Bên cạnh đó do tác động của BTA mang lại, hàng hoá Việt Nam sang thị trườngHoa Kỳ được cạnh tranh bĩnh đẳng hơn, mức thuế áp dụng đối với các mặt hàng nhập khẩu của ta đã giảm xuống khiế
Trang 1MỞ ĐẦU
Tính tất yếu của đề tài
Được biết đến là một cường quốc kinh tế hàng đầu trên thế giới Với dân số đông, diện tích địa lý trải rộng, môi trường
đa văn hoá, đa chủng tộc Kim ngạch nhập khẩu hàng năm lên tới 1750 tỷ USD chiếm « 20% tổng kim ngạch nhập khẩu toànthế giới Thị trường Hoa Kỳ thực sự hấp dẫn với bất kĩ doanh nghiệp nào: Thu nhập Quốc dân GDP luôn duy trì ở mức cao,thu nhập bĩnh quân đầu người cao, nhu cầu tiêu dùng đối với các loại hàng hoá là rất đa dạng - Đây là thị trường khổng lồ đốivới các loại hàng hoá mà trong đó chứa đựng hầu hết các loại hàng hoá Việt Nam có thể xuất khẩu
Việt Nam là quốc gia đang bước trên tiến trình hội nhập Kinh tế quốc tế, chủ trương phát triển kinh tế theo đuổi chiếnlược công nghiệp hoá hướng về xuất khẩu, đa dạng hoá thị trường cũng như mặt hàng xuất khẩu Và Hoa Kỳ là thị trường cótầm quan trọng đặc biệt trong chiến lược phát triển xuất khẩu của Việt Nam Quan hệ Việt - Hoa Kỳ đã được chính thức bĩnhthường hoá từ năm 1995 Sau hơn mười năm tái thiết lập quan hê, việc bĩnh thường hoá đã khép lại quá khứ và mở ra tương lai
có lợi cho cả hai bên Thực tế là kim ngạch xuất khẩu của hàng hoá Việt Nam sang Hoa Kỳ đã tăng nhanh chóng qua các năm
và tính đến tháng 2/2007 Hoa Kỳ vẫn là thị trường xuất khẩu của Việt Nam với kim ngạch là 1.339.565 nghìn USD tăng35.41% so với cùng kĩ năm 2006 Năm 2006 đã đánh dấu bước phát triển cao hơn trong quan hệ hai nước khi quy chế PNTRcho Việt Nam đã được Hoa Kỳ thông qua Bên cạnh đó do tác động của BTA mang lại, hàng hoá Việt Nam sang thị trườngHoa Kỳ được cạnh tranh bĩnh đẳng hơn, mức thuế áp dụng đối với các mặt hàng nhập khẩu của ta đã giảm xuống khiến cho sựcạnh tranh về giá cả phát huy được hiệu quả, Tuy nhiên, trong quan hệ thương mại với các đối tác Hoa Kỳ, doanh nghiệp ViệtNam vẫn gặp nhiều khó khăn khi quy mô của các doanh nghiệp nội địa là nhỏ trong khi nhu cầu thị trường là lớn, các đơn đặthàng từ phía Hoa Kỳ thường yêu cầu với số lượng lớn, thời gian giao hàng nhanh, điều này là vượt quá khả năng của doanhnghiệp Những trở ngại trong hàng rào phi thuế quan của Hoa
Kỳ (Việc ban hành thuế chống bán phá giá đối với hàng dệt may đang được xem xét); tính phức tạp trong hệ thống luật phápHoa Kỳ, cạnh tranh của hàng hoá Trung quốc,., đang tạo ra những rào cho xuất khẩu hàng hoá Việt Nam sang thị trường HoaKỳ
Năm 2006 là dấu mốc quan trọng khi Việt Nam trở thành thành viên WTO, thị trường được mở rộng cùng với mức độcạnh tranh gay gắt hơn buộc các doanh nghiệp trong nước phải nỗ lực hết minh để có thể cạnh tranh với doanh nghiệp nướcngoài Đẩy mạnh xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ trong điều kiện hội nhập mới, doanh nghiệp Việt Nam vừa đạt được mụctiêu chiếm lĩnh thị trường, vừa gia tăng sự ảnh hưởng trong quan hệ thương mại với Hoa Kỳ, mặt khác chúng ta có thể tiếp cậnđược những công nghệ hiện đại, những nguồn lực kỳ thuật quan trọng cần thiết cho phát triển kinh tế nội địa
Trang 2Đối tượng nghiên cứu
