1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN LƯU ĐỘNG TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG THƯƠNG MẠI SƠN VIỆT

52 358 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 52
Dung lượng 152,73 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Vốn lưu động hoàn thành một vòng tuần hoàn sau một chu kỳ kinh doanh.Muốn cho quá trình tái sản xuất được liên tục, doanh nghiệp phải có đủ tiền vốn đầu tư vào các hình thái khác nhau

Trang 1

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VỐN LƯU ĐỘNG VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG

VỐN LƯU ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP

1.1. Khái niệm vốn.

Các nhà kinh tế học cổ điển tiếp cận vốn với góc độ hiện vật Họ cho rằng, vốn là một trong những yếu tố đầu vào trong quá trình sản xuất kinh doanh Cách hiểu này phù hợp với trình độ quản lý kinh tế còn sơ khai – giai đoạn kinh tế học mới xuất hiện và bắt đầu phát triển

Theo một số nhà tài chính thì vốn là tổng số tiền do những người có cổ phần trong công

ty đóng góp và họ nhận được phần thu nhập chia cho các chứng khoán của công ty Như vậy, các nhà tài chính đã chú ý đến mặt tài chính của vốn, làm rõ được nguồn vốn cơ bản của doanh nghiệp đồng thời cho các nhà đầu tư thấy được lợi ích của việc đầu tư, khuyến khích họ tăng cường đầu tư vào mở rộng và phát triển sản xuất

Theo David Begg, Standley Fischer, Rudige Darnbusch trong cuốn “Kinh tế học”: Vốn là một loại hàng hoá nhưng được sử dụng tiếp tục vào quá trình sản xuất kinh doanh tiếp theo Có hai loại vốn là vốn hiện vật và vốn tài chính Vốn hiện vật là dự trữ các loại hàng hoá đã sản xuất ra các hàng hoá và dịch vụ khác Vốn tài chính là tiền mặt, tiền gửi ngân hàng Đất đai không được coi là vốn

Một số nhà kinh tế học khác cho rằng vốn bao gồm toàn bộ các yếu tố kinh tế được bố trí

để sản xuáat hàng hoá, dịch vụ như tài sản tài chính mà còn cả các kiến thức về kinh tế kỹ thuật của doanh nghiệp đã tích luỹ được , trình độ quản lý và tác nghiệp của các cán bộ điều hành cùng chất lượng đội ngũ công nhân viên trong doanh nghiệp, uy tín, lợi thế của doanh nghiệp

Một số quan điểm khác lại cho rằng vốn là giá trị đem lại giá trị thặng dư

Nhưng theo khái niệm trong giáo trình Tài chính doanh nghiệp thì khái niệm về vốn được chia thành hai phần: Tư bản (Capital) là giá trị mang lại giá trị thặng dư Vốn được quan tâm đến khía cạnh giá trị nào đó của nó mà thôi Bảng cân đối kế toán phản ánh tình hình tài chính của một doanh nghiệp tại một thời điểm Vốn được nhà doanh nghiệp dùng để đầu tư vào tài sản của mình Nguồn vốn là những nguồn được huy động từ đâu Tài sản thể hiện quyết định đầu tư của nhà doanh nghiệp; Còn về bảng cân đối phản ánh tổng dự trữ của bản thân doanh nghiệp dẫn đến doanh nghiệp có dự trữ tiền để mua hàng hoá và dịch vụ rồi sản xuất và chuyển hoá, dịch vụ đó thàng sản phẩm cuối cùng cho đến khi dự trữ hàng hoá hoặc tiền thay đổi đó sẽ có một dòng tiền hay hàng hoá đi ra đó là hiện tượng xuất quỹ, còn khi xuất hàng hoá ra thì doanh nghiệp sẽ thu về dòng tiền (phản ánh

Trang 2

nhập quỹ và biểu hiện cân đối của doanh nghiệp là ngân quỹ làm cân đối dòng tiền trong doanh nghiệp).

Một số quan niệm về vốn ở trên tiếp cận dưới những góc độ nghiên cứu khác nhau, trong những điều kiện lịch sử khác nhau Vì vây, để đáp ứng đầy đủ yêu cầu về hạch toán và quản lý vốn trong cơ chế thị trường hiện nay, có thể khái quát vốn là một phần thu nhập quốc dân dưới dạng vật chất và tài sản chính được các cá nhân, tổ chức bỏ ra để tiến hành kinh doanh nhằm mục đích tối đa hoá lợi nhuận

1.1.1. Phân loại vốn.

a Căn cứ theo nguồn hình thành vốn

-Vốn chủ sở hữu:là số vốn góp do chủ sở hữu, các nhà đầu tư đóng góp Số vốn này không phải là một khoản nợ, doanh nghiệp không phải cam kết thanh toán, không phải trả lãi suất Tuy nhiên, lợi nhuận thu được do kinh doanh có lãi của doanh nghiệp đẽ được chia cho các cổ đông theo tỷ lệ phần vốn góp cho mình Tuỳ theo loại hình doanh nghiệp, vốn chủ sở hữu được hình thành theo các cách thức khác nhau Thông thường nguồn vốn này bao gồm vốn góp và lãi chưa phân phối

- Vốn vay: là khoản vốn đầu tư ngoài vốn pháp định được hình thành từ nguồn đi vay, đi chiếm dụng của các tổ chức, đơn vị cá nhân và sau một thời gian nhất định, doanh nghiệp phải hoàn trả cho nguời cho vay cả lãi và gốc Phần vốn này doanh nghiệp được sử dụng với những điều kiện nhất định (như thời gian sử dụng, lãi suất, thế chấp ) nhưng không thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp Vốn vay có hai loại là vốn vay ngắn hạn và vốn vay dài hạn

b Căn cứ theo thời gian huy động vốn

- Vốn thường xuyên: là nguồn vốn có tính chất ổn định và dái hạn mà doanh nghiệp có thể sử dụng để đầu tư vao ftài sản cố định và một bộ phận tài sản lưu động tối thiểu thường xuyên cần thiết cho hoạt động doanh nghiệp Nguồn vốn này bao gồm vốn chủ sở hữu và vốn vay dài hạn của doanh nghiệp

- Vốn tạm thời: là nguồn vốn có tính chất ngắn hạn (dưới 1 năm) mà doanh số có thể sử dụng để đap sứng nhu cầu có tính chất tạm thời, bất thường phát sinh trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Nguồn vốn này bao gồm các khoản vay ngắn hạn và các khoản chiếm dụng của bạn hàng

c Căn cứ theo công dụng kinh tế của vốn

Trang 3

- Vốn cố định: là một bộ phận đầu tư ứng trước về tài sản cố định và tài sản đầu tư cơ bản,

mà đặc điểm luân chuyển từng phần trong nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh và hoàn thành một vòng tuần hoàn khi tài sản cố định hết thời gian sử dụng

