Từ lâu giá trị học vấn được nhân dân ta rất coi trọng. Tuy nhiên, quyền được học tập vẫn được giành chủ yếu cho nam giới. Trong số 1000 sinh viên Đại học trong toàn quốc vào năm 1945 chỉ có vài người là phụ nữ. Năm 1946, lần đầu tiên tiếp cận bình đẳng với học tập và đào tạo giữa phụ nữ và nam giới được công bố và khẳng định trong Hiến pháp của Nhà Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRUNG TÂM KHOA HỌC XÃ HỘI
VÀ NHÂN VĂN QUỐC GIA
VIỆN XÃ HỘI HỌC
TRẦN THỊ KIM
QUAN HỆ GIỮA HỌC VẤN VÀ ĐỊA VỊ PHỤ NỮ
NÔNG THÔN HIỆN NAY
(NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP TỈNH QUẢNG NGÃI)
LUẬN ÁN TIẾN SĨ XÃ HỘI HỌC
Hà Nội - 2003
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRUNG TÂM KHOA HỌC XÃ HỘI
VÀ NHÂN VĂN QUỐC GIA
VIỆN XÃ HỘI HỌC
TRẦN THỊ KIM
QUAN HỆ GIỮA HỌC VẤN VÀ ĐỊA VỊ PHỤ NỮ
NÔNG THÔN HIỆN NAY
(NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP TỈNH QUẢNG NGÃI)
Chuyên ngành: Xã hội học
Mã số: 5 01 09
LUẬN ÁN TIẾN SĨ XÃ HỘI HỌC
Người hướng dẫn khoa học
1 Giáo sư Tiến sĩ: Tô Duy Hợp
2 Tiến sĩ: Nguyễn Xuân Mai
Hà Nội - 2003
Trang 3Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng Tôi Các sốliệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công bốtrong bất kỳ công trình nào khác
Các trích dẫn đều được chỉ rõ từng tài liệu và tác giả
Tác giả luận án
Trần Thị Kim
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN NGHIÊN CỨU QUAN HỆ GIỮA HỌC VẤN VÀ ĐỊA VỊ PHỤ NỮ NÔNG THÔN HIỆN NAY
1.1 Các khái niệm
1.1.1 Học vấn
1.1.2 Địa vị
1.1.3 Giới
1.2 Một số lý thuyết, quan điểm vận dụng vào nghiên cứu
1.2.1 Lý thuyết cấu trúc chức năng
1.2.2 Lý thuyết phát triển nông thôn
1.2.3 Lý thuyết giới
1.2.4 Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh
1.3 Tổng quan nghiên cứu đề tài
1.3.1 Học vấn phụ nữ nông thôn
1.3.2 Địa vị phụ nữ nông thôn
1.3.3 Tương quan giữa học vấn và địa vị phụ nữ nông thôn
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Trang 5Phần II: NỘI DUNG
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUAN HỆ GIỮA HỌC VẤN VÀ ĐỊA VỊ
PHỤ NỮ NÔNG THÔN Ở QUẢNG NGÃI
2.1 Vài nét về địa bàn nghiên cứu
2.1.1 Những thông tin cơ bản về vị trí, diện tích, điều kiện tự nhiên và tiềm năng
2.1.2 Dân số, kinh tế
2.1.3 Giáo dục và đào tạo, văn hoá - xã hội
2.1.4 Đặc điểm học vấn
2.1.5 Đặc điểm địa vị
2.1.6 Tình hình kinh tế, văn hoá, xã hội của ba xã khảo sát
2.2 Thực trạng mối quan hệ giữa học vấn và địa vị phụ nữ nông thôn 2.2.1 Học vấn và địa vị phụ nữ trong gia đình
2.2.2 Học vấn và địa vị phụ nữ trong làng xã
2.2.3 Mối quan hệ giữa học vấn và địa vị
CHƯƠNG 3: NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN MỐI QUAN HỆ GIỮA HỌC VẤN VÀ ĐỊA VỊ PHỤ NỮ NÔNG THÔN GIẢI PHÁP
3.1 Những nhân tố tác động
3.1.1 Chủ trương chính sách của Đảng, nhà nước và địa phương
3.1.2 Gia đình và các tổ chức xã hội
3.1.3 Các chuẩn mực xã hội tại địa phương
3.1.4 Tác động của tuổi
3.1.5 Tác động của nghề nghiêp
3.1.6 Tác động của số con
3.1.7 Tác động của mức sống
3.1.8 Tác động của học vấn người chồng
Trang 63.1.9 Tác động của truyền thông đại chúng
3.2 Giải pháp nâng cao học vấn và địa vị phụ nữ nông thôn
3.2.1 Chiến lược chung
3.2.2 Chiến lược bình đẳng giới
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
1 Kết luận
2 Khuyến nghị
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7Phần I: MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Từ lâu giá trị học vấn được nhân dân ta rất coi trọng Tuy nhiên, quyềnđược học tập vẫn được giành chủ yếu cho nam giới Trong số 1000 sinh viênĐại học trong toàn quốc vào năm 1945 chỉ có vài người là phụ nữ Năm 1946,lần đầu tiên tiếp cận bình đẳng với học tập và đào tạo giữa phụ nữ và namgiới được công bố và khẳng định trong Hiến pháp của Nhà Nước Việt NamDân chủ Cộng hoà
Đặc biệt trong công cuộc đổi mới hiện nay, nắm bắt được xu thế của thờiđại và để tránh được nguy cơ tụt hậu, Đảng ta đã khẳng định: Khoa học vàcông nghệ, giáo dục và đào tạo phải được xem là quốc sách hàng đầu
Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX (2001) khẳng định khoa học côngnghệ, giáo dục đào tạo là một trong ba đột phá của chiến lược phát triển kinh
tế - xã hội 10 năm (2001 - 2010)
Hơn một thập kỷ vừa qua, công cuộc đổi mới và chuyển đổi kinh tế ởnông thôn Việt Nam đã tạo ra mức tăng trưởng đáng kể ở khu vực sản xuấtnông nghiệp Trong sự đổi thay nhanh chóng đó, phụ nữ nông thôn đã đónggóp một phần to lớn, bởi vì họ là lực lượng quan trọng trong hoạt động sảnxuất và đời sống ở nông thôn hiện nay
Tuy nhiên cho đến nay, trình độ học vấn của phụ nữ nông thôn đang cònthấp hơn so với nam giới Đó là một thiệt thòi to lớn đối với phụ nữ, là mộtlực cản đối với sự cải thiện và nâng cao địa vị phụ nữ, đặc biệt là phụ nữ nôngthôn
Trang 8Nhiều nghiên cứu ở Việt Nam cũng như trên thế giới đều đi tới nhận xétrằng những phụ nữ có học vấn cao có xu hướng kết hôn muộn, đẻ thưa, và có
tỷ lệ sử dụng các biện pháp kế hoạch hoá gia đình cao Kết quả điều tra mứcsống dân cư tại Việt Nam năm 1998 cho thấy xu hướng học vấn của người mẹcàng cao thì số con càng ít Con của các bà mẹ có học vấn cao hơn, có nhiều
cơ hội đến trường hơn Trong đó có những nghiên cứu về tương quan giữatrình độ học vấn và tình trạng nghèo khổ Kết quả nghiên cứu cho thấy: trình
độ học vấn thấp là một trong những nguyên nhân làm trầm trọng thêm tìnhtrạng nghèo nàn, lạc hậu và làm ảnh hưởng đến sự thay đổi địa vị trong giađình, ngoài xã hội của phụ nữ
Những nghiên cứu cũng đã chỉ ra rằng học vấn càng cao càng có ý nghĩađối với cơ hội thăng tiến xã hội của con người, phụ nữ nông thôn không nằmngoài tính quy luật này Có một số đề tài tập trung vào nghiên cứu một số nộidung: dân số - việc làm, thu nhập - chi tiêu, xoá đói giảm nghèo; Gia đình,dòng họ, cộng đồng; Y tế và chăm sóc sức khoẻ, đặc biệt là sức khoẻ sinhsản; Kết cấu hạ tầng nông thôn Riêng các nghiên cứu chuyên biệt về giáodục, đào tạo cho phụ nữ nông thôn vẫn còn ít Nếu có cũng thường chỉ là kếthợp trong những chủ đề nghiên cứu khác, chưa có những nghiên cứu độc lập,chuyên sâu về tương quan giữa học vấn và địa vị của họ
Thực tiễn cho thấy, cùng điều kiện kinh tế - xã hội ở nông thôn, nhưnghọc vấn của phụ nữ luôn thấp hơn so với nam giới So sánh với học vấn củaphụ nữ đô thị thì độ chênh lệch này càng lớn hơn nhiều Liệu nâng cao họcvấn cho phụ nữ nông thôn thì địa vị của họ có được tự động cải thiện haykhông? Mối tương quan giữa học vấn và địa vị mật thiết tới đâu?
Để đóng góp giải đáp những vấn đề trên, chúng tôi chọn đề tài "Quan hệ giữa học vấn và địa vị phụ nữ nông thôn hiện nay (nghiên cứu trường hợp tỉnh Quảng Ngãi)" để khảo cứu Sở dĩ có sự lựa chọn này là vì:
Trang 9Sau thời gian cùng toàn quốc tiến hành công cuộc đổi mới, bộ mặt kinh
tế - xã hội Quảng Ngãi có nhiều biến chuyển tích cực, đời sống vật chất vàtinh thần được nâng cao đáng kể Tuy nhiên, nhìn từ góc độ giới, địa vị ngườiphụ nữ trong gia đình nói riêng và trong xã hội nói chung vẫn còn nhiều điềucần đưọc xem xét kỹ lưỡng hơn trên quan điểm phát triển, kể cả những mặt đãđạt được và những điểm còn tồn tại
Đã có một số công trình nghiên cứu theo hướng đề cập tới vấn đề nângcao dân trí cho phụ nữ Quảng Ngãi trong bối cảnh công nghiệp hoá, hiện đạihoá đất nước, trong phạm vi đề tài này chúng tôi muốn đi sâu nghiên cứu độclập và có hệ thống dưới góc độ xã hội học về tương quan giữa học vấn và địa
vị phụ nữ nông thôn Quảng Ngãi
Trang 10+ Học vấn tác động đến địa vị phụ nữ trong gia đình: Học vấn tươngquan đến quyền ra quyết định và sự tham gia trong sản xuất; học vấn tươngquan với quyền ra quyết định và sự tham gia các công việc khác; học vấn vàchi tiêu trong gia đình; học vấn và đóng góp thu nhập trong gia đình.
