1. Trang chủ
  2. » Kỹ Thuật - Công Nghệ

KIỂM TOÁN NĂNG LƯỢNG :CÔNG TY CỔ PHẦN VIGLACERA HỮU HƯNG

53 566 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 53
Dung lượng 2,73 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thường để tận dụng lượng nhiệt này, người ta thường xếp sản phẩm mộc lên phía trên bề mặt lưng lò để sấy khô trước khi xếp vào lò nung, tận dụng thời gian và tiết kiệm nhiệt làm nóng lò

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỆN LỰC

KHOA QUẢN LÝ NĂNG LƯỢNG

BÁO CÁO KIỂM TOÁN NĂNG LƯỢNG TRONG CÔNG NGHIỆP ĐƠN VỊ KIỂM TOÁN :CÔNG TY CỔ PHẦN VIGLACERA HỮU HƯNG

GV HƯỚNG DẪN : NGUYỄN ĐÌNH TUẤN PHONG

NHÓM : 10

THÀNH VIÊN : Đặng Thị Vân Anh

Trần Thị Kiều Anh

Vũ Thị Nhàn Trần Thị Nhâm Nguyễn Thị Phượng

Hà Nội : 5/2016

Trang 2

- Đất sét sau khi ngâm ủ theo đúng thời gian quy định từ trại chứa được xúc

đổ vào thùng tiếp liệu để đưa vào công đoạn sơ chế Công đoạn sơ chế lần lượt gồm:

Tiếp liệu —> Tách đá —> Nghiền thô —> Nghiền tinh.

- Sau khi sơ chế nguyên liệu đất sét được đưa vào máy nhào trộn 2 trục để trộn với than cám đá nhằm đạt độ dẻo cần thiết để đưa qua máy đùn hút chân không đưa nguyên liệu vào khuôn để tạo ra sản phẩm gạch mộc (gạch chưa nung).

- Sản phẩm gạch mộc sau khi có hình dáng chuẩn được vận chuyển lên trại phơi để phơi tự nhiên hoặc sấy phòng trong trường hợp cần thiết cho đến khi sản phẩm đạt độ khô thích hợp.

- Xếp phôi sản phẩm gạch mộc lên xe goòng (đối với lò nung tuynel) xông – sấy trong lò nung trong một khoản thời gian nhất định, sau đó chuyển sang lò nung

để nung ở nhiệt độ khoảng 900 độ C, sau đó sản phẩm được làm nguội ngay trong lò cho ra thành phẩm.

- Sản phẩm sau khi nung được đưa ra lò, phân loại và vận chuyển vào bãi chứa thành phẩm.

Trang 3

Quy trình sản xuất gạch

Các loại công nghệ sản suất gạch

1.2. Phân tích công nghệ

Trang 4

1.2.1.Lò bao (lò bầu)

Lò bao có dạng hình ống nghiêng, lò được xây trên địa hình có độ dốc từ 15-25

độ Lò được ngăn ra thành từng căn hay được gọi là bao hoặc bầu thường có

khỏang 10-20 bao Chiều dài lò thay đổi tùy thuộc vào số bao, chiều rộng thường từ 6-8m Kích thước mỗi bao thường là cao 2 ?"2.5 m, dài 2-2,3m Giữa các bao được ngăn cách bằng một vách, phía dưới sát nền lò có những lỗ nhỏ (kích thước

10x20cm, 32 lỗ đối với lò có chiều rộng 8m) thông với bao trên gọi là răng lửa Khí thải và hơi nóng theo răng lửa thoát lên các bao bên trên Đầu thấp là nơi có bầu lửa, xuất phát chụm lửa và dần dần đốt lên các bao trên Bầu lửa (bao đầu tiên) còn gọi là căn bầu dùng để đốt củi xông làm nóng lò và làm khô sản phẩm, không chất sản phẩm, bao thứ 1 cũng không thể nung sản phẩm do chất lượng sản phẩm kém,

tỷ lệ lọai bỏ cao, chỉ có thể dùng nung gạch Sản phẩm được xếp từ ngăn thứ 2 trở lên Mỗi bao đều có cửa lò ở 2 bên khi xếp sản phẩm xong và bắt đầu giai đọan nung được bít kín chỉ chừa 2 lỗ nhỏ: một dùng để đưa nhiên liệu vào và một gọi là mắt lửa dùng để kiểm tra nhiệt bên trong lò và xem độ chảy của men để xác định kết thúc quá trình đốt Đốt lần lượt từ căn bầu (xông) thường 18-24 giờ, căn 1 khỏang 1-2,5 giờ, lần lượt từ căn 2,3 mỗi căn khỏang 3-4 giờ tùy lọai sản phẩm Đây là lọai

lò có nguồn đốt di động, sản phẩm cố định họat động theo nguyên tắc lửa đảo Thành và vòm lò được xây bằng vật liệu chịu lửa Khói và nhiệt được dẫn từ bao trước qua răng lửa đi thẳng lên trên vòm lò và quặt xuống nền lò Khi trong bao trước được nung ở nhiệt độ cao thì ở bao sau đang ở giai đọan nâng nhiệt độ, bao

kế tiếp đang ở giai đọan sấy.

1.2.2.Lò ống

Lò ống giống như lò bao nhưng không được ngăn ra thành từng căn như lò bao

mà thông suốt theo chiều dài của lò Các cửa dùng xếp sản phẩm vào và lấy ra cách nhau từ 2m-2,5m Khi chất đầy sản phẩm sẽ bít cửa lò và chừa lỗ nhỏ (0,2x0,2m) để

Trang 5

cho củi vào, cách khoảng 0,5-0,7m có một lỗ cửa Lò ống có ưu thế nung các lọai sản phẩm như chén, bát, tô, dĩa?

Đặc tính kỹ thuật như sau:

- Nhiên liệu: củi

- Sản phẩm được xếp cố định, nhiệt di động từ thấp lên cao, khí nóng được tận dụng

để sấy sản phẩm ở phần trên.

- Không có hệ thống kiểm tra nhiệt độ, nhiệt độ được kiểm tra bằng kinh nghiệm của thợ đốt lò.

- Lò được đốt gián đọan theo từng đợt sản phẩm

- Môi trường làm việc: nhiệt độ và nồng độ khí ô nhiễm cao do việc xếp dỡ sản phẩm thực hiện trong lòng lò khi lò chưa nguội hẳn và do các căn dưới đang được đốt khí thải (bụi và khói đen) thoát ra phía trên cũng như do khả năng cách nhiệt của thành lò kém Khí thải thoát tự nhiên, thoát ra từ lỗ đưa nhiên liệu vào và mắt lửa ở

2 cửa bên và thông lên các căn kế cận và thoát ra ngoài qua mái hiên.