Quy mô của vốn cố định quyết định quy mô của tài sản cố định nhưng các đặc điểm của tài sản cố định lại ảnh hưởng đến sự vận động và công tác quản lý cố định Muốn quản lý vốn cố định một cách hiệu quả thì phải quản lý sử dụng tài sản cố định một cách hữu hiệu

Vốn lưu động: là số tiền ứng trước về tài sản lưu động và tài sản lưu thông nhằm đảm bảo cho quá trình tái sản xuất của doanh nghiệp được thực hiện thường xuyên liên tục

Tài sản lưu động là những tài sản ngắn hạn, thường xuyên luân chuyển trong quá trình kinh doanh Tài sản lưu động tồn tại dưới dạng dự trữ sản xuất (nguyên vật liệu, bán thành phẩm, công cụ, dụng cụ ) sản phẩm đang trong quá trình sản xuất (sản phẩm dở dang), thành phẩm, chi phí tiêu thụ, tiền mặt trong giai đoạn lưu thông Trong bảng cân đối tài sản của doanh nghiệp thì tài sản lưu động chủ yếu được thể hiện ở các bộ phận là tiền mặt, các chứng khoán có thanh khoản cao, các khoản phải thu và dự trữ tồn kho

Giá trị của các loại tài sản lưu động của doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thường chiếm

từ 25% đến 50% tổng giá trị tài sản của chúng Vì vậy, quản lý và sử dụng vốn lưu động hợp lý có ảnh hưởng rất quan trọng đến việc hoàn thành nhiệm vụ chung của doanh nghiệp, trong đó có công tác nâng cao hiệu quả sử dụng vốn

1.2 Vốn lưu động và doanh nghiệp.

1.2.1.Khái niệm, đặc điểm VLĐ của doanh nghiệp.

Mỗi một doanh nghiệp muốn tiến hành sản xuất kinh doanh ngoài tài sản cố định còn phải

có tài sản lưu động tùy thoe loại hình doanh nghiệp mà cơ cấu của tài sản lưu động khác nhau Tuy nhiên đối với doanh nghiệp sản xuất tài sản lưu động được cấu thành hai bộ phận là tài sản lưu động sản xuất và tài sản lưu thông

- Tài sản lưu động sản xuất, bao gồm:

+ Nguyên liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu, …là những vật tư dự trữ để đảm bảo cho sản xuất được liên tục

+ Những sản phẩm dở dang, bán thành phẩm … là những sản phẩm đang trong quá trình sản xuất

Trang 4

- Tài sản lưu động lưu thông, bao gồm: những TSLĐ nằm trong quá trình lưu thông của doanh nghiệp như: Thành phẩm trong kho chờ tiêu thụ, vốn bằng tiền, vốn trong thanh toán

- Tài sản lưu động sản xuất và TSLĐ lưu thông luôn luân chuyển, luôn thế chỗ cho nhau, vận động không ngừng giúp cho quá trình sản xuất được diễn ra liên tục và thuận lợi Chính vì thế, doanh nghiệp luôn cần có một số lượng TSLĐ nhất định Nguồn vốn tài trợ cho loại tài sản này được gọi là VLĐ Từ đó ta thấy, VLĐ là số vốn ứng ra để hình thành nên các TSLĐ nhằm đảm bảo cho quá trình kinh doanh của doanh nghiệp được thực hiện thường xuyên, liên tục VLĐ luân chuyển toàn bộ giá trị ngay trong một lần và được thu

hồi toàn bộ, hoàn thành một vòng luân chuyển khi kết thúc một chu kỳ kinh doanh.

-Đối với doanh nghiệp sản xuất, VLĐ vận động theo sơ đồ sau:

T – H – H’ – T’

Tức là, VLĐ từ hình thái ban đầu là tiền được chuyển hóa sang hình thái vật tư dự trữ, sản phẩm dở dang, thành phẩm hàng hóa, khi kết thúc quá trình tiêu thụ lại trở về hình thái ban đầu là tiền

trình tự sau:

T – H – T’

Tức là, VLĐ từ hình thái vốn bằng tiền chuyển hóa sang hình thái hàng hóa và cuối cùng chuyển về hình thái tiền Quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra liên tục không ngừng nên sự tuần hoàn của VLĐ cũng diễn ra có tính chất chu kỳ tạo thành

sự chu chuyển của VLĐ

Vốn lưu động bị chi phối bởi các đặc điểm của TSLĐ nên nó mang những đặc điểm:

sau mỗi chu kỳ kinh doanh

Trang 5

- Vốn lưu động hoàn thành một vòng tuần hoàn sau một chu kỳ kinh doanh.

Muốn cho quá trình tái sản xuất được liên tục, doanh nghiệp phải có đủ tiền vốn đầu tư vào các hình thái khác nhau của VLĐ, khiến cho các hình thái có được mức tồn tại hợp lý và động bộ với nhau Như vậy sẽ tạo điều kiện cho chuyển hóa hình thái của vốn trong quá trình luân chuyển được thuận lợi, góp phần tăng tốc độ luân chuyển VLĐ, tăng hiệu suất sử dụng VLĐ và ngược lại

Vốn lưu động còn là công cụ phản ánh, đánh giá quá trình vận động của vật tư Trong doanh nghiệp sự vận động của vốn phản ánh sự vận động của vật tư Số VLĐ nhiều hay ít là phản ánh số lượng vật tư, hàng hóa dự trữ sử dụng ở các khâu nhiều hay ít VLĐ luân chuyển nhanh hay chậm còn phản ánh số lượng sử dụng kiết kiệm hay không Thời gian nằm ở khâu sản xuất và lưu thông có hợp lý hay không Bởi vậy, thông qua tình hình luân chuyển VLĐ có thể kiểm tra, đánh giá một cách kịp thời đối với các mặt mua sắm, dự trữ, sản xuất và tiêu thụ sản phẩm dịch vụ của doanh nghiệp

1.2.2.Phân loại VLĐ.

