Giai cấp công nhân là giai cấp lãnh đạo cách mạng; động lực chính của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa, cơ sở xã hội chủ yếu của Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam vững mạnh là vấn đề cấp bách. Điều đó xuất phát từ thực trạng giai cấp công nhân nước ta hiện nay,đặc biệt từ vai trò của nó và đòi hỏi khách quan qua việc xây dựng giai cấp công nhân trong sự nghiệp đổi mới, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Trong tình hình hiện nay,khi chủ nghĩa xã hội thế giới đang trải qua một thời kỳ khủng hoảng nghiêm trọng nhất; khi mà cuộc tiến công mới của kẻ thù đang tập trung vào việc xoá bỏ hệ tư tưởng MácLênin
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Giai cấp công nhân là giai cấp lãnh đạo cách mạng; động lực chínhcủa cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa, cơ sở xã hội chủ yếu của ĐảngCộng sản Việt Nam và Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.Xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam vững mạnh là vấn đề cấp bách.Điều đó xuất phát từ thực trạng giai cấp công nhân nước ta hiện nay,đặcbiệt từ vai trò của nó và đòi hỏi khách quan qua việc xây dựng giai cấpcông nhân trong sự nghiệp đổi mới, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổquốc xã hội chủ nghĩa Trong tình hình hiện nay,khi chủ nghĩa xã hội thếgiới đang trải qua một thời kỳ khủng hoảng nghiêm trọng nhất; khi màcuộc tiến công mới của kẻ thù đang tập trung vào việc xoá bỏ hệ tư tưởngMác-Lênin, phủ nhận tính tất yếu của chủ nghĩa xã hội và vai trò lãnh đạocủa Đảng Cộng sản - đội tiên phong của giai cấp công nhân - thì việcnghiên cứu về giai cấp công nhân Việt Nam để góp phần củng cố, xâydựng giai cấp này vững mạnh; việc khẳng định vai trò lịch sử của giai cấpcông nhân Việt Nam cách mạng xã hội chủ nghĩa càng có ý nghĩa quantrọng
Để xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam vững mạnh, nhằm đápứng yêu cầu của cuộc cách mạng trong giai đoạn mới, Đảng và Nhà nước
ta phải nghiên cứu, giải quyết nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn về giai cấpcông nhân Việt Nam Trong những vấn đề ấy, một vấn đề có ý nghĩa lýluận và thực tiễn cấp thiết đã và đang đặt ra, đòi hỏi phải được nghiêncứu, giải đáp, đó là: xu hướng biến động về cơ cấu, vai trò của giai cấpcông nhân Việt Nam trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần ở thời
kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Trang 2Nghiên cứu làm rõ vấn đề này có ý nghĩa rất quan trọng Bởi lẽ, đó làmột trong những vấn đề lý luận và thực tiễn bao quát và định hướng xãhội chủ nghĩa của công cuộc đổi mới, là một trong những cơ sở khoa họccho Đảng và Nhà nước ta định hướng ra các chính sách đúng đắn để pháttriển giai cấp công nhân cả về số lượng và chất lượng Tầm quan trọngcủa vấn đề còn ở chỗ, khi ở nước ta có khuynh hướng phủ nhận vai tròlãnh đạo của giai cấp công nhân, cho rằng vai trò đó ngày nay phải thuộc
về tầng lớp trí thức; khi trên thế giới có những người cho rằng, sứ mệnhlịch sử của giai cấp công nhân không còn nữa; trong bối cảnh ấy, nghiêncứu vấn đề này sẽ góp phần làm sáng tỏ một trong những nguyên lý gốc,điểm chủ yếu của học thuyết Mác-Lênin trong thời đại ngày nay - luậnđiểm về sứ mệnh lịch sử thế giới của giai cấp công nhân Trên cơ sở đó,góp phần củng cố và nâng cao lòng tin của giai cấp công nhân vào sứcmạnh và vai trò lịch sử của họ trong sự nghiệp xây dựng xã hội mới, khắcphục những biểu hiện hữu khuynh, dao động, lạc hướng trong công cuộcđổi mới, xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ởnước ta Vì thế, đề tài luận án này có ý nghĩa thiết thực cả về lý luận vàthực tiễn
Tình hình nghiên cứu vấn đề.
Trên thế giới, đề tài về giai cấp công nhân nói chung, về cơ cấu xãhội giai cấp công nhân và vai trò của nó nói riêng, được nhiều nhà khoahọc quan tâm nghiên cứu Ở hầu hết các nước xã hội chủ nghĩa, thậm chí,
ở không ít các nước tư bản chủ nghĩa, đều có cơ quan, viện nghiên cứu vềgiai cấp công nhân, như ở Mỹ, Nhật Bản, I-xra-en, v.v
Ở nước ta, trong những năm vừa qua, đề tài về giai cấp công nhânViệt Nam đã được nhiều nhà khoa học nghiên cứu dưới những góc độ:
Trang 3lịch sử, xã hội học, văn học - nghệ thuật, xã hội - chính trị, … Những nămgần đây, việc nghiên cứu về cơ cấu giai cấp công nhân Việt Nam và vai trò của nó
trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội đã được đề cập đến trong mộtvài công trình, bài nghiên cứu của một số nhà khoa học (*)
Tuy nhiên, vấn đề này nói chung, chưa được coi trọng đúng mức,Đảng và Nhà nước chưa có sự lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ và sự đầu tưthích đáng cho việc nghiên cứu đề tài này mà tính bức thiết của nó đã bộc
lộ ngay từ ngày đầu cả nước đi vào cách mạng xã hội chủ nghĩa, nhất là từkhi thực hiện chính sách phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thànhphần; chưa có một cơ quan khoa học chuyên trách nghiên cứu toàn diện
về giai cấp công nhân nói chung và vấn đề nêu trên nói riêng Vấn đề cơcấu và vai trò của giai cấp công nhân Việt Nam mới chỉ được đặt ra vàgiải quyết ở một chừn mực nhất định trong khuôn khổ những bài báo,những bản tham luận khoa học, hoặc một mảng của một công trình, trong
đó các tác giả của chúng phần nhiều còn dừng lại ở mức độ nêu ra vấn đềnhư là những gợi ý, những giả thuyết khoa học, cần phải được tiếp tụcnghiên cứu
Cho đến nay - theo chúng tôi được biết - ở nước ta, chưa có mộtcông trình nào đi sâu nghiên cứu một cách tập trung, cơ bản vấn đề của đềtài luận án này
Một thời gian không ngắn, các cấp lãnh đạo, chỉ đạo còn coi nhẹcông tác nghiên cứu của lý luận về giai cấp công nhân Việt Nam; thiếuquan tâm xây dựng đội ngũ người thợ về chính trị, tư tưởng, tổ chức, đờisống, tay nghề, v.v Thậm chí, còn có những sai lầm trong một số chínhsách kinh tế - xã hội do không dựa trên lập trường giai cấp công nhân, đã
Trang 4gây thiệt hại cho đội ngũ người thợ Vì thế, "các hiện tượng tiêu cực vàtha hoá trong một bộ phận giai cấp công nhân và người lao động cóchiều hướng phát triển" (24) Văn kiện Đại hội lần thứ VI Công đoànViệt Nam, tr 24) (*) Điều đó đã ảnh hưởng đến uy tín và vai trò lãnh đạocủa giai cấp công nhân Và do vậy, ở một số người, đã xuất hiện sự hoàinghi, khuynh hướng phủ nhận vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhânViệt Nam trong sự nghiệp xây dựng xã hội mới.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng Cộng sản Việt Nam
đã đặt ra và đòi hỏi phải làm sáng tỏ nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn củacách mạng nước ta, trong đó có vấn đề của đề tài luận án này
Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ của luận án.
Mục đích của luận án là, nghiên cứu tìm hiểu xu hướng biến động về
cơ cấu giai cấp công nhân Việt Nam, luận giải vai trò của nó trong thời kỳquá độ lên chủ nghĩa xã hội Từ đó xác định mục tiêu, phương hướng xâydựng giai cấp công nhân và biện pháp tác động của Đảng và Nhà nước tanhằm thúc đẩy sự biến đổi cơ cấu giai cấp công nhân, xây dựng giai cấpcông nhân vững mạnh mà trên cơ sở đó, giai cấp công nhân Việt Nam cóthể hoàn thành ngày càng tốt hơn sứ mệnh lịch sử của mình trong thời kỳquá độ lên chủ nghĩa xã hội
Để thực hiện được mục đích trên, luận án tập trung giải quyết nhữngnhiệm vụ cụ thể sau đây:
Thứ nhất, làm rõ khái niệm giai cấp công nhân hiện đại Trên cơ sở
đó, tìm hiểu cơ cấu xã hội giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay
Thứ hai, luận giải mối quan hệ giữa cơ cấu thành phần kinh tế ở Việt
Nam với cơ cấu giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay
Trang 5Thứ ba, tìm hiểu những nhân tố chủ quan và khách quan chủ yếu quy
định sự biến đổi của cơ cấu giai cấp công nhân Việt Nam và xu hướngbiến động của nó trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Thứ tư, làm rõ vai trò lịch sử của giai cấp công nhân Việt Nam trong
sự nghiệp xây dựng xã hội mới Từ đó xác định mục tiêu, phương hướng,biện pháp xây dựng giai cấp công nhân nhằm tăng cường bản chất cáchmạng của nó trong chặng đường đầu của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xãhội
Trên cơ sở ấy, kiến nghị những chính sách, biện pháp vừa cơ bản,vừa cấp bách nhằm góp phần xây dựng giai cấp công nhân vững mạnh,xứng đáng với vai trò lịch sử của nó trong công cuộc xây dựng đất nước ởchặng đường đầu của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Cơ sở lý luận - thực tiễn và phương pháp nghiên cứu.
Cơ sở lý luận chủ yếu của luận án là, hệ thống những quan niệm, tưtưởng cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin về khái niệm giai cấp công nhânhiện đại và vai trò của nó trong quá trình cách mạng, về các quan hệ xãhội và cơ cấu xã hội; đặc biệt là các luận điểm của Mác, Ăng ghen vàLênin ề tính quy định lịch sử của các quan hệ kinh tế, vật chất đối với cácquan hệ xã hội và tinh thần
Các văn kiện của Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ IV, V,
VI, VII; những tác phẩm của các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nướcViệt Nam có liên quan đến luận án có ý nghĩa quan trọng về mặt lý luận
và phương pháp luận đối với những vấn đề được đề cập trong luận án.Khi viết luận án, tác giả cũng đã chú ý sử dụng, tham khảo một sốcông trình nghiên cứu, bài viết của các nhà khoa học và hoạt động thực
Trang 6tiễn (trong và ngoài nước); số liệu thống kê, điều tra xã hội học, v.v củacác cơ quan nghiên cứu, tổng hợp, lưu trữ, v.v Những vấn đề có liên quanđến luận án mà các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu … đã nêu ra đượcxem như là những chỉ dẫn, gợi ý khoa học có ý nghĩa phương pháp luậncho tác giả luận án.
