia trưởng cú thể làm hại con chỏu, nếu như con chỏu làm những điều sai trỏi hoặc khụng cỳng tế những vật dụng cần thiết để bảo đảm cuộc sống cho tổ tiờn ở thế giới bờn kia, là một trong những cơ sở cho sự ra đời của tớn ngưỡng này.

Về sau, yếu tố sợ hói trong tớn ngưỡng thờ cỳng tổ tiờn khụng cũn đỏng kể, thay thế vào đú là một yếu tố tỡnh cảm mang tớnh nhõn văn cao đẹp - đú là lũng hiếu thảo.

Trang 36

Mỗi con người ai cũng cú cha, cú mẹ, cụng lao của cha mẹ đối với con cỏi như

bể rộng, như nỳi cao, đú là cụng sinh thành, giỏo dưỡng, cụng nuụi dạy con cỏi thành người, “cha mẹ nuụi con bằng trời bằng bể” Khi con cỏi trưởng thành, khụn lớn, cha mẹ lại phải lo những cụng việc trọng đại cho mỗi đời người như: “tậu trõu”,

“ cưới vợ”, “ làm nhà”… tất cả những gỡ cha mẹ dành cho con cỏi, con cỏi chỉ cú thể đỏp đền được bằng chữ hiếu Con người luụn ý thức được:

“ Con người cú tổ, cú tụng Như cõy cú cội như sụng cú nguồn.”

Việc hiếu thảo với cha mẹ khụng phải chỉ cú khi sống, mà cả khi cha mẹ đó qua đời Đú là việc thường xuyờn hương khúi, thờ phụng để cha mẹ được yờn nghỉ nơi suối vàng Khụng chỉ thế, điều quan trọng là những người cũn sống, phải sống sao cho linh hồn cha mẹ, tổ tiờn khụng cảm thấy hổ thẹn Nhỡn rộng ra, quan hệ giữa cha mẹ và con cỏi đang sống là hiện thõn của mối quan hệ giữa tổ tiờn với con chỏu sau này Quỏ trỡnh tăng trưởng từ ụng bà, đến cha mẹ, đến bản thân, rồi tiếp đến con cỏi và chỏu chắt là mối quan hệ giữa quỏ khứ, hiện tại và tương lại Sự kớnh hiếu cha mẹ được nối tiếp bằng sự tụn thờ, sựng bỏi tổ tiờn Bổn phận kinh trọng cha mẹ, bỏo hiếu đền ơn cụng sinh thành, nuụi dưỡng của cha mẹ cũng là bổn phận bỏo hiếu, đền ơn tổ tiờn

Từ những cơ sở tõm lớ tỡnh cảm đú, thờ cỳng tổ tiờn ở mỗi gia đỡnh đó trở nờn phổ biến ở nhiều quốc gia, dõn tộc trờn thế giới Tuy nhiờn, tớn ngưỡng thờ cỳng tổ tiờn là một bộ phận của ý thức xó hội, chịu sự quy định của sự tồn tại xó hội, cho nờn tuỳ theo đặc điểm, điều kiện tự nhiờn, kinh tế, xó hội, văn hoỏ của từng dõn tộc, quốc gia cụ thể mà tớn ngưỡng này cú những vị trớ, vai trũ và cỏch thức biểu hiện khỏc nhau.

b, Thờ cỳng tổ tiờn trong dũng họ.

Thờ cỳng tổ tiờn theo dũng họ là hỡnh thức phổ biến chủ yếu ở Trung Quốc và Việt Nam, song cú lẽ ở Trung Quốc vẫn là nơi mẫu mực, điển hỡnh cho hỡnh thức

Trang 37

thờ cỳng này Nếu như ở Việt Nam, nhà thờ tổ khụng phải dũng họ nào cũng cú, thỡ

ở Trung Quốc tỡnh hỡnh cú khỏc: “dũng họ nào cũng cú từ đường”[59;43] làm nơi thờ cỳng thuỷ tổ của dũng họ.

thuỷ tổ là người sỏng lập ra dũng họ, từ đú hệ thống cỏc đời cựng dũng mỏu nối tiếp nhau phỏt triển theo thời gian Họ là sự tập hợp tự nhiờn những người cựng dũng mỏu, tụ hội theo từng đời và nhiều đời do cựng một ụng tổ sinh ra Dũng họ ở đõy được tớnh theo trục dọc cú thể theo họ mẹ hoặc họ cha, nhưng hầu hết được lấy theo họ cha.