+ Học vấn tác động đến địa vị phụ nữ trong làng - xã, được thể hiện cụthể ở các mối tương quan giữa học vấn với sự tham gia vào các tổ chức chínhquyền, học vấn và sự tham gia vào các tổ chức đoàn thể, học vấn và uy tíntrong cộng đồng làng - xã
+ Học vấn và địa vị phụ nữ nông thôn trong phát triển, thể hiện rõ quaviệc đưa vấn đề giới vào chiến lược phát triển nông thôn, vấn đề dân chủ trựctiếp và dân chủ thông qua đại diện trong việc tăng quyền cho phụ nữ
- Làm rõ các nhân tố tác động và hiệu quả kinh tế xã hội của quan hệ họcvấn - địa vị phụ nữ nông thôn
- Phân tích các giải pháp chính sách và đi đến khuyến nghị điều chỉnhchính sách giáo dục, đào tạo và thay đổi địa vị phụ nữ nông thôn trong bốicảnh phát triển kinh tế - xã hội hiện nay
4 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu
Trang 11Để phù hợp với điều kiện hạn chế về thời gian, kinh phí (kinh phí cánhân) nên phạm vi khảo sát được giới hạn ở ba xã đại diện của Quảng Ngãi(chọn trên cả ba vùng sinh thái: đồng bằng, ven biển, miền núi) Đề tài chỉ tậptrung vào một số vấn đề mà chúng tôi cho là chủ yếu khi xem xét mối tươngquan giữa học vấn và địa vị phụ nữ nông thôn (cụ thể là tác động qua lại giữahọc vấn và địa vị của phụ nữ nông thôn trong gia đình, trong làng - xã) Songchiều tác động từ học vấn tới địa vị sẽ được chú ý nhiều hơn so với chiềungược lại từ địa vị tới học vấn Khoảng thời gian được nghiên cứu quan tâm
là từ khi bắt đầu quá trình đổi mới (1996) tới nay
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Dựa vào cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng
Hồ Chí Minh về bình đẳng nam nữ, giáo dục, đào tạo Vận dụng một số lýthuyết xã hội học như: Lý thuyết về cơ cấu chức năng, biến đổi xã hội, xã hộihọc giáo dục, lý thuyết giới để giải thích thực trạng cũng như các biến đổitrong quá trình tương tác giữa học vấn và địa vị phụ nữ nông thôn ở giai đoạnhiện nay
5.2 Phương pháp nghiên cứu
- Phân tích tài liệu có sẵn liên quan đến đề tài
- Phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm tập trung với phụ nữ và cán bộ lãnhđạo ở địa phương (dự kiến 30 cuộc phỏng vấn sâu và 9 thảo luận nhóm tậptrung)
- Phương pháp điều tra chọn mẫu: Bằng bảng hỏi, dự kiến 300 phiếu tại
ba xã đại diện
Trang 12+ Chọn mẫu theo phân cụm phân tầng.
+ Chọn ngẫu nhiên các hộ gia đình
6 Giả thuyết nghiên cứu, lược đồ lôgic.
6.1 Giả thuyết nghiên cứu
6.1.1 Học vấn ảnh hưởng rất mạnh đến sự thay đổi địa vị phụ nữ nôngthôn Phụ nữ có học vấn cao có nhiều cơ hội nghề nghiệp tốt hơn, có địa vịtrong gia đình và ngoài xã hội cao hơn phụ nữ có học vấn thấp Ngược lại, địa
vị phụ nữ thay đổi tiến bộ sẽ ảnh hưởng đến việc nâng cao học vấn cho phụ
Biến can thiệp I
- Bối cảnh đổi mới kinh tế-xã hội cả nước v c à c ủa Quảng Ngãi.
- Những giá trị chuẩn mực v t à c ập tục truyền thống về giới ở địa phương
Đặc điểm lịch sử, KTXH tỉnh Quảng Ngãi.
Biến can thiệp II
Môi trường tự nhiên của vùng duyên hải miền trung v c à c ủa Quảng Ngãi.
- Góp phần xoá đói giảm nghèo tại địa phương.
- Góp phần đẩy mạnh CNH, HĐH tại địa phương, nhằm phát triển bền vững.
Trang 136.2.2 Giải thích lược đồ lôgic.
- Biến độc lập: Những nhân tố tác động đến quan hệ học vấn - địa vịgồm: Tuổi, nghề nghiệp, số con, địa bàn cư trú, mức sống
- Biến phụ thuộc: Quan hệ giữa học vấn - địa vị phụ nữ nông thôn Địa vịcủa phụ nữ nông thôn - quyền ra quyết định, sự tham gia trong gia đình, tronglàng xã, trong xã hội nói chung Học vấn phụ nữ nông thôn
Trang 14- Hệ quả của biến phụ thuộc là: Góp phần xoá đói giảm nghèo, phát triểnbền vững.
- Biến can thiệp loại 1: Bối cảnh đổi mới kinh tế - xã hội của cả nước,Quảng Ngãi nói riêng
- Biến can thiệp loại 2: Môi trường tự nhiên vùng duyên hải miền trung,quảng Ngãi nói riêng
7 Đóng góp mới của luận án.
- Đây là một trong những công trình nghiên cứu xã hội học đầu tiên đisâu nghiên cứu về vấn đề quan hệ giữa học vấn và địa vị phụ nữ nông thôn
- Nhận dạng cơ hội thăng tiến của PNNT liên quan đến học vấn và cơhội nâng cao học vấn nhờ thay đổi tiến bộ địa vị cho phụ nữ, để cung cấp luận
cứ khoa học cho các nhà lãnh đạo, quản lý, các nhà nghiên cứu và nhân dântham khảo
8 Kết cấu của luận án:
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận án có ba chương:
CHƯƠNG 1: Cơ sở lý luận và phương pháp luận nghiên cứu quan hệ giữa học vấn và địa
vị phụ nữ nông thôn hiện nay
CHƯƠNG 2: Thực trạng quan hệ giữa học vấn và địa vị phụ nữ nông thôn ở Quảng Ngãi CHƯƠNG 3: Những nhân tố tác động đến mối quan hệ giữa học vấn và địa vị phụ nữ nông thôn Giải pháp
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN NGHIÊN CỨU
1.1 Các khái niệm
Trang 151.1.1 Học vấn
Học vấn là những hiểu biết nhờ học tập mà có [ từ điển TV, tr 454] Khi
đề cập đến trình độ học vấn của cá nhân người ta muốn nói đến mức độ hiểubiết, nội dung và tính chất của các tri thức, kỹ năng, kỹ xảo mà một cá nhântiếp thu được trong quá trình tham gia vào các hoạt động, quá trình xã hội Dovậy có thể dựa vào cách tổ chức của xã hội đối với quá trình học tập của cánhân để phân biệt học vấn Một số loại học vấn quan trọng cần tính đến là:học vấn do tự học, học vấn do được giáo dục-đào tạo một cách chính quy,chính thức Trong nghiên cứu này khái niệm học vấn chủ yếu được dùng vớinghĩa là kết quả của quá trình học tập tại trường, lớp nhất định
Vai trò của học vấn đối với con người: (1) học vấn là cơ sở và điều kiệncủa năng lực hoạt động của cá nhân Nhờ có học vấn mà cá nhân có khả nănggia nhập, chiếm giữ các vị trí xã hội và thực hiện được các vai trò, chức năng
xã hội (2) Học vấn là một yếu tố hình thành trong quá trình xã hội hoá và làmột bộ phận của nhân cách con người Nhờ có quá trình xã hội hoá mà cánhân có học vấn, và nhân cách được hình thành, phát triển Học tập là một bộphận cấu thành của quá trình xã hội hóa cá nhân với cơ chế chung là tiếpnhận, lĩnh hội các kinh nghiệm đã được phát hiện, tích luỹ và truyền lại tức là
sự “kế thừa văn hóa” Thông thường khi nói tới giáo dục, người ta hiểu đó làhoạt động nhằm tác động một cách có hệ thống hướng tới sự phát triển của cánhân, nhằm làm cho cá nhân có được những năng lực, phẩm chất cần thiết(XHH,1997) Giáo dục có một vai trò đặc biệt trong quá trình xã hội hóa cánhân Khác với các dạng xã hội hóa khác, giáo dục “bao hàm sự chỉ dẫn tỉ
mỉ, được thực hiện trong các tổ chức chính thức dành cho mục đích đó vàtương đối được tiêu chuẩn hóa, những gì mà trẻ em học được từ nhà trườngphổ thông, dù qua chương trình học công khai hay ẩn giấu đều có thể kém đadạng hơn cái mà chúng học được là kết quả của sự tác động tương hỗ khôngchính thức với gia đình, các bạn bè và các bạn cùng làm việc.” [ Bilton, tr.276]
Trang 16Như vậy, giáo dục được hiểu như một lĩnh vực hoạt động đặc biệt của xãhội, như một thể chế chuẩn mực của mỗi xã hội Giáo dục cũng có thể đượcxem xét như tiêu chuẩn để đánh giá mức độ nhận được sự giáo dục thông qua
hệ thống giáo dục chính thống được chuẩn hóa theo quy định của từng xã hội
Có thể khái quát hơn, giáo dục là vấn đề trung tâm để mỗi người có khảnăng phản ứng lại trước những cơ hội mà sự phát triển mang lại Đặc biệt khiloài người chuyển sang thời đại thông tin, các sản phẩm có hàm lượng chấtxám cao đang thay thế cho các cách thức sản xuất truyền thống, giáo dục cơ
sở là nền tảng để phát triển các kỹ năng linh hoạt vốn rất cần thiết để tham giavào các hoạt động kinh tế có hàm lượng chất xám cao Rõ ràng những aikhông có điều kiện tiếp cận đến giáo dục cơ sở có nguy cơ bị loại bỏ những
cơ hội mới, và ở những nơi mà khoảng cách giới dai dẳng trong giáo dục vẫncòn tồn tại thì phụ nữ sẽ có nguy cơ ngày càng cao là bị tụt hậu đằng sau namgiới, trong khả năng tham gia vào quá trình phát triển
Giáo dục phổ thông là một trong những môi trường chủ yếu của quátrình xã hội hóa cá nhân Xã hội hóa là quá trình tương tác giữa cá nhân và xãhội, trong đó cá nhân được học hỏi và thực hành những tri thức, những kỹnăng và những phương thức cần thiết để hội nhập với xã hội Nhưng xã hộihóa không phải là một quá chỉ mang tính thụ động (cá nhân chịu sự tác độngcủa xã hội), mà đó là quá trình hoạt động tích cực của cá nhân (2) Ngoài ra,
cá nhân có được "sự hiểu biết" thông qua nhiều con đường khác nhau: họctrong gia đình, học qua kinh nghiệm thực tế (kết quả đạt được thể hiện ở nănglực hoạt động thực tiễn, trình độ chuyên môn tay nghề) Sự lĩnh hội của cánhân sẽ được vật hóa vào sản phẩm vật chất và tinh thần, ở số lượng và chấtlượng sản phẩm làm ra, ở năng suất và hiệu quả lao động Có thể coi học vấn