Trên cơ sở phương pháp luận khoa học của chủ nghĩa Mác-Lênin,người viết luận án trực tiếp đi vào khảo sát, điều tra xã hội học, nghiêncứu thực tiễn đội ngũ công nhân Việt Nam hiện nay trên một số địa bànchính: Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Bắc Thái, v.v trong một số loạihình xí nghiệp, liên hiệp xí nghiệp, nhà máy, công ty, xí nghiệp côngnghiệp quốc phòng và một số hợp tác xã sản xuất công nghiệp… đại diệncho các khu vực, thành phần, ngành kinh tế (trên cơ sở sản xuất, kinhdoanh): nghiên cứu đội ngũ công nhân thành phố Hồ Chí Minh qua số liệuđiều tra xã hội học ở 21 xí nghiệp công nghiệp (với 5.400 phiếu điều tra)
do thành uỷ và liên hiệp công đoàn thành phố Hồ Chí Minh tổ chức (năm
1988 - 1989); nghiên cứu số liệu và tình hình tổng hợp đội ngũ công nhâncông nghiệp quốc phòng (cuối năm 1990 và thời gian gần đây) Tác giảluận án cũng chú ý nghiên cứu thực tiễn phát triển của giai cấp công nhânViệt Nam từ khi ra đời đến nay, đặc biệt là từ năm 1975 lại đây; đồng thời
có nghiên cứu tình hình phát triển của giai cấp công nhân thế giới (ở mộtvài nước, để tham khảo, so sánh), qua một số tài liệu trong và ngoài nước,một số số liệu tổng hợp, v.v Trên cơ sở đó, người viết luận án cố gắngphân tích, khái quát nhằm rút ra những kết luận khoa học; phát hiệnnhững vấn đề có tính quy luật, những nhân tố chủ yếu tác động đến xuhướng biến động và những xư hướng biến động tất yếu của cơ cấu xã hội
Trang 7giai cấp công nhân Việt Nam trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội,nhất là ở chặng đường đầu.
Luận án được nghiên cứu dưới góc độ chính trị - xã hội của chủnghĩa xã hội khoa học Những phương pháp nghiên cứu của triết học, kinh
tế - chính trị Mác-Lênin, khoa học lịch sử và xã hội Mác-Lênin… đượcvận dụng tổng hợp để tìm ra con đường, phương pháp tiếp cận, giải quyếtcác vấn đề được đặt ra trong luận án Tác giả luận án đặc biệt chú ý vậndụng các phương pháp: kết hợp lôgích và lịch sử, so sánh - phân tích -tổng hợp, nguyên tắc thống nhất giữa kinh tế và đào tạo - xã hội, cáichung và cái riêng
Cái mới khoa học của luận án.
Một là: Góp phần làm sáng tỏ thêm nhận thức mới về khái niệm "giai
cấp công nhân hiện đại" trong thời đại ngày nay, dưới ánh sáng của côngcuộc đổi mới và cương lĩnh của Đại hội VII của Đảng Cộng sản Việt
Nam Nêu lên kết cấu của giai cấp công nhân hiện đại bao gồm một bộ phận những người lao động trí óc gắn liền trực tiếp với quá trình sản xuất ra của cải vật chất, một bộ phận những người lao động của họ có tính chất lao động công nghiệp Điều đó cho phép làm rõ vai trò ngày
càng tăng lên của giai cấp công nhân Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng
xã hội mới
Hai là: Bước đầu phát hiện và làm rõ 6 nhân tố chủ quan và khách
quan chính, thường xuyên tác động và quy định xu hướng biến đổi cơ cấugiai cấp công nhân Việt Nam trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Ba là: Dự báo khoa học về 6 xu hướng biến động chủ yếu của cơ cấu
giai cấp công nhân Việt Nam trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Trang 8Bốn là: Nêu lên và làm rõ những khả năng, điều kiện chính để giai
cấp công nhân Việt Nam có thể giữ vững, phát huy vai trò và hoàn thành
sứ mệnh lịch sử của mình trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Năm là: Xác định những mục tiêu chính xây dựng giai cấp công nhân
Việt Nam trong chặng đường đầu của thời kỳ qúa độ Nêu lên một chínhsách, biện pháp vừa cơ bản, vừa cấp bách nhằm xây dựng giai cấp côngnhân Việt Nam vững mạnh để nó ngang tầm với sứ mệnh lịch sử của mìnhtrong thời kỳ qúa độ lên chủ nghĩa xã hội
Ý nghĩa thực tiễn và khả năng sử dụng của luận án:
Góp phần vào việc đưa ra những cơ sở khoa học để xây dựng chínhsách kinh tế- xã hội đúng đắn với giai cấp công nhân nhằm củng cố, pháthuy vai trò và tăng cường bản chất cách mạng của nó
Luận án có thể được dùng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu,giảng dạy một số chuyên đề của môn chủ nghĩa xã hội khoa học, xã hộihọc, triết học
Kết luận của luận án:Luận án gồm có: lời nói đầu, 3 chương (6
tiết), kết luận và danh mục tài liệu tham khảo
(*) Xem :
- Sưu tập chuyên đề cơ cấu xã hội của xã hội xã hội chủ nghĩa, H, 1979 và
cơ cấu xã hội -giai cấp của xã hội trong thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội Tuyển tập lược thuật, H, 1979, của Viện thông tin khoa học xã hội
( Tiếp trang trên)
- "Cơ cấu xã hội - giai cấp và chính sách xã hội trong thời kỳ quá độ lênchủ nghĩa xã hội ở nước ta", H, 1990 Công trình chủ nghĩa của tập thể tácgiả, Viên Mác-Lênin, do PTS Hoàng Chí Bảo làm chủ nhiệm đề tài, cùng
Trang 9với các tác giả: Nguyễn Thanh Tuấn, Phạm Hữu Xuyên, Đinh Thị MinhChâu, Nguyễn Đức Kha, Lê Văn Tuấn, Chu Thế Vinh.
- Một số bài nghiên cứu về cơ cấu xã hội - giai cấp, cơ cấu xã hội giai cấpcông nhân Việt Nam, … của PTS triết học Đỗ Nguyên Phương :Tạp chíGiáo dục lý luận, số 3.1988; Thông tin lý luận, số 1.1988; Xã hội học, số3.1989; Tạp chí Nghiên cứu, số 3.1987 và 4.1989; Tạp chí cộng sản, số 5,
1987, và 9.1991; Cơ cấu xã hội - giai cấp trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội ở Việt Nam, H, 1988, v.v
- Một số bài về cơ cấu xã hội - giai cấp, cơ cấu xã hội giai cấp công nhânViệt Nam và xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam… của các nhà khoa học
và nghiên cứu: Vũ Khiêu, Nguyễn Vũ, Nguyễn Xuân Mai, Vũ Hoa Thạch,Ngô Hiện Tại, Mai Trọng Phụng, Dương Xuân An,… Tạp chí Xã hội học,
số 4, 1989, 1-2.1987, 1-2 1988, số 3 1989,Tạp chí cộng sản số 5.1987, Sưutập chuyên đề về cơ cấu xã hội - giai cấp… Học viện Nguyễn ái Quốc, H,1988
Đỗ Khánh Tặng: Đặc điểm và xu hướng biến đổi của cơ cấu xã hội giai cấp trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam Luận án phótíên sĩ khoa học Triết học, H, 1990
Tạp chí xã hội học, số 1 1990 Số chuyên đề về chính sách xã hội đốivới giai cấp công nhân, gồm nhiều bài nghiên cứu của các nhà khoa học vàhoạt động thực tiễn trong và ngoài nước như: Trương Lai, Bùi Đình Thanh,Xuân Cang, Hoàng Đốp, Mai Văn Hai, Bùi Thị Liên, Hoàng Phú Nhuận,
Lê Văn Cường, Hoàng Đức Phương, Tô Thậm, Phong Hải, Nguyễn ViếtChắt, Hy Minh Đức, Trịnh Hoà Bình…
- Một số công trình nghiên cứu về giai cấp công nhân Việt Nam ở góc độlịch sử như:
+ Trần Văn Giàu: Giai cấp công nhân Việt Nam - Sự hình thành và sựphát triển…, Nxb ST, H, 1961
+ Nguyễn Công Bình - Vũ Huy Phúc, v.v một số vấn đề về lịch sử giaicấp công nhân Việt Nam Nxb Lao động, 1974
+ Lịch sử phong trào công nhân và công đoàn Việt Nam (1860 - 1945),của Ban Nghiên cứu lịch sử Công đoàn Việt Nam, Nxb Lao động, 1977.+ Lịch sử phong trào công nhân, công đoàn thế giới và Việt Nam của trường Cao cấp Công đoàn Việt Nam, Nxb Lao động, H, 1983
+ Ngô Văn Hoà - Dương Kinh Quốc: Giai cấp công nhân Việt Namtrước khi thành lập Đảng, Nxb Khoa học xã hội, H, 1978
+ Cao Văn Biền: Giai cấp công nhân Việt Nam thời kỳ 1936-1939 NxbKhoa học xã hội, H, 1979
+Văn Tạo - Đinh Thu Cúc: Giai cấp công nhân miền Bắc Việt Nam(1955-1960), Nxb Khoa học xã hội, H, 1974
Trang 10+ Cao Văn Lượng: Công nhân miền Nam Việt Nam trong cuộc khángchiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975), Nxb KHXH, H, 1977.
* Số thứ tự 1, 2, 3… 45 đặt trong ngoặc ( ) là ký hiệu dẫn tư liệu sử dụng,còn dấu * là ký hiệu giải thích của các tác giả
Chương I
THỰC TRẠNG CƠ CẤU GIAI CẤP CÔNG NHÂN VIỆT NAM
HIỆN NAY Tiết 1: Bàn về khái niệm giai cấp công nhân
Nghiên cứu cơ cấu giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay và vai tròcủa nó, trước hết phải nghiên cứu khái niệm "giai cấp công nhân hiện đại"chỉ xuất phản ánhht từ khái niệm đúng về "giai cấp công nhân hiện đại, thìmới có cơ sở phương pháp luận để nghiên cứu kết cấu giai cấp công nhânViệt Nam hiện nay Và do vậy, mới tìm hiểu được xu hướng biến động về
cơ cấu của giai cấp công nhân Việt Nam, thấy rõ được vai trò của nótrong thời kỳ qúa độ lên chủ nghĩa xã hội Từ đó, Đảng và Nhà nước tamới có cơ sở để xây dựng chính sách đúng đắn đối với giai cấp côngnhân, có kế hoạch xây dựng đội ngũ giai cấp công nhân đáp ứng nhiệm vụxây dựng đạo đức trong thời kỳ qúa độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.Nếu không hiểu được bản thân khái niệm "giai cấp công nhân" là gì, thìcũng không thể hiểu được sứ mệnh lịch sử thế giới của giai cấp côngnhân
Trong những năm gần đây và hiện nay, bọn theo chủ nghĩa chốngcộng, cơ hội, xét lại dưới mọi màu sắc đã và đang điên cuồng tần côngvào chủ nghĩa Mác-Lênin, mà nội dung căn bản , chủ yếu là phủ nhận sứmệnh lịch sử thế giới của giai cấp công nhân Hiểu đúng khái niệm này sẽ
Trang 11có ý nghĩa quan trọng trong cuộc đấu tranh tư tưởng đang diễn ra ở trongnước và trên thế giới.
