1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Một số biện pháp rèn kỹ năng viết chính tả cho học sinh viết yếu lớp 5

20 679 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 2,85 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phân môn Chính tả là một phân môn có tầm quan trọng trong việc dạy học Tiếng Việt cho học sinh Tiểu học. Nó cũng có ý nghĩa quan trọng đối với việc học môn Tiếng Việt và các môn học khác. Chính tả là hệ thống chữ viết được xem là chuẩn mực của một ngôn ngữ. Vì vậy, muốn viết đúng chính tả, ta phải tuân theo những quy tắc đã quy định. Trong thực tế, học sinh mắc lỗi chính tả rất nhiều. Khi chấm bài Tập làm văn, tôi không thể hiểu các em muốn diễn đạt điều gì vì bài viết mắc quá nhiều lỗi chính tả. Điều này ảnh hưởng tới kết quả học tập của các em ở môn Tiếng Việt cũng như các môn học khác, hạn chế khả năng giao tiếp, làm các em mất tự tin, trở nên rụt rè, nhút nhát. Chính tả nói riêng là rèn cho học sinh một số kĩ năng viết. Phân môn Chính tả được dạy xuyên suốt trong chương trình Tiếng Việt ở Tiểu học từ lớp 1đến lớp 5 với các dạng bài chính tả như: tập chép, nghe đọc, nhớ viết… Năm học 20142015, tôi được phân công dạy lớp 5A. Sau khi nhận lớp, tôi phát hiện ra rất nhiều em yếu về phần viết chính tả. Trước tình trạng đó, tôi vô cùng lo lắng và đặt ra câu hỏi: Làm cách nào để giảm bớt lỗi chính tả cho các em ? Từ đó mà tôi đã chọn đề tài “Một số biện pháp rèn kỹ năng viết chính tả cho học sinh viết yếu lớp 5” nhằm hạn chế lỗi chính tả cho học sinh trong quá trình viết và học tập.

Trang 1

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Lí do chọn đề tài.

Như chúng ta đã biết, viết là một dạng hoạt động ngôn ngữ, là quá trình chuyển lời nói có âm thanh sang hình thức chữ viết Khi đọc một văn bản viết, điều đầu tiên gây cho người đọc khó chịu nhất là nét chữ xấu và viết sai chính

tả Vấn đề này không phải chỉ xảy ra ở học sinh mà đôi lúc vẫn còn xảy ra ở người lớn Nói thế có nghĩa là vấn đề viết sai chính tả có thể xảy ra mọi lúc, mọi nơi và ở mọi đối tượng Tôi đã từng đi một số nơi, phát hiện một số hình ảnh cụ thể về lỗi chính tả của một số pa-nô, áp phích, biển báo giao thông: “Xe mô tô,

xe máy, xe thô xơ chỉ được phép hoạt động trên tầng 1 cầu Thăng Long”; “Đoạn đường thường sẩy ra tai nạn giao thông, chú ý quan sát, đề phòng”; “Cấm láy xe

lạng lách, đánh võng, đuổi nhau trên đường giao thông”; “Đội mũ bảo hiểm có

cài quay là bảo vệ chính mình”; “Đảng cộng sản Việt Nam người lảnh đạo ”

Hình 1: Hình ảnh biển báo giao thông sai lỗi chính tả.

Hình2: Hình ảnh biển báo giao thông sai lỗi chính tả.

Trang 2

Hình3: Hình ảnh pa-nô, áp phích sai lỗi chính tả.

Hình4: Hình ảnh pa-nô, áp phích sai lỗi chính tả.

Hình5: Hình ảnh pa-nô, áp phích sai lỗi chính tả.

Trang 3

Vậy nguyên nhân từ đâu mà có những sai sót này? Tôi thiết nghĩ, nguyên nhân sâu xa là do những người làm ra các biển báo, pa -nô, áp phích này không nắm được quy tắc viết chính tả từ Tiểu học