Thị trường Hoa Kỳ với nhu cầu tiêu dùng, môi trường văn hoá kinh doanh, các đối tác Hoa Kỳ, các quy định đối vớihàng hoá nhập khẩu vào thị trường này, và hoạt động xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường này
Phạm vi nghiên cứu
Hoạt động xuất khẩu hàng hoá Việt Nam sang Hoa Kỳ từ khi hai nước chính thức bĩnh thường hoá quan hệ thương mại
từ năm 1995 đến nay
Phương pháp nghiên cứu
Chuyên đề sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, nghiên cứu các số liệu thống kê và những phân tích thực tế những vấn đềliên quan, kết họp với phân tích dự bá
Trang 3oChương 1: Lý luận chung về xuất khẩu hàng hóa
và sự cần thiết phải thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa
của Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ trong điều kiện
hội nhập kinh tê quôc tê
1.1 Lý luận chung về xuất khẩu hàng hóa
1.1.1 Khái niêm và Vãi trò
1.1.1.1 Khái niêm
Thế giới đã bước sang một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên hội nhập và phát triển Đểthành công trong nền kinh tế toàn cầu này đòi hỏi các quốc gia cũng như các nhà kinhdoanh phải hiểu rõ về kinh doanh quốc tế Kinh doanh quốc tế là một lĩnh vực rộng lớnliên quan đến nhiều vấn đề: con người, vãn hóa, kinh tế, chính trị và nhiều yếu tố khácliên quan đến môi trường xung quanh mà chủ thể trực tiếp của các hoạt động này là cáccông ty kinh doanh trên trường quốc tế, thực hiện giao dịch buôn bán với nhau Trên thực
tế các công ty có thể tiến hành giao dịch với nhau qua nhiều hĩnh thức nhưng phổ biếnnhất là thông qua hoạt động xuất nhập khẩu
Một cách cơ bản nhất có thể định nghĩa: Xuất khẩu là hoạt động đưa hàng hóa dịch
vụ từ quốc gia này sang quốc gia khác
Trong chiến lược kinh doanh quốc tế, doanh nghiệp cần xác định được một trongnhững yếu tố quan trọng mang lại thành công cho chiến lược của mình đó là cách thứcthâm nhập thị trường Xuất khẩu được đánh giá là hĩnh thức thâm nhập thị trường ít rủi rovới chi phí thấp so với các hĩnh thức khác Neu xét dưới góc độ kinh doanh thì xuất khẩu
là việc bán hàng hóa dịch vụ từ quốc gia này sang quốc gia khác, còn xét dưới góc độ phikinh doanh (quà tặng, viện trợ) thì hoạt động xuất khẩu là việc lưu chuyển hàng hóa dịch
vụ qua biên giới một quốc gia
1.1.1.2 Vai trò của xuất khẩu
Thứ nhất, xuất khẩu để tạo ra nguồn vốn quan trọng thỏa mãn nhu cầu nhập khẩu và
tích lũy sản xuất nhằm phục vụ đắc lực cho quá trình công nghiệp hóa đất nước Trong
Trang 4hoạt động thương mại quốc tế của một quốc gia luôn diễn ra đồng thời hai hoạt động cơbản là xuất khẩu và nhập khẩu, xuất khẩu luôn đi kèm nhập khẩu, hai mặt không thể táchrời nhau trong một quan hệ gắn bó hỗ trợ lẫn nhau Trong mối quan hệ đó, nhập khẩu làmục đích còn xuất khẩu là phương tiện để đạt được mục đích đó Mọi hoạt động xuấtkhẩu đều hướng tới cái đích cuối cùng là bán được nhiều nhất các loại hàng hóa dịch vụ
mà quốc gia minh có khả năng để thu được một lượng ngoại tệ phục vụ trở lại cho việcnhập khẩu các thiết bị, công nghệ hiện đại, các dịch vụ, các mặt hàng mà quốc gia minhcòn thiếu vừa để phục vụ nhu cầu tiêu dùng vừa để sản xuất đẩy nhanh tốc độ phát triểncủa nền kinh tế
Thứ hai, xuất khẩu là yếu tố quan trọng để kích thích tăng trưởng kinh tế Đẩy mạnh
xuất khẩu chính là việc tạo điều kiện thuận lợi để bán được nhiều nhất những hàng hóa