Về khái niệm giai cấp công nhân, các nhà kinh điển của chủ nghĩa xãhội khoa học đã nhiều lần đề cập và đã đưa ra những chỉ dẫn cơ bản
Mác và Ăng ghen coi việc tìm hiểu xem "giai cấp vô sản thực ra là
gì, và phủ hợp với tồn tại ấy của bản thân nó, giai cấp vô sản buộc phải
làm gì về mặt lịch sử" ([2], Tập I, tr.150) là một vấn đề căn bản trongnghiên cứu khoa học và hoạt động thực tiễn của mình
Giai cấp vô sản là gì, vấn đề này đã được Mác và Ăng ghen đề cậpđến trong nhiều tác phẩm Trong các tác phẩm ấy, hai ông đã nêu nhiềuthuộc tính của giai cấp vô sản
Ở "Góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hêgel- lời nói đầu"([1], tập I, tr 13-35) Mác đã chỉ ra nguồn gốc kinh tế, xã hội và xu hướngphát triển của giai cấp vô sản Mác nói rằng, ở Đức, giai cấp vô sản chỉmới bắt đầu hình thành nhờ sự phát triển của công nghiệp Như vậy, giaicấp vô sản ra đời gắn với công nghiệp, nó là sản phẩm của công nghiệp
Về mặt xã hội, giai cấp vô sản được nảy sinh ra và đang hình thành nêntrong quá trình tan rã dữ dội của xã hội, do sự giải thể của tất cả các đẳngcấp, trước hết là sự tan rã của đẳng cấp trung gian Xu hướng phát triểncủa giai cấp vô sản là đi tới chỗ xoá bỏ nó với tư cách là một giai cấp.Cũng trong tác phẩm này, Mác đã nêu lên mối quan hệ giữa giai cấp côngnhân và triết học: giai cấp công nhân là vũ khí vật chất của triết học, triếthọc là vũ khí tinh thần của giai cấp công nhân Triết học chỉ trở thànhhiện thực, nếu nó xoá bỏ giai cấp vô sản.Và, giai cấp vô sản không thểxoá bỏ bản thân mình nếu không biến triết học thành hiện thực Ở đây đã
Trang 12toát lên tư tưởng của Mác rằng, giai cấp công nhân là người đại biểu cho tri thức tiên tiến của xã hội loài người.
Trong "Gia đình thần thánh" ([2], tập I, tr 141- 176), Mác vàĂnghen phân tích mối quan hệ giữa giai cấp vô sản và chế độ tư hữu Giaicấp vô sản là sản phẩm của chế độ tư hữu và cũng là điều kiện tồn tại củachế độ tư hữu Chế độ tư hữu muốn duy trì sự tồn tại vĩnh viễn của mặt đối lập với nó là giai cấp vô sản.Chế độ tư hữu tìm được sự thoả mãntrong bản thân mình là mặt khẳng định của sự đối lập, giai cấp vô sản vàgiai cấp tư sản là hai mặt đối lập của một chỉnh thể thống nhất- chế độ tưhữu tư bản Cả hai đều là sản phẩm của chế độ ấy Xu hướng phát triểncủa giai cấp vô sản đi tới thủ tiêu sự tồn tại của bản thân mình với tư cách
là giai cấp vô sản và do đó, tiêu diệt cả mặt đối lập với nó là chế độ tưhữu- đang chi phối và làm cho nó thành giai cấp vô sản
Đến "Tình cảnh của giai cấp lao động ở Anh" ([3], tập I, tr 179-251).Ăngghen khẳng định rằng, Anh là nước điển hình cho sự phát triển củagiai cấp vô sản Giai cấp công nhân Anh là kết quả chủ yếu của cuộc cáchmạng công nghiệp ở Anh Lịch sử giai cấp công nhân Anh bắt đầu từ nửasau thế kỷ XVIII, và, "công nghiệp nhỏ đã làm nảy sinh ra giai cấp tưsản, công nghiệp lớn đã làm nảy sinh giai cấp công nhân" ([3], tập I, tr.209) Công nhân công nghiệp là hạt nhân của phong trào công nhân Họ lànhững người nhận thức được rõ ràng nhất những lợi ích của bản thân họ
Vì, trình độ văn hoá của các loại công nhân liên quan trực tiếp đến mốiquan hệ của họ với công nghiệp
Ở "Những nguyên lý của chủ nghĩa cộng sản" ([3], tập 1, tr 466) Ăngghen đã định nghĩa giai cấp vô sản như sau: "Giai cấp vô sản làmột giai cấp xã hội hoàn toàn chỉ sống dựa vào việc bán lao động của
Trang 13441-mình, chứ không phải sống dựa vào lợi nhuận của bất cứ số tư bản nào, đó
là một giai cấp mà hạnh phúc và đau khổ, sống và chết, toàn bộ sự sốngcòn của họ đều phụ thuộc vào yêu cầu về lao động, tức là vào tinh hìnhchuyển biến tốt hay xấu của công việc làm ăn, vào những sự biến độngcủa cuộc cạnh tranh không gì ngăn cản nổi Nói tóm lại, giai cấp vô sảnhay giai cấp của những người vô sản là giai cấp lao động trong thế kỷXIX… Giai cấp vô sản là do cuộc cách mạng công nghiệp sản sinh ra"([3], tập I, tr 441)
Đến "Tuyên gnôn của Đảng Cộng sản" ([2], tập I, tr 539- 586) Mác
và Ăngghen đã trình bày khái niệm "giai cấp vô sản" tương đối đầy đủtrên các phương diện khác nhau Có thể khái quát lại trên ba phương diệnnhư sau:
Thứ nhất, về nguồn gốc kinh tế: giai cấp vô sản ra đời gắn với nền
đại công nghiệp, nó là sản phẩm chính của bản thân nền đại công nghiệp,nền sản xuất xã hội hoá; về nguồn gốc xã hội: giai cấp vô sản được tuyển
mộ trong tất cả các giai cấp, tầng lớp xã hội
Thứ hai, những đặc trưng chủ yếu của giai cấp công nhân hiện đại là:
- Không có tư liệu sản xuất: đối lập trực tiếp với giai cấp tư sản; ởđịa vị là giai cấp bị trị; làm thuê cho nhà tư sản, tạo ra giá trị thặng dư chonàh tư bản và bị giai cấp tư sản bóc lột giá trị thặng dư Sự tiến bộ củacông nghiệp càng tăng, sự phân công lao động tăng lên thì giai cấp côngnhân càng bị bóc lột nặng nề hơn
- Có bản chất cách mạng.Giai cấp công nhân là hiện thân của lựclượng sản xuất hiện đại Cũng từ đó, nó đại biểu cho lao động toàn thếgiới, đại biểu cho phương thức sản xuất tiên tiến
Trang 14- Do tính chất lao động và địa vị trong nền sản xuất đại công nghiệp
mà giai cấp vô sản có tính quốc tế, tinh thần quốc tế vô sản, tinh thầnđoàn kết cách mạng, đoàn kết giai cấp, tính tổ chức, kỷ luật cao
Thứ ba, những xu hướng phát triển của giai cấp vô sản:
- Cùng với sự phát triển của đại công nghiệp, số lượng và chất lượngcủa giai cấp vô sản không ngừng tăng lên Nó luôn luôn biến đổi cùng với
sự biến đổi của lực lượng sản xuất Quá trình lôi cuốn giai cấp vô sản vàophong trào chính trị, giai cấp tư sản để cung cấp cho giai cấp vô sản mộtphần tri thức của bản thân nó Mặt khác, sự tiến bộ của công nghiệp đãđẩy từng bộ phận của giai cấp thống trị vào hàng ngũ giai cấp vô sản.Những bộ phận này cũng đem lại cho giai cấp vô sản nhiều tri thức Thêmnữa, quá trình cuộc đấu tranh giữa giai cấp vô sản với giai cấp tư sản đãdẫn tới sự phân hoá giai cấp trong giai cấp thống trị, một bộ phận nhỏ củagiai cấp thống trị- những nhà tư tưởng tư sản tiến bộ đã vươn lên nhậnthức được về mặt lý luận, toàn bộ cuộc vận động lịch sử- tách khỏi giaicấp này và đi theo giai cấp vô sản, làm cho giai cấp vô sản nhận rõ đượcsức mạnh và sứ mệnh lịch sử của mình
Sự trưởng thành của giai cấp vô sản sẽ dẫn đến sự xuất hiện hệ tưtưởng về chính Đảng của nó, giai cấp vô sản được tổ chức thành giai cấpvới tư cách là một giai cấp cách mạng
Trong cuộc đấu tranh chống giai cấp tư sản, giai cấp vô sản thôngqua con người cách mạng mà trở thành giai cấp thống trị Và, với tư xách
là giai cấp thống trị, nó tiến hành cuộc cải biến cách mạng, tạo ra nhữngđiều kiện kinh tế- xã hội để thủ tiêu phương thức sản xuất cũ, xoá bỏ cácgiai cấp nói chung Cũng do đây, nó xoá bỏ sự thống trị của chính giai cấpmình và tự xoá bỏ mình với tư cách là giai cấp
Trang 15Những vấn đề đã nêu ở trên được Mác và Ăngghen rút ra qua sựphân tích một cách sâu sắc từ địa vị kinh tế- xã hội của giai cấp vô sảndưới chế độ tư bản trong những năm nửa đầu thế kỷ XIX Những kết lậun
ấy cũng đã được thực tiễn cuộc sống đương thời chứng minh sự đúng đắncủa nó
Những đặc trung cơ bản của giai cấp vô sản dưới chế đọ tư bản màMác và Ăngghen đã nêu ra, được Lênin tiếp tục làm rõ và khẳng định trong "Dự thảo Cương lĩnh của Đảng Cộng sản (b)Nga" ([4], tập 38, tr.101- 150), "Những" người bạn dân" là thế nào…" ([4] tập 1, tr 149-386), "Dự thảo và thuyết minh Cương lĩnh của Đảng dân chủ - xã hội"([4], tạp 2, tr 95- 130) và nhiều tác phẩm khác Dến các tác phẩm "Nhànước và cách mạng" ([4], tạp 39, tr 01-34), từ thực tiễn của cách mạng -Lênin phát hiện và khẳng định rõ vị trí của giai cấp vô sản: là giai cấpthống trị về chính trị, giai cấp lãnh đạo toàn thể xã hội trong cuộc đấutranh lật đổ ách tư bản, trong sự nghiệp sáng tạo ra một xã hội mới, trongtoàn bộ cuộc đấu tranh để tuân thủ hoàn toàn các giai cấp Xu hướng pháttriển của giai cấp vô sản là đi tới chỗ tự thủ tiêu mình với tính cách là giaicấp vô sản
Những đặc trưng của giai cấp vô sản mà Mác, Ăngghen và Lênin đãnêu ra là phù hợp và đúng với điều kiện lịch sử đương thời Những đặctrưng cơ bản đó đến nay vẫn còn nguyên giá trị Nó là cơ sở phương phápluận khoa học để chúng ta nghiên cứu giai cấp công nhân hiện đại, trongđiều kiện lịch sử hiện nay
Ngày nay, chủ nghĩa xã hội cũng như chủ nghĩa tư bản, có nhiềubiến đổi sâu sắc, làm cho giai cấp công nhân trong quá trình vận động, cónhững bước phát triển rất quan trọng và có thêm đặc trưng mới vì thế, cần
Trang 16phải nghiên cứu thực tiễn để bổ sung vào khái niệm "giai cấp công nhân"những đặc trưng, khía cạnh mới, sao cho công cụ nhận thức và hoạt độngthực tiễn này phản ánh đầy đủ hơn nữa thực tại khách quan Trên cơ sở đó
mà tập hợp lực lượng hạt nhân, đoàn kết các lực lượng xã hội trong cuộcđấu tranh của giai cấp công nhân chống giai cấp tư sản
Công việc nói trên để có nhiều nhà nghiên cứu, giảng dạy trong vàngoài nước đề cập, bàn luận
Những cuốn: 1) Từ điển triết học ([38], tr 210 211), 2) Từ điểntriết học giản yếu ([27], tr 178- 179) 3) chủ nghĩa cộng sản khoa học- từđiển và 4) từ điển chính trị vắn tắt ([37], tr 140- 141) xuất bản gần đâybàn luận khái niệm "giai cấp công nhân" tương đối đầy đủ, nhưng vẫn cònhạn chế nhất định Trong cuốn "Chủ nghĩa cộng sản khoa học- từ điển",xuất bản năm 1986, khái niệm "giai cấp công nhân được trình bày nhưsau: "công nhận- một trong những giai cấp cơ bản của xã hội tư bản chủnghĩa và xã hội chủ nghĩa, lực lượng chủ yếu trong việc sản xuất ra củacải vật chất và trong việc cải tạo các quan hệ xã hội Trong điều kiện chủnghĩa tư bản, giai cấp công nhân, hay giai cấp vô sản, là một giai cấp cơbản bị bóc lột và đối lập với giai cấp tư sản Dưới chủ nghĩa xã hội, giaicấp công nhân là giai cấp cầm quyền trong xã hội" ([16], tr 63- 65)
Theo Lênin, trong các vấn đề thuộc về khoa học xã hội, phương phápchắc chắn và cần thiết nhất để nghiên cứu một vấn đề, cần phải làm rõ 3nội dung cơ bản:
1 Nguồn gốc của sự vật (đã xuất hiện trong lịch sử như thế nào).
2 Sự vật đã trải qua những giai đoạn chủ yếu nào.
Trang 173 Xu hướng phát triển của sự vật ([4], tạp 39, tr 78) Khái niệm
"giai cấp công nhân" nêu trên, chưa thoả mãn được các nội dung ấy Vềmặt lý luận, khái niệm đó chưa phản ánh được nguồn gốc của sự vật- giaicấp công nhân, ra đời từ bao giờ: chưa nêu rõ được đặc trưng chủ yếu, bảnchất của giai cấp công nhân là lao động công nghiệp, là tập đoàn ngườilao động làm thuê trong nền đại công nghiệp tư bản chủ nghĩa, bị giai cấp
tư sản bóc lột ngày càng nhiều giá trị thặng dư Và,cũng chưa chỉ ra xuhướng phát triển của nó như thế nào Khái niệm "giai cấp công nhân" làmột phạm trù xã hội- kinh tế, xã hội- chính trị và mang tính quốc tế Kháiniệm "giai cấp công nhân" trên đây, chưa làm rõ những nội dung cơ bảncần và đủ của phạm trù này Do vậy, về mặt thực tiễn khó có thể thừanhận vai trò của giai cấp chủ nghĩa trong tiến trình cách mạng quân đội từchủ nghĩa từ bản lên chủ nghĩa, không có cơ sở lý luận khoa học để đấutranh với những quan điểm sai trái đang phủ nhận sự tồn tại và vai trò củagiai cấp công nhân trong thời đại ngày nay
Có tác gỉa cho rằng, khái niệm giai cấp công nhân "bao gồm cả mộttầng lớp ngày càng đông những công nhân lao động dịch vụ" ([33], Giáodục lý luận, 1989, số 12, tr 29) Chúng tôi không nhất trí với ý kiến này.Bởi lẽ, a) lao động dịch vụ có nhiều loại: dịch vụ công nghiệp, dịch vụthương nghiệp, dịch vụ ăn uống, dịch vụ sinh hoạt v.v Nếu đưa vào kháiniệm "giai cấp công nhân" tất cả những người lao động dịch vụ thì mặcnhiên đã phủ nhận đặc trưng chủ yếu nhất của giai cấp công nhân là laođộng công nghiệp, là hiện thân của lực lượng sản xuất hiện đại, đại biểucho phương tứhc sản xuất mới b) không phải tất cả những người lao động
dịch vụ ấy đều tham gia trực tiếp vào sản xuất và tái sản xuất ra của cải
vật chất- một dấu hiệu chủ yếu khác của giai cấp công nhân a) những
Trang 18người lao động này do tính chất lao động, cách thức hưởng thụ…của họkhác nhau nên không mang đầy đủ những thuộc tinhú của giai cấp côngnhân, mà phần lớn thuộc vào tập thể viên chức và người lao động thừahành Theo chúng tôi, chỉ có thể đưa vào khái niệm "giai cấp công nhân"
một bộ phận những người lao động dịch vụ Đó là những người lao động dịch vụ có tính chất công nghiệp, mà tính chất lãnh đạo của họ là lao động công nghiệp, gắn liền trực tiếp với quá trình sản xuất và tái sản xuất
ra của cải vật chất
Ý kiến khác nhận định, "giai cấp công nhân đang dần dần tiêuvong" Một số người quả quyết "giai cấp công nhân đang tan rã, mất đihình thù rõ rệt", nó đang bị "hoà tan" vào các giai cấp còn lại trong xã hội
Họ lập luận: ngày nay khoa học và kỹ thuật đã trở thành lực lượng sảnxuất trực tiếp, đòi hỏi người lao động công nghiệp phải có trình độ vănhoá, chuyên môn cao, trong mỗi đơn vị sản phẩm chất chất công nghiệpthì phần đóng góp, kết tinh của trí tuệ nhiều hơn của sức mạnh cơ bắp Dovậy, đã dẫn đến sự biến mất của giai cấp công nhân- những người quaibúa, đạp máy.v.v
Với cách nhìn và đánh giá như vậy, những tác giả nói trên đã khôngthấy hoặc không muốn thừa nhận sự tồn tại của giai cấp công nhân gắnvới vai trò quyết định của sản xuất và với hiện tượng xã hội là sự bóc lộtcủa giai cấp tư sản Hoặc là, họ chỉ gắn giai cấp công nhân với lao độngchân tay, chứ không phải với sản xuất
Còn có lối lập luận: trong các nước tư bản phát triển, do sự tác động
và thành tựu của cách mạng khoa học - kỹ thuật đã làm cho giai cấp côngnhân mất đi và xuất hiện một giai cấp công nhân mới Theo chúng tôi, đóchỉ là sự lừa bịp ! cũng như trước đây, ở các nước tư bản, giai cấp công
Trang 19nhân vẫn tồn tại và ngày càng phát triển Bởi vì, "giai cấp tư sản, tức là tưbản, mà lớn lên thì giai cấp vô sản, giai cấp công nhân hiện đại - tức làgiai cấp chỉ có thể sống với điều kiện kiếm được việc làm, nếu lao độngcủa họ làm tăng thêm tư bản- cũng phát triển theo"([2], tập I, tr 549) Đây
là tất cả những người lao động công nghiệp, làm thuê cho giai cấp tư sản,sáng toạ ra của cải vật chất, làm nên giá trị thặng dư… nhưng lại không
có (hay nói đúng hơn là bị tước mất) tư liệu sản xuất Song, một giai cấpgồm tất cả những người lao động như vậy đã vận động phát triển theo xuthế của lịch sử và sự phát triển của cách mạng khoa học kỹ thuật, của lựclượng sản xuất hiện đại
Đầu những năm 50, tổng số công nhân ở 5 nước tư bản phát triển:
Mỹ, Nhật, Anh, Pháp, Tây Đức là 99 triệu, đến năm 1988 đã lên tới 190triêu (xem bảng 1)
(Theo tài liệu của Ban đối ngoại, Tổng liên đoàn lao động ViệtNam)
Tóm lại, đến nay, vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau về khái niệm "giaicấp công nhân" ([29], Tạp chí công đoàn, 1991, số 1, tr.6+7) Dẫu sao,
Trang 20trong những ý kiến ấy, có sự thống nhất về một số đặc điểm của giai cấpcông nhân là lao động, có tổ chức, kỷ luật cao….