- lò ống tận dụng được lượng nhiệt của căn đốt trước để sấy cho căn sau nhờ được thiết kế trên nền dốc 15-250 Tuy nhiên, có một lượng nhiệt lớn thất thoát qua cửa nạp liệu ở hai bên, ở trên đỉnh lò, ở thân lò và ở căn cuối khi hoàn tất chu trình đốt

lò Thường để tận dụng lượng nhiệt này, người ta thường xếp sản phẩm mộc lên phía trên bề mặt lưng lò để sấy khô trước khi xếp vào lò nung, tận dụng thời gian

và tiết kiệm nhiệt làm nóng lò, sản phẩm có thể được lấy ra sau khi bít cửa 48-72 giờ để chuẩn bị xếp sản phẩm mộc vào lò cho chu kỳ đốt kế tiếp, đôi khi lúc bắt đầu đốt những bao đầu tiên, các bao sau cùng vẫn chưa được lấy sản phẩm

1.2.3 Lò tuynel

Các lò hiện đại thường có lớp cách nhiệt dạng bông hoặc sợi rất tốt, lò có kết cấu kín và rất bền nhiệt cho phép tiết kiệm nhiên liệu và rút ngắn thời gian nung Nhiệt của khí thải được tận dụng để đốt nóng không khí cho quá trình nung

Sơ đồ hệ thống điều khiển lò nung tuynel

Trang 6

Màn hình giao diện SCADA là cầu nối giao diện giữa người và máy rất tối ưu trong việc cài đặt thông số, chỉnh định các thông số đặc trưng của từng loại sản phẩm đáp ứng đúng theo yêu cầu công nghệ giúp cho người vận hành không cần phải có trình độ giỏi để thay đổi các thông số công nghệ cho phù hợp với quá trình sản xuất nhưng vẫn đạt được hiệu quả tối đa nhất.

Trang 7

Lò tuynen có dạng đường hầm thẳng, có chế độ làm việc liên tục, sử dụng các dạng nhiên liệu khác nhau Sản phẩm nung được đặt trên các toa xe goòng chuyển động ngược chiều với chiều chuyển động của khí nóng Lò có kích cỡ rất khác nhau, dài

Trang 8

từ 25-150 m?Lò có những bộ phận hồi lưu và trộn khí, tránh sự phân lớp khí làm nhiệt độ lò không đồng đều Lò được chia làm 3 vùng: vùng đốt nóng, vùng nung và vùng làm nguội Không khí lạnh dần được đốt nóng lên sau khi làm nguội sản phẩm

và được chuyển sang vùng nung tham gia quá trình cháy Không khí nóng được chuyển sang vùng đốt nóng sấy khô sản phẩm mộc và đốt nóng dần chúng lên trước khi chuyển sang vùng nung Khói lò được thải ra ngòai qua ống khói nhờ quạt hút

Sự tuần hòan của khí thải cho phép tạo ra chế độ nhiệt và chế độ ẩm dịu hơn, làm cho nhiệt độ đồng đều trên tiết diện lò, giảm tác động có hại của không khí lạnh lọt vào

Nhiên liệu được nạp qua vòi phun (bec dầu) nếu sử dụng nhiên liệu lỏng thường là dầu FO Với lò tuynen dễ dàng có khả năng chuyển sang nhiên liệu gas.

Lò được xây bằng phần lớn vật liệu sản xuất trong nước, giá thành tương đối thấp nhưng vẫn cao hơn chi phí xây các lò truyền thống.

Tính năng kỹ thuật của lò nung tuynel:

- Nhiên liệu: dầu, gas, có thể sử dụng than đá;

- Sản phẩm di động, nhiệt cố định, dòng khí chuyển động ngược chiều sản phẩm

- Kiểm tra nhiệt độ của lò nung bằng can nhiệt, có thể cài đặt nhiệt theo yêu cầu;

- Chế độ đốt lò liên tục;

-Khí thải thoát qua ống khói nhờ quạt hút.

Lò nung tuynel thông thường có kich thước dài 94m, lò sấy dài 58- 62m, ống khói xây cao 25m Lượng khói thải ra được tận dụng tối đa để sử dụng nhiệt thừa của khói lò nung đư a đưa sang lò tuynel sấy mộc, nhằm tiết kiệm than Điều này khiến cho lượng bụi thải ra rất ít và nhiệt thải ra tới mức tối thiểu Nhiệt độ của khí thải khi ra khỏi lò sấy chỉ còn 40 - 500C, không ảnh hưởng tới sức khoẻ của người lao động.

1.2.4.Công nghệ sản xuất gạch nung bằng lò vòng Hoff-man (lò vòng):

Lò vòng có dạng một hầm (tuynel) hình vành khăn khép kín, có: vòm lò; các cửa

ra - vào sản phẩm ở bên cạnh hầm; hệ thống van khói và kênh khói ở trục tâm theo chiều dài hình vành khăn Theo chu vi lò, không có các vùng chức năng cố định Các vùng sấy, nung và làm nguội di chuyển vòng quang chu vi lò Thông thường mỗi lò

có 12 đến 36 buồng Mỗi buồng có một lối ra - vào kích thước khoảng 1,2m x 1,3m Vật liệu nung được xếp trực tiếp vào lò, trên nền lò và nằm cố định trong lò từ khi còn dạng mộc đến khi đã được nung thành gạch, còn ngọn lửa di chuyển liên tục vòng quanh lò (zôn nung di chuyển liên tục theo chu vi lò) Như vậy, phương thức sản xuất của các loại lò này là liên tục nhưng chế độ nhiệt lại gián đoạn đối với vùng nung Đối với từng khoang lò, chế độ nhiệt động của lò tương tự như lò đứng thủ công hoặc lò đứng liên tục Do chế độ khí động học trong lò là ngọn lửa chạy bao quanh theo vòng lò nên để ngọn lửa chạy được thì cần phải sử dụng ống khói cao, khoảng 60m để tạo lực hút hoặc sử dụng quạt hút công suất lớn Gần đây, một

số cơ sở đầu tư xây dựng một loại lò gọi là lò "Hoffman" cải tiến Đây là một biến thể của lò Hoffman Loại lò này có nguyên lý cấu tạo như lò Hoffman nhưng có một

số cải tiến về hệ thống kênh khói, van khói và vòm lò Vòm lò của lò "Hoffman cải

Trang 9

tiến" có thể là loại di động hoặc đơn giản hơn, có thể không có vòm xây mà chỉ phủ phía trên bằng một lớp xỉ than Về bản chất, đây là lò Hoffman (lò vòng).

Lò Hoffman (lò vòng) có chi phí nhiệt nung lớn, do phải chi phí nhiệt cho tường

lò, vòm lò, nền lò mỗi lần ngọn lửa đi qua Nói cách khác, zôn nung được hình thành theo chu kì chuyển động của ngọn lửa nên mỗi lần một vùng lò chuyển thành zôn nung đều phải chi phí nhiệt để đốt nóng vùng đó từ nhiệt độ môi trường lên đến nhiệt độ zôn nung, nhiệt nung gạch mộc, nhiệt cân bằng với nhiệt tổn thất ra môi trường (đối với lò tuynel - vì zôn nung cố định nên chỉ cần cung cấp nhiệt để cân bằng với lượng nhiệt tổn thất ra môi trường và nhiệt nung gạch mộc) Việc xếp mộc vào lò và dỡ gạch ra lò đều được thực hiện trong thân lò nên điều kiện làm việc của người lao động rất ô nhiễm (nóng và bụi) Tuy nhiên, do chi phí xây dựng lò

"Hoffman cải tiến" rất thấp nên một số chủ đầu tư lựa chọn loại lò này.

1.2.5.Công nghệ Bán Dẻo

Là công nghệ không dùng đất sét ruộngmà sử dụng nguyên liệu “gầy” gồm: các

loại đất đồi, đất bóc thải loại ở các mỏ, bìa than, than xít, xỉ lò nung, gạch ngói phế liệu, kể cả các chất thải rắn do phá dỡ nhà cửa, tường xây, ngói lợp…Ngay cả gạch ngói phế liệu, xỉ lò sau khi nung cũng được nghiền nhỏ và đưa quay trở lại vào dây chuyền nguyên liệu Như vậy, nhà máy sẽ không có phế liệu rắn thải loại như các nhà máy gạch Tuynen sản xuất theo công nghệ cũ.

