Xuất phát từ thực tế và yêu cầu cần thiết của xã hội hiện nay, là giáo viên đang trực tiếp giảng dạy lớp 4, tôi muốn góp phần nâng cao chất lượng giáo dục trong nhà trường, tìm lại sự yêu thích môn học, đáp ứng được mục của tiêu Giáo dục Đào tạo, tạo ra con người mới, con người toàn diện phục vụ cho bản thân, gia đình và xã hội. Với những lý do nêu trên, bản thân tôi xin được đề xuất một số biện pháp về “Kinh nghiệm nâng cao chất lượng giờ học Địa lý lớp 4 ở trường Tiểu học Nga Lĩnh” với mong muốn mỗi tiết học địa lý đều vui vẻ, thoải mái và có chất lượng.
Trang 1A - ĐẶT VẤN ĐỀ
Cùng với môn Tiếng việt và Toán, môn Địa lý là môn học quan trọng trong chương trình tiểu học góp phần giáo dục toàn diện cho học sinh Mục tiêu dạy học Địa lý lớp 4 là hình thành cho học sinh một số biểu tượng, khái niệm, mối quan hệ địa lý đơn giản và bước đầu hình thành, rèn luyện một số kĩ năng địa lý Chương trình Địa lý lớp 4 giúp học sinh lĩnh hội được một số tri thức ban đầu về địa lý Việt Nam, về một số nét tiêu biểu của từng vùng, miền, biển, đảo
và các dãy núi, giúp học sinh hiểu biết về môi trường xung quanh từ đó tạo điều kiện cho học sinh dễ dàng hoà nhập, thích ứng với cuộc sống xã hội, với môi trường xung quanh …
Thực tế trong trường Tiểu học hiện nay đa số các em học sinh ít quan tâm đến môn địa lí vì các em nghĩ đây là môn học phụ, thuộc lĩnh vực khoa học xã hội mà chủ yếu các em tập trung vào môn học Toán và Tiếng việt Còn đối với giáo viên cũng chưa coi trọng môn học này Mới chỉ là điểm qua cho xong bài Chưa tập trung đầu tư nghiên cứu để tìm tòi những phương pháp, hình thức tổ chức dạy học phong phú nhằm thu hút hứng thú học tập của học sinh trong môn học Vì thế dẫn đến học sinh ngại học, không có hứng thú trong học tập, ngại trau dồi kiến thức về địa lí, ít tìm hiểu các hiện tượng địa lý trong thực tế Việc học chỉ là đối phó, miễn cưỡng học sinh chỉ tiếp thu được lượng kiến thức rất ít, không bản chất, vì thế dễ quên Kết quả là hiệu quả học tập chưa cao
Vậy làm thế nào để lựa chọn được những phương pháp dạy học hay, đặc trưng thực hiện vào các tiết dạy mang lại hiệu quả cao là một vấn đề mà mỗi giáo viên chúng ta cần phải quan tâm, trăn trở Đó không chỉ là vấn đề của riêng bản thân tôi quan tâm mà là vấn đề quan tâm của hầu hết các giáo viên Tiểu học Xuất phát từ thực tế và yêu cầu cần thiết của xã hội hiện nay, là giáo viên đang trực tiếp giảng dạy lớp 4, tôi muốn góp phần nâng cao chất lượng giáo dục trong nhà trường, tìm lại sự yêu thích môn học, đáp ứng được mục của tiêu Giáo dục & Đào tạo, tạo ra con người mới, con người toàn diện phục vụ cho bản thân, gia đình và xã hội Với những lý do nêu trên, bản thân tôi xin được đề xuất một
số biện pháp về “Kinh nghiệm nâng cao chất lượng giờ học Địa lý lớp 4 ở trường Tiểu học Nga Lĩnh” với mong muốn mỗi tiết học địa lý đều vui vẻ,
thoải mái và có chất lượng
B GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ.
