Lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc cũng như lịch sử xây dựng, trưởng thành và chiến thắng của quân đội ta đã khẳng định rằng, việc giải quyết tốt mối quan hệ giữa số lượng và chất lượng con người trong nâng cao sức mạnh chiến đấu của quân đội là nhân tố hàng đầu tạo nên sức mạnh chiến đấu phi thường của quân đội, để đánh bại nhiều đội quân xâm lược có tiềm lực kinh tế, quân sự hùng mạnh, đặc biệt là hai đội quân đế quốc trong nửa cuối thế kỷ 20
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Xây dựng quân đội và nâng cao sức mạnh chiến đấu của quân đội luôn làvấn đề trọng yếu, là yêu cầu khách quan của mỗi quốc gia, dân tộc trong quátrình tồn tại và phát triển Đặc biệt, trong thời đại hiện nay, khi mà nhữngcuộc “chiến tranh cục bộ, xung đột vũ trang, xung đột dân tộc, tôn giáo, chạyđua vũ trang, hoạt động can thiệp lật đổ, khủng bố còn xảy ra ở nhiều nơi…”[25,14], với chính sách cường quyền ngày càng lộ rõ và chiến lược toàn cầucủa chủ nghĩa đế quốc đứng đầu là Mỹ, vấn đề nâng cao sức mạnh chiến đấucủa Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay càng trở lên cấp thiết
Sức mạnh chiến đấu của đội quân cách mạng là sức mạnh tổng hợp donhiều yếu tố tạo thành, đó là sự kết hợp biện chứng giữa yếu tố vật chất vàyếu tố tinh thần, giữa con người và vũ khí, khoa học nghệ thuật quân sự và
kỹ năng chiến đấu, sức khoẻ của bộ đội… Trong đó, con người giữ vai tròquyết định Do vậy, để nâng cao sức mạnh chiến đấu của quân đội phải giảiquyết tốt yếu tố con người, trước hết là mối quan hệ giữa số lượng và chấtlượng con người, đây là hai mặt hợp thành yếu tố con người trong sức mạnhchiến đấu của quân đội
Lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc cũng như lịch sử xây dựng,trưởng thành và chiến thắng của quân đội ta đã khẳng định rằng, việc giảiquyết tốt mối quan hệ giữa số lượng và chất lượng con người trong nâng caosức mạnh chiến đấu của quân đội là nhân tố hàng đầu tạo nên sức mạnhchiến đấu phi thường của quân đội, để đánh bại nhiều đội quân xâm lược cótiềm lực kinh tế, quân sự hùng mạnh, đặc biệt là hai đội quân đế quốc trongnửa cuối thế kỷ 20
Trang 2Ngày nay, khi đất nước chuyển từ thời chiến sang thời bình, nhiệm vụchủ yếu là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, với mục
tiêu đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, thực hiện dân giàu,
nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh đã và đang đặt ra nhữngvấn đề cấp thiết về mô hình tổ chức quân đội trong thời bình, về giải quyếtmối quan hệ giữa số lượng và chất lượng con người trong nâng cao sứcmạnh chiến đấu của quân đội ta hiện nay
Quán triệt quan điểm của Đảng ta về xây dựng quân đội với quân số hợp
lý, chất lượng cao, lấy xây dựng chất lượng là chính, trong thời gian qua,quân đội ta đã có nhiều cố gắng giải quyết mối quan hệ giữa số lượng vàchất lượng con người trong nâng cao sức mạnh chiến đấu của quân đội Tuynhiên, so với yêu cầu mới hiện nay vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập: số lượngcon người có chỗ chưa hợp lý, cân đối, chất lượng con người có mặt chưacao, làm ảnh hưởng đến nâng cao sức mạnh chiến đấu của quân đội ta hiệnnay
Ngày nay, cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc chống sự xâm lược của “chủnghĩa can thiệp mới” đang xuất hiện nhiều đặc điểm mới Việc sản xuất và
sử dụng các loại vũ khí công nghệ cao trong chiến tranh hiện đại đã tác độngmạnh mẽ đến cơ cấu tổ chức, biên chế của quân đội, đến phương thức tácchiến, nghệ thuật chiến lược, chiến dịch…, đòi hỏi phải đổi mới trong nhậnthức và vận dụng giải quyết mối quan hệ giữa số lượng và chất lượng conngười trong nâng cao sức mạnh chiến đấu của các đội quân chống xâm lược
Do vậy, việc giải quyết mối quan hệ giữa số lượng và chất lượng conngười trong nâng cao sức mạnh chiến đấu của quân đội ta không chỉ là một
vấn đề lý luận, mà còn là một vấn đề thực tiễn cấp bách đối với sự nghiệp
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, sẵn sàng đánh bại
Trang 3mọi cuộc chiến tranh xâm lược, nhất là cuộc chiến tranh hiện đại, công nghệcao.
Từ góc độ lý luận chuyên ngành chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủnghĩa duy vật lịch sử, vận dụng quy luật lượng - chất, tác giả muốn đi sâunghiên cứu và làm rõ mối quan hệ giữa số lượng và chất lượng con ngườinhằm góp phần hoàn thiện yếu tố con người trong nâng cao sức mạnh chiếnđấu của quân đội, xây dựng quân đội ta cách mạng, chính quy, tinh nhuệ vàtừng bước hiện đại
2 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Nghiên cứu nhân tố người trong sức mạnh chiến đấu của quân đội là mộtvấn đề cơ bản, có ý nghĩa thực tiễn đối với quá trình xây dựng quân đội Từtrước đến nay, nó luôn thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều ngànhkhoa học, trong đó có Triết học
Với thế giới quan và phương pháp luận khoa học, khi nghiên cứu vềchiến tranh và quân đội, C.Mác, Ph Ăng ghen và V.I.Lê nin đã đã có nhiều
tư tưởng sâu sắc về yếu tố con người trong sức mạnh chiến đấu quân đội.Trong đó, các Ông đã đề cập đến những tư tưởng cơ bản về mối quan hệgiữa số lượng và chất lượng con người, đến sự chuyển hoá giữa số lượng vàchất lượng con người trong quá trình tạo thành sức mạnh chiến đấu của quânđội Đó là những tư tưởng lý luận quý báu, làm cơ sở khoa học để nâng caosức mạnh chiến đấu, xây dựng quân đội kiểu mới của giai cấp vô sản
Trong những năm vừa qua, trên thế giới đã có nhiều công trình khoa họcnghiên cứu về yếu tố con người, nghiên cứu mối quan hệ giữa lượng và chất
trong lĩnh vực quân sự Đáng chú ý là: “Những biến đổi về lượng và chất trong lĩnh vực quân sự” của I.A.Gru-đi-nhin, trong cuốn: “Phép biện chứng
Trang 4và lĩnh vực quân sự hiện đại”, nhà xuất bản Quân đội nhân dân, Hà Nội,
1976;
Ở nước ta, thời gian gần đây, cũng có một số đề tài tập trung nghiên cứu
về con người, về chất lượng con người trong sức mạnh chiến đấu của quân
đội Cụ thể như: “Mối quan hệ biện chứng giữa con người và vũ khí trong
sức mạnh chiến đấu của Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay”, luận án
phó tiến sĩ triết học của Phạm Thanh Sơn, Hà Nội, 1996 “Nâng cao chất lượng nhân tố con người trong sức mạnh chiến đấu của Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay”, luận án phó tiến sĩ triết học của Hoàng Quang Đạt,
1996 “Xây dựng đội ngũ cán bộ quân đội đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong giai đoạn cách mạng mới”, của Trần Danh Bích, Hà Nội, 1996 “Tích cực hoá nhân tố con người của đội ngũ sĩ quan trong xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay'', luận án tiến sĩ khoa học quân sự của Nguyễn Văn Tài, Hà Nội 1998 “Quan hệ lượng - chất của nghệ thuật “lấy nhỏ thắng lớn”, “lấy ít địch nhiều” trong nghệ thuật quân sự Việt Nam”, luận án tiến sĩ
triết học của Nguyễn Văn Thuỳ, Hà Nội, 2001
Dưới những khía cạnh khác nhau, các đề tài đều tập trung vào luận giảinhân tố con người, xác định vị trí vai trò của con người trong sức mạnhchiến đấu của quân đội Tuy nhiên, cho đến nay chưa có một công trình khoa
học chuyên biệt nào nghiên cứu yếu tố con người dưới góc độ: “Quan hệ giữa số lượng và chất lượng con người trong nâng cao sức mạnh chiến đấu của Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay”
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận án
* Mục đích của luận án
Nghiên cứu một số vấn đề lý luận cơ bản và cấp bách về mối quan hệgiữa số lượng và chất lượng con người trong nâng cao sức mạnh chiến đấu
Trang 5của quân đội; từ đó đề xuất một số giải pháp cơ bản giải quyết đúng đắn mốiquan hệ đó nhằm nâng cao sức mạnh chiến đấu của quân đội ta hiện nay
* Nhiệm vụ của luận án
+ Làm rõ thực chất mối quan hệ số lượng và chất lượng con ngườitrong nâng cao sức mạnh chiến đấu của quân đội
+ Phân tích thực trạng và những yêu cầu mới nhằm giải quyết mốiquan hệ giữa số lượng và chất lượng con người trong nâng cao sức mạnhchiến đấu của quân đội ta hiện nay
+ Đề xuất một số giải pháp cơ bản để giải quyết mối quan hệ giữa sốlượng và chất lượng con người trong nâng cao sức mạnh chiến đấu của quânđội ta hiện nay
4 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận của luận án là hệ thống quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng, các chỉ thị, nghịquyết của Đảng uỷ quân sự Trung ương, Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị
về xây dựng quân đội Luận án kế thừa các bài viết, bài nói của một số đồngchí lãnh đạo của Đảng, Nhà nước và quân đội; các công trình nghiên cứukhoa học của nhiều tác giả trong và ngoài nước có liên quan trực tiếp đến đềtài nghiên cứu
Luận án xuất phát từ tình hình thực tiễn của các đơn vị trong quân đội,các hoạt động tổ chức và xây dựng lực lượng vũ trang hiện nay, từ thựctrạng mối quan hệ giữa số lượng và chất lượng con người, cũng như nhữngmâu thuẫn nảy sinh trong quá trình giải quyết mối quan hệ giữa số lượng vàchất lượng con người trong quân đội ta hiện nay
Luận án sử dụng hệ thống phương pháp của chủ nghĩa duy vật biệnchứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử như: lô gích - lịch sử; phân tích - tổng
Trang 6hợp, quy nạp - diễn dịch và một số phương pháp khác: khảo sát, điều tra xãhội, tổng kết thực tiễn
5 Những đóng góp mới về mặt khoa học của luận án
- Luận án góp phần làm rõ các khái niệm số lượng, chất lượng con người
và mối quan hệ biện chứng của nó trong sức mạnh chiến đấu của quân độita; bước đầu khái quát một số vấn đề có tính quy luật trong giải quyết mốiquan hệ giữa số lượng và chất lượng con người trong nâng cao sức mạnhchiến đấu của quân đội
- Đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm giải quyết mối quan hệ giữa sốlượng và chất lượng con người trong nâng cao sức mạnh chiến đấu của quânđội ta hiện nay
6 Ý nghĩa thực tiễn của luận án
- Kết quả nghiên cứu của luận án sẽ góp phần vào giải quyết vấn đề sốlượng và chất lượng con người trong nâng cao sức mạnh chiến đấu của quânđội, xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại
- Luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho giảng dạy và nghiêncứu khoa học trong các nhà trường quân sự
7 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, luận án gồm 3 chương (7 tiết), kết luận, danh mụccông trình khoa học của tác giả, danh mục tài liệu tham khảo và phần phụlục
Chương 1 QUAN HỆ GIỮA SỐ LƯỢNG VÀ CHẤT LƯỢNG CON NGƯỜI TRONG NÂNG CAO SỨC MẠNH CHIẾN ĐẤU CỦA QUÂN ĐỘI -
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG
Trang 71.1 Quan niệm về số lượng và chất lượng con người trong sức mạnh chiến đấu của quân đội
1.1.1 Sức mạnh chiến đấu của quân đội
Sự tồn tại, phát triển của quân đội luôn gắn liền với quá trình củng cố, hoàn thiện và nâng cao sức mạnh chiến đấu của nó Nâng cao sức mạnh chiến đấu của quân đội là vấn đề cơ bản, chủ yếu trong xây dựng quân đội, nó là kết quả của toàn bộ công tác tổ chức, huấn luyện, giáo dục và trang bị trong quân đội Đã có nhiều cách định nghĩa khác nhau về sức mạnh chiến đấu của quân đội Từ góc độ hệ thống - cấu trúc, sức mạnh chiến đấu của quân đội được xác định là “tổng thể các nhân tố vật chất vàtinh thần quyết định trạng thái và năng lực thực hiện nhiệm vụ chiến đấu
của các đơn vị trong lực lượng vũ trang” [15, 537] Quan niệm khác cho
rằng, sức mạnh chiến đấu của quân đội là “trình độ sẵn sàng chiến đấu vàkhả năng chiến đấu của lực lượng vũ trang có thể tiến công địch hoặc đẩylùi cuộc tiến công của địch” [13, 477] Theo đó, sức mạnh chiến đấu của
quân đội tồn tại ở hai dạng: 1 Tiềm năng bảo đảm sẵn sàng chiến đấu (sức mạnh tiềm tàng), 2 Sức mạnh chiến đấu thực sự trên chiến trường (mức độ hoàn thành các mục tiêu chiến lược, các nhiệm vụ chiến đấu chủ yếu của quân đội).