Phân môn Chính tả là một phân môn có tầm quan trọng trong việc dạy học Tiếng Việt cho học sinh Tiểu học Nó cũng có ý nghĩa quan trọng đối với việc học môn Tiếng Việt và các môn học khác Chính tả là hệ thống chữ viết được xem là chuẩn mực của một ngôn ngữ Vì vậy, muốn viết đúng chính tả, ta phải tuân theo những quy tắc đã quy định Trong thực tế, học sinh mắc lỗi chính

tả rất nhiều Khi chấm bài Tập làm văn, tôi không thể hiểu các em muốn diễn đạt điều gì vì bài viết mắc quá nhiều lỗi chính tả Điều này ảnh hưởng tới kết quả học tập của các em ở môn Tiếng Việt cũng như các môn học khác, hạn chế khả năng giao tiếp, làm các em mất tự tin, trở nên rụt rè, nhút nhát Chính tả nói riêng là rèn cho học sinh một số kĩ năng viết Phân môn Chính tả được dạy xuyên suốt trong chương trình Tiếng Việt ở Tiểu học từ lớp 1đến lớp 5 với các dạng bài chính tả như: tập chép, nghe đọc, nhớ viết…

Năm học 2014-2015, tôi được phân công dạy lớp 5A Sau khi nhận lớp, tôi phát hiện ra rất nhiều em yếu về phần viết chính tả Trước tình trạng đó, tôi

vô cùng lo lắng và đặt ra câu hỏi: Làm cách nào để giảm bớt lỗi chính tả cho các

em ? Từ đó mà tôi đã chọn đề tài “Một số biện pháp rèn kỹ năng viết chính tả cho học sinh viết yếu lớp 5” nhằm hạn chế lỗi chính tả cho học sinh trong quá

trình viết và học tập

II GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

1 Cơ sở lí luận.

Chính tả là phân môn nhằm rèn cho học sinh kĩ năng viết, nghe, đọc và làm các bài tập chính tả, rèn luyện các kĩ năng sử dụng ngôn ngữ Kĩ năng chính

tả thực sự cần thiết không chỉ đối với học sinh Tiểu học mà còn với tất cả mọi người Khi đọc một văn bản viết đúng chính tả, người đọc có cơ sở để hiểu đúng nội dung văn bản đó Trái lại, một văn bản mắc nhiều sai sót về chính tả, người đọc khó nắm bắt nội dung và có thể hiểu sai hoặc không hiểu đầy đủ văn bản Viết chính tả đúng còn giúp học sinh học tốt các phân môn khác, là cơ sở cho việc học bộ môn Tiếng Việt ở Tiểu học Chính tả còn bồi dưỡng cho học sinh một số đức tính và thái độ cần thiết như: cẩn thận, chính xác, óc thẩm mĩ, lòng

tự trọng và tinh thần trách nhiệm

2 Thực trạng về công tác viết chính tả của học sinh lớp 5A trường Tiểu học Nga Thạch.

2.1 Một số lỗi chính tả mà học sinh lớp do tôi chủ nhiệm thường mắc phải:

Việc viết sai chính tả xuất hiện ngày càng nhiều, không chỉ là học sinh Tiểu học, học sinh Trung học, sinh viên, đôi khi có cả một số giáo viên và những người thành đạt Qua tìm hiểu, tôi thấy học sinh của trường Tiểu học Nga Thạch nói chung, học sinh viết yếu lớp 5A do tôi chủ nhiệm nói riêng thường mắc một số lỗi khi viết chính tả đó là:

Trang 4

* Về dấu thanh:

Tiếng việt có 6 thanh (ngang, huyền, sắc, hỏi, ngã, nặng) thì nhiều học

sinh viết yếu chưa phân biệt được 2 thanh hỏi, ngã Tuy chỉ có 2 thanh nhưng số

lượng tiếng mang 2 thanh này không ít và rất phổ biến

Ví dụ: sữa xe đạp, hướng dẩn, dổ dành, lẩn lộn,

* Về âm đầu:

Học sinh viết lẫn lộn một số chữ cái ghi âm dầu như: l/n (đi nàm, no

nắng ), g/gh (gê sợ, gi nhớ ), c/k (céo co ), ch/tr (cây che, chiến chanh ), ng/ ngh (ngỉ ngơi, nge nhạc ), s/x (xa mạc, sung phong )

Trong các lỗi này, lỗi về s/x, ch/tr đối với lớp tôi là phổ biến hơn cả

* Về âm cuối:

Học sinh thường viết lẫn lộn chữ ghi âm cuối trong các vần như: an/ang (cây bàn, bàng bạc ), ât/âc (chấc phát, nổi bậc ), ên/ênh (nhẹ tên, bên vực ), at/ac (mặn chác, khác nước ), ăt/ăc (khuôn mặc, giặc quần áo ),

* Về viết hoa danh từ riêng, tên riêng nước ngoài:

Hầu hết các em viết sai đều mắc lỗi không viết hoa danh từ riêng hoặc có viết hoa danh từ riêng nhưng chưa viết đầy đủ các tiếng tạo thành tên riêng đó (Ví dụ : phố hàng Buồm ) Do các em chưa nắm được quy tắc viết hoa tên người, tên địa lí Việt Nam Lỗi sai viết hoa tên người, tên địa lí nước ngoài do hầu hết các em đều nhầm lẫn khi dùng dấu gạch nối “-” giữa hai bộ phận tạo thành tên riêng đó (Ví dụ: Lu - i - Pa - xtơ; thành phố Lốt - Ăng - giơ - lét ) hay không dùng dấu gạch nối giữa các tiếng trong từng bộ phận của tên riêng đó (Ví dụ: Pa ri, thầy Vi rô khi ô, )

Học sinh viết yếu thường hay mắc lỗi này khi viết tên riêng chỉ tên người, tên địa lý, tên riêng nước ngoài, nếu không được giáo viên nhắc nhở khi đang viết chính tả thì khó có thể viết đúng được

2.2 Kết quả của thực trạng trên:

Theo con số thống kê đầu năm, lớp 5A do tôi phụ trách tổng số gồm 30 học sinh, chất lượng khảo sát về chữ viết của các em như sau:

Tổng

số

học

sinh

HS viết

đúng,

đẹp

HS viết sai 1 đến

2 lỗi

HS viết sai 3 lỗi

HS viết sai 4 lỗi

HS viết sai 5 lỗi

HS viết sai từ 6 lỗi đến trên 10 lỗi

30 9SL 30% 3SL 10% 5SL 16.7 4% SL 13.3 5% SL 16.7 4% SL 13.3%

2.3 Nguyên nhân của thực trạng trên

- Học sinh đọc còn yếu, phát âm chưa chính xác do phương ngữ địa phương và các em phát âm như thế nào thì viết như vậy

- Do học sinh chưa hiểu được nghĩa của một số từ vựng

- Học sinh chưa nắm được những quy tắc viết chính tả cơ bản

Trang 5

- Do khi viết các em còn lơ là, không tập trung vào bài viết, lâu ngày thành thói quen cẩu thả "viết quen tay"

- Một bộ phận không nhỏ học sinh còn ham chơi, chưa chăm chỉ, không chịu suy nghĩ, tư duy trong việc nói và viết một cách chuẩn mực Tiếng Việt

- Một số giáo viên chưa quan tâm đúng mức đến việc sửa lỗi cho học sinh viết yếu mà chỉ chú trọng đến chất lượng mũi nhọn

- Giáo viên vì bài vở nhiều, thời gian lại hạn hẹp, áp lực công việc khá lớn nên việc sửa lỗi chính tả chưa toàn tâm, toàn ý, chưa có hiệu quả

- Nhà trường chưa có hình thức khen thưởng cho các giáo viên có thành tích bồi dưỡng các học sinh viết yếu kịp thời để động viên, khuyến khích và tạo động lực, hứng thú cho các giáo viên có tâm huyết đối với các em viết yếu

Xuất phát từ thực trạng trên, năm học 2014-2015, tôi đã mạnh dạn áp

dụng “Một số biện pháp rèn kỹ năng viết chính tả cho học sinh viết yếu lớp 5” cho các em học sinh viết yếu lớp 5A, trường Tiểu học Nga Thạch.

3 Các biện pháp và tổ chức thực hiện.

Biện pháp 1: Luyện cho học sinh cách phát âm chính xác.

Muốn cho học sinh viết đúng chính tả, giáo viên phải là người phát âm rõ tiếng, đúng chuẩn, đồng thời luyện phát âm cho học sinh để phân biệt các thanh, các âm đầu, âm cuối Việc rèn phát âm cho các em học sinh viết yếu tôi đã thực hiện thường xuyên, liên tục, xuyên suốt trong năm học ở tất cả các tiết học như Tập đọc, Chính tả, Luyện từ và câu, Tập làm văn, Vì vậy, việc phát âm chính xác cho các học sinh viết yếu có tác dụng không nhỏ trong quá trình viết của các

em Tôi đã áp dụng cách phát âm cho các em bằng cách:

- Chữa lỗi phát âm bằng biện pháp luyện theo mẫu: Bằng phát âm mẫu của mình, tôi đưa ra trước học sinh cách phát âm chuẩn, các từ cần luyện, yêu cầu học sinh phát âm theo

- Chữa lỗi phát âm bằng biện pháp cấu âm:

+ Với cách hướng dẫn cách phát âm này, tôi mô tả cấu âm của một âm nào đó rồi hướng dẫn học sinh phát âm theo Với phụ âm cần mô tả vị trí của lưỡi, phương thức cấu âm Tôi đã tiến hành sửa từng âm: Sai phát âm /p-pờ/ thành /b-bờ/, (p và b) đều là hai phụ âm đồng vị về mặt cấu âm (môi - môi) nhưng khác nhau về mặt thanh tính, /p/ là phụ âm vô thanh, /b/ là phụ âm hữu thanh Để luyện đọc đúng âm /p/, tôi đã hướng dẫn học sinh đặt lòng bàn tay trước miệng, một tay đặt lên thanh quản Khi phát âm /b/ là âm vốn có sẽ cảm nhận được độ rung nhẹ của thanh quản và không thấy luồng hơi phát ra Cho học sinh bậm hai môi lại và bật hơi qua môi mạnh hơn, tạo âm /p/ câm Cho các em làm lại như

trên nhưng phát thành tiếng /p/ và lấy luôn ví dụ cụ thể để các em phát âm: Ví dụ: ''đèn pin", “pí pa -pí pô'', “pọ pạ”, Cho học sinh đặt một tay lên thanh hầu

và lòng bàn tay trước miệng, các em sẽ dễ dàng nhận biết được sự khác biệt giữa hai âm Khi phát âm /p/, dây thanh rung mạnh và có luồng hơi từ miệng phát ra đập vào lòng bàn tay

+ Sai phát âm /n-nờ/, /l-lờ/ lẫn lộn: Học sinh Nga Thạch hay phát âm lẫn giữa l/n

và phần lớn các em không ý thức được mình đang phát âm âm nào Để chữa lỗi phát âm cho học sinh, tôi phải trực quan hoá sự mô tả âm vị và hướng dẫn học sinh quan sát, tự kiểm tra xem mình đang phát âm âm nào: /n/ là một âm mũi,

Trang 6

khi phát âm, sờ tay vào mũi sẽ thấy mũi rung, còn khi phát âm âm /l /mũi không rung Sau đó, tôi cho học sinh luyện phát âm /l/ bằng cách bịt chặt mũi đọc la,

lo, lô, lu, lư, Khi bịt chặt mũi, học sinh không thể phát âm các tiếng na, no, nô,

nu, nư Cho học sinh luyện nói câu “con lươn nó lượn trong lọ”, “cái lộc bình nó lăn lông lốc”, Hoặc hướng dẫn học sinh khi phát âm âm /l/ thì đưa lưỡi lên phía bên trên lợi của hàm trên ngạc cứng, còn khi phát âm /n/ thì đưa đầu lưỡi vào mặt trong của hàm răng Sau đó, tôi cho học sinh luyện nói các câu “lúa lên lớp lớp lòng nàng lâng lâng”,

- Hướng dẫn cho học sinh chữa lỗi bằng âm trung gian: Là cách chuyển từ âm

sai về âm đúng qua âm trung gian Cách này tôi dùng để chữa từ thanh nặng về thanh hỏi, thanh sắc về thanh ngã Để chữa lỗi này cho học sinh, tôi đã làm

công việc tạo mẫu luyện cho các em phát âm riêng từng thanh hỏi, thanh ngã Khi luyện cho các em phát âm các tiếng có thanh hỏi-thanh ngã, tôi đã thực hiện bước sau đây: Đầu tiên ghép các tiếng có cùng thanh, cùng vần với tên gọi

thanh Ví dụ: sỏi thỏi gỏi; bã, đã, giã, mã Tiếp theo, tôi ghép các tiếng cùng thanh, cùng loại âm tiết với tên gọi thanh Ví dụ: thảo, phải, kẻo (âm tiết nửa mở); ngõ, khẽ, cũ (âm tiết mở) Cuối cùng ghép bất kỳ âm đầu các vần với các

thanh

- Tập hát để giúp học sinh phát âm đúng một vài thanh: Chẳng hạn, âm vực của thanh huyền thấp hơn thanh sắc (hoặc thanh không) nên tập hát thanh sắc (hoặc thanh không) thành thanh huyền rất thuận lợi Ví dụ: Tôi cho học sinh đọc đúng thanh huyền bằng cách tập cho các em câu hát: ''Bé bé bằng bông, hai má hồng hồng ''

- Việc rèn phát âm tôi không chỉ hướng dẫn cho các em thực hiện trong tiết Tập đọc mà được thực hiện thường xuyên, liên tục, lâu dài trong các tiết học khác