Ngoài những nét chung nói trên, còn không ít sự khác biệt, có thểchia thành 3 loại yư kiến như sau:
1 Chỉ coi là công nhân, những người lao động chân tay, hoặc "chủ
yếu là lao động chân tay, trực tiếp tham gia vào việc tạo ra những giá trịvật chất" Trong chủ nghĩa xã hội, đó là những người lao động ở các xínghiệp quốc doanh, "sử dụng công cụ sản xuất thuộc sở hữu nhà nước"([42], xã hội học, 1991, số 1, tr 6 +7)
2 Quan niệm, giai cấp công nhân bao gồm: tất cả những người
không có tư liệu sản xuất, làm thuê cho nhà tư bản, bị các tư sản bóc lộtgiá trị thặng dư trong chế độ tư bản chủ nghĩa ([44] Những vấn đề hoàbình và chủ nghĩa xã hội, 1987, số 1, tr 75- 82); bao gồm cả "tầng lớpnhững công nhân trí thức" ([33], Giáo dục lý luận, 1989, số 12, tr 29);
"những người lao động chân tay và trí óc là việc ở tất cả các cơ quan vàcác xí nghiệp thụôc các ngành sản xuất vật chất và lưu thông" ([45], Cơcấu xã hội… tr 15)
Chúng tôi không tán thành với hai loại ý kiến này, như đã phan tích ởtrên
3 Cho rằng, đặc trưng chủ yếu của giai cấp công nhân là lao động
công nghiệp" ([29], Xã hội học, 1989, số 3, tr.05) trực tiếp sản xuất, hoặc
tham gia vào quá trình toạ ra giá trị vật chất cho xã hội Do vậy, có thểđưa vào thành phần của giai cấp công nhân một bộ phận các nàh nghiêncứu,áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, các kỹ sư, đốc công, kỹ thuật
viên cao cấp cán bộ kỹ thuật trực tiếp lao động trong quá trình sản xuất
Trang 21về tài sản xuất công nghiệp, tạo ra của cải vật chất, thực hiện chức năng của người công nhân lành nghề trong sản xuất Và, thêm nữa, cả những
người lao động trong các bộ phận dịch vụ công nghiệp, mà lao động của
họ có tính chất lao động công nghiệp
Theo tôi, ý kiến thứ ba này là có lý hơn cả Bởi vì, trong điều kiệnkhoa học, kỹ thuật phát triển cực kỳ nhanh, mạnh như hiện nay, nhữngthành tựu khoa học - kỹ thuật- công nghệ tiên tiến nhất, mới nhất được ápdụng ngay vào sản xuất, buộc người lao động phải không ngừng nâng caotrình độ chuyên môn, bổ sung tri thức, gia tăng hàm lượng trí tuệ vào sảnxuất Đó là bước tiến triển mới của những người lao động trong thời đạichúng ta Sự thâm nhập của lao động trí óc vào sản xuất, sự tăng thêm vaitrò của hoạt động trí óc trong mọi lĩnh vực sản xuất, đặc trưng cho sự tiếntriẻn của lực lượng sản xuất trong thời đại ngày nay Sự liên hệ ngày càngchặt chẽ giữa nghiên cứu khoa học và sản xuất cho ta thấy một thực tế là,những nhà nghiên cứu, sáng chế, kỹ sư, kỹ thuật viên cao cấp điều khiểncác thiết bị tự động háo trong nền sản xuất công nghiệp hiện đại, xuất
hiện ngày càng đông, đã trực tiếp tham gia và đóng vai trò quan trọng nhất vào quá trình công nghệ Bởi lẽ, hàm lượng chất xám ngày càng
quyết định giá trị của hàng hoá đó là những người công nhân lao động trítuệ (Các nhà khoa học, nghiên cứu khác của tầng lớp tri thức, không cóhoạt động như thế thì không thể gọi là công nhân lao động trí tuệ, thuộcnội hàm" giai cấp công nhân")
Cho nên, không thể coi giai cấp công nhân chỉ là những người laođộng chân tay, điều khiển các máy móc cơ khí Giai cấp công nhân rõràng là đa dang, phong phú hơn thế Nếu chỉ dừng ở khái niệm truyềnthống "giai cấp công nhân" là những người lao động chân tay, điều khiển
Trang 22máy móc cơ khí thì chưa đủ Lực lượng xã hội này cũng như tất cả các sựvật, hiện tượng, quá trình xã hội không ngừng vận động, phát triển "giaicấp công nhân" với tư cách là kết quả sự trừu tượng hoá và khái quát hoáhiện thực, cũng phải thay đổi, phát triển Vì vậy, có quan niệm mới vềkhái niệm "giai cấp công nhân" là điều tất nhiên.
Theo nguyên tắc định nghĩa của Lôgíc hình thức, quán triệt tư tưởngcủa các nhà sáng lập chủ nghĩa cộng sản khoa học vè các vấn đề giai cấp
Về giai cấp công nhân, và từ thực tiễn cách mạng- xã hội, chúng tôi quan
niệm: Giai cấp công nhân hiện đại là một tập đoàn xã hội hình thành cùng sự ra đời của nền đại công nghiệp, phát triển cùng với sự phát triển của cách mạng công nghiệp, với nhịp độpt của lực lượng sản xuất hiện đại có tính xã hội hoá ngày càng cao, bị giai cấp tư sản hiện đại hoá bóc lột giá trị thặng dư: là lực lượng cơ bản, tiên tiến trong sản xuất của cải vật chất, cải tạo các quan hệ xã hội, động lực chính của tiến trình lịch sử
từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa cộng sản.
Trên đây là một đinh nghĩa, mà định nghĩa nào cũng chỉ là sự kháiquát Sau đây giải thích, cụ thể hoá một số điểm trong nội dung địnhnghĩa đó như sau:
Ở xã hội tư bản chủ nghĩa, đó là giai cấp vô sản, những người laođộng bị tước đoạt hết tư liệu sản xuất, làm thuê trong nền sản xuất đạicông nghiệp tư bản chủ nghĩa, bị giai cấp tư sản thống trị, bóc lột giá trịthặng dư, có khả năng thay thế chủ nghĩa tư bản bằng chủ nghĩa xã hội.Dưới chủ nghĩa xã hội, đó là giai cấp cơ bản, thống trị xã hội, làmchủ các công cụ, tư liệu sản xuất chủ yếu, đại đa số làm việc ở những nhàmáy, xí nghiệp thuộc sở hữu xã hội chủ nghĩa và một bộ phận làm việctrong những hình thức kinh tế cá thể, tư nhân, công tư hợp doanh, liên
Trang 23doanh… Thông qau chính đảng của mình, liên minh chặt chẽ với giai cấpnông dân và tầng lớp trí thức, giai cấp công nhân thực hiện vai trò lãnhđạo chính quyền, Nhà nước và các tổ chức xã hội, lãnh đạo các tổ chứcquần chúng nhân dân lao động thực hiện cuộc cải biến cách mạng, xâydựng xã hội mới.
Kết cấu gồm những người lao động công nghiệp và dịch vụ mà laođộng của họ có tính công nghiệp; những kỹ sư, kỹ thuật viên cao cấp…thực hiện chức năng của công nhân lành nghề trong sản xuất và tái sảnxuất ra của cải vật chất
Chúng tôi không quan niệm định nghĩa trên đây về giai cấp côngnhân hiện đại là hoàn chỉnh Bởi lec, như Ăngghen đã nói "Tất cả nhữngkhái niệm về sự sống hữu cơ chỉ phù hợp một cách gần đúng với hiệnthực" ([3], tập VI, tr 815) Hơn nữa, đâ yko phải là một "sự vật" đã ởtrạng thái ổn định, sự phát triển của nó đã chấm dứt, mà vẫn còn đangphát triển và thường xuyên biến động
Từ khái niệm về giai cấp công nhân hiện đại nêu trên, một vấn đề lýluận và thực tiễn đặt ra là: giai cấp công nhân Việt Nam trong thời kỳ quá
đọ lên chủ nghĩa xã hội bao gồm những người lao động như thế nào, cơcấu và vai trò của nó
Có nhà nghiên cứu quan niệm, giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay
"bao gồm toàn bộ những người lao động thộc các xí nghiệp quốc doanh ởthành thị và nông thôn.Trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất của cảivật chất" ([25], Xã hội học, 1987, số 1-2, tr.07) Với quan niệm như vậy,phải chăng, tác giả này xem tiêu chí lao động ở các xí nghiệp quốc doanh
và trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất của cải vật chất như là hai đặctrưng chủ yếu của giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay?
Trang 24Chúng tôi cho rằng, đó là những yếu tố cần, nhưng chưa đủ Nếuchúng ta còn coi định nghĩa của các nhà kinh điển của chủ nghĩa mnl vềgiai cấp công nhân hiện đại và những đặc trưng cơ bản của nó mà các ông
đã nêu ra như là cơ sở phương pháp luận đúng đắn để nghiên cứu giai cấpcông nhân Việt Nam, thì cần phải thấy rằng, đặc trưng chủ yếu của giai
cấp công nhân mà các ông nêu lên là lao động công nghiệp, là hiện thân của lực lượng sản xuất hiện đại Chính tính chất lao động này- lao động
mang tính chất xã hội hoá cao mới là yếu tố quyết định địa vị tiên tiến củagcn trong sản xuất cũng như trong đời sống chính trị, xã hội , đạo đức,quyết định bản chất, khả năng, tinh thần triệt để và vai trò lãnh đạo cáchmạng của giai cấp công nhân; quyết định tính tổ chức, kỷ luật và tinh thầnđoàn kết giai cấp của nó, "lao động ở các xi nghiệp quốc doanh" chưa nóilên đầy đủ địa vị tiên tiến trong nền sản xuất và những phẩm chất cáchmạng của giai cấp mà chúng ta đang xem xét Vì, ở nước ta hiện nay,không phải tất cả các xí nghiệp quốc doanh đều sản xuất có tính chất côngnghiệp hiện đại, mà không ít xí nghiệp còn sản xuất có tính chất thủ cônggiản đơn, ở giai đoạn "công trường thủ công", nhất là các xí nghiệp ởnông thôn Vì vậy, chúng tôi không hoàn toàn tán thành quan niệm của tácgiả này
Nước ta đang ở chặng đường đầu tiên của thời kỳ qúa độ lên chủnghĩa xã hội Sự tồn tại của nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vớinhiều hình thức sở hữu trong thời kỳ quá độ là tất yếu khách quan Đó lànhững vấn đề đã được khẳng định Từ thực tiễn đó và trên cơ sở địnhnghĩa về giai cấp công nhân hiện đại, như đã nêu ở trên, chúng tôi quan
niệm cơ cấu xã hội giai cấp công nhân Việt Nam hiên nay bao gồm những người lãnh đạo jcnj Học viện Chính trị quân sựà dịch vụ mà lao động của
Trang 25họ có tính chất công nghiệp; những kỹ sư, cán bộ kỹ thuật, nghiên cứu, áp dụng những thành tựu của cách mạng khoa học- kỹ thuật vào sản xuất, trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất và tái sản xuất của cải vật chất, lao động trong các xí nghiệp quốc doanh, quốc phòng, công tư hợp doanh, tư bản tư nhân, hợp tác liên doanh với nước ngoài Xí nghiệp cổ phần, tiểu công nghiệp khu vực tập thể và một bộ phận lao động công nghiệp, cơ khí kỹ thuật cao, thuộc khu vực kinh tế tập thể và tư nhân Họ
đã và đang là lực lượng lãnh đạo, lực lượng nòng cốt trong công cuộc xâydựng chế độ xã hội mới, chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
Một trong những đặc trưng kinh tế của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội ở Việt Nam là sự tồn tại khách quan của nền kinh tế hàng hoánhiều thành phần, với nhiều hình thức sở hữu, và những hình thức tổ chứckinh doanh đa dạng Đặc trưng kinh tế ấy chẳng những quy định tính chấtphức tạp và đa dạng của cơ cấu xã hội giai cấp nói chung ở nước ta trongthời kỳ qúa độ, mà còn quy định tính chất đa dạng, phức tạp của cơ cấugiai cấp công nhân, nói riêng
Vậy, sự liên quan và quy định của nền kinh tế nhiều thành phần đến
cơ cấu giai cấp công nhân Việt Nam trong giai đoạn hiện nay như thếnào? tiết 2 sẽ giải quyết vấn đề này
TIẾT 2: NỀN KINH TẾ NHIỀU THÀNH PHẦN VÀ THỬCTẠNG CƠ CẤU GIAI CẤP CÔNG NHÂN VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
a) Nền kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là một tất yếu khách quan, là hiện tượng có tính quy luật.