và nghề nghiệp là hai loại "vốn" có thể giúp cho người lao động tự kiếm sốngtrong suốt cuộc đời của họ Trong đề tài này chúng tôi sử dụng khái niệm họcvấn để chỉ trình độ kiến thức, kỹ năng kỹ xảo mà cá nhân tiếp thu được khôngchỉ từ quá trình học tập trong nhà trường Nhưng chủ yếu học vấn được đo
Trang 17bằng chỉ báo lớp học mà cá nhân đã vượt qua, hoặc cấp học cao nhất Học vấncủa phụ nữ được xác định trong đề tài này chủ yếu là những lớp học cao nhất
mà phụ nữ đã trải qua
1.1.2 Địa vị xã hội (Status)
Địa vị xã hội là một khái niệm cơ bản của xã hội học Khái niệm địa vị
xã hội được dùng để chỉ vị trí nhất định trong cấu trúc xã hội Điều đó cónghĩa là gắn với mỗi địa vị xã hội, con người dù là nam hay nữ sẽ có nhữngvai trò tương ứng Có thể nêu ra một số quan niệm về địa vị của các nhànghiên cứu: “Chúng ta gọi vị trí xã hội của một cá nhân là địa vị và hành vi
mà chúng ta mong đợi người có địa vị đó gọi là vai trò của anh ta.” [ Bilton,
tr 32] Địa vị dùng để chỉ thứ bậc của một cá nhân được xác định bởi sự giàu
có, sự ảnh hưởng và uy tín Các nhà xã hội học sử dụng thuật ngữ địa vị vớimột sự khác biệt với nghĩa một vị trí trong nhóm hoặc một xã hội, "Bất cứnhững vị trí nào được xác định hoặc được chấp nhận trong một nhóm hay xãhội" gọi là địa vị
Theo Fichter, mỗi một con người xã hội đều có địa vị của mình trongnhững nhóm và trong xã hội mà cá nhân đó là một thành viên Xã hội khôngphải là sự kết hợp ngẫu nhiên những con người mà là sự xếp đặt có trật tự và
cơ cấu tổ chức xã hội có thể so sánh Tuy cá nhân và địa vị luôn luôn đi vớinhau nhưng có thể xét riêng lẻ một cách trừu tượng hóa như những khái niệmriêng biệt
Nói đến địa vị là nói đến vị thế của một cá nhân, một giai cấp, mộttầng lớp trong cơ cấu xã hội (địa vị là một trong các yếu tố chủ yếu của cơcấu xã hội) Địa vị xã hội (vị thế "chính là bất kỳ vị trí ổn định nào trong một
hệ thống xã hội với những kỳ vọng quyền hạn và nhiệm vụ đặc thù" [TheHaper Colins, tr 494] Địa vị là một sự cấu tạo, một sự lượng giá, là kết quảcủa sự phối hợp và áp dụng những tiêu chuẩn về giá trị xã hội đang thịnh
Trang 18hành trong xã hội Nó chỉ cho chúng ta thấy chỗ đứng của một cá nhân trongkhông gian xã hội so với những cá nhân khác.
Theo Bruce J Cohen và Teri L Orbuch:
Địa vị xã hội là sự phản ánh những quyền lực và quyền lợi của một cánhân - nói cách khác là sự phản ánh vị thế của một cá nhân do cá nhân đạtđược ở trong một nhóm hoặc là một thứ bậc xã hội trong nhóm này khi sosánh với các thành viên khác của nhóm khác
Nói đến địa vị là nói đến vị thế của một cá nhân, một giai cấp, một tầnglớp trong cơ cấu xã hội (địa vị là một trong các yếu tố chủ yếu của cơ cấu xãhội) Địa vị xã hội (vị thế "chính là bất kỳ vị trí ổn định nào trong một hệthống xã hội với những kỳ vọng quyền hạn và nhiệm vụ đặc thù" Địa vị làmột sự cấu tạo, một sự lượng giá, là kết quả của sự phối hợp và áp dụngnhững tiêu chuẩn về giá trị xã hội đang thịnh hành trong xã hội Nó chỉ chochúng ta thấy chỗ đứng của một cá nhân trong không gian xã hội so vớinhững cá nhân khác
Nói một cách khác, chúng ta có thể hiểu địa vị xã hội của một người nào
đó chính là vị thế hay thứ bậc mà những người sống cùng thời dành cho trongbối cảnh mà con người đó sinh sống, lao động và phát triển Chính vì thế màcác nhà xã hội học xem địa vị (vị thế) là thái độ và mức độ tôn trọng haykhinh rẻ của xã hội bày tỏ biểu lộ ra đối với cá nhân Rõ ràng, những yếu tốtạo nên địa vị (vị thế) tồn tại khách quan ngoài cá nhân Thể hiện ra ở các tiêuchuẩn có tính phổ biến trong một xã hội về sự tán thành (khẳng định) hay chêbai (phủ định) của xã hội Đó cũng chính là các chuẩn mực, các giá trị xã hội,nghĩa là những điều người ta cho là quan trọng nhất, đáng tôn trọng nhất.Khái niệm vai trò xã hội và địa vị xã hội là một trong những khái niệmthen chốt của xã hội học nói chung và xã hội học về giới nói riêng
Trang 19Vai trò xã hội là mô hình hành vi được xác lập một cách khách quan căn
cứ vào đòi hỏi của xã hội đối với từng vị thế nhất định để thực hiện nhữngquyền và nghĩa vụ tương ứng với các vị thế [XHH Đại cương, tr 270]
Vai trò xã hội cho ta biết con người phải làm gì, vai trò xã hội là mộttrong số nhiều tiêu chuẩn dùng để cho vị thế xã hội của con người
Vai trò là kết quả của sự học hỏi và tập đóng vai của các cá nhân khi họmuốn gia nhập vào xã hội, hay nói cách khác vai trò là kết quả của quá trình
xã hội hóa cá nhân Vai trò được thể hiện trong sự phù hợp với các chuẩn mực
xã hội nói chung, với sự mong đợi của những người xung quanh Một cá nhântrong quá trình tham gia hoạt động của mình có thể đóng nhiều vai khác nhau
Từ cách hiểu như trên, một người phụ nữ có thể vừa là người vợ, vừa là người
mẹ, cũng có thể là một nhà kinh doanh, nhà quản lý
Vai trò xã hội có liên quan chặt chẽ với vị thế hay địa vị xã hội cua cánhân, có thể hiểu vị thế là chỗ đứng của vai trò Vị thế là cơ sở xác định vaitrò, việc thực hiện tốt hay xấu vai trò của cá nhân đều ảnh hưởng đến vị thế xãhội nói một cách khác, giữa vị thế và vai trò có mối quan hệ biện chứng vớinhau Chẳng hạn một người phụ nữ làm tốt vai trò của mình theo sự mong đợicủa xã hội và gia đình, có thể tăng cường vị thế hoặc ngược lại, vị thế sẽ giảm
đi khi người phụ nữ không làm tốt vai trò của mình theo sự mong đợi của giađình và xã hội.
Trong xã hội phong kiến hay trong xã hội có đẳng cấp, về mặt lý thuyếtngười ta cho rằng: địa vị không thể bị thay đổi "Con vua " bởi sự cố gắngduy trì địa vị của những người giữ tầng lớp đó Với sự xác định những địa vị
xã hội một cách vững chắc cho đó là những địa vị được gắn cho (địa vị đượcthừa hưởng từ thế hệ trước truyền lại) Trong xã hội công nghiệp, địa vị xãhội thường được mô tả rất khác nhau Nhiều nhà xã hội học cho rằng địa vị xãhội do cá nhân dành được bằng những thành tựu công nghiệp luôn là sự thừa
kế theo dòng dõi (gọi là địa vị đạt được) Xã hội luôn biến chuyển và pháttriển, do đó địa vị xã hội cũng luôn luôn di chuyển, bởi vì con người và địa vị
Trang 20xã hội của họ luôn luôn có mối tương quan mật thiết với nhau Chính sự mô tảcon người xã hội đã giúp ta hiểu rõ bản chất vốn có của người đó Còn khi mô
tả địa vị xã hội của họ, chúng ta đã nêu bật giá trị xã hội dưới sự đánh giá của
dư luận xã hội đương thời
Trong đời sống xã hội, địa vị xã hội thường tương quan với quyền lực Nếu
ta hiểu rằng quyền lực xã hội có nghĩa là ảnh hưởng của một người (có thể có)đối với các người khác trong xã hội (đó cũng là biểu hiện địa vị của ngườiấy) Xét về mặt tâm lý xã hội, người ta thường tin tưởng, tín nhiệm hướng vàonhững người có địa vị xã hội cao hơn vì họ có ảnh hưởng lớn, rộng rãi đối vớitoàn xã hội (có nghĩa là họ hơn hẳn những người bình thường)
Vì lẽ đó mà xu thế chung ai cũng muốn vươn lên, tiến bộ, nghĩa là tìm cơhội để cải thiện địa vị xã hội của mình Địa vị là một khái niệm cơ bản trongkhái niệm cơ cấu xã hội Điều đó có nghĩa là gắn với mỗi địa vị xã hội, conngười dù là nam hay nữ sẽ có những vai trò tương ứng Địa vị có thể là đượcthừa hưởng (ascribed status) mà người ta khó hoặc không thể lựa chọn, hoặcđạt được (achieved status) mà người ta có thể lựa chọn như hôn nhân, họcvấn, nghề nghiệp, v.v Ví dụ, trong xã hội ảnh hưởng của tư tưởng phụ quyền,người phụ nữ chỉ đạt được địa vị trong gia đình khi họ sinh được con trai, cònngày nay có nhiều lựa chọn để nâng cao địa vị phụ nữ như nâng cao học vấn,tạo việc làm tăng thu nhập, tham gia lực lượng lao động xã hội và quyềnquyết định trong gia đình
Địa vị thường được xác định bởi vai trò (vai trò và địa vị là hai kháiniệm không tách rời nhau khi xem xét và so sánh các nhóm xã hội khác) vàcác hoạt động gắn liền với địa vị Theo lôgic địa vị và vai trò phải nằm trongmối quan hệ thuận Nếu cá nhân, nhóm có vai trò quan trọng trong hoạt độngcủa cộng đồng làng xã (của xã hội), trong vận hành các chức năng của giađình thì cá nhân, nhóm cũng sẽ có địa vị quan trọng trong gia đình, trongcộng đồng (trong xã hội) Phụ nữ Việt Nam, phụ nữ nông thôn, phụ nữ vùngduyên hải miền Trung từ nhiều năm nay đã có vai trò không nhỏ trong việc
Trang 21sản xuất kinh tế và đóng vai trò chủ chốt trong việc tái sản xuất sức lao động.
