Trong lịch sử dựng nước và giữ nước, các dân tộc trong cộng đồng dân tộc Việt Nam đã đoàn kết chặt chẽ, gắn bó keo sơn, chung sức chung lòng đấu tranh chống giặc xâm lăng, khắc phục thiên tai bảo vệ và xây dựng đất nước. Đoàn kết toàn dân tộc đã trở thành một truyền thống quý báu, là nguồn sức mạnh lớn lao, là nhân tố quyết định sự tồn tại và phát triển của dân tộc.Chủ tịch Hồ Chí Minh trong cuộc đời hoạt động cách mạng của mình đã nhận thức rõ tầm quan trọng của việc xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Người luôn chăm lo xây dựng, phát huy sức mạnh toàn dân tộc trong thực hiện các nhiệm vụ của cách mạng, và chính Người là biểu hiện cao đẹp cho tinh thần và truyền thống đại đoàn kết toàn dân tộc Việt Nam. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, tư tưởng về đại đoàn kết toàn dân tộc là một nội dung cơ bản và đặc sắc
Trang 1BẢNG KÝ HIỆU CHỮ VIẾT TẮT
Trong lịch sử dựng nước và giữ nước, các dân tộc trong cộng đồng dân tộc Việt Nam đãđoàn kết chặt chẽ, gắn bó keo sơn, chung sức chung lòng đấu tranh chống giặc xâm lăng, khắcphục thiên tai bảo vệ và xây dựng đất nước Đoàn kết toàn dân tộc đã trở thành một truyềnthống quý báu, là nguồn sức mạnh lớn lao, là nhân tố quyết định sự tồn tại và phát triển của dântộc
Chủ tịch Hồ Chí Minh trong cuộc đời hoạt động cách mạng của mình đã nhận thức rõtầm quan trọng của việc xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc Người luôn chăm loxây dựng, phát huy sức mạnh toàn dân tộc trong thực hiện các nhiệm vụ của cách mạng, vàchính Người là biểu hiện cao đẹp cho tinh thần và truyền thống đại đoàn kết toàn dân tộc Việt Nam.Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, tư tưởng về đại đoàn kết toàn dân tộc là một nội dung cơ bản và đặcsắc
Học tập tư tưởng Hồ Chí Minh và kế thừa truyền thống đoàn kết của dân tộc, trong quátrình lãnh đạo cách mạng, Đảng cộng sản Việt Nam luôn giương cao ngọn cờ đại đoàn kết, tậphợp toàn dân tộc phát huy sức mạnh tổng hợp đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược giành độc lập tự
do cho dân tộc và xây dựng đất nước đi lên CNXH Trong sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh CNH,HĐH vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ, văn minh ở nước ta hiện nay,Đảng ta tiếp tục khẳng định đại đoàn kết toàn dân tộc là nguồn sức mạnh và động lực to lớn đểthực hiện thắng lợi các nhiệm vụ trong giai đoạn cách mạng mới
Hiện nay, các thế lực phản động trong và ngoài nước vẫn đang ra sức chống phá cáchmạng nước ta, phá hoại khối ĐĐKDT, kích động đồng bào DTTS biểu tình phản đối chính quyền,gây chia rẽ trong đồng bào các dân tộc, chia rẽ Đảng với dân, làm giảm sút lòng tin của nhândân với Đảng, chính quyền hòng làm suy yếu sức mạnh khối ĐĐKDT phục vụ cho ý đồ đen tốicủa chúng Vì vậy, xây dựng, củng cố khối ĐĐKDT ở nước ta trong tình hình hiện nay vừa là
Trang 2yêu cầu, đòi hỏi của sự nghiệp cách mạng, vừa là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân , toànquân ta.
Quân đội nhân dân Việt Nam là quân đội cách mạng mang bản chất giai cấp công nhân,gắn bó máu thịt với nhân dân, có vai trò to lớn trong thực hiện chính sách ĐĐKDT của Đảng,Nhà nước Thời gian qua, bên cạnh những mạnh cơ bản, ở một vài đơn vị cơ sở trong quân độicòn bộc lộ những hạn chế nhất định, chưa phát huy hết vai trò và khả năng to lớn của mình trongthực hiện chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc của Đảng và Nhà nước ta Mặt khác, hiện naythực hiện tốt chính sách ĐĐKDT vừa là yêu cầu xây dựng quân đội trong tình hình mới, vừa làtrách nhiệm của quân đội, thể hiện bản chất một quân đội cách mạng, nhằm thắt chặt hơn nữamối quan hệ gắn bó máu thịt quân- dân góp phần phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàndân tộc xây dựng thành công CNXH và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN trong giaiđoạn mới
Chính vì vậy, tác giả đã chọn đề tài: “Phát huy vai trò của quân đội nhân dân Việt Nam trong thực hiện chính sách đại đoàn kết dân tộc của Đảng, Nhà nước ta theo tư tưởng Hồ Chí Minh” làm luận văn.
2 Tình hình nghiên cứu có liên quan tới đề tài
Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc là vấn đề đã, đang tập trung sự chú ý,quan tâm của Đảng, Nhà nước và các nhà khoa học Đảng ta đã đề cập vấn đề này trong cácvăn kiện, nghị quyết như Văn kiện Đại hội Đảng IX, Nghị quyết chuyên đề của Ban chấp hành
TW lần thứ 7 khoá IX về “Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc vì dân giàu, nước mạnh,
xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” và Nghị quyết TW 7 khoá IX “về công tác dân tộc” Cáccông trình nghiên cứu của các nhà khoa học cũng đã đề cập tới vấn đề này ở những góc độkhác nhau như: Đề tài “Chiến lược đại đoàn kết Hồ Chí Minh”, Phùng Hữu Phú- chủ biên, NxbCTQG, H.1995; “Tìm hiểu thêm tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết”, Phạm Văn Khánh, Tạp chícộng sản, số 18, tháng 9/2000; “Thực hiện đại đoàn kết dân tộc là trách nhiệm của cả hệ thốngchính trị”, Nông Đức Mạnh, Tạp chí cộng sản số 24, tháng 12/2001; sách “Tư tưởng Hồ ChíMinh về đại đoàn kết và mặt trận đoàn kết dân tộc” của Nguyễn Bích Hạnh và Nguyễn VănKhoan, tái bản lần một, Nxb Lao động, H.2001; “Đại đoàn kết toàn dân tộc theo tư tưởng Hồ ChíMinh”, Vũ Văn Châu, Tạp chí Xây dựng Đảng, số 6-2003
Những công trình nghiên cứu nêu trên đã đề cập đến các khía cạnh khác nhau của vấn
đề ĐĐKDT trong tư tưởng Hồ Chí Minh Tuy nhiên, cho đến nay chưa có công trình nào nghiêncứu một cách hệ thống vấn đề “Phát huy vai trò của quân đội nhân dân Việt Nam trong thực hiệnchính sách ĐĐKDT của Đảng, Nhà nước ta theo tư tưởng Hồ Chí Minh” Đề tài này không trùnglặp với các công trình khoa học đã được công bố
3 Mục đích, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu của đề tài
3.1 Mục đích:
Trang 3Thông qua việc nghiên cứu một số nội dung cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh vềĐĐKDT và thực trạng vai trò của quân đội trong thực hiện chính sách ĐĐKDT của Đảng, Nhànước ta, đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm phát huy vai trò của quân đội trong thực hiệnchính sách ĐĐKDT của Đảng, Nhà nước ta hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh.
3.2 Nhiệm vụ :
- Làm rõ một số nội dung cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh về ĐĐKDT
- Chỉ rõ vai trò và thực trạng của Quân đội nhân dân Việt Nam trong thực hiện chính sáchĐĐKDT của Đảng, Nhà nước hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh
- Đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm phát huy vai trò của quân đội trong thực hiệnchính sách ĐĐKDT của Đảng, Nhà nước ta hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh
3.3.Phạm vi nghiên cứu:
Đề tài tập trung nghiên cứu một số nội dung cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh vềĐĐKDT và thực trạng vai trò của quân đội trong thực hiện chính sách ĐĐKDT của Đảng, Nhànước ta hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh (từ năm 1986 đến nay)
4 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu của luận văn
- Kết quả thực hiện chính sách ĐĐKDT của Đảng, Nhà nước ta thời gian qua
- Kết quả khảo sát ở một số đơn vị trong quân đội về thực hiện chính sách ĐĐKDT
Phương pháp nghiên cứu:
Đề tài sử dụng phương pháp luận của CNDVBC và CNDVLS, chú trọng các phươngpháp kết hợp lôgíc- lịch sử, phân tích- tổng hợp, so sánh- thống kê điều tra xã hội học để phục
vụ mục đích nghiên cứu của đề tài
5 Ý nghĩa của luận văn:
- Luận văn góp phần làm rõ tính đúng đắn, khoa học, cách mạng của tư tưởng Hồ ChíMinh về vấn đề ĐĐKDT; đồng thời góp phần phát huy vai trò của quân đội trong thực hiện chínhsách ĐĐKDT của Đảng, Nhà nước ta hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh
- Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu, giảngdạy và vận dụng ở một số đơn vị quân đội trong quá trình thực hiện chính sách ĐĐKDT của Đảng,Nhà nước ta hiện nay
6 Kết cấu của luận văn:
Trang 4Đề tài gồm phần mở đầu, 2 chương, 4 tiết, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụlục.
Chương 1
MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN TRONG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC VÀ VAI TRÒ CỦA QUÂN ĐỘI TRONG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC TA HIỆN NAY THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
Dân tộc, xét theo nghĩa hẹp là một cộng đồng tộc người có chung một tiếng nói, một lịch
sử, cùng nguồn gốc, cùng một đời sống văn hoá dân tộc truyền thống, có ý thức tự giác dân tộc,cùng cư trú trên một địa bàn đầu tiên
Dân tộc, xét theo nghĩa rộng là một cộng đồng người ổn định xuất hiện trong lịch sử, làcộng đồng về đời sống kinh tế, có tiếng nói chung, có lãnh thổ chung và có nền văn hoá chung,trong đó đặc trưng quan trọng nhất là cộng đồng về kinh tế và cộng đồng về văn hoá
Chỉ khi nào hội đủ các yếu tố trên thì dân tộc mới hình thành hẳn Cho nên, theo nghĩanày, dân tộc được gắn liền với sự hình thành và phát triển các quốc gia dân tộc Đề tài này tiếpcận vấn đề dân tộc theo nghĩa rộng
Theo từ điển chính trị vắn tắt, đoàn kết là hợp nhiều người thành một khối vững chắc,cùng một lòng, một dạ nhất trí với nhau; là sự ủng hộ các phong trào, các tổ chức hoặc cá nhântrên cơ sở quan điểm và lợi ích gần nhau hoặc thống nhất [76, tr.128]
Như vậy có thể khái quát:
Đại đoàn kết dân tộc trong quá trình cách mạng Việt Nam là sự kết lại tất cả mọi người thuộcdân tộc Việt Nam, không phân biệt đảng phái, thành phần dân tộc, tín ngưỡng, giới tính, lứa tuổi, giàu nghèo, đang công tác hay đã nghỉ hưu, ở trong nước hay đang sống ở nước ngoài thành một khối vững chắc, ổn định, lâu dài, trên cơ sở thống nhất về mục tiêu và những lợi ích chung cơ bản, để tạo nên sức mạnh vô địch thực hiện thắng lợi sự nghiệp cách mạng
Tư tưởng Hồ Chí Minh về ĐĐKDT là một bộ phận trong toàn bộ tư tưởng của Người, là
sự kế thừa, phát triển truyền thống đoàn kết dân tộc; sự tiếp thu quan điểm chủ nghĩa Mác- Lênin
về sự đoàn kết và vấn đề lực lượng cách mạng; là những yêu cầu, đòi hỏi của thực tiễn cáchmạng Việt Nam và là kết quả đúc kết từ cuộc đời hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh vì độclập tự do cho dân tộc, vì hoà bình, hạnh phúc cho nhân dân Tư tưởng Hồ Chí Minh về ĐĐKDT
có nội dung phong phú và rộng lớn Trong phạm vi của luận văn, tác giả sẽ tập trung làm rõ một
số nội dung cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh về ĐĐKDT
1.1.Một số nội dung cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc
1.1.1.Mục tiêu và cơ sở của đại đoàn kết dân tộc
*Mục tiêu của đại đoàn kết dân tộc
Đại đoàn kết dân tộc là truyền thống quý báu lâu đời, là bài học được đúc rút từ lịch sửđau thương mà hào hùng của dân tộc Việt Nam, đồng thời đây còn là đường lối, phương hướng
để giải phóng dân tộc mà Hồ Chí Minh đã tìm thấy trong quá trình hoạt động cách mạng Trong
tư tưởng của Người, mục tiêu ĐĐKDT là để tạo sức mạnh tổng hợp của toàn thể dân tộc Việt
Trang 5Nam nhằm giải quyết các nhiệm vụ do thực tiễn cách mạng Việt Nam đặt ra Đó là nhiệm vụ giảiphóng dân tộc, giải phóng con người, cải tạo xã hội cũ, xây dựng thành công xã hội mới- XHCNtrên đất nước ta; đó còn là nhiệm vụ bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN, chống cáchành động gây chia rẽ và phá hoại khối ĐĐKDT của các thế lực phản động Khi nói chuyện tạiHội nghị đại biểu mặt trận Liên- Việt toàn quốc, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Ta đoàn kết để đấu tranhcho thống nhất và độc lập của Tổ quốc; ta còn phải đoàn kết để xây dựng nước nhà”[52, tr.438].
Trong các mục tiêu mà ĐĐKDT hướng tới thì vấn đề giải phóng dân tộc được Hồ ChíMinh đặt lên hàng đầu Đây cũng là lý do khiến Người quyết chí ra đi tìm đường cứu nước, làkhát vọng, nỗi niềm trăn trở, động cơ thôi thúc Người dành trọn cả cuộc đời và sự nghiệp cáchmạng của mình để hy sinh, để phấn đấu Trả lời các nhà báo nước ngoài, Người đã nói lên lýtưởng đó: “Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toànđộc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được họchành”[37, tr 161] Để thực hiện được mục tiêu đó, Người đã làm hết sức mình để xây dựng,củng cố khối ĐĐKDT, vận động, tuyên truyền toàn dân phát huy truyền thống đoàn kết của dântộc Việt Nam, chỉ đạo, tổ chức ra các mặt trận, các hội để tập hợp, đoàn kết mọi người, mọi giaitầng cùng đồng tâm, hiệp lực, chung sức, chung lòng đánh thực dân phong kiến, giành độc lập,
tự do cho dân tộc Trong thư kêu gọi tổng khởi nghĩa, Người viết: “Bốn năm trước đây, tôi có thưkêu gọi đồng bào ta đoàn kết, vì có đoàn kết mới có lực lượng, có lực lượng mới giành được độclập, tự do”[25, tr 553] Cách mạng tháng Tám thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng hoà rađời, trong bản Tuyên ngôn độc lập ngày 2/9/1945, Hồ Chủ tịch đã khẳng định trước toàn thểquốc dân đồng bào và toàn thế giới biết rằng: do sức đoàn kết tranh đấu của toàn dân tộc mànước Việt Nam đã trở thành một nước tự do, độc lập và “Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đemtất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”
Sau cách mạng tháng Tám 1945, thực dân Pháp rồi đế quốc Mỹ tiếp tục xâm lược ViệtNam, gây nên cảnh chia cắt giữa hai miền Nam- Bắc Nghe theo lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch, với
ý chí “thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”,
“Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, toàn dân Việt Nam không phân biệt trẻ, già, trai, gái, vùng,miền, đoàn kết một lòng cùng quyết tâm đánh giặc Mỹ xâm lược, giải phóng miền Nam, thốngnhất đất nước Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ 7/5/1954 và chiến thắng trong chiến dịch HồChí Minh lịch sử 30/4/1975 là chiến thắng của sức mạnh ĐĐKDT, là sự chứng minh cho sự đúngđắn, sáng tạo của tư tưởng đại đoàn kết Hồ Chí Minh và của Đảng ta
Việt Nam là một quốc gia gồm nhiều dân tộc sinh sống, kề vai sát cánh trong lịch sửdựng nước và giữ nước, Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở các dân tộc không phân biệt lớn, nhỏ phảiđoàn kết chặt chẽ, phải thương yêu quý mến nhau như anh em trong một nhà để cùng nhauđánh giặc xâm lăng, giữ gìn độc lập tự do cho toàn dân tộc Tổ quốc Việt Nam được giải phóngthì các dân tộc trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam mới được giải phóng, vì vậy, Ngườikhuyên đồng bào các dân tộc hãy đoàn kết chặt chẽ tạo sức mạnh to lớn để đánh đuổi xâm lăng,
Trang 6giữ vững nền độc lập cho đất nước và cho các dân tộc Phát biểu tại Hội nghị đại biểu các dântộc thiểu số miền Nam, Người nói: “Nhờ sức mạnh đoàn kết đấu tranh chung của các dân tộc,nước Việt Nam ngày nay được độc lập, các dân tộc thiểu số được bình đẳng cùng dân tộc ViệtNam, tất cả đều như anh chị em trong một nhà, không còn phân chia nòi giống, tiếng nói gì nữa.Trước kia, các dân tộc để giành được độc lập phải đoàn kết, bây giờ để giữ lấy nền độc lập cũngcần phải đoàn kết hơn nữa”[30, tr 110].