Để tưởng nhớ về nguồn gốc của họ tộc mỡnh, mỗi dũng họ đều xõy nhà thờ thuỷ tổ của dũng họ (cũn gọi là từ đường) Ở những làng xúm giữ bền truyền thống cựng tập tục cổ và ớt giao lưu với bờn ngoài, trước đõy thường là mỗi làng cú bao nhiờu dũng họ thỡ cú bấy nhiờu nhà thờ họ, trong đú thờ thuỷ tổ và cỏc vị tổ phõn chi Thậm chớ ở những làng sung tỳc và cú những họ to, nhiều đinh, nhiều chi thỡ mỗi chi lại xõy một nhà thờ riờng gọi là nhà thờ chi.

Nhà thờ tổ to hay nhỏ là tuỳ thuộc vào họ lớn hay bộ (do số chi hoặc phõn chi

và số đinh nhiều hay ớt)

Về kiểu dỏng, nhà thờ tổ thường mụ phỏng ngụi đền thờ thành hoàng hoặc cú thế xõy dựng giống ngụi nhà ở gồm ba gian.

Vào dịp giỗ tổ hàng năm hoặc khi cú việc họ thỡ cả họ tới nhà trưởng họ dự lễ

và hưởng lộc Nhà thờ tổ giao cho gia đỡnh trưởng họ trụng nom, hương khúi.

Ngoài nhà thờ họ, cũn cú nhà thờ tụng tộc hay cũn gọi là nhà thờ phõn chi, được xõy dựng như nhà thờ họ, song quy mụ nhỏ hơn Về phần kiến trỳc cú thể trỏng lệ hoặc giản dị hơn Điều này phụ thuộc vào sự hưng vong của dũng họ, của phõn chi Tuy nhiờn, theo quan niệm phổ biến thỡ nhà thờ tụng tộc trờn nhiều phương diện, đương nhiờn phải kộm nhà thờ họ Ngoài ra cú dũng họ khụng xõy nhà

Trang 38

thờ tụng tộc mà lập ban thờ tụng tộc ngay trong nhà thờ họ, trường hợp này bàn thờ tụng tộc sẽ bố trớ ở hai gian bờn trong nhà thờ họ.

cú thể thấy rằng, trong phạm vi thờ cỳng tổ tiờn đối với những người cú cựng huyết thống thỡ thờ cỳng tổ họ cú phạm vi rộng lớn nhất Bởi đú là ụng tổ của cả một dũng họ, là cỏi “gốc”, là “cội nguồn” của cả một dũng họ Cho nờn tất cả những người trong họ đú, ngoài việc thờ cỳng tổ tiờn trong gia đỡnh mỡnh, thờ cỳng tổ chi, thỡ cũn cú nghĩa vụ thờ cỳng tổ họ.

Từ một dũng họ, theo thời gian phỏt triển thành cỏc chi, ngành, nhỏnh thỡ sự thờ cỳng cũng được phõn tỏch vừa theo bậc thế hệ, vừa theo thứ tự cả - thứ Về cấu trỳc dũng họ, cú thể được biểu hiện như sơ đồ sau:

Núi túm lại, tớn ngưỡng thờ cỳng tổ tiờn trong gia đỡnh, họ tộc phản ỏnh mối quan hệ đồng huyết Con người luụn ý thức được về cội nguồn của mỡnh: cha mẹ là những người trực tiếp cú cụng sinh thành, nuụi dạy; ông bà, tổ tiờn là cội nguồn của