Trang 26Đại hội VI Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định: "Cần có chínhsách sử dụng và cải tạo đúng đắn các thành phần kinh tế… Đó là một giảipháp có ý nghĩa chiến lược,… là sự vận động quan điểm của Lênin coinền kinh tế có cơ cấu nhiều thành phần là một đặc trưng của thời kỳ quáđộ"([6], Văn kiện Đại hội VI, tr 56) Đến Hội nghị lần thứ VI Ban chấphành Trung ương (khoá VI), Đảng ta khẳng định: "Chính sách kinh tếnhiều thành pầhn có ý nghĩa chiến lược lâu dài, có tính quy luật từ sảnxuất nhỏ đi lên chủ nghĩa xã hội" ([6] Nghị quyết hội nghị lần thứ VI…
tr 13) Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội, đã được Đại hội VII thông qua, ghi rõ: "Phát triển nền kinh tếhàng hoá nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vận hànhtheo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước" ([6], Cương lĩnh … tr.9+10) Đại hội coi đó là mọt trong những phương hướng cơ bản mà Đảng
và Nhà nước ta cần nắm vững trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội
và bảo vệ Tổ quốc
Sự khẳng định trên đây xuất phát từ quy luật về sự phù hợp giữaquan hệ sản xuất với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sảnxuất; từ quy luật phát triển không đồng đều về lực lượng sản xuất giữa cácvùng, các ngành sản xuất; từ quan điểm hiệu quả; từ tính khách quan củaquá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam Nước ta đi lên chủ nghĩa
xã hội từ một nền kinh tế chủ yếu là sản xuất nhỏ, lực lượng sản xuất rấtthấp.Do đó, việc phát triển lực lượng sản xuất là vấn đề có ý nghĩa sốngcòn để thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu
Chính sách phát triển một nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phầntheo định hướng xã hội chủ nghĩa cho phép sử dụng nhiều hình thức kinh
tế với quy mô và trình độ kỹ thuật thích hợp, nhằm giải phóng và khai
Trang 27thác mọi kinh nghiệm của các thành phần kinh tế để phát triển lực lượngsản xuất, xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý Quá trình cải tạo xã hội chủnghĩa ở nước ta đã cho thấy một bài học là,lực lượng sản xuất bị kìm hãmkhông chỉ trong quan hệ sản xuất lạc hậu, mà cả khi quan hệ sản xuấtphát triển không đồng bộ, có những yếu tố đi quá xa so với trình độ pháttriển của lực lượng sản xuất Tình hình thực tế của nước ta đòi hỏi phảicoi trọng những hình thức kinh tế trung gian, qúa độ từ thấp lên cao, từquy mô nhỏ lên quy mô lớn, phải đẩy mạnh xây dựng cơ sở vật chất - kỹthuật, tạo ra lực lượng sản xuất mới, trên cơ sở đó tiếp tục đưa quan hệsản xuất lên hình thức và quy mô mới Thích hợp để thúc đẩy lực lượngsản xuất phát triển.
Về vấn đề này, các nhà kinh điển của chủ nghĩa xã hội khoa học đã
có những chỉ dẫn cho chúng ta Theo Mác, không có hình thái kinh tế xãhội nào đã tồn tại từ trước đến nay là thầun nhất và quan hệ sản xuất mớicao hơn không bao giờ xuất hiện trước khi những điều kiện tồn tại vậtchất của những mối quan hệ đó chín muồi Ăngghen đã khẳng định,không thể thủ tiêu chế độ tư hữu ngay lập tức được, mà chỉ có thể cải tạo
xã hội đó một cách dần dần Và , chỉ khi nào để tạo nên được một khốilượng tư liệu sản xuất cần thiết cho cải tạo đó, thì khi ấy mới thủ tiêuđược chế độ tư hữu
Lênin cho rằng, một trong những nội dung quan trọng nhất của thời
kỳ quá độ là nền kinh tế nhiều thành phần Người viết: "Danh từ quá độ
có nghĩa là… trong chế độ hiện nay có những thành phần, những bộ phận,những mảnhcủa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội" ([4],tập 43, tr.248) Lênin cho là sai lầm nếu "không đếm xỉa tới toàn thể các kết cấukinh tế xã hội hiện có, mà chỉ nhìn thấy có hai kết cấu trong số đó thôi"
Trang 28[5] Ông còn nhấn mạnh rằng, chưa có điều kiện để chuyển trực tiếp từnền sản xuất nhỏ lêncn xã hội Bởi vậy, trong một mức độ nào đó, chủnghĩa tư bản là không thể tránh khỏi, nó là sản vật tự nhiên của nền sảnxuất nhỏ Do đó, chúng ta phải lợi dụng chủ nghĩa tư bản "làm mắt xíchtrung gian giữa nền tiểu sản xuất và chủ nghĩa xã hội, làm phương tiện,con đường, phương pháp, phương thức để tăng lực lượng sản xuất lên"([4], tập 43, tr 276).
Trong đời sống hiện thực, nền kinh tế của xã hội loài người bao giờcũng tồn tại và phát triển dưới dạng kết hợp, dan xencủa những hình thức
tổ chức hoạt động kinh tế khác nhau Trong mỗi hình thái kinh tế xã hội,cùng với một quan hệ sản xuất thống trị điền hình, còn tôn tại những quan
hệ sản xuất phụ thuộc, lỗi thời như là những tàn dư của xã hội cũ Đó là
sự thể hiện của quy luật phủ định biện chứng Trên thế giới, cho đếnhiệnnay, chưa cớnớc nào có nền kinh tế phát triển mà trong nền kinh tế đóchỉ có một thành phần kinh tế, dù đó là nước xx chủ nghĩa xã hội từ nềnkinh tế đã qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa hay đó là nước ta bảnchủ nghĩa có nền công nghiệp phát triển
Thực tiễn cho thấy, ở đây và khi nào người ta dựng lên một hình mẫu
tổ chức thống nhất chỉ với một kiểu sở hữu duy nhất, thì ở đó và khi ấy có
sự thiếu năng động, kém hiệu quả, thậm chí làm ngừng trệ và đổ vỡ nềnsản xuất xã hội, đưa lại hiệu quả tiêu cực cho đời sống xã hội, thực chất,
đó là hậu quả của sự vi phạm quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp vớitính chất và trình độpt của lực lượng sản xuất Cho đến nay, chưa bao giờ
và ở đâu, lực lượng sản xuất của nhân loại đạt tới một trình độ và tínhchất phát triển đồng đều ở các vùng, các ngành, các lĩnh vực khác nhaucủa nền kinh tế, cho nên, nõ cũng đòi hỏi sự đa dạng của các loại hình sản
Trang 29xuất, cùng với những hình thức phong phú nhằm thực hiện kiểu sở hữu
đó Ngay ở các nước ta bản phát triển nhất hiện nay, cũng không chỉ có
mộ tqh sản xuất tư bản chủ nghĩa thuần nhất Chủ nghĩa xã hội cũngkhông phải là một ngoại lệ, nhất là ở những nước đi lên chủ nghĩa xã hộikém như nước ta Vì thế, được VII đã khẳng định rõ adr của Đảng và Nhànước ta là, phát triển một "nền kinh tế có nhiều thành phần với nhiềudạng sở hữu và hình thức tổ chức kinh doanh phù hợp với tính chất vàtrình độ của lực lượng sản xuất" ([6],Chiến lược ổn định và phát triểnkinh tế- xã hội đến năm 2000, tr 08)
chính sách kinh tế nhiều thành phần thể hiện tinh thần dân chủ vềkinh tế Nền dân chủ vừa là mục tiêu vừa là động lực của chủ nghĩa xãhội, trong đó quyền dân chủ về kinh tế có vai trò nền tảng Quyền đó vừathể hiện ở chế độ tự chủ của các đơn vị kinh tế quốc doanh, tạp thể và tưnhân, ở quyền làm chủ của những người lao động trong các đơn vị ấy, vừabảo đảm cho mọi người được tự do làm ăn theo pháp luật Đó là điều kiện
để giải quyết mọi năng lực sản xuất, thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển cóhiệu qảu của nền sản xuất xã hội, khuyến khích mọi ngời Việt Nam trong
cả nước và ở nước ngoài đem hết khả năng về sức lao động, vốn, taynghề… để làm giàu cho mình và cho đất nước
Sự tồn tại khách quan của nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần làmột hiện tượng kinh tế- xã hội có tính phổ biến trong thời kỳ qúa độ lênchủ nghĩa xã hội, phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theođịnh hướng xã hội chủ nghĩa là một trong những quan điểm cơ bản củaquá trình đổi mới trong kinh tế của Đảng ta
b) Triết học Mác-Lênin khẳng định "Cái kinh tế" quyết định"cái xã hội" và "cái xã hội" gắn chặt v'í "cái kinh tế" Xét đến cùng thì các nhân tố
Trang 30kinh tế có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển của xã hội loàingười.Cơ cấu kinh tế là nền tảng của cơ cấu xã hội- giai cấp ứng với mỗihình thái kinh tế- xã hội là một cơ cấu xã hội- giai cấp, trong đó nhữnggiai cấp, tầng lớp xã hội cơ bản có tính tương đối ổn định, tồn tại trongsuốt quá trình, tồn tại của hình thái kinh tế- xã hội ấy Trong thư gửi Fa-ven Vát-xi-li-e-vích An-nen-cốp Mác viết, "Hãy giả dụ một trình độ pháttriển nhất định của sản xuất, trao đổi và tiêu thụ, chúng ta sẽ có một chếđộo xã hội nhất định, một tổ chức nhất định của gia đình, của các đẳngcấp hay giai cấp, nói tóm lại, là có một xã hội công nhân nhất định" ([1],tập I, tr 788) Trong lời tựa viết cho bản tiếng Đức, xuất bản năm 1983.Ăngghen đã nhấn mạnh tư tưởng cơ bản và chủ đạo của "tuyên ngôn củaĐảng Cộng sản" là : "Trong mỗi thời đại lịch sử, sản xuất kinh tế và cơcấu xã hội- cơ cấu này tất yếu phải dõ kinh tế mà ra, cả hai cái đó câuthành cơ sở của lịch sử chính trị và lịch sử tư tưởng của thời đại ấy" ([3],tập I, tr 509).
