1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

LUẬN án TIẾN sĩ đổi mới VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH dân tộc TRÊN địa bàn TỈNH BÌNH DƯƠNG và BÌNH PHƯỚC HIỆN NAY

221 541 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 221
Dung lượng 1,08 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việt Nam là nước đa dân tộc, vì vậy chính sách dân tộc (CSDT) là một bộ phận rất quan trọng trong hệ thống chính sách của Đảng, Nhà nước để tạo nên sự ổn định và thúc đẩy xã hội phát triển. Cho nên việc xây dựng và thực hiện CSDT đúng, có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với việc củng cố khối đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau giữa các dân tộc cùng phát triển

Trang 1

Mở Đầu

1 Tính cấp thiết của đề tài

Hiện nay loài người đang bước vào nền văn minh mới với nhữngbiến đổi sâu sắc, trực tiếp tác động tới từng dân tộc, từng quốc gia cả bềrộng lẫn chiều sâu, làm nảy sinh nhiều vấn đề mới, ảnh hưởng đến tìnhcảm, tâm lý và đời sống của từng dân tộc

Việt Nam là nước đa dân tộc, vì vậy chính sách dân tộc (CSDT) làmột bộ phận rất quan trọng trong hệ thống chính sách của Đảng, Nhà nước

để tạo nên sự ổn định và thúc đẩy xã hội phát triển Cho nên việc xây dựng

và thực hiện CSDT đúng, có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với việc củng cốkhối đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau giữa các dân tộc cùng phát triển

Các dân tộc ở Việt Nam có quan hệ lâu đời trên nhiều lĩnh vực,trong quá trình cùng tồn tại và phát triển Từ khi ra đời và suốt quá trìnhlãnh đạo cách mạng, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng thực hiệnchính sách bình đẳng, đoàn kết, giúp đỡ giữa các dân tộc cùng phát triển

Mặc dù còn nhiều khó khăn, tồn tại, song những thành tựu do cáchmạng đem lại cho đồng bào các dân tộc trong mấy chục năm qua là khôngthể phủ nhận Các dân tộc đã thoát khỏi thân phận người dân nô lệ, bị ápbức, bóc lột, chia rẽ, khinh miệt, thậm chí có dân tộc bị nguy cơ đẩy đến bờdiệt vong dưới thời đế quốc, phong kiến trước đây Nạn đói rách, mù chữ,bệnh tật trong cuộc sống thường ngày của nhân dân từng bước được khắcphục và chăm lo tốt hơn Đời sống đồng bào nhiều vùng được cải thiện rõ rệt

Những thành tựu đã đạt được ở vùng đồng bào các dân tộc thiểu sốmấy chục năm qua dưới sự lãnh đạo của Đảng là hết sức quan trọng Song,trên thực tế những thành tựu ấy vẫn chưa tương xứng với vị trí chiến lượccủa miền núi và vùng dân tộc, chưa đạt được những mục tiêu cách mạng

mà Đảng đã đề ra

Trang 2

CSDT ở nước ta luôn được đặt ra như một vấn đề đặc biệt quan trọngtrong toàn bộ chính sách của Đảng và Nhà nước Đây cũng là những vấn đềrất nhạy cảm, vừa mang tính thời sự vừa mang tính chiến lược Tuy nhiên,hiệu quả và kết quả thực tế của thực hiện CSDT còn rất hạn chế, chưa tươngxứng với tiền của, công sức chúng ta đã bỏ ra và mong đợi của đồng bào.

Vì thế, việc nhận thức đúng đắn và sâu sắc đối với quá trình đổimới thực hiện CSDT nhằm tạo sự phát triển mọi mặt về kinh tế, chính trị,văn hóa, xã hội, thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nướcnói chung, vùng dân tộc thiểu số miền núi nói riêng đang là một đòi hỏibức xúc hiện nay

Đồng bào các dân tộc tỉnh Bình Dương, Bình Phước cũng khôngngoài tình trạng đó, thậm chí có những điều bức xúc hơn Xuất phát từ thực

tế như vậy, tác giả chọn vấn đề: "Đổi mới việc thực hiện chính sách dân

tộc trên địa bàn tỉnh Bình Dương và Bình Phước" làm đề tài luận án khoa

học, nhằm góp phần nhỏ tham gia giải quyết những vấn đề bức xúc đangđặt ra ở địa phương hiện nay

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Trang 3

Vấn đề dân tộc và việc thực hiện CSDT là đối tượng nghiên cứucủa nhiều môn khoa học xã hội khác nhau như Triết học, Sử học, Dân tộchọc, Xã hội học, Văn học, Nghệ thuật, Chủ nghĩa cộng sản khoa học Dưới những góc độ khác nhau của các môn khoa học đó, vấn đề dân tộc đãđược nhiều nhà khoa học đi sâu nghiên cứu và đạt được những thành tựuquan trọng về phương diện lý luận và thực tiễn, phục vụ thiết thực cho cuộcsống xã hội ở nước ta nhiều công trình khoa học đã góp phần làm rõ lịch

sử hình thành, phát triển và đặc điểm của cộng đồng các dân tộc Việt Namtrong quá trình dựng nước và giữ nước, tình hình kinh tế, xã hội vùng đồngbào các dân tộc thiểu số, những vấn đề về thực hiện CSDT của Đảng nhằmxây dựng phát triển củng cố khối đoàn kết bình đẳng dân tộc Đã có nhữngcông trình đi sâu nghiên cứu các vấn đề về kinh tế, văn hóa, xã hội, giáodục, y tế, đào tạo và sử dụng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số, như:

"Quan hệ giữa các tộc người trong một quốc gia - dân tộc" của GS Đặng Nghiêm Vạn, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1993; "Các dân tộc thiểu số

trong sự phát triển kinh tế - xã hội ở miền núi" do GS Bế Viết Đẳng (chủ

biên), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996; "Phát triển quan hệ dân tộc ở

Việt Nam hiện nay" của PGS.TS Trần Quang Nhiếp, Nxb Văn hóa dân tộc,

Hà nội, 1997; "50 năm các dân tộc thiểu số Việt Nam (1945 - 1995)", do

GS Bế Viết Đẳng (chủ biên), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1995; "Bình

đẳng dân tộc ở nước ta hiện nay - Vấn đề và giải pháp" do GS.TS Trịnh

Quốc Tuấn (chủ biên), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996; "Phát triển

kinh tế - xã hội các vùng dân tộc và miền núi theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa" của Lê Dụ Phong và Hoàng Văn Hoa, Nxb Chính trị quốc

gia, Hà Nội, 1998; "Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn về dân tộc và quan hệ

dân tộc ở Việt Nam" của TS Nguyễn Quốc Phẩm và GS.TS Trịnh Quốc

Tuấn, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999; Đề tài khoa học 04-05:

"Những vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách liên quan đến dân tộc, sắc tộc

ở nước ta và trên thế giới, chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta",

Trang 4

do GS Phan Hữu Dật làm chủ nhiệm, Hà Nội, 2000 và nhiều công trìnhnghiên cứu quan trọng khác có liên quan, do khuôn khổ của luận án tác giảkhông thể thống kê đầy đủ Những công trình khoa học này dưới nhiều góc

độ và mức độ khác nhau đã phân tích, làm rõ tình hình đặc điểm dân tộc ởnước ta; chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đườnglối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về dân tộc, những vấn đề đặt racần thực hiện tốt hơn CSDT của Đảng trong điều kiện mới ở tỉnh Sông

Bé trước đây; tỉnh Bình Dương, Bình Phước hiện nay cũng đã có nhiềucông trình nghiên cứu với những khía cạnh và góc độ khác nhau về vấn đề

dân tộc như "Vấn đề dân tộc ở Sông Bé" do GS Mạc Đường (chủ biên), Nxb Tổng hợp Sông Bé, 1985; Đề tài khoa học "Những biến đổi kinh tế - xã hội

của các dân tộc ít người và vùng miền núi tỉnh Sông Bé (từ 1975 đến nay)"

do Huỳnh Văn Điển, Phan An (chủ biên) và một số tác giả khác, Ban Dân

vận Tỉnh ủy Bình Phước, 1998; "Nghệ thuật cồng chiêng của dân tộc

Xtiêng tỉnh Sông Bé" do Vũ Hồng Thịnh, Bùi Lẫm (chủ biên), Sở Văn hóa

Thông tin tỉnh Sông Bé, 1995 v.v Những công trình khoa học này mới đisâu nghiên cứu vấn đề dân tộc ở địa phương dưới góc độ dân tộc học, lịch

sử, văn hóa, kinh tế, xã hội Tuy nhiên, dưới góc độ chính trị - xã hội, việcnghiên cứu đánh giá tình hình thực hiện CSDT trên địa bàn tỉnh BìnhDương, Bình Phước và phương hướng đổi mới thực hiện CSDT sao cho cóhiệu quả vẫn chưa có tác giả nào đi sâu nghiên cứu cụ thể

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận án

Mục đích của luận án nhằm làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn và

những vấn đề cơ bản của việc đổi mới thực hiện CSDT ở Bình Dương,Bình Phước hiện nay

Để đạt mục đích trên, luận án có các nhiệm vụ:

Trang 5

- Luận giải khái quát những nội dung lý luận cơ bản về dân tộc vàCSDT, thực hiện CSDT trong cách mạng XHCN.

- Phân tích thực trạng tình hình dân tộc và việc thực hiện CSDT ởBình Dương, Bình Phước hiện nay

- Đề xuất phương hướng, giải pháp nhằm đổi mới thực hiện CSDT ởBình Dương, Bình Phước hiện nay

4 Cái mới của luận án

Dưới góc độ chính trị - xã hội, luận án làm rõ những vấn đề vềCSDT, thực hiện CSDT của Đảng và Nhà nước, rút ra những bài học kinhnghiệm về vấn đề này Trên cơ sở đó làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn đổimới thực hiện CSDT nói chung, ở tỉnh Bình Dương, Bình Phước nói riêng

Đề xuất phương hướng, giải pháp cụ thể, thích hợp đổi mới thực hiệnCSDT làm tăng thêm tính hiệu lực, hiệu quả đối với đồng bào các dân tộcthiểu số

5 Cơ sở lý luận, và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận của việc nghiên cứu thực hiện đề tài là những nguyên

lý lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, những quanđiểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về dân tộc và CSDT Đồng thời tác giả kếthừa những thành tựu nghiên cứu của các ngành khoa học xã hội và nhânvăn có liên quan

Cơ sở thực tiễn của luận án là kết quả điều tra nghiên cứu thực tế đờisống xã hội và kết quả thực hiện CSDT ở Bình Dương, Bình Phước hiện nay

Phương pháp nghiên cứu của tác giả là sử dụng phương pháp lôgic

và lịch sử, phân tích và tổng hợp, kết hợp với điều tra, phỏng vấn tại địa bàn

6 ý nghĩa thực tiễn của luận án

Trang 6

Kết quả nghiên cứu của luận án có thể được sử dụng làm tài liệutham khảo cho việc xây dựng các nghị quyết, chủ trương về công tác dântộc và thực hiện CSDT ở Bình Dương, Bình Phước, cũng như những địaphương có đặc điểm tình hình tương tự Đồng thời, luận án có thể sử dụnglàm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, giảng dạy ở các trường chínhtrị tỉnh, ở các địa phương có đồng bào dân tộc thiểu số.