Họ đã góp phần (không kém nam giới) trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội,
tô đẹp cho non sông đất nước Việt Nam Song trên thực tế, vẫn còn có khoảngcách lớn giữa sự đóng góp của phụ nữ và địa vị của họ Để có thể hiểu mộtcách thấu đáo và lý giải sự bất bình đẳng như đã nêu cần phải dựa trên cơ sởkhoa học, giới, lý thuyết về giới
Địa vị phụ nữ là khái niệm chỉ vị thế của phụ nữ trong gia đình và ngoài
xã hội Địa vị phụ nữ cũng khác trong những hoàn cảnh gia đình khác, giaicấp xã hội khác và khung cảnh khác của sự biến đổi xã hội
Đề tài này xác định địa vị của phụ nữ trong gia đình và trong cộng đồnglàng xã, chỉ báo của địa vị phụ nữ sẽ là: sự tham gia của phụ nữ vào các hoạtđộng trong gia đình, trong cộng đồng làng xã và quyền ra quyết định của họtrong gia đình và cộng đồng
Trong đề tài này, chúng tôi xem xét khái niệm địa vị phụ nữ như là sựhoạt động của cá nhân ở các lĩnh vực khác nhau trong quá trình tham gia vàosản xuất, vào việc ra quyết định trong gia đình, cộng đồng làng xã Chỉ báocủa địa vị phụ nữ nông thôn sẽ là người mẹ, người vợ, người con, người laođộng, người nội trợ, thành viên của cộng đồng Hay nói khái quát hơn, khinói đến địa vị của phụ nữ chính là đề cập đến sự tham gia của phụ nữ vào cáchoạt động trong gia đình, trong cộng đồng làng xã, và quyền ra quyết định của
họ trong gia đình, trong cộng đồng
1.1.3 Giới
Giới chỉ mối quan hệ, mối tương quan giữa địa vị xã hội của giới nữ vànam giới trong bối cảnh xã hội cụ thể [Trần thị Vân Anh, tr 21] Nói cáchkhác, giới là sự tập hợp các hành vi học được từ xã hội và những kỳ vọng vềcác đặc điểm và năng lực được cân nhắc nhằm xác định thế nào là một ngườinam giới hay một người phụ nữ (hoặc một cậu bé hay một cô bé) trong một
xã hội hay một nền văn hóa nhất định Giới cũng phản ánh mối quan hệ giữa
Trang 22nam và nữ, ai cần làm gì và ai là người kiểm soát việc ra quyết định, tiếp cậncác nguồn lực và hưởng lợi [Báo cáo tóm tắt tình hình giới, tr 6]1.
Bản sắc giới và quan hệ giới là những khía cạnh then chốt của nền vănhóa vì chúng định hình cho lối sống hàng ngày trong gia đình, trong cộngđồng và ở nơi làm việc
Bản sắc giới mang tính năng động, bản sắc ấy là khác nhau trong cáccộng đồng và trên khắp thế giới, giới thay đổi theo thời gian và có liên quantới sự thay đổi các điều kiện và các yếu tố khác (như các yếu tố xã hội, kinh
tế, luật pháp, chính sách, xã hội dân sự)
Khi nói đến giới là nói đến các điều kiện và yếu tố xã hội quy định vị trí
và hành vi xã hội của mỗi giới trong một hoàn cảnh cụ thể.Chính do được quyđịnh bởi các yếu tố xã hội cho nên vị trí vai trò và hành vi của giới không phải
là bất biến mà thay đổi khi các điều kiện quy định chúng biến đổi
Song ngược lại với giới tính, giới luôn biến đổi Vì sao như vậy? Giới làmột phạm trù văn hóa xã hội Vị trí xã hội của nữ giới so với nam giới phụthuộc vào hoàn cảnh kinh tế, chính trị, xã hội, phong tục, tập quán, tôn giáov.v ở từng giai đoạn cụ thể Nói một cách khác, giới là một phạm trù vănhóa xã hội mà trong một chừng mực nhất định, sẽ quyết định cơ hội cuộcsống của con người, xác định vai trò của họ trong xã hội và trong nền kinh tế
Có thể có một vài xã hội không có sự chia rẽ về màu da hay chủng tộc nhưngtất cả các xã hội đều tồn tại sự không tương xứng về giới - khác biệt và thiênlệch - ở mức độ khác nhau Chính vì vậy, vai trò và mối quan hệ về giới cóthể biến đổi rất lớn trong các xã hội khác nhau Nhưng giữa chúng cũng lại cónhiều điểm tương đồng Thí dụ, hầu như tất cả các xã hội đều coi phụ nữ vàcác bé gái có vai trò chính yếu trong việc chăm sóc trẻ em và con cái, trongviệc bếp núc chợ búa, còn nghĩa vụ quân sự hay tham gia quốc phòng, nhữngcông việc nặng nhọc là việc của đàn ông Các nhà khoa học xã hội cho rằng,giới là một phạm trù được thiết lập qua các đặc trưng văn hóa nhằm xác định
Trang 23các hành vi xã hội của nữ giới và nam giới, mối liên hệ giữa hai giới đó Dovậy giới không chỉ đề cập một cách đơn giản đến phụ nữ hay nam giới mà cònphản ánh mối quan hệ giữa hai nhóm đối tượng này Có thể nói một cách cụthể hơn, qua lăng kính giới: các quan niệm, hành vi, chuẩn mực xã hội là hoàntoàn có thể thay đổi được Quan niệm các công việc "bếp núc" là "thiên chức"của phụ nữ đang được xem xét lại, tùy thuộc vào điều kiện hoàn cảnh cụ thểcủa mỗi gia đình Có thể coi giới là một công cụ phân tích để hiểu rõ hơn tiếntrình phát triển của xã hội và văn hóa, văn minh
Đề tài này vận dụng quan niệm giới, khái niệm giới vào xem xét học vấn
và địa vị của từng phụ nữ trong mối tương quan với nam giới Không nhữngthế, đề tài thấy cần phải so sánh trình độ học vấn, vị trí và vai trò của phụ nữvới nam giới trong những tình huống, lĩnh vực nhất định Có thể nói cụ thểhơn: đề tài muốn xem xét địa vị xã hội của phụ nữ Việt Nam đã được cảithiện đến mức độ nào, nó tương quan với học vấn ra sao? Tương quan về địa
vị của nam và nữ đến mức độ nào (nhất là trong giáo dục, trong sự phân cônglao động trong gia đình, giữa vợ và chồng)