Do vậy, để tìm hiểu sự vận động, biến đổi của cơ cấu mỗi giai cấpnói riêng, cũng như của toàn bộ cơ cấu xã hội giai cấp nói chung, tất yếuphải xuất phát từ sự vận động của bản thân hình thái kinh tế- xã hội màtrước hết và trực tiếp quy định là sự vận động, biến đổi của cơ cấu kinh tế
và lực lượng sản xuất
Các thành phần kinh tế liên quan và và quy định các thành phần xãhội, giai cấp Sự vận động của nó sẽ kéo theo sự vận động của các thànhphần kinh tế xã hội, giai cấp Vì thế, cùng vớ sự tồn tại của nền kinh tếhàng hoá nhiều thành phần,trong xã hội sẽ nhiều giai cấp và giai tầng.Nhìn chung, cơ cấu xã hội - giai cấp phản ánh cơ cấu kinh tế và cơ cấuthành phần kinh tế Nhưng, không phải là sự phản ánh máy móc Không
Trang 31phải mỗi thành phần kinh tế sẽ có một giai cấp Tầng lớp xã hội tương
ứng, như có tác giả đã khẳng định Các giai cấp, giai tầng xã hội gắn liền với các thành phần kinh tế: Song, nó phong phú hơn, phức tạp hơn các thành phần kinh tế, không phải mỗi thành phần kinh tế chỉ tương ứng với một giai cấp Mà có nhiều giai cấp, giai tầng Ngay trong một giai cấp
cũng bao gồm nhiều bộ phận khác nhau Ví dụ: trong thành phần kinh tếquốc doanh có giai cấp công nhân, tầng lớp trí thức, viên chức và ngườilao động thừa hành, giai cấp công nhân có ở các khu vực, các thành phầnkinh tế khác nhau, quốc daonh, tập thể, công tư hợp doanh, tư bản tưnhân, … Giai cấp tư sản có mặt trong thành phần kinh tế công tư hợpdoanh, tư bản tư nhân.Trong giai cấp nông dân có yếu tố công nhân (thợsửa chữa máy cày, bừa, máy gặt, máy bơm nước), yếu tố tri thức, tiểuthương.v.v
Như vậy, tính chất nhiều thành phần của nền kinh tế sẽ dẫn đến sựphân hoá trong thành phần xã hội, trong cơ cấu giai cấp Sự đa dạng vàphức tạp của cơ cấu thành phần kinh tế là nhân tố khách quan quy địnhtính chất phức tạp của cơ cấu xã hội- giai cấp, của mỗi giai cấp, tầng lớp
xã hội ở nước ta nói chung, cũng như giai cấp công nhân nói riêng, tronggiai đoạn hiện nay Ở thời kỳ quá độ, với đặc trưng kinh tế nêu trên, sẽđưa đến hệ quả là cơ cấu gcc và các tầng lớp xã hội sẽ không ngừng biến
đổ giai cấp và các tầng lớp xã hội sẽ không ngừng biến đổi về số lượng vàchất lượng Đồng thời, sự phân hoá về thu nhập, mức sống, văn hoá, lốisống… đã,đang và sẽ còn diễn ra mạnh mẽ trong phạm vi toàn xã hội,từng giai cấp và từng lớp xã hội, trong đó có giai cấp công nhân
c) Nền kinh tế nhiều thành phần trong chặng đường đầu của thời kỳ quân đội quy định sự biến đổi thường xuyên, ngày càng đa dạng, phức
Trang 32tạp, không thuần nhất về cơ cấu số lượng, chất lượng và tính chất quá độ
của giai cấp công nhân Việt Nam Điều đó được thể hiện tập trung trêncác phương diện sau
- Một là, sự phát triển không ổn định về số lượng của giai cấp công nhân, sự giảm sút nhanh chóng về số lượng công nhân trong khu vực kinh
tế quốc doanh.
Những 1976 đến 1980, thực hiện đường lối phát triển kinh tế của Đạihội Đảng lần thứ IX, công nghiệp được chú trọng đằut và có bước pháttriển mạnh, nhất là công nghiệp nặng Cùng với sự phát triển mạnh mẽcủa công nghiệp, cảu kinh tế quốc doanh, giai cấp công nhân Việt Nam có
sự phát triển nhanh về số lượng Sự phát triển này chậm dần từ 1981 đến
1985, năm 1986 đến nay, có xu hướng giảm dần Đặc biệt điểm mạnhtrong 2 năm 1989 - 1990, nhất là bộ phận công nhân khu vực kinh tế quốcdoanh (cả về số lượng tuyệt đối cũng như tỷ lệ phần trăm só với tổng sốlao động xã hội và dân cư), trong đó, công nhân ngành công nghiệp nặng,xây dựng cơ bản, công nhân quốc phòng… giảm nhanh, Bộ phận côngnhân khu vực kinh tế ngoài quốc doanh có sự phát triển rất nhanh về sốlượng trong những năm 1986- 1988 và giảmđi về số lượng tuyệt đối trong
2 năm 1989 - 1990 và đầu năm 1991 Dưới đây, xin dẫn một vài số liệu:
- Số liệu cụ thể về đội ngũ công nhân sản xuất công nghiệp quốcdoanh (từ 1976- 1989) như sau:
Trang 33người)([28], Niên giám thống kê, 1986, tr 163)
+ Chỉ riêng khu vực sản xuất kinh doanh, số công nhân, lao độngkhông có nhu cầu sử dụng vẫn còn gần 50 vạn người
+ Số công nhân, lao động phải nghỉ việc không lương dưới các dạngnghỉ chờ việc, nghỉ luân phiên là: 132, 937 người (riêng Hà Nội có hơn32,500 người) ([9], Báo cáo sơ kết công tác hoạt động công đoàn 6 thángđầu năm 1991, tr 02)
- Số liệu cụ thể về đội ngũ công nhân, lao động công nghiệp khu vựcngoài quốc doanh (từ 1980 - 1989): (xem bảng 4)
Bảng 4
Số lượng tuyệt đối
(nghìn người) 1.604,6 1810,5 2016,3 2101,1 1749,4
Trang 34([30], Số liệu thống kê cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
1976-1990, tr 33)
Sự biến động nêu trên của giai cấp công nhân Việt Nam liên quan vàgắn chặt với đường lối phát triển kinh tế, với chính sách sử dụngvà cải tạocác thành phần kinh tế, với chính sách sử dụng và cải tạo các thành phầnkinh tế trong mỗi gcd của Đảng và Nhà nước ta, với đường lối "cởi mở",quan hệ hợp tác về kinh tế, khoa học kỹ thuật và lao động… của ViệtNam với nước ngoài Nó cũng phản ánh rất rõ sự phát triển và đình đốncủa nền công nghiệp non trẻ của nước ta trong những năm qua.v.v Sựbiến động về số lượng của đội ngũ công nhân nói chung, cũng như củatừng bộ phận công nhân, nói riêng (công nhân khu vực quốc doanh vàngoài quốc daonh) phụ thuộc vào những nguyên nhân chủ quan và kháchquan của từng giai đoạn Xét cho cùng là do nguyên nhân kinh tế, do sựphát triển của nền kinh tế nước ta quy định Song chúng ta không thể phủnhận một thực tế đã diễn ra trong những năm qua là, sự tăng lên hay giảm
đi cảu cả đội ngũ công nhân hay từng bộ phận công nhân, trước hết phụthuộc vào nguyên nhân chủ quan, đó là chiến lược phát triển kinh tế- xãhội, chính sách sử dụng và cải toạ các thành phần kinh tế, chính sách kinh
tế đối ngoại, chính sách đối với giai cấp công nhân của Đảng và Nhà nước
ta Đây là nguyên nhân có ý nghĩa trực tiếp quyết định Sự đúng hay saitrong đường lối, chính sách của Đảng và nhà nước về những vấn đề trênđây sẽ tác đọng một cách nhanh chóng, trực tiếp đến sự phát triển của độingũ công nhân Những số liệu nêu trên về sự phát triển của giai cấp côngnhân trong mỗi giai đoạn (gắn bó mật thiết đường lối, chính sách củaĐảng) đã chứng minh cho sự khẳng định trên đây.Sự tăng lên nhanhchóng của đội ngũ công nhân,chủ yếu là công nhân khu vực kinh tế quốc
Trang 35doanh trong những năm 1076 - 1980 là hệ quả của đường lối "đẩy mạnhcông nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa… xây dựng cơ sở vật chất- kỹ thuật củachủ nghĩa xã hội" ([6], nghị quyết Đại hội IV, tr 30), của chủ trương "xâydựng kinh tế quốc doanh lớn mạnh nhanh chóng, chiếm ưuthế trong sảnxuất và lưu thông, phân phối" ([6], Nghị quyết Đại hội IV, tr 51), củachính sách "ra sức xây dựng giai cấp công nhân không ngừng lớn mạnh về
số lượng và chất lượng" ([6], Nghị quyết Đại hội IV, tr 69) Sự phát triểnchậm chạp của bộ phận công nhân khu vực kinh tế ngoài quốc doanhtrong giai đoạn này gắn liền với chủ trương nhanh chóng "củng cố vàhoàn thiện quan hệ sản xuất mới"([6], Nghị quyết Đại hội IV, tr.50), tiếnhành mạnh mẽ việc "cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với các xí nghiệp tư bản
tư doanh, … tiểu công nghiệp, thủ công nghiệp" ([6], Nghị quyết Đại hội
IV, tr.51+52) Sự tăng trưởng lên nhanh chóng của bộ phận công nhânkhu vực ngoài quốc doanh trong những năm gần đây là hệ quả của chínhsách kinh tế nhiều thành phần, khuyến khích các hình thức kinh tế tư nhânphát triển, của sự mở rộng hợp tác kinh tế, lao động với nước ngoài vàchính sách khuyến khích đầu tư của nước ngoài vào Việt Nam Sự giảm đinhanh chóng của đội ngũ công nhân khu vực kinh tế quốc doanh là kếtquả tất yếu của chủ trương sắp xếp lại tổ chức và lao động, củng cố cácđơn vị kinh tế quốc doanh theo quyết định 176/ HĐBT của Hội đồng Bộtrưởng,…
- Hai là: Sự tăng lên về tuổi đời và tuổi nghề của bộ phận công nhân
klhu vực kinh tế quốc doanh; sự trẻ hoá công nhân khu vực ngoài quốc doanh: tỷ lệ nữ công nhân, công nhân lâu năm và công nhân nhiều đời giảm trong những năm gần đây.