- Với những học sinh đọc yếu thì thường viết sai chính tả nhiều Trong giờ Tập đọc, tôi rèn cho các em luyện phát âm hoặc cho đánh vần những tiếng, từ các em đọc sai Sau đó, tôi giao việc ở nhà cho học sinh là tập đọc một đoạn nào đó và viết đoạn đó vào vở (Vì học sinh lớp 5 trường tôi chỉ học 7 buổi/tuần) Hôm sau, học sinh đem lên lớp cho giáo viên hoặc tổ trưởng kiểm tra vào 15 phút kiểm tra bài đầu giờ

- Với những học sinh có vấn đề về phát âm như nói ngọng, nói lắp , tôi lưu ý học sinh chú ý nghe thầy phát âm để viết cho đúng Vì vậy, giáo viên phải phát

âm rõ ràng, tốc độ vừa phải mới có thể giúp học sinh yếu viết đúng chính tả

Khi học sinh đã nắm chắc các biện pháp chữa lỗi phát âm và đã phát âm đúng, chuẩn, rõ ràng thì có tác dụng không nhỏ trong quá trình viết đúng của các

em bởi các em đọc thế nào thì viết như vậy

Biện pháp 2: Củng cố cho học sinh quy tắc, ghi nhớ một số mẹo luật chính

tả, viết đúng mẫu chữ quy định, hướng dẫn cách trình bày bài viết

Củng cố quy tắc và một số luật chính tả là giúp cho học sinh nắm vững các quy tắc trong quá trình viết, đồng thời các em nắm thêm một số mẹo để áp dụng khi viết một cách thành thạo

Trang 7

Hình 6: Bài viết chính tả đầu năm học 2014-2015 của học sinh lớp 5A.

Hình 7: Bài viết chính tả đầu năm học 2014-2015 của học sinh lớp 5A.

Hình 8: Bài viết chính tả đầu năm học 2014-2015 của học sinh lớp 5A.

Trang 8

- Để khắc phục được tình trạng học sinh hay mắc lỗi chính tả thì tôi tập trung vào các loại bài chính tả phân biệt Qua loại bài chính tả phân biệt này học sinh được ôn luyện nhiều lần, nắm chắc được các quy tắc chính tả, mẹo chính tả Cũng qua bài chính tả so sánh này, học sinh nắm vững từng cách viết, từ đó hạn chế được các lỗi sai

* Ví dụ : Khi dạy bài chính tả phân biệt dấu hỏi, dấu ngã: Tôi cung cấp cho học

sinh quy luật bổng-trầm, hệ bổng gồm các thanh: ngang, hỏi, sắc; hệ trầm gồm

các thanh: huyền, nặng, ngã

Do vậy khi gặp một tiếng mà học sinh chưa biết là thanh hỏi hay thanh ngã, tôi

hướng dẫn cho các em tạo ra một từ láy Nếu tiếng đó láy với tiếng bổng ta có

thanh hỏi, nếu tiếng đó láy với tiếng trầm ta có thanh ngã.

* Ví dụ : Mở (trong mở mang) -Thanh hỏi ; Nghỉ (nghỉ ngơi) - Thanh hỏi

Mỡ (trong mỡ màng) -Thanh ngã ; Nghĩ (nghĩ ngợi) - Thanh ngã

Ngoài ra, tôi cho học sinh hiểu nếu tạo ra một từ ngữ có ý nghĩa sẽ nắm được nghĩa và hình thức chữ viết của từ

* Ví dụ : Deo dai, em thử điền thanh hỏi (,) sẽ thành Dẻo dai Dẻo dai: là từ có nghĩa chỉ sự bền bỉ của sức lực, vậy ta điền thanh hỏi (,) Nếu điền thanh ngã sẽ thành Dẽo dai, dẽo dai không có nghĩa nên không thể điền thanh ngã.

- Đối với những từ Hán -Việt, phát âm không phân biệt dấu hỏi, dấu ngã Gặp những từ bắt đầu bằng một trong các phụ âm: m, n, nh, v, l, d, ng và ngh thì đánh

dấu ngã Để giúp học sinh nhớ được điều này, tôi hướng dẫn học sinh nhớ câu:

“Mình Nên Nhớ Viết Là Dấu Ngã” để khi viết, các em sẽ xác định được phải

đánh dấu ngã.