1 Cơ sở của việc lựa chọn sáng kiến
Luật giáo dục, điều 28.2 đã ghi ‘‘Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của HS; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ
Trang 2năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho HS’’
Yêu cầu của việc đổi mới phương pháp dạy học nên GV cần vận dụng các phương pháp soạn giảng cho phù hợp để đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho
HS, từ đó có thể phát huy tính tự giác tích cực của học sinh
Việc dạy học Địa lí nói chung cần đảm bảo các nguyên tắc giáo dục, đây là các luận điểm có tính chất chỉ đạo, những quy định, yêu cầu cơ bản mà người giáo viên cần phải tuân thủ để mang lại hiệu quả cao nhất trong quá trình dạy học Việc sử dụng tranh ảnh, băng hình, áp dụng các câu ca dao tục ngữ phù hợp với từng phần nội dung kiến thức, tổ chức các trò chơi học tập trong môn học Địa lý đã căn cứ vào các nguyên tắc giáo dục (môn Địa lí)
2 Một số yếu tố chủ yếu có tác động trực tiếp đến việc nâng cao chất lượng dạy- học môn Địa lý trong nhà trường.
- Năng lực giảng dạy của giáo viên:
Giáo viên phải có tâm huyết với môn địa lý, có kiến thức sâu rộng về địa
lý Việt Nam và thế giới Biết lựa chọn phương pháp dạy học phù hợp để kích thích sự hứng thú của học sinh
- Sự ham hiểu biết của học sinh:
Học sinh ham hiểu biết, thích khám phá cái mới, thích tìm hiểu các yếu tố
tự nhiên, các hiện tượng thiên nhiên kì thú Đồng thời các em phải có ý thức học tập nghiêm túc
- Cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học
Nhà trường phải có đầy đủ cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học như máy chiếu, máy in Có đủ các loại bản đồ và các dụng cụ thực hành cần thiết trong các tiết học, các tài liệu tham khảo về địa lý Việt Nam và thế giới
3 Các căn cứ của vấn đề:
- Căn cứ vào mục tiêu giáo dục Tiểu học là giáo dục con người phát triển toàn diện
- Căn cứ vào phương pháp dạy học tích cực: Phát huy tính chủ động sáng tạo của học sinh, lựa chọn hình thức dạy học sao cho tiết học diễn ra nhẹ nhàng, hiệu quả đảm bảo theo cách học mà chơi, chơi mà học
- Căn cứ vào tình hình thực tế giảng dạy và học tập môn Địa Lý tại nhà trường và cứ vào sự góp ý của đồng nghiệp tại trường
II THỰC TRẠNG VIỆC DẠY HỌC PHÂN MÔN ĐỊA LÝ LỚP 4 Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC NGA LĨNH.
* Về phía giáo viên:
- Hầu hết các giáo viên trong trường đều có ý thức trong đổi mới phương pháp dạy học nói chung và môn Địa lý nói riêng Phát huy được tính chủ động tích cực, sang tạo của học sinh làm cho tiết học phân môn địa lý, tạo sự nhẹ nhàng nhưng hiệu quả Song vẫn còn một số giáo viên vẫn chưa coi trọng phân môn địa lý Chưa chịu khó tìm tòi những phương pháp dạy hay, những hình thức
tổ chức phong phú phù hợp với nội dung trong từng tiết học Do đó tiết học Địa
lý còn khô cứng, buồn tẻ dẫn đến chất lượng thấp
Trang 3- Khả năng dạy phân hoá đối tượng, tạo hứng thú cho học sinh của một số giáo viên còn hạn chế Việc đầu tư cho đồ dung dạy học như tranh ảnh của các giáo viên còn ít
* Về phía học sinh
- Học sinh chủ yếu là con em vùng nông thôn, cuộc sống khó khăn, cha mẹ
đi làm ăn xa nên học sinh thiếu sự định hướng, kèm cặp
- Học sinh còn quen với cách học đơn giản theo sách giáo khoa, khả năng tư duy, suy luận để hình thành biểu tượng, khái niệm chưa nhiều nên chưa có được thói quen suy nghĩ, động não một cách có hệ thống
Qua khảo sát chất lượng học sinh môn địa lý vào thời điểm tháng 9 năm học 2014- 2015 của học sinh lớp 4A, có kết quả như sau:
Sĩ số
Học sinh
Điểm 10 – 9 Điểm 8 – 7 Điểm 6 – 5 Điểm dưới 5
Nhận xét: Chất lượng học sinh giỏi còn thấp Số lượng học sinh trung bình và yếu còn cao Học sinh hầu hết chưa biết cách chỉ bản đồ, chưa nắm được các biểu tượng địa lý Tham gia học tập một cách thụ động Qua tìm hiểu, tôi thấy nổi lên một số nguyên nhân sau:
Một là: Giáo viên chưa đầu tư nghiên cứu nội dung chương trình, chưa hệ
thống kiến thức môn Địa lý lớp 4 Khi dạy trên lớp còn dạy tràn lan theo từng bài, chưa có sự lô gich từ mạch kiến thức cũ sang mạch kiến thức mới
Hai là: Giáo viên mới chỉ tổ chức cho học sinh thực hiện các câu hỏi, các bài
tập trong sách giáo khoa một cách đơn thuần theo hình thức hỏi đáp, chưa phát triển chúng thành nhiều các hình thức tổ chức dạy học phong ohus như tổ chức trò chơi, ca dao, tục ngữ…, để phát triển tư duy sáng tạo của học sinh
Ba là: Chưa khai thác triệt để tranh ảnh và các bảng số liệu Đặc biệt, chưa
chú trọng đến việc sưu tầm tranh ảnh, băng hình để khắc sâu kiến thức cho học sinh
Bốn là: Tổ chức tiết học còn nặng nề, chưa linh hoạt trong quá trình tổ chức
nên chưa có tác dụng thúc đẩy học sinh trong quá trình hợp tác
Để nâng cao chất lượng tiết học phân môn địa lý lớp 4 góp phần tích cực trong việc nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh, tôi xin đề xuất một số giải pháp sau:
III CÁC BIỆN PHÁP VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN
* Biện pháp 1: Nghiên cứu nội dung, chương trình môn Địa lý lớp 4.