Trang 36Trong những năm 1976 - 1985, cùng với việc đẩy mạnh công nghiệphoá, giai cấp công nhân Việt Nam có sự tăng lên nhanh chóng về sốlượng Lực lượng mới bổ sung vào đội ngũ công nhân, phần lớn là họcsinh phổ thông và thanh niên, vì thế đã làm cho giai cấp công nhân nước
ta có cấu trúc trẻ (Tuổi đời bình quân của công nhân sản xuất là 31 Một
số ngành như công nghiệp nhẹ, điện, lâm nghiệp,… số công nhân chiếm51% trong tổng số công nhân sản xuất, và bằng 60% tổng số công nhânviên chức (31), tr 04 Xem phụ lục, trang 5-8)
Những năm gần đây, do đổi mới cơ ché quản lý kinh tế; do tác độngcủa nền kinh tế thế giới vào nước ta, tình hình sản xuất kinh doanh trongcông nghiệp gặp nhiều khó khăn về vốn, vật tư, thị trường tiêu thụ, …nhiều xí nghiệp (nhất là công nghiệp địa phương) rơi vào cảnh làm ănthua lỗ, kém hiệu quả, phải thu hẹp sản xuất hoặc chuyển sang hình thứckinh tế tập thể, cá thể, thậm chí phải giải thể Do vậy, việc tuyển dụng lựclượng mới vào đội ngũ công nhân rất hạn chế Khu vực kinh tế quốcdoanh, thực hiện quyết định 176 của Hội đồng bộ trưởng, đã và đang giảmmột lực lượng lớn công nhân
"Đến tháng 5-1991, theo thống kê của 37 liên đoàn lao động các địaphương, có 2.498 xí nghiệp không đủ việc làm, sản xuất cầm chứng, trong
đó có 726 xí nghiệp đang gặp khó khăn gay gắt, 709 xí nghiệp phải sátnhập, giải thể hoặc chuyển hình thức sở hữu Nhìn chung các xí nghiệpthuộc địa phương quản lý có khó khăn hơn, bế tắc hơn Tỷ lệ các xínghiệp ổn định được sản xuất chỉ chiếm khoảng 22%; còn lại 78% là các
cơ sở gặp khó khăn, nhiều cơ sở gặp khó khăn gay gắt, có nguy cơ "sậptiệm" (đặc biệt là các xí nghiệp do cấp huyện quản lý) Đối với các xinghiệp quốc doanh trung ương thuộc các ngành kinh tế mũi nhọn, thì số
Trang 37cơ sở ổn định, sản xuất phát triển chiếm khoảng trên 50%, khoảng 40%
số cơ sở gặp khó khăn, gần 5% số cơ sở làm ăn kém hiệu quả Thực trạng
bế tắc trong sản xuất kinh doanh đã trở thành phổ biến, không loại trừ mộtđịa phương nào, ngành nào, kể cả các thành phố lớn, khu vực công nghiệptập trung Ở thành phố Hà Nội có 336 xí nghiệp không đủ việc làm, sảnxuất cầm chừng, 167 xí nghiệp khó khăn gay gắt, 112 xí nghiệp phải sátnhập, giải thể Thành phố Hồ Chí Minh có 154 xí nghiệp phải sản xuấtcầm chừng, 119 xí nghiệp gặp khó khăn gay gắt Thành phố Hải phòng có
219 xí nghiệp sản xuất cầm chừng, 111 xí nghiệp khó khăn gay gắt Tỉnh
An Giang có 86 xí nghiệp phải sát nhận và cho giả thể Tỉnh Cửu Long có
95 xí nghiệp phải sát nhập, giải thể hoặc chuyển hình thức sở hữu, v.v.".Đến cuối năm 1991, đã và sẽ đưa ra trên 1 triệu công nhân vào lao động ởkhuvực sản xuất kinh doanh ([9], Báo cáo sơ kết… tr 02) (xem phụ lựctrang 1-3 và 39+40)
Lao động trong công nghiệp quốc doanh được sắp xếp và bố trí lạitheo hướng tinh, gọn, phát triển sản xuất theo chiều sâu Như vậy, hiệnnay và trong một vài năm tới, nhu cầu bổ sung lao động trể trong côngnghiệp quốc doanh rất hạn chế (trừ một số ngành công nghiệp nhẹ) Điều
đó đã sẽ dẫn tới sự tăng lên về tuổi đời và tuổi nghề của bộ phận côngnhân trong khu vực kinh tế quốc doanh Khu vực kinh tế ngoài quốcdoanh, đang và còn phát triển mạnh Xu hướng liên doanh, đang và cònphát triển mạnh Xu hướng liên doanh, liên kết với các hãng hoặc công tynước ngoài được mở rộng và phát triển Trong công nghiệp, một số dạng
xí nghiệp mới như: xí nghiệp hoặc công ty cổ phần, công ty liên doanhtrong và ngoài nước, xí nghiệp tư nhân,… đã và sẽ còn phát triển Để đạthiệu quả cao trong sản xuất kinh doanh, khu vực này đã và đang thu hút
Trang 38ngày càng nhiều và phần lớn là lao động trẻ Do đó, bộ phận công nhântrong khu vực kinh tế ngoài quốc doanh có cấu trúc trẻ về tuổi đời, tuổinghề.
Những năm trước đây, do hoản cảnh chiến tranh, cơ chế bao cấp v.v.nên những công nhân chiếm tỷ lệ cao Trong quá trình sắp xếp lại laođộng ở khu vực kinh tế quốc doanh, số người nghỉ hưu, mất sức, thôi việchưởng trợ cấp một lần, phần đông là nữ Trong số công nhân mới đượctuyển dụng (kể cả khu vực trong và ngoài quốc doanh) đã chú ý nhiều đếnhiệu quả kinh tế, nên lao động nam được tuyển dụng nhiều hơn nữ Vìvậy, tỷ lệ nam công nhân tăng lên, nữ công nhân đã và sẽ còn giảm đi.Mặt káhoặc, quá trình tinh giảm biên chế, sắp xếp lại lao động, số côngnhân lâu năm đã và sẽ nghỉ hưu, mất sức, thôi việc… chiếm tỷ lệ lớn Sốtuyển dụng mới thì hầu hết là dân tộc trẻ, vì thế, đã làm cho tỷ lệ côngnhân lâu năm và cnnn nhiều đời giảm xuống (xem phụ lục, tr.6-8)
So với các giai cấp và tầng lớp khác trong xã hội, những năm quagiai cấp công nhân nước ta đã đóng góp nhiều vào sự nghiệp xây dựng vàbảo vệ ta Nhưng, họ lại là những người chịu nhiều thiệt thòi (đặc biẹt làđội ngũ công nhân quốc phòng, thợ mỏ, công nhân làm việc ở những vùngđộc hại, vùng núi, …) Vì thế, còn em công nhân thường không muốn làmthợ Họ tìm mọi cách để không phải nối nghiệp cha ông, nhất là con emcông nhân trong các nghề nặng nhọc như: khai thác kim loại, các ngànhcông nghiệp nặng, v.v Do vậy, đội ngũ công nhân nhiều đời có xu hướngngày càng giảm ở khu vực kinh tế quốc doanh trong những năm gần đây
- Ba là: Sự đa dạng, phức tạp, không thuần nhất và phân hoá trong
nộibộ giai cấp, giữa các bộ phận công nhân trong các ngành, nghề và thành phần kinh tế.
Trang 39Ngoài bộ phận công nhân khu vực kinh tế quốc doanh, công tư hộidoanh và tập thể, hiện nay còn có các bộ phận khác; công nhân làm thuêtrong các xí nghiệp tư bản tư nhân; công nhân làm thuê ở nước ngoài;công nhân trong các xí nghiệp, công ty liên kết, liên doanh với nướcngoài; công nhân trong các xí nghiệp, công ty của tư bản tư nhân nướcngoài hoặc của các tổ chức nước ngoài đầu tư vào Việt Nam; công nhântrong các tổ hợp, hợp tác xã cơ khí cao cấp tiểu công nghiệp, v.v Ngaytrong khu vực kinh tế quốc doanh và tập thể còn có bộ phận công nhântrong các xí nghiệp, nhà máy, công ty.v.v cổ phần Và, trong những xínghiệp này, củng cố bộ phận công nhân có cổ phần và không có cổ phần.Trong số công nhân có cổ phần cũng có những công nhân có cổ phần lớn,nhỏ khác nhau.Thậm chí, trong một số xí nghiệp, còn có một số bộ phậnliên kết, liên doanh với nước ngoài Ngoài số công nhân sinh trưởng vàđược đào tạo trong chế độ mới, còn có bộ phận công nhân làm việc trongchế độ cũ còn lại (chủ yếu là ở miền Nam), và có một bộ phận công nhânđược cử đi học tập, đào tạo ở nước ngoài trở vê, v.v (xem phụ lục, tr.2-4,8,9).
Các bộ phận công nhân nêu trên, do làm việc ở những môi trường laođộng, trình độ sản xuất công nghiệp, công tác quản lý đào tạo, yêu cầu vềtay nghề, cách thức tổ chức sản xuất, môi trường chính trị, xã hội.v.v.khác nahu, nên có sự khác biệt, không thuần nhất về ý thức và khả nănglàm chủ, trình độ tay nghề, tác phong công nghiệp, ý thức chính trị vàtrách nhiệm công dân, tinh thần kỷ luật lao động, lương tâm người thợ, tácphong sinh hoạt, lối sống, nguyện vọng, giác ngộ và tình đoàn kết giaicấp, … Ngoài ra, sự phân tầng trong thu nhập đã, đang và sẽ còn diễn ramạnh mẽ, có sự chênh lệch rất lớn giữa các bộ phận công nhân trong các
Trang 40thành phần, vùng, khu vực kinh tế; giữa các ngành, nghề; thậm chí, giữacác bộ phận công nhân trong cùng một thành phần, vùng, khu vực kinh tế,trong cùng một ngành, nghề và ngay cùng một xí nghiệp, công ty (Xemphụ lục, tr.40+41) Điều này cũng sẽ dẫn đến sự phân hoá phức tạp, khôngthuần nhất trên mọi phương diện trong đội ngũ giai cấp công nhân ViệtNam hiện nay.
- Bốn là: Sự già hoá, đứt đoạn và giảm đi của đội ngũ công nhân
lành nghề, thợ bậc cao, thợ giỏi trong mấy năm gần đây, nhất là ở bộ phận công nhân khu vực kinh tế quốc doanh (xem phụ lục tr 5, 6, 11-14).
Do chạy theo lợi ích kinh tế trước mắt, cục bộ, kinh phí đào tạo ít vàtrong tình trạng sản xuất đình đốn, thua lỗ, sản phẩm ứ đọng, công nhânthiếu việc làm, giám đốc được giao toàn quyền trong xí nghiệp, … nêncông tác đào tạo, bồi dưỡng tay nghề, nguồn kế tiếp trong những năm quakhông được chú ý đúng mức, thậm chí rất coi nhẹ Do vậy, số công nhântrẻ bổ sung vào đội ngũ công nhân lành nghề, thợ bậc cao rất ít Ngoài ra,còn do hậu quả của cuộc chiến tranh kéo dài Trong những năm chiếntranh, hầu hết, lực lượng trẻ đi ra mặt trận Chiến tranh kết thúc, lực lượngnày trở về, được bổ sung vào nhà máy, xí nghiệp, hầu hết là chưa có taynghề hoặc tay nghề thấp Số thợ bậc cao, lành nghề còn lại sau những nămchiến tranh hoặc về hưu, mất sức, hoặc tuổi đã cao, tạo nên sự già hoá,đứt đoạn, hẫng hụt của đội ngũ công nhân này Tình hình đó còn có mộtnguyên nhân hết sức quan trọng là, chế độ chính sách về lương, ưu đãi vàcác phúc lợi, quyền lợi vật chất, tinh thần khác đối với thợ bậc cao, lànhnghề chưa thoả đáng, có tính chất bình quân Thêm nữa, để nâng một bậcthợ, người công nhân phải trải qua một thời gian lao động dài, từ 3 đến 5năm và phải qua thi tuyển ngặt nghèo Do vậy, không khuyến khích được