* Ví dụ : Vĩ nhân, cần mẫn, nhã nhặn, lãnh đạm, vãng lai, phụ lão, dã man, ngôn ngữ, tín ngưỡng (Trừ "ngải" trong "ngải cứu"), còn những từ bắt đầu bằng các phụ âm khác, hoặc không có phụ âm đầu thì đánh dấu hỏi

* Ví dụ : đảo điên, tưởng tượng, kiểu cách, …

Nhưng vẫn có một số trường hợp ngoại lệ viết bằng dấu ngã

* Ví dụ: kỹ (kỹ thuật, kỹ xảo), bãi (bãi bỏ, bãi khóa)

hữu (bằng hữu, hữu nghị), phẫu (phẫu thuật, giải phẫu )

tiễn (tiễn đưa, tiễn biệt)

Khi dạy bài chính tả phân biệt k/q/c, tôi yêu cầu học sinh tự tìm ra những từ có

âm đầu là k/q /c, từ các ví dụ cụ thể mà học sinh nắm lại quy tắc chính tả.

- Chữ cái c: Luôn đứng trước các vần bắt đầu các nguyên âm: a, ă, ,â o, ô, u, ư,

* Ví dụ : Cần cù, còn, cặm cụi, cũng

- Chữ cái k: Luôn đứng trước các vần bắt đầu bằng các nguyên âm: e, ê, i,

* Ví dụ: Kính, kể, kèo,

- Chữ cái q: Luôn kết hợp với u thành qu (đọc là quờ) Qu luôn đứng trước hầu

hết các nguyên âm (trừ các nguyên âm o, u, ư)

* Ví dụ : Quan trọng, quanh quẩn

- Với những tiếng khó, tôi áp dụng biện pháp phân tích cấu tạo tiếng, so sánh với những tiếng dễ lẫn lộn, nhấn mạnh những điểm khác nhau để học sinh ghi nhớ

* Ví dụ: Khi viết tiếng “muống” học sinh dễ lẫn lộn với tiếng “muốn”, tôi yêu cầu học sinh phân tích cấu tạo hai tiếng này:

Trang 9

Muống = M + uông + thanh sắc

Muốn = M + uôn + thanh sắc.

So sánh để thấy sự khác nhau: Tiếng “muống” có âm cuối là “ng”, tiếng “muốn”

có âm cuối là “n” Học sinh ghi nhớ điều này, khi viết các em sẽ không viết sai

- Ngoài ra, tôi cung cấp cho học sinh một số mẹo luật chính tả Mẹo luật chính tả

là các hiện tượng chính tả mang tính quy luật, chi phối hàng loạt từ, giúp giáo viên khắc phục lỗi chính tả cho học sinh một cách rất hữu hiệu Ngay từ lớp 1,

các em đã được làm quen với luật chính tả đơn giản như: các âm đầu k, gh, ngh chỉ kết hợp với các nguyên âm i, e, ê, iê, ie Ngoài ra, tôi cung cấp thêm cho học

sinh một số mẹo luật khác như:

+ Để phân biệt âm đầu tr/ch: Tôi hướng dẫn cho học sinh nắm được đặc điểm đó

là đa số các từ chỉ đồ vật trong nhà và tên con vật đều bắt đầu bằng ch Ví dụ:

chăn, chiếu, chảo, chổi, chai, chày, chén, chum, chạn, chõ, chĩnh, chuông, chiêng, choé,… chồn, chí, chuột, chó, chuồn chuồn, châu chấu, chào mào, chiền chiện, chẫu chàng, chèo bẻo, chìa vôi,…

+ Để phân biệt âm đầu s/x: Tôi hướng dẫn cho học sinh nắm được đặc điểm đó

là đa số các từ chỉ tên các loài cây và tên con vật đều bắt đầu bằng s: Sả, si, sồi,

sứ, sung, sắn, sim, su su, sa nhân, sơn trà, sậy, sấu, sến, săng lẻ, sầu riêng, so đũa,… sam, sán, sáo, sâu, sên, sếu, sò, sóc, sói, sứa, sáo sậu, săn sắt, sư tử, sơn dương, san hô,…

+ Luật bổng-trầm: Trong các từ láy điệp âm đầu, thanh (hay dấu) của 2 yếu tố ở cùng một hệ bổng (ngang/sắc/hỏi) hoặc trầm (huyền/ngã/nặng) Để nhớ được 2

nhóm này, tôi dạy cho học sinh thuộc 2 câu thơ:

Em Huyền mang nặng, ngã đau Anh Ngang sắc thuốc, hỏi đau chỗ nào.