Gần đây, có tác giả đã xác định: Sức mạnh chiến đấu của quân đội là tổng hợp các yếu tố vật chất và tinh thần nói lên trình độ sẵn sàng chiến đấu
và khả năng hoàn thành các nhiệm vụ đấu tranh vũ trang và đấu tranh chính trị - tư tưởng [34, 15]
Quan niệm này đã có sự phát triển mới và tương đối phù hợp với thực tiễn xây dựng quân đội hiện nay Sức mạnh chiến đấu của quân đội là khảnăng sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu giành thắng lợi trên cả mặt trận
Trang 8quân sự và chính trị, cả vũ trang và phi vũ trang bảo vệ độc lập chủ
quyền toàn vện lãnh thổ đất nước, bảo vệ chế độ, bảo vệ Đảng, bảo vệ chính quyền nhà nước, bảo vệ nhân dân Trong thời bình, sức mạnh chiếnđấu của quân đội biểu hiện ở khả năng góp phần bảo đảm hoà bình, sự ổnđịnh, tạo điều kiện và môi trường thuận lợi để phát triển đất nước, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù Khi chiến tranh xảy ra, sức mạnh chiến đấu của quân đội thể hiện ở hiệu suất chiến đấu, ở kết quả hoàn thành các nhiệm vụ được giao, ở khả năng giành thắng lợi trên chiến trường
Về cấu trúc sức mạnh chiến đấu của quân đội, phần lớn các kết quả
nghiên cứu đều thống nhất cho rằng, sức mạnh chiến đấu của quân đội đượctạo thành từ các yếu tố cơ bản là: Quân số với cơ cấu tổ chức, biên chế; yếu
tố chính trị, tinh thần và kỷ luật; số lượng và chất lượng vũ khí, trang bị kỹthuật; trình độ huấn luyện và thể lực; trình độ khoa học và nghệ thuật quânsự; bản lĩnh lãnh đạo và trình độ tổ chức chỉ huy của đội ngũ cán bộ, sĩ quantrong quân đội [105, 200]
Các yếu tố trên có vị trí, vai trò khác nhau nhưng quan hệ rất chặt chẽ,khăng khít với nhau trong sức mạnh chiến đấu Mỗi một yếu tố phải đượcphát huy thật đầy đủ và kết hợp chặt chẽ với các yếu tố khác thì mới tạo nên sức mạnh chiến đấu lớn nhất của quân đội Cho nên, khi xem xét sức mạnh chiến đấu của quân đội, cần phải nắm vững sự thống nhất biện chứng giữa các yếu tố nói trên Nếu nhấn mạnh một chiều yếu tố vật chất
kỹ thuật, xem nhẹ yếu tố chính trị, tinh thần, hoặc ngược lại, chỉ coi trọngyếu tố tinh thần, tách rời tinh thần với cơ sở vật chất, với vũ khí, trang bị
kỹ thuật và các yếu tố khác là hoàn toàn sai lầm, trái với quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê nin
Trang 9Trong các yếu tố tạo thành sức mạnh chiến đấu của quân đội thì yếu
tố con người và vũ khí, trang bị kỹ thuật là hai yếu tố cơ bản, trong đó
con người giữ vai trò trung tâm và quyết định Do vậy, sức mạnh chiến
đấu của quân đội chính là sức mạnh của con người với tư cách là đội quân chiến đấu được trang bị vũ khí, phương tiện kỹ thuật, được huấn luyện, giáo dục, quản lý và chỉ huy Sự thay đổi về chất trong sức mạnh chiến đấu của quân đội trước hết phụ thuộc vào sự thay đổi về số lượng
và chất lượng của con người và của vũ khí, trang bị kỹ thuật Đối với quân đội ta, sức mạnh chiến đấu được tạo thành từ số lượng những con người với một chất lượng nhất định, chất lượng ấy được quy định bởi sự giác ngộ chính trị, sự am hiểu khoa học nghệ thuật quân sự, sử dụng thành thạo các loại vũ khí, trang bị kỹ thuật trong các loại hình tác chiến, các hình thức chiến thuật ở mỗi giai đoạn lịch sử nhất định
1.1.2 Số lượng và chất lượng con người trong sức mạnh chiến đấu của quân đội
Số lượng và chất lượng con người trong sức mạnh chiến đấu của quân đội là những khái niệm mà đối tượng phản ánh là những con người hoạt động trong lĩnh vực quân sự, một lĩnh vực hoạt động đặc thù của xã hội
Để có nhận thức đầy đủ về số lượng và chất lượng con người trong sức mạnh chiến đấu của quân đội, trước hết cần làm rõ quan niệm chung về
số lượng và chất lượng
Số lượng và chất lượng là những khái niệm được sử dụng rất rộng rãitrong đời sống xã hội, trong các môn khoa học tự nhiên cũng như trong triếthọc, do vậy đã có khá nhiều cách diễn đạt khác nhau về hai khái niệm này.Theo nghĩa thông thường: ‘’Số lượng là con số biểu thị sự có nhiều hay ítcủa các sự vật’’ [126, 835] Theo nghĩa này, số lượng được hiểu như những
Trang 10con số cụ thể, phản ánh về một mức độ nào đó của sự vật Quan niệm kháccho rằng: “Số lượng là biểu hiện những mức độ khác nhau, những giai đoạnphát triển và sự cấu tạo về lượng của sự vật hiện tượng” [108, 152] Cáchkhái quát trên đã phân biệt được số lượng và lượng của sự vật hiện tượng,nhưng chưa nói rõ nội hàm cơ bản của số lượng Một số tác giả khác lạiđồng nhất số lượng với lượng của sự vật hiện tượng, khi cho rằng: “Số lượng
- Đó là trình độ phát triển của sự vật, hiện tượng nói chung và của những đặcđiểm riêng của nó, đó là tính quy định của sự vật hiện tượng về mặt đạilượng, khối lượng, trình độ, nhịp điệu phát triển, tốc độ v v ” [42, 148]
Để có quan niệm chính xác và đầy đủ hơn về số lượng, cần phải trở lạivới những tư tưởng cơ bản của C.Mác, Ph.Ăng ghen và V.I.Lênin Trong tácphẩm “Biện chứng của tự nhiên”, khi bàn về số lượng và chất lượng, Ph.Ăngghen viết: “Số lượng và chất lượng, số là một sự quy định thuần tuý nhất vềlượng mà chúng ta được biết Nhưng nó cũng chứa đầy những sự khác nhau
về chất” [4, 756] “Mọi chất lượng đều có vô vàn những sự khác nhau về sốlượng, ví dụ những sắc thái của màu sắc, độ cứng và độ mềm, độ bền v.v
và mặc dù các mức độ ấy khác nhau về chất nhưng chúng đều đo được vànhận thức được” [4, 722] Còn trong tác phẩm “Bút ký triết học’’ khi xác
định khái niệm lượng, V.I.Lênin cũng viết: “Lượng, mà trước hết là tính số lượng với một tính quy định nào đó hay với một giới hạn nói chung, trong
tính quy định hoàn chỉnh của mình là một số” [49, 127] “Tính phân thành
số hạng, cũng như tính liên tục là một vòng khâu của lượng” [49, 127]
Như vậy, theo các nhà kinh điển các khái niệm số lượng và lượng là những khái niệm cơ bản của triết học, giữa chúng có quan hệ chặt chẽ, bao hàm nhau nhưng không đồng nhất với nhau Về khái niệm lượng, các sách
giáo khoa triết học hiện nay đều xác định: “Lượng là khái niệm chỉ tính quy
Trang 11định của sự vật hiện tượng, biểu thị bằng con số các thuộc tính, tổng số các
bộ phận, đại lượng nói lên trình độ, quy mô phát triển của sự vật hiện tượng”
[123, 124] Hoặc: “Lượng là một phạm trù triết học để chỉ tính quy định vốn
có của sự vật biểu thị số lượng, quy mô, trình độ, nhịp điệu của sự vận động
và phát triển của sự vật cũng như của các thuộc tính của nó” [45, 310].
Với khái niệm số lượng, khi đặt trong mối quan hệ với lượng của sự vật
hiện tượng, nó được xem là một biểu hiện cụ thể của lượng, là một mặt,
một yếu tố, một bộ phận, “một vòng khâu’’ tạo nên tính quy định về lượngcủa sự vật hiện tượng Số lượng là một biểu hiện của lượng nhưng là một
biểu hiện quan trọng nhất của lượng Thông qua số lượng mà lượng của sự
vật được biểu hiện ra, do vậy sự biến đổi của lượng trước hết là biến đổi vềmặt số lượng Lượng đổi làm chất thay đổi Do vậy, trong tác phẩm “Biệnchứng của tự nhiên’’, Ph.Ăng ghen đã đồng nhất số lượng với lượng của sựvật hiện tượng, lấy những ví dụ từ sự biến đổi về mặt số lượng dẫn tới những
khác biệt về chất lượng và gọi quy luật đó là “quy luật về sự chuyển hoá từ
số lượng thành chất lượng và ngược lại” [4, 511].