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, ĐĐKDT không chỉ để tạo nên sức mạnh vô địch chiếnthắng quân thù, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, mà ĐĐKDT còn nhằm xây dựng thànhcông CNXH ở Việt Nam Bởi theo Người, ĐĐKDT vừa là vấn đề sống còn của sự nghiệp cáchmạng, vừa là yêu cầu, là thuộc tính đặc trưng của CNXH Người cho rằng, xã hội XHCN màchúng ta đang xây dựng là một xã hội khác hẳn về chất so với các xã hội bóc lột trước đó Xã hộiXHCN không chỉ cần sức mạnh đoàn kết của cả cộng đồng dân tộc Việt Nam, mà đây còn là một
xã hội duy nhất có thể mang lại hạnh phúc, no ấm và tình đoàn kết, sự bình đẳng thực sự chocác dân tộc, cho mọi người dân Trong xã hội mới này, các dân tộc cùng sống một cuộc sốnghạnh phúc, đoàn kết, vui vẻ, không còn sự kỳ thị, phân biệt, không còn cảnh dân tộc lớn đè nén,
ức hiếp dân tộc bé theo kiểu “cá lớn nuốt cá bé” Người quan niệm “CNXH là ấm no, đoàn kết,vui vẻ Vì vậy, muốn đi đến CNXH thì mọi người phải học tập, lao động và thực hành đoàn kết”
Như vậy, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, thực hiện ĐĐKDT để tạo sức mạnh to lớn củatoàn dân tộc để đánh đuổi giặc xâm lăng, giải phóng dân tộc, giải phóng nhân dân thoát khỏi chế
độ áp bức, bóc lột Đồng thời thực hiện ĐĐKDT còn nhằm xây dựng thành công CNXH trên đấtnước ta Trong suốt quá trình cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta luôn thấy rõ vai tròsức mạnh của ĐĐKDT đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam, nên đã luôn quan tâm xây dựng,củng cố và giữ gìn khối ĐĐKDT nhằm thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốcViệt Nam XHCN
*Cơ sở của đại đoàn kết dân tộc
Thứ nhất, đồng bào các dân tộc Việt Nam không phân biệt dân tộc, giai cấp, tín ngưỡng, vùng, miền đều có chung một cội nguồn sâu xa là con lạc cháu Hồng, đều là con dân nước Việt, gắn bó với những truyền thống tốt đẹp lâu đời trong lịch sử đấu tranh dựng và giữnước của dân tộc
Đại đoàn kết toàn dân tộc là một truyền thống quí báu của dân tộc ta đã được các thế hệngười Việt Nam gìn giữ, vun đắp và phát huy trong công cuộc dựng nước và giữ nước Trong tưtưởng Hồ Chí Minh, khối đoàn kết của chúng ta được hình thành và dựa trên cơ sở mọi ngườidân Việt Nam không kể sự giàu nghèo, sang hèn, tín ngưỡng, dân tộc đều là con cháu LạcHồng, có chung một nguồn cội Từ một “bọc đẻ trăm trứng” do Mẹ Âu cơ sinh ra, 50 người con
đã theo cha lên rừng, 50 người con theo mẹ xuống biển để mở mang bờ cõi, hình thành nênmảnh đất Việt Nam với những kỳ tích huyền thoại Qua thời gian và những thử thách cam go,các thế hệ người Việt Nam ngày càng sinh sôi, không ngừng khai phá, mở rộng lãnh thổ, đoànkết cùng nhau đấu tranh chống chọi với thiên nhiên, chống giặc ngoại xâm bảo tồn nòi giống,
Trang 7phát triển quốc gia dân tộc Vì cùng chung một tổ tiên nòi giống nên Hồ Chí Minh thường dùng từ
“đồng bào” để gọi toàn thể nhân dân Việt Nam, tức là những người cùng được sinh ra từ mộtbọc Trong các bài nói, bài viết của mình, Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở, kêu gọi các tầng lớp nhândân hãy đoàn kết và chỉ cho họ thấy mọi người dân Việt Nam đều là anh em ruột thịt, đều từ mộtbọc sinh ra Khi diễn nôm “lịch sử nước ta” Người kêu gọi:
“Hỡi ai con cháu rồng tiên
Mau mau đoàn kết vững bền cùng nhau
Bất kỳ nam nữ giàu nghèo
Bất kỳ già trẻ cùng nhau kết đoàn”
Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, mỗi dân tộc đều có một bản sắc riêng, điều đóphản ánh tính đa dạng, đặc sắc của nền văn hoá Việt Nam Trong tư tưởng đại đoàn kết Hồ ChíMinh, 54 dân tộc sinh sống trên đất nước Việt Nam đều là anh em một nhà, là thành viên khôngthể chia cắt của đại gia đình các dân tộc Việt Nam Trong thư gửi Đại hội các dân tộc thiểu sốmiền Nam tại Plâycu ngày 19/4/1946 Người chỉ rõ: “Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán,Giarai hay Êđê, Xê đăng hay Bana và các dân tộc thiểu số khác, đều là con cháu Việt Nam, đều
là anh em ruột thịt Chúng ta sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau, no đói giúp nhau”[33, tr.217] Trong tâm thức của Người, mọi dân tộc, mọi người dân Việt Nam đều có sự gắn bó bởitình ruột thịt, nghĩa đồng bào và cùng chung một gia đình, một Tổ quốc, nên phải đoàn kết gắn
bó keo sơn, yêu thương nhau, đùm bọc nhau như những người trong một gia đình Trong thưgửi học sinh trường sư phạm miền núi Trung ương nhân dịp ngày khai giảng, Người căn dặn:
“Các cháu thuộc nhiều dân tộc và ở nhiều địa phương Nhưng các cháu đều là con em của đạigia đình chung: là gia đình Việt Nam, đều có một Tổ quốc chung: là Tổ quốc Việt Nam”[53,tr.496] Do những diễn biến lịch sử và sự vận động của quá trình tộc người, nên ở Việt Nam, bêncạnh đa số các dân tộc đã tụ cư lâu đời, cũng có một số dân tộc thiên di tới Việt Nam trong vàithế kỷ gần đây, cùng làm ăn, sinh sống trên đất nước Việt Nam Trong tư tưởng đoàn kết Hồ ChíMinh, bộ phận này cũng là thành viên của đại gia đình dân tộc Việt Nam, có nhiều công lao đónggóp vào quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nên Người luôn tôn trọng, yêu quí, coi như anh
em ruột thịt Trong thư gửi anh em Hoa Kiều ngày 28/12/1946, Người viết: “Dân tộc Việt Nam,đồng văn đồng chủng, tình nghĩa thân thiết hơn mấy ngàn năm Anh em Hoa Kiều làm ăn ở đâyvới dân Việt Nam, cũng như ruột thịt” Trên cơ sở có chung nguồn gốc, nòi giống, đều là anh emmột nhà, Hồ Chí Minh luôn khơi dậy trong mỗi con người, mỗi dân tộc trên đất nước Việt Namtình yêu thương, đùm bọc, gắn bó, tinh thần trách nhiệm giừ gìn tình đoàn kết toàn dân tộc VớiNgười, đất nước Việt Nam là quê hương, là gia đình lớn và cũng là người mẹ dịu hiền của tất cảmọi người, mọi dân tộc sinh sống trên đất Việt Cho nên, đoàn kết chặt chẽ, yêu thương, đùmbọc lẫn nhau là bổn phận, trách nhiệm và là niềm tự hào cho mỗi người dân Việt Nam Vì thế,Người đã nhắc nhở:
“Dân ta phải giữ nước ta
Trang 8Dân là con nước, nước là mẹ chung”[35, tr.486].
Thứ hai, mọi người dân Việt Nam và mọi dân tộc ở Việt Nam đều có chung những lợi ích cơ bản và vận mệnh dân tộc
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, đại đoàn kết dân tộc không chỉ được xây dựng trên cơ sởmọi người dân Việt Nam đều có chung nguồn gốc, nòi giống, mà tình đoàn kết đó còn được dựachắc trên cơ sở những lợi ích chung và vận mệnh dân tộc
Lợi ích là vấn đề cốt lõi, là động cơ, là chất kết dính toàn dân tộc thành một khối thốngnhất cùng đồng tâm, hiệp lực thực hiện những nhiệm vụ của dân tộc Lợi ích chung nhất củatoàn thể dân tộc Việt Nam là chủ quyền quốc gia, độc lập dân tộc, thống nhất đất nước Do thốngnhất được những lợi ích cơ bản đó mà trong hàng ngàn năm lịch sử, các dân tộc ở Việt Nam đãđoàn kết keo sơn, kề vai sát cánh, cùng nhau xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam vững mạnh
Nhận thức được ý nghĩa và tầm quan trọng của mẫu số chung đó, Hồ Chí Minh đã qui tụ,tập hợp được các tầng lớp nhân dân, không phân biệt đảng phái, tôn giáo, thành phần dân tộc vào mặt trận dân tộc thống nhất Người đã chỉ ra cho mọi người thấy mối quan hệ biện chứnggiữa lợi ích riêng của mỗi người, mỗi dân tộc, mỗi thành phần phải gắn liền và đặt trong mốiquan hệ với lợi ích chung của quốc gia dân tộc Nước mất thì nhà tan, mọi người, kể cả vua cũngtrở thành nô lệ Chân lý đó đã được lịch sử dân tộc kiểm chứng Hàng ngàn năm Bắc thuộc,hàng trăm năm bị thực dân Pháp đô hộ, nhân dân ta sống trong gông cùm, tăm tối, mất tự do,phải “làm thân trâu ngựa cho loài chó dê” cướp nước Trong hoàn cảnh đó, đồng bào các dântộc, không phân biệt dân tộc đa số hay thiểu số, đồng bào miền xuôi hay đồng bào miền ngượcđều có chung số phận của người dân mất nước Vì vậy, kẻ thù của toàn dân tộc cũng là kẻ thùcủa mỗi dân tộc, từng dân tộc không thể tự giải phóng cho mình nếu không dựa vào khối đoànkết của toàn dân tộc Đây chính là yêu cầu khách quan buộc mọi dân tộc, tôn giáo, thành phần trong đất nước phải đoàn kết chặt chẽ cùng đấu tranh vì lợi ích của mỗi bộ phận cũng như vìquyền lợi chung của cả quốc gia dân tộc Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Tổ quốc là Tổ quốc chung Tổquốc độc lập thì ai cũng được tự do Nếu nước mất thì ai cũng phải làm nô lệ”[35, tr.485]
Sau cách mạng tháng Tám 1945, thực dân Pháp, rồi sau đó là đế quốc Mỹ lại xâm lượcnước ta Chúng dùng mọi thủ đoạn nham hiểm để phá vỡ khối đại đoàn kết, thống thất toàn dântộc, chúng đã lập ra những khu tự trị, cô lập từng vùng miền làm cho đồng bào các dân tộc cáchtrở, ly gián, đối địch lẫn nhau Khi Pháp thất bại ở Điện Biên phủ buộc phải ký hiệp định Giơnevơcông nhận nền hoà bình trên bán đảo Đông Dương, đế quốc Mỹ nhảy vào xâm lược miền NamViệt Nam đã dùng vĩ tuyến 17 để cắt đôi đất nước Vì lợi ích chung của toàn dân tộc, vì độc lập,
tự do và sự thống nhất toàn vẹn của hai miền Nam- Bắc, nhân dân ta, dưới sự lãnh đạo củaĐảng cộng sản Việt Nam và Hồ Chủ tịch, đã đoàn kết nhất trí, triệu người như một, tất cả vì mộtnước Việt Nam hoà bình, thống nhất, tiến hành cuộc kháng chiến thần thánh, thu giang sơn đấtnước về một mối, Nam- Bắc sum họp một nhà, cả nước thống nhất đi lên CNXH Khẳng định ýchí và tinh thần đoàn kết của toàn dân tộc, Hồ Chủ tịch đã viết:
“Nước Việt Nam là một
Trang 9Dân tộc Việt Nam là một.
Dù cho sông cạn đá mòn
Nhân dân Nam- Bắc là con một nhà”
Thứ ba, các dân tộc ở Việt Nam có một chính phủ chung thống nhất đại diện cho lợi ích của toàn dân tộc
Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hoà được lập nên từ thành quả của cách mạngtháng Tám 1945, là chính phủ của mọi người dân Việt Nam, của các dân tộc sinh sống trên đấtnước Việt Nam, mang trách nhiệm trước nhân dân trong công cuộc xây dựng và giữ gìn đấtnước Vì vậy, mọi người dân Việt Nam đều coi đó là chính phủ của chính mình, đoàn kết gắn bótheo sự điều hành, quản lý của chính phủ để thực hiện thành công công cuộc kháng chiến vàkiến quốc Trong thư gửi đại hội các dân tộc thiểu số miền nam tại Plâycu, Hồ Chủ Tịch đã khẳngđịnh: “Giang sơn và chính phủ là giang sơn và chính phủ chung của chúng ta Vậy nên tất cả cácdân tộc chúng ta phải đoàn kết chặt chẽ để giữ gìn nước non ta, để ủng hộ chính phủ ta”[33,tr.217]
Như vậy, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, khối đại đoàn kết dân tộc của chúng ta được đặttrên cơ sở vững chắc của những điểm tương đồng về nguồn gốc nòi giống và những lợi íchchung Chính những nét tương đồng đó đã gắn kết mọi người, mọi bộ phận trên đất nước trongkhối thống nhất toàn dân tộc Việt Nam để cùng dựng nước và giữ nước Những điểm chung đó
đã làm cho số phận và lợi ích của từng bộ phận luôn gắn liền với vận mệnh chung của quốc giadân tộc và chính đặc điểm chung đó đã làm cho các thành phần, dân tộc trên đất nước, quanhững bước thăng trầm của lịch sử, những khó khăn, thử thách lại thêm đoàn kết, gắn bó, thuỷchung Trong quá trình cách mạng, Hồ Chí Minh và Đảng ta đã biết cách khơi dậy, đánh thức vàtôn trọng các cơ sở chung đó nên đã tập hợp, xây dựng được khối đoàn kết toàn dân tộc tạo sứcmạnh to lớn, đưa sự nghiệp cách mạng nước ta tới bến bờ thắng lợi
1.1.2.Lực lượng và phương pháp của đại đoàn kết dân tộc
*Lực lượng của đại đoàn kết dân tộc
Trong tư tưởng đại đoàn kết Hồ Chí Minh, lực lượng tham gia trong khối ĐĐKDT là toànthể dân tộc Việt Nam, gồm tất cả những người Việt Nam yêu nước, tán thành, ủng hộ và phấnđấu vì một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, dân chủ và giàu mạnh, không phân biệt thànhphần giai cấp, dân tộc, tín ngưỡng, kể cả quá khứ trước kia của họ thế nào Lực lượng đoàn kếttrong tư tưởng Hồ Chí Minh rất rộng rãi, đông đảo Trong thư gửi đồng bào Nam bộ ngày31/5/1946, Người chỉ rõ: “Tôi khuyên đồng bào đoàn kết chặt chẽ và rộng rãi Năm ngón tay cũng
có ngón ngắn, ngón dài Nhưng ngắn dài đều hợp lại nơi bàn tay Trong mấy triệu người cũng cóngười thế này thế khác, nhưng thế này hay thế khác đều dòng dõi của tổ tiên ta Vậy nên ta phảikhoan hồng đại độ, ta phải nhận rằng đã là con Lạc cháu Hồng thì ai cũng có ít nhiều lòng ái quốc
Trang 10Đối với những đồng bào lạc lối lầm đường ta phải lấy tình thân ái mà cảm hoá họ Có như thế mớithành đoàn kết, có đoàn kết thì tương lai chắc chắn sẽ vẻ vang”[32, tr.246-247].
Tư tưởng đoàn kết rộng rãi và chặt chẽ của Hồ Chí Minh được thể hiện ngay trong thànhphần của chính phủ liên hiệp chính thức được lập nên sau khi tổng tuyển cử bầu quốc hội6/1/1946 Trong chính quyền mới được lập ra có đủ thành phần đại diện cho khối đại đoàn kếttoàn dân tộc, có những chí sĩ yêu nước như cụ Huỳnh Thúc Kháng, có những người của chế độ
cũ như các ông Phan Kế Toại, Bùi Bằng Đoàn, có cả “công dân Vĩnh Thuỵ” là vua Bảo Đại mớithoái vị, có giám mục Lê Hữu Từ ở chức cố vấn, cũng có cả đại diện Đảng “Việt quốc” và “Việtcách” trong chính phủ Trong thành phần của Quốc hội khoá I, Hồ Chí Minh đã nhường hẳn mộtphần năm số ghế cho những người thuộc Việt Nam quốc dân Đảng và Việt Nam cách mạngđồng minh hội, mà không thông qua bầu cử, vì họ không có cơ hội trúng cử qua tổng tuyển cử tự
do Hồ Chí Minh chủ trương thực thà đoàn kết lâu dài với những người thuộc mọi xu hướng,miễn là họ có tinh thần yêu nước để cùng mưu cầu độc lập, tự do, hạnh phúc cho nhân dân Khitrả lời báo “Độc lập” về việc chính phủ mở rộng 28/8/1947, Hồ Chủ tịch nêu rõ: “chính sách củachính phủ trước sau vẫn là đại đoàn kết Đối với các vị quan lại cũ, cũng như đối với tất cả cácgiới đồng bào, những người có tài, có đức, thì chính phủ hoan nghênh ra gánh vác việcnước”[41, tr.196]
Từ những quan điểm và chính sách đúng đắn về xây dựng khối đoàn kết toàn dân tộc,nên Hồ Chí Minh đã thu hút, qui tụ được nhiều nhân sĩ yêu nước, những người tài giỏi, nhữngngười có uy tín, trong mặt trận dân tộc để cùng mưu sự chung Đặc biệt Người đã cô lập đượcnhững phần tử bất đồng với cách mạng, lôi kéo được những người trung lập đi theo cách mạng,tạo nên sức mạnh hùng hậu của khối ĐĐKDT đưa sự nghiệp cách mạng mau thắng lợi Phátbiểu trong buổi tiếp đại biểu nhân dân thủ đô Hà Nội ngày 16/10/1954, Người nói: “Đoàn kết làlực lượng mạnh nhất của chúng ta Chúng ta phải đoàn kết rộng rãi và chặt chẽ đoàn kết giữachính phủ và nhân dân Đoàn kết giữa các tầng lớp nhân dân với nhau Đoàn kết giữa đồng bàotoàn quốc, từ Bắc chí Nam Nói rộng hơn nữa, đoàn kết giữa nhân dân ta và nhân dân nướcbạn ”[51, tr 368]
Trong tư tưởng, tình cảm Hồ Chí Minh, mọi người Việt Nam đều có chung nguồn gốc nòigiống, đều là con dân nước Việt, miền Nam hay miền Bắc cũng có chung một cội nguồn dân tộc, mộttruyền thống lịch sử đoàn kết lâu đời Người kịch liệt phản đối âm mưu và hành động của kẻ thù hòngchia cắt đất nước, Người luôn coi miền Nam là máu của máu Việt Nam, là thịt của thịt Việt Nam, và:
“Dù cho sông cạn đá mòn
Nhân dân Nam Bắc là con một nhà”
Vì vậy, Người chủ trương: “Từ Nam đến Bắc, ai là người tán thành hoà bình, thống nhất,độc lập, dân chủ, thì ta sẵn sàng đoàn kết với họ, thật thà hợp tác với họ, dù từ trước đến nay họ
đã theo phe phái nào Đoàn kết là một lực lượng vô địch”
Trang 11Một trong những lực lượng trong tư tưởng ĐĐKDT Hồ Chí Minh là đồng bào các dân tộcthiểu số Người luôn coi các dân tộc thiểu số là “anh em một nhà”, nên nhắc nhở mọi cấp, mọingành phải đặc biệt quan tâm, giúp đỡ, thương yêu đồng bào các dân tộc Nói chuyện tại Hộinghị cán bộ phụ nữ miền núi, Người nhắc nhở phải đoàn kết giữa dân tộc mình, đoàn kết giữacác dân tộc Đoàn kết với đồng bào miền xuôi lên phát triển kinh tế miền núi Tất cả các dân tộcmiền núi và miền xuôi phải đoàn kết như anh em, chị em trong một nhà.