7 Kết cấu của luận án

Luận án gồm phần mở đầu, ba chương, bảy tiết, kết luận, danh mụctài liệu tham khảo và phụ lục

Trang 7

Chương 1

DÂN Tộc Và Chính Sách DÂN Tộc

1.1 Dân tộc

Trong "Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản", C Mác và Ph Ăng-ghen

đã chỉ ra rằng, do bóp nặn thị trường thế giới, GCTS đã làm cho sản xuất

và tiêu dùng ở tất cả các nước mang tính chất thế giới, làm cho công nghiệp

bị mất cơ sở dân tộc Những cơ sở dân tộc cũ đã bị tiêu diệt và ngày càng

bị tiêu diệt Những cơ sở công nghiệp dân tộc bị thay thế bởi những côngnghiệp mới; việc du nhập công nghiệp mới trở thành vấn đề sống còn đốivới tất cả các dân tộc văn minh Công nghiệp mới không dùng nguyên liệubản xứ mà dùng nguyên liệu được đưa từ những miền xa xôi đến và sảnphẩm làm ra không chỉ tiêu thụ trong xứ mà còn được tiêu thụ ở tất cả cácnơi trên trái đất Nếu như trước kia những nhu cầu cũ được thỏa mãn bằngnhững sản phẩm trong nước, thì nay đã nảy sinh những nhu cầu mới, đòihỏi được thỏa mãn bằng những sản phẩm từ những miền và những xứ xaxôi khác Thay vì tình trạng biệt lập trước kia giữa các địa phương và dântộc do nền sản xuất nhỏ tự cung tự cấp, đã phát triển những mối quan hệ -

sự phụ thuộc phổ biến giữa các dân tộc Những thành quả hoạt động tinhthần của một dân tộc cũng trở thành tài sản chung của tất cả các dân tộc.Tính chất chật hẹp và phiến diện dân tộc không thể tồn tại được nữa và từnhững nền văn học dân tộc và địa phương muôn hình muôn vẻ, đang nảy

nở một nền văn học toàn thế giới Hai ông cho rằng:

Trang 8

Nhờ cải tiến mau chóng công cụ sản xuất và làm cho cácphương tiện giao thông trở nên vô cùng tiện lợi, giai cấp tư sảnlôi cuốn đến cả những dân tộc dã man nhất vào trào lưu vănminh Giá rẻ của những sản phẩm của giai cấp ấy là trọng pháo bắnthủng tất cả những bức vạn lý trường thành và buộc những người

dã man bài ngoại một cách ngoan cường nhất cũng phải hàng phục

Nó buộc tất cả các dân tộc phải thực hành phương thức sản xuất tưsản, nếu không sẽ bị tiêu diệt; nó buộc tất cả các dân tộc phải dunhập cái gọi là văn minh, nghĩa là phải trở thành tư sản [64, tr 602]

Từ lập luận trên đây, C Mác và Ph Ăng-ghen đã đi tới khẳng định

về quá trình hình thành dân tộc:

Giai cấp tư sản ngày càng xóa bỏ tình trạng phân tán về

tư liệu sản xuất, về tài sản và về dân cư Nó tụ tập dân cư, tậptrung các tư liệu sản xuất, và tích tụ tài sản vào trong tay một số

ít người Kết quả tất nhiên của những thay đổi ấy là sự tập trung

về chính trị Những địa phương độc lập, liên hệ với nhau hầu nhưchỉ bởi những quan hệ liên minh và có những lợi ích, luật lệ,chính phủ, thuế quan khác nhau, thì đã được tập hợp lại thành

một dân tộc thống nhất, có một chính phủ thống nhất một luật pháp thống nhất, một lợi ích dân tộc thống nhất mang tính giai cấp và một hàng rào thuế quan thống nhất [64, tr 602-603]

Trang 9

Như vậy, dân tộc là một phạm trù lịch sử, ở Tây Âu dân tộc hình

thành trong thời kỳ CNTB đang lên Sự hình thành dân tộc đã được Mác

-Ăngghen phân tích và hiểu theo nghĩa là một quốc gia dân tộc (Nation), đó

là một cộng đồng chính trị - xã hội, được chỉ đạo bởi một Nhà nước thống nhất, được thiết lập trên một lãnh thổ nhất định, lúc đầu được hình thành

do sự tập hợp của nhiều bộ lạc, hay liên minh bộ lạc; sau này là một tập hợp của nhiều cộng đồng tộc người khác nhau (Ethnie)

Nghiên cứu vấn đề dân tộc, C Mác và Ph Ăng-ghen luôn đặt nó trong phạm trù cách mạng vô sản và khi giải quyết vấn đề dân tộc, hai ông luôn gắn chặt vấn đề đó với sứ mệnh lịch sử của GCVS Trong quan niệm

của hai ông, giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp có mối quan hệ biệnchứng với nhau Chính Ph Ăng-ghen đã từng khẳng định:

Không một dân tộc nào có thể trở thành tự do trong khicòn tiếp tục áp bức những dân tộc khác Cho nên, việc giải phóngnước Đức không thể thực hiện được nếu không giải phóng BaLan khỏi ách áp bức của người Đức Đó là lý do vì sao mà BaLan và Đức lại có những lợi ích chung, vì sao những người dânchủ Ba Lan và Đức có thể cùng nhau hoạt động cho sự nghiệpgiải phóng cả hai dân tộc [64, tr 528]

Trong "Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản", C Mác và Ph Ăng-ghenchỉ ra rằng: "Cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản chống lại giai cấp tư sản, dù vềmặt nội dung, không phải là một cuộc đấu tranh dân tộc, nhưng lúc đầu lạimang hình thức đấu tranh dân tộc" [64, tr 611] và các ông đã nhấn mạnh: " giai cấp vô sản mỗi nước trước hết phải giành lấy chính quyền, phải tựvươn lên thành giai cấp dân tộc, phải tự mình trở thành dân tộc" [64, tr.623-624]

Xuất phát từ những điều kiện của CNTB đang lên, C.Mác và

Ph.Ăng-ghen đã xác định những đặc điểm chung về dân tộc:

Trang 10

- Tính chất, hình thức, quy luật của sự hình thành dân tộc trong sựphát triển xã hội đều liên quan tới quá trình hình thành phát triển củaCNTB và tính chất lịch sử của các cộng đồng dân tộc

- Vai trò quyết định của những nhân tố kinh tế, đặc biệt tính cộngđồng của đời sống kinh tế trong sự hình thành và tiến bộ của các dân tộc,trong sự phát triển các mối quan hệ dân tộc

- Tác động to lớn của các nhân tố giai cấp của chủ nghĩa quốc tế vôsản và chủ nghĩa dân tộc tư sản ảnh hưởng lớn đối với sự phát triển các quátrình dân tộc và quan hệ giữa các dân tộc

- ý nghĩa quan trọng đối với sự hình thành dân tộc của cộng đồngngôn ngữ và cộng đồng lãnh thổ

- ảnh hưởng to lớn của văn hóa dân tộc, ý thức dân tộc và tính cáchdân tộc đối với sự phát triển của các dân tộc và những mối quan hệ qua lạicủa họ trong xã hội có mâu thuẫn giai cấp đối kháng

Dựa vào học thuyết của C Mác và Ph Ăng-ghen, V.I Lê-nin đã cụthể, bổ sung, phát triển toàn diện và sâu sắc về dân tộc, quan hệ dân tộc vàchính sách của Đảng Bôn-sê-vich về vấn đề dân tộc

Trang 11

Lê-nin cho rằng, dân tộc là sản phẩm hợp quy luật của hình thái xã

hội TBCN, đồng thời cũng là hình thức phát triển tất yếu của đời sống xã hội Xuất phát từ cơ sở đó, Lê-nin làm sâu sắc thêm quan niệm mácxít về mối quan hệ lẫn nhau giữa các giai cấp và dân tộc, cũng như giữa Nhà nước và dân tộc, xác định vai trò ngôn ngữ trong đời sống dân tộc và tính chất giai cấp của nền văn hóa dân tộc Qua các tác phẩm của Lê-nin, dân tộc là một hiện tượng xã hội có tính chất phức tạp; có cơ sở từ những quan

hệ kinh tế Những quan hệ kinh tế này giúp cho việc đoàn kết dân cư của những lãnh thổ to lớn lại thành một chỉnh thể thống nhất Lê-nin đặc biệt

nhấn mạnh đến tính chất lịch sử của dân tộc khi nghiên cứu những điều kiện phát triển của nó, và khẳng định tính tất yếu của sự hòa hợp các dân

tộc trong tương lai

Trang 12

Từ những quan điểm trên cho thấy, dân tộc là một phạm trù rộnglớn, phong phú, đa dạng và phức tạp Đến nay, nhiều nhà khoa học trên thếgiới và trong nước đã đưa ra khá nhiều định nghĩa dân tộc khác nhau Tạp

chí Cộng sản số 1 năm 2000 cho rằng: dân tộc là một cộng đồng người

được hình thành trong lịch sử cùng sinh sống ổn định trong một khu vực nhất định, có chung tiếng nói, phong tục tập quán, đời sống kinh tế, văn hóa và tâm lý xã hội Dân tộc còn được hiểu là quốc gia - dân tộc, trong trường hợp này, dân tộc là một cộng đồng người có chung lãnh thổ, có chung tiếng nói, văn hóa, chế độ xã hội và chính quyền nhà nước (ví dụ

dân tộc Việt Nam) ở đây, từ dân tộc cũng được hiểu gần giống như từ nhândân Trong Từ điển Oxpho của Mỹ (năm 1976) từ dân tộc viết là nation vànhững từ có liên quan khác như quốc tịch là nationality, xuyên quốc gia làtransnational, tính chất quốc gia là national, Liên hợp quốc là UnitedNations Cụm từ "quốc gia dân tộc" có nghĩa là một quốc gia chỉ có mộtdân tộc Nhưng trên thực tế, ngày nay rất hiếm quốc gia chỉ có một dân tộc.Năm 1985, thế giới có 165 quốc gia tuyên bố là quốc gia dân tộc Nhưngtrong đó 3/4 quốc gia là đa dân tộc; 1/4 quốc gia dân tộc đa số chiếm 95%dân số, 5% dân số là các dân tộc thiểu số Có lẽ vì thế, khái niệm "quốc giadân tộc" (nation-state) đang nhường chỗ cho khái niệm "quốc gia đa dân tộc"(multi-ethnicstate)