HỌ

Trưởng chi thứ Trưởng chi cả kiêm

Trưởng ngành kiêm trưởng chi thứ

Trưởng nhánh, kiêm

trưởng ngành, kiêm

trưởng chi thứ

Trưởng nhánh, kiêm trưởng ngành, kiêm trưỏng chi, kiêm trưỏng họ

Trưởng nhánh, kiêm trưởng ngành, kiêm trưởng chi thứ

Trang 39

dũng họ, cú tổ tiờn, ụng bà mới cú cha mẹ, từ đú mới cú bản thõn mỡnh Từ nhận thức đú, tớn ngưỡng thờ cỳng tổ tiờn trong gia đỡnh, họ tộc là biểu hiện của lũng hiếu thảo, cung kớnh đối với hương hồn tổ tiờn Vào mỗi dịp tết đến, xuõn về, vào ngày giỗ, ngày súc, ngày vọng hoặc mỗi khi trong gia đỡnh cú cụng to, việc lớn…, người chủ gia đỡnh khụng quờn thắp nộn hương thơm kớnh bỏo với tổ tiờn, để tổ tiờn được biết về những diễn biến, thay đổi của cuộc sống con người nơi trần thế, để

tổ tiờn phự hộ, độ trỡ, giỳp đỡ con chỏu cú một cuộc sống tốt đẹp, thuận hoà.

3.2 Thờ thành hoàng.

Thờ thành hoàng là hỡnh thức tớn ngưỡng xuất hiện muộn hơn so với tớn ngưỡng thờ cỳng tổ tiờn trong gia đỡnh, họ tộc và nú cũn muộn hơn khi coi đõy là một loại hỡnh tớn ngưỡng thờ cỳng tổ tiờn Bởi theo quan niệm ban đầu, thờ cỳng tổ tiờn chỉ tồn tại dưới dạng thờ cỳng những người đó mất trong gia đỡnh hoặc thị tộc,

cú cựng huyết thống Cũn cỏc hỡnh thức thờ cỳng ở phạm vi bộ lạc, làng xó, quốc gia khụng phải là thờ cỳng tổ tiờn Đõy là quan điểm của một số học giả, trong đú phải kể đến đại diện là Tocarev Nhưng cỏc quan niệm phổ biến ngày nay vẫn thừa nhận, thờ cỳng tổ tiờn khụng phải chỉ là thờ cỳng tổ tiờn cựng huyết thống, nú cũn được biểu hiện ở hỡnh thức thờ thành hoàng và cao hơn là thờ vị tổ chung của cả nước.

thờ thành hoàng là hiện tượng tớn ngưỡng phổ biến ở cỏc quốc gia phương Đụng, nguyờn nhõn của thực tế này là do sự quy định bởi đặc điểm điều kiện tự nhiờn, kinh tế, xó hội ở phương Đụng.

Sự phỏt triển của lực lượng sản xuất và kĩ thuật canh tỏc đó dần đến quỏ trỡnh cỏc thị tộc, bộ lạc dần dần tan ró, và thay vào đú bằng một kết cấu xó hội bền chặt hơn, ổn định hơn, đú là cỏc cụng xó nụng thụn Cụng xó nụng thụn là hỡnh thức tổ chức xó hội phổ biến ở cỏc quốc gia phương Đụng cổ đại Đõy là một tổ chức xó hội khộp kớn, tồn tại và phỏt triển trờn cơ sở tự cung, tự cấp là chủ yếu Nền kinh tế chủ

Trang 40

đạo trong cụng xó là sản xuất nụng nghiệp Với đặc trưng kinh tế - xó hội đú, cỏc thành viờn trong cụng xó luụn luụn phải cú ý thức đoàn kết, liờn minh với nhau trong việc đấu tranh với thiờn tai, địch họa để bảo vệ mựa màng, bảo vệ xúm làng dưới sự lónh đạo của cỏc thủ lĩnh do cụng xó bầu lờn Vỡ vậy, trong tõm lý của cư dõn phương Đụng luụn cú tõm niệm tụn sựng, đề cao những người cú cụng với làng

xó, quốc gia, những người cú cụng khai dõn, lập ấp, chống giặc ngoại xõm v.v đó bảo vệ và đem lại cuộc sống bỡnh an, hạnh phỳc cho dõn làng Đặc điểm này được minh chứng rất rừ trong tõm thức của người Việt: “Do phải đấu tranh liờn tục với thiờn tai, địch họa, trong ý thức người Việt sớm hỡnh thành tư tưởng nhớ về cội nguồn và lũng biết ơn những người cú cụng sinh thành, những tiền hiền, hậu hiền cú cụng tạo dựng cuộc sống, giữ làng, giữ nước” [54;65].