1.2 Một số lý thuyết, quan điểm vận dụng vào nghiên cứu.
Để giải quyết những vấn đề đặt ra trong đề tài này, chúng tôi dựa vàomột số lý thuyết chủ yếu: lý thuyết chức năng, lý thuyết phát triển nông thôn,đặc biệt lý thuyết giới Vì vậy lý thuyết về Giới đóng vai trò nền tảng lý luậncủa nghiên cứu này Ngoài ra một số lý thuyết khác có liên quan đến học vấn
và địa vị phụ nữ cũng sẽ được đề cập đến với mức độ nhất định
1.2.1 Lý thuyết cấu trúc chức năng
Lý thuyết cấu trúc chức năng nhấn mạnh đến những đóng góp (chứcnăng của một bộ phận trong một cấu trúc xã hội nhất định) Một trong nhữngngười đi đầu quan trọng là Spencer, tác giả của Thuyết chức năng, người đã
so sánh những tổ chức cơ thể sống với xã hội Durkeim, người cùng thời vớiSpencer, cũng đóng góp phần phát triển quan điểm lý thuyết này.Trong những
Trang 24năm gần đây, những người ủng hộ mạnh mẽ nhất quan điểm này là Talcottpazsor và Robert Merton nó tập trung vào sự hội nhập xã hội, sự ổn định, trật
tự và hợp tác Các bộ phận của xã hội, bao gồm: gia đình, kinh tế, tôn giáo.Gia đình, đóng góp câu hỏi mang tính xã hội trong việc tái sinh sản và chămsóc những thành viên mới Nền kinh tế đóng góp bằng việc sản xuất, phânphối, tiêu thụ hàng hóa và dịch vụ
Các tác giả theo thuyết chức năng đã giả định: Các bộ phận của xã hộiđược tổ chức thành một đoàn thể thống nhất Kết quả là sự thay đổi trong một
bộ phận của xã hội sẽ dẫn đến sự biến đổi trong những bộ phận khác Ví dụ:
Sự biến đổi quan trọng trong nền kinh tế, có thể dẫn đến những biến đổi giađình Điều xảy ra đúng như vậy, khi cách mạng công nghệ diễn ra Nghiêncứu lực lượng lao động cho một trang trại lớn (thực hiện bằng việc có nhiềucon), nó biến mất khi cách mạng công nghệ diễn ra và quy mô gia đình giảmxuống
Giả định thứ hai của giả thuyết chức năng, là xã hội có khuynh hướngquay trở lại tình trạng ổn định và cân bằng khi sự thay đổi nào đó xảy ra Một
xã hội có thể trải qua sự thay đổi nào đó qua thời gian, nhưng các nhà chứcnăng tin rằng, nó sẽ trở lại tình trạng ổn định bằng việc phối hợp những thayđổi này Như vậy xã hội sẽ trở lại như cũ trước bất kỳ sự biến đổi nào xảy ra.Theo các nhà chức năng, hầu hết mọi phương diện của xã hội tiến hóa, là
để thúc đẩy sự tồn tại và phát triển của chính nó Chính vì nguyên nhân này,tất cả các xã hội phức tạp đều có các thiết chế kinh tế, gia đình, chính phủ, tôngiáo Nếu những yếu tố này không góp phần tạo ra sự thịnh vượng và sốngcòn của xã hội, chúng ta không tồn tại
Cũng theo các nhà chức năng luận, hầu hết những thành viên của xã hộinhất trí về những gì đáng có và đáng để vươn đến – nói cách khác, là có sựnhất trí về các giá trị và lợi ích [Trần Thị Kim Xuyến, tr 111-112, 114] Cáctác giả của thuyết chức năng cho rằng, thay đổi bất kỳ một bộ phận nào, mộtyếu tố nào của cấu trúc xã hội cũng kéo theo sự thay đổi ở các bộ phận, yếu tố
Trang 25còn lại và của cả cấu trúc Khi đề cập đến lý thuyết chức năng, không thểquên được tên tuổi của Auguste Com, H Spencer, Emile Durkheim - TalcottParsons, là một trong những đại diện tiêu biểu cho trường phái lý thuyết cấutrúc - chức năng trong xã hội học Mỹ Các ông đã có công đóng góp chothuyết chức năng hình thành và phát triển Người ta cho rằng lý thuyết chứcnăng là một trong những lý thuyết định hướng cơ bản của xã hội học và ngườikhởi thủy, góp phần phát triển quan điểm lý thuyết cấu trúc chức năng làEmile Durkheim Ông đưa ra khái niệm đoàn kết xã hội (Social Solidarity) đểchỉ các quan hệ giữa cá nhân và xã hội, giữa cá nhân với nhóm và giữa cánhân với nhau Khi nghiên cứu vai trò của phân công lao động, ông đã chứngminh rằng, di cư và tích tụ dân cư, đô thi hóa và công nghiệp hóa đã làm tăngmật độ tiếp xúc, quan hệ và tương tác giữa các cá nhân, nhóm và tổ chứctrong xã hội Không những thế, Emile Durkheim là người đầu tiên nêu lêntầm quan trọng của hướng tiếp cận xã hội học nghiên cứu giáo dục và chínhông đã đặt cơ sở cho hướng tiếp cận của thuyết chức năng trong xã hội họcgiáo dục Ông nói về mục đích của hệ thống giáo dục là khơi dậy và phát triển
ở trẻ em trạng thái thể chất, học vấn vấn đạo đức, những cái mà xã hội chínhtrị nói chung và cả môi trường cụ thể mà nó dự định sẽ bước vào đòi hỏi.Dựa vào thuyết chức năng luận, ông đã dùng quan điểm chức năng đểgiải thích, dự báo về giáo dục Ông và những người theo thuyết chức năngđều cho rằng xã hội do những người có công trạng thống trị, họ phải được đàotạo cao để hình thành các vai trò của mình, các vai trò cùng tồn tại được từhoạt động giáo dục Theo quan điểm chức năng, giáo dục có khả năng truyềnlại những giá trị của nền văn hóa xã hội Nhờ có giáo dục, con người đã lĩnhhội, tiếp thu những giá trị của nền văn hóa xã hội Ngoài ra, cũng cần lưu ýhai nhà nghiên cứu David và Mooe, hai ông cho rằng, sự tồn tại của các vị trí
xã hội là khách quan Các vị trí xã hội có được mức độ uy tín hay tầm quantrọng khác nhau trong ý thức của các chủ thể xã hội hoặc những cá nhân Haitác giả này nhấn mạnh rằng những vị trí xã hội quan trọng có vai trò quyết
Trang 26định với những vị trí có vai trò ít quan trọng hơn Những vị trí có vai trò càngquan trọng thì cá nhân trong xã hội càng có xu hướng chiếm lĩnh nó Vì thếcác vị trí xã hội được xếp hạng trật tự theo mức độ cao thấp khác tạo ra cáctầng lớp xã hội Do đó nó tồn tại khách quan ngoài nguyện vọng và ý thức củatừng cá nhân cho nên nó sẽ có một động lực thúc đẩy hoạt động xã hội theoquy luật khách quan Nói một cách khác, những vị trí xã hội phù hợp vớinhững tầng lớp xã hội trong quá trình sắp xếp về mặt chức năng xã hội Mỗimột xã hội đều có khả năng làm cho mỗi cá nhân ý thức về việc họ mongmuốn đạt đến địa vị xác định nào đó và bằng cách nào Hơn nữa mỗi conngười ở vị trí của mình họ cần phải hiểu rằng xã hội mong đợi về việc hìnhthành những đòi hỏi, những trách nhiệm và họ có quyền gì từ địa vị xã hội ấy.
Về mặt cấu trúc, các tác giả đã giải thích, việc xếp đặt chính xác về mặt vị trí
xã hội trong một xã hội xác định phụ thuộc vào ba yếu tố cơ bản như sau: (1)Một số địa vị xã hội dành được dễ dành hơn những địa vị xã hội khác (2) Vì
sự tồn tại khách quan của xã hội cho nên tồn tại một số vị trí quan trọng hơnmột số vị trí khác (3) Những vị trí xã hội khác nhau, đòi hỏi những khả năngkhác từ phía những cá nhân chiếm vị trí xã hội đó
Talcott Parsons, là một trong những đại diện tiêu biểu cho trường phái lýthuyết cấu trúc - chức năng trong xã hội học Mỹ Ông đã đưa ra những kháiniệm quan trọng về xã hội hóa, sự tiếp thu từ ở bên ngoài vào, sự xác định vịtrí và sự khác biệt hóa, và những khái niệm về nhân cách, những hệ thống xãhội và văn hóa T Parsons quan niệm nhà trường thường được coi như một
hệ thống xã hội, là một hệ thống hành động và bao hàm một quá trình tươngtác giữa những tác nhân, giữa thầy giáo và các học sinh và giữa học sinh vớihọc sinh
Parsons hiểu văn hóa như là một động lực chính để liên kết những yếu tốkhác trong đời sống xã hội Những yếu tố khác đó có một cấu trúc xác địnhgọi là xã hội Trong khi văn hóa duy trì mối tương tác giữa các bộ phận vàđảm bảo tính chỉnh thể của xã hội, thì nhờ có văn hóa các cá nhân liên kết với
Trang 27nhau tạo ra hệ thống xã hội Văn hóa có khả năng đặc biệt đó là khả năngphản ánh đời sống tinh thần của một hệ thống xã hội và liên kết Trong hệthống văn hóa, văn hóa được biểu hiện trong chuẩn mực giá trị xã hội Còntrong hệ thống cá nhân nó được chủ thể duy trì như là mô hình hành vi Môhình hành vi này sẽ quy định cách thức tương tác giữa cá nhân và nhóm xãhội Văn hóa có thể được di chuyển từ hệ thống xã hội này đến hệ thống xãhội khác thông qua việc du nhập các giá trị xã hội Văn hóa cũng có thểchuyển dịch từ hệ thống cá nhân này sang cá nhân khác thông qua học hỏi và
xã hội hóa Tuy nhiên tính chất biểu trưng của văn hóa tạo ra một đặc trưngkhác như là một chức năng Đó là khả năng kiểm soát các hệ thống hànhđộng Từ quan điểm này Parsons đã cho mình quyền của một người theo chủnghĩa văn hóa Học thuyết có tính hội nhập thực sự đối với việc giải thích đờisống văn hóa Nó phải đảm bảo mức độ đo lường về tính hội nhập của các cấp
độ phân tích Quan điểm của ông về quyết định luận văn hóa dưới con mắtcủa các nhà phân tích còn có nhiều điều nghi ngờ Đối với việc áp dụng giảithích một xã hội biến đổi mạnh mẽ trong thời đại công nghệ Tuy nhiên cácnhà phân tích cũng thừa nhận rằng quan điểm của Parsons về hệ thống vănhóa cũng như hệ thống cá nhân và hành vi đã góp phần giải thích sự ổn địnhhay tính chất tĩnh học của đời sống xã hội
Merton, người học trò của Parsons tiếp tục phát triển lý thuyết cấu trúcchức năng Theo Merton, văn hóa là một tổ hợp có tổ chức của hệ thống giátrị chuẩn mực nó điều chỉnh hành vi phổ biến của các thành viên trong xã hội.Cấu trúc xã hội là phức hợp có tính tổ chức của các mối quan hệ xã hội trong
đó các thành viên của xã hội đó là chủ thể của những hành động xã hội vàAnomi là hiện tượng vô khuẩn trong đời sống xã hội Anomi xuất hiện khikhông có sự liên kết giữa các chuẩn mực các chỉ tiêu văn hóa và khả năng tổchức các thành viên trong xã hội tạo ra một sự liên kết phù hợp Địa vị củacác cá nhân với tư cách là chủ thể hành động trong một cơ cấu xã hội xác định
có thể bị biến đổi do quá trình thực hiện các vai trò xã hội của họ Một số cá
Trang 28nhân không thể tuân thủ những giá trị chuẩn mực xã hội vì những lý do củariêng mình Mặt khác hệ thống văn hóa mới hoặc sự truyền bá lối sống mớivới một kiểu hành vi ứng xử nào đó mà cấu trúc xã hội lại ngăn cản khôngcho nó thực hiện, ở nơi đó hiện tượng Anomi dễ xảy ra Ví dụ trong chế độphụ quyền, người chồng giữ vai trò chủ đạo trong gia đình Khi lối sống mớixuất hiện, người vợ muốn thay đổi vị thế những thiết chế gia trưởng khôngcho phép Hành vi của người vợ đối với thể chế gia trưởng được coi như làanomi Hiện tượng anomi cũng như là một trong những nguyên nhân của tiếnhóa chức năng Tóm lại, giữa cấu trúc xã hội và văn hóa có một mối liên hệchặt chẽ, mức độ phù hợp giữa đạo đức và giá trị chuẩn mực với cấu trúcchức năng xã hội, tạo ra sự ổn định bền vững Trái lại, mức độ liên kết lỏnglẻo sẽ làm xuất hiện anomi và khả năng rối loạn khác.