Trong quốc gia đa dân tộc, có dân tộc chiếm đa số hoặc tuyệt đại

đa số dân cư Dân tộc thiểu số thường là những cộng đồng ít người, cùng sống trong một khu vực, có chung huyết thống, có chung ngôn ngữ, văn hóa, phong tục tập quán, tâm lý tư tưởng và trình độ phát triển

Trang 13

Trong tiếng Việt, từ dân tộc thiểu số chỉ có nghĩa phân biệt số đông

và số ít, hoàn toàn không có nghĩa là phân biệt đối xử trong quan hệ xã hội Trên thế giới, trước đây từ này chỉ những nhóm người sống ở vùng xa

xôi hẻo lánh, bị đối xử không bình đẳng Ví dụ người Do Thái ở châu Âu,một thời gian dài, bị phân biệt đối xử chỉ vì họ là thiểu số và theo một tôngiáo riêng Người Ba Lan ở Đức và người Ai-rơ-len ở Anh trước đây cũngtừng chịu cảnh ngộ tương tự

Ngày nay, cùng với sự phát triển của nền văn minh nhân loại, nhậnthức của con người đối với đặc trưng văn hóa và giá trị nhân văn của cácdân tộc đã được nâng cao Quyền bình đẳng dân tộc đã được thừa nhậnrộng rãi Một nền văn hóa dân tộc này không được phép thống trị, đồng hóahoặc thay thế một nền văn hóa dân tộc khác, dù đó là dân tộc lớn hay nhỏ

Sự phân biệt đối xử và kỳ thị dân tộc đang bị lên án khắp nơi Trong điềukiện đó, khái niệm dân tộc thiểu số (ethnic group) không còn có ý nghĩaphân biệt đối xử

Trang 14

Theo một nghĩa rộng hơn, khái niệm dân tộc còn có thể hiểu:

1- Những cộng đồng người được hình thành qua các giai đoạn lịch sử khác

nhau, có trình độ phát triển khác nhau: dân tộc nguyên thủy, dân tộc cổ đại, dân tộc cận hiện đại; 2- Những cộng đồng người có chung văn hóa, ngôn ngữ và sinh sống trong những vùng rộng lớn vượt qua biên giới quốc gia như dân tộc ả Rập, dân tộc Mỹ-latinh, dân tộc châu Phi 3- Những cộng đồng người tuy cùng sinh sống trong cùng một lãnh thổ, nhưng có nguồn gốc khác nhau: dân tộc bản địa, dân tộc du mục, dân tộc ngoại lai 4- Những trường hợp khác, từ dân tộc được hiểu theo nghĩa rất rộng như phong trào giải phóng dân tộc, xung đột dân tộc, truyền thống dân tộc, văn hóa dân tộc, CSDT, chủ nghĩa dân tộc Hiện nay, trên thế giới, xu hướng chủ nghĩa dân tộc đã gia tăng làm cho mâu thuẫn dân tộc, xung đột dân tộc bùng nổ, đe dọa

sự ổn định và hòa bình ở nhiều khu vực và trên phạm vi toàn cầu Bên cạnh

sự bùng nổ của xu hướng dân tộc cực đoan này, trên thế giới đương đại đang diễn ra hai quá trình dân tộc đáng chú ý Thứ nhất, sự hội nhập và

giao lưu kinh tế, văn hóa giữa các dân tộc Trong tiến trình này, quan hệ dântộc và ý thức dân tộc, quan niệm về chủ quyền dân tộc, văn hóa, ngôn ngữdân tộc đang có những thay đổi lớn, mà nếu không có chúng thì sự phát triểnkinh tế và khoa học - kỹ thuật hiện đại của từng quốc gia và cả cộng đồng

quốc tế có thể sẽ bị cản trở Thứ hai, bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa

dân tộc; bảo vệ và phát huy chủ quyền quốc gia và sức mạnh dân tộc Hai quátrình này có quan hệ biện chứng với nhau, như chúng ta đã xác định: tánthành hội nhập, nhưng không hòa tan; hội nhập mà vẫn nhất thiết phải bảo

vệ, phát huy độc lập chủ quyền quốc gia và bản sắc văn hóa dân tộc [92]

Trang 15

Trên những phương diện chung nhất và những yếu tố cơ bản về dân

tộc, tác giả luận án cho rằng: dân tộc là một cộng đồng xã hội - tộc người

được đặc trưng bởi sự thống nhất của nền kinh tế và lãnh thổ, ngôn ngữ, văn học, tính cách dân tộc và văn hóa Một cách chung nhất, dân tộc xuất hiện trong những điều kiện của sự ra đời CNTB Dân tộc trải qua những giai đoạn phát triển nhất định tích lũy trong nó kinh nghiệm lịch sử, sự tiến hóa của những lực lượng sản xuất, trình độ giác ngộ cách mạng và tính tổ chức của quần chúng

Trên phương diện khái quát nhất, dân tộc là một cộng đồng người

đã được hình thành về mặt lịch sử, dân tộc là sự kế thừa phát triển của bộ lạc và bộ tộc, nhưng tất cả những dấu hiệu của dân tộc đều khác nhau về chất so với những dấu hiệu của các cộng đồng tiền dân tộc Việc nghiên cứu bản thân dân tộc cũng như toàn bộ tập hợp những hiện tượng và những quá trình có liên quan với nó xét trong sự thống nhất biện chứng cả hai phương diện xã hội và tộc người Điều đó có thể suy nghĩ sâu sắc hơn

về một loạt vấn đề của thời đại hiện nay có tính chất cấp bách về mặt tư tưởng và chính trị liên quan tới vấn đề dân tộc

Trong lịch sử, dân tộc xuất hiện trước hết như là dân tộc TBCN vàsau đó, do kết quả của những chuyển biến cách mạng, khi CNXH thay thếCNTB thì dân tộc TBCN được cải tạo thành dân tộc XHCN Sự hình thànhdân tộc XHCN nói chung khác về cơ bản với sự xuất hiện và hình thànhdân tộc TBCN Dưới CNXH, dân tộc được cải tạo và phát triển từ nhữngloại hình dân tộc trước đó Kể cả những bộ tộc trước đây chưa phát triểnthành dân tộc cũng được cải tạo thành dân tộc XHCN Các dân tộc XHCNthường xuất hiện do kết quả của việc cải tạo cách mạng đối với các dân tộcTBCN Quá trình cải tạo này, có thể phân biệt hai giai đoạn: a) Sự hìnhthành dân tộc XHCN, bắt đầu từ việc thiết lập nền chuyên chính của GCVS

Trang 16

và hoàn thành về cơ bản việc xây dựng xã hội XHCN b) Sự phát triển hơnnữa dân tộc XHCN theo hướng củng cố nó, làm cho nó phồn thịnh và xíchlại gần với các dân tộc XHCN khác Sự phát triển này hoàn thành với việcxây dựng xã hội CSCN và việc chuyển các dân tộc XHCN thành các dântộc CSCN

Các dân tộc XHCN được hình thành do kết quả của việc cải tạo dântộc TBCN hay do sự xuất hiện của dân tộc mới trên cơ sở xây dựng CNXH.Trong quá trình hình thành dân tộc XHCN, nội dung xã hội của nó bị thayđổi hoàn toàn Nhưng những đặc điểm tộc người của những người tạo radân tộc, ngôn ngữ của họ, những hình thức đặc biệt của nền văn hóa, thóiquen và tập quán, thái độ của họ đối với lãnh thổ, tổ quốc của họ là do kếtquả của việc cải tạo cách mạng, thay đổi một cách hết sức chậm chạp và khácnhau; khi chuyển sang dân tộc XHCN, những đặc điểm đó gắn liền với dântộc và trở thành một khía cạnh tộc người của dân tộc XHCN

Trên phương diện chung nhất, bước đầu theo tác giả có thể hiểu: dân

tộc XHCN là cộng đồng xã hội mới của những con người lớn lên từ những dân tộc hay bộ tộc của xã hội TBCN trong quá trình thủ tiêu CNTB và thắng lợi của CNXH ở những cộng đồng người này vẫn còn giữ lại, những đặc điểm tộc người trước đây của họ, nhưng toàn bộ nếp sống chính trị, kinh

tế, xã hội và tinh thần đều đã được cải tạo theo những nguyên tắc của CNXH

Với thắng lợi của CNXH, dân tộc - tuy về cơ bản vẫn giữ nhữngdấu ấn tộc người nhưng đã thay đổi loại hình xã hội đến tận gốc rễ, nó trởthành XHCN về cơ sở kinh tế, về cơ cấu giai cấp, về chế độ chính trị vàlĩnh vực tinh thần Sự xuất hiện những dấu hiệu mới của dân tộc, được quyđịnh bởi đời sống XHCN và quốc tế chủ nghĩa

Trang 17

1.2 chính sách dân tộc

Vấn đề dân tộc là một vấn đề chính trị - xã hội đặc biệt nhạy cảm.Các giai cấp khi nắm quyền thống trị xã hội đều phải quan tâm giải quyếtvấn đề dân tộc và quan hệ giữa các dân tộc Lịch sử đã chứng minh, giaicấp thống trị trong mỗi thời đại lịch sử đều đưa ra những phương thức giảiquyết vấn đề dân tộc và quan hệ dân tộc theo quan điểm, ý thức hệ của giaicấp mình Các phương thức giải quyết thường được gọi là "chính sách dân

tộc" Như vậy, CSDT thể hiện ý chí của giai cấp nắm quyền thống trị xã

hội, nắm quyền lãnh đạo và quản lý xã hội trong một thời kỳ lịch sử nhất định Mục đích của chính sách đó nhằm điều chỉnh các mối quan hệ dân tộc, giải quyết vấn đề dân tộc trong một quốc gia theo quan điểm của giai cấp thống trị tại quốc gia đó CSDT cũng là cơ sở để giải quyết mối quan

hệ giữa các quốc gia dân tộc trong khu vực và quốc tế

Xuất phát từ tầm quan trọng đặc biệt như đã nêu, các nhà kinh điểncủa chủ nghĩa Mác-Lênin rất quan tâm đến CSDT Trong "Tuyên ngôn củaĐảng Cộng sản", Mác và Ăng-ghen khẳng định rằng: "Hãy xóa bỏ tình trạngngười bóc lột người thì tình trạng dân tộc này bóc lột dân tộc khác cũng sẽ bịxóa bỏ Khi mà sự đối kháng giữa các giai cấp trong nội bộ dân tộc không cònnữa thì sự thù địch giữa các dân tộc cũng đồng thời mất theo" [64, tr 624]