Đồng bào theo các tôn giáo cũng là một bộ phận không thể tách rời trong tư tưởngĐĐKDT của Hồ Chí Minh và Người luôn đánh giá cao vai trò hết sức quan trọng của đồng bàotrong sự nghiệp giải phóng dân tộc, trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Nhận thức rõ vấn đề đó,
Hồ Chí Minh luôn quan tâm, xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân, đoàn kết lương giáo,động viên giáo dân thi đua đóng góp công sức vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Thựchiện sự đoàn kết giữa các tôn giáo, giữa đồng bào Lương và đồng bào Giáo là quan điểm nhấtquán của Hồ Chí Minh và của Đảng ta từ năm 1945 Trong cuộc họp Hội đồng chính phủ lâmthời sau ngày độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Hiện nay, những vấn đề gì là cấp bách hơn
cả Theo tôi có 6 vấn đề: vấn đề thứ sáu: thực dân và phong kiến thi hành chính sách chia rẽđồng bào Giáo và đồng bào Lương để dễ dàng thống trị Tôi đề nghị chính phủ ta tuyên bố: tínngưỡng tự do và Lương Giáo đoàn kết”[31, tr.9]
Trong thư gửi Hội nghị đại biểu đồng bào Công giáo miền Bắc ngày 17/9/1964, Ngườimong muốn rằng: Lương Giáo đoàn kết, toàn dân đoàn kết, cả nước một lòng, nhân dân ta nhấtđịnh sẽ thắng lợi trong công cuộc đấu tranh thực hiện hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ vàgiàu mạnh
Nghiên cứu tư tưởng đại đoàn kết Hồ Chí Minh, chúng ta thấy, lực lượng trong tư tưởngđoàn kết của Người là rất đông đảo, rộng rãi Trong đất nước Việt Nam, hễ ai có lòng yêu nước,thành thực muốn đóng góp công sức của mình vào sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựngCNXH và bảo vệ vững chắc Tổ quốc XHCN thì đều trở thành lực lượng trong khối ĐĐKDT, đều
là đối tượng để Người đoàn kết Tư tưởng đại đoàn kết rộng rãi của Hồ Chí Minh là rất xa lạ vớinhững quan điểm dân tộc hèp hòi, dân tộc “thượng đẳng” và những quan điểm đoàn kết cổ xưa.Quan điểm về đối tượng đoàn kết của Hồ Chí Minh cũng khác với quan điểm của các nhân sĩyêu nước như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh
Phan Bội Châu, một sĩ phu yêu nước đã từng hô hào “Nghìn muôn ức triệu người trongnước, xây dựng nên cơ nghiệp nước nhà”, và “cốt rằng người trong nước chung nhau một lòng”.Ông luôn tin tưởng rằng: “nếu cả nước đồng lòng như thế, việc gì coi cũng dễ như không” và đãchủ trương đoàn kết tất cả những người đồng tâm là “Phú hào, quan tước, thế gia, sĩ, binh tập,côn đồ, nghịch tử, nhi nữ, anh sỹ, bồi bếp, thông ký, người đi du học ” Nhưng Phan Bội Châulại coi hạng người phú hào, quan tước, sỹ, người đi du học nước ngoài là những hạng người lớptrên, là động lực chính của cuộc vận động cách mạng, còn tầng lớp công, nông, thương lạikhông có trong tư duy đoàn kết của ông
Trang 12Khác với quan điểm trên, Hồ Chí Minh luôn chủ trương đoàn kết rộng rãi tất cả lựclượng, thành phần có thể đoàn kết trong xã hội nhưng phải đặt trên nguyên tắc, đó là họ phải cótinh thần yêu nước, ủng hộ cách mạng, một lòng một dạ đấu tranh vì lợi ích chung của toàn dântộc Hơn nữa, thực hiện đoàn kết đông đảo các lực lượng trong mặt trận dân tộc thống nhất,nhưng phải lấy khối liên minh công- nông- trí làm nòng cốt Nói chuyện tại Hội nghị đại biểu mặttrận Liên Việt, ngày 10/1/1953, Người chỉ rõ: “Đại đoàn kết tức là trước hết phải đoàn kết đại đa số nhândân, mà đại đa số nhân dân ta là công nhân, nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động khác Đó lànền gốc của đại đoàn kết”[52, tr 438].
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Hồ Chí Minh luôn biết phân tích, đánh giá đúng vaitrò cách mạng, ưu điểm, hạn chế của từng lực lượng, giai tầng trong xã hội, thông cảm sâu sắcvới địa vị, hoàn cảnh của họ, tìm ra những điểm tương đồng dẫn dắt họ đi theo con đường cáchmạng, nên đã đoàn kết, tập hợp được lực lượng đông đảo toàn dân tộc, góp phần đưa sựnghiệp cách mạng mau tới thành công
*Phương pháp đại đoàn kết dân tộc
Nghiên cứu tư tưởng ĐĐKDT của Hồ Chí Minh, chúng ta thấy nét đặc sắc, nổi bật làcách thức, phương pháp mà Người đã thực hiện để vận động, tập hợp, quy tụ, đoàn kết mọingười Phương pháp ĐĐKDT của Hồ Chí Minh là sự kết hợp một cách nhuần nhuyễn, tinh tếnhững tinh hoa văn hoá ứng xử từ cổ, kim, Đông, Tây trên thế giới với sự đậm đà, sâu sắc củatruyền thống văn hoá của dân tộc Việt Nam Những điều đó được hội tụ trong con người Hồ ChíMinh tạo nên phong cách và lối ứng xử để thu phục, cảm hoá, đoàn kết mọi người cùng đồngtâm nhất trí thực hiện những mục tiêu cao cả của sự nghiệp cách mạng
Thứ nhất, tôn trọng, thương yêu, quý mến, tin tưởng đồng bào, dùng những lời lẽ chân thành, giản dị để thuyết phục, cảm hoá quần chúng
Thấm nhuần truyền thống đạo lý của dân tộc qua những câu ca dao, cách ngôn “Bầu ơithương lấy bí cùng”, “Thương người như thể thương thân”, “chị ngã em nâng” Hồ Chí Minhluôn tôn trọng, thương yêu và tin tưởng ở lòng tốt, tính hướng thiện của con người Ở Người,lòng nhân đạo, tình thương yêu con người, thương đồng bào luôn toả rộng, không bao giờ vơicạn Tình thương đó là tình thương yêu giai cấp, thương yêu nhân dân lao động và những ngườicùng khổ Người nhận rõ rằng, cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, do quần chúng tiếnhành và mưu lại lợi ích của quần chúng nhân dân Sức mạnh ở quần chúng nhân dân là vô địch,trong bầu trời không có gì quý bằng nhân dân, trong thế giới cũng không có gì mạng hơn sứcmạnh đoàn kết của nhân dân Song quần chúng nhân dân, những kiếp người lao khổ đó phảiđược đoàn kết, quy tụ lại Và muốn đến với con người, cảm hoá, thuyết phục con người thì conđường ngắn nhất, hiệu quả nhất và bền lâu nhất là bằng sự chân thành, tình thương yêu, quýmến họ Không có lòng thương người, sự tôn trọng, bao dung với con người thì không thể nàođại đoàn kết, đại hoà hợp được với con người Bằng trái tim để đến với trái tim, đó là nhân cách,đạo đức và cùng là phương pháp để thực hiện ĐĐKDT ở con người Hồ Chí Minh
Trang 13Tình thương, sự tôn trọng của Người dành cho tất cả mọi người, mọi dân tộc, mọi thànhphần giai cấp, xã hội, mọi giới, mọi lứa tuổi và không chỉ với đồng bào dân tộc mình mà còn dànhcho cả nhân loại tiến bộ, yêu chuộng hoà bình trên thế giới.
Với đồng bào các dân tộc thiểu số, Người luôn dành những tình cảm và sự quan tâmsâu sắc tới đồng bào, ân cần thương yêu, tôn trọng đồng bào, coi đồng bào như anh em ruột thịt,động viên, thăm hỏi bằng thái độ chân thành, gần gũi, ấm áp như những người thân trong mộtgia đình Nói chuyện với đoàn đại biểu các dân tộc thiểu số tỉnh Tuyên Quang ngày 23/11/1945,Người căn dặn: “Tôi nhờ anh chị em về nói lại với đồng bào trên ấy biết rằng, đồng bào Kinh vàchính phủ rất thương mến đồng bào Mán, Thổ, coi như anh chị em trong một nhà và khuyên anhchị em gắng sức để đi tới thái bình để cùng hưởng chung”[29, tr.104] Trong bức thư gửi đồngbào các tỉnh Thái Nguyên, Bắc Cạn, Lạng Sơn, Cao Bằng, Hà Đông ngày 20/3/1946, Người bày
tỏ sự chân thành: “Tuy hiện nay tôi ở Hà Nội, xa cách với đồng bào nhưng không bao giờ tôiquên các đồng bào Tôi luôn nhớ đến lòng yêu mến và sự giúp đỡ của các đồng bào trongnhững tháng ngày tôi ở thượng du”[34, tr.210]
Sự chân thành và tình thương yêu của Hồ Chí Minh còn được thể hiện cụ thể, sinh độngđối với một số dân tộc mới di cư đến làm ăn, sinh sống với nhân dân Việt Nam Trong thư gửianh em Hoa Kiều ngày 2/9/1945, Người viết: “Tôi xin thay mặt chính phủ nhân dân lâm thời ViệtNam và toàn dân Việt Nam đưa bàn tay nồng nhiệt hoan nghênh anh em Hoa Kiều sinh sốngtrên đất nước ta, mong rằng anh em hai nước chúng ta thân mật đoàn kết, có việc gì thì giảiquyết với nhau theo nguyên tắc hợp lý, hợp tình với thái độ kính trọng nhường nhịn lẫn nhau,không được vì những tranh chấp nhỏ của cá nhân mà gây điều bất hạnh ngăn cách giữa hai dântộc”
Đối với đồng bào theo các tôn giáo và các giáo chủ, giáo sĩ, chức sắc trong các tôn giáo,
Hồ Chí Minh luôn tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng và đức tin của họ Mặc dù là một lãnh tụcộng sản nhưng Người để lại một ấn tượng tốt đẹp trong giáo dân, gây được cảm tình từ đồngbào tôn giáo, tạo được niềm tin, sự kính trọng, nể phục và nghe theo của giới chức sắc tu hành Trong hầu hết các bài nói, bài viết của Hồ Chí Minh về tôn giáo đều ít nhiều đề cập tới nhữngngười sáng lập ra các tôn giáo, tới sự tương đồng về mục tiêu, lý tưởng giữa tôn giáo và CNCS.Với sự kính trọng đức chúa chân thành, trong thư gửi linh mục và đồng bào công giáo Việt Namngày 23/12/1945, Người viết: “Cách một nghìn chín trăm bốn mươi nhăm năm trước, cũng ngàyhôm nay, một vị thánh nhân là Đức chúa Giêsu ra đời Suốt đời hy sinh phấn đấu cho tự do, chodân chủ, từ ngày giáng sinh đến nay đã gần 2000 năm, nhưng tinh thần thân ái của Ngài chẳngnhững không phai nhạt mà toả ra khắp, thấm vào sâu”[27, tr.121]
Trong thư gửi Hội phật tử Việt Nam ngày 30/8/1947, Hồ Chí Minh viết: “Đức phật đại từ,đại bi, cứu khổ, cứu nạn, muốn cứu chúng sinh ra khỏi khổ nạn, Người phải hy sinh tranh đấudiệt lũ ác ma” Đối với các chức sắc tôn giáo, dù bận trăm công ngàn việc, song Người vẫn
Trang 14không quên viết thư, điện thăm hỏi với lời lẽ ân cần, tôn trọng mà rất gần gũi như những ngườibạn cùng phấn đấu cho mục đích chung Trong thư gửi Giám mục Lê Hữu Từ, Người viết:
“Thưa Đức cha,
Từ lâu tôi không được gặp Đức cha, tôi buồn lắm”
Chính từ tình yêu thương, thái độ chân thành, gần gũi của Hồ Chí Minh đã thuyết phục,cảm hoá, quy tụ, đoàn kết được đồng bào và các chức sắc tôn giáo, xây dựng khối ĐĐKDT, tạosức mạnh thực hiện thắng lợi công cuộc kháng chiến và kiến thiết nước nhà
Trong phương pháp thực hiện ĐĐKDT, chúng ta phải đề cập tới nghệ thuật sử dụngngôn từ, cách nói ví von, hình ảnh và khả năng tuyên truyền, thu phục nhân tâm để đoàn kết, tậphợp lực lượng ở Hồ Chí Minh Với vốn sống, kinh nghiệm thực tiễn phong phú và sự hiểu biếtsâu sắc đối tượng cần đoàn kết, Hồ Chí Minh luôn sử dụng những ngôn từ đơn giản, mộc mạcmang đậm hình ảnh trực quan, phù hợp với đối tượng Trong bài thơ “Hòn đá”, in trên báo “Độclập” ngày 21/4/1942, Người đã dùng hình ảnh “hòn đá to, hòn đá nặng” để ví với nhiệm vụ cáchmạng rất nặng nề, gian khổ, ít người tham gia thì khó mà giải quyết được; nhưng nếu toàn dânđoàn kết, triệu người như một, mỗi người đều phải chung tay giúp sức thì khó mấy cũng làmxong Người kết luận:
“Ví dụ: 10 dân tộc ở tỉnh nhà như 10 ngón tay Nếu xoè 10 ngón tay mà bẻ từng ngónnhư thế có dễ bẻ không? Nếu nắm chặt cả 10 ngón tay thì có bẻ được không? Nếu kẻ thù nào chia
rẽ thì phải làm thế nào? thì phải đập vào đầu chúng nó Đó là điểm thứ nhất tại sao phải đoàn kếtchặt chẽ giữa các dân tộc”[55, tr 226]
Khi được tin một số đồng bào ở vùng Sơn Hà vì sự sai lầm của một số cán bộ địaphương mà để giặc lợi dụng, kích động, gây rối trật tự trị an, ảnh hưởng tới sản xuất và cuộcsống của nhân dân, Hồ Chí Minh rất đau lòng Bằng những lời lẽ chân tình của một người cha,một vị Chủ tịch nước, Người khuyên nhủ: “Đồng bào biết rằng, chính phủ ta là chính phủ củadân Việc gì hại đến dân thì chính phủ hết sức tránh Việc gì lợi cho dân chì chính phủ ra sứclàm Vậy tôi khuyên đồng bào mau mau tỉnh ngộ, trở về yên phận làm ăn, chớ nghe lời giặc lừaphỉnh” Và Người cũng kiên quyết: “Tôi đảm bảo rằng tôi và chính phủ sẽ trừng trị những cán bộ
có lỗi và sẽ làm cho đồng bào khỏi oan ức”[46, tr.117]
Trang 15Nhờ thái độ chân thành và những lời nói có tình có lý thể hiện tình thương và tráchnhiệm trước nhân dân, Người đã làm cho đồng bào tin và nghe theo, trở về ổn định cuộc sống,thắt chặt tình đoàn kết giữa nhân dân và chính quyền địa phương.
Từ sự tôn trọng, thương yêu, quý mến đồng bào và bằng những lời lẽ chân thành, mộcmạc, dễ hiểu để cảm hoá quần chúng, Hồ Chí Minh đã lôi kéo, quy tụ, đoàn kết được mọi ngườithuộc mọi đối tượng khác nhau xung quanh mình Có nhiều người không biết gì về chủ nghĩacộng sản, nhưng trước con người, nhân cách, tâm hồn, phong thái Hồ Chí Minh, họ đã tin, theo
và nguyện đứng xung quanh khối đại đoàn kết của Người và sẵn sàng hy sinh để phấn đấu cho
lý tưởng cộng sản chủ nghĩa mà Người là biểu tượng
Thứ hai, khoan dung, độ lượng, vị tha, hướng mọi người vào mục đích chung cao cả
Đức khoan dung, sự độ lượng và lòng vị tha là những đức tính, phẩm chất trong conngười Hồ Chí Minh và đây cũng là cái cách để Hồ Chí Minh đoàn kết, thu phục mọi người cùngquyết tâm thực hiện sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng đất nước Theo Hồ Chí Minh, làmngười phải biết khoan dung, độ lượng, bởi “không ai hoàn toàn tránh khỏi sai lầm”, phải biết chấpnhận và tha thứ những khuyết điểm, sai lầm của người khác Có như vậy chúng ta mới cứu vớtđược con người, hạn chế được phần xấu trong họ và nhen nhóm, thổi bùng phần tốt, thiện trongcon người họ, làm cho họ trở thành người có ích cho cách mạng, cho dân, cho nước Ngườiquan niệm:
“Hiền dữ phải đâu là tính sẵn
Phần nhiều do giáo dục mà nên”
Sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng con người, xây dựng thành công một xã hộimới, một xã hội chưa từng có trong lịch sử là sự nghiệp vĩ đại đòi hỏi phải có sự tham gia củamuôn triệu quần chúng nhân dân Song, trong khối quần chúng đông đảo, cũng như trong mỗimột con người, một dân tộc, một giai tầng lại không hoàn toàn giống nhau Ở họ có những nétriêng, sự khác nhau về quan điểm tính cách, sở thích phù hợp với môi trường sống cụ thể của
họ Theo Hồ Chí Minh làm cách mạng là phải biết chấp nhận sự khác nhau đó không phải chấpnhận một cách miễn cưỡng hay một sự dung tha tạm thời, mà là sự chấp nhận chân thành, miễn
là sự khác nhau đó không phương hại tới lợi ích chung Có như vậy, mới đoàn kết tập hợp đượcnhững con người, những lực lượng những bộ phận khác nhau đó trong xã hội để xây dựng nênkhối đại đoàn kết thống nhất toàn dân tộc cùng hướng tới một mục tiêu chung của sự nghiệpcách mạng
Hồ Chí Minh quan niệm mỗi con người đều có thiện và ác ở trong lòng; ngay cả “cái ác”
ở trong lòng con người cũng không phải là thứ bất biến Người nói: Một người cán bộ khi trước
có sai lầm, không phải vì thế mà sai lầm mãi Cũng có cán bộ đến nay chưa bị sai lầm, nhưngchắc gì sau này không phạm sai lầm Quá khứ, hiện tại và tương lai của mọi người không phảiluôn giống nhau Người cũng chỉ rõ những trở ngại, ngăn cản sự đoàn kết toàn dân tộc là sựnhìn nhận đánh giá phiến diện, thành kiến, định kiến với con người, thấy cái tốt ở người thì ít mà
Trang 16thấy cái xấu của họ thì nhiều Người luôn có cách nhìn thiện chí với mọi người với tấm lòng baodung độ lượng và chỉ rõ: “Đối với những người có thói hư tật xấu, trừ hạng người phản lại Tổquốc và nhân dân, ta cũng phải giúp họ tiến bộ bằng cách làm cho phần thiện trong con ngườinẩy nở để đẩy lùi phần ác, chứ không phải đập cho tơi bời”[60, tr.558].