Có thể nói, trụ cột của thuyết chức năng cấu trúc trong những năm 1950
- 1960 ở Mỹ là Talcott Parsons Ông đặc biệt nhấn mạnh tới những mục đíchcuối cùng của hành động "Một hành động được coi là hợp lý khi mục đíchbiện minh cho sự cố gắng" [Nguyễn Khắc Viện, tr 402]
Nhìn chung, các nhà theo thuyết chức năng nhấn mạnh tính ổn định,thống nhất ý kiến và sự thống nhất của xã hội Họ nhìn xã hội tương tự như cơthể con người với nhiều bộ phận Giống như các bộ phận của cơ thể, các thiếtchế trong xã hội phải hành chức một cách chính xác để duy trì sự ổn địnhchung của toàn hệ thống xã hội Riêng Parsons, ông đã tin tưởng rằng trật tự
xã hội được xây dựng trên các giá trị mà các thành viên trong xã hội cùngchia sẻ Ông phân loại xã hội như rơi vào một quang phổ (continuum) giữađịa vị gán cho và địa vị xã hội đạt được Các xã hội mà ở đó các cá nhân đượcđánh giá dựa trên vị trí gia đình, giới tính, chủng tộc của họ hoặc dựa trên cácđặc điểm sinh ra được nhìn như là theo truyền thống cuối cùng của phổ xã hội
đế Ông bình luận rằng những vị trí khó đạt được đòi hỏi những trách nhiệmđáng kể thì phải có hệ thống ban thưởng cho những cá nhân nắm vững chức
vụ đó Parsons cho rằng phân tầng xã hội là cần thiết để tạo ra những khuyến
Trang 29khích cho những người mà họ sẽ phải đảm trách những chức năng hay trọngtrách khác của những vị trí xã hội khó khăn và theo quan điểm của ông, phântầng xã hội là đáng mong ước vì nó cho phép hệ thống xã hội học cần đượchành chức một cách trôi chảy.
Tiếp cận lý thuyết xã hội học theo thuyết chức năng, đề tài rất quan tâmđến nội dung quan điểm giải thích theo thuyết chức năng;
Việc mở rộng giáo dục trường học chính quy được xem là một điều kiện
có trước cho việc phát triển kinh tế có hiệu quả và cho sự phát triển xã hộingười tài năng Hệ thống giáo dục đóng một vai trò chủ yếu trong việc đápứng ở mức tồi thiểu
Hệ thống giáo dục là một phương tiện để phát triển nguồn nhân lực,trong một quốc gia công nghiệp Giáo dục có một sự lựa chọn sống còn haymột chức năng định rõ vị trí Giáo dục trường học được coi (theo quan điểmchức năng) là hậu quả “không thể tránh khỏi” của sự đòi hỏi về kỹ thuật củasản xuất công nghiệp, đòi hỏi về đào tạo kỹ thuật, và phân công đúng ngườiđàn ông hay đàn bà cho một công việc Những ý tưởng trên là cơ sở lý thuyếtnền tảng của đề tài
1.2.2 Lý thuyết phát triển nông thôn
Theo nghĩa chung nhất, "phát triển là quá trình vận động từ thấp (đơngiản) đến cao (phức tạp), mà nét đặc trưng chủ yếu là cái cũ biến mất và cáimới ra đời" [Từ điển triết học, tr 3] Thực tế cho thấy, các lý thuyết về sựphát triển ngày càng có nội dung tiến gần tới những mục tiêu thiết thực mà xãhội đề ra, ngày càng đáp ứng cao hơn những yêu cầu những mong muốn củacon người Phát triển được xem như là một quá trình chuyển đổi xã hội,chuyển dịch từ tư duy và hình thức tổ chức xã hội, kinh tế cũ sang tư duy vàhình thức tổ chức xã hội kinh tế mới [Tư duy mới về , tr 87] Trong quátrình phát triển xã hội, giáo dục đóng vai trò quan trọng không chỉ vì nó làm
Trang 30tăng "vốn con người" mà vì giáo dục làm thay đổi khả năng chấp nhận cácthay đổi
Phát triển nông thôn là quá trình vận động nội tại của chính bản thânkinh tế - xã hội nông thôn gắn liền với những đặc điểm, điều kiện tự nhiên vàtrình độ phát triển kinh tế - xã hội của từng vùng cụ thể Quá trình vận độngnày luôn gắn liền với sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước và sự đổi mới
về thể chế chính sách của nhà nước, tạo môi trường thuận lợi và giữ vai trò
"bà đỡ" để khuyến khích thúc đẩy sự vận động đi nhanh, đúng hướng và cóhiệu quả, phát triển nông thôn một cách toàn diện, cần đảm bảo có sự tăngtrưởng liên tục cả về mặt kinh tế và xã hội theo hướng: chuyển dịch kinh tếnông thôn hiện nay từng bước sang cơ cấu kinh tế nông - công nghiệp - dịch
vụ theo hướng sản xuất hàng hóa đa dạng, có năng suất, chất lượng, hiệu quảcao trên cơ sở áp dụng các tiến bộ khoa học, công nghệ, nhất là công nghệsinh học và trang bị các công cụ, thiết bị sản xuất tiên tiến
Giáo dục tạo điều kiện cho các cá nhân làm quen với các phương phápkhoa học, với các hình thức tư duy mới khác biệt sâu sắc so với cách tư duy
cũ
Một trong những mục tiêu quan trọng của phát triển nông thôn ngày nay
là làm cho xã hội nông thôn tiến hóa từ sản xuất tự túc sang sản xuất cho thịtrường [Đào Thế Tuấn, tr 21]
Muốn phát triển kinh tế xã hội nông thôn, rất cần có một sự hiểu biếtsáng suốt và chính xác về đời sống kinh tế phức tạp nói chung Người sảnxuất cần phải có những hiểu biết về thị trường địa phương, trong nước, quốc
tế Chính vì thế mà người nông dân rất cần được sự giáo dục để có thể theokịp sự biến đổi trong xu thế phát triển hiện nay Không những thế, người nôngdân cần có sự hiểu biết tối thiểu về pháp luật, cơ cấu tổ chức hành chính cũngnhư quyền lực của các cơ quan nhà nước Hay nói một cách khác, người nôngdân rất cần có kiến thức để tìm hiểu cương lĩnh và chính sách của nhà nước.Mặt khác, người nông dân rất cần có những hiểu biết để làm tròn nghĩa vụ của
Trang 31người công dân Chỉ có giáo dục mới có thể giúp họ lĩnh hội được một hệthống đa dạng của những mối quan hệ mang tính chất phức tạp trong xã hộihiện đại Xã hội càng phát triển, con người càng có nhu cầu cần được trang bịtrí thức để có thể hiểu được quyền và nghĩa vụ của mỗi công dân trong cuộcsống cộng đồng, sự bình đẳng của con người, sự tự do cá nhân, sự phát triểncủa nhân cách, những nguyên tắc đổi mới quyết định sự tiến bộ của hành vi cánhân và toàn bộ xã hội.
Một trong những mục tiêu phát triển thiên niên kỷ hiện nay là “tăngcường bình đẳng giới và nâng cao vị thế, năng lực cho phụ nữ” [báo cáo tómtắt tình hình giới, tr 28] Ở Việt Nam, bên cạnh những mục tiêu phát triểnkhác, đặc biệt chú ý đến các mục tiêu về phổ cập giáo dục, bảo đảm bình đẳnggiới và nâng cao vị thế, năng lực của phụ nữ
Chính vì thế mà trình độ học vấn, trình độ văn hóa của người phụ nữđóng một vai trò hết sức quan trọng trong quá trình phát triển nông thôn.Trong công cuộc đổi mới đất nước phụ nữ đã góp phần quan trọng, đặc biệtPNNT, họ chiếm tới 52% dân số ở nông thôn và 70% lực lượng lao động trựctiếp trong các lĩnh vực ở nông thôn hiện nay Rõ ràng muốn phát triển nôngthôn, rất cần chú ý đến lực lượng lao động này Nhiều chị em, do nhu cầu bứcbách của cuộc sống, lại được cơ chế mới tác động, họ trở nên năng động tháovát mạnh bạo trong công việc làm ăn tạo thu nhập cho gia đình Sẵn sàngchấp nhận rủi ro, một nắng hai sương trên đồng ruộng, di cư theo mùa vụ, họctập thêm các ngành nghề mới để cải thiện đời sống gia đình Chính vì vậy,cùng với sự khởi sắc của đời sống xã hội nông thôn, vai trò vị thế của PNNTtrong những năm gần đây đã có những biến đổi khá rõ Không chỉ đóng vaitrò là người tham gia vào lực lượng lao động của hộ gia đình mà quan trọnghơn, họ cùng chồng bàn bạc trao đổi và cùng ra quyết định về những côngviệc hệ trọng Có thể nói, chủ trương phát triển nông thôn đã đặt vị thế ngườiphụ nữ vào đúng những đòi hỏi mà xã hội và gia đình mong đợi, tạo một sựbình đẳng mà trước đây chưa được xác nhận một cách nghiêm túc
Trang 32Phát triển nông thôn, không đơn giản chỉ đem lại quyền lợi vật chấttrước mắt cho người nông dân trong đó có PNNT mà cao hơn muốn tạo cho
họ một tương lai phát triển lâu dài tốt đẹp, phát huy được tiềm năng cá nhân,nhân cách trí tuệ, thể lực con người Mặt khác, không ngừng cải thiện sựhưởng thụ vật chất và nâng cao sự thỏa mãn những nhu cầu văn hóa, tinhthần
Xuất phát từ những đặc điểm kinh tế - xã hội của đất nước, Đảng ta đãxác định rõ vai trò và vị trí cực kỳ quan trọng của sự nghiệp phát triển nôngnghiệp và kinh tế nông thôn trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội củađất nước
Phát triển nông thôn chính là nhằm xây dựng nông thôn văn minh hiệnđại, phúc lợi dân cư không ngừng tăng lên, đảm bảo sự công bằng, dân chủ vàtrật tự an toàn xã hội nông thôn
Đề tài này đã vận dụng những ý tưởng có sức mạnh tự thân trong địnhnghĩa "phát triển" khá mới mẻ, vì chỉ có giáo dục và đào tạo mới có thể giúpcho nguồn nhân lực của một đất nước có điều kiện tiến đến sự phát triển bềnvững trong tương lai
Vận dụng quan điểm phát triển nông thôn của Đảng và Nhà nước ta, đềtài muốn tìm hiểu sự tác động của một số chính sách đến sự tham gia vàquyền ra quyết định của phụ nữ trong gia đình và cộng đồng trong vài năm trởlại đây Tác động tích cực và tiêu cực của một số chính sách được thể hiện rõ
lý thuyết độc lập Tuy nhiên cho đến nay ở Việt Nam việc giới thiệu một cách
Trang 33đầy đủ và có hệ thống toàn bộ lý thuyết giới với tư cách là lý luận khoa họccòn rất ít Trong đề tài này, chúng tôi (do hạn chế của cá nhân) chỉ có thể đềcập đến một số vấn đề trong lý thuyết giới có liên quan đến nội dung nghiêncứu qua một số tác phẩm đã được xuất bản trong nước và nước ngoài mà bảnthân có dịp tham khảo.