Chương trình Địa lý lớp 4 giúp học sinh lĩnh hội được một số tri thức ban đầu về địa lý Việt Nam, về một số nét tiêu biểu của từng vùng, miền, biển, đảo
và các dãy núi, giúp học sinh hiểu biết về môi trường xung quanh từ đó tạo điều kiện cho học sinh dễ dàng hoà nhập, thích ứng với cuộc sống xã hội, với môi trường Vì thế để thực hiện tốt chương trình Địa lý lớp 4, giáo viên cần phải nghiên cứu kỹ để hiểu nội dung chương trình, hiểu rõ mục tiêu của từng phần, từng bài học, từng nội dung kiến thức Từ đó có các phương án dạy học phù hợp với từng bài cụ thể
Trang 4Chương trình môn Địa lý lớp 4 gồm có 32 bài được chia thảnh 3 kiểu bài:
Hình thành kiến thức mới, ôn tập và kiểm tra Trong đó:
* Thiên nhiên và hoạt động sản xuất của con người ở miền núi và trung du:
Gồm 10 bài
- Bài 1,bài 4, bài 5: Nói về đặc điểm vùng núi và trung du
- Bài 2, bài 3, bài 6, bài 7, bài 8: Nói về con người và hoạt động sản xuất của con người ở vùng núi và trung du
- Bài 9: Nói về thành phố ở miền núi và trung du
- Bài 10: ôn tập
* Thiên nhiên và hoạt động sản xuất của con người ở miền đồng bằng: Gồm 18
bài
- Bài 11, bài 17, bài 24: Nói về đặc điểm vùng đồng bằng
- Bài 12, bài 13, bài 14, bài 18, bài 19 , bài 20, bài 25, bài 26: nói về con người và hoạt động sản xuất của con người ở vùng đồng bằng
- Bài 15, bài 16, bài 21, bài 22, bài 27, bài 28: nói về thành phố ở vùng đồng bằng
- Bài 23 : ôn tập
*Vùng biển Việt Nam: Bài 29 và bài 30.
* Ôn tập tổng hợp: Gồm 2 bài (Bài 31 và bài 32).
* Kiểm tra: 2 tiết.
Qua hệ thống nội dung chương trình ta thấy: Những khái niệm, biểu tượng mà học sinh tiếp xúc là từ dễ đến khó; khối lượng kiến thức vừa phải, dễ tiếp thu, dễ nắm các kiến thức cơ bản của bài
Kênh hình vừa là sự minh hoạ cho kênh chữ vừa là nguồn cung cấp kiến thức và rèn luyện kỹ năng tìm thông tin cho học sinh
Các câu hỏi, bài tập của bài giúp cho học sinh dễ dàng nắm bắt các kiến thức Đồng thời giúp các em tư duy, phân tích, so sánh rồi rút ra nhận xét nhằm khắc sâu bài học Ngoài ra, còn giúp giáo viên dễ dàng thiết kế các hình thức học tập đa dạng và phong phú như: thao tác trên bản đồ, lược đồ bằng giáo án điện tử, tổ chức các trò chơi học tập, đưa các câu ca dao tục ngữ vào bài học một cách hợp lý để khai thác thông tin kiến thức, khắc sâu kiến thức cho học sinh, rèn luyện kỹ năng hoặc bồi dưỡng nhận thức cho các em
* Biện pháp 2: Nâng cao chất lượng học địa lí thông qua hoạt động thao tác trên bản đồ, lược đồ.