Để giải quyết vấn đề dân tộc phải luôn gắn với vấn đề giai cấp, chỉ

có đấu tranh thủ tiêu giai cấp, mới xóa bỏ được nạn người bóc lột người vàtình trạng áp bức dân tộc Ph Ăng-ghen kết luận, công nhân tất cả các nướcđều giống nhau, lợi ích của họ thống nhất, kẻ thù của họ cũng giống nhau,cho nên họ cần hiệp lực đấu tranh chung và xây dựng khối liên minh côngnhân tất cả các dân tộc đối lập với liên minh GCTS các dân tộc

Tư tưởng đoàn kết GCCN toàn thế giới, đấu tranh chống áp bức bóclột, thủ tiêu chế độ TBCN đi đến thủ tiêu giai cấp, thủ tiêu tình trạng người

Trang 18

bóc lột người vừa là nguyên tắc lý luận, đồng thời cũng là nền tảng củaCSDT mácxít của GCCN trong cuộc đấu tranh chống GCTS Điều đó thểhiện tập trung thái độ chính trị của những người cộng sản, thái độ củaGCCN nói chung trong cuộc đấu tranh giai cấp nhằm đánh đổ CNTB.Quan điểm đó cũng chỉ rõ phương hướng chiến lược, và giải pháp cơ bảntập hợp lực lượng GCCN tất cả các dân tộc đấu tranh chống ách áp bức, nôdịch đang đè nặng trên đầu họ

Phong trào cách mạng của GCCN ngày càng phát triển mạnh mẽ vàrộng khắp, đòi hỏi các Đảng Cộng sản cũng phải xây dựng CSDT cho phùhợp với từng giai đoạn của cuộc đấu tranh giai cấp quyết liệt đó

Những quan điểm của Mác và Ăng-ghen nêu trên được coi là cươnglĩnh đầu tiên, là nguyên tắc lý luận và kim chỉ nam cho hành động của cácĐảng Cộng sản giải quyết vấn đề dân tộc Quan điểm đó thể hiện ở ba vấn

đề cơ bản như sau:

Thứ nhất: Chế độ sở hữu tư nhân TBCN là cơ sở sinh ra nạn người

bóc lột người; cơ sở duy trì và dung dưỡng nạn áp bức giai cấp và áp bứcdân tộc của GCTS đối với GCVS và các dân tộc

Thứ hai: Tình trạng áp bức giai cấp sẽ phát triển cùng với sự phát

triển của CNTB Sản xuất TBCN càng đẩy mạnh thì nạn bóc lột và áp bứcgiai cấp, áp bức dân tộc càng nặng nề Vì vậy, muốn xóa bỏ nạn áp bức giaicấp, tình trạng dân tộc này đi nô dịch, bóc lột dân tộc khác thì phải xóa bỏtận gốc chế độ sở hữu tư nhân TBCN, cơ sở kinh tế - xã hội sinh ra nạn ápbức giai cấp, nạn nô dịch dân tộc

Thứ ba: Cuộc đấu tranh giai cấp của GCVS chống lại GCTS trong xã

hội TBCN, tuy không phải là cuộc đấu tranh dân tộc, nhưng lúc đầu manghình thức đấu tranh dân tộc Do vậy, trước hết GCVS phải giành lấy chínhquyền, phải tự mình trở thành dân tộc

Trang 19

Cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX hầu hết các nước tư bảnphương Tây đều đã chuyển sang thời kỳ đế quốc chủ nghĩa Tình trạng một

số nước đế quốc đi áp bức nô dịch các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc trởthành phổ biến trên thế giới Khi nghiên cứu và giải quyết vấn đề dân tộc,

V.I Lê-nin đã phát hiện hai xu hướng có tính quy luật của phong trào dân

tộc Người cho rằng:

Quá trình phát triển của chủ nghĩa tư bản, có hai xu hướnglịch sử trong vấn đề dân tộc Xu hướng thứ nhất là: sự thức tỉnhcủa đời sống dân tộc và của các phong trào dân tộc, cuộc đấu tranhchống mọi ách áp bức dân tộc, việc thiết lập các quốc gia dân tộc

Xu hướng thứ hai là: việc phát triển và tăng cường đủ mọi thứquan hệ giữa các dân tộc, việc xóa bỏ những hàng rào ngăn cáchcác dân tộc và việc thiết lập sự thống nhất quốc tế của tư bản, củađời sống kinh tế nói chung, của chính trị, của khoa học v.v

Cương lĩnh dân tộc của những người mácxít chú ý đến cảhai xu hướng đó [60, tr 158]

Xuất phát từ quan điểm khoa học, luận chứng về vấn đề dân tộc nhưvậy, Lê-nin đề ra Cương lĩnh dân tộc của các Đảng Cộng sản, đó chính làlinh hồn và nội dung cơ bản của CSDT "Các dân tộc hoàn toàn bình đẳng;các dân tộc được quyền tự quyết; liên hợp công nhân tất cả các dân tộc lại:

đó là cương lĩnh dân tộc mà chủ nghĩa Mác, kinh nghiệm toàn thế giới vàkinh nghiệm của nước Nga dạy cho công nhân" [61, tr 375] Đây chính là

tư tưởng chỉ đạo, nội dung cốt lõi của chủ nghĩa Mác - Lê-nin về CSDT

- Các dân tộc hoàn toàn bình đẳng:

Bình đẳng dân tộc là quyền của mọi dân tộc không phân biệt đa sốhay thiểu số, trình độ kinh tế, văn hóa cao hay thấp, không phân biệt chủngtộc, mầu da Quyền bình đẳng giữa các dân tộc bao gồm tất cả các lĩnh

Trang 20

vực trong đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội Đây cũng là cơ sởpháp lý chung giải quyết các quan hệ dân tộc trên thế giới, trong các khuvực hay trong một quốc gia Bởi điều đó được công pháp quốc tế và phápluật các quốc gia ghi nhận Bình đẳng giữa các dân tộc cũng chính là kếtquả đấu tranh của nhân dân lao động các nước là thành quả của văn hóavăn minh và tiến bộ xã hội.

Theo Lê-nin: "Nguyên tắc bình đẳng hoàn toàn gắn liền chặt chẽvới việc đảm bảo quyền lợi của các dân tộc thiểu số bất cứ một thứ đặcquyền nào dành riêng cho một dân tộc, và bất cứ một một sự vi phạm nàođến quyền lợi của một dân tộc thiểu số, đều bị bác bỏ" [60, tr 179]

Bình đẳng dân tộc phải được thể hiện trong nội dung kinh tế haybình đẳng về kinh tế Lợi ích kinh tế gắn liền với lợi ích giai cấp, dân tộc,quốc gia, bởi vậy giải quyết các mối quan hệ liên quan đến dân tộc, đềuphải tính đến quan hệ kinh tế, lợi ích kinh tế Bất cứ sự áp đặt nào tronghợp tác, giao lưu, liên kết, bất kỳ đặc quyền kinh tế nào dành riêng cho cácdân tộc, đều dẫn đến việc vi phạm lợi ích của các dân tộc, dẫn đến sự bấtbình đẳng dân tộc Ngày nay, trong xu thế giao lưu, liên kết, hợp tác quốc

tế về kinh tế giữa các dân tộc, bình đẳng trên phương diện kinh tế là tạođiều kiện thực hiện tốt nguyên tắc bình đẳng, hợp tác cùng có lợi trong pháttriển kinh tế của các dân tộc, các quốc gia

Bình đẳng chính trị cũng là quyền của mỗi dân tộc Đối với các dântộc bị áp bức, bị lệ thuộc, đấu tranh giành quyền bình đẳng về chính trị,chính là điều kiện để có bình đẳng trên các phương diện khác của đời sống

xã hội Lê-nin cũng nêu rõ vấn đề bình đẳng về chính trị liên quan đếnquyền tự quyết của các dân tộc Nhận thức và giải quyết đúng vấn đề bìnhđẳng chính trị và quyền tự quyết trong các quốc gia cụ thể, nhất là các quốcgia đa dân tộc là vấn đề đặc biệt quan trọng đối với GCVS và những người

Trang 21

mácxít chân chính trong thực hiện nhiệm vụ chính trị của mình Để thựchiện bình đẳng về chính trị, những người mácxít phải đấu tranh khôngkhoan nhượng chống chủ nghĩa dân tộc dưới mọi mầu sắc Lê-nin chỉ rõ:

"Chủ nghĩa Mác không thể điều hòa được với chủ nghĩa dân tộc, dù là chủnghĩa dân tộc "công bằng", "thuần khiết", tinh vi và văn minh đến đâu đinữa [60, tr 167]

Bình đẳng trên lĩnh vực văn hóa - xã hội có tầm quan trọng đặcbiệt và liên quan đến nhiều yếu tố dân tộc Cương lĩnh về vấn đề dân tộc doLê-nin soạn thảo đã vạch trần mưu đồ chính trị của những kẻ cơ hội khinêu khẩu hiệu "tự trị dân tộc về văn hóa" Lê-nin chỉ rõ rằng: đòi "tự trị dântộc về văn hóa" chính là biểu hiện của chủ nghĩa dân tộc tinh vi nhất, độchại nhất - thứ chủ nghĩa này là hệ tư tưởng của GCTS, hoàn toàn thù địchvới chủ nghĩa Mác Lê-nin khẳng định:

Đối với những người mácxít, vấn đề khẩu hiệu "văn hóadân tộc" có một ý nghĩa to lớn, chẳng những vì nó xác định nộidung tư tưởng của toàn bộ công tác tuyên truyền và cổ động củachúng ta về vấn đề dân tộc, là công tác khác với công tác tuyêntruyền tư sản, mà còn vì toàn bộ cái cương lĩnh về tự trị dân tộc

về văn hóa trứ danh đều dựa trên khẩu hiệu đó [60, tr 166]

Vấn đề bình đẳng trong văn hóa xã hội phải luôn luôn gắn liền vớibình đẳng về kinh tế, chính trị Đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội và cáchình thức tinh vi xảo quyệt của chủ nghĩa dân tộc núp dưới chiêu bài "tự trịdân tộc về văn hóa" hoặc đấu tranh cho mọi sự phát triển dân tộc cho "nềnvăn hóa dân tộc" là xác định đúng quan hệ giữa kinh tế, chính trị và vănhóa trong xã hội tư bản chống các chiêu bài mị dân thông qua khẩu hiệu đòi

"tự trị dân tộc về văn hóa" Lênin viết: "Tách lĩnh vực trường học riêng ra, trước hết đó là một điều không tưởng phi lý, vì không thể nào tách trường

Trang 22

-học (cũng như "văn hóa dân tộc" nói chung) ra khỏi kinh tế và chính trịđược".