1.2.2.1 Phân loại theo hình thái biểu hiện và khả năng hoán tệ của vốn thì VLĐ

được chia thành 2 loại:

+ Vốn bằng tiền gồm: Tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng và tiền đang chuyển Tiền là một loại tài sản có tính linh hoạt cao, doanh nghiệp có thể dễ dàng chuyển đổi thành các loại tài sản khác hoặc để trả nợ Do vậy, trong hoạt động SXKD đòi hỏi mỗi doanh nghiệp cần phải một lượng tiền cần thiết nhất định

+ Các khoản phải thu: Chủ yếu là các khoản phải thu từ khách hàng thể hiện ở số tiền mà các khách hang nợ doanh nghiệp phát sinh trong quá trình bán hàng, cung ứng dịch vụ dưới hình thức bán trước trả sau Ngoài ra, với một số trường hợp còn có thể phải ứng tiền trước mua hàng cho người cung cấp, từ đó hình thành nên khoản tạm ứng

Trang 6

 Vốn về HTK (hàng tồn kho)

Trong doanh nghiệp sản xuất vốn vật tư hàng hóa gồm: Vốn về vật tư dự trữ, vốn sản phẩm dở dang, vốn thành phẩm Các loại này được gọi chung là vốn về HTK Theo cách phân loại này giúp cho các doanh nghiệp xem xét, đánh giá mức tồn kho dự trữ và KNTT của doanh nghiệp

1.2.2.2 Dựa vào vai trò của VLĐ đối với quá trình SXKD

vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu, phụ tùng thay thế, công cụ dụng cụ

+ Vốn về NVL chính là các loại vật tư dự trữ dùng trong sản xuất khi tham gia vào quá trình sản xuất để tạo ra thực thể của sản phẩm hàng hoá

+Vật liệu phụ là các loại vật tư dự trữ dùng trong sản xuất góp phần hoàn thành sản phẩm chứ nó không hợp thành thực thể chủ yếu của sản phẩm,

+Vốn về nhiên liệu là các loại nhiên liệu dự trữ có giá trị dùng trong sản xuất chế tạo sản phẩm

+Vốn phụ tùng thay thế bao gồm giá trị các loại phụ tùng dùng để thay thế mỗi khi sửa chữa TSCĐ

+Vốn công cụ dụng cụ là giá trị các tư liệu lao động có giá trị thấp thời gian sử dụng ngắn, không đủ tiêu chuẩn là TSCĐ

sản xuất cho đến khi tạo ra sản phẩm, bao gồm:

+ Vốn sản phẩm dở dang: là giá trị những sản phẩm dở dang trong quá trình sản xuất xây dựng hoặc đang nằm trên dây chuyền chờ sản xuất chế biến tiếp

+Vốn bán thành phẩm: là giá trị các sản phẩm dở dang đã hoàn thành một trong nhiều giai đoạn chế biến nhất định nhưng chưa thành phẩm

Trang 7

+Vốn chi phí trả trước: Là những khoản chi phí đã chi ra trong kỳ nhưng có tác dụng cho nhiều kỳ sản xuất tiếp theo vì vậy mà chưa tính hết chi phí vào một kỳ và sẽ được phân bổ dần vào chi phí cho các kỳ tiếp theo.

cho đến khi tiêu thụ hết sản phẩm thu được tiền bán hàng như:

+ Vốn thành phẩm: là biểu hiện bằng tiền của số sản phẩm hoàn thành nhập kho và đang chuyển bị cho việc tiêu thụ sản phẩm

+ Vốn bằng tiền: bao gồm các khoản tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng …

+ Vốn trong khâu thanh toán: đó là những khoản phải thu, khoản tạm ứng phát sinh trong quá trình mua bán vật tư hàng hoá và thanh toán nội bộ

+ Vốn về các khoản đầu tư ngắn hạn và các khoản thế chấp, ký quỹ ngắn hạn

Cách phân loại này giúp cho ta thấy được vai trò và sự phân bổ của VLĐ trong từng khâu trong quá trình sản xuất, từ đó có biện pháp điều chỉnh cơ cấu vốn hợp lý và đem lại hiệu quả cao nhất

1.2.3.Nhu cầu VLĐ và các phương pháp xác định nhu cầu VLĐ của doanh nghiệp 1.2.3.1.Nhu cầu VLĐ.

Quá trình kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra thường xuyên liên tục tạo thành chu

kỳ kinh doanh Chu kỳ kinh doanh của một doanh nghiệp là thời gian trung bình cần thiết

để thực hiện việc mua sắm, dự trữ vật tư, sản xuất ra sản phẩm và bán được sản phẩm, thu tiền bán hàng Gồm ba giai đoạn:

Giai đoạn mua sắm và dự trữ vật tư: Trong giai đoạn này, doanh nghiệp có thể bỏ tiền ra

để trả tiền cho vật tư, thiết bị doanh nghiệp mua sắm hoặc cũng có thể mua trước trả sau, tức là các nhà cung ứng vật tư đã cung cấp cho doanh nghiệp một khoản tín dụng thương mại để tài trợ nhu cầu VLĐ

Trang 8

1. Giai đoạn sản xuất: Trong giai đoạn này, doanh nghiệp dùng các vật tư đã mua sắm

từ giai đoạn trước để chuyển hóa qua các hình thái sản phẩm dở dang Lúc này doanh nghiệp cũng phải ứng ra một lượng VLĐ nhất đinh

đoạn sản phẩm, doanh nghiệp bắt đầu thực hiện việc bán hàng Trường hợp doanh nghiệp bán hàng thu tiền ngay thì doanh nghiệp sẽ có được một khoản tiền để bổ sung vào VLĐ để tiếp tục đầu tư vào hoạt động SXKD Trường hợp doanh nghiệp bán hàng không thu tiền ngay tức là cấp cho khách hàng một khoản tín dụng trả sau, cho tới lúc doanh nghiệp thu được tiền thì mới thu hồi được số vốn ứng ra

Chính các giai đoạn trong chu kỳ kinh doanh đã tạo ra nhu cầu VLĐ của doanh nghiệp Nhu cầu VLĐ là số vốn tiền tệ cần thiết doanh nghiệp phải trực tiếp ứng ra để hình thành một lượng dự trữ HTK và khoản cho khách hàng nợ sau khi đã sử dụng khoản tín dụng của nhà cung cấp và các khoản nợ phải trả khác có tính chát khu kỳ (tiền lương phải trả, tiền thuế phải nộp…) Xác định nhu cầu VLĐ theo công thức sau:

Nhu cầu

Mức dự trữ HTK +

Khoản phải thu từ khách hàng

Nhu cầu VLĐ thường xuyên ở mức cần thiết thấp nhất đảm bảo cho quá trình sản xuất của doanh nghiệp được tiến hành bình thường liên tục Do vậy xác định đúng đắn nhu cầu VLĐ thường xuyên cần thiết là một nội dung quan trọng của hoạt động tài chính doanh nghiệp

Trang 9

Xác định nhu cầu vốn lưu thông là cơ sở quan trọng để doanh nghiệp tổ chức tốt các nguồn vốn, đảm bảo nhu cầu vốn một cách kịp thời đầy đủ cho hoạt động sản xuất Nếu xác định nhu cầu vốn quá cao, doanh nghiệp sẽ không khai thác được khả năng tiềm tàng của mình về vốn, không khuyến khích doanh nghiệp tìm những biện pháp để cải tiến hoạt động kinh doanh này nên tình trạng đầu tư thừa ứ đọng về vốn, sử dụng tăng phí vật tư dự trữ, thành phẩm tồn đọng trong kho phát sinh những chi phí không cần thiết, làm tăng giá thành, giảm hiệu quả sử dụng vốn.