2.1 Làm sống động các bản đồ, lược đồ trong SGK bằng giáo án điện tử:
Trong chương trình Địa lý lớp 4 có tất cả 16 bản đồ, lược đồ Các bản đồ, lược đồ này đều có màu sắc đẹp, phong phú về chủng loại Tuy nhiên các bản đồ
và lược đồ đó đều là các tranh tĩnh Nếu để học sinh khai thác một cách bình thường trong SGK thì các em đều thấy rất khó và trừu tượng, không cụ thể và tiếp thu kiến thức không sâu, hời hợt Đặc biệt không tạo được hứng thú cho học sinh trong quá trình khai thác kiến thức Nhưng nếu các bản đồ và lược đồ này được thiết kế bằng giáo án điện tử, lập các hiệu ứng phù hợp với trình tự tìm hiểu nội dung kiến thức sẽ trở thành các bản đồ, lược đồ sống động Điều đó sẽ
Trang 5tạo được sự hứng thú, hấp dẫn cho học sinh, khi đó học sinh sẽ tiếp thu kiến thức nhẹ nhàng, tự nhiên và nhớ kiến thức lâu hơn
Ví dụ 1: Đối với bài 1: Dãy Hoàng Liên Sơn – SGK trang 70.
Khi học sinh thực hiện yêu cầu: Quan sát hình 1: Lược đồ các dãy núi chính ở Bắc Bộ
- Giáo viên yêu cầu học sinh thảo luận nhóm 4: Quan sát lược đồ trên máy chiếu
và lược đồ trong SGK
+ Kể tên những dãy núi chính ở Bắc Bộ?
+ Chỉ vị trí của dãy Hoàng Liên Sơn trên bản đồ?
+ Chỉ đỉnh núi Phan - xi - păng trên lược đồ và cho biết độ cao của nó
- Học sinh báo cáo kết quả bằng cách chỉ lựợc đồ trên máy chiếu
Hình 1: Lược đồ các dãy núi chính ở Bắc Bộ.
- Giáo viên cho chạy các hiệu ứng và chốt: Hoàng Liên Sơn là một trong các dãy núi chính ở phía Bắc của nước ta, chạy dài khoảng 180 km và trải rộng gần 30 km, đây là dãy núi cao, đồ sộ, có nhiều đỉnh nhọn, sườn núi rất dốc, thung lũng thường hẹp và sâu Dãy Hoàng Liên Sơn có đỉnh Phan - xi - păng cao nhất nước ta và gọi là “nóc nhà” của Tổ quốc
Ví dụ 2: Đối với bài 21: Thành phố Hồ Chí Minh – SGK trang 127
Khi học sinh tìm hiểu vị trí giới hạn của thành phố Hồ Chí Minh và thực hiện yêu cầu:
- Quan sát hình 1 và hãy cho biết:
+ Chỉ vị trí của thành phố Hồ Chí Minh trên lược đồ và cho biết thành phố tiếp giáp những tỉnh nào?
+ Từ thành phố có thể đi tới các tỉnh khác bằng những loại đường giao thông nào?
- Giáo viên yêu cầu học sinh thảo luận nhóm 4: Quan sát lược đồ trên máy chiếu
và lược đồ trong SGK
- Học sinh báo cáo kết quả bằng cách chỉ lựơc đồ trên máy chiếu
Trang 6Hình 1: Lược đồ Thành phố Hồ Chí Minh.