Sự khoan dung, lòng độ lượng như một phương pháp để Hồ Chí Minh thực hiệnĐĐKDT, điều đó được thể hiện ở thái độ của Người với những người phạm tội, những con ngườilầm đường lạc lối Người chỉ rõ phải: Nguyên tắc với kẻ ngoan cố, đối với người thực sự cải tạothì khoan hồng Người luôn tin tưởng ở sự hướng thiện trong mỗi con người và khả năng cải tạo,giáo dục với những người có phạm sai lầm Người nói: Ta phải nhận rằng đã là con Lạc cháuHồng thì ai cũng có ít nhiều lòng ái quốc Đối với những người đồng bào lạc lối lầm đường, taphải lấy tình thân ái mà cảm hoá họ
Sau khi cách mạng tháng Tám thành công, chính quyền cách mạng được thiết lập trong
cả nước ở một số địa phương, do cán bộ chưa quán triệt đầy đủ chính sách ĐĐKDT của Đảng
và của Hồ Chủ Tịch, nên đã gây ra những ảnh hưởng nhất định đến sự đoàn kết và cuộc sốngcủa nhân dân Trong thư gửi cho các đồng chí lãnh đạo tỉnh Nghệ An ngày 17/9/1945 Hồ ChủTịch chỉ rõ: “Những đứa phản quốc có chứng cứ rõ ràng phải trừng trị đã đành Nhưng chúng takhông nên đào bới những chuyện cũ ra làm án mới Đối với những người không nguy hiểm lắmthì nên dùng chính sách cảm hoá, khoan dung, không nên bắt bớ lung tung, không nên tịch thu
vô lý, làm cho dân kinh khủng”[26, tr.20]
Đối với các chức sắc tôn giáo và các giáo dân do lầm đường lạc lối đi theo lời lừa phỉnhcủa kẻ thù, Hồ Chí Minh luôn tỏ ra sự độ lượng, khoan hồng Người chẳng những không trách
cứ, bỏ rơi, hay trừng phạt họ mà ngược lại còn tỏ lòng thương xót về nỗi khổ của họ và sẵn sànghoan nghênh đón tiếp những người muốn trở về với nhân dân, với cách mạng Người viết: “Nayđồng bào Hoà Hảo Sađéc đã xung phong bỏ quân giặc cướp nước mà về với Tổ quốc thân yêu.Chính phủ và toàn quốc đồng bào đang chờ đợi để hoan nghênh những người hiện đang lầmđường theo giặc, sẽ noi gương ái quốc của anh em Hoà Hảo đó” Người thường nhắc nhở, chỉđạo cán bộ các cấp “Không được báo thù, báo oán Đối với những người lầm đường lạc lối, đồngbào ta phải dùng chính sách khoan hồng”[38, tr.420] Có thể nói, trong bối cảnh chính quyềncách mạng non trẻ vừa mới được thành lập, tình hình đất nước phải đương đầu với vô vàn khókhăn, vận mệnh dân tộc như “nghìn cân treo sợi tóc”, thì lòng khoan dung, vị tha, nhân ái của HồChí Minh có tác dụng sâu sắc trong việc yên dân, đoàn kết dân tộc, tăng cường cố kết cộngđồng, thực hiện “thêm bạn bớt thù”, để tạo sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc đưa đất nước vượtqua những khó khăn, thử thách, giữ vững thành quả của cách mạng tháng Tám
Sau khi quay trở lại xâm lược nước ta, để chia rẽ khối ĐĐKDT của chúng ta, làm suy yếusức mạnh toàn dân chống Pháp, thực dân Pháp thực hiện âm mưu nham hiểm tuyên truyền, kíchđộng trong nhân dân và vu cho chính phủ Hồ Chí Minh là phân biệt nhân dân ba miền: Bắc-Trung- Nam, và sự đối xử, có thành kiến với những người đã trót làm việc, cộng tác hoặc có liên
Trang 17quan tới chính quyền cũ, nhất là những đồng bào ở Nam bộ Để đập tan âm mưu và hành độngthâm độc, đê hèn, lừa bịp của kẻ thù và khẳng định chính sách ĐĐKDT của chính phủ cáchmạng, tỏ rõ sự khoan hồng, độ lượng, vị tha của mình và của cách mạng, trong thư chúc tếtđồng bào Nam Bộ ngày 24/1/1947, Hồ Chí Minh viết: “Bọn thực dân nói: nếu ba kỳ thống nhất thìnhững người ái quốc sẽ khủng bố những người hiện nay sai lầm đi theo Pháp Tôi cả quyết camđoan rằng, chính phủ và đồng bào ta sẽ hết sức khoan hồng đại độ Chẳng những để cho nhữngngười đó cải quá tự tâm, quay về với Tổ quốc, mà lại sẵn sàng trọng dụng họ, nếu những người
đó có tài nghệ”[40, tr.30]
Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, một số người do không hiểu mưu mô củagiặc bị dụ dỗ hoặc ép buộc phải đi lính cho Pháp, cầm súng chống lại Tổ quốc, gây hại nhân dân,đáng phải trừng trị Nhưng với những nguỵ binh hoặc hàng binh này, Hồ Chí Minh luôn rộnglòng tha thứ, khoan hồng, coi trọng giáo dục, coi nhẹ xử phạt để giúp đỡ họ quay về với chínhnghĩa, phục vụ cho sự nghiệp cách mạng Trong thư gửi các nguỵ binh đã bị bắt ở mặt trận,Người tỏ rõ: “Tuy các người đã phạm tội nặng là cầm súng chống lại Tổ quốc, song chính phủkháng chiến độ lượng khoan hồng, thương hại các người như những đứa con lầm đường, lạc lốicho nên nặng về giáo dục, nhẹ tay xử phạt, để dìu dắt các người bỏ đường tà theo đườngchính” Đối với những nguỵ binh còn đang làm việc cho địch, với tinh thần vị tha, khoan hồng, đạiđoàn kết, Người kêu gọi: “Nguỵ binh cũng là con dân nước Việt, nhưng dại mà đi lầm đường chonên tôi và chính phủ sẵn sàng tha thứ những người sớm biết lỗi và quay về với đại gia đìnhkháng chiến”[50, tr.305-306]
Với lòng độ lượng, khoan dung, tình yêu thương của Hồ Chí Minh và của chính phủ ta,nhiều nguỵ binh đã quay trở về với chính quyền cách mạng, nhận rõ sai lầm của mình, tự giác
“cải tà quy chính”, nguyện đi theo kháng chiến, góp phần tăng cường khối ĐĐKDT, đưa cuộckháng chiến mau tới thắng lợi Đúng như cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nhận xét: “Đối với kẻlầm đường lạc lối, lòng Hồ Chủ tịch còn rộng hơn biển cả Cụ Hồ nói rằng người Việt Nam aicũng yêu nước, muốn nước độc lập, thống nhất, ta khéo nhen chút than hồng ấy, nó sẽ cháy lênthành ngọn lửa”[11, tr.102]
Sự khoan dung, độ lượng và lòng vị tha là một đức tính, một phẩm chất cao cả, một giátrị văn hoá đã đưa nhân cách Hồ Chí Minh đến độ hoàn hảo, khiến cho Người bình thường, giản
dị mà vĩ đại Người luôn biết đặt mình vào vị trí, hoàn cảnh của người khác, chấp nhận những
sự khác biệt, đặc điểm riêng để khoan dung; tìm hiểu, cảm thông và nhìn thấy cái tốt, cái thiện ởngười khác để tha thứ lỗi lầm và luôn hướng mọi người, mọi lực lượng theo mục tiêu cao cả của
sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng CNXH Với phẩm chất cao đẹp đó, Hồ Chí Minh đã lôikéo, cứu vớt, đem lại cuộc sống cho bao mảnh đời lầm lạc; thu hút, quy tập được những lựclượng, thành phần khác nhau trong xã hội, trong khối ĐĐKDT; khơi dậy tình thương yêu, truyềnthống đoàn kết cộng đồng, sự sẻ chia, nâng đỡ, bao dung trong mỗi con người, mỗi dân tộc, mỗithành phần giai cấp để tạo nên một sức mạnh như “thác cuốn triều dâng” của khối ĐĐKDT phục
Trang 18vụ cho sự nghiệp cách mạng Đây là một phương pháp ĐĐKDT của Hồ Chí Minh mà chúng tacần nghiên cứu, học tập và vận dụng linh hoạt trong quá trình xây dựng khối đại đoàn kết toàndân ở nước ta hiện nay.
Thứ ba, quan tâm chăm lo tới những lợi ích thiết thực của nhân dân, chú trọng nêu gương
để thực hành đoàn kết
Để đoàn kết, tập hợp được quần chúng nhân dân và các thành phần, lực lượng trong xãhội, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm, chăm lo, đáp ứng những lợi ích thiết thực cho mọingười và coi đây là cách thiết thực, hiệu quả trong thực hiện ĐĐKDT Vấn đề lợi ích suy chocùng là vấn đề cốt lõi, là chất keo dính gắn bó mọi người lại với nhau, cho dù giữa họ có sự khácnhau về dân tộc, thành phần, tín ngưỡng Hồ Chí Minh cho rằng, vì lợi ích chung của dân tộc màcác thế hệ người Việt Nam, không kể thuộc dân tộc đa số hay thiểu số, giàu hay nghèo đã đoànkết chặt chẽ để chống chọi với sự khắc nghiệt của thiên nhiên, sự xâm lăng của các thế lực bênngoài để bảo vệ sự tồn tại của mình cũng như sự trường tồn và phát triển của cả cộng đồng dântộc Khi bọn thực dân, đế quốc xâm lược nước ta, lợi ích của toàn dân tộc bị đe doạ, nước mấtthì nhà cũng tan, ngay cả vua cũng chịu chung kiếp người nô lệ Để bảo vệ lợi ích dân tộc cũng
là lợi ích của từng bộ phận, toàn dân Việt Nam nhất tề đứng lên, đoàn kết một lòng đánh đuổithực dân, đánh đổ phong kiến giành lại độc lập, tự do cho dân tộc, hoà bình, hạnh phúc, ấm nocho nhân dân
Tuy nhiên, trong tư duy Hồ Chí Minh, lợi ích chung không bao giờ tách rời và phủ nhậnlợi ích riêng của từng người, từng bộ phận, từng thành phần dân tộc Người luôn quan tâm tới lợiích của mọi tầng lớp người, từ người phục vụ gần gũi đến quảng đại quần chúng nhân dân, từmiền xuôi đến miền ngược, mọi tôn giáo, mọi dân tộc Người quan tâm trước tiên tới lợi ích vậtchất thiết thực: dân đủ ăn, đủ mặc, có nhà ở, được học hành, chữa bệnh
Sau khi giành được độc lập, Người từng nói: “Chúng ta tranh được độc lập, tự do rồi mà dân
cứ chết đói, chết rét, thì tự do, độc lập cũng không làm gì Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lậpkhi mà dân được ăn no, mặc đủ”[39, tr.152]
Ngoài sự quan tâm, chăm lo lợi ích vật chất thiết thực như: tương, cà, mắm, muối vànhững nhu cầu cuộc sống tối thiểu cho đồng bào, Người còn quan tâm tới đời sống văn hoá, tinhthần của mọi tầng lớp nhân dân Với đồng bào các dân tộc thiểu số, Người luôn gần gũi, độngviên, thăm hỏi, và chỉ đạo các cấp, các ngành phải quan tâm đặc biệt giúp đỡ đồng bào phát triểnsản xuất, nâng cao đời sống nhân dân Nói chuyện với đoàn đại biểu các dân tộc ít người về dự
lễ kỷ niệm ngày 1/5/1959, Người khẳng định: Đảng và chính phủ lúc nào cũng chú ý đến đồngbào vùng cao và càng ngày càng hết sức chú ý giúp đỡ đồng bào nhiều hơn nữa
Với các giáo dân, Hồ Chí Minh chủ trương chăm lo chu đáo cả “phần xác” và “phần hồn”của đồng bào và cố gắng làm cho đồng bào theo các tôn giáo sống “tốt đời đẹp đạo”, luôn có
“phần xác no ấm, phần hồn thong dong”, mọi người được “sống phúc âm trong lòng dân tộc”.Bằng những chủ trương, chính sách đúng đắn và sự quan tâm chăm lo tới cuộc sống của đồngbào theo đạo, Người đã làm cho đồng bào nhận rõ sự ưu việt của chính phủ, xoá dần sự mặc
Trang 19cảm, nghi kị giữa đồng bào Giáo và đồng bào Lương, thực hiện đúng trách nhiệm, nghĩa vụ đốivới Tổ quốc, xây dựng khối ĐĐKDT ngày càng bền chặt.
Đối với các nhân sĩ, trí thức yêu nước, những người có công với cách mạng, nhữngngười có uy tín trong xã hội, thậm chí cả những người đã từng ở phe đối lập với cách mạng cũngđược Hồ Chí Minh quan tâm chăm lo, giúp đỡ cả về vật chất lẫn tinh thần Khi nghe tin con traibác sĩ Vũ Đình Tụng hy sinh, với sự thương cảm và quan tâm sâu sắc, Người đã viết thư thămhỏi, động viên, chia sẻ với lời lẽ tự đáy lòng: “Tôi được báo cáo rằng: con trai ngài đã oanh liệt hysinh cho Tổ quốc Ngài biết rằng tôi không có gia đình, cũng không có con cái Nước Việt Nam làgia đình của tôi Tất cả thanh niên Việt Nam là con cháu của tôi Mất một thanh niên thì tôi nhưđứt một đoạn ruột”[43, tr.40] Chỉ bằng mấy dòng thư này cũng làm cho chúng ta thấy rõ tấm lòng
và sự quan tâm của một lãnh tụ với những số phận con người và chính điều này đã cảm hoá, thuhút, đoàn kết mọi người, làm cho họ sẵn sàng hy sinh vì sự nghiệp cách mạng
Cùng với sự quan tâm, chăm lo tới lợi ích của mọi người, đáp ứng những nhu cầu thiếtthực cho mọi đối tượng để tạo cơ sở thực hiện sự đoàn kết dân tộc, Hồ Chí Minh còn chú trọngtới phương pháp nêu gương để thực hành đoàn kết Trong đó, Người luôn nhắc nhở cán bộđảng viên, bộ đội, thanh niên phải đoàn kết chặt chẽ để nêu gương cho quần chúng nhân dân,cấp trên phải đoàn kết để làm gương cho cấp dưới, các bậc phụ huynh, các cụ phụ lão phải giữgìn đoàn kết để noi gương cho con cháu
Nghiên cứu phương pháp ĐĐKDT ở Hồ Chí Minh chúng ta thấy để thực hành đoàn kếtkhông chỉ bằng lời nói, mà phải bằng hành động thiết thực; không phải ở hình thức bên ngoài màphải xuất phát từ bên trong, từ tấm lòng, phẩm chất, nhân cách của chính mình Từ phươngpháp đoàn kết Hồ Chí Minh, chúng ta hiểu rằng muốn thu phục, vận động, quy tụ được mọingười, mọi thành phần, mọi đối tượng trong xã hội, thì phải xuất phát từ tấm lòng chân thành, tráitim yêu thương mênh mông và sự quan tâm đáp ứng những nhu cầu chính đáng của mọi người,mọi đối tượng Có thể nói, phương pháp ĐĐKDT của Hồ Chí Minh đã đạt đến tầm cao nghệthuật dẫn dụ, cảm hoá, thu phục con người, nghệ thuật khơi dậy và nhân lên những điều tốt đẹp,nhân bản trong mỗi con người, hướng con người đi theo một mục tiêu chung cao cả Chính vìthế, Người là hiện thân và là trung tâm của tinh thần ĐĐKDT, cả dân tộc đã tin và đoàn kếtquanh Người, quanh Đảng Cộng sản Việt Nam, sẵn sàng hy sinh quyền lợi riêng, phấn đấu theomục tiêu, lý tưởng mà Người đã lựa chọn
Trong giai đoạn mới của cách mạng nước ta hiện nay, phương pháp ĐĐKDT của Hồ ChíMinh là kinh nghiệm quý giá để chúng ta xây dựng khối ĐĐKDT, xây dựng thành công CNXH vàbảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN
1.1.3.Nguyên tắc và yêu cầu của đại đoàn kết dân tộc
*Nguyên tắc đại đoàn kết dân tộc
Trang 20Nguyên tắc ĐĐKDT trong tư tưởng Hồ Chí Minh là những quan điểm căn bản của Ngườinhằm xây dựng khối ĐĐKDT ngày càng vững mạnh, phát triển đúng hướng và đảm bảo cho nóluôn được đặt trên lập trường của giai cấp công nhân cũng như lợi ích tối cao của toàn dân tộc.