Công nghệ Bán dẻo sử dụng hệ máy chuyên dùng đặc biệt để gia công chế biến các loại nguyên liệu “gầy” tạo thành “bài phối liệu” phù hợp cho từng loại sản phẩm gạch xây, ngói lợp, gạch lát nền khác nhau.

Với sản phẩm gạch xây (đặc hoặc rỗng) sẽ được tạo hình ở những hệ thống máy đặc biệt, sản phẩm mộc tạo hình ở độ ẩm thấp nên không cần hệ thống nhà kính, sân phơi mà được xếp bằng máy xếp tự động (hoặc bằng tay) lên xe goòng đưa thẳng vào lò sấy, lò nung Tuynel.

Công nghệ này hạn chế rất nhiều việc sử dụng lao động thủ công cùng với diện tích sân phơi nhà kính, không phụ thuộc vào thời tiết nên tiết kiệm thời gian, năng lượng, giảm phế liệu; có điều kiện tự động hoá, tăng năng suất lao động; đồng thời

có điều kiện tăng sản lượng, mở rộng qui mô nhà máy.

Công nghệ Bán dẻo sử dụng các loại lò sấy, lò nung Tuynel hoặc lò khe thanh lăn

để nung các loại sản phẩm khác nhau Các hệ thống lò sấy, lò nung được thiết kế riêng biệt phù hợp với từng “bài phối liệu”, từng loại sản phẩm khác nhau Song tất

cả các loại lò sấy, lò nung này đều được thiết kế ở mức độ tự động hoá cao, công nghệ tiên tiến, đảm bảo chất lượng sản phẩm, tiết kiệm nhiên liệu và giảm thiểu lao động thủ công.

Công nghệ Bán dẻo có ý nghĩa kinh tế xã hội rất lớn, chắc chắn khi được triển khai đầu tư đồng bộ và ở diện rộng sẽ mở ra một thời kỳ mới cho nghề làm gạch ngói nung ở Việt Nam, bởi nguyên liệu sử dụng là nguyên liệu gầy (chủ yếu là đất

Trang 10

đồi) có trữ lượng vô cùng lớn, giá rẻ Đồng thời còn sử dụng các loại nguyên liệu là phế thải, góp phần làm sạch môi trường.

2. Đặc thù tiêu thụ năng lượng

2.1 Thực trạng phát triển sản xuất gạch nung tại Việt Nam

Mười năm trở lại đây, kinh tế Việt Nam tăng trưởng với mức độ cao Theo

báo cáo của Tổng cục Thống kê cho biết tổng sản phẩm GDP năm 2013 ước tính tăng 5,42% so với năm 2012 Trong đó quý I tăng 4,76%; quý II tăng 5,00%; quý III tăng 5,54% và quý IV tăng 6,04% mức tăng trưởng năm 2013 tuy thấp hơn mục tiêu 5,5% đề ra nhưng cao hơn mức tăng 5,25% của năm 2012 và có tín hiệu phục hồi Trong mức tăng 5,42% của toàn nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,67%, đóng góp 0,48% Khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 5,43%, đóng góp 2,09%, khu vực dịch vụ tăng 6,56%, đóng góp 2,85%

Trong những năm gần đây tốc độ phát triển kinh tế cáo, tốc độ xây dựng tăng dẫn tới nhu cầu VLXD rất lớn, trong đó có vật liệu xây Theo số liệu thống kê năm

2009 trên toàn quốc đã sản xuất được khoảng 23 tỷ viên quy tiêu chuẩn (QTC); trong đó VLXKN khoảng 8%, gạch đất sét nung 92% (trong số gạch nung có gạch sản xuất bằng công nghệ lò tuynel chiếm 57%, lò thủ công chiếm 38%, các loại lò khác chiếm 5%)

Sản xuất gạch để phục vụ xây dựng là nghề truyền thống của một bộ phận

người dân, góp phần giải quyết việc làm cho hàng trăm lao động Theo thống kê, hiện nay cả nước có khoảng hơn 9.000 xí nghiệp sản xuất gạch ngói Các tỉnh thành đều đang tồn tại và duy trì mô hình sản xuất gạch ngói Nhiều địa phương còn phát triển mạnh nghề này Bình quân, mỗi năm các cơ sở sản xuất trên 110 triệu viên gạch ngói các loại, tiêu biểu là các tỉnh miền Đông Bắc Bộ, Trung Bộ, Tây Nguyên

và một số tỉnh Tây Bắc…(Hoàng Thị Thảo, 2012)

Theo số liệu thống kê năm 2009 trên toàn quốc đã sản xuất được khoảng 23

tỷ viên quy tiêu chuẩn; trong đó vật liệu xây không nung (VLXKN) khoảng 8%, gạch đất sét nung 92% (trong số gạch nung có gạch sản xuất bằng công nghệ lò tuynel chiếm 57%, lò thủ công chiếm 38%, các loại lò khác chiếm 5%) (Bộ xây dựng, 2013)

Điều tra sơ bộ của Hội Xây dựng Việt Nam đưa ra: năm 2000 sản lượng

gạch nung khoảng 12 tỷ viên, năm 2007 sản lượng gạch là 22 tỷ viên Năm sản lượng gạch đất nung năm 2011 của cả nước vào khoảng 20,9 tỷviên, chiếm 83,7% vật liệu xây; trong đó sản lượng gạch sản xuất bằng lò thủ công vẫn chiếm khoảng 30- 35% Năm 2012 sản lượng sản xuất khoảng 16,5 tỷ viên chiếm khoảng 82% so với tổng số vật liệu xây; trong đó sản lượng gạch sản xuất bằng lò thủ công khoảng 25-30% Dự kiến đến năm 2015 là 32 tỷ viên và đến năm 2020 sẽ tăng lên 42 tỷ viên (Bộ xây dựng, 2013)

Nhìn lại tình hình sản xuất gạch nung thời gian qua cho thấy ưu điểm là

sử dụng nguyên liệu tại chỗ từ nguồn đất sét đồi, đất bãi ven sông, ruộng bạc

Trang 11

màu… nên giá thành rẻ Về nguồn sét để sản xuất gạch trên địa bàn khá dồi

dào, quản lý chặt chẽ hạn chế khai thác ruộng gieo trồng lấy đất làm gạch thì

hàng năm tận dụng đất sét đồi, ruộng cần cải tạo, dọc bờ sông cũng khá phong phú Một số địa bàn không có nguồn sét tại chỗ nhưng mua gom vẫn đủ nguyên liệu để làm ra gạch thỏa mãn nhu cầu xây dựng (Quốc Vượng, 2013)

Tuy nhiên, thực trạng đang diễn ra thường xuyên, đó là gạch ngói sản xuất

theo quy trình công nghệ cũ, lạc hậu Đa số các lò gạch đang được sử dụng đều là lò thủ công, chỉ dùng than đá và củi để đốt Điều này gây nên khói, bụi làm ô nhiễm môi trường nặng nề(Cục BVMT, 2007)

Theo ước tính, mỗi năm nước ta tiêu thụ khoảng 20 tỉ viên gạch Với đà phát

triển này, đến năm 2020, lượng gạch cần cho xây dựng là hơn 40 tỉ viên/1 năm Công nghệ sản xuất gạch nung truyền thống và hiện đại đều cho thấy các tác động tiêu cực đến môi trường Gạch đất sét nung tiêu tốn lượng nguyên liệu khổng lồ, đông thời tiêu tốn một lượng than vô cùng lơn để nung sản phẩm Đi đôi với việc tiêu thụ một lượng than lớn, các lò gạch sẽ thải ra bầu khí quyển một lượng lớn khí thải độc hại CO, CO2, SO2…ảnh hưởng đến môi trường sống, sức khỏe con người, làm gia tăng nguy cơ phá hủy tầng o-zon (Công ty cổ phần Tân Phú, 2011) Điều đáng quan tâm là công nghệ khai thác, chế biến nguyên liệu để sản xuất VLXD truyền thống chủ yếu dưới dạng sản xuất nhỏ, công nghệ lạc hậu, làm ăn manh mún

dẫn đến chất lượng kém, lãng phí tài nguyên nghiêm trọng, phá hoại môi trường sinh thái (Bộ xây dựng, 2013)