- Giáo viên cho chạy các hiệu ứng và chốt: Thành phố Hồ Chí Minh nằm bên sông Sài Gòn, có lịch sử trên 300 năm Trải qua nhiều tên gọi khác nhau, từ năm 1976, thành phố được mang tên Thành phố Hồ Chí Minh
- Từ thành phố có thể đi tới các tỉnh khác bằng những loại phương tiện như: Máy bay, tàu hoả, ô tô, …
Như vậy, khi giáo viên thao tác kết hợp chạy hiệu ứng với kiến thức cần chốt cho học sinh trên giáo án điện tử sẽ là biện pháp vô cùng hiệu quả Bởi vì ở đây hình ảnh sống động, cụ thể hóa Ngoài ra học sinh được tìm hiểu kiến thức qua những hình ảnh sống động này không những các em sẽ nhớ rất lâu kiến thức
mà còn nâng cao kỹ năng sử dụng bản đồ, giúp các em tự tin hơn, kích thích hứng thú học tập cho học sinh và trong lớp ai ai cũng muốn thể hiện khả năng học tập của mình
2.2 Rèn kỹ năng đọc và chỉ bản đồ, lược đồ.
Trong mỗi tiết học của môn Địa Lý các em đều phải sử dụng bản đồ, lược
đồ Bản đồ, lược đồ được sử dụng như là nguồi cung cấp kiến thức, là đối tượng
để học sinh chủ động, tự lực khai thác kiến thức Địa Lý Vì thế học sinh phải biết đọc các kí hiệu trên bản đồ, lược đồ, hiểu được ý nghĩa màu sắc được biểu thị trên bản đồ, lược đồ, xác định được các yếu tố Địa Lý trên bản đồ
Để học sinh có kỹ năng đọc và chỉ bản đồ tốt, ngay từ đầu năm học, trong mỗi tiết học Địa lý có sử dụng bản đồ, sơ đồ, yêu cầu các em nêu ký hiệu trên bản đồ, lược đồ, nêu ý nghĩa màu sắc được biểu thị trên bản đồ, lược đồ, xác định hướng của bản đồ Sau đó mới thực hiện chỉ bản đồ theo nội dung yêu cầu bài học Khi thao tác với bản đồ các em cần nắm được:
Bước 1: Nắm được mục đích làm việc với bản đồ
Tức là đọc tên bản đồ, để biết nội dung sử dụng cung cấp kiến thức gì cho bài học Bước này không khó, giáo viên cần lưu ý khi tự vẽ thêm bản đồ thì phải có tên bản đồ (có thể viết trên hoặc viết ở dưới)
Bước 2 : Xem bảng chú giải để có biểu tượng địa lí cần tìm trên bản đồ.
Giáo viên hướng dẫn cho học sinh cách đọc bảng chú giải, những kí hiệu ứng với các thông tin gì
Ví dụ: Đường đứt khúc chỉ ranh giới giữa các tỉnh, cây dù chỉ bãi biển,
chấm tròn chỉ thành phố …
Bước 3 : Tìm vị trí Địa lí của đối tượng trên bản đồ.
Trang 7Đây chính là bước kĩ năng chỉ bản đồ Ở bước này giáo viên cũng như học sinh thường chỉ không chính xác do không thường xuyên chỉ bản đồ nên dễ lúng túng Chỉ bản đồ có các cách chỉ sau :
• Chỉ điểm (thành phố , khoáng sản, …)
• Chỉ đường (sông, dãy núi, …)
• Chỉ vùng (chỉ vị trí giới hạn của tỉnh, thành phố, …)
Khi hướng dẫn học sinh chỉ bản đồ giáo viên cần lưu ý học sinh cách chỉ như sau:
- Chỉ về một địa danh, một thành phố, một tỉnh… Nếu là bản đồ hành chính thì sẽ có ranh giới giữa các nước, các thành phố, tỉnh GV chỉ theo đường ranh giới, bắt đầu ở điểm nào thì kết thúc ở điểm đó của một châu lục, một nước, một thành phố, một tỉnh muốn chỉ Nếu là bản đồ tự nhiên thì thường một thành phố được kí hiệu bằng dấu chấm tròn, GV chỉ ngay vào chấm tròn là thành phố, hoặc chỉ các phương tiện đi lại của các vùng miền (Xem chú giải trên bản đồ, lược đồ)
- Chỉ về biển, sông ngòi, Đại dương khi chỉ kéo rộng trong giới hạn của nó không lấn vào đất liền Biển, sông, dãy núi chỉ theo hướng từ thượng lưu đổ xuống hạ lưu, từ nơi cao (độ cao của địa hình) xuống nơi thấp