Thứ nhất, khối ĐĐKDT phải dựa trên cơ sở khối liên minh giai cấp công nhân, nông dân
và đội ngũ trí thức.
Hồ Chí Minh luôn chủ trương đoàn kết đông đảo, rộng rãi mọi người, mọi thành phần,mọi lực lượng trong khối ĐĐKDT, nhưng sự đông đảo, rộng rãi của Người không phải là vônguyên tắc, không xác định đúng trọng tâm, trọng điểm khi xây dựng khối đại đoàn kết của mình.ĐĐKDT trong tư tưởng của người, trước hết phải được đặt trên cơ sở vững chắc của khối liênminh giai cấp công nhân, nông dân và tầng lớp trí thức Người cho rằng, trong khối ĐĐKDT cónhiều lực lượng, nhiều giai tầng nhưng vị trí, vai trò của mỗi thành phần, lực lượng ấy lạikhông như nhau, mà trong đó giai cấp công nhân, giai cấp nông dânvà tầng lớp trí thức luôn giữvai trò nền tảng, cơ bản, chủ yếu
Ngay từ năm 1927, trong tác phẩm “ Đường cách mạng”, Người dã thể hiện rõ quanđiểm, lập trường của mình khi đánh giá vai trò, vị trí của các giai tầng đối với cách mạng, cũngnhư đối với ĐĐKDT Người chỉ rõ: “ công nông là gốc Kách mệnh; còn học trò, nhà buôn nhỏ,điền chủ nhỏ cũng bị tư bản áp bức, song không cực khổ bằng công nông; ba hạng ấy chỉ là bầubạn Kách mệnh của công nông thôi”
Được học thuyết Mác- Lê nin soi sáng, Hồ Chí Minh đã nghiên cứu, phân tích tình hìnhthực tiễn Việt Nam Người chỉ ra rằng: giai cấp công nhân và nông dân luôn là chỗ dựa cho khốiĐĐKDT, bởi họ bị áp bức, bóc lột nặng nề nhất, lại là lực lượng đông đảo nhất trong xã hội, trongcộng đồng dân tộc, vì vậy họ là động lực chính của cách mạng, là chỗ dựa vững chắc cho cácgiai tầng, lực lượng khác trong khối ĐĐKDT Chúng ta sẽ không xây dựng được khối ĐĐKDTnếu thiếu vắng các giai tầng này và chỉ trên cơ sở liên minh giai cấp công nhân, nông dân vàtầng lớp trí thức thì mới đoàn kết được các lực lượng khác như giai cấp tư sản dân tộc, địa chủkháng chiến, các nhân sĩ, trí thức để tạo sức mạnh hùng hậu thực hiện thắng lợi nhiệm vụ,mục tiêu của cách mạng
Nguyên tắc này bảo đảm cho khối ĐĐKDT mang lập trường giai cấp vô sản, giữ vữngtính định hướng chính trị, kiên định mục tiêu và đã lôi kéo, tập hợp được một lực lượng đông đảotrong các mặt trận phục vụ cho sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc thắng lợi
Thứ hai, ĐĐKDT trên cơ sở thống nhất mục tiêu chiến lược của cách mạng và lợi ích căn bản của các lực lượng trong khối ĐĐKDT.
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, ĐĐKDT được coi là cách thức, phương hướng để giảiquyết vấn đề lực lượng cách mạng, tạo sức mạnh của cả dân tộc nhằm thực hiện thắng lợi mụctiêu của cách mạng vô sản Như vậy, ĐĐKDT phải luôn hướng tới thực hiện thắng lợi nhiệm vụ,mục tiêu của cách mạng; nếu khối ĐĐKDT mà không hướng tới mục tiêu chiến lược của cách
Trang 21mạng, không đáp ứng lợi ích căn bản của các giai tầng thì sự đoàn kết đó chỉ là tạm thời, manghình thức và sẽ nhanh chóng tan vỡ.
Nhiệm vụ của cách mạng phụ thuộc vào đặc điểm, yêu cầu của từng giai đoạn cáchmạng Nếu trong giai đoạn đất nước bị xâm lăng, nhiệm vụ cao cả, bức bách đặt ra cho toàn dântộc là giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước thì trong giai đoạn hoà bình, nhiệm vụ đó là phảigiữ vững độc lập, tự chủ, xây dựng thành công CNXH và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt NamXHCN Tuy nhiên, các nhiệm vụ đó phải hướng tới và thực hiện cho được mục tiêu chiến lượccủa cách mạng Đó là độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc, xây dựng thành công CNXH ở ViệtNam Mục tiêu đó cũng là lợi ích chung của toàn dân tộc
Trong quá trình xây dựng khối ĐĐKDT, Hồ Chí Minh luôn giữ vững mục tiêu của cáchmạng, hướng cho mọi giai tầng, lực lượng trong khối ĐĐKDT đi theo và quyết tâm thực hiện chođược mục tiêu đó Người cho rằng, mục tiêu đó là điểm tương đồng để lôi kéo, quy tụ mọi lựclượng và nó là mẫu số chung của khối ĐĐKDT, từ đó mà chấp nhận những điểm khác nhaukhông trái với lợi ích chung cơ bản Khi nói chuyện tại lớp bồi dưỡng cán bộ về công tác mặttrận, Người nói: “Bất kỳ ai mà thật thà tán thành hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ thì dùnhững người đó trước đây chống chúng ta, bây giờ chúng ta cũng thật thà đoàn kết với họ”
Nếu như mục tiêu cách mạng là cái đích, là ngọn cờ để đoàn kết, hướng dẫn mọi ngườihành động, thì việc đáp ứng các lợi ích cơ bản của các giai tầng lại là chất kết dính mọi lựclượng, giai tầng trong xã hội để xây dựng khối ĐĐKDT ngày càng vững mạnh Nguyên tắc này
đã trở thành tư tưởng chỉ đạo cho Đảng ta xây dựng khối ĐĐKDT trong giai đoạn cách mạng ViệtNam hiện nay
Thứ ba, đoàn kết gắn liền với đấu tranh để xây dựng khối ĐĐKDT ngày càng bền chặt hơn
Hồ Chí Minh luôn quan tâm xây dựng và mở rộng khối ĐĐKDT, song Người cũng rất chútrọng mặt đấu tranh trong quá trình thực hiện đoàn kết và coi đó là một nguyên tắc để xây dựngkhối ĐĐKDT ngày càng bền vững Người mở rộng đoàn kết, nhưng kiên quyết đấu tranh chốngcác phần tử phản động, phản bội lại quyền lợi dân tộc Năm 1945, cách mạng tháng Tám thànhcông, chính phủ lâm thời cách mạng được thành lập, để thực hiện ĐĐKDT và hạn chế sự chốngđối của các thế lực phản động, Hồ Chí Minh đã mạnh dạn đưa vào thành phần của chính phủnhững nhân vật mà trước đó ở phe đối lập của cách mạng như Nguyễn Hải Thần, Nguyễn TườngTam, Vũ Hồng Khanh, đưa linh mục Lê Hữu Từ làm cố vấn tối cao của chính phủ Song, Ngườikhông bao giờ buông lỏng đấu tranh và không ngừng phê phán bản chất buôn dân, bán nước, “lámặt lá trái” của họ
Ngay trong “Chính cương vắn tắt, sách lược vắn tắt” của Hội nghị thành lập Đảng 1930,
tư tưởng đoàn kết nhưng phải đấu tranh của Hồ Chí Minh đã được thể hiện rõ Trong đó Ngườiquan niệm, dân tộc ta là một khối thống nhất gồm nhiều dân tộc, giai tầng có lợi ích khác nhau,thậm chí đối lập nhau Song các giai tầng cùng tập hợp trong ngọn cờ ĐĐKDT để chống kẻ thù
Trang 22chung Vì vậy, khối thống nhất đó vẫn có mâu thuẫn và cần phải giải quyết mâu thuẫn đó để đitới thống nhất cao hơn Người còn cho rằng, nếu từ bỏ đấu tranh sẽ rơi vào tiêu cực, hữukhuynh và làm cho khối ĐĐKDT đi đến suy yếu.
Năm 1958, nói chuyện tại Hội nghị mở rộng uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc ViệtNam, Người nói: “Đoàn kết thực sự nghĩa là mục đích phải nhất trí và lập trường cũng phải nhấttrí Đoàn kết thực sự nghĩa là vừa đoàn kết, vừa đấu tranh, học những cái tốt của nhau, phê bìnhnhững cái sai của nhau và phê bình trên lập trường thân ái, vì nước, vì dân”[54, tr.137] Tưtưởng đoàn kết phải đấu tranh đã trở thành nguyên tắc để Hồ Chí Minh và Đảng ta xây dựngkhối ĐĐKDT vững mạnh, khắc phục khuynh hướng đoàn kết một chiều, sự đấu tranh mà làm tan
vỡ khối đoàn kết trong quá trình cách mạng
*Yêu cầu của đại đoàn kết dân tộc
Để thực hiện việc xây dựng khối ĐĐKDT ngày càng bền chặt, vững mạnh, theo Hồ ChíMinh, mọi người, mọi lực lượng phải thương yêu, giúp đỡ lẫn nhau, coi nhau như anh em ruộtthịt Trong tất cả các bài nói, bài viết của mình, Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở mọi người, từ cấptrên Trung ương cho đến cấp dưới ở các địa phương, từ những người thuộc giai tầng khác nhau,sang giàu khác nhau đều phải yêu thương nhau, cùng nhau đoàn kết chặt chẽ vì mục đíchchung Nếu không có tình yêu thương, giúp đỡ lẫn nhau giữa các bộ phận, những con ngườikhác nhau thì khó có thể có mối quan hệ đoàn kết thực sự Người luôn chỉ bảo: “Chúng ta phảiyêu thương nhau, phải kính trọng nhau, phải giúp đỡ nhau để mưu hạnh phúc chung cho chúng
ta và con cháu chúng ta”
Hồ Chí Minh cho rằng, mọi người dân Việt Nam đều mang dòng máu con Lạc cháuHồng, có lòng yêu nước thiết tha, có tinh thần độc lập, tự chủ, tự lực tự cường, cùng gắn bó vớinhau trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước Vì vậy, mọi người phải phát huy những truyềnthống tốt đẹp đó, thương yêu quý trọng nhau để thắt chặt hơn nữa tình đoàn kết thuỷ chung sonsắt, làm cho khối ĐĐKDT ngày một bền chặt
Trên đất nước Việt Nam, 54 thành phần dân tộc cùng sinh sống, kề vai sát cánh bênnhau qua hàng ngàn năm lịch sử đã xây dựng nên truyền thống đoàn kết gắn bó như anh emmột nhà trong đại gia đình Việt Nam Người nhắc nhở dù dân tộc đa số hay thiểu số, đồng bàoKinh hay Mán, Thổ đều là anh em ruột thịt, nên phải thương yêu nhau và giúp đỡ nhau chânthành, hiệu quả Nói chuyện với đồng bào tỉnh Yên Bái, Người căn dặn: “Dân tộc nhiều ngườiphải giúp đỡ dân tộc ít người, dân tộc ít người cần cố gắng làm ruộng, hai bên phải giúp đỡnhau Dân tộc đông người không phải giúp qua loa, cũng như dân tộc ít người không nên ngồichờ giúp Một bên ra sức giúp, một bên ra sức làm Giúp nhau thì việc gì cùng nhất định làmđược”[55, tr.227]
Trong quá trình xây dựng khối ĐĐKDT, Hồ Chí Minh cũng nhận thấy những tư tưởng,biểu hiện sai trái gây ảnh hưởng tới quá trình ĐĐKDT Đó là những thành kiến, tư tưởng dân tộclớn, dân tộc nhỏ trong quan hệ giữa các dân tộc Người cho rằng, sự thành kiến về thành phần
Trang 23dân tộc của nhau là biểu hiện tư tưởng lạc hậu, cổ hủ đã ngăn trở việc thực hiện ĐĐKDT, ngăncản sự phát triển về kinh tế, văn hoá trong đời sống của đồng bào các dân tộc Người chỉ rõ:
“Các dân tộc anh em chúng ta muốn tiến bộ, muốn phát triển văn hoá của mình thì chúng ta phảitẩy trừ những thành kiến giữa các dân tộc, phải đoàn kết, thương yêu, giúp đỡ lẫn nhau nhưanh em một nhà”
Người cũng cho rằng, nước ta có nhiều dân tộc, đó là điểm quý, phải tôn trọng lẫn nhau,tránh xúc phạm nhau và phải khắc phục ngay tư tưởng dân tộc lớn, dân tộc nhỏ Nói chuyện tạiHội nghị tuyên giáo miền núi, Người phê phán: “Cũng phải khắc phục những tư tưởng dân tộclớn, dân tộc hẹp hòi, tự ti dân tộc Người dân tộc lớn dễ mắc bệnh kiêu ngạo Cán bộ địaphương, nhân dân địa phương lại dễ cho mình là dân tộc bé nhỏ, tự ti, cái gì cũng cho là mìnhkhông làm được, rồi không cố gắng Đó là những điểm cần tránh”[58, tr.135]
Quá trình thực hành đoàn kết, Hồ Chí Minh đặc biệt chú trọng tới phẩm chất, đạo đức và
sự đoàn kết trong đội ngũ cán bộ của Đảng Người cho rằng, để xây dựng được khối ĐĐKDT,mối quan hệ gắn bó của mọi lực lượng trong xã hội thì đội ngũ cán bộ phải làm kiểu mẫu về sựđoàn kết nhất trí, phải thực sự là người đầy tớ tận tuỵ, trung thành của nhân dân Nói chuyện vớiđồng bào các dân tộc tỉnh Tuyên Quang, Người chỉ rõ: “Tất cả cán bộ đều phải một lòng một dạphục vụ nhân dân; đều phải hết sức quan tâm đến đời sống của nhân dân; đều phải theo đúng chínhsách của Đảng và đi đúng đường lối quần chúng”[56, tr.323]
Muốn vậy, người cán bộ của Đảng phải thường xuyên tu dưỡng đạo đức cách mạng,phải “thật thà, ngay thẳng; không được giấu dốt, giấu khuyết điểm, sai lầm Phải khiêm tốn gầngũi quần chúng, không được kiêu ngạo; phải thực sự cầu thị, không được chủ quan Phải luônchăm lo tới đời sống của quần chúng” Chỉ có như vậy, người cán bộ mới làm cho dân ta tin yêu,
nể phục, mới vận động được nhân dân thực hành đoàn kết và là tấm gương về tinh thần đoànkết để cho dân noi theo
Một trong những yêu cầu của Hồ Chí Minh để xây dựng khối ĐĐKDT là ở trong bất kỳ tổchức nào, bộ phận nào, muốn có đoàn kết thực sự cần phải kết hợp với đấu tranh tự phê bình vàphê bình Đây vừa là nguyên tắc thực hiện ĐĐKDT của Hồ Chí Minh và cũng là một yêu cầu đặt
ra để tăng cường đoàn kết Song, Người cũng nhắc nhở mọi người cần phải phê bình đúng, phêbình việc chứ không phải phê bình người, phê bình đồng đội với thái độ chân thành, vạch rõđúng sai để đồng đội mình sửa chữa, để tiến bộ, chứ không phải phê bình theo kiểu đào bới
Trang 24khuyết điểm để trù dập nhau Có như vậy, sau phê bình mới mang lại tình đoàn kết, thắt chặt hơn sựgắn bó của mọi người vào tổ chức để cùng thực hiện nhiệm vụ chung Nói chuyện tại trường công antrung cấp khoá II năm 1951, Người nói: “Đoàn kết không phải là “chén chú chén anh” là anh A giấu lỗicho anh B” và “phê bình và tự phê bình phải từ trên xuống dưới, từ dưới lên trên Phê bình trên công táccách mạng, phê bình để tiến bộ, không phải để xoi mói”[49, tr.366].
Để có đoàn kết thực sự, ngoài việc phê bình đúng người, đúng việc, theo Hồ Chí Minh,người đi phê bình phải có nhân cách tốt, phẩm chất tốt và điều rất quan trọng nữa là phải có cáitâm trong sáng, chân thành trong tư tưởng Nói chuyện trong buổi bế mạc Hội nghị cán bộ củaĐảng lần thứ 6 ngày 18/1/1949, Người nhắc nhở: “Đồng chí ta, tuy có khi khác nhau về chủngtộc hay khác nhau về nguồn gốc giai cấp, nhưng là những người cùng chủ nghĩa, cùng mục đích,cùng sống, cùng chết, chung sướng, chung khổ, cho nên ta phải thật thà đoàn kết Muốn đi tớimục đích, không phải chỉ tổ chức là đủ, phải chân thành trong tư tưởng nữa”[44, tr.552]
Trong tư duy của Hồ Chí Minh về đại đoàn kết, chúng ta dễ dàng nhận thấy, điều làmcho Người quan tâm hàng đầu là vấn đề đoàn kết trong Đảng Đảng phải đoàn kết nhất trí cao độgiữa các đảng viên cũng như trong toàn Đảng, thực hành dân chủ rộng rãi để xứng đáng là hạtnhân đoàn kết cho toàn dân tộc, đủ sức tập hợp quanh mình để cùng thực hiện thắng lợi mụctiêu, lý tưởng của Đảng Trong di chúc trước lúc đi xa, Người không quên căn dặn Đảng ta:
“Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quí báu của Đảng và của dân ta Các đồng chí từ Trungương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi củamắt mình”[61, tr.510]
Đó là một số yêu cầu cơ bản trong tư tưởng ĐĐKDT Hồ Chí Minh Thực hiện theonhững lời chỉ bảo của Người, toàn Đảng, toàn dân ta đã đoàn kết nhất trí, cố kết, gắn bó toàndân tộc trong khối ĐĐKDT tạo sức mạnh to lớn đưa con thuyền cách mạng tới thắng lợi vẻvang
Nghiên cứu tư tưởng ĐĐKDT Hồ Chí Minh chúng ta thấy chủ trương đại đoàn kết củaNgười không phải nhất thời, từng giai đoạn mà là vấn đề lâu dài, xuyên suốt trong toàn bộ sựnghiệp cách mạng Đoàn kết một cách chân thành, thực sự, có đấu tranh để sự đoàn kết đượcngày càng bền chặt Trong cả cuộc đời hoạt động cách mạng của Người, vấn đề đoàn kết không
Trang 25chỉ bằng lời nói, sự tuyên truyền, mà quan trọng hơn là được thể hiện bằng những hành độngthực tế Người là tấm gương và là sự hiện thân của khối ĐĐKDT, là trung tâm đoàn kết, quy tậpmọi lực lượng, thành phần, giai cấp, dân tộc, tôn giáo trong Mặt trận dân tộc thống nhất đểthực hiện mục tiêu của cách mạng Việt Nam.