- Các dân tộc đều có quyền tự quyết

Mỗi một dân tộc đều có quyền tự quyết định, quyền tự chủ đối vớivận mệnh của dân tộc mình Quyền tự quyết bao gồm: Tự quyết định vềchính trị - xã hội và con đường phát triển của dân tộc mình Quyền tự quyếtcũng được thể hiện ở quyền tự do phân lập thành quốc gia độc lập hayquyền tự nguyện liên hiệp lại của các dân tộc trên cơ sở bình đẳng, cùng cólợi và đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng của nhân dân các dân tộc vì mục tiêuphát triển hòa bình, phồn vinh và hữu nghị

Trang 23

Khẳng định lập trường của mình về vấn đề quyền dân tộc tự quyết, Lê-nin nhấn mạnh, các đảng XHCN chân chính không được làm đồi bại ý

thức của GCVS, không được làm lu mờ đấu tranh giai cấp, không được

dùng những lời nói dân chủ tư sản sáo rỗng để mê hoặc GCCN, không

được phá hoại sự thống nhất trong cuộc đấu tranh chính trị hiện nay của

GCVS Chỉ với điều kiện ấy, chúng ta mới thừa nhận quyền dân tộc tự

quyết Toàn bộ thực chất của vấn đề chính là ở trong điều kiện ấy

Năm 1913, GCTS, các chính phủ tư sản ở châu Âu ráo riết chuẩn bịlực lượng để phát động cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất Thực chấtđây là cuộc chiến tranh giành giật thị trường và phân chia quyền lực giữacác tập đoàn đế quốc phản động nhất thế giới lúc đó Vấn đề dân tộc lạiđược chúng triệt để lợi dụng nhằm kích động chia rẽ, gây mâu thuẫn, khoétsâu sự thù hận giữa các dân tộc Vấn đề dân tộc tự quyết bị xuyên tạc, bópméo Các lãnh tụ nổi tiếng trong Quốc tế II đã sa vào lập trường "dân tộcchủ nghĩa" và tuyên truyền cho khẩu hiệu "bảo vệ tổ quốc" của các Nhànước tư sản Đúng như Lê-nin nhận định: Sự hoành hành của chủ nghĩa dântộc Trăm đen, sự phát triển của những xu hướng dân tộc chủ nghĩa trongGCTS tự do chủ nghĩa, sự lớn mạnh lên của những xu hướng dân tộc chủnghĩa trong những tầng lớp trên của các dân tộc bị áp bức, tất cả nhữngđiều kiện ấy đang làm cho vấn đề dân tộc trở thành một vấn đề nổi bật

Trang 24

Trong bối cảnh đó, V.I Lê-nin triệu tập Hội nghị Ban chấp hànhTrung ương Đảng Công nhân - dân chủ - xã hội Nga vào mùa hè năm 1913.Tại Hội nghị, vấn đề dân tộc được coi là một trong những vấn đề chính trịnổi bật trong sinh hoạt xã hội của Nước Nga, và là chủ đề có tính trọng tâmcủa chương trình nghị sự Lê-nin trình bày bản báo cáo quan trọng về vấn

đề dân tộc và được Hội nghị tán thành thông qua, trở thành Nghị quyết vềvấn đề dân tộc Người khẳng định rằng: "Không thể giải thích cái điều khoảntrong cương lĩnh của chúng ta (về quyền dân tộc tự quyết) một cách nào khác

hơn là quyền tự quyết về chính trị, nghĩa là quyền tách ra và thành lập một

quốc gia độc lập" [59, tr 395] Lê-nin nhấn mạnh cương lĩnh dân tộc của pháidân chủ công nhân là: hoàn toàn xóa bỏ mọi đặc quyền của bất cứ dân tộcnào, dùng biện pháp hoàn toàn tự do, dân chủ để giải quyết vấn đề tự quyết

về chính trị của các dân tộc Đó là quyền lập quốc gia, ban bố đạo luật củanhà nước, trong đó cấm trao bất cứ đặc quyền gì cho một dân tộc, mà vi phạmquyền bình đẳng giữa các dân tộc hay vi phạm quyền của các dân tộc thiểu số

Nhiệm vụ tuyệt đối của những người mácxít là bảo vệ chủ nghĩadân chủ kiên quyết nhất và triệt để nhất trong mọi mặt của vấn đề dân tộc.Lật đổ mọi ách áp bức phong kiến, mọi ách áp bức dân tộc, mọi đặc quyềncho một dân tộc nào đó hoặc cho một ngôn ngữ nào đó, là nhiệm vụ tuyệtđối của GCVS, với tư cách là một lực lượng dân chủ; đó là lợi ích tuyệt đốicủa cuộc đấu tranh giai cấp của GCVS chống lại GCTS Song cuộc đấutranh này đang bị sự phân tranh dân tộc làm lu mờ và trì hoãn GCVSkhông thể tán thành bất cứ một sự thừa nhận nào đối với chủ nghĩa dân tộc;trái lại GCVS tán thành bất cứ cái gì giúp vào việc xóa bỏ sự phân biệt dântộc, vào việc phá hủy những hàng rào ngăn cách giữa các dân tộc; tán thànhbất cứ cái gì làm cho mối liên hệ giữa các dân tộc ngày càng mật thiết, bất

cứ cái gì dẫn đến sự hợp nhất giữa các dân tộc V.I Lê-nin đã phân tích vàkết luận:

Trang 25

Nguyên tắc của chủ nghĩa dân tộc tư sản là sự phát triểndân tộc nói chung, do đó mà sinh ra tính đặc biệt của chủ nghĩadân tộc tư sản, những cuộc xung đột dân tộc không có lối thoát.Còn cộng sản chủ nghĩa thì không những không bảo vệ sự pháttriển dân tộc của mọi dân tộc, mà trái lại nó đề phòng cho quầnchúng khỏi mắc những ảo tưởng như thế, nó chủ trương để cholưu thông tư bản chủ nghĩa được tự do đầy đủ nhất, và hoan nghênhmọi sự đồng hóa dân tộc, trừ sự đồng hóa bằng bạo lực hoặc dựatrên những đặc quyền [60, tr 169]

Chiến tranh thế giới thứ nhất bùng nổ, các tập đoàn đế quốc đã thựchiện cuộc đấu tranh giành quyền lợi Một mặt, bản chất phản động hiếuchiến của các chính phủ tư sản được bộc lộ; mặt khác, bản chất ích kỷ giảnhân giả nghĩa của GCTS cũng được phơi bày Để đạt được mục đích giànhgiật thị trường, giành quyền chi phối các lợi ích quốc tế, các tập đoànTBCN đã không từ một thủ đoạn bỉ ổi nào lừa bịp, lôi kéo quần chúng vàovòng xoáy lốc chiến tranh phi nghĩa Tránh cho GCCN không bị mắc lừaGCTS và bọn cơ hội chủ nghĩa, năm 1915, khi viết tác phẩm "Giai cấp vôsản cách mạng và quyền dân tộc tự quyết" Lê-nin đã chỉ rõ:

Chủ nghĩa đế quốc là sự áp bức ngày càng tăng của một dúm

cường quốc lớn đối với các dân tộc trên thế giới, là thời đạinhững cuộc chiến tranh giữa các cường quốc lớn ấy để mở rộng vàcủng cố ách áp bức đó đối với các dân tộc, là thời đại mà quầnchúng nhân dân bị lừa phỉnh bởi bọn xã hội - ái quốc giả nhân giả

nghĩa, tức là những kẻ vin vào "quyền tự do dân tộc", vào "quyền

dân tộc tự quyết" và vào chủ trương "bảo vệ tổ quốc" để biện hộ vàbênh vực cho việc những cường quốc lớn đi nô dịch đa số các dântộc trên thế giới

Trang 26

Vì thế nên trọng tâm của cương lĩnh dân chủ - xã hội phải

là vấn đề phân chia các dân tộc thành những dân tộc đi áp bức vànhững dân tộc bị áp bức [62, tr 79-80]

Chính chủ nghĩa đế quốc đã gây ra tình trạng các cường quốc lớn

đi áp bức các dân tộc trở thành hiện tượng phổ biến trên thế giới Cương

lĩnh dân tộc của các đảng dân chủ - xã hội cần thiết phải đưa ra quan điểmđấu tranh chống chủ nghĩa sô vanh của các cường quốc lớn hiện đang tiếnhành chiến tranh đế quốc chủ nghĩa, nhằm củng cố ách áp bức GCCN và ápbức phần lớn các dân tộc trên thế giới Điều đó đòi hỏi những người mácxítphải ủng hộ quyền dân tộc tự quyết trên thực tế, nghĩa là phải đòi quyền tự

do phân lập cho các dân tộc bị áp bức Chính Lê-nin đã giải thích rõ điềunày:

Chúng tôi đòi quyền tự do tự quyết, nghĩa là đòi quyền độc lập, nghĩa là đòi quyền tự do phân lập cho những dân tộc bị áp bức,

như thế không phải là vì chúng tôi mơ tưởng xé nhỏ ra vềphương diện kinh tế hay mơ tưởng thành lập những nước nhỏ bé,

mà ngược lại, vì chúng tôi muốn có những nước lớn, chúng tôimuốn cho các dân tộc gần lại với nhau và thậm chí hợp nhất vớinhau nhưng trên một cơ sở thực sự dân chủ, thực sự quốc tế chủ

nghĩa, cơ sở này không thể có được nếu không có quyền tự do

phân lập [62, tr 86]

Trang 27

Đầu năm 1916, khi viết tác phẩm: "Cách mạng xã hội chủ nghĩa vàquyền dân tộc tự quyết", Lê-nin tiếp tục phát triển lý luận của mình trênphương diện này Đề cập đến vấn đề: chủ nghĩa đế quốc, CNXH và việc giảiphóng các dân tộc bị áp bức, người cho rằng: CNXH thắng lợi nhất thiếtphải thực hiện chế độ dân chủ hoàn toàn, do đó làm cho các dân tộc hoàntoàn bình quyền với nhau; thực hành quyền tự quyết của các dân tộc bị ápbức, tức là quyền tự do phân lập về mặt chính trị Cả hiện nay lẫn trongthời kỳ cách mạng, và sau khi cách mạng thắng lợi, các đảng XHCN nào

mà không chứng minh bằng toàn bộ hoạt động của mình rằng họ sẽ giảiphóng các dân tộc bị nô dịch và sẽ xây dựng những quan hệ của mình vớicác dân tộc đó trên cơ sở liên minh tự do - và liên minh tự do sẽ là lời dốitrá nếu nó không bao hàm quyền tự do phân lập - thì các đảng đó sẽ phảnbội CNXH

Phân tích ý nghĩa về quyền tự quyết và quan hệ của nó với chế độliên bang, Lê-nin cho rằng:

Quyền dân tộc tự quyết hoàn toàn chỉ có nghĩa là các dântộc có quyền độc lập chính trị, có quyền tự do phân lập, về mặtchính trị, khỏi dân tộc áp bức họ Nói một cách cụ thể, yêu sách đòidân chủ chính trị đó có nghĩa là hoàn toàn tự do tuyên truyền choviệc phân lập và có nghĩa là giải quyết vấn đề phân lập bằng conđường trưng cầu ý dân trong dân tộc muốn phân lập Như vậy làyêu sách đó hoàn toàn không đồng nghĩa với yêu sách đòi phân lập,phân tán, thành lập những quốc gia nhỏ Nó chỉ là biểu hiện triệt đểcủa cuộc đấu tranh chống mọi áp bức dân tộc [62, tr 327]

- Đoàn kết giai cấp công nhân các dân tộc

Để thực hiện tốt quyền bình đẳng và quyền tự quyết, cần phải đoànkết GCCN các dân tộc, các quốc gia Đoàn kết GCCN các dân tộc chính làđoàn kết gắn bó lực lượng nòng cốt của phong trào đấu tranh cho tiến bộ,

Trang 28

hòa bình và phát triển Với bản chất quốc tế và những ưu điểm vốn có,GCCN các dân tộc vừa đại diện cho lợi ích nguyện vọng của GCCN nóichung vừa đại diện cho lợi ích của nhân dân lao động và lợi ích các dântộc Đoàn kết GCCN các dân tộc cũng chính là kết hợp hài hòa giữa chủnghĩa yêu nước chân chính với tinh thần quốc tế cao cả của GCCN cácnước, là lực lượng trung tâm của phong trào đấu tranh cho độc lập dân tộc,cho hòa bình, tiến bộ và phồn vinh của nhân loại.

Trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc, chống chủ nghĩadân tộc hẹp hòi, sô vanh, GCCN các dân tộc cần liên hợp lại Vì lợi ích, vìmục đích chung, Lê-nin chỉ rõ:

Lợi ích của giai cấp công nhân đòi hỏi công nhân thuộctất cả các dân tộc ở trong một nước nhất định phải hợp nhất lạitrong các tổ chức vô sản thống nhất, như tổ chức chính trị, côngđoàn, hợp tác - giáo dục, v.v Công nhân thuộc các dân tộc khácnhau có hợp nhất lại trong những tổ chức thống nhất như thế, thìgiai cấp vô sản mới có thể tiến hành được một cuộc chiến đấuthắng lợi chống tư bản quốc tế và thế lực phản động, cũng nhưchống sự tuyên truyền và những mưu toan của bọn địa chủ, cha

cố và bọn dân tộc chủ nghĩa tư sản thuộc tất cả các dân tộc; bọnnày thường tiến hành những mưu toan chống vô sản của chúngdưới ngọn cờ "văn hóa dân tộc" [60, tr 77]

Do bản chất quốc tế và sứ mệnh lịch sử thế giới của GCCN là tiêudiệt CNTB, xây dựng CNXH, do đó, đoàn kết GCCN các dân tộc, thựchiện những nhiệm vụ của cuộc đấu tranh giai cấp của mình là thiết thựctiêu diệt mọi áp bức dân tộc, mọi đặc quyền đặc lợi dân tộc Quan điểm củaLê-nin là:

Lật đổ mọi ách áp bức phong kiến, mọi ách áp bức dân tộc,mọi đặc quyền cho một dân tộc nào đó hoặc cho một ngôn ngữ

Trang 29

nào đó, đó là nhiệm vụ tuyệt đối của giai cấp vô sản, với tư cách

là một lực lượng dân chủ, đó là lợi ích tuyệt đối của cuộc đấutranh giai cấp của giai cấp vô sản, cuộc đấu tranh đang bị những

sự phân tranh dân tộc làm lu mờ đi và trì hoãn lại [60, tr 168].Cương lĩnh về vấn đề dân tộc của Lê-nin quán triệt rất sâu sắc, rất

cụ thể quan hệ giữa dân tộc và giai cấp, dân tộc và quốc tế trên phạm vitoàn thế giới, trong mỗi quốc gia cũng như trong từng dân tộc Đoàn kếtGCCN tất cả các dân tộc chính là tạo điều kiện giải quyết bình đẳng vàquyền dân tộc tự quyết trên thực tế Những quan điểm về vấn đề dân tộc vàgiải quyết các quan hệ dân tộc được Lê-nin khái quát thành Cương lĩnhchung cho các đảng mácxít, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn vô cùng to lớn

Bình đẳng, đoàn kết thực hiện quyền tự quyết là những nội dungchính giúp các đảng mácxít chân chính vận dụng vào hoàn cảnh nướcmình, cụ thể hóa thành CSDT

1.3 Dân tộc và chính sách dân tộc ở việt nam

1.3.1 Dân tộc ở Việt Nam

Trang 30

Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc,bao gồm 54 dân tộc anh em.

Sự hình thành và phát triển cộng đồng các dân tộc Việt Nam từ rất sớm trên

cơ sở quy tụ, hòa hợp những dân tộc bản địa với các dân tộc từ nơi khác

đến cùng chung sống trên một vùng lãnh thổ Vì vậy sự hình thành và phát

triển của dân tộc Việt Nam có những đặc điểm riêng, không hoàn toàn giống như quá trình hình thành và phát triển của các dân tộc ở phương Tây Do nhiều yếu tố đặc thù, dân tộc Việt Nam hình thành sớm từ chế độ phong kiến, không đợi đến CNTB ra đời mới hình thành dân tộc Sự hình thành và phát triển dân tộc Việt Nam gắn liền với quá trình dựng nước và giữ nước.

Trong lịch sử, cộng đồng các dân tộc Việt Nam, buổi ban đầu đượcxây dựng trên cái nôi vững chắc là vùng trung du và đồng bằng Bắc Bộ,Bắc Trung Bộ Qua rèn luyện, thử thách trong quá trình dựng nước và giữnước, cộng đồng các dân tộc Việt Nam ngày càng lớn mạnh, gắn bó bềnchặt hơn Đặc biệt từ khi Nhà nước phong kiến trung ương tập quyền ĐạiViệt ra đời (bắt đầu từ thời Lý - Trần), tính thống nhất, xu thế đoàn kết, hòahợp dân tộc ngày càng được khẳng định vững chắc Đó cũng là tính quyluật của quá trình đi tới tương lai của dân tộc Việt Nam Xu thế không chấpnhận tình trạng chia cắt, cát cứ của các thế lực phong kiến cực đoan dườngnhư là tất yếu Trong bài nói nhân dịp kỷ niệm 80 năm ngày sinh Chủ tịch

Hồ Chí Minh, cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã khẳng định:

Dân tộc ta đã hình thành rất sớm và đã trở thành một quốc gia dân tộc thống nhất ngay dưới chế độ phong kiến, khác

hẳn với nhiều nước ở châu Âu, phải chờ đến khi xuất hiện chủ

nghĩa tư bản mới diễn ra quá trình hình thành dân tộc và quốc gia thống nhất [44, tr 27]

Dân tộc Việt Nam vừa mang những yếu tố chung của các dân tộctrên thế giới, vừa có những đặc điểm chủ yếu sau:

Trang 31

Một là: Dân tộc Việt Nam đã phát triển từ các hình thái kinh tế - xã hội trước CNTB; là dân tộc tiền tư bản

Chế độ công xã nguyên thủy là hình thái kinh tế - xã hội đầu tiên cótính tất yếu và phổ biến trong lịch sử loài người ở Việt Nam hình thái đó

đã tồn tại hàng chục vạn năm Sau chế độ công xã nguyên thủy, Việt Namchuyển sang xã hội có giai cấp với những đặc điểm của xã hội phươngĐông Công xã nông thôn với quyền sở hữu toàn bộ ruộng đất là cơ sở xãhội phổ biến và bền vững Thành viên công xã là lực lượng sản xuất chủyếu, quan hệ bóc lột nô lệ xuất hiện, phát triển dưới dạng chế độ nô lệ giatrưởng và không hề chiếm địa vị chủ đạo trong xã hội Việt Nam Đặc điểmquan trọng của lịch sử Việt Nam là không trải qua thời kỳ phát triển củachế độ chiếm hữu nô lệ điển hình nên đã không ảnh hưởng sâu sắc đến quátrình hình thành dân tộc Việt Nam

Từ thế kỷ thứ X, Việt Nam bước vào thời kỳ độc lập tự chủ Công

xã nông thôn vẫn tồn tại phổ biến với quyền sở hữu trên thực tế đại bộ phậnruộng đất và quyền tự quản khá lớn Nhà nước trung ương tập quyền sớmhình thành và là người chủ sở hữu tối cao về ruộng đất, bóc lột tô thuế vàlao dịch đối với các làng xã Bên cạnh đó, chế độ tư hữu ruộng đất ra đời vàngày càng phát triển, dẫn đến sự ra đời tầng lớp địa chủ và tầng lớp tiểu nông

Từ thế kỷ XV, chế độ phong kiến thúc đẩy sự gia tăng mạnh mẽ chế

độ tư hữu ruộng đất Nền kinh tế địa chủ và kinh tế tiểu nông làm cho quátrình phong kiến hóa sâu sắc cơ cấu công xã nông thôn Vào đầu thế kỷXIX các loại đất công của làng, xã chỉ còn dưới 20% trong lúc đó đất tư đãchiếm tới 80%

Như vậy, chế độ phong kiến Việt Nam hình thành và phát triển trên

cơ sở kết cấu kinh tế - xã hội kiểu phương Đông Trong chế độ đó không cógiai đoạn phát triển kinh tế lãnh địa với quan hệ lãnh chúa - nông nô, không

có tình trạng cát cứ kiểu hầu quốc, công quốc Xu hướng cát cứ dựa trên

Trang 32

nền tảng kinh tế tự nhiên và lợi ích của một số thổ hào, tù trưởng địaphương có lúc xảy ra như loạn 12 sứ quân thời Ngô, cuộc tranh chấp củamột số thổ hào thời Lý, nhưng nhanh chóng bị dẹp tan Chế độ trung ươngtập quyền và quốc gia thống nhất sớm được xác lập và củng cố vững vàng

Việt Nam không trải qua thời kỳ phát triển của chế độ chiếm hữu

nô lệ Chế độ phong kiến Việt Nam là chế độ phong kiến trung ương tập

quyền có những đặc thù khác với chế độ phong kiến phương Tây là chế độ phong kiến phân quyền đã tạo ra những yếu tố thuận lợi cho việc sớm hình

thành dân tộc Việt Nam:

Do yêu cầu của cuộc đấu tranh để chinh phục thiên nhiên, phát triển nông nghiệp trồng lúa nước, đòi hỏi các cư dân phải cố kết với nhau.