Theo Ph.Ăng ghen và V.I.Lênin, giữa khái niệm số lượng và con số cũng
không hoàn toàn đồng nghĩa với nhau Mặc dù con số là đặc trưng cơ bảncủa số lượng, nhưng con số là những số thuần tuý làm chức năng cơ bản làtính toán về mặt số học Do đó, nó có thể phản ánh về sự vật hiện tượngtrong giới tự nhiên hoặc cũng có thể không phản ánh về sự vật, suy chocùng, con số chỉ là một sự quy ước do con người đặt ra trong quá trìnhnghiên cứu và trong hoạt động thực tiễn mà thôi, chẳng hạn như : số âm, sốdương, số ảo, số phức Còn với khái niệm số lượng thì rõ ràng phải phảnánh về một tập hợp các sự vật hiện tượng cụ thể, bao quát một loại thuộctính, một loại sự vật trong thế giới vật chất, phản ánh một mức độ nào đó về
Trang 12sự vật Chẳng hạn: số lượng học sinh, số lượng đảng viên, số lượng sảnphẩm, dân số
Từ luận giải trên, có thể quan niệm số lượng là một biểu hiện của tính quy định về lượng của sự vật hiện tượng, được biểu thị ở những con số cụ thể, nói lên mức độ khác nhau và sự cấu tạo về lượng của sự vật hiện tượng trong thế giới vật chất.
Đến nay có rất nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm chất và chấtlượng, có quan niệm đồng nhất chất với chất lượng của sự vật hiện tượng.Theo họ, chất phải được hiểu là chất lượng của sự vật hiện tượng, là “tên gọi
tắt của chất lượng” mà thôi [10 ] Nhưng theo chúng tôi, nên có sự phân biệt chất với chất lượng của sự vật hiện tượng Khi bàn về khái niệm chất, V.I.lê
nin đã viết: “Tính quy định, cô lập vì mình với tư cách là cái hiện có, đó làchất”, “Chất được phân biệt như là cái hiện có, đó là thực tại” [49,114].Như vậy, theo V.I.Lênin, chất là tính quy định của sự vật, hiện tượng, là sựtồn tại với tư cách là cái hiện có, quy định chiều hướng vận động, phát triểncủa sự vật, hiện tượng Khi tính quy định về chất mất đi thì sự vật, hiệntượng cũng thay đổi theo Chất là cái cấu tạo nên sự vật hiện tượng, cái đểphân biệt sự vật hiện tượng này với sự vật hiện tượng khác [127, 138] Nhưvậy, “chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ tính quy định khách quanvốn có của sự vật hiện tượng, là sự thống nhất hữu cơ các thuộc tính, làm
cho nó là nó mà không phải là cái khác” [45, 307] Còn chất lượng là một biểu hiện cụ thể tính quy định về chất của sự vật hiện tượng, nó thường gắn
với độ tốt xấu của sự vật hiện tượng, với tính hiệu quả trong hoạt động của
con người Chất lượng là “cái tạo nên phẩm chất, giá trị của một con người, một sự vật hiện tượng” [126, 139] Là một biểu hiện của tính thống nhất,
tính toàn vẹn của sự vật hiện tượng, nó gắn liền với kết cấu của sự vật và
Trang 13phản ánh các cấp độ khác nhau về chất của sự vật hiện tượng trong thế giớivật chất
Việc thống nhất nhận thức chung về số lượng và chất lượng là cơ sở đểxác định khái niệm số lượng và chất lượng con người trong sức mạnh chiếnđấu của quân đội Con người, xét theo nghĩa triết học, là một thực thể vậtchất phức tạp không chỉ bao gồm những yếu tố sinh học, mà còn là và chủyếu là sản phẩm của những quá trình xã hội, quá trình tâm lý, ý thức C.Mácviết: “Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hoà các mốiquan hệ xã hội” [64, 11] Do vậy, nó là đối tượng nghiên cứu của nhiềungành khoa học khác nhau Phạm vi đề tài này chỉ nghiên cứu con ngườihoạt động trong lĩnh vực quân sự, một lĩnh vực hoạt động đặc thù của xã hội,nên ngoài những đặc điểm của con người nói chung, còn mang những đặcđiểm riêng do đặc thù của lĩnh vực quân sự quy định
Khi xây dựng khái niệm số lượng con người trong sức mạnh chiến đấucủa quân đội thì nội hàm cơ bản của nó cần xác định là những con số cụ thể
về đội ngũ cán bộ, sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ, quân nhân chuyên nghiệp và
viên chức quốc phòng trong biên chế của quân đội, “là số đầu người phục
vụ trong quân đội nói chung và trong từng quân chủng, binh chủng, trong các binh đoàn, bộ đội và phân đội” [98, 269]; là quân số của quân đội, từ
quân số của một đơn vị, quân số của một trung đoàn, một sư đoàn , cho đếntổng quân số trong toàn quân
Với tính cách là một trong những yếu tố tạo nên sức mạnh chiến đấu củaquân đội, khái niệm số lượng con người ở đây không phản ánh những conngười riêng lẻ, biệt lập, mà là những con người trong một chỉnh thể, một tậphợp, một tổng số những con người hiện thực, những quân nhân được sắpxếp, liên kết lại với nhau trong một tổ chức và theo một cơ cấu thống nhất
Trang 14của quân đội “Các lực lượng vũ trang không phải là một tổng số đơn giản,
mà là một thể thống nhất, nhất định của những người có vũ trang được tổchức lại theo một cách thích hợp, là một hệ thống chặt chẽ có cơ cấu rõ ràng
và chỉ huy tập trung” [98, 228] Mỗi con người tham gia vào tổ chức đó cómối quan hệ chặt chẽ với nhau tạo thành một chỉnh thể thống nhất trong một
tổ chức quân đội
Số lượng con người trong sức mạnh chiến đấu của quân đội được xem xét ở các cấp độ khác nhau: Ở cấp độ tổng thể cho ta nhận thức được tổng quân số có trong biên chế của quân đội Ở cấp độ cụ thể, nó phản ánh quân số cụ thể của từng đơn vị, từng quân chủng, binh chủng trong quân đội; phản ánh mối tương quan tỉ lệ giữa cán bộ, sĩ quan với chiến sĩ;giữa sĩ quan sơ cấp, sĩ quan trung cấp và sĩ quan cao cấp; giữa cán bộ chính trị, cán bộ quân sự và các loại cán bộ khác; giữa đơn vị với cơ quan, giữa lực lượng thường trực chiến đấu với lực lượng dự bị động viên, giữa lực lượng trực tiếp chiến đấu với lực lượng phục vụ chiến đấu trong quân đội nói chung và trong từng quân chủng, binh chủng nói riêng
Yêu cầu tinh giảm về số lượng, xây dựng “quân số hợp lý” không chỉ là
hạ thấp tổng số con người tham gia quân đội, mà còn là ở chỗ bố trí, sắp xếp
và tổ chức lại các lực lượng bộ đội trong các quân khu, quân đoàn, các đơn
vị trong toàn quân Điều chỉnh tỷ lệ giữa số lượng cán bộ với chiến sĩ, giữalực lượng thường trực với lực lượng dự bị động viên, giữa các vùng, miềncủa đất nước một cách phù hợp để nâng cao sức mạnh chiến đấu của quânđội
Từ phân tích trên, cho phép khẳng định: số lượng con người trong sức mạnh chiến đấu của quân đội là khái niệm chỉ tổng số quân nhân có
Trang 15trong biên chế của quân đội, được sắp xếp và liên kết lại với nhau theo một cơ cấu, tổ chức tương ứng với một trình độ nhất định về chất lượng con người, phù hợp với vũ khí, trang bị kỹ thuật, với khả năng kinh tế và điều kiện dân số, với khoa học và nghệ thuật quân sự, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của quân đội trong mỗi giai đoạn lịch sử nhất định.
Như vậy, khái niệm số lượng con người không đồng nhất với lượng của
con người trong sức mạnh chiến đấu của quân đội Tính quy định về lượng của con người trong sức mạnh chiến đấu của quân đội bao gồm số lượng con người với các đại lượng xác định về bản lĩnh chính trị, lập trường giai cấp, trình độ học vấn, tri thức khoa học, tính tổ chức kỷ
luật…phản ánh quy mô, trình độ vận động, phát triển của yếu tố con người trong sức mạnh chiến đấu của quân đội Như vậy, khái niệm lượng
con người trong sức mạnh chiến đấu của quân đội có nội hàm rộng hơn nội hàm của khái niệm số lượng con người trong sức mạnh chiến đấu của quân đội Bên cạnh mặt cụ thể (biểu hiện ở số lượng con người, số lượng các đơn vị, hạm tàu, quân chủng, binh chủng), tính quy định về lượng con người trong sức mạnh chiến đấu của quân đội còn biểu hiện ở con số xác định về trình độ giác ngộ chính trị, trình độ học vấn, tính tổ chức kỷ luật, trình độ kỹ năng kỹ sảo của bộ đội Còn nội hàm của khái niệm số lượng con người trong sức mạnh chiến đấu của quân đội phản ánh một phạm vi rất hẹp về lượng con người trong sức mạnh chiến đấu của quân đội, là số lượng quân nhân (quân số), số lượng các đơn vị, số lượng này được sắp xếp theo một cơ cấu tổ chức, biên chế xác định trong mỗi quân đội Ví dụ, một tiểu đội bộ binh gồm 9 người, trung đội
bộ binh gồm 3 tiểu đội; trong toàn quân bao gồm tổng quân số, các quân chủng, binh chủng; các quân khu, quân đoàn v.v Tuy nhiên, số lượng con người trong sức mạnh chiến đấu của quân đội là yếu tố quan
Trang 16trọng nhằm xác định lên tính quy định về lượng con người trong sức mạnh chiến đấu của quân đội Sự biến đổi về mặt số lượng con người trong sức mạnh chiến đấu của quân đội quy định trực tiếp đến sự biến đổi về lượng con người trong sức mạnh chiến đấu của quân đội.