Điều kỳ diệu và độc đáo trong lịch sử cách mạng Việt Nam là ở chỗ, ĐĐKDT là tư tưởnglớn của Hồ Chí Minh đã trở thành một bộ phận hữu cơ trong đường lối chiến lược của Đảngcộng sản Việt Nam và được Đảng cộng sản Việt Nam vận dụng sinh động vào điều kiện cáchmạng Việt Nam trong quá trình lãnh đạo cách mạng Quán triệt và vận dụng linh hoạt tư tưởngĐĐKDT của Người, Đảng ta đã xây dựng nên khối đoàn kết thống nhất toàn dân tộc, huy động đượcnhân tài, vật lực của toàn dân, khơi dậy được tiềm năng ẩn chứa trong các lực lượng, thành phần,giai cấp, dân tộc, tôn giáo đưa đến thắng lợi của sự nghiệp cách mạng
1.2.Vai trò của quân đội trong thực hiện chính sách đại đoàn kết dân tộc của Đảng, nhà nước ta hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh
1.2.1.Đặc điểm của quân đội trong thực hiện chính sách đại đoàn kết dân tộc của Đảng, Nhà nước ta hiện nay
Trong quá trình thực hiện chính sách ĐĐKDT của Đảng, nhà nước, xây dựng tình đoànkết gắn bó giữa các dân tộc, thành phần, lực lượng trong xã hội thành một khối thống nhất cùngthực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN, quân đội có những điều kiệnthuận lợi, nhiều ưu thế để thực hiện các nhiệm vụ này
Trước hết, xuất phát từ bản chất, truyền thống của quân đội Quân đội ta từ nhân dân mà
ra, vì nhân dân mà chiến đấu, đoàn kết, gắn bó máu thịt với nhân dân là vấn đề thuộc về bảnchất, truyền thống tốt đẹp của quân đội nhân dân Từ khi ra đời đến nay, quân đội ta đã đượcĐảng, Bác giáo dục, rèn luyện, được nhân dân yêu thương, đùm bọc, chở che nên đã khôngngừng trưởng thành và lớn mạnh, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ mà Đảng và nhân dân giaophó Mối quan hệ giữa quân đội và nhân dân từ lâu đã trở thành mối quan hệ của tình ruột thịt,tình quân dân cá- nước Nhân dân ta là người mẹ hiền, là nền tảng, là hậu phương vững chắccho quân đội Vì sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, đánh đuổi xâm lăng, nhân dân ta đãcung cấp những người con yêu dấu của mình cho quân đội, cho Đảng Nhân dân ta cũng vôcùng tự hào vì có một quân đội anh hùng, một quân đội mà ban đầu chỉ là những người nôngdân phải mặc áo lính, vì nợ nước thù nhà phải cầm súng giết giặc, đã trở thành một đội quânhùng mạnh, gan dạ, dũng cảm, hy sinh vì nước, vì dân, không phụ lòng sinh thành dưỡng dục,tin tưởng, yêu thương của nhân dân, của Đảng và Bác Hồ Quân đội ta đã dũng cảm, ngoancường chiến đấu và chiến thắng, một lòng một dạ chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ
Trang 26quốc, vì hạnh phúc của nhân dân Cán bộ chiến sĩ trong quân đội ta từ vị tướng đến người binhnhì, được toàn dân yêu mến, khen tặng danh hiệu cao quý vừa giản dị, vừa gần gũi thân thương:
“Bộ đội Cụ Hồ” Trong gian lao khói lửa chiến tranh cũng như trong hoà bình xây dựng đất nước,tình cảm và mối quan hệ giữa quân đội và nhân dân càng thêm son sắt, thuỷ chung, tình nghĩa.Biết bao những hình ảnh, chuyện tình cảm động đã được nói, viết về mối quan hệ quân- dân, cácanh bộ đội đã để lại những tình cảm sâu lắng trong lòng nhân dân, để khi đi thì dân nhớ, khi ở thìdân thương, khi gặp khó khăn thì được dân giúp đỡ, khi hiểm nguy thì được dân che chở, bảo
vệ ở đâu có bộ đội Cụ Hồ là ở đấy chan hoà tình quân dân Tình cảm và sự gắn bó giữa nhândân và quân đội là một thứ tình cảm đặc biệt, rất tự nhiên mà vô cùng bền chặt Khó có một quânđội nào lại nhận được nhiều tình cảm và sự yêu mến của nhân dân giành cho như quân đội ViệtNam Bởi vì “Quân đội ta là quân đội của nhân dân, do dân đẻ ra, vì dân mà chiến đấu, yêunước, yêu dân, cho nên hy sinh kham khổ” Quân đội là con em của nhân dân, nhân dân là cha
mẹ của quân đội, mục đích chiến đấu hy sinh của quân đội cũng chính là vì cuộc sống bình yên,hạnh phúc của nhân dân Phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân luôn là mục tiêu, lý tưởng củaquân đội Vì mục tiêu đó, cán bộ, chiến sĩ trong quân đội đã không tiếc xương máu, không quảnngại gian khổ thiếu thốn, vượt lên trên khó khăn, thử thách hoàn thành nhiệm vụ Trong cuộcsống hoà bình hiện nay, mặc dù cuộc sống của cán bộ, chiến sĩ quân đội có được cải thiện, songnhìn chung họ vẫn là những người phải chịu nhiều thiếu thốn, thua thiệt, mất mát, thậm chí nhiềungười vẫn còn đang chịu đựng những di chứng của chiến tranh để lại Vì vậy, tình cảm và sự yêuthương, kính trọng, tin theo của nhân dân với quân đội cũng là điều dễ hiểu Đặc điểm này nóilên bản chất, truyền thống tốt đẹp của quân đội ta và đây cũng là điều kiện hết sức thuận lợi đểquân đội gần gũi, tiếp xúc với nhân dân, tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện đường lối,chính sách của Đảng, nhà nước, giúp nhân dân giải quyết những vướng mắc, mâu thuẫn, xâydựng khối ĐĐKDT ngày thêm vững chắc Đặc điểm này cùng góp phần lý giải một thực tế làtrong một số vụ việc phức tạp, bất ổn, căng thẳng trong nội bộ nhân dân hoặc ở những điểmnóng phát sinh trên một số địa bàn của đất nước thời gian qua, những lực lượng khác khó tiếpcận với nhân dân, hiệu quả tuyên truyền, giải thích cho nhân dân thấp, thậm chí có lúc bị nhândân tẩy chay, nhưng với quân đội thì vấn đề được giải quyết nhẹ nhàng, cán bộ, chiến sĩ quânđội đến làm việc được chấp nhận và hiệu quả giải quyết cũng tốt hơn Đây thực sự là một ưu thế
để quân đội thực hiện tốt hơn chính sách ĐĐKDT của Đảng và Nhà nước ta
Hai là, xuất phát từ đặc điểm đóng quân của các đơn vị quân đội Cùng với đặc điểm
trên, chúng ta phải kể tới đặc điểm đóng quân của quân đội Có thể khẳng định rằng, ít có mộtlực lượng nào có điều kiện gần gũi, tiếp xúc với nhân dân sâu rộng trên các địa bàn của đấtnước, trên các vùng miền, nhất là ở những vùng sâu xa, hẻo lánh, địa hình phức tạp như lựclượng của quân đội Với tính chất và nhiệm vụ của mình, các đơn vị quân đội đóng quân trảikhắp mọi vùng, miền của đất nước có điều kiện thuận lợi để đến với đồng bào, tiếp xúc nắm bắttâm tư, nhu cầu, nguyện vọng của đồng bào, tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện chính
Trang 27sách ĐĐKDT của Đảng, Nhà nước Bên cạnh đó, các đơn vị quân đội nói chung, cũng nhưnhững tổ đội công tác của quân đội nói riêng luôn có sự chỉ huy tập trung thống nhất, sự tổ chứcchu đáo, chặt chẽ, sự chỉ đạo kịp thời từ trên xuống dưới Vì vậy, khi triển khai những hoạt độngthường xuyên cũng như đột xuất của công tác dân vận, hay khi cần tăng cường bổ sung lựclượng phối hợp với những lực lượng khác trên địa bàn để giải quyết tình huống trong nhân dân
sẽ được khẩn trương, kịp thời, mang lại hiệu quả
Với bản chất, truyền thống của một quân đội nhân dân cách mạng, được nhân dân tinyêu, mến phục, với những điều kiện, đặc điểm đặc thù của mình, quân đội đã và sẽ làm tốt chínhsách ĐĐKDT của Đảng và Nhà nước trong điều kiện hiện nay
1.2.2.Vai trò của quân đội trong thực hiện chính sách đại đoàn kết dân tộc của Đảng, Nhà nước ta hiện nay
Xuất phát từ chức năng, nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước giao cho quân đội và những ưuthế từ đặc điểm của quân đội, quân đội ta có vai trò to lớn trong thực hiện chính sách ĐĐKDTcủa Đảng, Nhà nước Vai trò đó được thể hiện ở những nội dung cơ bản sau đây:
Một là, tuyên truyền, vận động nhân dân hiểu và thực hiện chính sách ĐĐKDT của Đảng, Nhà nước, làm cho quần chúng nhân dân thấy được sự cần thiết phải giữ gìn, củng cố và thắt chặt mối quan hệ đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam hiện nay
Vai trò này xuất phát từ chức năng, nhiệm vụ của quân đội Quân đội ta là quân độinhân dân do Đảng, Bác Hồ sáng lập, giáo dục và rèn luyện, là công cụ bạo lực sắc bén để bảo
vệ Đảng, Nhà nước, bảo vệ chế độ XHCN, bảo vệ thành quả cách mạng và cuộc sống bình yên,hạnh phúc cho nhân dân Đồng thời, quân đội còn là một lực lượng chính trị hùng hậu, một độiquân công tác thực hiện tuyên truyền và vận động nhân dân hiểu và làm theo quan điểm, đườnglối, chính sách của Đảng, Nhà nước, trong đó có chính sách ĐĐKDT Tuyên truyền, vận độngnhân dân thực hiện chính sách ĐĐKDT của Đảng, Nhà nước là chức năng, nhiệm vụ của quânđội, đồng thời cũng là yêu cầu xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, tăng cường bản chấtgiai cấp công nhân, bản chất cách mạng, thắt chặt mối quan hệ quân- dân cá nước
Trong suốt chặng đường xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, quân đội ta không chỉđược biết đến bởi sự dũng cảm, kiên cường, mưu trí, sáng tạo và những chiến công chói lọitrong đấu tranh cách mạng giành độc lập, tự do cho dân tộc, sự thống nhất đất nước, mà quânđội ta còn được biết đến như một đội quân tuyên truyền giỏi, vừa đánh giặc vừa tuyên truyền,vận động, giác ngộ quần chúng nhân dân, làm cho nhân dân hiểu đường lối của Đảng, tin tưởngvào sự lãnh đạo của Đảng, đoàn kết chặt chẽ, quyết tâm thực hiện thắng lợi sự nghiệp cáchmạng do Đảng lãnh đạo
Hiện nay, Đảng ta đang lãnh đạo nhân dân thực hiện công cuộc đổi mới đẩy mạnh sựnghiệp CNH, HĐH xây dựng đất nước theo mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng,dân chủ, văn minh Để thực hiện thắng lợi sự nghiệp đó, chúng ta phải phát huy được sức mạnhtổng hợp của khối ĐĐKDT, khơi dậy được lòng yêu nước, lòng tự hào dân tộc, tình cảm, ý thức
Trang 28trách nhiệm của mỗi người dân, của mọi lực lượng trong xã hội cùng đồng tâm nhất trí thực hiệnthắng lợi sự nghiệp đổi mới của Đảng Với chức năng, nhiệm vụ của mình, quân đội đã và đangtích cực tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện đường lối, chính sách ĐĐKDT của Đảng,Nhà nước; đưa chính sách đại đoàn kết đến với nhân dân, làm cho nhân dân, đặc biệt là đồngbào DTTS hiểu rõ chính sách ưu việt và sự cần thiết phải giữ gìn và tăng cường khối ĐĐKDT ởnước ta trong tình hình hiện nay.
Trong chiến lược “DBHB” mà các thế lực thù địch đang tiến hành chống phá nước ta, thìkhối ĐĐKDT là một trong những mục tiêu trọng điểm của chúng Lợi dụng những sơ hở, yếu kémcủa một số nơi trong quá trình thực hiện chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo, chính sáchĐĐKDT, các thế lực thù địch dùng mọi cách tuyên truyền, xuyên tạc đường lối, chính sách đạiđoàn kết của Đảng, Nhà nước ta; kích động nhân dân biểu tình phản đối chính quyền gây mất ổnđịnh về chính trị, làm tổn hại tới khối ĐĐKDT ở nước ta Vì vậy, vai trò của quân đội trong việctuyên truyền, đưa đường lối, chính sách ĐĐKDT của Đảng, Nhà nước đến với nhân dân, làmcho mọi người hiểu và thực hiện càng có ý nghĩa thiết thực Bởi nó sẽ làm hạn chế tác hại từ sựtuyên truyền, xuyên tạc chính sách ĐĐKDT do các thế lực thù địch tiến hành, làm cho nhân dân,nhất là đồng bào DTTS nhận rõ âm mưu, ý đồ đen tối, xấu xa của kẻ thù hòng làm suy yếu vàphá vỡ sức mạnh đoàn kết của chúng ta
Công tác tuyên truyền, đưa chính sách ĐĐKDT của Đảng, Nhà nước đến với nhân dâncòn làm cho Đảng và dân gần nhau hơn, dân tin Đảng, tin vào chính quyền và Đảng, chínhquyền cũng hiểu dân hơn, nắm bắt được tâm tư, nguyện vọng, những bức xúc ở nơi dân để giảiquyết thoả đáng, góp phần tăng cường sự đồng thuận trong xã hội, tạo sức mạnh tổng hợp củatoàn dân thực hiện thắng lợi công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN
Hai là, tham gia xây dựng cơ sở chính trị xã hội trên địa bàn đóng quân, giải quyết các mâu thuẫn, va chạm, xung đột trong nhân dân, góp phần giữ gìn và củng cố khối ĐĐKDT
Việc xây dựng cơ sở chính trị- xã hội trên địa bàn đóng quân có ý nghĩa thiết thực tớithực hiện chính sách ĐĐKDT của Đảng, Nhà nước Cơ sở chính trị- xã hội trên địa bàn đượctăng cường, củng cố vững chắc, sâu rộng sẽ vừa là nhân tố, vừa là điều kiện để tăng cườngkhối ĐĐKDT, giữ gìn an ninh trật tự, làm lành mạnh hoá các quan hệ xã hội, nuôi dưỡng và làm nảysinh những giá trị đạo đức, tập quán tốt đẹp, tạo ra một môi trường dân chủ, cởi mở, mọi người đều có
ý thức, trách nhiệm giữ gìn mối quan hệ gắn bó đoàn kết cùng nhau xây dựng quê hương
Làm đúng chức năng của một đội quân chiến đấu, đội quân công tác, những năm qua, cácđơn vị quân đội trong toàn quân đã phát huy vai trò của mình trong tham gia xây dựng các cơ sở chínhtrị- xã hội trên các địa bàn đóng quân, góp phần tạo ra những nhân tố tích cực để gia tăng sự gắn bó,đoàn kết trong cộng đồng dân cư, củng cố và thắt chặt mối quan hệ giữa nhân dân với chính quyền địaphương, tăng cường tình đoàn kết thủy chung giữa đồng bào các dân tộc
Trong tham gia xây dựng các cơ sở chính trị- xã hội để thực hiện chính sách ĐĐKDT củaĐảng, Nhà nước, các đơn vị quân đội đã tập trung xây dựng, củng cố, kiện toàn hệ thống chínhtrị ở cơ sở như: củng cố, kiện toàn các tổ chức Đảng, tổ chức chính quyền, tổ chức quần chúng;
Trang 29bồi dưỡng năng lực, phương pháp, tác phong công tác cho đội ngũ cán bộ địa phương; thammưu cho cấp uỷ, chính quyền địa phương thực hiện nghiêm quy chế dân chủ ở cơ sở, lập cácphương án giữ gìn an ninh, trật tự, chống các hành động gây chia rẽ, phá hoại khối ĐĐKDT củacác thế lực phản động
Cùng với việc củng cố, kiện toàn hệ thống chính trị cơ sở, các đơn vị quân đội còn pháthuy vai trò của mình trong việc gây dựng và tạo ra những nhân tố tích cực trên địa bàn để giữvững sự ổn định chính trị, an toàn xã hội, gia tăng sự đoàn kết, gắn bó trong nội bộ nhân dân
Các đơn vị quân đội tích cực đẩy mạnh các phong trào cách mạng trong nhân dân như:phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống mới, phong trào giữ gìn an ninh trật tự, phongtrào giúp nhau xoá đói giảm nghèo, phong trào thể dục, thể thao, văn hoá văn nghệ Thông quacác phong trào đó đã làm nảy sinh và phát triển các nhân tố tích cực có tác dụng tốt tới tăngcường mối quan hệ đoàn kết dân tộc, củng cố tình đoàn kết trong cộng đồng, làm cho đồng bàotin tưởng vào đường lối chính sách của Đảng, Nhà nước, tin tưởng vào chính quyền địa phương,yên tâm, phấn khởi lao động sản xuất, ổn định đời sống
Trong điều kiện hiện nay, việc xây dựng các cơ sở chính trị- xã hội để tăng cường khối ĐĐKDTcàng có ý nghĩa khi các thế lực phản động đang lợi dụng những yếu kém trong hệ thống chính trị cơ sở ởmột số địa phương để kích động nhân dân phản đối chính quyền, biểu tình, gây rối, làm mất ổn định chínhtrị, phương hại tới khối ĐĐKDT của chúng ta ở những địa bàn vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào DTTS,việc xây dựng các cơ sở chính trị- xã hội còn góp phần ngăn chặn và làm thất bại âm mưu và hành độnglợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo, lợi dụng sự khó khăn về kinh tế và thiếu hiểu biết của đồng bào củacác lực lượng phản động hòng làm cho đồng bào thiếu tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, khôngchấp hành sự quản lý của chính quyền, gây mất ổn định về chính trị, ảnh hưởng tới tình đoàn kết gắn