Ngược lại, nếu doanh nghiệp xác định nhu cầu VLĐ quá thấp sẽ gây nên tình trạng thiếu vốn giả tạo, gây căng thẳng về vốn, tốc độ sản xuất bị ngừng trệ do thiếu vốn, doanh nghiệp thiếu vốn sẽ phải đi vay đột xuất với những điều kiện nặng nề về lãi suất do đó làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp Quan trọng hơn doanh nghiệp thiếu vốn sẽ không thực hiện được các hợp đồng kinh tế đã ký kết, không có KNTT, từ đó mất uy tín trong quan hệ mua bán, không giữ được khách hàng

Xác định đúng nhu cầu VLĐ là căn cứ để kiểm tra tình hình VLĐ của doanh nghiệp trong` quá trình SXKD và tạo cơ sở cho việc luân chuyển VLĐ được thuận lợi Mặt khác, xác định đúng nhu cầu VLĐ còn là một trong những căn cứ để xác lập mọi quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với ngân hàng trong việc cập nhập VLĐ không phải là khi doanh nghiệp mới được thành lập Tuy nhiên nhu cầu VLĐ không phải là cố định mà thường có

sự biến động do nó chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố như: quy mô kinh doanh của doanh nghiệp, sự biến động của giá cả hàng hoá, trình độ tổ chức quản lý vốn…

Để xác định nhu cầu VLĐ thường xuyên cần thiết, doanh nghiệp có thể sử dụng các phương pháp khác nhau tuỳ thuộc vào điều kiện cụ thể của mình

1.2.3.2 Các phương pháp xác định VLĐ của doanh nghiệp:

Phương pháp trực tiếp xác định nhu cầu VLĐ thường xuyên của doanh nghiệp: Căn cứ vào các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến lượng VLĐ doanh nghiệp phải ứng ra để xác định nhu cầu VLĐ thường xuyên, xác định theo quy trình sau:

Trang 10

B1: Xác định nhu cầu vốn để dự trữ HTK cần thiết cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

B2: Xác định chính sách tiêu thụ sản phẩm và khoản tín dụng cung cấp cho khách hàng.B3: Xác định khoản phải trả cho nhà cung cấp

B4: Tổng hợp xác định nhu cầu VLĐ của doanh nghiệp

+)Ưu điểm: Xác định được nhu cầu cụ thể của từng loại vốn trong từng khâu kinh doanh

Do đó tạo điều kiện tốt cho việc quản ý, sử dụng vốn theo từng loại trong từng khâu sử dụng

+) Nhược điểm: Khi doanh nghiệp sử dụng nhiều loại vật tư thì sẽ phức tạp trong việc

xác định

Phương pháp gián tiếp xác định nhu cầu VLĐ thường xuyên của doanh nghiệp: Là phương pháp dựa vào thống kê kinh nghiệm để xác định nhu cầu vốn, theo 2 trường hợp sau:

TH1: Dựa vào kinh nghiệm thực tế của các doanh nghiệp cùng loại trong ngành để xác định nhu cầu vốn cho doanh nghiệp mình Để xác định nhu cầu VLĐ phải dựa vào doanh thu được rút từ thực tế hoạt động của các doanh nghiệp cùng loại trong ngành và quy mô kinh doanh dự kiến của doanh nghiệp mình để tính ra nhu cầu VLĐ cần thiết

TH2: Dựa vào tình hình thực tế sử dụng VLĐ ở thời kỳ vừa qua của doanh nghiệp để xác định nhu cầu chuẩn về VLĐ cho các thời kỳ tiếp theo theo các bước sau:

B1: Xác định số dư bình quân các khoản hợp thành nhu cầu VLĐ trong năm báo cáo, chú

ý loại trừ số liệu không hợp lý

B2: Xác định tỷ lệ các khoản trên so với DTT trong năm báo cáo, từ đó xác định tỷ lệ nhu cầu VLĐ so với DTT

B3: Xác định nhu cầu VLĐ cho kỳ kế hoạch

Trang 11

+)Ưu điểm: Phương pháp này tính toán đơn giản, không mất nhiều thời gian.

+)Nhược điểm: Độ chính xác của kết quả tính toán này bị hạn chế.

1.2.4.Nguồn hình thành VLĐ của doanh nghiệp.

1.2.4.1.Phân loại nguồn VLĐ.

+ Vốn chủ sở hữu : Là số VLĐ thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp,doanh nghiệp có đầy đủ các quyền chiếm hữu,sử dụng, chi phối và định đoạt Tùy theo các loại hình doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau VCSH (vốn chủ sở hữu) có nội dung cụ thể riêng như: vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước, vốn do chủ doanh nghiệp tư nhân tự bỏ

ra, vốn góp cổ phần trong công ty cổ phần, vốn tự bổ sung từ lợi nhuận doanh nghiệp… + Nợ phải trả: là các khoản VLĐ được hình thành từ vốn vay của các ngân hàng thương mại hoặc các tổ chức tài chính khác,vốn vay thông qua phát hành trái phiếu, các khoản nợ khách hàng chưa thanh toán, doanh nghiệp chỉ có quyền sử dụng trong một thời hạn nhất định

 Theo thời gian huy động và sử dụng vốn có thể chia nguồn VLĐ thành hai loại:

+ Nguồn VLĐ thường xuyên: Là nguồn có tính chất ổn định dùng tài trợ hay hình thành TSLĐ thường xuyên cần thiết

Nguồn VLĐ thường

Tổng nguồn vốn thường xuyên của doanh nghiệp

- Nợ ngắn hạn

Trang 12

+ Nguồn VLĐ tạm thời: Là nguồn vốn có tính chất ngắn hạn dưới một năm chủ yếu để đáp ứng các nhu cầu có tính chất tạm thời về VLĐ, bao gồm vay ngắn hạn ngân hàng, vay các tổ chức tín dụng và các khoản nợ ngắn hạn khác.

1.2.4.2.Các mô hình tài trợ VLĐ.