Đối với mỗi quân đội, số lượng này được tổ chức ra nhiều hay ít không phải do sự áp đặt chủ quan, tuỳ ý của các giai cấp, nhà nước tổ chức ra
nó Việc xác định số lượng con người trong sức mạnh chiến đấu của quânđội phải tương ứng với một trình độ chất lượng của những con người ấy; phù hợp với trình độ phát triển của vũ khí, trang bị kỹ thuật trong quân đội; với tổ chức, biên chế của mỗi quân đội; với điều kiện kinh tế, tình hình dân số và sự phát triển dân trí của đất nước Việc xác định số lượng con người trong sức mạnh chiến đấu của quân đội xuất phát từ chiến lượcxây dựng và bảo vệ tổ quốc, từ nhiệm vụ quốc phòng an ninh, từ mục tiêu, phương hướng xây dựng quân đội, xây dựng lực lượng vũ trang của mỗi quốc gia, dân tộc nhằm đảm bảo cho quân đội hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao
Việc xác định số lượng con người tham ra quân đội phải căn cứ vào mốiquan hệ giữa nhiệm vụ quốc phòng an ninh và nhiệm vụ phát triển kinh tế xãhội của đất nước, trên cơ sở phân tích đúng âm mưu thủ đoạn của kẻ thù, cácđối tượng tác chiến của quân đội trong hiện tại và tương lai; trong thời bình
và khi có chiến tranh xảy ra nhằm đảm bảo cho quân đội hoàn thành thắnglợi mọi nhiệm vụ được giao
Số lượng con người trong sức mạnh chiến đấu của quân đội được xácđịnh phải phù hợp với vũ khí, trang bị kỹ thuật trong quân đội Việc xác định
số lượng con người trong điều kiện vũ khí, trang bị kỹ thuật thô sơ khác với
số lượng con người được tổ chức ra trong điều kiện vũ khí, trang bị kỹ thuật
Trang 17hiện đại Số lượng con người cũng tuỳ thuộc vào cách đánh, vào khoa họcnghệ thuật quân sự của mỗi nước…
Số lượng con người trong sức mạnh chiến đấu của quân đội không phải
là những con số cố định, bất biến mà luôn luôn vận động biến đổi tuỳ theo nhiệm vụ chính trị trong từng thời kỳ, yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc,
phương hướng xây dựng quân đội, vào mô hình tổ chức quân đội trong thờichiến hoặcs thời bình
Xem xét số lượng con người không tách rời với chất lượng con người trong sức mạnh chiến đấu của quân đội Tuân thủ quan niệm chung về chất
lượng, khi tiếp cận khái niệm chất lượng con người trong sức mạnh chiếnđấu của quân đội, các nhà nghiên cứu đều có sự thống nhất khi nêu bật cácyếu tố, các thuộc tính cơ bản, chủ yếu của chất lượng con người I.A.Gru-đi-nhin cho rằng: “Tính quy định về chất của bộ đội bao gồm thành phần giaicấp, trình độ giác ngộ chính trị tinh thần, tính tổ chức kỷ luật, kỹ năng chiếnđấu của chiến sĩ và nghệ thuật chiến dịch, chiến thuật của cán bộ chỉ huy,trình độ trang bị, khoa học quân sự và truyền thống ” [42,143] Đại tướng
Võ Nguyên Giáp đã khẳng định: “Chất lượng của lực lượng vũ trang chủyếu biểu hiện ở trình độ giác ngộ chính trị, ở tinh thần chiến đấu, ở tinh thầnđoàn kết nội bộ, đoàn kết quân dân Chất lượng của lực lượng vũ trang cònbiểu hiện ở trình độ kỹ chiến thuật và trình độ tổ chức chỉ huy” [38, 57].Cũng có quan niệm cho rằng: “Chất lượng của quân đội là tổng hợp các chỉtiêu nói lên trạng thái tinh thần, bản lĩnh chiến đấu, trình độ rèn luyện về tâm lý
và thể lực của quân đội” [98, 269]
Để có một quan niệm chính xác và đầy đủ hơn khái niệm chất lượng con người trong sức mạnh chiến đấu của quân đội, cần có phương pháp tiếp cận phù hợp
Trang 18Thứ nhất, khái niệm “chất lượng con người trong sức mạnh chiến đấu của
quân đội” gắn liền với khái niệm “chất con người trong sức mạnh chiến đấucủa quân đội” Chất con người trong sức mạnh chiến đấu của quân đội làtổng hợp các mặt, các thuộc tính quy định phẩm chất chiến đấu, khả năngchiến đấu của con người trong quân đội; bao gồm phẩm chất chính trị, ý chíchiến đấu, tính tổ chức kỷ luật, trạng thái tâm lý, kỹ năng, kỹ xảo chiến đấu,sức khoẻ… Trên cơ sở các yếu tố cấu thành chất con người trong sức mạnhchiến đấu của quân đội để xác định các yếu tố hợp thành chất lượng conngười trong sức mạnh chiến đấu của quân đội Đó là: sự giác ngộ chính trị,tính tổ chức kỷ luật nghiêm minh, ý chí quyết tâm cao, trình độ học vấn, trithức, sự thành thạo các kỹ năng, kỹ xảo trong thực hành chiến đấu, có sứckhoẻ tốt…
Thứ hai, khi xem xét chất lượng con người trong sức mạnh chiến đấu của
quân đội phải xác định rõ các thuộc tính, các mặt, các đặc trưng vốn có củanhững con người quân nhân, từ các thuộc tính tạo nên chất lượng của từngcon người đến các yếu tố quyết định chất lượng tổng hợp của tổng thể nhữngcon người có trong biên chế của quân đội Mặc dù chất lượng của từng conngười là cơ sở cấu thành chất lượng của tổng số những con người, nhưng khixét con người trong mối quan hệ với sức mạnh chiến đấu của quân đội thìphải xem xét các yếu tố trong mối quan hệ hữu cơ để tạo nên tính quy định
về chất của tổng số con người hợp thành Các thuộc tính tạo nên chất lượngcủa từng người hoàn toàn không đồng nhất với các thuộc tính tạo nên chấtlượng của mỗi tổ chức quân đội và của tổng số con người trong sức mạnhchiến đấu của quân đội
C.Mác viết rằng: “Sức mạnh tiến công của một đại đội kỵ binh hay sức chống cự của một trung đoàn bộ binh khác hẳn sức mạnh tiến công và
Trang 19phòng ngự của từng người lính kỵ binh hay bộ binh gộp lại” [65,480] Theo Ph.Ăng ghen, sức mạnh chiến đấu của quân đội chỉ có thể được hình thành trên cơ sở của sự liên kết những con người quân nhân lại với nhau mà “sự hợp tác của nhiều cá nhân, sự dung hợp của nhiều sức thànhmột hợp sức, sẽ tạo ra, theo cách nói của Mác, một “sức mới” nào đó căn bản khác với tổng số những sức cá biệt hợp thành nó” [3, 181] Nếu xem xét chất lượng con người chỉ dừng lại ở những cá nhân đơn lẻ thì không thể hiểu được sức mạnh chiến đấu do những con người đó tạo thành
Thứ ba, các thuộc tính tạo nên chất lượng con người, trong chừng mực
nhất định, cũng là các yếu tố nằm trong sức mạnh chiến đấu của quân đội
Do vậy, quá trình xem xét chất lượng con người không được chung chung,trừu tượng, tách rời, cô lập, mà phải gắn với hoạt động quân sự xác định, đặttrong tổng thể các yếu tố tạo thành sức mạnh chiến đấu của quân đội; từ đóchỉ ra các mặt, các thuộc tính cơ bản quyết định chất lượng con người trongsức mạnh chiến đấu của quân đội Nếu xem xét chất lượng con người khônggắn với sức mạnh chiến đấu của quân đội thì nó cũng chỉ là một khái niệmtrống rỗng, không có nội dung hiện thực để phản ánh Xét cho cùng, sứcmạnh chiến đấu của quân đội là biểu hiện cụ thể của chất lượng con ngườitrong hoạt động quân sự, mà hoạt động quân sự là hoạt động của con người
sử dụng những công cụ, phương tiện có tính chất bạo lực nhằm tạo nên sứcmạnh để chiến đấu để chiến thắng kẻ thù Nếu không hiểu rõ khái niệm sứcmạnh chiến đấu của quân đội thì không thể xác định đúng chất lượng conngười trong sức mạnh chiến đấu của quân đội
Thứ tư, chất lượng của sự vật là sự tổng hợp các mặt, các thuộc tính, các
đặc trưng vốn có, nên quá trình xem xét chất lượng con người trong sứcmạnh chiến đấu của quân đội, một mặt, cần thấy được các quan hệ chất
Trang 20lượng cơ bản, các thuộc tính chủ yếu quyết định, như: phẩm chất chính trịtinh thần, bản lĩnh chiến đấu, sự tinh thông nghệ thuật quân sự, tính tổ chức
kỷ luật Từ đó, chú trọng xây dựng chất lượng tổng hợp cho bộ đội Mặtkhác, các thuộc tính tạo nên chất lượng con người luôn rất trừu tượng vàphức tạp, sự biến đổi của chúng, đặc biệt là sự biến đổi của yếu tố chính trị,tinh thần, trạng thái tâm lý không thể nhận thức đầy đủ ngay được, màphải qua quá trình khảo nghiệm, thử thách trong thực tiễn chiến đấu và côngtác của mỗi cán bộ, chiến sĩ trong quân đội
Trong các thuộc tính quy định chất lượng con người trong sức mạnh
chiến đấu của quân đội, bản chất giai cấp, sự giác ngộ chính trị, tinh thần được xem là yếu tố cơ bản hàng đầu Nó là cơ sở và điều kiện để xây dựng,
nâng cao chất lượng con người; là cơ sở cho việc xây dựng sức mạnh tổnghợp của quân đội Theo Ph.Ăng ghen, xem xét khả năng chiến đấu của mộtquân đội thì trạng thái chính trị - tinh thần là một chỉ tiêu quan trọng nhất.Trạng thái chính trị tinh thần bao gồm một hệ thống những yếu tố: quanđiểm, lập trường, thái độ chính trị, tư tưởng, tình cảm Nó có vai trò tácđộng rất to lớn đến toàn bộ phẩm chất và năng lực hoạt động chiến đấu củacon người Do đó, để đánh giá đúng sức chiến đấu của bộ đội phải hiểu biếtkhông chỉ về trang bị, về trình độ kỷ luật, mà còn phải hiểu biết về sự gan
dạ, lòng dũng cảm, ý chí chiến đấu và sự sẵn sàng chịu đựng gian khổ trongchiến tranh
Các nhà lý luận quân sự của giai cấp tư sản cũng đánh giá rất cao ýnghĩa sức mạnh tinh thần của quân đội Na-pô-lê-ông cho rằng: “Lực lượngtinh thần mạnh gấp ba lần lực lượng thể chất” Còn C.Ph.Clau-dơ-vít, nhàquân sự lỗi lạc của giai cấp tư sản khẳng định: “Lực lượng tinh thần thấmsâu vào toàn bộ yếu tố chiến tranh”, “Ý chí với tính cách là một đại lượng
Trang 21tinh thần, chính là cái thúc đẩy và chỉ huy toàn bộ khối lượng vật chất” [14,126] Ông đã ví: “Những hiện tượng thể chất cũng giống như cái cán gỗ,trong khi hiện tượng tinh thần là cái mũi nhọn thực sự, đúc bằng kim loạiquý” [14, 127].