Bước 4 : Quan sát đối tượng trên bản đồ, nhận xét và nêu đặc điểm đơn
giản của đối tượng (khai thác một phần kiến thức mới)
Ví dụ : Khi chỉ vị trí của nước Việt Nam, nhận xét vị trí nước ta kéo dài từ
Bắc xuống Nam, nằm phía cực Nam
- Bài Đồng bằng Nam Bộ, quan sát và chỉ lược đồ xong, học sinh có thể nhận xét ngay là hệ thống sông ngòi nhiều, chằng chịt
- Bài địa hình nước ta, dựa vào màu sắc học sinh nhận xét được ngay đồi núi nhiều hơn đồng bằng
- Bài Người dân ở đồng bằng Nam Bộ, quan sát, nhận xét trang phục của người dân ở dồng bằng Nam Bộ…
Bước 5 : Xác lập mối quan hệ địa lí đơn giản giữa các yếu tố tự nhiên
Ví dụ: Khi học sinh chỉ được vị trí nước ta, phía Đông giáp biển Đông,
đường bờ biển kéo dài như thế thì sẽ thuận lợi để phát triển ngành nào? (đánh bắt thủy hải sản) Đó chính là mối quan hệ giữa vị trí địa lí và hoạt động sản xuất
Như vậy, nếu chúng ta rèn cho học sinh được kỹ năng đọc và chỉ bản đồ một cách thành thạo thì các em sẽ rất thích học tiết địa lý Các tiết học trở nên nhẹ nhàng không căng thẳng Dưa trên những thông tin trên bản đồ, lược đồ các
em xác định được chính xác kiến thức cần cung cấp Với những kiến thức này sẽ khắc sâu đối với các em
* Biện pháp 3: Hình thành khái niệm, biểu tượng địa lí thông qua khai thác tranh ảnh, video.
3.1 Hình thành khái niệm, biểu tượng địa lí thông qua khai thác tranh ảnh
có sẵn trong SGK.
Hình thành khái niệm, biểu tượng địa lí là một trong những mục đích của
việc dạy Địa Lý Vì thế bước này rất quan trọng Vậy muốn hình thành biểu
Trang 8tượng, khái niệm Địa Lý cho học sinh, yêu cầu các em phải nắm được các dấu hiệu của đối tượng Địa Lý mà các em quan sát được từ thực tế, từ băng hình, tranh ảnh để các em tìm ra những dấu hiệu, bản chất của đối tượng Địa Lý nhằm đưa ra khái niệm đúng về đối tượng
Ví dụ 1: Để hình thành khái niệm Sông ngòi và hệ thống đê ngăn lũ khi
dạy bài Đồng bằng Bắc Bộ
Điều đầu tiên cho học sinh xác định Sông Hồng, Sông Thái Bình và một
số sông khác của đồng Bằng Bắc Bộ trên lược đồ
Sau đó cho học sinh quan sát hệ thống đồng bằng, đê, mương qua tranh
ảnh và băng hình
Cảnh đồng bằng Bắc Bộ Một đoạn đê Sông Hồng Mương dẫn nước ở ĐBBB
Tiếp đến yêu cầu học sinh trả lời các câu hỏi:
+ Em hãy cho biết đê có tác dụng gì?
+ Để phục vụ tưới tiêu nhân dân Đồng Bằng Bắc Bộ đã làm gì?
- Giáo viên trình chiếu các hình ảnh và nêu: Để ngăn lũ lụt, người dân nơi đây
đã đắp đê dọc hai bên bờ sông Tổng chiều dài hệ thống đê này lên tới hàng nghìn km đó là một công trình vĩ đại của người dân đồng bằng Bắc Bộ Ngoài
ra nhân dân còn đào thêm nhiều kênh mương để tưới, tiêu nước cho đồng ruộng Sau khi hình thành khái niệm Địa Lý chung cho học sinh, dựa vào trình
độ của lớp để soạn ra một hệ thống câu hỏi, bài tập nhằm hướng dẫn các em phát hiện ra dấu hiệu riêng của đối tượng Địa Lý
Ví dụ 2: Hình thành khái niệm dãy núi Hoàng Liên Sơn khi dạy bài: Dãy núi Hoàng Liên Sơn hướng dẫn học sinh như sau:
Quan sát “Lược đồ các dãy núi chính ở Bắc Bộ” trang 70, tìm vị trí dãy Hoàng Liên Sơn