bó trong cộng đồng dân tộc Vì vậy, việc tham gia xây dựng các cơ sở chính trị- xã hội trên địa bànđóng quân trong điều kiện hiện nay càng làm tăng thêm vai trò của quân đội trong thực hiện chínhsách ĐĐKDT của Đảng, Nhà nước ta
Cùng với việc tham gia xây dựng các cơ sở chính trị- xã hội, quân đội còn có vai trò tolớn trong giải quyết các mâu thuẫn, va chạm, xung đột trong nội bộ nhân dân để thực hiện chínhsách ĐĐKDT
Thời gian qua, với đường lối đổi mới, mở cửa, hội nhập quốc tế, với sự vận hành củanền kinh tế thị trường định hướng XHCN, chúng ta đã thu được những thành tựu to lớn trên cáclĩnh vực của đời sống xã hội, đời sống của nhân dân từng bước được cải thiện, bộ mặt nôngthôn, miền núi cũng được đổi thay từng ngày Tuy nhiên, bên cạnh những cái được đó, kinh tế thịtrường cũng tác động làm biến đổi nhanh các quan hệ xã hội, các thang bậc giá trị và nảy sinhnhững mâu thuẫn, phức tạp trong xã hội, cũng như trong nội bộ nhân dân cần được giải quyếtkịp thời Những hiện tượng phức tạp như: tranh chấp đất đai, xung đột giữa các dòng họ, viphạm quy chế dân chủ, sự quan liêu gia trưởng, tham nhũng, sách nhiễu nhân dân của một bộphận cán bộ chính quyền, sự vi phạm chế độ chính sách, quyền lợi của nhân dân dẫn đến khiếu
Trang 30kiện kéo dài đã làm cho quan hệ trong nội bộ nhân dân, quan hệ giữa nhân dân với chínhquyền địa phương có lúc, có nơi căng thẳng, bất hoà, gây ảnh hưởng không tốt tới khối ĐĐKDT
mà chúng ta đang xây dựng
Trước thực trạng đó, vai trò của quân đội được thể hiện ở việc phối hợp với cấp uỷ,chính quyền địa phương tìm hiểu nguyên nhân, giải quyết các mâu thuẫn nảy sinh; đề xuất cácbiện pháp với chính quyền địa phương giải quyết tận gốc những bức xúc trong nhân dân; tuyêntruyền vận động nhân dân thực hiện theo chính sách, pháp luật của nhà nước, không bị kíchđộng dẫn đến những hành vi vi phạm pháp luật, gây mất đoàn kết trong địa phương Thời gianvừa qua, trên một số địa bàn của đất nước, lợi dụng sự yếu kém của hệ thống chính trị cơ sở, sự
vi phạm chính sách dân tộc, sự quan liêu tham nhũng của một số cán bộ chính quyền địaphương, các lực lượng phản động trong và ngoài nước đã kích động nhân dân, xúi giục đồngbào biểu tình phản đối chính quyền, gây mất ổn định chính trị, phương hại tới khối ĐĐKDT, làmgiảm sút lòng tin của đồng bào với đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước
Với các vụ việc đó, các đơn vị quân đội đã làm tốt chức năng của đội quân công táctrong việc phối hợp với chính quyền địa phương và các lực lượng trên địa bàn tích cực tuyêntruyền, vận động nhân dân không nghe theo những lời xúi giục, xuyên tạc của kẻ xấu, giải tánđám đông, trở về nhà ổn định tình hình Đồng thời, vai trò của quân đội còn thể hiện ở sự phốihợp chặt chẽ với các lực lượng liên quan trên địa bàn trong việc ngăn chặn và làm thất bại âmmưu, hành động phá hoại khối ĐĐKDT của các thế lực phản động
Có thể khẳng định rằng, vai trò của quân đội trong tham gia xây dựng các cơ sở chính trị- xãhội và giải quyết các mâu thuẫn, xung đột “điểm nóng” trên một số địa bàn thời gian qua đã góp phầnkhông nhỏ vào thực hiện chính sách ĐĐKDT của Đảng, Nhà nước, thắt chặt quan hệ gắn bó trongnội bộ nhân dân
Ba là, giúp đõ nhân dân phát triển sản xuất, khắc phục hậu quả thiên tai bão lụt, tham gia có hiệu quả chương trình xoá đói giảm nghèo của chính phủ, nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho nhân dân, góp phần củng cố và tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc
Đây là vai trò quan trọng của quân đội trong quá trình thực hiện chính sách ĐĐKDT củaĐảng và Nhà nước Bởi, muốn tập hợp, đoàn kết được mọi người dân, mọi dân tộc, thành phần,lực lượng xã hội cùng đồng tâm nhất trí thực hiện theo mục tiêu, lý tưởng của Đảng thì Đảng vàNhà nước, quân đội phải luôn quan tâm giúp đỡ nhân dân phát triển sản xuất, xoá đói giảmnghèo, không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống cho nhân dân Suy cho cùng, vấn đềlợi ích là điều cốt lõi nhất, quyết định nhất sự bền vững của khối ĐĐKDT Trong khối đạiđoàn kết đó, mỗi thành phần, lực lượng hay mỗi người dân trong xã hội chỉ thực sự gắn bóchặt chẽ, tin theo Đảng, nguyện đi theo sự lãnh đạo của Đảng khi được quan tâm thoảđáng và được đảm bảo các nhu cầu lợi ích chính đáng
Trong những năm qua, mặc dù nền kinh tế nước ta có sự phát triển tương đối nhanh, đờisống nhân dân không ngừng được cải thiện, song nhìn chung nước ta vẫn là một nước nghèo,
Trang 31đời sống nhân dân còn gặp nhiều khó khăn, nhất là nhân dân ở khu vực nông thôn, miền núi,biên giới, hải đảo.
Quá trình thực hiện chính sách ĐĐKDT, vai trò của quân đội được thể hiện ở việc tíchcực giúp đỡ nhân dân xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ cho sản xuất và cải thiện đời sống nhưlàm các tuyến đường giao thông liên huyện, liên xã, các con đường dân sinh trong các làng bản,tạo điều kiện cho nhân dân đi lại thuận tiện, thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội trong vùng; xâydựng các đường điện, trường học, làm các công trình thuỷ lợi, đưa nước về các đồng ruộng tạođiều kiện cho nhân dân thâm canh tăng vụ; hỗ trợ nhân dân ở những vùng khó khăn về giống,vốn, kỹ thuật canh tác; vận động nhân dân chuyển dịch cơ cấu, phá thế độc canh góp phần nângcao năng suất, chất lượng, hiệu quả trong sản xuất nông nghiệp
Trên mặt trận xoá đói giảm nghèo, vai trò của quân đội được thể hiện ở việc các đơn vịquân đội quyên góp ủng hộ nhân dân vùng gặp nhiều khó khăn, giúp đỡ những hộ nghèo, nhữnggia đình neo đơn, gia đình chính sách bớt khó khăn trong cuộc sống, vươn lên làm giàu Ngoài
ra, các đơn vị quân đội còn trực tiếp giúp đỡ nhân dân hàng vạn ngày công lao động; tư vấn giúp
bà con áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất; chú trọng những vùng có thể trồng đượccây công nghiệp phục vụ xuất khẩu; phát triển làng nghề, dịch vụ để giúp nhân dân xoá đóigiảm nghèo
Hiện nay, ở nước ta tỷ lệ hộ đói nghèo còn ở mức cao, đặc biệt là vùng đồng bào DTTS,miền núi Ở những khu vực này cũng xuất phát từ đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn, đồngbào lam lũ, vất vả mà vẫn không thoát khỏi đói nghèo, nên một số nơi, các thế lực phản động đãkích động bà con làm những điều phạm pháp, làm mất ổn định chính trị, gây ảnh hưởng tới mốiquan hệ đoàn kết các dân tộc Ở những khu vực này, vai trò của quân đội thể hiện ở việc giúp đỡnhân dân sản xuất, hướng dẫn bà con kỹ thuật trồng lúa nước; tuyên truyền, vận động đồng bào
bỏ tập quán du canh, du cư, đốt phá rừng làm nương rẫy, không trồng cây thuốc phiện; thammưu cho chính quyền địa phương và đồng bào trồng các loại cây công nghiệp; tạo điều kiện chođồng bào có việc làm và thu nhập ổn định, làm cho cuộc sống nhân dân được cải thiện, làm giảmđáng kể tỷ lệ đói nghèo, nhân dân phấn khởi yên tâm sản xuất, gắn bó với bản làng, hạn chếnhững mâu thuẫn, phức tạp nảy sinh, mọi người đoàn kết cùng nhau xây dựng và bảo vệ Tổquốc
Cùng với những việc làm trên, vai trò của quân đội thực hiện chính sách ĐĐKDT cònđược thể hiện cụ thể, sinh động ở việc giúp đỡ nhân dân khắc phục hậu quả thiên tai như: bão
Trang 32lụt, hoả hoạn, sạt lở đất giúp nhân dân nhanh chóng ổn định cuộc sống Với sự thất thườngcủa khí hậu, thời tiết ở nước ta những năm vừa qua, hầu như năm nào chúng ta cũng phải đốimặt và khắc phục những hậu quả nặng nề do thiên nhiên mang lại Trước những hậu quả thiêntai đó, cán bộ, chiến sĩ quân đội đã phát huy tinh thần trách nhiệm trước Đảng, nhân dân, sátcánh cùng các lực lượng trên địa bàn cứu giúp nhân dân trong cơn hoạn nạn, giúp đỡ dân sơtán, bảo vệ tài sản, tính mạng của nhân dân, khắc phục nhanh những hậu quả để lại, tạo điềukiện cho bà con ổn định cuộc sống, tiếp tục sản xuất, trở lại cuộc sống, sinh hoạt bình thường.
Có thể nói, với những chiến công của cán bộ, chiến sĩ quân đội trong giúp đỡ nhân dânkhắc phục hậu quả thiên tai đã làm sáng danh hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ” ở thời bình trong lòngnhân dân Vai trò đó của quân đội đã làm cho nhân dân càng thêm tin yêu, quý mến bộ đội, tintưởng vào đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, khơi dậy truyền thống đoàn kết, nhân
ái, giúp đỡ lẫn nhau và tinh thần sẻ chia “lá lành đùm lá rách”, thắt chặt khối ĐĐKDT, đoàn kếttoàn dân thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH, HĐH xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.Bốn là, thực hiện chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân, tham gia chương trình xóa mù chữ cho đồng bào vùng sâu vùng xa, nâng cao trình độ dân trí, xây dựng đời sống tinh thần vui tươi lành mạnh, góp phần thắt chặt mối quan hệ đoàn kết giữa các dân tộc
Việc chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân, nâng cao trình độ dân trí, xây dựng đời sống vănhoá tinh thần tươi vui, lành mạnh cho đồng bào có ý nghĩa thiết thực tới thực hiện chính sáchĐĐKDT của Đảng và Nhà nước Tham gia vào các chương trình này, quân đội đã thể hiện vai tròquan trọng của mình, hiện thực hoá chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước,quan tâm chăm lo tới sức khoẻ, đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân, làm cho nhân dânnhận thấy sự quan tâm của Đảng và Nhà nước tới đồng bào, tin tưởng vào đường lối lãnh đạocủa Đảng, đoàn kết cùng nhau xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Công tác chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân là trách nhiệm và cũng là việc làm thườngxuyên của các đơn vị quân đội đứng chân trên các địa bàn của đất nước Đặc biệt, ở những địabàn có đồng bào DTTS, miền núi xa xôi, nơi cách xa các trung tâm y tế, thiếu các trang thiết bị,phương tiện, thuốc men cứu chữa người bệnh và đây cũng là khu vực có chất lượng vệ sinhkém, dễ bùng phát nhiều dịch bệnh, đồng bào chưa có ý thức cao trong việc ăn ở vệ sinh, chămsóc sức khoẻ cho bản thân và cộng đồng
Trước tình hình đó, vai trò của quân đội được thể hiện ở việc tổ chức khám, chữa bệnhthường xuyên và định kỳ cho nhân dân trên địa bàn; phối hợp với các cơ sở y tế tuyến trên trongphòng chống dịch bệnh; cùng với địa phương xây dựng, tu sửa nâng cấp các cơ sở y tế để phục
Trang 33vụ nhu cầu khám, chữa bệnh của nhân dân; tuyên truyền, vận động và hướng dẫn nhân dân ăn,
ở hợp vệ sinh, cách tự phòng chống dịch bệnh
Đối với công tác xoá mù chữ, nâng cao trình độ dân trí cho nhân dân, nhất là đồng bàoDTTS, miền núi cũng thể hiện rõ vai trò to lớn của quân đội ở khu vực dân tộc, miền núi, nhìnchung trình độ dân trí thấp, điều kiện học tập của con em đồng bào dân tộc gặp nhiều khó khăn,thiếu thốn, tỷ lệ tái mù hàng năm còn ở mức cao; tập quán, thói quen ngại học, bỏ học sớm đểlàm ăn còn tương đối phổ biến Vì hạn chế về trình độ, thiếu hiểu biết về pháp luật, thiếu thôngtin để mở mang hiểu biết, nên đồng bào DTTS dễ bị kẻ xấu lừa phỉnh, mê hoặc, dụ dỗ mà dẫnđến vi phạm pháp luật, gây mất trật tự trị an Thực tế từ những “điểm nóng” xảy ra trên một sốđịa bàn dân tộc, miền núi thời gian qua cho chúng ta thấy trong những nguyên nhân dẫn đến
“điểm nóng” thì có nguyên nhân do đồng bào thiểu hiểu biết nên bị bọn xấu lừa bịp Chính vì vậy,việc nâng cao trình độ dân trí cho đồng bào không chỉ có ý nghĩa với phát triển kinh tế xã hội trênđịa bàn, mà nó có ý nghĩa với việc giữ gìn an ninh, trật tự, tăng cường sự hiểu biết của đồngbào, ý thức giữ gìn mối quan hệ đoàn kết giữa các dân tộc
Trong công tác này vai trò của quân đội được thể hiện ở những việc làm cụ thể như:tham gia xây dựng trường lớp, ủng hộ, giúp đỡ địa phương về trang thiết bị, bàn ghế, đồ dùnghọc tập; tổ chức mở các lớp học ở những thôn bản xa trường học, điều kiện đi lại khó khăn; vậnđộng bà con cho con em tới trường; cử những cán bộ, chiến sĩ có trình độ văn hoá, biết tiếngdân tộc, có phương pháp sư phạm xuống các thôn bản hẻo lánh làm giáo viên cho các lớp học.Đồng thời, các cán bộ, chiến sĩ quân đội, đặc biệt là các chiến sĩ biên phòng, những “thầy giáoquân hàm xanh” còn tổ chức nhiều hoạt động tuyên truyền, giáo dục bà con với nhiều hình thức đadạng, phong phú để mở mang kiến thức, tăng cường sự hiểu biết về các lĩnh vực của đời sống xã hội,hiểu rõ hơn về quan điểm, đường lối, chính sách ĐĐKDT của Đảng, Nhà nước ta, không nghe theo sựtuyên truyền xuyên tạc của bọn xấu, nâng cao ý thức trách nhiệm giữ gìn mối quan hệ đoàn kết giữacác dân tộc
Cùng với những việc làm trên, vai trò của quân đội còn được thể hiện ở việc tích cực xâydựng đời sống văn hoá tinh thần vui tươi lành mạnh cho nhân dân trên các địa bàn đóng quân.Thông qua các hoạt động kết nghĩa, các hoạt động phối hợp chung giữa đơn vị và các đoàn thểđịa phương, tổ chức các hoạt động văn hoá văn nghệ, thể thao, tạo bầu không khí đoàn kết vui
vẻ, thân tình, gần gũi giữa bộ đội với nhân dân Trong xây dựng đời sống văn hoá tinh thần, cácđơn vị quân đội còn giúp đỡ nhân dân kéo điện về các làng bản xa xôi, hỗ trợ kinh phí bằngnguồn vốn của đơn vị để xây dựng các nhà văn hoá, tổ chức chiếu phim, viđêô cho nhân dântrong vùng Ngoài ra, các đơn vị quân đội còn phối hợp với chính quyền và lực lượng công antrên địa bàn để ngăn chặn những hành vi truyền đạo trái phép, tung tin đồn nhảm gây hoangmang trong nhân dân, làm mất trật tự, trị an trong khu vực, chia rẽ tình đoàn kết trong đồng bàocác dân tộc; tiến hành tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện nếp sống văn hoá, văn minh;bảo tồn những giá trị văn hoá truyền thống của đồng bào dân tộc, vận động đồng bào từ bỏ
Trang 34những tập tục lạc hậu trong cúng tế, ma chay, cưới xin rườm rà tốn kém; xây dựng các mô hìnhbản, làng văn hoá, tạo điều kiện nuôi dưỡng, phát triển những giá trị đạo đức, cung cách quan
hệ, ứng xử văn minh, làm lành mạnh hoá các quan hệ xã hội
Với những việc làm trên, các đơn vị quân đội đã góp phần xây dựng cho nhân dân trongcác khu vực đóng quân có đời sống văn hoá tinh thần phong phú lành mạnh, nhân dân phấnkhởi yên tâm lao động sản xuất, quan hệ trong nội bộ nhân dân càng thêm gắn bó, mọi ngườiđoàn kết xây dựng quê hương, củng cố khối ĐĐKDT ngày càng vững chắc
Trên đây là những nội dung cơ bản thể hiện vai trò của quân đội trong thực hiện chínhsách ĐĐKDT của Đảng, Nhà nước Những vai trò đó cần phải được phát huy mạnh mẽ để nâng
cao chất lượng, hiệu quả thực hiện chính sách ĐĐKDT Thực chất, phát huy vai trò của quân
đội trong thực hiện chính sách ĐĐKDT của Đảng, Nhà nước hiện nay là việc dùng một hệ thống các giải pháp đồng bộ tác động vào tư tưởng, tình cảm, tổ chức, kỷ luật của cán bộ, chiến sĩ và các đơn vị quân đội nhằm nâng cao ý thức tự giác, tinh thần, thái độ, trách nhiệm, tinh thần chủ động, sáng tạo, khắc phục khó khăn hoàn thành nhiệm vụ của cán bộ, chiến sĩ và các đơn vị quân đội trong quá trình thực hiện chính sách ĐĐKDT của Đảng, Nhà nước ta hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh.