Sở dĩ trong chiến tranh, tinh thần của các lực lượng tham chiến lại giữmột vai trò quan trọng có ý nghĩa trực tiếp quyết định đến sự thành bại, bởichiến tranh là một hiện tượng đặc biệt phức tạp và nguy hiểm Nếu như mụcđích của các lĩnh vực hoạt động khác của con người là ở chỗ đạt được ít haynhiều kết quả và sự mất mát về sinh mạng con người chỉ là một hiện tượngngẫu nhiên, trong những điều kiện bình thường là cá biệt và tương đối hiếm,thì trong chiến tranh, điều đó lại là một hiện tượng tự nhiên, một “quy luậtnghiệt ngã” của mỗi bên tham chiến Muốn thực hiện bất kỳ nhiệm vụ chiếnđấu nào, mỗi bước trong tiến công hay mỗi ngày đêm trong phòng ngự đều
có sự đổ máu, đều liên quan đến sinh mạng của mỗi người Do vậy, vũ khí càng nguy hiểm đến tính mạng của con người bao nhiêu thì tinh thần của những người bị lôi cuốn vào cuộc chiến tranh lại càng trở nên quan trọng bấy nhiêu Yếu tố tinh thần của các bên tham chiến thực chất là chất lượng
con người trong quá trình chiến đấu Thông qua hoạt động chiến đấu của conngười mà yếu tố tinh thần được bộc lộ ra và có vai trò trực tiếp quyết định.Khi phân tích vai trò của nhân tố chính trị, tinh thần, V.I.Lênin đã nhấnmạnh: “Trong mọi cuộc chiến tranh, rốt cuộc thắng lợi đều tuỳ thuộc vàotinh thần của quần chúng đang đổ máu trên chiến trường” [58, 147] Ý chíđấu tranh, ý chí quyết thắng là biểu hiện cao nhất, tập trung vững chắc nhấtcủa tinh thần bộ đội Lịch sử các cuộc chiến tranh đã chứng minh rằng, vũkhí, thể lực, trí lực của người chiến binh sẽ được phát huy và sử dụng cóhiệu quả hơn chừng nào mà sự giác ngộ chính trị, tinh thần của bộ đội cao
Trang 22hơn, rằng nếu không chú ý đúng mức đến yếu tố chính trị, tinh thần của bộđội thì cho dù vũ khí, trang bị kỹ thuật chiến đấu có đầy đủ và hiện đại đếnđâu cũng không đảm bảo được thắng lợi trên chiến trường V.I.Lênin chorằng, khi mọi người đã hiểu rõ mục tiêu chiến đấu, con đường đi tới đích, tintưởng vào thắng lợi, nhận rõ ý nghĩa của cuộc chiến đấu thì mới thực sự tựgiác và xả thân “chiến đấu” dù có phải trải qua nhiều khó khăn thử thách Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đánh giá rất cao vai trò nhân tố chính trị, tinhthần của những đội quân cách mạng, Người viết: “Tuy có những vũ khí tốitân, nhưng chỉ dựa vào vũ khí và binh lực thì không thể thắng nổi quân địch.Bằng chứng là Đức đã dùng được cả một kho tàng nguyên liệu, máy móc ởchâu Âu, động viên được hàng vạn, hàng triệu binh sĩ, đã chinh phục đượcmột phần lớn các nước lớn nhỏ ở Âu châu để làm tay sai cho mình, thế màkhông thắng được Liên Xô Vì Liên Xô đã biết khéo dùng tất cả cái hay củaphép đánh trận và đã lợi dụng được hết lực lượng tinh thần của binh sĩ đãbiết dùng vũ khí ấy” [77, 221] Trong dịp kỷ niệm sáu tháng kháng chiếnchống Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Tuy khí giới ta cònkém, kinh nghiệm ta còn ít, nhưng lòng kiên quyết, chí hy sinh của tướng sĩ
ta đã đem tinh thần mà chiến thắng vật chất, hàng nghìn vị tướng sĩ ta đã lậpnên những chiến công oanh liệt vẻ vang” [82, 151]
Đảng ta cho rằng yếu tố quyết định sức mạnh của các lực lượng vũ trangcách mạng là ở tinh thần chiến đấu, ở bản chất giai cấp vô sản của nó dưới
sự lãnh đạo của Đảng chứ không phải ở vũ khí, dù khi vũ khí còn ít và thô
sơ hay khi đã nhiều và hiện đại Vì thế trong bất cứ giai đoạn nào của việc
xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng, Đảng ta cũng coi xây dựng về chính trị là quan trọng nhất Thực tiễn cũng chứng minh rằng, khi không có
sự giác ngộ chính trị, khi trạng thái tinh thần, tâm lý bị khủng hoảng cao độ
Trang 23thì dù có được vũ khí, trang bị kỹ thuật hiện đại đến đâu, người chiến binhcũng không thể tạo nên sức mạnh chiến đấu trên chiến trường
Tính tổ chức và kỷ luật là một thuộc tính quan trọng tạo nên chất lượng con người trong sức mạnh chiến đấu của quân đội Tính tổ chức và kỷ luật
là yếu tố tạo nên sự đoàn kết, thống nhất ý chí và hành động, biến ý chí, tưtưởng thành sức mạnh vật chất của người chiến binh trên chiến trường Nhờ
có tính tổ chức và kỷ luật mà người quân nhân mới có thể “vất bỏ đượcnhững giới hạn cá nhân và phát triển được những tiềm lực loài của mình”[65, 480], để tạo nên sức mạnh tập thể lớn nhất trên chiến trường Tinh thần
kỷ luật nghiêm minh chặt chẽ, tuyệt đối chấp hành luật lệ, điều lệnh và mệnhlệnh của người chỉ huy một cách chính xác là cơ sở để tạo nên sức chiến đấu
và tinh thần luôn luôn sẵn sàng chiến đấu của người quân nhân
Ph.Ăng ghen cho rằng: Nhiệt tình dân tộc có một ý nghĩa lớn lao đối vớicuộc chiến đấu nhưng nếu không có kỷ luật và tính tổ chức mà chỉ dựa vàonhiệt tình thì không một ai có thể chiến đấu thắng lợi được Theo V.I.Lênin:
“Một đội chiến đấu có tổ chức, đoàn kết chặt chẽ mà có nghị lực hăng hái thì
sẽ là một lực lượng ghê gớm” [48, 425] Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng viếtrằng: “Trong quân sự phải kiên quyết và bạo dạn Bạo dạn dũng cảm khôngphải là liều Liều là dại Dũng cảm là khôn Kiên quyết và bạo dạn khôngphải là một người mà là toàn bộ tất cả mọi người Muốn toàn bộ kiên quyết
và bạo dạn thì phải có kỷ luật Kỷ luật là động lực giữ sức mạnh của quânđội” [85, 458] “Quân đội mạnh là nhờ giáo dục khéo, nhờ chính sách đúng
và nhờ ở kỷ luật nghiêm” [90, 560] Thực tiễn chứng minh rằng một quânđội dù được trang bị đầy đủ vũ khí, lương thực nhưng không có kỷ luật,không được tổ chức chặt chẽ thì cũng không thể tạo nên sức mạnh chiến đấulớn nhất để chiến thắng kẻ thù
Trang 24Trình độ học vấn, tri thức khoa học mà người quân nhân có được là một yếu tố cấu thành chất lượng con người trong sức mạnh chiến đấu của quân đôị Trình độ học vấn, tri thức khoa học là cơ sở để mỗi người lính biết phân
tích, đánh giá tình hình, xác định quyết tâm và xử trí mau lẹ, chính xác cáctình huống xảy ra trong chiến đấu Đặc biệt trong chiến tranh hiện đại, sửdụng vũ khí công nghệ cao, trình độ học vấn và tri thức khoa học của ngườiquân nhân càng có ý nghĩa quan trọng và ngày càng tăng lên cùng với những
sự thay đổi quan trọng trong ngành quân sự Việc xem xét chất lượng conngười trong cuộc chiến tranh hiện đại không chỉ dừng lại ở sự chịu đựng hysinh, gian khổ của người chiến binh trước sự ác liệt của chiến tranh; ở sựcảm tử, sẵn sàng hy sinh vì tổ quốc, mà còn phải xem xét ở cả phương diệntrí tuệ, sự thông minh sáng tạo, sự tinh thông nghệ thuật quân sự và cả việc
sử dụng thành thạo các loại vũ khí công nghệ cao của mỗi người lính trênchiến trường
Phrun-de, nhà quân sự lỗi lạc của đất nước Xô-Viết cho rằng: “Nếungười lính mà không có một trình độ kiến thức khá thì việc tiến hành chiếnđấu hiện nay sẽ không có hy vọng vì những cuộc chiến đấu hiện nay rấtphức tạp và đồng thời hết sức khác nhau” [100, 137] C.Ph.Clau-dơ-vít đãviết: “Nếu người ta suy nghĩ sâu xa hơn nữa để thử tìm xem chiến tranh đòihỏi những người tham gia phải có đức tính gì, chúng ta sẽ thấy rằng đức tínhtrí tuệ chiếm hàng đầu” [14, 84] Còn theo V.I.Lê nin, người có năng lực trítuệ mới có được tính nhạy bén chính trị cần thiết để giải quyết một cáchchính xác mau lẹ những vấn đề chính trị phức tạp
Trình độ kỹ, chiến thuật, trình độ chỉ huy phản ánh tính quy định về chất của bộ đội Sức chiến đấu của tổ chức quân sự chỉ có thể có được khi bộ đội
được huấn luyện đầy đủ các kỹ năng, kỹ xảo chiến đấu, sử dụng thành thạo
Trang 25các loại vũ khí, trang bị kỹ thuật thô sơ và hiện đại, biết vận dụng một cáchlinh hoạt, sáng tạo các hình thức chiến thuật và nghệ thuật quân sự phù hợp.
Vũ khí, trang bị kỹ thuật dù có hiện đại đến đâu cũng chỉ có thể biến thànhsức mạnh khi tìm ra được những hình thức đúng đắn để sử dụng nó, khi bộđội biết vận dụng thành thạo các hình thức chiến thuật, nghệ thuật cách đánh
và kỹ năng, kỹ xảo thực hành chiến đấu
Trình độ kỹ, chiến thuật, khả năng chiến đấu, ý chí chiến đấu, tình trạngchính trị tinh thần… của mỗi quân nhân phụ thuộc rất lớn vào trình độ quản
lý, chỉ huy của đội ngũ cán bộ, sĩ quan, tướng lĩnh trong quân đội, phụ thuộcvào khả năng nắm bắt được các quy luật của chiến tranh, khả năng dự đoáncác tình huống bất ngờ sảy ra và khả năng áp dụng các hình thức chiến thuậtphù hợp của người chỉ huy Trong mọi thời đại và trong tất cả các quân đội,người cán bộ chỉ huy là nòng cốt tổ chức và đại diện cho sức mạnh chiếnđấu của quân đội, là người đại diện cho khoa học nghệ thuật quân sự, truyềnthống quân sự Người chỉ huy ở bất kỳ cấp nào không những là người chấphành nghiêm chỉnh mệnh lệnh của cấp trên, mà còn biến những mệnh lệnh,chỉ thị của cấp trên thành hành động lãnh đạo, chỉ huy bộ đội hoàn thànhmội nhiệm vụ được giao Họ phải động viên cổ vũ cấp dưới lập chiến côngbằng phẩm chất và tài năng đánh giá tình hình của mình, bằng năng lựcnhanh chóng tìm ra phương án chiến đấu tối ưu nhất để giành thắng lợi trênchiến trường
Từ phân tích trên, có thể quan niệm: Chất lượng con người trong sức mạnh chiến đấu của quân đội là tổng hợp các mặt, các thuộc tính vốn có
về thành phần giai cấp, sự giác ngộ chính trị, tinh thần, tính tổ chức kỷ luật, trạng thái tâm lý, tri thức khoa học, trình độ kỹ chiến thuật, khả năng sử dụng thành thạo vũ khí trang bị kỹ thuật và sức khoẻ của quân
Trang 26nhân, bản lĩnh lãnh đạo, chỉ huy của đội ngũ cán bộ, sĩ quan đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao về khả năng chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu của quân đội trong từng giai đoạn lịch sử xác định.