Từ ý niệm tỡnh cảm đú đó nảy sinh hỡnh thức tớn ngưỡng thờ cỳng những người cú cụng với làng xó, quốc gia, hoặc thậm chớ đú là những vị thần cú cụng phự trợ giỳp làng, giỳp nước Tớn ngưỡng đú vừa thể hiện đạo lý “uống nước nhớ nguồn” của con chỏu đối với cỏc bậc tiền nhân, vừa là sợi dõy vụ hỡnh cố kết sức mạnh trong cộng đồng, làng xó, đồng thời cũng là sự định hướng cho sự phỏt triển của thế hệ trẻ trong tương lai.

Hỡnh thức thờ cỳng những người cú cụng với làng xó - thờ thành hoàng - là hỡnh thức khỏ phổ biến ở cỏc quốc gia phương Đụng Song, Trung Quốc vẫn được coi là quốc gia phổ biến nhất, điển hỡnh nhất cho hỡnh thức tớn ngưỡng này Ngay khỏi niệm “thành hoàng” cũng được xuất phỏt từ gốc Hỏn: “thành” là cỏi thành trỡ, cũn “hoàng” là cỏi hào đào sõu bao quanh bờn ngoài thành, thành hoàng nghĩa là vị thần coi giữ, bảo trợ cho cỏi thành trỡ của Trung Quốc Sỏch “lễ nghĩa thụng khảo” của Trung Quốc núi: “thành hoàng là thần bảo vệ thành Vỡ vậy đó là thành, dự to hay nhỏ người Trung Quốc đều thờ thành hoàng” [59;92]

Ở Việt Nam, theo một số nhà nghiờn cứu văn hoỏ như Phan Kế Bớnh, Đào Duy Anh… thỡ tớn ngưỡng thành hoàng ở nước ta bắt đầu cú từ cuối thời bắc thuộc.