Để đạt được số gạch trên sẽ tiêu tốn khoảng 57-60 triệu m3 đất sét, tương

đương với khai thác từ 2.800-3.000 ha đất nông nghiệp Ứng với con số này, chúng

ta còn tiêu tốn gần 6 triệu tấn than và thải ra môi trường gần 17 triệu tấn khí CO2 (Bộ xây dựng, 2013) Thêm vào đó là khoảng 100 triệu m3 gỗ rừng sẽ bị phá hủy để cung cấp chất đốt cho hơn 40.000 lò gạch thủ công Phá hủy rừng đồng nghĩa với mất đi một phần lá phổi xanh của trái đất, gây nguy cơ lũ lụt và mất cân bằng sinh thái…ảnh hưởng nghiêm trọng đến thế hệ tương lai (Sở Xây dựng tp.HCM, 2012) Trước tình trạng ô nhiễm môi trường nặng nề từ các lò gạch, Chính phủ và

các bộ ban ngành ban hành Quyết định đóng cửa tất cả các lò gạch thủ công Thay vào đó chuyển sang áp dụng lò đốt tuy nen và lò đứng liên hoàn, ngoài ra còn linh hoạt cho phép các lò thủ gạch thủ công chuyển đổi công nghệ mới, không gây ô nhiễm ra môi trường

Ngay từ những năm cuối của thế kỷ 20 Bộ Xây dựng đã nhận thấy việc đầu

tư phát triển sản xuất gạch ngói đất sét nung bằng lò thủ công tràn lan tại các địa phương trên phạm vi toàn quốc, hậu quả là tiêu hao đất sản xuất nông nghiệp, sử dụng không hiệu quả nguồn nhiên liệu hóa thạch (than, dầu, khí) và gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng (Công ty cổ phần Tân Phú, 2011)

Để từng bước khắc phục tình hình nêu trên, Năm 2001, Bộ Xây dựng đã

trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 115/2001/QĐ-TTg ngày

01/8/2001 phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển ngành công nghiệp vật liệu xây dựng (VLXD) Việt Nam giai đoạn 2001-2010 (gọi tắt là Quyết định 115)

trong đó quy định đối với vật liệu xây: “Tổ chức lại sản xuất kinh doanh vật liệu

Trang 12

xây thủ công ở các địa phương, nhằm giảm tối đa sử dụng đất canh tác và xây dựng các lò gạch thủ công không theo quy hoạch gây ô nhiễm môi trường tại các vùng ven đô thị, thành phố, thị xã, thị trấn Từng bước phát triển sản phẩm gạch không nung ở những vùng không có nguyên liệu nung, tiến tới xoá bỏ việc sản xuất gạch đất sét nung bằng lò thủ công ở ven các đô thị trước năm 2005, ở các vùng khác trước năm 2010”

Năm 2008, Bộ Xây dựng đã nghiên cứu, dự thảo và trình Thủ tướng

Chính phủ ban hành Quyết định 121/2008/QĐ-TTg ngày 28/8/2008 phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển ngành công nghiệp VLXD Việt Nam đến năm 2020 (gọi tắt là Quyết định 121), trong đó quy định về đầu tư sản xuất gạch đất sét nung: Đầu tư chiều sâu cải tiến công nghệ sản xuất gạch đất sét nung ở tất cả các cơ sở sản

xuất hiện có, nhằm giảm tiêu hao nguyên liệu, n hiên liệu và bảo vệ môi trường Phát triển các loại gạch có kích thước lớn, độ rỗng cao ≥ 50% để tiết kiệm nguyên liệu và nhiên liệu, tăng tính cách âm, cách nhiệt Rà soát và tổ chức lại các cơ sở sản xuất gạch thủ công hiện nay để chuyển sang công nghệ lò tuynen, hoặc các công nghệ tiên tiến khác bảo đảm tiêu chuẩn về chất lượng môi trường của Việt Nam Tại Quyết định 121 cũng quy định: Phát triển sản xuất vật liệu xây không nung từ các nguyên liệu như xi măng, đá mạt, cát và tro xỉ nhiệt điện …; theo hướng công nghệ hiện đại, quy mô lớn, kích thước lớn, nhẹ để thay thế dần gạch xây sản xuất từ đất sét nung Tỷ lệ gạch không nung đến năm 2015 là 20 ÷ 25% và năm 2020 là 30

÷ 40% trong tổng số vật liệu xây

Để triển khai có hiệu quả Quyết định 121, Bộ Xây dựng đã xây dựng và trình

Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 567/QĐ-TTg ngày 28/4/2010 phê duyệt Chương trình phát triển vật liệu xây không nung đến năm 2020 Thúc đẩy tăng cường sản xuất và sử dụng vật liệu không nung, hạn chế sản xuất và sử dụng vật liệu nung trong các công trình xây dựng Cụ thể hóa, đặc biệt chỉ thị các địa phương xây dựng lộ trình chấm dứt hoạt động của lò thủ công sử dụng nhiên liệu hóa thạch Hỗ trợ, khuyến khích đầu tư sản xuất và xây dựng vật liệu không nung Lập danh mục lập danh mục vật tư làm nguyên liệu để sản xuất VLXKN và danh mục thiết bị cho dây chuyền sản xuất VLXKN được miễn thuế nhập khẩu(Bộ Xây Dựng, 2013)

Bộ công thương cũng đã ban hành thông tư quy định không sử dụng vốn

khuyến công hàng năm vào việc tập huấn, triển khai mô hình tại các cơ sở sản xuất gạch đất sét nung.Thúc đẩy các dự án, đề tài nghiên cứu công nghệ sản xất và chế tạo thiết bị sản xuất sử dụng gạch không nung ở Việt Nam (Công ty cổ phần Tân Phú, 2011)

Xu hướng phát triển lò tuynel ở các địa phương tăng; ở các tỉnh đồng bằng và thành phố các lò thủ công có xu hướng giảm, có một số tỉnh tới thời điểm này lượng

lò đứng thủ công còn rất ít Nhiều tỉnh đã xây dựng phương án dừng sản xuất gạch bằng lò thủ công, tăng sản lượng sản xuất gạch nung bằng lò tuynel như: Đồng Nai, Thái Bình, Hải Dương, Bắc Ninh, Nam Định, Thanh Hoá, Hà Tĩnh .v.v Tuy

nhiên, vẫn còn có một số tỉnh có lượng gạch lò thủ công tăng như: An Giang,

Quảng Ninh, Quảng Bình, Đồng Tháp, thành phố Hà Nội Các tỉnh có lượng lò

Trang 13

đứng thủ công không những không giảm mà còn tăng ở mức cao như: Hưng Yên, Kon Tum, Vĩnh Long Đặc biệt có một số tỉnh có số lượng lò đứng thủ công lớn nhất toàn quốc là Bắc Giang 2500 lò, An Giang 1551 lò, thành phố Hà Nội 1100

lò theo số liệu báo cáo của các tỉnh năm 2009 (Công ty cổ phần Tân Phú, 2011)