Tất cả những thuộc tính quy định chất lượng con người đều có quan hệchặt chẽ, tác động lẫn nhau, làm điều kiện cho nhau và bổ sung cho nhau đểtạo nên chất lượng con người trong sức mạnh chiến đấu của quân đội Nếungười lính có sự giác ngộ cao về mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, bản lĩnhchính trị vững vàng, niềm tin và ý chí quyết chiến quyết thắng trên chiếntrường sẽ là điều kiện để nâng cao trạng thái tâm lý, tinh thần trong chiếnđấu Việc nâng cao sự giác ngộ chính trị, tinh thần lại phụ thuộc trực tiếpvào sự tổ chức giáo dục khéo léo của người chỉ huy, tuỳ thuộc vào trình độtrí tuệ, tình trạng sức khoẻ và thể lực của bộ đội Chủ tịch Hồ Chí Minh đãviết: “Kháng chiến trường kỳ, thì quân đội phải có đủ súng đạn, quân và dânphải đủ ăn, đủ mặc Nước ta nghèo, kỹ thuật lại kém chúng ta phải dùngtinh thần hăng hái của toàn dân để tìm cách giải quyết sự thiếu kém về vậtchất” [88, 163] Do vậy, trong khi coi trọng xây dựng chất lượng từng mặt
cho bộ đội, phải quán triệt quan điểm xây dựng chất lượng tổng hợp để
nâng cao sức mạnh chiến đấu của quân đội Trong khi đặt nhân tố chính trị,tinh thần lên hàng đầu, thì cũng không được hạ thấp, xem nhẹ các yếu tố kháctrong xây dựng chất lượng con người
Cùng với số lượng, chất lượng con người cũng luôn luôn vận động, biến đổi theo hai chiều hướng tăng lên, giảm đi do số lượng quân nhân nhập ngũ,
tái ngũ và xuất ngũ hàng năm, vấn đề tuổi tác hoặc do những thương vong,
hi sinh, mất mát trong chiến đấu Vì vậy, để củng cố, duy trì và phát triểnchất lượng con người trong sức mạnh chiến đấu của quân đội phải coi trọng
Trang 27đến công tác bồi dưỡng, giáo dục, huấn luyện và rèn luyện thường xuyên cho
bộ đội
Số lượng và chất lượng con người trong sức mạnh chiến đấu của quânđội là cặp khái niệm không đồng nhất với cặp khái niệm lượng và chất conngười trong sức mạnh chiến đấu của quân đội Bởi lẽ số lượng con người chỉ
là một biểu hiện cụ thể về lượng con người trong sức mạnh chiến đấu củaquân đội; ngoài yếu tố số lượng, lượng con người còn bao hàm các yếu tốkhác Tuy nhiên, các cặp khái niệm này lại có mối quan hệ rất chặt chẽ vớinhau Vì nói đến lượng trước hết phải nói đến số lượng, mọi sự thay đổi vềlượng phải được bắt đầu bằng sự thay đổi về số lượng Trên cơ sở chất tổnghợp và chất thuộc tính của con người trong sức mạnh chiến đấu của quân đội
để đánh giá chất lượng con người trong sức mạnh chiến đấu của quân đội
Do vậy, mối quan hệ lượng – chất là cơ sở phương pháp luận quan trọngnhất của mối quan hệ giữa số lượng và chất lượng con người trong sức mạnhchiến đấu của quân đội
Chương 2 THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG YÊU CẦU MỚI GIẢI QUYẾT MỐI QUAN HỆ GIỮA SỐ LƯỢNG VÀ CHẤT LƯỢNG CON NGƯỜI TRONG NÂNG CAO SỨC MẠNH CHIẾN ĐẤU CỦA QUÂN ĐỘI
NHÂN DÂN VIỆT NAM HIỆN NAY
2 1 Thực trạng giải quyết mối quan hệ giữa số lượng và chất lượng con người trong nâng cao sức mạnh chiến đấu của Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay
Việc đánh giá đúng thực trạng mối quan hệ giữa số lượng và chất lượngcon người trong nâng cao sức mạnh chiến đấu của quân đội sẽ là cơ sở thựctiễn quan trọng để xác định phương hướng, đề ra các giải pháp cơ bản, phù
Trang 28hợp góp phần giải quyết tốt hơn nữa mối quan hệ giữa số lượng và chấtlượng con người nhằm nâng cao sức mạnh chiến đấu của quân đội, xây dựngquân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ và từng bước hiện đại Thời điểm
để đánh giá thực trạng được giới hạn trong giai đoạn đất nước đã thực sựchuyển từ thời chiến sang thời bình, nhiệm vụ chủ yếu của đất nước và quânđội ta là xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủnghĩa Cụ thể là sau khi quân tình nguyện Việt Nam đã hoàn thành nhiệm vụgiúp đỡ nước bạn Căm - Pu - Chia và rút hết quân về nước (tháng 9 năm1989), đất nước và quân đội ta, về cơ bản đã ra khỏi chiến tranh và chuyểnsang một thời kỳ mới, thời kỳ xây dựng đất nước trong hoà bình
Thời gian qua dưới sự lãnh đạo và chỉ đạo của Đảng uỷ quân sự Trungương và Bộ Quốc phòng, quân đội ta đã tiến hành tinh giảm biên chế, giảmquân, chấn chỉnh tổ chức lực lượng, giải thể và sát nhập nhiều đơn vị, nhàtrường, quân chủng, binh chủng Đặc biệt đã “chấn chỉnh một bước cơ bản
tổ chức biên chế lực lượng vũ trang, giảm được 60 vạn quân thường trực;đồng thời chú ý xây dựng lực lượng dự bị động viên và nâng cao chất lượngdân quân tự vệ” [21, 36] Trên cơ sở quán triệt đường lối nhiệm vụ quân sự,quốc phòng của Đảng trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, nhất là từkhi có nghị quyết 07/ NQ-TW ngày 28/11/1998 của Bộ Chính trị về tổ chứcQuân đội nhân dân Việt Nam đến năm 2005, quân đội ta đã thực hiện tốt kế
Trang 29hoạch đIều chỉnh bố trí chiến lược, từng bước chấn chỉnh tổ chức, biên chế,từng bước giảm tổng quân số thường trực đi đôi với xây dựng và tổ chức lựclượng dự bị vững mạnh
Đến nay quân đội ta đã cơ bản hoàn thành bước một kế hoạch chấn chỉnh
tổ chức theo nghị quyết 33 của Đảng uỷ quân sự Trung ương Trong đó đãchấn chỉnh cơ cấu tổ chức một số cơ quan cấp chiến lược và chiến dịch Saukhi sát nhập, tinh giảm quân số, điều chỉnh lực lượng, các đơn vị đã nhanhchóng ổn định về tổ chức, biên chế và trang bị, từng bước nâng cao chấtlượng con người và sức mạnh chiến đấu của đơn vị Trong điều kiện kinh tếcủa đất nước còn nhiều khó khăn nhưng các sư đoàn, quân đoàn chủ lực, cácđơn vị làm nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu ở biên giới, biển, đảo và các khuvực phòng thủ trọng điểm của đất nước, luôn luôn có đủ quân số theo biênchế chiến đấu của từng đơn vị Trong khi số lượng quân thường trực chiếnđấu được tinh giảm và tổ chức gọn nhẹ thì số lượng quân dự bị động viên đã
có bước phát triển mới trên cả nước, sẵn sàng động viên cho quân đội khi cóchiến tranh xảy ra
Trong toàn quân đã đảm bảo một tỷ lệ cân đối, phù hợp giữa số lượngcán bộ, sĩ quan với chiến sĩ, quân nhân chuyên nghiệp và viên chức quốcphòng; giữa lực lượng bộ binh với lực lượng hải quân và lực lượng khôngquân; giữa lực lượng thường trực chiến đấu và lực lượng dự bị động viên;giữa số lượng các quân chủng, binh chủng, trên các đơn vị chiến lược vàtrong từng khu vực phòng thủ của đất nước
Xét riêng đội ngũ cán bộ quân đội trên phạm vi toàn quân cũng như từng quân khu, quân đoàn, quân chủng, binh chủng đều có đủ số lượng đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong từng đơn vị Số lượng cán bộ thừa hoặc thiếu
ở một số đơn vị không nhiều, không làm ảnh hưởng đến thực hiện nhiệm
Trang 30vụ Trong điều kiện chiến tranh, quân số đông nên tỷ lệ sĩ quan so với tổng quân số thường thấp hơn Nhưng trong hoà bình cần phải có một lựclượng cán bộ dự trữ cần thiết để sẵn sàng phát triển lực lượng khi có tình huống chiến tranh xảy ra, nhất là trong thời kỳ chuyển giai đoạn từ chiến tranh sang hoà bình cũng cần phải có lực lượng sĩ quan dư ra để luân phiên đi đào tạo nâng cao trình độ mọi mặt và sàng lọc để đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng con người của đội ngũ cán bộ trong quân đội.
Trong điều kiện phải tinh giảm số lượng quân thường trực chiến đấu, chấn chỉnh cơ cấu tổ chức, biên chế, nhưng quân đội ta vẫn đảm bảo duy trì sự ổn định về mặt chất lượng con người, kết hợp chặt chẽ giữa tinh giảm về số lượng và nâng cao chất lượng con người trong sức mạnh chiến đấu của quân đội
Thực tiễn vừa qua, tuy số lượng con người luôn luôn biến động (do phải tinh giảm, sát nhập, do lượng quân nhân nhập ngũ, xuất ngũ, do sức khoẻ
và tuổi tác…), song về chất lượng con người trong sức mạnh chiến đấu của quân đội vẫn không ngừng được nâng lên Đại bộ phận cán bộ, chiến
sĩ trong quân đội đều có bản lĩnh chính trị vững vàng, tuyệt đối tin tưởng vào sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình của Đảng, vào sự thắng lợi của công cuộc đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa; luôn kiên định mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, nhất trí cao và thực hiện nghiêm túc, sáng tạo đường lối đổi mới của Đảng, nêu cao ý chí quyết chiến quyết thắng,
nỗ lực phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, giữ vững phẩm chất
“Bộ đội Cụ Hồ” [133][135] Trong những giai đoạn khó khăn, phức tạp, trước những thử thách khắc nghiệt của cuộc sống, đội ngũ cán bộ, chiến
sĩ vẫn trung thành với sự nghiệp cách mạng của Đảng và công cuộc đổi mới của đất nước, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã
Trang 31hội, nêu cao tinh thần đoàn kết, thống nhất nội bộ, có ý thức cảnh giác cao với mọi âm mưu thủ đoạn của các thế lực thù địch, có tinh thần trách nhiệm cao, luôn khắc phục khó khăn hoàn thành nhiệm vụ “Phần đông cán bộ, đảng viên kiên định mục tiêu, lý tưởng cách mạng, ra sức phấn đấu thực hiện Cương lĩnh, Điều lệ, đượng lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; có nhận thức đúng hơn về chủ nghĩa xã hội, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta và những vấn đề cốt yếu của cách mạng” [27,3]
Đội ngũ cán bộ cấp chiến dịch, chiến lược đa số được rèn luyện, thử thách trong thực tế chiến đấu, đấu tranh cách mạng và thực tiễn xây dựngquân đội, được đào tạo và bồi dưỡng đúng cương vị Đó thực sự là một đội ngũ có bản lĩnh và kinh nghiệm lãnh đạo, chỉ huy đơn vị, tiêu biểu về
sự kiên định, vững vàng của Đảng, của quân đội, có phẩm chất đạo đức cách mạng trong sáng, tinh thần chịu đựng khó khăn gian khổ, hy sinh, cótrình độ năng lực hoạt động thực tiễn, giáo dục bộ đội, biết vận dụng những kinh nghiệm chiến đấu, phát triển khoa học nghệ thuật quân sự Việt Nam và biết áp dụng những thành tựu khoa học và công nghệ hiện đại vào điều kiện cụ thể xây dựng quân đội Đội ngũ đó thực sự là nòng cốt để xây dựng và nâng cao chất lượng con người và sức mạnh chiến đấu của quân đội
Báo cáo của thường vụ Đảng uỷ quân sự Trung ương tại hội nghị toànquân ngày 15/10/1997 đã khẳng định: “Trận địa chính trị tư tưởng của Đảngtrong quân đội tiếp tục được củng cố vững chắc, trình độ giác ngộ của cán
bộ, chiến sĩ được nâng lên Trước những diễn biến phức tạp của tình hình vàtác động tiêu cực của xã hội, tuyệt đại bộ phận cán bộ, đảng viên vẫn kiênđịnh chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu lý tưởng xã
Trang 32hội chủ nghĩa, nhất trí cao với đường lối quan điểm của Đảng Có thái độ rõràng trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái thù địch, kiên quyếtkhắc phục khó khăn, chấp hành thắng lợi mọi nhiệm vụ” [29,4].