Thực hiện tốt vai trò này sẽ làm cho quân đội làm tròn được chức năng, nhiệm vụ củamình, phát huy bản chất của quân đội cách mạng, quân đội nhân dân trong thời bình, tô thắmphẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, tăng cường ý thức chính trị của cán bộ, chiến sĩ quân đội trước Đảng
và nhân dân, góp phần tạo động lực và sức mạnh to lớn của toàn dân tộc thực hiện thắng lợi sựnghiệp cách mạng của Đảng trong giai đoạn hiện nay
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về ĐĐKDT cho chúng ta hiểu rõ hơn tư tưởng củamột vĩ nhân mà cuộc đời và sự nghiệp đã dành trọn cho dân, cho nước Trong tư tưởng củaNgười, mục tiêu của ĐĐKDT là nhằm tập hợp sức mạnh của toàn dân tộc để đánh đuổi xâmlăng, giành lại độc lập cho dân tộc, tự do hạnh phúc cho nhân dân, thống nhất đất nước, đưa cảnước tiến lên CNXH Cơ sở của khối đại đoàn kết ấy là mọi người thuộc dân tộc Việt Nam không phânbiệt thành phần dân tộc, giai cấp, giàu nghèo, tín ngưỡng, vùng miền đều có chung một cội nguồnsâu xa là con lạc cháu Hồng, là con dân nước Việt, có chung một vận mệnh lịch sử gắn bó chặt chẽ vớinhau trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc
Để tập hợp, đoàn kết được mọi người, mọi lực lượng cùng hướng tới mục tiêu chung thìphải có phương pháp đoàn kết đúng Theo Người, chúng ta thực hành đoàn kết không chỉ bằnglời nói, mà còn bằng những hành động thiết thực; không phải đoàn kết ở hình thức bên ngoài mà
Trang 35phải xuất phát từ bên trong, từ tấm lòng, nhân cách của chính người đi thực hành đoàn kết Cónhư vậy mới thu phục cảm hoá được mọi người, dẫn dắt mọi người đi theo cách mạng Nguyêntắc trong thực hành ĐĐKDT Hồ Chí Minh là phải luôn giữ vững được lợi ích của toàn dân tộc, kếthợp hài hoà giữa lợi ích chung với lợi ích riêng của từng bộ phận, đoàn kết gắn liền với đấu tranh
để có đoàn kết thực sự
Quán triệt tư tưởng đại đoàn kết của Người, từ khi ra đời cho đến nay, quân đội ta đã làmtốt chức năng, nhiệm vụ được giao, khẳng định được vai trò to lớn trong thực hiện chính sách ĐĐKDTcủa Đảng, Nhà nước Vai trò đó được thể hiện ở công tác tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiệnchính sách ĐĐKDT, tham gia xây dựng cơ sở chính trị, giải quyết những mâu thuẫn, xung đột nảy sinhtrong nhân dân, giúp đỡ nhân dân xóa đói giảm nghèo, chăm sóc sức khoẻ, xoá mù chữ cho nhân dân
và xây dựng đời sống văn hoá tinh thần tươi vui, lành mạnh
Những việc làm đó đã thể hiện vai trò to lớn của quân đội trong phát huy sức mạnh đoànkết toàn dân tộc, thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCNtrong tình hình hiện nay
Chương 2
THỰC TRẠNG VIỆC PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA QUÂN ĐỘI TRONG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐẠI ĐOÀN
KẾT DÂN TỘC CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC TA HIỆN NAY VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP CƠ BẢN NHẰM PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA QUÂN ĐỘI TRONG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC CỦA ĐẢNG, NHÀ
NƯỚC TA HIỆN NAY THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH 2.1.Thực trạng việc phát huy vai trò của quân đội trong thực hiện chính sách ĐĐKDT của Đảng và Nhà nước ta hiện nay
Xuất phát từ bản chất, truyền thống của một đội quân từ nhân dân mà ra, vì nhân dân
mà chiến đấu, những năm qua quân đội đã phát huy tốt vai trò của mình trong thực hiện chínhsách ĐĐKDT của Đảng và Nhà nước, góp phần củng cố tăng cường thế trận lòng dân, tạo sứcmạnh đoàn kết của toàn dân tộc thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ViệtNam XHCN trong điều kiện mới Việc thực hiện các vai trò đó được thể hiện các lĩnh vực chủyếu sau đây:
2.1.1.Trên lĩnh vực kinh tế:
Nhận thức rõ đây là lĩnh vực rất quan trọng để thực hiện chính sách ĐĐKDT của Đảng
và Nhà nước, những năm qua các đơn vị quân đội trong toàn quân như các quân đoàn chủ lực,lực lượng vũ trang ở các quân khu, lực lượng vũ trang của các địa phương, các đoàn kinh tế-quốc phòng được thành lập theo quyết định của chính phủ, các tổ đội công tác tăng cường cho
Trang 36cơ sở được thành lập theo chỉ thị 123 Bộ Quốc phòng đã tích cực giúp đỡ nhân dân phát triểnsản xuất, ổn định cuộc sống; tham gia có hiệu quả các chương trình, dự án kinh tế, xã hội, kếthợp kinh tế với quốc phòng và an ninh trên các địa bàn đóng quân Làm tốt việc hướng dẫn, hỗtrợ đồng bào sản xuất, áp dụng kỹ thuật canh tác nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả trongsản xuất, trồng trọt, chăn nuôi; xây dựng cơ sở hạ tầng: điện- đường- trường- trạm, tích cựctham gia chương trình xoá đói giảm nghèo, xây dựng các vùng kinh tế mới, ngăn chặn hiệntượng xâm canh, xâm cư, hướng dẫn vận động đồng bào các dân tộc thiểu số định canh, định
cư, hạn chế hiện tượng đốt, phá rừng bừa bãi, hiện tượng di dân tự do, bảo vệ an toàn cho nhândân sản xuất Đồng thời các đơn vị quân đội còn làm tốt công tác giúp nhân dân khắc phục hậuquả thiên tai, bão lụt, tạo điều kiện cho nhân dân vùng lũ ổn định cuộc sống Có thể nói, lĩnh vựckinh tế là lĩnh vực thể hiện sinh động nhất tình cảm, trách nhiệm và vai trò của quân đội trongquá trình thực hiện chính sách ĐĐKDT và đây cũng là lĩnh vực thể hiện nổi bật bản chất, truyềnthống và hình cảnh cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ” của quân đội trong điều kiện thời bình Các đơn vịquân đội từ Nam chí Bắc, từ miền xuôi đến miền ngược, từ nông thôn đến các khu vực đô thị vàtrong bất cứ tình huống khó khăn, hiểm nguy nào cũng luôn sát cánh cùng nhân dân nhất là nhândân vùng sâu, vùng xa, khu vực gặp thiên tai để giúp đỡ nhân dân vượt qua khó khăn, phát triểnsản xuất
Trong chương trình phát triển kinh tế- xã hội các xã đặc biệt khó khăn vùng đồng bàodân tộc, miền núi, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa (chương trình 135 của chính phủ), quânđội là lực lượng tiên phong giúp đỡ nhân dân ở những nơi gian khổ nhất và hiệu quả mang lạithật đáng khích lệ Bộ quốc phòng đã tiến hành xây dựng các vùng kinh tế mới, đón nhận khoảng
100 nghìn hộ dân đến lập nghiệp ở những vùng đất còn hoang hoá, khu vực biên giới, hải đảo.Các khu kinh tế- quốc phòng đã tổ chức cho nhân dân sản xuất tập trung được 24 nghìn ha cao
su, hơn 3,7 nghìn ha điều cao sản, 34 ha ca cao, 31 ha hồ tiêu, 200 ha lúa nước Tạo việc làmcho 17 nghìn lao động, trong đó có khoảng 5.500 lao động là đồng bào dân tộc thiểu số[72]
Tham gia vào các chương trình, dự án phát triển kinh tế xã hội ở những vùng sâu, vùng
xa, vùng dân tộc thiểu số của chính phủ, các đơn vị quân đội đã góp phần đắc lực giúp đỡ nhândân thoát khỏi đói nghèo, tạo điều kiện về vật chất, khoa học, kỹ thuật, việc làm để giúp đồng bàogiảm bớt khó khăn, ổn định cuộc sống Trong Hội nghị sơ kết 5 năm thực hiện chương trình 135(1998-2003) và triển khai kế hoạch chương trình 2 năm (2004-2005), Thủ tướng Phan Văn Khải
đã đánh giá rất cao vai trò của quân đội trong quá trình giúp đỡ nhân dân, mang lại hiệu quả thiếtthực cho chương trình và đã tin tưởng tiếp tục “giao những xã khó khăn nhất cho bộ đội giúpđỡ” Đồng thời Thủ tướng cũng cho rằng: ở những vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào khó khănnhất, chỉ có các đơn vị quân đội mới dám nhận xây dựng các công trình cơ sở hạ tầng và là lựclượng có khả năng hoàn thành nhiệm vụ tốt nhất trong thực hiện các chương trình, dự án pháttriển kinh tế- xã hội vùng sâu, vùng xa
Trang 37Để nâng cao hiệu quả giúp đỡ nhân dân phát triển sản xuất, nâng cao hơn nữa đời sốngvật chất, tinh thần cho nhân dân góp phần thực hiện chính sách ĐĐKDT của Đảng và Nhà nước,các đơn vị quân đội đã có nhiều hoạt động phối hợp với các lực lượng, các ban, ngành, đoàn thể
ở tầm vĩ mô cũng như vi mô để giúp đỡ nhân dân Đó là sự phối hợp giữa các đơn vị với cấp uỷ,chính quyền, đoàn thể và các lực lượng đứng chân trên địa bàn, đặc biệt là sự phối hợp hoạtđộng giữa quân đội và Hội nông dân Việt Nam Ngày 27/3/1991, Tổng cục chính trị quân độinhân dân Việt Nam và Trung ương Hội nông dân Việt Nam đã ký nghị quyết liên tịch số 02/NQLT
“Về sự phối hợp giữa quân đội và Hội nông dân Việt Nam trong công tác vận động nhân dân gópphần xây dựng cơ sở chính trị ở nông thôn, thực hiện nhiệm vụ quốc phòng” Qua 12 năm thựchiện, các đơn vị quân đội và các cấp Hội nông dân đã phối hợp chặt chẽ với các ban ngành,đoàn thể ở địa phương tích cực giúp đỡ bà con nông dân phát triển sản xuất, xây dựng cơ sở hạtầng nông thôn, đưa kỹ thuật tiên tiến vào canh tác, nuôi, trồng và chế biến các sản phẩm nôngnghiệp, góp phần xây dựng nông thôn mới, thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH, HĐH nôngnghiệp, nông thôn, xây dựng cơ sở chính trị địa phương vững mạnh, củng cố thế trận lòng dân,thắt chặt khối ĐĐKDT
Bằng các việc làm thiết thực, cụ thể như: phối hợp vận động, hướng dẫn, hỗ trợ nôngdân thực hiện có hiệu quả các chương trình phát triển kinh tế- xã hội, xoá đói giảm nghèo, phòngchống thiên tai; giúp nông dân ở các địa phương chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp nôngthôn theo hướng sản xuất hàng hoá gắn với thị trường, áp dụng tiến bộ mới vào sản xuất; đẩymạnh các phong trào nông dân sản xuất, kinh doanh giỏi, thi đua đoàn kết cùng nhau xoá đóigiảm nghèo; vận động, hướng dẫn nhiều hộ nông dân mạnh dạn đầu tư vào sản xuất theo môhình kinh tế trang trại, đánh bắt, nuôi trồng thuỷ, hải sản với năng suất, chất lượng và hiệu quảkinh tế cao Trong thời gian qua, các đơn vị quân đội đã huy động hàng ngàn tỷ đồng vốn giúpnông dân phát triển sản xuất; quyên góp, hỗ trợ 34 tỷ 630 triệu đồng cho các thôn, bản ở vùngđồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa phát triển kinh tế xã hội; phối hợp chuyển giaocông nghệ khoa học kỹ thuật tới gần 3 triệu lượt hội viên nông dân Chỉ tính từ năm 2000 trở lạiđây, các đơn vị quân đội trong toàn quân đã giúp nông dân hơn 9 triệu 611 ngàn cây giống và953.483 con giống các loại; phối hợp với Hội nông dân các cấp tổ chức định canh, định cư cho
3217 hộ và tuyên truyền vận động 23.373 hộ định canh, định cư Đầu năm 2002, Binh đoàn 16,bằng khả năng của mình đã giúp 300 hộ nông dân ở tỉnh Bến Tre và 290 hộ đồng bào dân tộcMông từ miền Bắc vào định canh, định cư, ổn định cuộc sống ở địa bàn Tây Nguyên; hỗ trợ cho
430 hộ đặc biệt khó khăn có cuộc sống ổn định[17]
Thông qua sự phối hợp hoạt động giữa các đơn vị quân đội với Hội nông dân các cấp đãlàm cho đời sống của nông dân được cải thiện một bước đáng kể, cuộc sống của bà con nôngdân nhất là những nông dân ở vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số được nâng lên, bà connông dân vui vẻ, tin tưởng vào đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước, đoàn kết chặt chẽxây dựng bản làng yên vui hạnh phúc Nhận xét về tính hiệu quả và vai trò của quân đội trong
Trang 38giúp đỡ nông dân phát triển sản xuất, thực hiện chính sách ĐĐKDT, Bà Hoàng Thị Bình, uỷ viênthường vụ, Chủ tịch Hội nông dân tỉnh Cao Bằng khẳng định: “Nếu không có bộ đội giúp đỡ,phong trào nông dân không thể phát triển được”.
Một trong những việc làm thể hiện rõ vai trò to lớn của quân đội trong việc giúp đỡ nhândân phát triển kinh tế, cải thiện đời sống, đó là hoạt động giúp nhân dân xoá đói giảm nghèo Xoáđói giảm nghèo là một chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước ta và thời gian qua, chúng ta đã đạtđược những thành tựu to lớn Trong kế hoạch xoá đói giảm nghèo, Đảng và Nhà nước chủtrương tập trung xoá đói giảm nghèo ở khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa, vùng núi cao, nơi
có đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống, phấn đấu đến năm 2010, các vùng dân tộc cơ bảnkhông còn hộ đói; giảm hộ nghèo xuống dưới 10%; giảm dần mức sống chênh lệch giữa các dântộc, các vùng
Tuy nhiên, hiện nay ở nước ta, nhiều vùng miền còn có tỷ lệ hộ nghèo cao như ở TâyBắc là 18,7%, Tây Nguyên 17,4%, tỉnh Lai Châu có hơn 30% hộ đói, hai tỉnh Sóc Trăng và BắcCạn cũng có tỷ lệ hộ nghèo đói hơn 20% Đặc biệt tình trạng các hộ tái nghèo cũng rất đáng báođộng Trong khi cả nước vẫn còn khoảng 1,8 triệu hộ nghèo, thì chỉ trong một năm 2003, tỉnhQuảng Nam đã có hơn 9.300 hộ tái nghèo và phát sinh nghèo; con số này ở Lâm Đồng là hơn4.500 hộ, Phú Yên gần 3.300 hộ, Đồng Tháp 4.000 hộ, Bình Định gần 4.500 hộ, Trà Vinh gần3.700 hộ [65]
Trước thực trạng đó, các đơn vị quân đội đã phát huy vai trò, trách nhiệm của mình làmột lực lượng xung kích tham gia vào chương trình xoá đói giảm nghèo của chính phủ Cán bộ,chiến sĩ quân đội đã quyên góp nhiều tỷ đồng hỗ trợ cho bà con nhân dân, nhất là nhân dân vùngsâu, vùng xa, đồng bào DTTS khắc phụ nạn đói, hỗ trợ cho nhân dân trên các địa bàn đóng quângiống, vốn, kỹ thuật canh tác, nhận đỡ đầu các gia đình chính sách, khó khăn, gia đình có côngvới cách mạng, hướng dẫn cho bà con áp dụng những kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất để tăngnăng suất, hiệu quả lao động, giúp bà con giảm dần khó khăn, bớt đói nghèo, tự lực vươn lêntrong cuộc sống Đã có nhiều đơn vị điển hình trong công tác xóa đói giảm nghèo, giúp nhân dântrên địa bàn đóng quân Binh đoàn Tây Nguyên, từ năm 1999 đến nay bằng các hoạt động thựctiễn cùng ăn, cùng ở, cùng làm với đồng bào các dân tộc, cán bộ, chiến sĩ binh đoàn đã giúpnhân dân các địa phương 9.520 ngày công lao động sản xuất và xây dựng cơ sở hạ tầng; hướngdẫn kỹ thuật gieo cấy 40,6 ha lúa nước, tạo điều kiện cho đồng bào chuyển từ cấy một vụ sanghai vụ cho năng suất cao Đồng thời, binh đoàn còn giúp 168 hộ gia đình đồng bào Gia Rai, SêĐăng định sư theo quy định của địa phương; tham gia xoá đói giảm nghèo ở 6 xã đặc biệt khókhăn, sửa chữa 21 phòng học, 16 nhà rông, san ủi làm 7 sân vận động Cán bộ, chiến sĩ binhđoàn đã quyên góp giúp đồng bào xoá đói giảm nghèo gần 1 tỷ đồng, 250 triệu đồng tiền thuốc,
83 triệu đồng sách vở, bút mực tặng các cháu học sinh, tặng quà các gia đình chính sách gần
127 triệu đồng[3]