Ở nước phát triển trên thế giới đều nhận thức rõ nguy cơ tàn phá môi trường của các lò gạch đất nung và những ưu thế mang lại của vật liệu xây dựng không nung Do vậy đã có nhiều chính sách nhằm hạn chế sản xuất, sử dụng gạch đất nung, khuyến khích sản xuất và sử dụng gạch không nug, gạch bê tông Nhiều nước, trong đó có Trung Quốc, Malaisya, các nước khối EU tỷ lệ gạch không nung

đã thay thế 50% gạch đất nung và tỷ lệ này ngày một cao (Công ty cổ phần Tân Phú, 2011)

Nhệm vụ cụ thể trong quy trình giảm thiểu sản xuất gạch đất sét nung trong

thời gian tới là (UBND tỉnh An Giang, 2014):

- Rà soát và tổ chức lại các cơ sở sản xuất gạch bằng lò thủ công hiện nay

trong cụm tuyến quy hoạch thực hiệc việc cải tạo, cải tiến chuyển sang công nghệ tiên tiến bảo đảm Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường;

- Thực hiện việc giải tỏa, xóa bỏ các lò thủ công gây ô nhiễm môi trường hiện

có nằm trong đô thị và ngoài cụm tuyến quy hoạch;

- Đầu tư cải tiến công nghệ sản xuất gạch đất sét nung ở tất cả các cơ sở sản

xuất hiện có, nhằm giảm tiêu hao nguyên liệu, nhiên liệu và bảo vệ môi trường; Phát triển sản xuất gạch tuynen quy mô lớn, tập trung ở những mỏ sét lớn, đủ tiêu chuẩn chất lượng

2.2 Các kiểu lò nung gạch thường được sử dụng tại Việt Nam

Về công nghệ, lò nung hiện nay được phân loại như sau:

Phân loại theo kiểu nung:

- Nung gián đoạn

- Nung bán liên tục

- Nung liên tục

Phân loại theo kiểu buồng đốt:

- Nung gạch với buồng đốt di động:

- Nung gạch với buồng đốt cố định:

Các kiểu lò gạch thủ công thường được lựa chọn có triển vọng, có khả năng

thích nghi với điều kiện Việt Nam.

Trang 14

va-kieu-lo-nung-gach-tai-viet-nam.html

nguồn:http://www.phudien.vn/kien-thuc/gach-tuynel/gioi-thieu-cac-cong-nghe-2.3 Cơ cấu tiêu thụ năng lượng ngành gạch

Phân bố các loại công nghệ sản xuất gạch gốm trong tổng số 125 DN do ECC – HCMC khảo sát trên địa bàn tỉnh Bình Dương, Long An, Bến tre:

- Công suất lò dao động:

+ Tuynen: 8 – 50 triệu viên/năm

+ Hoffman: 1.2 – 60 triệu viên/năm

+ Truyền thống: 22 ngàn – 10 triệu viên/năm

- Trong 125 DN thì có 41/125 DN đã thực hiện TKNL nhưng chủ yếu là giải pháp cải tạo hệ thống chiếu sáng; hầu hết các DN chưa thực hiện giải pháp TKNL cho hệ thống quạt, máy nén khí

- 100% DN dùng lò truyền thống đều không có điều kiện tài chính để đổi mới công nghệ;

- 30/125 DN cho rằng vẫn còn tiềm năng tiết kiệm năng lượng cho khu vực sản xuất và lò nung.

Trang 15

Biểu đồ: Cơ cấu sử dụng năng lượng trong ngành gạch

3 Cơ hội tiết kiệm năng lượng

- Sử dụng đèn natri để chiếu sáng:

- Tránh đầu tư lãng phí ở các khâu nhiên liệu và công ích thiết bị

- Bố trí người lao động trong dây chuyền sản xuất hợp lý

- Lắp biến tần cho hệ thống thông gió để điều chỉnh lượng không khí và thay đổi

áp suất có thể giúp tiết kiệm năng lượng và nâng cao độ tin cậy của hệ thống

3.2.Giải pháp công nghệ

- Tận dụng nhiệt khói thải của lò nung tuynel để gia nhiệt nhiên liệuvà gia nhiệt cho lò sấy.

- Lắp đặt hệ thống Powerboss.Thông qua việc giám sát mức tải trên trục động

cơ ở mỗi chu kỳ cấp điện, Powerboss sẽ cung cấp cho động cơ lượng điện cần thiết trong quá trình vận hành giúp giảm lượng điện năng tiêu thụ khi hoạt động cơ hoạt động non tải và tăng hiệu suất động cơ, tăng tuổi thọ động cơ.

- Đốt than tổ ong trong lò nung tuynelthay cho 20-30% lượng than được rắc từ nóc lò xuống khối xếp gạch trên xe goòng nung.

Trang 16

Khắc phục được các vấn đề ô nhiễm bụi, tăng tỷ lệ thành phẩm loại A đạt 95% ,giảm chi phí bảo dưỡng lò và goong.

94-tiết kiệm được than, 94-tiết kiệm được điện nghiền than,94-tiết kiệm điện của các vận thăng đưa than lên mặt lò, tiết kiệm nhân lực.

- Cần xây dựng hệ thống quản lý năng lượng bền vững Việc này giúp công ty quản lý tốt năng lượng và định mức được suất tiêu hao năng lượng tối ưu trên từng loại sản phẩm Từ đó, định được giá thành của từng sản phẩm và đánh giá năng lực làm việc của mỗi công nhân để có mức thưởng phạt thích hợp, nhằm kích thích công nhân làm việc tốt hơn, và nâng cao trách nhiệm của họ đối với công việc, cũng như giúp họ ý thức được vấn đề tiết kiệm năng lượng

3.3 Giải pháp bảo vệ môi trường

- Nâng ống khói cao lên để lượng khí phát tán rộng hơn , như thế giảm thiểu được một phần ô nhiễm môi trường

- Lắp hệ thống hút xử lý bụi tại khu phơi

1.1Giới thiệu về công ty cổ phần viglacera Hữu Hưng

- CÔNG TY CỔ PHẦN VIGLACERA HỮU HƯNG

- Mã số thuế: 0100107243

- Địa chỉ: Đường Chùa Tổng, Xã La Phù, Huyện Hoài Đức, Hà Nội

- Tên giao dịch: VIGLACERA HUU HUNG.,JSC

- Giấy phép kinh doanh: 0100107243 - ngày cấp: 21/05/1998

- Ngày hoạt động: 01/09/1959

- Email: cophanhuuhung@vnn.vn

- Điện thoại: 22163981 - Fax: 33656806

- Giám đốc: NGUYỄN HUY THUẬT / NGUYỄN HUY THUẬT

2 Giới thiệu

2.1 Quy trình kiểm toán năng lượng

Cuối cùng của KTNL là kiểm toán viên đưa ra kế hoạch hoạt động cho cơ hội bảo tồn năng lượng được lựa chọn để đơn vị thực hiện Các bước trong quy trình kiểm toán năng lượng được mô tả dưới đây thường được thực hiện khi kiểm toán tại

Trang 17

các đơn vị thuộc lĩnh vực công nghiệp hoặc thương mại Trong quá trình thực hiện không nhất thiết phải thực hiện tất cả các bước trong phần này đối với tất cả các đối tượng khi kiểm toán năng lượng.

2.1.1 Kiểm toán năng lượng sơ bộ

Kiểm toán năng lượng sơ bộ là hoạt động khảo sát thoáng qua quá trình sử dụng năng lượng của hệ thống Kiểm toán sơ bộ giúp nhận diện, đánh giá các cơ hội và tiềm năng tiết kiệm của thiết bị tiêu thụ năng lượng chính trong hệ thống.