Trong xu thế phát triển chung của đất nước, với sự chỉ đạo của Đảng và Nhà nước trong đẩy mạnh chiến lược giáo dục và đào tạo, nâng cao dân trí, đào tạo nhân tài, mặt bằng tri thức và trình độ học vấn của cán bộ, chiến sĩ quân đội từng bước được nâng lên, trình độ năng lực lãnh đạo, quản lý, chỉ huy, chuyên môn kỹ thuật đã có nhiều tiến bộ đáp ứng nhữngyêu cầu mới Đặc biệt với chủ trương “đại học hoá” đội ngũ cán bộ, sĩ quan trong quân đội ta theo nghị quyết 93 của Đảng uỷ quân sự Trung ương ngày 01/06/1994, đội ngũ cán bộ, sĩ quan đạt trình độ đại học và sau đại học ngày càng nhiều Số cán bộ chưa qua trường, lớp cũng được bồi dưỡng, đào tạo tương đối cơ bản về lý luận chính trị, khoa học nghệ thuật quân sự, khoa học quản lý kinh tế trong quân đội
Hiện nay, số lượng cán bộ đã qua trường chiếm khoảng 99,52% (trong đóđào tạo cơ bản, dài hạn 66,46%, Cao đẳng, Đại học là 50,62%) [130] Phẩmchất tư duy trí tuệ, trình độ học vấn cao của đội ngũ cán bộ là cơ sở khoa học
để xây dựng niềm tin, bản lĩnh chính trị vững vàng, tinh thần độc lập, tự chủ,sáng tạo trong mọi hoạt động, xử lý đúng các tình huống phức tạp, đi đầutrong cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc và đấu tranh chống tiêu cựcrất gay go và quyết liệt
Trong điều kiện đất nước chuyển sang nền kinh tế thị trường, phần lớn cán bộ, chiến sĩ trong quân đội ta vẫn giữ được phẩm chất đạo đức cách mạng, có ý thức tổ chức kỷ luật, giữ vững kỷ cương, chấp hành tốt pháp luật của Nhà nước và của quân đội, có lối sống trong sạch, lành mạnh Nhiều cán bộ, chiến sĩ quân đội đã nêu những tấm gương sáng về tinh
Trang 33thần tận tuỵ với công việc, cần kiệm, liêm chính, chí công vô tư Trước những tác động tiêu cực và những khó khăn của đời sống kinh tế xã hội, đội ngũ cán bộ, sĩ quan, chiến sĩ quân đội vẫn luôn đoàn kết thống nhất chặt chẽ, chịu đựng những hy sinh, vất vả, hết lòng giúp đỡ nhân dân được nhân dân tin yêu, kính trọng, nêu cao truyền thống tốt đẹp của “Bộ đội Cụ Hồ”
* Điểm yếu:
So với yêu cầu đặt ra hiện nay, việc giải quyết mối quan hệ giữa số lượng và chất lượng con người trong quân đội ta còn nhiều hạn chế, bất cập, ảnh hưởng đến quá trình nâng cao sức mạnh chiến đấu của quân đội
Việc duy trì số lượng con người ở một số đơn vị vẫn chưa thật hợp lý,chất lượng một số mặt chưa cao Trong nhận thức và thực hiện ở một số đơn
vị mới chỉ dừng lại ở quân số, chưa đi sâu vào yếu tố chất lượng và coi nângcao chất lượng là yếu tố quyết định nâng cao sức mạnh chiến đấu của quân
đội Do các nguyên nhân khác nhau nên số lượng con người trong quân đội
ta hiện nay vẫn còn nhiều biến động, chưa thật sự ổn định, gây ảnh hưởng đến công tác huấn luyện, giáo dục và rèn luyện bộ đội nhằm nâng cao chất lượng con người và sức mạnh chiến đấu của quân đội.
Nhiều đơn vị chưa đảm bảo quân số đúng theo biên chế; còn các đơn vị
đủ quân số thì chất lượng chưa cao, chưa đủ mạnh, vũ khí, trang bị kỹ thuậtcòn thiếu đồng bộ; chất lượng huấn luyện, đặc biệt là cấp phân đội còn thấp
Cơ cấu tổ chức, biên chế về quân số ở một số đơn vị không phù hợp so vớiyêu cầu tổ chức quân đội trong thời bình, còn có những biểu hiện cồng kềnh,kém hiệu quả Đảng và Nhà nước ta đã xác định quân đội có ba chức năng:chức năng chiến đấu, chức năng sản xuất và chức năng công tác, trong đó
Trang 34chức năng chiến đấu là chức năng chủ yếu, hàng đầu Tuỳ thuộc vào nhiệm
vụ chính trị của từng đơn vị để xác định cơ cấu tổ chức, biên chế về mặt sốlượng và nâng cao chất lượng con người Cơ cấu tổ chức, biên chế các đơn
vị làm nhiệm vụ chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu phải luôn được coi trọng,
nó hoàn toàn khác với cơ cấu tổ chức, biên chế của các đơn vị đảm nhiệmchức năng sản xuất và công tác Nếu không có sự nhận thức đúng đắn, khoahọc vấn đề này sẽ dẫn đến sự nhầm lẫn trong quá trình giải quyết mối quan
hệ giữa số lượng và chất lượng con người cho phù hợp với yêu cầu thực hiệnnhiệm vụ của từng đơn vị trong quân đội
Việc sát nhập một số đơn vị, nhà trường quân đội được tiến hành rấtchậm, còn nhiều lúng túng, bị động, thiếu sự nhất quán Nhiều đơn vị chỉtinh giảm trong kế hoạch, còn trên thực tế lại được mở rộng hơn Trong điềukiện đất nước có hoà bình, việc duy trì quân số không hợp lý ở một số đơn vị
sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng nuôi dưỡng, huấn luyện, trang bị đểnâng cao chất lượng con người và sức mạnh chiến đấu của quân đội
Trong khi cắt giảm nhiều đơn vị hiệu quả chiến đấu thấp, không còn phùhợp với yêu cầu của cuộc chiến tranh hiện đại, thì việc tổ chức, xây dựng cácđơn vị chiến đấu mới, nhất là một số đơn vị thuộc các quân chủng, binh
chủng đặc biệt tinh nhuệ để nâng cao chất lượng con người vẫn còn rất hạn
chế so với yêu cầu, nhiệm vụ mới của quân đội ta hiện nay Như các đơn vịchống bạo loạn lật đổ, chống diễn biến hoà bình, lực lượng cảnh sát biển…Xét toàn quân, quân số trong quân đội ta tương đối phù hợp với yêu cầu xây dựng chất lượng con người và sức mạnh chiến đấu của quân đội, phù hợp với khả năng đáp ứng của nền kinh tế cũng như với tình hình dân số của đất nước Nhưng nếu xét một số đơn vị cụ thể lại có những biểu hiện chưa phù hợp, mất cân đối về mặt quân số; tỉ lệ cán bộ, sĩ quan và chiến
Trang 35sĩ; giữa cán bộ chính trị, quân sự và khoa học kỹ thuật; giữa lực lượng thường trực chiến đấu với lực lượng dự bị động viên
Trong tinh giảm quân số, đối với hạ sĩ quan và chiến sĩ có thể giải quyếtnhanh chóng bằng cách giảm số lượng gọi nhập ngũ hàng năm, nhưng còn
số lượng sĩ quan, đặc biệt là sĩ quan trung cấp và một phần sĩ quan cao cấptrong quân đội lại gặp rất nhiều khó khăn Trong khi số lượng sĩ quan trongtừng cấp quân hàm còn chưa cân đối thì số lượng sĩ quan cấp tá liên tục giatăng (khoảng 2 đến 3% một năm), nếu không có những giải pháp và biệnpháp để sớm khắc phục thì cơ cấu cấp bậc quân hàm sĩ quan sẽ ngày càngmất cân đối nghiêm trọng [8,60]
Xét riêng số lượng sĩ quan trong quân đội ta hiện nay vẫn trong tình trạngvừa thiếu lại vừa thừa Hiện tượng dư thừa số lượng sĩ quan thường tập trung ở các cơ quan sư đoàn, cơ quan quân sự cấp tỉnh, cơ quan cấp chiếndịch, chiến lược và trong các cơ sở làm công tác huấn luyện chiến đấu, các học viện, nhà trường quân đội Mặt khác, vẫn còn thiếu hụt nhiều sĩ quan cấp uý đảm nhiệm chức vụ ở các đơn vị cơ sở, tuyến trên, vùng sâu,vùng xa, biên giới và hải đảo Hiện nay một số ít chức vụ sĩ quan cấp cơ
sở, phân đội là do quân nhân chuyên nghiệp, viên chức quốc phòng và hạ
sĩ quan đảm nhiệm
Số lượng sĩ quan thuộc các dân tộc ít người, vùng sâu, vùng xa và các tỉnh phía Nam đạt một tỷ lệ rất thấp so với tổng số sĩ quan trong toàn quân (Số lượng sĩ quan có gia đình ở phía Nam công tác từ quân khu 5 trở vào chỉ chiếm khoảng 80%, riêng hai quân đoàn đóng ở phía Nam tỷ
lệ trên chỉ đạt 50% ) [7,91] Trong khi số lượng sĩ quan thuộc các dân tộc
ít người được rèn luyện, thử thách trong các cuộc kháng chiến vừa qua đang có xu hướng giảm dần, thì số lượng cán bộ, sĩ quan trẻ lại có nhiều
Trang 36đồng chí bất cập so với yêu cầu xây dựng quân đội chính quy, hiện đại dotrình độ văn hoá và chuyên môn thấp Việc tạo nguồn còn gặp rất nhiều khó khăn Theo thống kê trong 5 năm vừa qua các trường thiếu sinh quân
có 562 học sinh đã tốt nghiệp phổ thông trung học, nhưng chỉ có một số rất ít thi đỗ vào các trường sĩ quan trong quân đội [8, 67] Tỷ lệ sĩ quan thuộc các dân tộc thiểu số thấp gây nhiều khó khăn trong công tác chấn chỉnh tổ chức, bố trí, sắp xếp trong các đơn vị theo các vùng miền của đấtnước
Hiện nay, công tác xây dựng lực lượng dự bị động viên vẫn còn gặp rất nhiều khó khăn cả về mặt số lượng và chất lượng, cá biệt có nơi chưa
đủ sức hoàn thành nhiệm vụ Công tác động viên quân đội tuy đã được triển khai khá tốt nhưng chưa thành nền nếp thường xuyên, chất lượng một số đơn vị dự bị động viên ở một số địa phương còn thấp, chậm xây dựng cơ sở pháp lý để triển khai kế hoạch động viên công nghiệp Một sốđơn vị tuy được biên chế đủ lực lượng dự bị, nhưng chất lượng huấn luyện chưa cao, mới chỉ dừng lại ở những bài tập giản đơn, với những bàitập phức tạp trong điều kiện chiến tranh hiện đại, có sử dụng vũ khí công nghệ cao còn nhiều hạn chế
Trong khi số lượng con người có nhiều biến động, thay đổi thì chất lượng con người còn bộc lộ nhiều mặt hạn chế, yếu kém, ảnh hưởng
không nhỏ đến nâng cao sức mạnh chiến đấu của quân đội.