Ngày đăng: 10/12/2016, 14:32

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ngọc Anh (2002), các hình thức thờ phụng của bộ lạc, Nhà xuất bản Văn hoá dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: các hình thức thờ phụng của bộ lạc
Tác giả: Ngọc Anh
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn hoá dân tộc
Năm: 2002
3. Toan ánh (2001), phong tục thờ cúng tổ tiên trong gia đình Việt Nam, Nhà xuất bản Văn hoá dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: phong tục thờ cúng tổ tiên trong gia đình Việt Nam
Tác giả: Toan ánh
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn hoá dân tộc
Năm: 2001
5. Phan Kế Bính (1995), Việt Nam phong tục, Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam phong tục
Tác giả: Phan Kế Bính
Nhà XB: Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1995
6. Leopold Michel Cadiere (1997), về văn hoá tín ngưỡng truyền thống người Việt, Nhà xuất bản Văn hoá thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: về văn hoá tín ngưỡng truyền thống người Việt
Tác giả: Leopold Michel Cadiere
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn hoá thông tin
Năm: 1997
7. Trần Mạnh Cát (1997), vài nét về lễ hội ở Nhật Bản, Tạp chí nghiên cứu Nhật Bản, số 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: vài nét về lễ hội ở Nhật Bản
Tác giả: Trần Mạnh Cát
Nhà XB: Tạp chí nghiên cứu Nhật Bản
Năm: 1997
8. Nguyễn Văn Căn (2004), lễ tết cổ truyền ở Trung Quốc, Nhà xuất bản khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: lễ tết cổ truyền ở Trung Quốc
Tác giả: Nguyễn Văn Căn
Nhà XB: Nhà xuất bản khoa học xã hội
Năm: 2004
9. Ngô Vĩnh Chính, Vương Miện Quý (1994), Đại cương lịch sử văn hoá Trung Quốc, Nhà xuất bản Văn hoá thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương lịch sử văn hoá Trung Quốc
Tác giả: Ngô Vĩnh Chính
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn hoá thông tin
Năm: 1994
11. Lý Xuân Chung (2002), Bước đầu tìm hiểu văn hoá truyền thống Hàn Quốc, Viện nghiên cứu Nhật Bản và Đông Bắc á Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bước đầu tìm hiểu văn hoá truyền thống Hàn Quốc
Tác giả: Lý Xuân Chung
Nhà XB: Viện nghiên cứu Nhật Bản và Đông Bắc á
Năm: 2002
12. Lê Dân (1994), “Thờ cúng tổ tiên, một số nét đậm trong tâm linh người Việt”, Văn hoá gia đình Việt Nam trong phát triển xã hội, Nhà xuất bản Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thờ cúng tổ tiên, một số nét đậm trong tâm linh người Việt
Tác giả: Lê Dân
Nhà XB: Nhà xuất bản Lao động
Năm: 1994
13. Phan Đại Doãn (2000), “Văn hóa làng Việt Nam”, phác thảo chân dung văn hoá Việt Nam, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa làng Việt Nam”, "phác thảo chân dung văn hoá Việt Nam
Tác giả: Phan Đại Doãn
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
Năm: 2000
14. Will Durant (1997), Lịch sử văn minh Trung Hoa, Nhà xuất bản Văn hoá thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử văn minh Trung Hoa
Tác giả: Will Durant
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn hoá thông tin
Năm: 1997
15. Nguyễn Đăng Duy (2001), Văn hoá tâm linh, Nhà xuất bản Văn hoá thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá tâm linh
Tác giả: Nguyễn Đăng Duy
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn hoá thông tin
Năm: 2001
18. Lâm Ngữ Đường (2001), Trung Hoa đất nước con người, Nhà xuất bản Văn hoá Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trung Hoa đất nước con người
Tác giả: Lâm Ngữ Đường
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn hoá Thông tin
Năm: 2001
19. Vũ Minh Giang (2003), Một hướng tiếp cận văn hoá Nhật Bản truyền thống, Tạp chí nghiên cứu Nhật Bản và Đông Bắc á, Số 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một hướng tiếp cận văn hoá Nhật Bản truyền thống
Tác giả: Vũ Minh Giang
Nhà XB: Tạp chí nghiên cứu Nhật Bản và Đông Bắc á
Năm: 2003
22. Mai Thanh Hải (2005), Thờ cúng tổ tiên (và lễ tang, ma chay, giỗ chạp) nên hiểu như thế nào, Nhà xuất bản Văn hoá Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thờ cúng tổ tiên (và lễ tang, ma chay, giỗ chạp) nên hiểu như thế nào
Tác giả: Mai Thanh Hải
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn hoá Thông tin
Năm: 2005
24. Nguyễn Duy Hinh (1996), Tín ngưỡng thành hoàng làng Việt Nam, Nhà xuất bản khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tín ngưỡng thành hoàng làng Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Duy Hinh
Nhà XB: Nhà xuất bản khoa học xã hội
Năm: 1996
25. Hồ Hoàng Hoa (2000), Nhật Bản trong lịch sử với một số ảnh hưởng văn hoá Trung Hoa, Tạp chí nghiên cứu Nhật Bản, Số 6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhật Bản trong lịch sử với một số ảnh hưởng văn hoá Trung Hoa
Tác giả: Hồ Hoàng Hoa
Nhà XB: Tạp chí nghiên cứu Nhật Bản
Năm: 2000
26. Hồ Hoàng Hoa (chủ biên) (2001), Văn hoá Nhật - những chặng đường phát triển, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá Nhật - những chặng đường phát triển
Tác giả: Hồ Hoàng Hoa
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học xã hội
Năm: 2001
28. Dương kiến Huy, Dịch Học Kim (2004), Tinh hoa tri thức văn hoá Trung Quốc, Nhà xuất bản thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tinh hoa tri thức văn hoá Trung Quốc
Tác giả: Dương kiến Huy, Dịch Học Kim
Nhà XB: Nhà xuất bản thế giới
Năm: 2004
2. Toan ánh (2005), Nếp cũ - tín ngưỡng Việt Nam, quyển thượng, Nhà xuất bản trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w