Các bước thực hiện của kiểm toán năng lượng sơ bộ:

Bước 1: Chuẩn bị:

- Chuẩn bị “Bảng câu hỏi khảo sát, thu thập thông tin sử dụng năng lượng" phù hợp với từng loại hình doanh nghiệp để đảm bảo thu thập đầy đủ các dữ liệu cần thiết, như: thông tin doanh nghiệp, hiện trạng sản xuất và tiêu thụ năng lượng trong quá khứ và gửi tới doanh nghiệp.

- Xử lý “Bảng câu hỏi khảo sát, thu thập thông tin sử dụng năng lượng" phản hồi từ doanh nghiệp.

Kết quả thu được

- Quy mô của doanh nghiệp và tình hình hoạt động sản xuất.

- Các dạng nguyên liệu và sản phẩrn của doanh nghiệp.

- Tình hình tiêu thụ nguyên liệu và sản lượng sản xuất của doanh nghiệp.

- Các nguồn cung cấp năng lượng (điện, than, dầu ) vả chi phí năng lượng.

- Mức độ quan tâm của doanh nghiệp đến hoạt động sản xuất kinh doanh cùa doanh nghiệp.

Bước 2: Khảo sát.

- Phỏng vấn trực tiếp quản lý cấp cao, cán bộ, nhân viên từ các phòng ban khác (sản xuất, phụ trợ, vận hành và bảo trì, ) nhằm đánh giá hiện trạng sử dụng và quản lý.

- Đi khảo sát qua toàn bộ nhà máy.

Kết quả thụ được:

- Sơ đổ mặt bằng và bố trí các hệ thống, thiết bị sử dụng năng lượng; các hệ thống đo đếm năng lượng mà doanh nghiệp hiện có.

- Quy trình sản xuất, năng lượng đầu vào và đầu ra của quá trình sản xuất.

- Xác định các phân xưởng và quá trình tiêu thụ nhiều năng lượng nhất.

- Nhận dạng các cơ hội tiết kiệm năng lượng.

Bước 3: Phân tích:

Là quá trình phân tích nhưng lợi ích kinh tế cùng như các lợi ích kĩ thuật của những giải pháp đề ra, để từ đó xác định phương hướng cải tạo hợp lý.

Kết quả thu được:

- Tổng hợp và đề xuất các giải pháp tiết kiệm năng lượng đơn giãn, không cần chi phí hoặc chi phí thấp có thể triển khai được ngay.

- Nhận diện các giải pháp cần được nghiên cứu sâu hơn.

- Kế hoạch cho kiểm toán chi tiết.

- Những yêu cầu để thiết lập một chương trình quản lý năng lượng.

Kết quả của hoạt động kiểm toán năng lượng sơ bộ:

Trang 18

- Nắm được thông tin về các dạng năng lượng sử dụng và chi phí của các quá trình.

- Mô tả sơ bộ hệ thống lẳp đặt và sử dụng năng lượng.

- Thiết kế, vận hành và bão dưỡng những vị trí hoạt động chưa tốt.

- Các biện pháp tiết kiệm năng lượng có thể thực hiện được ngay (không mất chi phí hoặc chi phí thấp).

- Mức độ quan trọng và chi phí tiết kiệm năng lượng với chi phí đầu tư có thể.

2.1.2 Kiểm toán năng lượng chi tiết

Kiểm toán năng lượng chi tiết là việc xác định lượng năng lượng sử dụng và tổn thất thông qua quan sát và phân tích các thiết bị, các hệ thống và các đặc điểm vận hành một cách chi tiết hơn Khi phân tích có thể bao gồm cả việc đo đạc và thí nghiệm để xác định số lượng năng lượng sử dụng và hiệu suất của các hệ thống khác nhau Sử dụng các phương pháp tính toán khoa học chuẩn để phân tích hiệu suất vả tính toán tiết kiệm năng lượng cũng như chi phí thông qua việc cải tiến và thay đồi từng hệ thống Ngoài ra kiềm toán năng lượng chi tiết yêu cầu phân tích kinh tế các giải pháp tiết kiệm năng lượng được kiến nghị.

Các bước thực hiện của kiểm toán chi tiết:

Bước I: Chuẩn bị:

Từ báo cáo kiểm toán năng lượng sơ bộ, ta cần chuẩn bị các dữ liệu chi tiết hơn:

- Hiện trạng hoạt động sản xuấl thực tế của doanh nghiệp, chi tiết về tiêu thụ năng lượng và chi phí năng lượng hàng tháng.

- Quy trình sản xuất và hệ thống năng lượng chính.

- Biểu đồ tiêu thụ, sản phẩm đầu ra.

- Các cơ hội tiết kiệm năng lượng đã xác định được Đây là cơ hội cần tập trung đánh giá chi tiết trong quá trình kiểm toán năng lượng chi tiết.

- Chuẩn bị các nguồn lực đc thực hiện kiểm toán chi tiết (nhân lực, thiết bị đo đếm, bảng câu hỏi ).

Kết quả thu được:

Thu thập thông tin chi tiết về các dữ liệu trên, thông tin chi tiết cho bảng câu hỏi được bổ sung thêm Sau đó xác định nguồn lực và các loại thiết bị sử dụng trong quá trình đo đạc.

Kết quả thu được:

Đánh giá quy trình sản xuất và tiêu thụ năng lượng: xác định được các loại năng lượng được sử dụng ở đâu, công đoạn nào, thời gian nào Đánh giá mức độ hợp lý tối ưu của việc sử dụng năng lượng, xác định các phân xưởng và quá trình tiêu thụ nhiều năng lượng nhất Đánh giá khả năng tận dụng các dòng năng lượng

Trang 19

thải ra từ một phân xưởng, quá trình cụ thể cho các phân xưởng, quá trình khác hoặc thay thế bằng các nguồn năng lượng khác Đánh giá mức độ hiệu quả của các thiết bị, hệ thống tiêu thụ năng lượng (máy lạnh, lò hơi, các thiết bi điện, ) Đánh giá chi tiết hiện trạng quản lý: xác định việc theo dõi tiêu thụ năng lượng đã được thực hiện hay chưa và các vấn đề cần được cải thiện Cách thức vận hành bảo trì đối với các hệ thống tiêu thụ năng lượng.

Đánh giá chi tiết các cơ hội tiết kiệm năng lượng đã được nhận dạng từ việc đo đạc chi tiết các thông số thể hiện tiêu thụ năng lượng đc nhận diện những vị trí, thiết bị lãng phí và sử dụng không hiệu quả Đề xuất các giải pháp tiết kiệm năng lượng cho đơn vị.

Bước 3: Phân tích:

Trên cơ sở khảo sát, phân tích hiệu quả về kinh tế và kỹ thuật của các giải pháp:

- Phân tích tính khả thi về kỹ thuật (công nghệ, năng lực, không gian ) của các giải pháp.

- Phân tích tính khả thi về kinh tế: yêu cầu đầu tư, mức độ tiết kiệm, thời gian thu hồi vốn và các lợi ích khác của các giải pháp.

- Phân tích mức độ ảnh hưởng của giải pháp đến chất lượng sản phẩm và an toàn trong sản xuất.

Kết quả đạt được:

Tổng hợp để suất các giải pháp tiết kiệm năng lượng: nhóm giải pháp chi phí thấp, nhóm giải pháp chi phí trung bình, nhóm giải pháp chi phí lớn Ưu tiên các giải pháp có chi phí thấp, lợi ích cao.