Dân tộc Việt Nam từ nghìn đời nay sống bằng nghề trồng lúa nước Đây là

nghề bị thiên nhiên chi phối nghiệt ngã ngay cả trong xã hội hiện đại Vì thế con người phải sớm cố kết lại đối chọi với thiên tai Công cuộc chinh

phục thiên nhiên phát triển nông nghiệp đòi hỏi các thành viên trong cộng đồng sớm quần tụ lại trong làng, xã, để tồn tại phát triển Nhiều làng, xã tập hợp lại trong một cộng đồng lớn hơn là nước, quốc gia với cơ cấu nhà nước trung ương tập quyền có khả năng xây dựng và quản lý các công trình thủy lợi, trị thủy lớn phục vụ sản xuất, đời sống

Cộng đồng các dân tộc Việt Nam từ xa xưa đã biết đắp đê, làm thủylợi để canh nông Đến thế kỷ X, đặc biệt từ thế kỷ XI - XV dưới các Triều Lý,Trần, Lê, công việc đắp đê, làm thủy lợi được tiến hành trên quy mô lớn.Cùng với hệ thống đê sông được xây đắp vững chắc, còn có đê biển ngănnước mặn để khai thác vùng đất bồi ven biển Hàng năm việc bảo vệ và tu sửa

đê điều trở thành trách nhiệm của toàn dân và là một chức năng quan trọngcủa chính quyền Trong bộ máy nhà nước, từ đời Trần đã thiết lập cơ quanchuyên trách về đê điều như "Hà đê sứ" và chuyên về khẩn hoang như "Đồnđiền sứ"

Trang 33

ở miền núi và vùng đồng bào dân tộc thiểu số, đại bộ phận là trồngtrọt ở các nương rẫy, săn bắn và hái lượm Để duy trì cuộc sống, đồng bàodân tộc thiểu số đã cùng hợp sức nhau lại chống chọi với thú dữ, với thiêntai, làm mương tưới và tiêu nước cho cây trồng

Như vậy, một cách khách quan từ trong sản xuất, con người muốntồn tại, phát triển đã nảy sinh yêu cầu thúc đẩy sự liên kết dân cư trongcông xã nông thôn và trong cộng đồng quốc gia phong kiến tập quyền

Yêu cầu chống ngoại xâm và bảo vệ độc lập dân tộc là yếu tố khách quan sớm gắn kết các thành viên trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam

Chống ngoại xâm, không phải là đặc điểm riêng có của bất cứ quốcgia, dân tộc nào Trong lịch sử tồn tại của mình, các nước trên thế giới ít nhiềuđều phải chiến đấu chống giặc ngoại xâm, bảo vệ độc lập chủ quyền quốc giadân tộc Nhưng trên thế giới hiếm thấy một nước nào lại phải chống giặcngoại xâm triền miên trong những điều kiện khó khăn như Việt Nam Từkhi lập nước đến nay, Việt Nam liên tiếp phải đương đầu với các thế lựcngoại xâm Chỉ tính từ thế kỷ III trước công nguyên đến 1975 trong vòng 22thế kỷ, Việt Nam đã phải tiến hành gần như liên tiếp 15 cuộc kháng chiến giữnước và hơn một trăm cuộc khởi nghĩa giành độc lập Thời gian chốngngoại xâm đã lên đến 12 thế kỷ, chiếm quá nửa thời gian lịch sử nước tatrong giai đoạn đó

Đối với nhiều nước, nhân tố chống ngoại xâm chỉ tác động ở mộtthời điểm nhất định, là nhân tố nhất thời Với Việt Nam, nạn ngoại xâm gầnnhư là mối đe dọa thường xuyên Bởi vì Việt Nam là một nước nhỏ tồn tạibên cạnh một đế chế khổng lồ mà giai cấp cầm quyền ở đây luôn mang thamvọng bành trướng Đồng thời, Việt Nam lại có vị trí chiến lược rất quan trọngđối với khu vực Đông Nam á Muốn làm chủ khu vực này, Việt Nam là mụctiêu quan trọng hàng đầu, chiếm được Việt Nam sẽ tạo bàn đạp chiến lược để

Trang 34

tiến sâu vào lục địa và tỏa khắp vùng đông nam châu á, cùng các miền biển

đảo trong khu vực Cho nên dựng nước đi đôi với giữ nước là một đặc

điểm xuyên suốt chiều dài lịch sử Việt Nam Điều đó đã tác động đến mọi

mặt của đời sống xã hội và tiến trình lịch sử hình thành dân tộc Việt Nam

Do yêu cầu chinh phục thiên nhiên và chống giặc ngoại xâm đòi hỏi

sự gắn kết giữa các thành viên trong cộng đồng, các đơn vị làng xã vớinhau trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội nên đặc điểm nổi bật của kết

cấu cổ truyền công xã nông thôn Việt Nam là Nhà gắn với Làng, với

(công xã nông thôn)

Trang 35

- Hai là: Các dân tộc trên đất nước ta đoàn kết cùng nhau làm chủ

Tổ quốc của mình Điều đó đã trở thành đặc điểm nổi bật trong quan hệ giữa

các dân tộc ở Việt Nam

Trải qua hàng nghìn năm hình thành và phát triển với nhiều biến cốlịch sử, cư dân ở đây thường xuyên phải đấu tranh chống lại âm mưu thôntính và đồng hóa dân tộc của các thế lực bành trướng xâm lược từ bênngoài rất hùng mạnh Mặc dù vậy cộng đồng các dân tộc Việt Nam vẫn giữvững tính thống nhất dân tộc và bảo tồn được bản sắc, truyền thống vănhóa dân tộc Đó là truyền thống vô cùng quý báu của dân tộc Việt Namđược hun đúc qua hàng nghìn năm lịch sử đấu tranh kiên cường, dựng nước

và giữ nước

Trang 36

Các dân tộc sinh sống, cư trú trên Tổ quốc Việt Nam, không phânbiệt nguồn gốc lịch sử, đều tự ý thức được vai trò, trách nhiệm và nghĩa vụcủa mình đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ quê hương đất nước Trảiqua quá trình tồn tại và phát triển, biên giới quốc gia dân tộc Việt Nam dầndần được xác định và khẳng định vững chắc, trở thành lãnh thổ thiêng liêngcủa tất cả mọi người Việt Nam

Các dân tộc trên đất nước Việt Nam đều xuất phát từ một cội nguồnlịch sử như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: "Đồng bào Kinh hay Thổ,Mường hay Mán; Gia Rai hay Ê Đê, Xê Đăng hay Ba Na và các dân tộc thiểu

số khác, đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt Chúng ta sốngchết có nhau, sướng khổ cùng nhau, no đói giúp nhau" [67, tr 217]

Một quốc gia nhiều dân tộc như nước ta, có dân tộc đa số, có dân tộcthiểu số, có dân tộc cư trú lâu đời, có dân tộc tới muộn hơn, và dù khác biệt vềphong tục, tập quán, văn hóa nếp sống; khác nhau về điều kiện tự nhiên ở mỗivùng cư trú, mức sống và trình độ kinh tế vẫn còn chênh lệch, nhưng lại

có một lịch sử truyền thống đoàn kết thương yêu giúp đỡ lẫn nhau Đâychính là cội nguồn tạo nên sức mạnh vô địch đánh thắng mọi kẻ thù hunghãn nhất trên hành tinh này mỗi khi chúng đem quân xâm lược nước ta

Hoàn toàn có lý khi khẳng định rằng trong cộng đồng các dân tộcViệt Nam, người Kinh chiếm đa số, giữ vị trí trung tâm đoàn kết dân tộc,trước đây đã vậy, ngày nay càng như vậy Đảng, Nhà nước ta đặc biệt quantâm, chăm lo củng cố và phát huy truyền thống đoàn kết thống nhất trongcộng đồng các dân tộc Việt Nam, kiên quyết đập tan và đẩy lùi mọi biểuhiện của khuynh hướng phân ly, chia rẽ, mọi sự vi phạm truyền thống đoànkết giữa các dân tộc

Nhân dân các dân tộc ở nước ta qua thực tế cuộc sống hiểu rất rõ làcần phải đoàn kết để đấu tranh với mọi lực lượng thù địch giữ vững quyền

Trang 37

làm chủ và sự bình đẳng của mình Sự thống nhất biện chứng giữa bìnhđẳng, đoàn kết cùng làm chủ đã đem lại những lợi ích thiết thân cho mỗidân tộc cả về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội

Ba là: Các dân tộc ở nước ta sống xen kẽ với nhau, không có lãnh thổ riêng và xu hướng xen kẽ giữa các dân tộc ngày càng tăng

Quá trình hình thành và phát triển của dân tộc Việt Nam luôn chịu ảnh hưởng bởi những biến động lịch sử; luôn phải đấu tranh chống lại nạn ngoại xâm, khiến cho nhiều dân tộc không còn giữ được nguyên vẹn thiết chế xã hội ban đầu Các dân tộc ở miền núi phía Bắc, ở vùng cao Tây

Nguyên, vùng Trường Sơn, hầu như đều bị phân tán, cư trú xen kẽ trongcác tổ chức buôn, làng, bản (có tính chất như công xã nông thôn) Tuynhiên quan hệ dân tộc, bản sắc dân tộc vẫn khá bền vững đậm nét và sâusắc

Về mối quan hệ giữa các dân tộc trong cộng đồng các dân tộc ViệtNam, xuất hiện hiện tượng cư trú xen kẽ là thực tế phổ biến hiện nay Địabàn cư trú xen kẽ giữa các dân tộc không chỉ dừng ở cấp tỉnh mà xuống đếntận thôn, bản Nhiều xã miền núi chỉ thuần một dân tộc cư trú rất hiếmthấy Có những địa phương, có những dân tộc tuy cư trú xen kẽ nhưng vẫncòn giữ được tính chất tập trung theo vùng, nhưng cũng có những dân tộc

cư trú xen kẽ và hoàn toàn phân tán

Hình thái cư trú xen kẽ giữa các dân tộc thiểu số với nhau và xen kẽvới dân tộc Kinh, từ lâu đã trải rộng ra khắp các vùng đất nước Trong sựnghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và bảo vệ Tổ quốc hiện nay, việcphân bổ lại dân cư theo quy luật tất yếu khách quan, đã làm cho hình thái dân

cư xen kẽ giữa các dân tộc diễn ra ngày một nhanh chóng và ngày càng sâuđậm nổi bật Mặc dù ở một số vùng có sự cư trú tương đối đông của một dântộc nào đó, song không có một dân tộc thiểu số nào lại cư trú riêng biệt, tậptrung trên một địa bàn nhất định mà trải rộng trên nhiều vùng, nhiều đơn vịhành chính khác nhau Do đó, trong cùng một dân tộc cũng có sự chênh

Trang 38

lệch về kinh tế, văn hóa khác nhau, quyền lợi của họ gắn bó chủ yếu, mậtthiết với địa phương và nhân dân trong vùng đang cư trú