Thời gian qua vẫn còn một số cán bộ, chiến sĩ quân đội có biểu hiện giảmsút ý chí chiến đấu, niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng và sự nghiệp đổi mớitheo định hướng xã hội chủ nghĩa, có biểu hiện bi quan, dao động trước
những diễn biến phức tạp của tình hình Trong đó, cá biệt có trường hợp vi
phạm nguyên tắc lãnh đạo của Đảng, suy nghĩ và hành động thiếu nhất trí
Trang 37với đường lối lãnh đạo và sự chỉ đạo của Đảng “ Sự suy thoái về nhận thức,
tư tưởng chính trị trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên chưađược ngăn chặn Hiện tượng phai nhạt lý tưởng cách mạng, sa sút phẩm chấtđạo đức, tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, chủ nghĩa cá nhân, tư tưởng cơhội, thực dụng có chiều hướng phát triển” [27, 4]
Trước những diễn biến phức tạp của tình hình và tác động tiêu cực xãhội, Đảng bộ quân đội tuy không có suy thoái về chính trị, nhưng một số cán
bộ, đảng viên, có cả cán bộ cao, trung cấp còn biểu hiện hẫng hụt về trí tuệ,thiếu dũng khí đấu tranh, bộc lộ sự giảm sút ý chí, tinh thần trách nhiệm, ýthức tổ chức kỷ luật, phai nhạt lý tưởng, niềm tin đối với chủ nghĩa xã hội,
tư tưởng trung bình chủ nghĩa, không phát huy được vai trò tiền phonggương mẫu trong công tác và trong cuộc sống; một số ít biểu hiện suy thoái
về đạo đức lối sống, cơ hội, thực dụng, tham nhũng, chạy theo quyền lực, lợiích kinh tế, vật chất gây hậu quả xấu; ý thức nêu gương trong đảng, giữacấp trên và cấp dưới giữa cấp uỷ với đảng viên và giữa đảng viên với quầnchúng ở một số nơi còn yếu
Trình độ học vấn, kiến thức và tri thức khoa học của một bộ phận cán bộ,
chiến sĩ, quân nhân chuyên nghiệp và viên chức quốc phòng trong quân đội
ta hiện nay vẫn còn không đồng đều, thiếu tính hệ thống, cơ bản, toàn diện
và chuyên sâu; sự hiểu biết về khoa học và công nghệ hiện đại, khoa học xãhội và nhân văn, khoa học kĩ thuật quân sự còn nhiều hạn chế, dẫn tới khảnăng tiếp cận với khoa học tiên tiến, khả năng nắm bắt và vận dụng cácthành tựu mới của khoa học cũng như khả năng sử dụng các loại vũ khí,trang bị kỹ thuật hiện đại, công nghệ cao còn nhiều lúng túng
Cán bộ chuyên ngành cũng còn bộc lộ nhiều mặt hạn chế như một bộphận cán bộ chính trị còn yếu về kiến thức khoa học, nghệ thuật quân sự,
Trang 38khoa học xã hội nhân văn; cán bộ chỉ huy còn hạn chế về năng lực quản lý,
về quản lý con người, vũ khí, trang bị kỹ thuật, tài sản, tài chính và công tácđảng, công tác chính trị trong thời kỳ mới; cán bộ quân sự địa phương thìyếu về trình độ năng lực tham mưu và quản lý quốc phòng, thiếu cán bộ đầungành, cán bộ có khả năng nghiên cứu, thiết kế và chế tạo trong các lĩnh vựckhoa học, kỹ thuật, chuyên môn nghiệp vụ Hiện nay tỷ lệ sĩ quan đạt trình
độ đại học và sau đại học mới chiếm khoảng 50,62%, còn một số khá lớn(chiếm tỷ lệ khoảng 33,54%) chỉ qua đào tạo ngắn hạn (từ 6 tháng đến 1năm) [130] Như vậy so với yêu cầu “đại học hoá” thì trong những năm tớicần tiếp tục đào tạo, nâng cao trình độ cho đội ngũ cán bộ, sĩ quan trongquân đội ta
Một bộ phận cán bộ chỉ huy đã trưởng thành trong hoạt động thực tiễn,chiến đấu ở các chiến trường, có nhiều kinh nghiệm chiến đấu và xây dựngđơn vị, nhưng do phải công tác liên tục ở vùng sâu, vùng xa, ít được học tập
và trau dồi kiến thức nên trình độ học vấn thiếu cơ bản, năng lực lãnh đạo,quản lý, chỉ huy thiếu toàn diện, có biểu hiện của chủ nghĩa kinh nghiệm, tựkiêu với quá khứ Cá biệt còn có cán bộ biểu hiện mệt mỏi, dừng lại, lườihọc, lười suy nghĩ, không chịu tiếp nhận những thông tin mới, kiến thức cậpnhật hàng ngày, nên họ thiếu năng động, nhạy bén, sáng tạo trong xử lý cáctình huống phức tạp khi xảy ra trong đơn vị
Hiện nay, số lượng cán bộ, sĩ quan trong quân đội đã qua chiến đấu đanggiảm dần (còn khoảng trên 20% so với tổng số cán bộ, sĩ quan là đã trải quachiến đấu) [8,59][130], họ là những cán bộ trung cấp, cao cấp đang giữ chức
vụ quan trọng của quân đội Số sĩ quan trưởng thành sau năm 1975, chiếmmột số lượng lớn trong quân đội Lớp sĩ quan từ sau năm 1990 đến nay chủyếu trưởng thành qua con đường đào tạo trong các nhà trường quân đội Họ
Trang 39là những sĩ quan trẻ, có trình độ văn hoá cao, được đào tạo cơ bản và đúngcương vị, nhưng thử thách và trải nghiệm cuộc sống còn rất hạn chế Dothiếu thực tế chiến đấu, nên bản lĩnh chính trị, trạng thái tâm lý của một bộphận cán bộ, chiến sĩ trong quân đội chưa thực sự vững vàng, sợ hy sinh,gian khổ, dễ bị hoang mang dao động, mất bình tĩnh trước những tình huốngphức tạp của chiến lược diễn biến hoà bình, bạo loạn lật đổ và chiến tranhcông nghệ cao
Công tác huấn luyện bộ đội theo yêu cầu sát với thực tế chiến đấu để rèn luyện ý chí chiến đấu, giáo dục lòng dũng cảm, tính kiên cường, sự chịu đựng trước những căng thẳng tột bực của tình huống chiến tranh… vẫn còn nhiều hạn chế Nhiều đơn vị chỉ chú trọng đến nội dung huấn luyện, còn những vấn đề giáo dục tính kiên cường, tính chủ động và lòng dũng cảm chưa được nhận thức một cách đúng đắn
Trong thời gian qua, một bộ phận cán bộ, chiến sĩ trong quân đội cónhững biểu hiện sa sút nghiêm trọng về đạo đức, lối sống của người quânnhân cách mạng, của quân đội cách mạng Hiện nay, lối sống ích kỷ, thựcdụng, cá nhân chủ nghĩa đang xâm nhập mạnh mẽ vào không ít cán bộ, chiến
sĩ trong quân đội, làm nảy sinh những hiện tượng cơ hội, thu vén lợi ích cánhân, đặt lợi ích cá nhân, gia đình cao hơn lợi ích tập thể, xã hội và quânđội Một số ít lợi dụng chức quyền và những sơ hở của tổ chức, cơ chế đểlàm giàu bất chính Lợi ích không minh bạch rõ ràng, thiếu dân chủ trongthực hiện công bằng xã hội, trước hết là công bằng về lợi ích, về thu nhập vàmức sống đã làm nảy sinh nhiều mâu thuẫn trong nội bộ cán bộ, chiến sĩtrong quân đội, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến nâng cao chất lượng conngười và sức mạnh chiến đấu của quân đội
Trang 40Một bộ phận cán bộ là những sĩ quan trẻ, có tri thức, có trình độ, song vìchưa được rèn luyện, thử thách trong thực tế chiến đấu và đấu tranh cáchmạng nên bản lĩnh chính trị, ý chí, tâm lý chưa thực sự vững vàng, trướcnhững diễn biến phức tạp, khó lường của tình hình thế giới, trước những khókhăn của đất nước và mặt trái của cơ chế thị trường.
Tình hình kỷ luật trong quân đội ta hiện nay đã có nhiều tiến bộ, nhưng
số vụ việc vi phạm kỷ luật quân đội vẫn chưa hoàn toàn chấm dứt Trong
quân đội vẫn còn để xảy ra những hiện tượng đào ngũ, ăn cắp vũ khí, trang
bị, buôn bán hàng quốc cấm Xét riêng hiện tượng đào, bỏ ngũ ở một số đơn
vị đến nay vẫn chưa được khắc phục triệt để Kết quả khảo sát thực tế chothấy tỷ lệ đào, bỏ ngũ cao không chỉ ở số chiến sĩ ở vùng sâu, vùng xa, vùng
có mặt bằng văn hoá thấp, mà còn là những chiến sĩ ở khu vực thành thị, khuvực kinh tế phát triển Về thời điểm chiến sĩ đào, bỏ ngũ không chỉ tronggiai đoạn huấn luyện tân binh, lúc mới xa nhà, mà còn xảy ra sau khi đãhuấn luyện tân binh, vào những tháng lao động củng cố doanh trại; một sốchiến sĩ lợi dụng thời cơ thuyên chuyển đơn vị Những hiện tượng tiêu cựctrên đã và đang ảnh hưởng nghiêm trọng đến yêu cầu xây dựng chất lượngcon người và nâng cao sức mạnh chiến đấu của quân đội ta Đồng thời đặt racho công tác giáo dục, quản lý bộ đội những yêu cầu mới cả về nội dung vàphương pháp
Về thực trạng kỷ luật quân đội, Thường vụ Đảng uỷ quân sự Trung ương
đã đánh giá: “Trong tình hình chuyển biến phức tạp, bối cảnh và môi trường xã hội thay đổi, một bộ phận cán bộ đảng viên ở mức độ khác nhau có biểu hiện giảm sút ý chí chiến đấu, tinh thần trách nhiệm, kém cảnh giác với âm mưu thủ đoạn của địch, thiếu tích cực rèn luyện vươn lên, một số ít có biểu hiện thực dụng, tham nhũng, tự do vô kỷ luật, ham