+) Mô hình tài trợ thứ nhất: Toàn bộ TSCĐ và TSLĐ thường xuyên được đảm bảo bằng nguồn vốn thường xuyên, toàn bộ TSLĐ tạm thời được đảm bảo bằng nguồn vốn tạm thời

- Lợi ích của áp dụng mô hình này là:

+ Giúp doanh nghiệp hạn chế được rủi ro trong thanh toán, mức độ an toàn cao hơn

+ Giảm bớt được chi phí trong sử dụng vốn

- Hạn chế trong sử dụng mô hình này:

+ Chưa tạo ra linh hoạt trong việc tổ chức sử dụng vốn

Trong thực tế, có khi doanh nghiệp gặp khó khăn về tiêu thụ, doanh nghiệp phải tạm thời giảm bớt quy mô kinh doanh, nhưng vẫn phải duy trì một lượng vốn thường xuyên khá lớn

+) Mô hình tài trợ thứ 2: Toàn bộ TSCĐ, TSLĐ thường xuyên và một phần của TSLĐ tạm thời được đảm bảo bằng nguồn vốn thường xuyên, và một phần của TSLĐ tạm thời còn lại được đảm bảo bằng nguồn vốn tạm thời

Sử dụng mô hình này, KNTT (khả năng thanh toán) và độ an toàn ở mức cao, tuy nhiên, doanh nghiệp phải sử dụng nhiều khoản vay dài hạn và trung hạn nên doanh nghiệp phải trả chi phí nhiều hơn cho việc sử dụng vốn, sự linh hoạt không có

+) Mô hình tài trợ thứ 3: Toàn bộ TSCĐ và một phần TSLĐ thường xuyên được đảm bảo bằng nguồn vốn thường xuyên, còn lại phần TSLĐ thường xuyên và toàn bộ TSLĐ tạm thời được đảm bảo bằng nguồn vốn tạm thời

Trang 13

Về lợi thế, mô hình này chi phí sử dụng vốn thấp hơn nhiều vì sử dụng nguồn vay ngắn hạn, việc sử dụng vốn cũng linh hoạt hơn nhiều Nhưng khi áp dụng mô hình này doanh nghiệp gặp nhiều rủi ro trong thanh toán tăng lên, tài chính không đảm bảo nguyên tắc cân bằng.

1.3 Hiệu quả sử dụng VLĐ của doanh nghiệp.

1.3.1.Khái niệm hiệu quả sử dụng VLĐ của doanh nghiệp.

Hiệu quả sử dụng VLĐ là chỉ tiêu chất lượng phản ánh tổng hợp những biện pháp quản

lý hợp lý về kỹ thuật, về tổ chức sản xuất cũng như quản lý toàn bộ các hoạt động khác của doanh nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả SXKD, thúc đẩy doanh nghiệp tăng trưởng và phát triển

VLĐ giữ một vai trò quan trọng trong tổng VKD, do đặc điểm VLĐ phát sinh và vận động hàng ngày thậm chí hàng giờ trong SXKD nên nó luôn được ưu tiên so với VCĐ Hiệu quả sử dụng VLĐ là mối quan hệ giữa kết quả đạt được trong quá trình khai thác sử dụng VLĐ vào hoạt động SXKD với lượng VLĐ mà doanh nghiệp bỏ ra

Để đảm bảo cho doanh nghiệp tiến hành sản xuất diễn ra một cách liên tục thì doanh nghiệp cũng cần phải có đủ một lượng VLĐ phù hợp để duy trì hoạt động đó

Một doanh nghiệp sử dụng VLĐ có hiệu quả thì lượng vốn ứ đọng trong mỗi khâu là thấp nhất, đồng thời giảm được chi phí sử dụng vốn, tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Hơn nữa sự chu chuyển của nguồn vốn nhanh hơn làm tăng lợi nhuận và doanh thu của công ty

Hiệu quả sử dụng vốn tốt thì nhu cầu vốn sẽ giảm, điều nay có nghĩa là các nguồn tài trợ cũng giảm công ty sẽ tiết kiệm được khoản chi phí sử dụng vốn nhưng quan trong hơn

là quá trình kinh doanh được liên tục duy trì năng lực hoạt động cũng như khả năng thu lợi nhuận trong năm

Nếu doanh nghiệp sử dụng vốn tốt có hiệu quả thì vòng quay vốn sẽ tăng lên, đây là

Trang 14

điều kiện để công ty tăng doanh thu, tăng lợi nhuận

1.3.2.Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng VLĐ của doanh nghiệp.

1.3.2.1.Tốc độ luân chuyển VLĐ.

VLĐ luân chuyển càng nhanh thì hiệu suất sử dụng VLĐ của doanh nghiệp càng cao và ngược lại Tốc độ luân chuyển VLĐ của doanh nghiệp được đánh giá bằng hai chỉ tiêu là số lần luân chuyển (số vòng quay) và kỳ luân chuyển vốn

Số lần luân chuyển VLĐ phản ánh số vòng quay vốn được thực hiện trong một kỳ,

thường là một năm

Công thức:

Trong đó:

L: là số lần luân chuyển VLĐ trong kỳ

M: là tổng mức luân chuyển VLĐ trong kỳ

: là VLĐ bình quân trong kỳ (được xác định bằng phương pháp bình quân số học)

Kỳ luân chuyển VLĐ phản ánh số ngày bình quân cần thiết để thực hiện một vòng

quay của VLĐ, hay độ dài thời gian một vòng quay của VLĐ trong kỳ

Công thức:

Trong đó:

Trang 15

N: Số ngày trong kỳ được tính chẵn một năm là 360 ngày, một quý là 90 ngày, một tháng là 30 ngày.

M: là tổng mức luân chuyển VLĐ trong kỳ

: là VLĐ bình quân trong kỳ (được xác định bằng phương pháp bình quân số học)

Vòng quay VLĐ càng nhanh thì kỳ luân chuyển VLĐ càng được rút ngắn và chứng

tỏ VLĐ càng được sử dụng có hiệu quả

Việc tăng vòng quay VLĐ có ý nghĩa kinh tế rất lớn có thể giúp doanh nghiệp giảm được VLĐ cần thiết, tiết kiệm được VLĐ

1.3.2.2 Mức tiết kiệm VLĐ do tăng tốc độ luân chuyển vốn:

Chỉ tiêu này phản ánh số VLĐ có thể tiết kiệm được do tăng tốc độ luân chuyển VLĐ ở kỳ này so với kỳ trước

Trang 16

Số dư bình quân của vật tư hàng hoá tồn kho trong kỳ: phản ánh giá trị bình quân giữa hai thời điểm đầu kỳ và cuối kỳ của khoản vật tư hàng hoá gồm: vật tư dự trữ sản xuất, vốn sản phẩm dở dang và vốn về hàng hoá thành phẩm chờ tiêu thụ

Cùng với chỉ số này ta có chỉ tiêu sau với ý nghĩa tương tự:

Số ngày một vòng quay HTK: Phản ánh số ngày trung bình của một vòng quay HTK

Công thức:

Trang 17

Số ngày một vòng

Số ngày trong kì

Số vòng quay hàng tồn kho

+ Về các khoản phải thu :

Số vòng quay

các khoản phải

thu

Số dư bình quân các khoản phải thu trong kỳ

Các khoản phải thu chủ yếu là giá trị các sản phẩm hàng hoá và dịch vụ mà khách hàng còn nợ doanh nghiệp, ngoài ra còn bao gồm các khoản trả trước cho người bán, các khoản phải thu trong nội bộ doanh nghiệp và các khoản phải thu khác

Hệ số này phản ánh tốc độ thu hồi các khoản công nợ của doanh nghiệp trong kỳ

là nhanh hay chậm

+ Kỳ thu tiền bình quân

Kì thu tiền trung bình phản ánh số ngày cần thiết để thu được các khoản phải thu Vòng quay các khoản phải thu càng lớn thì kì thu tiền trung bình càng nhỏ và ngược lại

Doanh thu thuần

Hệ số này phản ánh khả năng thu hồi vốn trong thanh toán của doanh nghiệp nhanh hay chậm, kỳ thu tiền càng ngắn thì khả năng thu hồi vốn trong thanh toán của doanh nghiệp càng nhanh

+ Các hệ số thanh toán:

Hệ số KNTT hiện thời:

Nợ ngắn hạn

Trang 18

Hệ số này phản ánh khả năng chuyển đổi tài sản thành tiền để trang trải cho các khoản nợ ngắn hạn hay là mức độ đảm bảo thanh toán các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp Hệ số này mà cao thì sẽ cho thấy doanh nghiệp có khả năng cao trong việc sẵn sàng thanh toán cho các khoản nợ đến hạn.

Mỗi doanh nghiệp khác nhau thì có các hệ số tài chính khác nhau, thậm chí ở một doanh nghiệp ở các thời điểm khác nhau cũng có hệ số tài chính khác nhau Do đó người ta coi hệ số tài chính là những biểu hiện đặc trưng nhất về tình hình tài chính của doanh nghiệp

1.3.3.Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng VLĐ trong doanh nghiệp.

1.3.3.1 Các nhân tố khách quan

Doanh nghiệp là một thực thể sống trong nền kinh tế, nó luôn tồn tại và phát triển dưới sự tác động của môi trường xung quanh và luôn tìm cách thích nghi với những quy luật trong môi trường đó, chính vì vậy mà mỗi nhà quản lý, mỗi chủ doanh nghiệp phải đề

ra những biện pháp, chính sách, kế hoạch SXKD phù hợp với điều kiện của doanh nghiệp

để khắc phục những điểm yếu và phát huy thế mạnh của mình

Trang 19

- Các nhân tố trong môi trường tự nhiên kinh tế:

Nhân tố này ảnh hưởng trực tiếp đến quyết định quy mô của VLĐ, nó tác động trực tiếp đến SXKD của doanh nghiệp Nếu một môi trường tự nhiên thuận lợi thì doanh nghiệp không cần dự trữ hoặc dự trữ vừa đủ để sản xuất, như vậy có thể làm giảm chi phí

và tăng lợi nhuận, ngược lại trong môi trường không thuận lợi thì doanh nghiệp phải tăng

dự trữ sẽ làm tăng rủi ro cho HTK

Trong nền kinh tế có lạm phát cao, sức mua của đồng tiền giảm dẫn đến sự gia tăng của vật tư hàng hoá thì VLĐ sẽ giảm dần theo tốc độ trượt giá của đồng tiền Ngược lại trong điều kiện giảm phát của nền kinh tế tức là nhu cầu về hàng hoá giảm, sản phẩm công ty sản xuất ra không bán được cùng với thời gian hàng hoá không giữ được nguyên giá trị, doanh nghiệp sẽ phải chịu bán lỗ để thu hồi vốn và không đạt được hiệu quả sử dụng VLĐ

- Tiến bộ khoa học kỹ thuật cũng có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nền kinh tế Khoa học kỹ thuật khi được ứng dụng vào SXKD nó

có thể tạo ra được nhiều sản phẩm hàng hoá với cùng một đơn vị thời gian và giảm được nhiều chi phí sản xuất làm hạ giá thành sản phẩm và làm tăng lợi nhuận của doanh nghiệp lên mức tối đa Chính vì vậy mà các doanh nghiệp cần phải áp dụng triệt để tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, làm tăng tính cạnh tranh trên thị trường về giá cả và chất lượng Ngược lại doanh nghiệp nào không tận dụng được điều đó thì đồng nghĩa với việc

tự làm mất tính canh tranh và tự đào thải ra khỏi nền kinh tế

Hệ thống pháp luật chính sách của nhà nước sẽ tác động đến toàn bộ nền kinh tế, chẳng hạn chính sách về thuế, chính sách giá trị gia tăng, chính sách cho vay có thể ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả kinh doanh cũng như hiệu quả sử dụng VLĐ trong doanh nghiệp, nó còn ảnh hưởng và tác động đến kế hoạch chiến lược lâu dài của doanh nghiệp như: mua sắm, nhập khẩu, dự trữ NVL…

Những nhân tố khác: ngoài những yếu tố nêu trên, hiệu quả hoạt động của doanh

Trang 20

nghiệp và cụ thể là hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp còn chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố khác như: Tác động của tỷ giá, tác động của yếu tự nhiên và môi trường, những biến động của yếu tố đầu vào như: số lượng, giá cả máy móc thiết bị , NVL…những biến động của yếu đầu ra như: khủng hoảng thừa, giảm đột ngột nhu cầu, sự mất uy tín của sản phẩm cùng loại

- Phân bổ vốn không hợp lý giữa các khâu là khâu mua sắm, dự trữ NVL, sản xuất và tiêu thụ Phải có sự phối hợp đồng bộ giữa ba khâu, đáp ứng cho công đoạn kế tiếp được thuận lợi, liên tục thì mới đảm bảo hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Nếu doanh nghiệp lãng phí vốn trong quá trình mua sắm thì sẽ thì sẽ thiếu vốn bổ xung cho các khâu tiếp theo, nhưng nếu đầu vào không đủ sẽ gây gián đoạn sản xuất và thiếu sản phẩm tiêu thụ

- Mua sắm vật tư hàng hoá không đảm bảo chất lượng, không phù hợp với quá trình sản xuất, sản phẩm làm ra sẽ không tiêu thụ được, nếu muốn tiêu thụ được thì doanh nghiệp phải hạ giá như vậy sẽ ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp

- Tổ chức thanh toán không tốt, công ty bán chịu cho khách hàng đây là hiện tượng rất phổ biến và là nguyên nhân gây ra ứ đọng nợ, vòng quay vốn chậm và hiệu quả sử dụng VLĐ không cao

Trang 21

- Khai thác nguồn vốn không hợp lý: để bù đắp sự thiếu hụt nhiều doanh nghiệp chưa biết khai thác tận dụng từ những nguồn có thể chiếm dụng, những nguồn tài trợ ngắn hạn mà lại đi vay các tổ chức kinh tế các ngân hàng thương mại với lãi suất cao Hơn nữa các khoan vay này chủ yếu là các khoản nợ ngắn hạn áp lực phải thanh toán nhanh đúng thời hạn và khi đúng hạn thì doanh nghiệp không có khả năng chi trả khiến cho doanh nghiệp mất khả năng tự chủ về tài chính, tác động xấu đến hiệu quả sử dụng VLĐ của công ty

- Do trình độ quản lý: Trình độ quản lý của doanh nghiệp là yếu kém dẫn đến thất thoát vật tư hàng hoá trong quá trình mua sắm, dự trữ, sản xuất và tiêu thụ sản phẩm gây

ra tình trạng sử dụng lãng phí VLĐ Công tác bảo quản sản phẩm không tốt làm cho hàng hoá bị hao hụt, mất mát nên hiệu quả sử dụng vốn thấp

- Kinh doanh thua lỗ kéo dài làm cho VLĐ bị thâm hụt sau mỗi chu kỳ kinh doanh, điều này ảnh hưởng trực tiếp làm giảm hiệu quả sử dụng VLĐ của doanh nghiệp

Trên đây là những nhân tố chủ yếu có tác động tới hiệu quả sử dụng VLĐ của doanh nghiệp Dựa trên các nhân tố tác động, doanh nghiệp cần nghiên cứu, xem xét kĩ lưỡng ảnh hưởng của chúng từ đó tìm ra đường lối đúng đắn trong việc huy động và sử dụng VLĐ

1.3.4 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng VLĐ trong doanh nghiệp.

Dựa trên các phân tích trên đây về VLĐ, hiệu quả sử dụng VLĐ, cũng như các nhân tố ảnh hưởng, có thể đưa ra một vài giải pháp sau đây

Một là, xác định đúng đắn nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp Xác định đúng đắn

nhu cầu vốn lưu động thường xuyên cần thiết là một biện pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động Hơn nữa trong điều kiện các doanh nghiệp chuyển sang

Trang 22

thực hiện hạch toán kinh doanh theo cơ chế thị trường, mọi nhu cầu về vốn lưu động cho sản xuất họ đều phải tự tài trợ thi điều này có ý nghĩa quan trọng và thể hiện trên các mặt sau:

Tránh được tình trạng ứ đọng vốn giúp sử dụng vốn hợp lý và tiết kiệm

Không gây nên căng thẳng giả tạo về nhu cầu vốn kinh doanh

Khi xác định nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp cũng cần thấy rằng vốn lưu động của doanh nghiệp là một đại lượng không cố định và chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố như:

- Quy mô sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong từng thời kỳ

- Sự biến động giá cả của các loại vật tư hàng hóa mà doanh nghiệp sử dụng

- Chính sách chế độ về lao động và tiền lương đối với người lao động trong doanh nghiệp

- Trình độ tổ chức quản lý sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp trong quá trình dự trữ, sản xuất tiêu thụ sản phẩm

Vì vậy, để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động, giảm thấp tương đối nhu cầu vốn lưu động không cần thiết thì các doanh nghiệp cần tìm biện pháp phù hợp tác động đến các nhân tố ảnh hưởng trên sao cho có hiệu quả nhất

Để xác định nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp có thể sử dụng các phương pháp khác nhau Tùy theo điều kiện cụ thể doanh nghiệp có thể lựa chọn cho mình phương pháp thích hợp Một số phương pháp chủ yếu được sử dụng là:

- Phương pháp ước tính nhu cầu vốn lưu động bằng tỷ lệ phần trăm trên doanh thu:

Đây là một phương pháp dự đoàn nhu cầu vốn lưu động tương đối đơn giản và dễ làm Phương này được tiến hành qua 3 bước cơ bản sau:

Trang 23

Bước 1: Chọn các khoản mục vốn lưu động chịu sự tác động trực tiếp và có quan hệ chặt chẽ với doanh thu rồi tính tỷ lệ % của các khoản mục đó so với doanh thu thực hiện được trong năm báo cáo.

Bước 2: Dùng tỷ lệ % đó để ước tính nhu cầu vốn lưu động sản xuất kinh doanh cho năm kế hoạch trên cơ sở doanh thu dự kiến năm kế hoạch

Bước 3: Dự định huy động nguồn trang trải nhu cầu tăng vốn sản xuất kinh doanh trên

cơ sở kết quả kinh doanh năm kế hoạch

Hai là, quản trị tốt tình hình công nợ và KNTT Trên góc độ là khách hàng với các

khoản đi chiếm dụng vốn của các tổ chức khác, doanh nghiệp phải đảm bảo thực hiện đúng cam kết cũng như tiến hành trả nợ đúng hạn, đảm bảo uy tín và giữ vững các quan

hệ với khách hàng Trên góc độ là chủ nợ, doanh nghiệp phải kết hợp chính sách tín dụng, uy tín của bạn hàng với tình hình thực tế tại doanh nghiệp, đảm bảo cân đối khoản phải trả với khoản phải thu Để làm tốt công tác này, đòi hỏi doanh nghiệp phải thực hiện phân loại nợ, theo dõi chi tiết các số dư nợ của từng khách hàng, đôn đốc khách hàng thanh toán đúng hạn Để đề phòng rủi ro doanh nghiệp nên mua bảo hiểm và lập quỹ dữ trữ dự phòng tài chính một cách hợp lý

Hai là, quản lý có hiệu quả và giảm thiểu chi phí HTK Dự trữ HTK trong doanh

nghiệp với mức hợp lý, tránh tình trạng ứ đọng HTK hay thiếu hụt gây ra gián đoạn Ngoài ra cần tính toán chính xác chu kỳ HTK, kết hợp với chi phí lưu trữ và đặc điểm kinh doanh của doanh nghiệp để sắp xếp và có những điều chỉnh kịp thời, hợp lý, tiết kiệm và hiệu quả Đồng thời doanh nghiệp cũng có thể thực hiện phòng ngừa rủi ro thông qua lập dự phòng giảm giá HTK, mua bảo hiểm hàng hoá

Đó là một số biện pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả tổ chức, sử dụng VLĐ của doanh nghiệp Tuy nhiên, trong thực tế các doanh nghiệp có điều kiện riêng, môi trường kinh doanh riêng cũng như lĩnh vực hoạt động riêng biệt Vấn đề này đặt ra cho công tác quản lý phải thật sự linh hoạt và sáng tạo thì mới có thể giúp doanh nghiệp đạt được mục

Trang 24

tiêu đã đặt ra là sử dụng VLĐ hiệu quả, qua đó góp phần nâng cao nguồn lợi nhuận thu được.

CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG SỬ DỤNG VLĐ VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VLĐ TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG THƯƠNG MẠI SƠN VIỆT

2.1 Khái quát về Công ty cổ phần đầu tư xây dựng thương mại Sơn Việt

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty cổ phần đầu tư xây dựng thương mại Sơn Việt

Tên công ty viết bằng tiếng việt: Công ty cổ phần đầu tư xây dựng thương mại Sơn Việt

Trang 25

Tên công ty viết bằng tiếng nước ngoài: SON VIET TRADING CONSTRUCTION INVESTMENT JOINT STOCK COMPANY

- Với sự giúp đỡ của UBND thành phố Hà Nội và Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố

Hà Nội, Công ty cổ phần đầu tư xây dựng thương mại Sơn Việt được thành lập theo Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 0102982732 được ký ngày 20 tháng 10 năm 2008 - Người đại diện theo pháp luật của công ty là Phạm Gia Định - Chức vụ: Giám đốc của công ty cổ phần đầu tư xây dựng thương mại Sơn Việt

- Năm 2008, khi công ty mới được thành lập và đi vào hoạt động, do nguồn vốn kinh doanh còn hạn chế, công ty phải thuê địa điểm hoạt động và quy mô nhỏ, số lượng công nhân viên còn ít

- Do sự năng động, sáng tạo và nắm bắt đúng cơ hội kinh doanh, Ban giám đốc công

ty đã quyết định đầu tư và mở rộng quy mô hoạt động sản xuất kinh doanh, tạo công ăn việc làm cho hàng trăm lao động

- Do xác định đúng hướng phát triển, công ty đã không ngừng đẩy mạnh sự phát triển cùng xã hội, sự cạnh tranh trong cơ chế thị trường, và trải qua nhiều khó khăn để tự khẳng định mình hoà nhập với nền kinh tế thị trường nhằm mang lại lợi ích tốt cho công ty vì vậy mà lĩnh vực hoạt động của công ty ngày càng được mở rộng và gây dựng được

Trang 26

nhiều uy tín và khẳng định được vị trí của mình trên thị trường trong lĩnh vực xây dựng nói riêng và trong xã hội nói chung.

- Công ty gần 6 năm xây dựng và trưởng thành với phương trâm lấy uy tín chất lượng làm đầu thì Công ty đã có bước phát triển đáng kể Để thấy rõ hơn được quá trình phát triển của công ty chúng ta có thể dựa vào một số chỉ tiêu sau:

Từ bảng trên ta thấy doanh thu năm 2014 tăng hơn so với năm 2012 Lợi nhuận năm 2012 là 2,507,432,974 đồng nhưng đến năm 2014 lợi nhuận đạt 3,751,908,430 đồng Điều này, chứng tỏ Công ty đang có chiều hướng phát triển lớn mạnh, điều đó được thể hiện thông qua các chỉ tiêu như: Doanh thu thuần, lợi nhuận sau thuế

2.2.2 Chức năng nhiệm vụ của công ty

Các lĩnh vực kinh doanh.

- Xây dựng các công trình dân dụng, công nghiệp, giao thông, thuỷ lợi, thuỷ điện

- Sản xuất kết cấu kiện bê tông đúc sẵn

- Khai thác, sản xuất và kinh doanh vật liệu xây dựng

- Buôn bán, sửa chữa máy và thiết bị thi công phục vụ ngành xây dựng

- Đại lý mua, đại lý bán, ký gửi hàng hoá

- Dịch vụ sửa chữa, lắp đặt máy móc thiết bị

Ngày đăng: 10/12/2016, 12:59

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2. Kết quả hoạt động kinh doanh của công ty cổ phần đầu tư xây dựng - HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN LƯU ĐỘNG TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG THƯƠNG MẠI SƠN VIỆT
Bảng 2. Kết quả hoạt động kinh doanh của công ty cổ phần đầu tư xây dựng (Trang 32)
Bảng 2.3 Bảng cơ cấu và biến động  vốn lưu động của công ty cổ phần đầu tư xây - HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN LƯU ĐỘNG TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG THƯƠNG MẠI SƠN VIỆT
Bảng 2.3 Bảng cơ cấu và biến động vốn lưu động của công ty cổ phần đầu tư xây (Trang 34)
Bảng 2.5 Bảng Hệ số cơ cấu nguồn vốn của công ty cổ phần đầu tư xây dựng thương - HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN LƯU ĐỘNG TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG THƯƠNG MẠI SƠN VIỆT
Bảng 2.5 Bảng Hệ số cơ cấu nguồn vốn của công ty cổ phần đầu tư xây dựng thương (Trang 36)
Bảng 2.: Cơ cấu nguồn VLĐ của công ty cổ phần đầu tư xây dựng thương mại Sơn  Việt giai đoạn 2012-2014 - HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN LƯU ĐỘNG TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG THƯƠNG MẠI SƠN VIỆT
Bảng 2. Cơ cấu nguồn VLĐ của công ty cổ phần đầu tư xây dựng thương mại Sơn Việt giai đoạn 2012-2014 (Trang 38)
Bảng 2. : Nguồn tài trợ ngắn hạn của công ty cổ phần đầu tư xây dựng thương mại  Sơn Việt giai đoạn 2012-2014 - HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN LƯU ĐỘNG TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG THƯƠNG MẠI SƠN VIỆT
Bảng 2. Nguồn tài trợ ngắn hạn của công ty cổ phần đầu tư xây dựng thương mại Sơn Việt giai đoạn 2012-2014 (Trang 39)
Bảng 2.22 : Vòng quay các khoản phải thu của công ty cổ phần xây dựng đầu tư - HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN LƯU ĐỘNG TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG THƯƠNG MẠI SƠN VIỆT
Bảng 2.22 Vòng quay các khoản phải thu của công ty cổ phần xây dựng đầu tư (Trang 45)
Bảng 2.23: Vòng quay hang tồn kho của công ty cổ phần xây dựng đầu tư thương - HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN LƯU ĐỘNG TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG THƯƠNG MẠI SƠN VIỆT
Bảng 2.23 Vòng quay hang tồn kho của công ty cổ phần xây dựng đầu tư thương (Trang 46)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w