2.2 Các thiết bị phục vụ kiểm toán năng lượng

Trong quá trình tiến hành kiểm toán năng lượng, ngoài việc thu thập các bảng thông tin sử dụng năng lượng tiêu thụ và công suất các thiết bị trong doanh nghiệp, vấn đề quan trọng kế tiếp đó là tiến hành đo đạc trên từng thiết bị cụ thể

Do vậy, muốn thực hiện một kiểm toán năng lượng chi tiết cần có những thiết bị

đo hỗ trợ công tác đánh giá hiệu quả sử dụng năng lượng của các hệ thống, máy móc sử dụng năng lượng Dưới đây là những thiết bị thường được dùng khi đi kiểm toán năng lượng:

2.2.1 Các thiết bị đo điện

Các thiết bị đo điện bao gồm các thiết bị đo các thông số điện chính như kVA, kW,

hộ số công suất, tần số, kVAr, dòng điện, điện áp và các dạng sóng hài khác Có thế

sử dụng thiết bị cầm tay đc đo tức thì, hoặc có thề sử dụng các thiết bị khác tiên tiến hơn để đọc các thông sổ và in các thông số này sau các khoảng nhất định Ta xét một thiết bị đo cầm tay có tên là thiết bị đo điện năng HIOKI 3286-20 (Hình 3) Thiết bị này đo những thông số như sau:

Trang 20

T.bị đo điện năng HIOK1 3286-20

- Điện áp: 150V den 600V, 3 dài.

- Dòng điện: 200A hoặc 1000A, 2 dài.

- Góc pha, tần số, dò pha (3 pha).

- Điện áp /mức sóng hài hiện tại (lên tới bậc 20),

• Phạm vi sử dụng: được sử dụng để đo lường các thành phần điện khác nhau Khi đo không cần ngừng hoạt động của thiết bị được đo.

• Cách thức sử dụng:

- Thiết bị gồm có ba đầu dây với đầu kẹp răng cá sấu:đỏ, vàng và đen (RYB) được

sử dụng để đo điện áp Cần dây không bọc.

- Thiết bị còn có kim có thể mở và đóng được sử dụng để đo dòng điện Cần dây

- Nối đầu kẹp đầu đo vào phía ra của máy cắt hoặc cầu chì.

- Sử dụng găng tay bằng cao su, ủng và mũ bảo hiểm đề tránh sốc điện.

- Đọc kỹ tài liệu hướng dẫn vận hành trước khi sử dụng thiết bị.

2.2.2 Nhiệt kế

Nhiệt kế là thiết bị dùng để đo nhiệt độ của:

- Không khí môi trường

- Trong các thiết bị làm lạnh bao gồm: máy nén vá các tháp làm mát như thiết

bị làm mát bằng nước, bằng không khi.

- Trong lò hơi: nhiệt độ bề mặt, khói thài, nhiệt độ ống dẫn hơi nhiệt độ nước cấp, nước ngưng.

Trang 21

- Trong lò đốt: nhiệt độ bề mặt, khói thải, nước làm mát

- Trong thiết bị thu hồi nhiệt thải: nhiệt độ khói, nước.

Có 2 loại nhiệt kế: nhiệt kế tiếp xúc và nhiệt kế gián tiếp hay nhiệt kế dùng tia hồng ngoại.

Nhiệt kế tiếp xúc

• Phạm vi sử dụng:

- Do nhiệt độ của không khí, chất lỏng và chất khí.

- Bất cứ thiết bị nào mà xảy ra quá trình cháy: các lò hơi, lò đốt.

- Các đo đạc được thực hiện trên đường ống dẫn.

- Quá trình đo đạc được sử dụng để xác định hiệu suất, các rò rỉ.

- Nhìn chung không được sử dụng để đo nhiệt độ bề mặt.

• Cách thức sử dụng:

Nhiệt kế tiếp xúc bao gồm hai kim loại không đồng dạng, một đầu được nối với nhau Khi mối nối được gia nhiệt hoặc giải nhiệt sẽ sinh ra điện áp, điện áp này tương tác trở lại nhiệt độ Một que thăm được đưa vào dòng chất lỏng hoặc khí để

đo nhiệt độ của thiết bị cần đo Trong hầu hết các trường hợp thiểt bị này sẽ trực tiếp đưa ra kết quả của thiết bị cần đo ( °C hoặc °F) trên màn hình số.

• Các chú ý khi sử dụng nhiệt kế tiếp xúc:

- Nhấn đầu đo chìm hẳn vào dòng khí/chất lỏng và chỉ đọc thông số sau đó từ 1 -2 phút.

- Chú ý dải nhiệt độ đo của máy trước khi tiến hành đo.

- Không được để đẩu đo tiếp xúc trực tiếp với ngọn lửa.

Nhiệt kế kiểu gián tiếp hay nhiệt kế tia hồng

ngoại :

Trang 22

Nhiệt kế hồng ngoại

• Phạm vi sử dụng: Chỉ dùng để đo nhiệt độ của bề mặt Được dùng cho:

- Các vật thể chuyển động.

- Trong môi trường bị ô nhiễm, điện áp cao, trường điện từ, chân không.

- Có chiều cao/ khoảng cách lớn.

- Có nhiệt độ đo quá cao mà không thể sử

dụng được cho nhiệt kế kiểu tiếp xúc .

• Cách thức sử dụng:

Việc sử dụng nhiệt kế không tiếp xúc hoặc nhiệt kế hồng ngoại rất đơn giản Ta chỉ việc bấm vào nút khởi động Sau đó, chĩa đầu nhiệt kế tới bề mặt cần đo và đọc thông số trên bảng hiển thị.

• Các chú ý khi sử dụng nhiệt kể gián tiếp:

- Đặt hệ số bức xạ của bề mặt cần đo nhiệt độ.

- Chú ý nhiệt độ đo giới hạn của máy

- Luôn tham khảo hướng dẫn vận hành trước khi sử dụng.

2.2.3 Áp kế

Áp kế

Thiết bị này đo chênh lệch áp suất giữa hai điểm:

- Áp suất dương (áp suất dư).

Trang 23

- Áp suất âm (áp suất chân không).

Loại cổ nhất là áp kế cột chất lỏng: cấu tạo là một ống hình chữ U được đổ chất lỏng đẩy nửa ống (thường là dầu, nước hoặc thuỷ ngân) trong đó áp suất đo được cấp vào một bên ống và áp suất tham khảo (có thể là áp suất khí quyển) được cấp vào bên còn lại Sự chênh lệch giữa các mức chất lỏng biểu diễn áp suất tham khảo.

• Cách sử dụng (cho đường ống không khí):

Trong quá trình kiểm toán năng lượng, vận tốc khi trong ống được đo nhờ sử dụng một ống hờ hai đẩu và lưu lượng được tính bằng một áp kế Khoan một lỗ mẫu trên đường ống (ống chứa khí xá) và ống hở hai đầu sẽ được đưa vào đường ống Hai đầu hở của ống được nối với hai đầu của áp kế Sự chênh lệch về mức độ của áp kế cho thấy áp suất vận tốc tổng Ví dụ như ở trường hợp áp kế số, các thông số được đo bằng mm của cột nước.

• Các chú ý khi sử dụng thiết bị:

- Không được để áp kế vào những nơi có áp suất quá lớn.

- Tham khảo hướng dẫn vận hành trước khi sử dụng.

2.2.4 Thiết bị phát hiện rò rỉ

Thiết bị phát hiện rò rỉ là thiết bị có thể phát hiện hầu như mọi chỗ rò rỉ với đặc điểm:

- Khoảng cách ngắn /không cần tiếp cận.