+ Dãy núi Hoàng Liên Sơn nằm giữa sông Hồng và sông Đà Các nhóm dựa vào bản đồ tự nhiên Việt Nam để nhận xét về chiều dài, độ cao của dãy núi, tìm vị trí và nêu đỉnh cao nhất ở dãy núi Hoàng Liên Sơn, đồng thời so sánh với
độ cao của các dãy núi khác ở nước ta trên bản đồ
+ Dãy Hoàng Liên Sơn cao đồ sộ, có đỉnh Phan-xi-păng là đỉnh cao nhất nước ta (3143m)
Quan sát dãy núi Hoàng Liên Sơn qua tranh, nêu các đặc điểm của đỉnh, sườn, thung lũng, độ cao
Trang 9Học sinh tự rút ra kết luận
+ Đỉnh núi nhọn như răng cưa
+ Sườn rất dốc
+ Thung lũng hẹp và sâu
+ Dãy núi Hoàng Liên Sơn cao, có đỉnh Phan – xi – păng rất cao
Từ kết quả trên, yêu cầu học sinh đưa ra khái niệm về dãy núi Hoàng Liên Sơn: “Dãy núi Hoàng Liên Sơn là dãy núi nằm giữa sông Hồng và sông Đà, cao, đồ sộ, có nhiều đỉnh nhọn, sườn dốc, thung lũng hẹp, sâu Đỉnh Phan – xi – păng cao nhất nước ta”
Như vậy, với biện pháp này giáo viên sẽ giúp học sinh nắm vững các kiến thức thông qua hệ thống tranh, ảnh trong sách giáo khoa một cách dễ dàng Các
em khai thác được những kiến thức cần phải lĩnh hội, từ đó giúp các em hình thành tốt hơn khái niệm, biểu tượng Địa lý của bài học đó
3.2 Củng cố khái niệm, biểu tượng địa lí thông qua khai thác tranh ảnh, băng hình sưu tầm.
Nếu hình thành biểu tượng, khái niệm Địa lý cho các em đơn thuần chỉ là những hình ảnh trong SGK thì kiến thức cung cấp cho học sinh chưa phong phú, chưa tạo được hứng thú tìm tòi, khám phá cho học sinh Vì thế khi hình thành biểu tượng, khái niệm Địa Lý ngoài tìm hiểu nội dung kiến thức tranh ảnh trong SGK giáo viên cần sưu tầm một số tranh ảnh, những đoạn clip phục vụ cho nội dung kiến thức mà các em cần tìm hiểu hoặc cần củng cố, làm phong phú thêm nội dung bài học cũng là cho các em dễ hiểu, dễ tiếp thu bài học
Ví dụ: Khi dạy bài Một số dân tộc ở Tây Nguyên:
Sau khi học sinh tìm hiểu về trang phục lễ hội xong giáo viên sẽ trình chiếu cho học sinh xem thêm một số hình ảnh sưu tầm về trang phục và lễ hội ở nơi đây kết hợp với lời giới thiệu của giáo viên để cho học sinh nhận biết rõ hơn
Trang 10
Như vậy, trong tất cả các bài học học giáo viên có thể sử dụng tranh ảnh, băng đĩa sưu tầm để cung cấp nhiều thong tin bổ ích cho học sinh, đồng thời cũng làn sáng tỏ các nội dung kiến thức trong bài học Tăng sự hiểu biết thực tế cho học sinh Ngoài ra còn nhằm giúp các em củng cố sâu hơn với những kiến thức vừa học
*Biện pháp 4: Hướng dẫn học sinh giải thích hiện tượng Địa lí và nắm vững mối quan hệ của chúng
Trong quá trình day học Địa lý phân tích mối quan hệ giữa yếu tố Địa Lý
là một bước rất quan trọng Nó không thể thiếu được trong quá trình giảng dạy
Vì thế giáo viên phải hướng dẫn học sinh biết xác lập mối quan hệ giữa các hiện tượng Địa Lý tự nhiên với tự nhiên, tự nhiên với kinh tế - xã hội, để các em thấy được sự tương quan, hỗ trợ giữa các yếu tố Địa Lý Mặt khác, các em sẽ làm quen với cách tìm nguyên nhân khi biết kết quả
Ví dụ: Khi dạy bài: Khai thác khoáng sản và hải sản ở vùng biển Việt Nam.
Sau khi tìm hiểu bài xong, yêu cầu hoạt động nhóm đôi hoàn thiện bảng kiến thức tổng hợp dưới đây
Vùng biển Việt Nam
Khai thác khoáng
sản
Sản phẩm:
Dầu mỏ và
khí đốt
Đánh bắt và nuôi trồng thuỷ sản
Sản phẩm:
Cát trắng
Sản phẩm: Tôm, bào ngư… Sản phẩm: Cá