Chính quá trình phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phầngắn với cơ chế thị trường hiện nay, do nhu cầu phát triển văn hóa giáo dục,

do yêu cầu quốc phòng, an ninh càng đẩy nhanh tốc độ và hình thức xen

kẽ giữa các dân tộc ở nước ta

Từ sau 1975 đến nay và đặc biệt trong những năm gần đây, sự cómặt của dân tộc Kinh ở miền núi ngày càng đông đã đặt ra nhiều vấn đềmới cả mặt thuận và nghịch Quá trình cư trú xen kẽ, hòa thuận, tự nguyệntạo nên sự gần gũi, hòa hợp dân tộc một cách tự nhiên, dẫn đến sự giao lưuvăn hóa, tăng thêm kinh nghiệm sản xuất, đời sống của các dân tộc là mặtchủ yếu, cơ bản Song cũng do đặc điểm này mà việc giải quyết các vấn đềthuộc quan hệ dân tộc phải được thực hiện ngay từ làng, bản, xã, huyệntrên cơ sở bình đẳng, đoàn kết, tương trợ, phải thực sự tỷ mỷ, cụ thể vàthiết thực Thực tế phần lớn những người miền xuôi, đô thị đi xây dựngkinh tế mới ở miền núi chưa được chuẩn bị đầy đủ về nhận thức đúng nênbên cạnh những mặt tích cực vẫn còn nhiều mặt hạn chế phải khắc phụcuốn nắn, nếu không dễ nảy sinh những va chạm, xích mích trong quan hệdân tộc

Bốn là: Các dân tộc thiểu số ở Việt Nam chủ yếu cư trú trên các vùng rừng núi, biên giới, vùng sâu, vùng xa có vị trí quan trọng về kinh tế, chính trị, an ninh quốc phòng, môi trường sinh thái và gặp rất nhiều khó khăn

Đồng bào các dân tộc thiểu số ở nước ta, tuy số dân ít (chiếm khoảng13% dân số cả nước), nhưng lại cư trú phần lớn ở những nơi có vị trí chiếnlược quan trọng về kinh tế, quốc phòng, chính trị, an ninh đối ngoại vàchiếm 3/4 diện tích cả nước ở những vùng này, tiềm năng kinh tế rất lớnsong trình độ phát triển kinh tế, văn hóa lại thấp, các điều kiện tự nhiên và xãhội còn nhiều khó khăn Đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ, miền

Trang 39

núi chiếm một vị trí chiến lược về quốc phòng và kinh tế, là rừng vàng, núibạc của đất nước Để công nghiệp hóa đất nước không thể thiếu đất đai tàinguyên và những con người sống ở đó Người viết:

Miền núi và trung du là một khu vực rất quan trọng cả vềcông nghiệp và nông nghiệp Chúng ta phải làm cho miền núi vàtrung du thành một nơi giàu có về nông nghiệp để nâng cao hơnnữa đời sống của nhân dân, để thực hiện công nghiệp hóa xã hộichủ nghĩa nước nhà [71, tr 242-243]

Do đó, việc thực hiện CSDT đòi hỏi phải chú trọng đầu tư cho cáctỉnh biên giới, miền núi, vùng sâu, vùng xa một cách toàn diện được đặt trong

kế hoạch thống nhất của Nhà nước và tính toán trên cơ sở khoa học về quy

mô, tốc độ nhằm khơi dậy mọi nguồn lực của vùng này, góp phần nhanhchóng đưa nhân dân các dân tộc thiểu số tiến kịp trình độ chung

Năm là: Tình trạng còn chênh lệch về các mặt giữa các dân tộc ở nước ta là một thực tế và cũng là một đặc điểm đáng lưu ý

Do tính chất đa dạng về dân tộc và đa dạng về điều kiện thiênnhiên, khí hậu, đất đai, các bộ phận dân cư sống ở những vùng khác nhauchịu sự tác động về nhiều mặt bởi những điều kiện khó khăn, thuận lợikhác nhau nên trình độ phát triển các mặt của các dân tộc, các vùng cũngkhác nhau Đều là các dân tộc thiểu số, nhưng bộ phận dân cư ở gần đườnggiao thông, gần thị trấn, thị xã, các tụ điểm, trung tâm kinh tế, văn hóa,chính trị, có điều kiện thiên nhiên thuận lợi hơn thì bộ phận dân cư đó sẽphát triển nhanh hơn Ngược lại, bộ phận dân cư nào ở vùng núi cao, vùng

xa xôi hẻo lánh, khí hậu, khắc nghiệt, địa thế hiểm trở, đi lại khó khăn, đấtđai cằn cỗi, thì bộ phận dân cư ấy sẽ phát triển chậm, trình độ các mặtthấp hơn Cho nên sự chênh lệch về các mặt giữa các dân tộc ở nước tamang dấu ấn của sự đa dạng dân tộc và sự đa dạng của các vùng cư trú

Trang 40

Quá trình xây dựng, phát triển kinh tế là cơ sở và là chìa khóa đểgiải quyết mọi vấn đề về tình trạng chênh lệch hiện nay giữa các dân tộc.Phát triển kinh tế phải được xây dựng trên cơ sở khai thác có hiệu quả mọitiềm năng, thế mạnh của từng vùng, từng dân tộc

Mấy chục năm qua, công cuộc cải tạo và xây dựng kinh tế, xã hội,văn hóa các dân tộc thiểu số còn chậm Đồng bào các dân tộc thiểu số đilên CNXH ở xuất phát điểm rất thấp Họ vừa phải ổn định đời sống, địnhcanh định cư, cải tạo và xây dựng theo những mục tiêu kinh tế, xã hội cơbản, vừa tổ chức sản xuất theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, pháthuy thế mạnh tham gia vào phân công lao động chung của cả nước, khắcphục xóa bỏ những thói quen, sự lạc hậu trì trệ, phấn đấu thực hiện nângcao đời sống vật chất tinh thần

Trình độ học vấn của nhân dân các dân tộc thiểu số trong mấy chụcnăm qua tuy có những cố gắng, tiến bộ song vẫn còn ở mức thấp Các dântộc thiểu số, nhìn chung tỷ lệ mù chữ khá đông và số người có trình độ họcvấn cao lại rất ít Đặc biệt hiện nay một số dân tộc ở vùng sâu, vùng xa,vùng lũ lụt, vùng cao, số các cháu bỏ học rất nhiều; các cháu đến độ tuổi đihọc không đến trường cũng còn khá phổ biến

Sáu là: Kết cấu các dân tộc của cộng đồng các dân tộc Việt Nam phong phú đa dạng

Do nhiều nguyên nhân, nước ta là nơi tụ cư của nhiều dân tộc từ cácnơi khác đến sinh sống Có những cư dân là người bản địa đã cư trú ngay

từ những ngày đầu trên mảnh đất này Có những cư dân do điều kiện lịch

sử đã di cư từ nơi khác đến và lập nghiệp từ hàng ngàn năm trước và cũng

có những cư dân mới nhập cư vào nước ta vài trăm năm nay Để chốngchọi với thiên tai và giặc ngoại xâm, bảo vệ và xây dựng cuộc sống, cácdân tộc đã quần tụ bên nhau, hợp sức với nhau như anh em một nhà hìnhthành cộng đồng các dân tộc Việt Nam

Ngày đăng: 10/12/2016, 08:28

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
4. Ban Dân tộc - Hội đồng nhân dân tỉnh Bình Phước (11/1997), Báo cáo kết quả tình hình khảo sát (dùng để làm tư liệu) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả tình hình khảo sát
13.Lê Thạc Cán (Chủ nhiệm) (1992), Đào tạo đại học, trung học và dạy nghề cho đồng bào dân tộc, Đề án VII/08, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đào tạo đại học, trung học và dạy nghề cho đồng bào dân tộc
Tác giả: Lê Thạc Cán (Chủ nhiệm)
Năm: 1992
16.Cục Thống kê tỉnh Bình Dương (1997), Con số và sự kiện tỉnh Bình Dương (tài liệu phục vụ Đại hội tỉnh Đảng bộ tỉnh Bình Dương lần thứ VI) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con số và sự kiện tỉnh Bình Dương
Tác giả: Cục Thống kê tỉnh Bình Dương
Năm: 1997
21.Cục Thống kê tỉnh Bình Phước (3/1998), Tình hình cơ bản hộ gia đình dân tộc ít người tỉnh Bình Phước (tổng điều tra ngày 1/6/1997) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình cơ bản hộ gia đình dân tộc ít người tỉnh Bình Phước
24.Phan Hữu Dật (1998), "Về việc xác định các nguyên tắc cơ bản của chính sách dân tộc của Đảng", Dân tộc học, (4), tr. 14-18 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về việc xác định các nguyên tắc cơ bản của chính sách dân tộc của Đảng
Tác giả: Phan Hữu Dật
Năm: 1998
25.Khổng Diễn (1995), Dân số và dân số tộc người ở Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân số và dân số tộc người ở Việt Nam
Tác giả: Khổng Diễn
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1995
28.Đảng Cộng sản Việt Nam (1977), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1977
29.Đảng Cộng sản Việt Nam (1982), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1982
30.Đảng Cộng sản Việt Nam (1987), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự thật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật Hà Nội
Năm: 1987
31.Đảng Cộng sản Việt Nam (11/1989), Nghị quyết Bộ Chính trị 22 NQ/TW về một số chủ trương, chính sách lớn phát triển kinh tế - xã hội miền núi, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết Bộ Chính trị 22 NQ/TW về một số chủ trương, chính sách lớn phát triển kinh tế - xã hội miền núi
32.Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb Sự thật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật Hà Nội
Năm: 1991
33.Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1991
34.Đảng Cộng sản Việt Nam (1992), Văn kiện Hội nghị lần thứ ba Ban chấp hành Trung ương khóa VII, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ ba Ban chấp hành Trung ương khóa VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1992
35.Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1996
36.Đảng Cộng sản Việt Nam (1997), Văn kiện Hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành Trung ương khóa VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành Trung ương khóa VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1997
37.Đảng Cộng sản Việt Nam (1998), Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương khóa VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương khóa VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1998
38.Đảng Cộng sản Việt Nam (4/2001), Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng
39.Đảng Lao động Việt Nam (1960), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III, tập 1, Ban chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam xuất bản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III
Tác giả: Đảng Lao động Việt Nam
Năm: 1960
40.Trần Bạch Đằng (chủ biên), Địa chí tỉnh Sông Bé, Nxb Tổng hợp Sông Bé, 1991 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa chí tỉnh Sông Bé
Nhà XB: Nxb Tổng hợp Sông Bé
41.Bế Viết Đẳng (chủ biên) (1996), Các dân tộc thiểu số trong sự phát triển kinh tế - xã hội ở miền núi, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các dân tộc thiểu số trong sự phát triển kinh tế - xã hội ở miền núi
Tác giả: Bế Viết Đẳng (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1996

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w