Các lý thuyết khoa học về giới đã được rút ra từ các phong trào phụ nữsôi động của các nước phương Tây từ những năm 60 trở lại đây Đó là cácphong trào: "Phụ nữ trong phát triển" và sau đó là "Giới và sự phát triển".Các lý thuyết thuyết nữ quyền:
Có nhiều quan điểm lý luận đã được hình thành để vận dụng vào nghiêncứu những vấn đề của phụ nữ và giới hiện nay Lý thuyết về giới được hìnhthành dựa trên quan điểm một số lý thuyết nữ quyền xuất hiện ở các nướcphương Tây thời gian qua Trong đó phải kể tới: thuyết nữ quyền tự do, nữquyền mác xít, nữ quyền xã hội chủ nghĩa, nữ quyền cấp tiên, Nữ quyền hiệnsinh, nữ quyền phân tâm, nữ quyền hậu hiện đại Trong số đó cần đặc biệt coitrọng quan điểm nữ quyền mác-xít, nữ quyền XHCN Các học giả theo thuyết
nữ quyền đã lên tiếng chống lại những quan điểm thiếu khách quan về giới.Khi đề cập đến vai trò của nam và nữ trong giai đoạn hiện nay Những ngườitheo quyết định luật sinh học cho rằng chọn học tự nhiên “đã cấy vào conngười ýmuốn truyền cho đời sau các gien của mình và phần nhiều, có thể làhầu hết hành vi [ con người] được kích thích bởi xung lượng sinh học bêntrong này (in nate impulse) để thấy được mã di truyền của mình tồn tại” (XemEpstein 1988: 47) [Vũ Mạnh Lợi, tr 13] Họ lập luận rằng, những khác biệtgiữa nam và nữ trong các vai trò xã hội, cấu trúc thứ bậc xã hội, trong cácquan hệ quyền lực, phân công lao động v.v trong gia đình và giữa gia đình
và xã hội rộng lớn hơn có thể quy về những khác biệt đã được chương trìnhhóa về mặt sinh học giữa hai giới tính như những khác biệt giữa nam và nữ vềcác chiến lược tái sinh sản, các hoóc môn, kích thước và hình dạng của não
bộ, các nhịp sống theo thời gian trong này theo quan điểm này, sự thống trị
Trang 34của nam giới và tính thụ động của nữ giới, tính hơn hẳn về trí tuệ và khả năngnhận thức tốt hơn của nam giới, khả năng tình cảm đặc biệt của phụ nữ v.v lànhững sản phẩm tự nhiên của một, hoặc là sự kết hợp của một số yếu tố nhưcác chiến lược tái sinh sản của nam và nữ,những đặc điểm, đặc thù về giớitính của các hoóc môn và mức của các hoóc môn này, kích thước và hìnhdạng của não bộ, phân hóa chức năng theo các bán cầu đại não, và các phẩmchất sinh học khác Theo thuyết định luật sinh học, những hành vi như ngoạitình, sự hy sinh vì người khác, các dàn xếp trong gia đình,sự gia trưởng, sựkhông trung thuỷ của nam giới tất cả đều có nguồn gốc từ di sản sinh học củacon người David Barash 1979: 189, trích lại từ Epstein 1988: 56).
[Vũ Mạnh Lợi, tr 13]
Đối lập với quan điểm quyết định luật sinh học các nhà khoa học xã hội
đã chỉ ra tầm quan trọng hàng đầu của văn hóa và sự học hỏi có tính xã hội.Theo quan điểm của các học giả theo thuyết nữ quyền, y học cho rằng giađình không phải là một thể chế có tính tất yếu về sinh học Trái lại, đó là mộtthể thế xã hội, một hệ tư tưởng, một hệ thống mang tính thiết chế của cácquan hệ xã hội và các ý nghĩa văn hóa (Epstein 1988; Thorne 1982; Colliez vàđồng nghiệp 1982) [Vũ Mạnh Lợi, tr 14]
Những học giả nữ quyền xem sinh học chỉ như “một phạm vi của cácnăng lực, một lý thuyết về “tính tiềm năng sinh học” (Epstein 1988:6).Những khác biệt giữa nam và nữ thể hiện ở hành vi xã hội của họ, trí tuệ đạođức, tình cảm không mấy là hậu quả của yếu tố sinh học mà chính là sảnphẩm được tạo ra bởi văn hóa và các can thiệp từ vật hiện sinh học thô(Epstein 1988: Thorne 1982) Những người theo thuyết nữ quyền xem quyềnlực của nam giới đối với phụ nữ như nguồn gốc của sự bất bình đẳng giớitrong gia đình và ngoài xã hội [Vũ Mạnh Lợi, tr 14]
Họ chủ trương đấu tranh đòi các quyền cho phụ nữ Họ khẳng định nam
nữ sinh ra đều có quyền bình đẳng về mọi mặt, vì thế mọi người đều có quyền
tự nhiên như nhau Họ đã nhấn mạnh học vấn chính là phương tiện để đạt đến
Trang 35sự bình đẳng nam nữ Họ cho rằng, nam nữ cùng hợp tác tạo điều kiện cho cảhai giới để cùng được hưởng lợi như nhau, không nên phân biệt Trong giađình và ngoài xã hội, họ chỉ rõ vai trò cùng chia xẻ trách nhiệm của nam và
nữ Đối với các học giả nữ quyền, họ quan niệm rằng, con người tạo ra giađình Vì thế không có lý do gì mà không thể thay đổi nó
Các lý thuyết về giới đã đề cập đến quan hệ xã hội của phụ nữ và namgiới trong mọi lĩnh vực đời sống xã hội Mối quan hệ đó trước hết được biểuhiện ở vai trò trong những lĩnh vực khác mà phụ nữ và nam giới cùng thamgia Vai trò giới đòi hỏi phụ nữ và nam giới đảm nhận những chức năng vànhiệm vụ nhất định trong đời sống gia đình và xã hội Vai trò giới được xácđịnh dựa trên sự phân công lao động theo giới mà sự phân công lao động đóluôn diễn ra trên ba loại công cuộc chủ yếu: sản xuất, tái sản xuất và côngviệc cộng đồng
“Công việc sản xuất liên quan đến sự sản xuất hàng hóa và dịch vụ chotiêu dùng và trao đổi (làm ruộng, đánh cá, làm thuê) Khi người ta hỏi họ đanglàm gì, câu trả lời phần lớn có quan hệ tới công việc sản xuất đặc biệt lànhững công việc mà chúng được trả công hoặc tạo ra thu nhập Cả phụ nữ vànam giới có thể cùng liên quan tới những hoạt động sản xuất, nhưng trongtừng lĩnh vực, chức năng và trách nhiệm của họ sẽ khác tuỳ theo sự phân cônglao động theo giới [Gender Readings , tr 26]
Dựa trên cơ sở lý thuyết nữ quyền khác, các nhà nghiên cứu phụ nữ ởcác nước phát triển đã xây dựng nên hệ thống quan điểm lý luận, dưới góc độkhoa học, lý thuyết giới là sản phẩm cao nhất của phát triển đấu tranh của phụ
nữ Khoa học về giới là sự đóng góp có hiệu quả vào công cuộc xây dựng một
xã hội văn minh, công bằng và bền vững Cụ thể, lý thuyết giới muốn cungcấp một cách nhìn toàn diện trước một vấn đề phức tạp và nhạy cảm là mốiquan hệ sinh học và xã hội giữa nam và nữ, không những thế khoa học về giới
đã chỉ ra những bất cập, những quan niệm và những hành vi lệch lạc của xãhội về mối quan hệ này
Trang 36Phụ nữ trong phát triển, giới và phát triển; hai cách tiếp cận nghiên cứu địa vị của phụ nữ ở các nước đang phát triển
Từ những thập niên 70 trở lại đây, quan điểm “phụ nữ trong phát triển”
đã đạt được những thành công to lơn trong việc làm cho các chương trìnhphát triển, dự án quan tâm hơn đến các vấn đề phụ nữ Trong quá trình pháttriển quan điểm “phụ nữ trong phát triển” cũng bộc lộ những thiếu sót nhấtđịnh mà theo quan điểm của các nhà nghiên cứu nếu chỉ dừng lại ở các biệnpháp thu hút phụ nữ vào quá trình phát triển mà không xem lại mục đích vànội dung của chính sự phát triển thì chưa hẳn thỏa đáng Vì lý do đó, việcđánh giá, nhận định quá trình phát triển từ lợi ích của phụ nữ cần được đặt ra
và việc đưa phụ nữ vào phát triển cần được tiến hành đồng thời với việc cảibiến, hoàn thiện toàn bộ quá trình này từ khâu đặt mục đích đến thực hiện.Một cách tiếp cận mối dã được sử dụng, chú ý đến các quan hệ giới, tức
là mối tương quan giữa nam và nữ Chứ không đặt phụ nữ tách biệt với namgiới để nghiên cứu Khái niệm “giới và phát triển” đã ra đời thay thế cho “phụ
nữ trong phát triển”
Từ nghiên cứu thực tiễn các tác giả cho rằng “công việc sản xuất của phụ
nữ thường ít được nhìn thấy và bị đánh giá thấp hơn đàn ông” [GenderReadings , tr 26]
Ở lĩnh vực công việc tái sản xuất lý thuyết giới cho rằng, để sản xuấtđược duy trì và đảm bảo liên tục cần có sự tái tạo sức lao động thông qua hoạtđộng tái sản xuất: “Công việc tái sản xuất liên quan đến việc chăm sóc và duytrì hộ gia đình và các thành viên của nó Công việc này bao gồm sự mangthai, sinh sản, chăm sóc con cái) chuẩn bị thức ăn, nước uống và thu gom chấtđốt, đi chợ, trông nom nhà cửa và chăm sóc sức khoẻ cho gia đình” Đây làcông viẹc rất thiết yếu, song trên thực tế “Người ta ít coi chúng thực sự làcông việc” Trong những cộng đồng nghèo, công việc tái sản xuất thường dophụ nữ và trẻ em gái đảm nhận [Gender Readings , tr 26]
Trang 37Loại công việc thứ ba, là công việc cộng đồng, “công việc này liên quanđến tổ chức tập thể của các sở, ngành hoặc liên kết xã hội như hội hè, machay các hoạt động cải thiện cộng đồng Sự tham gia vào các nhóm và các tổchức, các hoạt động chính trị địa phương v.v loại công việc này có thể cảphụ nữ và nam giới cùng tham gia, tuy nhiên “sự phân công lao động theogiới cũng thịnh hành ở đây” [ Gender , tr 26].