Nghĩa là đa số các từ láy âm đầu, nếu yếu tố đứng trước mang thanh huyền, nặng, ngã thì yếu tố đứng sau sẽ mang thanh ngã, nếu yếu tố đứng trước mang thanh ngang, sắc, hỏi thì yếu tố đứng sau sẽ mang thanh hỏi (hoặc ngược lại) Ví

dụ:

* Bổng

Ngang + hỏi: Nho nhỏ, lẻ loi, trong trẻo, vui vẻ, …

Sắc + hỏi: Nhắc nhở, trắng trẻo, sắc sảo, vắng vẻ, …

Hỏi + hỏi: Lỏng lẻo, thỏ thẻ, hổn hển, thủ thỉ, rủ rỉ, …

* Trầm:

Huyền + ngã: Sẵn sàng, lững lờ, vồn vã,

Nặng + ngã: Nhẹ nhõm, đẹp đẽ, mạnh mẽ, lạnh lẽo,…

Ngã + ngã: Dễ dãi, nghễnh ngãng, nhõng nhẽo,…

+ Để phân biệt các vần dễ lẫn lộn: Một số từ có vần ênh chỉ trạng thái bấp bênh, không vững chắc: Gập ghềnh, khấp khểnh, chông chênh, lênh đênh, bập bềnh, chếnh choáng, chệnh choạng, lênh khênh, bấp bênh, công kênh…

+ Hầu hết các từ tượng thanh có tận cùng là ng hoặc nh: oang oang, đùng đoàng, loảng xoảng, đoàng đoàng, sang sảng, rổn rảng, ùng oàng, quang quác, ăng ẳng, ằng ặc, oăng oẳng, răng rắc, sằng sặc, pằng pằng, eng éc, beng beng, chập cheng, leng keng, reng reng, phèng phèng, lẻng kẻng, lẻng xẻng, ùng ùng,

Trang 10

đùng đùng, thùng thùng, bình bịch, thình thịch, thình thình, rập rình, xập xình, huỳnh huỵch…

+ Vần uyu chỉ xuất hiện trong các từ: khuỷu tay, khúc khuỷu, ngã khuỵu, khuỵu chân.

+ Vần oeo chỉ xuất hiện trong các từ: ngoằn ngoèo, khoèo chân.

Để khắc phục tình trạng viết sai về danh từ riêng, tên riêng nước ngoài, tôi đã tiến hành hướng dẫn chi tiết cho học sinh về cách viết Cụ thể:

* Tên người, tên địa lý Việt Nam:

- Tên người: Viết hoa chữ cái đầu của tất cả các tiếng tạo thành tên riêng đó + Ví dụ: Trần Phú, Ngô Gia Tự, Nguyễn Thị Minh Khai,

- Tên danh nhân, nhân vật lịch sử được cấu tạo bằng cách kết hợp bộ phận vốn

là danh từ chung với bộ phận tên gọi cụ thể cũng được coi là tên riêng và viết hoa theo quy tắc viết hoa tên người

+ Ví dụ: Ông Gióng, Bà Trưng, Đồ Chiểu, Đề Thám,

-Tên địa lý: Viết hoa chữ cái đầu của tất cả các tiếng tạo thành tên riêng đó + Ví dụ: Thái Bình, Trà Vinh, Cần Thơ,

- Tên địa lý được cấu tạo bởi danh từ chỉ hướng hoặc bằng cách kết hợp bộ phận vốn là danh từ chung, danh từ chỉ hướng với bộ phận tên gọi cụ thể cũng được coi là danh từ riêng chỉ tên địa lý và viết hoa theo quy tắc viết hoa tên địa lý + Ví dụ: Bắc Bộ, Nam Bộ, Tây Bắc, Đông Bắc, Vàm Cỏ Đông, Trường Sơn Tây, Hồ Gươm, Cầu Giấy, Bến Thủy, Cửa Việt, Đèo Ngang, Vũng Tàu,

- Tên dân tộc: Viết hoa chữ cái đầu của tất cả các tiếng tạo thành tên riêng đó + Ví dụ: Kinh, Tày, Sán Dìu, Lô Lô, Phù Lá, Hà Nhì,

- Tên người, tên địa lý và tên các địa tộc Việt Nam thuộc các dân tộc thiểu số có cấu tạo từ đa âm tiết (các âm tiết đọc liền nhau): Đối với mỗi bộ phận tạo thành tên riêng, viết hoa chữ cái đầu và có gạch nối giữa các tiếng

+ Ví dụ: Ê-đê, Ba-na, Xơ-đăng, Tà-ôi, Kơ-pa Kơ-lơng, Nơ-trang-lơng, Y-rơ-pao, Chư-pa,

- Tên cơ quan, tổ chức, đoàn thể: Viết hoa chữ cái đầu của âm tiết đầu tiên và

các âm tiết đầu của các bộ phận tạo thành tên riêng

+ Ví dụ: Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Ủy ban Thường

vụ Quốc hội, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh,

- Từ và cụm từ chỉ các con vật, đồ vật, sự vật được dùng làm tên riêng của nhân

vật: Viết hoa chữ cái đầu của âm tiết tạo thành tên riêng.