- Không cần áp suất cao.

- Nhạy cảm với tiếng động.

- Que thăm của thiết bị phát hiện rò rỉ được đặt gần ống hơi/khí nghi có rò rỉ.

- Đeo tai nghe nối với thiết bị đo.

- Que thăm chuyển động từ từ cho đến khi người nghe có thể nghe thấy âm thanh rò rỉ bẳng tai.

- Đánh dấu vị trí để xác định chỗ rò.

• Các chú ý khi sử dụng thiết bị:

- Bụi hoặc khói không được bám vào bề mặt đường ống.

- Tránh đo đạc ở những nơi có tiếng ồn cao.

- Tham khảo hướng dẫn vận hành.

Trang 24

Các chú ý khi sử dụng thiết bị:

- Đặt cảm biến vào khu vực làm việc sao cho đúng.

- Bảo quản cảm biến thật an toàn nó rất nhạy cảm với ánh sáng mạnh.

- Tham khảo hướng dẫn vận hành

Tiền thân là xí nghiệp gạch ngãi được thành lập năm 1959 theo quyết định của Bộ xây dựng với nhiệm vụ sản xuất các loại gạch phục vụ cho nhu cầu sản xuất

và xây dùng trong nước với tên gọi xí nghiệp gạch ngãi Từ Liêm Công ty ra đời trong bối cảnh miền Bắc đã hoàn toàn giải phóng và đang bước vào thời kỳ khôi phục và cải tạo nền kinh tế đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội Giai đoạn này, do tổ chức quản lý chưa ổn định, máy móc thiết bị thiếu thốn, lạc hậu dây chuyền công

Trang 25

nghệ là hệ máy sản xuất gạch của Việt Nam EG10 nung trong lũ vũng thô sơ nên lượng sản phẩm sản xuất ra còn thấp, chất lượng chưa cao, mẫu mã chủng loại chưa phong phú Mức sản lượng sản xuất thời kỳ này chỉ đạt xấp xỉ từ 8-10 triệu sản phẩm/năm.

Năm 1966, mặc dù công ty gặp rất nhiều khó khăn do Mỹ mở rộng chiến tranh

ra miền Bắc, làm cho các đơn vị sản xuất phân tán, nguồn vật tư, nguyên liệu phục

vụ sản xuất đã thiếu thốn lại càng thiếu thốn hơn, lãnh đạo công ty đã từng bước tháo gỡ khó khăn nên sản lượng sản xuất vẫn vượt mức kế hoạch đề ra Trong những năm tiếp theo, mặc dù gặp rất nhiều khó khăn, trở ngại nhưng đội ngò lãnh đạo cũng như toàn thể CBCNV toàn công ty vẫn cố gắng tìm mọi cách khắc phục và hạn chế khó khăn để từng bước đưa công ty lên một giai đoạn phát triển mới.

Năm 1993 Công ty được thành lập lại theo quyết đính số 87A/QĐ- BXD đổi tên

là Công ty gốm xây dựng Từ Liêm Sau khi thành lập lại cùng với sự chuyển biến cơ chế thị trường và nắm bắt được nhu cầu của khách hàng, công ty đã mạnh dạn đầu

tư chiều sâu đổi mới dây chuyền công nghệ, thay thế máy sản xuất gạch cũ bằng máy sản xuất công nghệ mới của Italia và lò nung Tuynel với trị giá 12 tỷ VND bằng nguồn vốn tự có và vay ngân hàng Đây là dây chuyền công nghệ sản xuất gạch tiên tiến nhất tại Việt Nam.

Tháng 6-1998 nhà máy gạch Hữu Hưng và phân xưởng Ngãi Cầu thuộc Công

ty gạch ốp lát Hà Nội sáp nhập với Công ty gốm xây dựng Từ Liêm đổi tên thành Công ty gốm xây dựng Hữu Hưng, lúc này tổng mức vốn đầu tư lên đến 31 tỷ VND Trải qua hơn 40 năm tồn tại và hoạt động, công ty đang trên đà phát triển mạnh Sản phẩm của công ty đạt chất lượng cao, được khách hàng tín nhiệm và được tiêu thụ rất rộng rãi trên thị trường Công ty đã được nhà nước tặng bằng khen, đạt huy chương vàng Hội chợ triển lãm Việt Nam về gạch 6 lỗ và 10 lỗ, cúp bạc sản phẩm chất lượng cao năm 1999 Năng suất lao động không ngừng được nâng cao, sản lượng từ 86.200 nghìn viên gạch QTC các loại năm 1999 tăng lên 98.500 nghỡn viờn năm 2000 và 120 triệu viên năm 2001 Đời sống cán bộ cụng nhõn viên ngày càng được nâng cao, ngoài chế độ ăn trưa công nhân còn được bồi dưỡng giữa giê Mức thu nhập bình quân đầu người là tương đối cao so với một số

Trang 26

đơn vị khỏc cựng ngành Cụ thể thu nhập bình quân đầu người toàn công ty năm

1999 là 750.000 đồng / người tăng lên 876.000 đồng/ người năm 2000 và không ngừng tăng lên qua các năm sau.

Tháng 1 năm 2004 Công ty được cổ phần hoá theo quyết định 1624/QĐ - BXD mang tên Công ty cổ phần Hữu Hưng Viglacera với vốn điều lệ là 7,5 tỷ đồng Công

ty cổ phần Hữu Hưng Viglacera có 3 đơn vị trực thuộc :

- Nhà máy Hữu Hưng nằm trên địa bàn xóm Xuân Phương-Từ Liêm-Hà Nội

- Phân xưởng gạch Ngãi Cầu thuộc xã La Phự-Hoài Đức-Hà Tây

- Nhà máy gạch chẻ cao cấp đặt tại trụ sở công ty

Sau khi cổ phần hóa công ty tiếp tục phát huy vai trò và năng lực từng bước đẩy mạnh hoạt động sản xuất kinh doanh, nâng cao thu nhập cho đội ngò cán bộ công nhân viên, tăng cường đóng góp vào ngân sách nhà nước Tuy nhiên, trong điều kiện nền kinh tế thị trường với sự cạnh tranh gay gắt, còng như phần lớn các doanh nghiệp khác CTCP Hữu Hưng Viglacera cũng gặp phải khó khăn nhất định đặc biệt là nguồn vốn trong sản xuất kinh doanh Nhưng với sự lỗ lực cùng với thuận lợi vốn có, công ty sẽ vượt qua được những khó khăn tạm thời để trở thành một đơn vị sản xuất kinh doanh có hiệu quả đứng vững trên thị trường.

3.1.2.Chức năng nhiệm vụ của Công ty

CTCP Hữu Hưng Viglacera là đơn vị độc lập có nhiệm vụ chủ yếu sau đây:

- Sản xuất và khai thác vật liệu xõy dựng

- Tư vấn, thiết kế, chuyển giao công nghệ sản xuất vật liệu xây dựng đất xét nung.

- Buôn bán tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng

- Xây dựng, lắp đặt thiết bị các công trình dân dụng và công nghiệp

- Kinh doanh đại lý các loại xăng dầu

- Dịch vụ vận chuyển hàng hoỏ cỏc loại

- Kinh doanh xuất nhập khẩu vật liệu xây dựng

Ngày đăng: 10/12/2016, 11:51

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.lò nung kiểu đứng - KIỂM TOÁN NĂNG LƯỢNG :CÔNG TY CỔ PHẦN VIGLACERA HỮU HƯNG
Hình 1.l ò nung kiểu đứng (Trang 47)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w