Trên cơ sở ba công việc nêu trên, phụ nữ và nam giới cùng tham gia vào
ba vai trò, song mức độ có thể không giống nhau Nhiều tác giả đã cho rằng:
“Trong nhiều xã hội, phụ nữ đảm nhận phần lớn lĩnh vực tái sản xuất và làmviệc quá nhiều trong công việc sản xuất” [Gender , tr 26]
Vì vậy đề tài này, khi tìm hiểu sự tham gia và quyền ra quyết định tronggia đình và cộng đồng, chúng tôi đã vận dụng để phân tích vai trò giới hiệnđang tồn tại trong cộng đồng,mà sự phân công lao động theo giới trên ba loạicông việc nói trên vừa là cơ sở, vừa là công cụ để thao tác Sự phân công vaitrò có thể xuất phát từ sự thuận lợi về mặt sinh học và sự phân công xã hội.Tuy nhiên, có nhiều quan điểm cho rằng sự phân công vai trò giới gắn liềnvới các giá trị, chuẩn mực xã hội, gắn liền với văn hóa nhiều hơn là thuận lợi
về mặt sinh học, mặc dầu cả hai yếu tố đều có quan hệ chặt chẽ với nhau Cóthể tham khảo ý kiến của một số tác giả: “Sự phân công lao động giới đặctrưng cho mỗi nền văn hóa và từng thời điểm Thậm chí nó có thể khác từcộng đồng này đến cộng đồng khác Không những thế, vai trò giới còn thểhiện sự “mềm dẻo và thích nghi với sự thay đổi của điều kiện gia đình”
[Gender , tr 25]
Rõ ràng địa vị xã hội của nam giới và nữ giới chịu sự chi phối của điềukiện kinh tế - xã hội nơi họ sống và làm việc Vì thế: “công bằng xã hội, bìnhđẳng nam nữ, hạt nhân của chính sách xã hội chỉ có thể thực hiện được bằngcách phát huy yếu tố con người, huy động được tài năng, trí tuệ và sức lực củamọi thành viên trong xã hội, phụ nữ cũng như nam giới để phát triển kinh tếNếu không, cùng lắm cũng chỉ là chia đều sự nghèo nàn, công bằng trong lạc
Trang 38hậu, mà trong gia đình hiện nay điều đó thật khó chấp nhận [Báo cáo giớiLHQ, tr 32].
Để cho nam giới và nữ giới thực hiện được vai trò xã hội của mình,(ngoài việc chịu sự chi phối của điều kiện kinh tế - xã hội nơi họ sinh sống)
họ rất cần phải sử dụng những nguồn lực trong gia đình và cộng đồng, đồngthời họ có sự thụ hưởng từ lợi ích cho bản thân và cộng đồng tạo ra Các nhà
lý thuyết giới đã chỉ ra nguồn lực mà nam nữ có thể sử dụng: “bao gồm nguồntài nguyên phục vụ cho sản xuất hoặc kinh tế nguồn lực chính trị và yếu tốthời gian [Gender , tr 27] Còn lợi ích “là sự chia sẻ của phụ nữ và nam giới
về những nhu cầu cơ bản như thức ăn, quần áo thu nhập, sở hữu tài sản, giáodục và đào tạo, quyền lực chính trị, uy tín, địa vị xã hội và những cơ hội đểmưu cầu những lợi ích mới [Gender , tr 28] Rõ ràng nó đảm bảo sự bìnhđẳng nam nữ cần phải tạo cơ hội như nhau cho cả hai giới trong sử dụng vàkiểm soát nguồn lực, để phụ nữ và nam giới làm tốt vai trò của mình Từ cơ
sở này, trong phân tích giới cần xác định nguồn lực nào cần thiết cho côngviệc của họ và ai là người sẽ kiểm soát và sử dụng nguồn lực ấy, cũng nhưviệc xác định những lợi ích nào có thể có từ gia đình và cộng đồng
Các nhà nghiên cứu về giới phân biệt rõ hai cấp độ trong cơ hội tiếp cậnnguồn lực: cấp độ tham gia và cấp độ kiểm soát “Tham gia là cơ hội để sửdụng một vài thứ trong nguồn lực, kiểm soát là năng lực xác định nguồn lực
và áp dụng cách sử dụng lên những người khác [Gender , tr 28]
Trên thực tế, ở nhiều quốc gia trên thế giới phụ nữ ít tham gia và kiểmsoát lợi ích kinh tế hoặc chính trị hơn nam giới Có thể có trường hợp, phụ nữtham gia sử dụng nguồn lực nhưng không có sự kiểm soát chúng “Phụ nữ cóthể sử dụng thu nhập qua thức ăn của họ nhưng không kiểm soát việc chi tiêuchúng như thế nào [Gender , tr 28]
Mặt khác, có thể phụ nữ cũng tham gia đến quá trình hoạt động chính trị
ở địa phương nhưng họ ít có ảnh hưởng đến vấn đề quyền lực chính trị củacác tổ chức cộng đồng, chính vì thế mà “giới hạn khả năng của phụ nữ trong
Trang 39việc sử dụng và kiểm soát nguồn lực và lợi ích” là do “thiếu thời gian và thiếuthông tin” [Gender , tr 28].
Rõ ràng việc tiếp cận và kiểm soát các nguồn lực có quan hệ chặt chẽ vớiđịa vị xã hội của phụ nữ và nam giới, đặc biệt là phụ nữ
Thực chất tiếp cận giới và quan điểm giới đòi hỏi phải xem xét vị trí, vaitrò của phụ nữ trong mối tương quan với vị trí, vai trò của nam giới trong xãhội Cụ thể, khi áp dụng tiếp cận giới để nghiên cứu địa vị của người phụ nữtrong gia đình, ta cần phải xem xét sự phân công lao động theo giới (nam làm
gì, nữ làm gì) [Trần vân anh , tr 48-50] Cần chú ý mức độ tham gia của phụ
nữ vào quá trình ra quyết định, tương quan nam nữ trong thu nhập, phân phối
và tiêu dùng; khả năng tiếp cận và kiểm soát các nguồn lực và các yếu tố biếnđổi vị trí, vai trò của phụ nữ và nam giới v.v
Rõ ràng về mặt phương pháp luận, các lý thuyết giới đòi hỏi phải luônluôn xem xét các vấn đề giới này trong mối tương tác (tương quan) với giớikia Điều này làm cho cách nhìn nhận, vấn đề của phụ nữ không những trởnên khách quan hơn, mà còn tạo điều kiện để cách giải quyết vấn đề đó cótính hiện thực và khả thi hơn Lý thuyết về giới sẽ giúp chúng ta hiểu biết vềnguyên nhân, cơ chế xã hội của sự phân công lao động giữa nam và nữ tronggia đình và xã hội
Từ hướng tiếp cận này, đề tài đã vận dụng khi xem xét địa vị của PNNTtrong quá trình tham gia và quyền ra quyết định trong sản xuất, trong gia đình
và địa vị của họ trong cộng đồng trong mối tương quan với học vấn xét theochiều cạnh nam làm gì, nữ làm gì ? Từ đó có thể khái quát đến sự phát triển
hộ gia đình là vì lợi ích của cả hai giới trong gia đình và ngoài xã hội Có nhưvậy mới tạo ra sự phát triển bền vững của gia đình nói riêng và xã hội nóichung
Trang 401.2.4 Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh luận giải vấn đề
giải phóng phụ nữ, thực hiện bình đẳng nam nữ
Chủ nghĩa Mác - Lênin đặt vấn đề nghiên cứu sự ra đời của các quan hệbất bình đẳng giữa nam và nữ, từ sự phát triển của các yếu tố kinh tế, của nềnvăn minh nhân loại, của quá trình phát triển và biến đổi của gia đình, của sựphân công lao động xã hội, sự ra đời của chế độ tư hữu và giai cấp v.v TheoMác và Ăngghen, con đường giải phóng phụ nữ, thiết lập sự bình đẳng nam
nữ, gắn với cuộc cách mạng xã hội, với sự phát triển kinh tế, chính trị, vănhóa, tư tưởng của xã hội đương thời
Sự ra đời của nhà nước pháp quyền tư sản, đánh dấu sự phát triển củakinh tế văn hóa, gắn với nền văn minh công nghiệp, công nghiệp hóa và đô thịhóa được đẩy mạnh, đã làm chuyển đổi vai trò, địa vị người phụ nữ Lúc này,
họ có sự độc lập về kinh tế, độc lập trong hôn nhân và gia đình hơn so với trước.Chủ nghĩa tư bản đã tạo ra các tiền đề kinh tế, xã hội cho cuộc đấu tranh giảiphóng giai cấp bị áp bức, bóc lột, giải phóng phụ nữ Nhưng bản thân chủnghĩa tư bản, khi xác lập vị trí của nó trên vũ đài lịch sử lại không thể giảiphóng được con người nói chung, người phụ nữ nói riêng khỏi sự áp bức giađình và xã hội, thậm chí nó còn tạo thêm sự áp bức, bóc lột và làm tha hoáphụ nữ, vấn đề này đã được đề cập rõ trong một số tác phẩm của chủ nghĩaMác - Lênin Theo chủ nghĩa Mác, giải phóng phụ nữ khỏi áp bức, bất công,mọi ràng buộc bất bình đẳng mà chế độ áp bức bóc lột đã quàng lên cổ họ.Vấn đề này chỉ có cuộc cách mạng vô sản, cuộc cách mạng nhằm giải phóngcho toàn bộ nhân loại mới có thể thực hiện được
C Mác đã có nhiều quan niệm rất quan trọng làm cơ sở lý luận cho việcnghiên cứu phụ nữ Các khái niệm được sử dụng trong phân tích về sự áp bứcphụ nữ: sự tha hóa, áp bức kinh tế, giá trị sử dụng, lao động phục vụ và phépbiện chứng C Mác đã cung cấp một khung phân tích về những bất hòa tronghôn nhân do cảnh sống bần cùng trong gia đình của phụ nữ Khi đấu tranh vớinhững lời trách cứ của giai cấp tư sản, C Mác (và Ph Ăngghen) đã đề cập