+ Ví dụ: (chú) Chuột, (bác) Gấu, (cô) Chào Mào, (chị) Sáo Sậu, (bác) Nồi Đồng, (cô) Chổi Rơm, (anh) Cần Cẩu, (ông) Mặt Trời, (chị) Mây Trắng,

* Tên người, tên địa lý nước ngoài:

-Trường hợp phiên âm qua âm Hán - Việt: Viết theo quy tắc viết tên người, tên

địa lý Việt Nam

+ Ví dụ: Mao Trạch Đông, Kim Nhật Thành, Đức, Nhật Bản, Bồ Đào Nha, Triều Tiên,

Ngày đăng: 10/12/2016, 13:59

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình2: Hình ảnh biển báo giao thông sai lỗi chính tả. - Một số biện pháp rèn kỹ năng viết  chính tả cho học sinh viết yếu lớp 5
Hình 2 Hình ảnh biển báo giao thông sai lỗi chính tả (Trang 1)
Hình 1: Hình ảnh biển báo giao thông sai lỗi chính tả. - Một số biện pháp rèn kỹ năng viết  chính tả cho học sinh viết yếu lớp 5
Hình 1 Hình ảnh biển báo giao thông sai lỗi chính tả (Trang 1)
Hình3: Hình ảnh pa-nô, áp phích sai lỗi chính tả. - Một số biện pháp rèn kỹ năng viết  chính tả cho học sinh viết yếu lớp 5
Hình 3 Hình ảnh pa-nô, áp phích sai lỗi chính tả (Trang 2)
Hình4: Hình ảnh pa-nô, áp phích sai lỗi chính tả. - Một số biện pháp rèn kỹ năng viết  chính tả cho học sinh viết yếu lớp 5
Hình 4 Hình ảnh pa-nô, áp phích sai lỗi chính tả (Trang 2)
Hình 6: Bài viết chính tả đầu năm học 2014-2015 của học sinh lớp 5A. - Một số biện pháp rèn kỹ năng viết  chính tả cho học sinh viết yếu lớp 5
Hình 6 Bài viết chính tả đầu năm học 2014-2015 của học sinh lớp 5A (Trang 7)
Hình 7: Bài viết chính tả đầu năm học 2014-2015 của học sinh lớp 5A. - Một số biện pháp rèn kỹ năng viết  chính tả cho học sinh viết yếu lớp 5
Hình 7 Bài viết chính tả đầu năm học 2014-2015 của học sinh lớp 5A (Trang 7)
Hình 9: Giáo viên trình bày bảng trong tiết chính tả. - Một số biện pháp rèn kỹ năng viết  chính tả cho học sinh viết yếu lớp 5
Hình 9 Giáo viên trình bày bảng trong tiết chính tả (Trang 11)
Hình 10: Học sinh đang tự sửa lỗi chính tả trong nhóm. - Một số biện pháp rèn kỹ năng viết  chính tả cho học sinh viết yếu lớp 5
Hình 10 Học sinh đang tự sửa lỗi chính tả trong nhóm (Trang 15)
Hình 11: Học sinh đang tự sửa lỗi chính tả trong nhóm. - Một số biện pháp rèn kỹ năng viết  chính tả cho học sinh viết yếu lớp 5
Hình 11 Học sinh đang tự sửa lỗi chính tả trong nhóm (Trang 15)
Hình 12: Bài viết của học sinh lớp 5A gần cuối năm học 2014-2015 - Một số biện pháp rèn kỹ năng viết  chính tả cho học sinh viết yếu lớp 5
Hình 12 Bài viết của học sinh lớp 5A gần cuối năm học 2014-2015 (Trang 17)
Hình 13: Bài viết của học sinh lớp 5A gần cuối năm học 2014-2015 - Một số biện pháp rèn kỹ năng viết  chính tả cho học sinh viết yếu lớp 5
Hình 13 Bài viết của học sinh lớp 5A gần cuối năm học 2014-2015 (Trang 18)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w