mà một quốc gia có lợi thế Khi doanh số bán hàng tăng lên, lượng hàng hóa xuất khẩu ranước ngoài nhiều hơn, nó sẽ tác động trở lại, đó là nhu cầu mở rộng sản xuất, đẩy nhanhquá trình tạo ra sản phẩm, quy mô sản xuất của từng mặt hàng, từng ngành nghề lĩnh vựccũng như quy mô toàn bộ nền kinh tế được mở rộng, khi đó xuất hiện hiệu ứng tính kinh
tế nhờ quy mô Khi quy mô sản xuất phát triển sẽ kéo theo sự ra đời của nhiều ngànhhàng mới vừa để bổ trợ cho các ngành xuất khẩu chính, vừa để khai thác những tiềm năngcủa đất nước, GDP của nền kinh tế không ngừng được tăng lên, quốc gia đạt được tốc độtăng trưởng cao và ổn định
Thứ ba, xuất khẩu kích thích đổi mới trang thiết bị và công nghệ sản xuất Xuất
khẩu tăng, nhu cầu thị trường đối với sản phẩm nhiều hơn, doanh nghiệp khi đó phải tìmcách để nâng cao năng suất lao động sao cho tạo ra nhiều sản phẩm nhất có thể Cáchthức nhanh chóng và hiệu quả nhất để thực hiện mục tiêu đó là cải tiến các trang thiết bịmáy móc, cơ sở vật chất kỹ thuật cũng như hoàn thiện dần quy trình sản xuất Ngược lại,khi hoạt động xuất khẩu luôn duy trĩ ở mức cao tức là lượng hàng hóa bán ra liên tụctăng, làm tăng doanh số bán hàng, lợi nhuận tăng lên, khi đó doanh nghiệp có nhiều điềukiện để quan tâm, đầu tư nhiều hcm vào việc hiện đại hóa dây chuyền sản xuất của minh
Thứ tư, xuất khẩu tác động mạnh tới cơ cấu kinh tế của toàn bộ nền kinh tế cũng
như tác động tới cơ cấu của ngành theo hướng sử dụng có hiệu quả nhất lợi thế so sánh.Mỗi quốc gia đều có những ưu thế nhất định về một hoặc một vài chủng loại sản phẩm
Trang 5Trong thương mại quốc tế, các quốc gia luôn phải cạnh tranh với nhau vĩ thế để thu đượclợi ích cao nhất buộc mỗi quốc gia phải tim một hướng đi đúng cho minh, phải tim kiếm
và khai thác tối đa những thế mạnh của riêng minh Khi đã biết được minh có điểm mạnh
gĩ, các quốc gia sẽ chuyên biệt hóa, đầu tư nhiều hơn tới việc phát triển thế mạnh củaminh, nghĩa là cơ cầu của nền kinh tế dần chuyển đổi theo hướng ưu tiên cho các ngành,các mặt hàng mang lại giá trị và hiệu quả kinh tế tốt hơn
Thứ năm, xuất khẩu có tác động tích cực và trực tiếp tới việc nâng cao mức sống
của người dân, góp phần xóa đói giảm nghèo Khi kim ngạch xuất khẩu của một mặthàng, ngành hàng nào đó không ngừng tăng lên, quy mô sản xuất của ngành đó sẽ được
mở rộng Sản xuất mở rộng, nhu cầu về lao động tăng, số lượng việc làm nhiều hơn, điều
đó đồng nghĩa là sẽ có thêm một bộ phận lao động trong xã hội có việc làm, thu nhậpngười dân ổn định hơn, cuộc sống của họ được đảm bảo, khi đó họ sẽ có nhiều điều kiện
để nâng cao điều kiện sống cho gia đĩnh, tỷ lệ đói nghèo sẽ dần giảm bớt
Thứ sáu, xuất khẩu giúp mở rộng và làm sâu sắc thêm các mối quan hệ đối ngoại
giữa các quốc gia với nhau Xuất khẩu và các quan hệ kinh tế đối ngoại có tác động qualại lẫn nhau: xuất khẩu là một trong những lĩnh vực của kinh tế đối ngoại, xuất khẩu cósớm hơn các hoạt động kinh tế đối ngoại khác, tạo điều kiện thúc đẩy các quan hệ nàyphát triển như quan hệ về tín dụng, quan hệ đầu tư, quan hệ vận tải Xuất khẩu tạo tiền
đề cho hợp tác quốc tế trong những lĩnh vực này, ngược lại khi quan hệ quốc tế củanhững lĩnh vực này tốt đẹp sẽ kích thích cho xuất khẩu trao đổi buôn bán giữa các quốcgia phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu
Xét một cách tổng thể, trong quá trình phát triển của một quốc gia không thể không
có hoạt động thương mại quốc tế, đó là mối quan hệ vừa họp tác vừa cạnh tranh lẫn nhau
và trong cuộc cạnh tranh đó, quốc gia nào cũng muốn và cố gắng đến tối đa để hoạt độngxuất khẩu mang lại hiệu quả cao nhất Chỉ khi xuất khẩu phát triển, quốc gia mới có điềukiện để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng và một phần cho tích lũy, điều đó có nghĩa là, xuấtkhẩu là chĩa khóa quan trọng để phát triển kinh tế và đẩy nhanh quá trình công nghiệphóa, hiện đại hóa đất nước
Trang 61.1.2 Các hình thức xuất khẩu
Trong thương mại quốc tế, xuất khẩu của một quốc gia thường diễn ra dưới hai hĩnhthức cơ bản là xuất khẩu trực tiếp và xuất khẩu gián tiếp Đây là hai hĩnh thức, đồng thờicũng là hai công cụ chủ yếu được các chủ thể kinh tế sử dụng trong quá trình thâm nhậpthị trường nước ngoài qua con đường xuất khẩu hàng hóa
1.1.2.l Xuẩt khẩu trực tiến
Xuất khẩu trực tiếp là hoạt động bán hàng trực tiếp của một chủ thể kinh tế cho cáckhách hàng của minh ở thị trường nước ngoài Hĩnh thức này thường được các công ty cókinh nghiệm quốc tế sử dụng, khách hàng của họ không chỉ đơn thuần là người tiêu dùng
mà bao gồm tất cả những đối tượng có nhu cầu, đã, đang và sẽ tiêu dùng sản phẩm củacông ty Xuất khẩu trực tiếp thường được tiến hành qua hai hĩnh thức cơ bản:
a) Đại diện bản hàng
Đại diện bán hàng là hĩnh thức bán hàng không mang danh nghĩa của mình mà lấydanh nghĩa của người ủy thác nhằm nhận lương và một phần hoa hồng trên cơ sở giá trịcủa khối lượng hàng hóa bán được Xét về bản chất, hoạt động của đại diện bán hàngchính là hoạt động của nhân viên bán hàng của công ty ở thị trường nước ngoài, thôngqua hĩnh thức này công ty sẽ tiến hành ký kết các hợp đồng trực tiếp với khách hàng tạithị trường mà người đại diện bán hàng đang hiện diện
b) Đại lý phân phối
Đại diện phân phối là người đứng ra mua hàng của công ty để bán theo kênh tiêuthụ tại khu vực đã được quy định Theo hĩnh thức này, công ty là người khống chế phạm
vi giới hạn hoạt động của người phân phối đồng thời đặt hoạt động của các kênh phânphối này trong sự kiểm soát của minh Mặc dù nằm dưới sự kiểm soát của công ty ủy thácnhưng đại lý phân phối phải chịu trách nhiệm, chấp nhận toàn bộ rủi ro liên quan đến việcbán hàng của công ty ủy thác trên thị trường đã được phân định và sẽ được hưởng phầnlợi nhuận thu được từ chênh lệch giá mua và giá bán hàng hóa
Xuất khẩu gián tiếp là hĩnh thức bán hàng hóa, dịch vụ của công ty ra thị trườngnước ngoài thông qua trung gian (qua người thứ ba) Nếu trong loại hĩnh xuất khẩu trựctiếp thi người mua tim tới người bán, người bán tim gặp người mua, giữa hai bên tiến
Trang 7hành trao đổi gặp gỡ trao đổi thông tin hàng hóa cho nhau một cách trực tiếp thi trongloại hĩnh xuất khẩu gián tiếp, việc thiết lập quan hệ người mua - người bán cũng như cácđiều kiện liên quan đến giao dịch mua bán hàng hóa được thực hiện thông qua người thứ
ba được gọi là trung gian mua bán Các trung gian mua bán này không chiếm hữu hànghóa của người ủy thác mà chỉ đóng vai trò người trợ giúp, là cầu nối đưa hàng hóa củangười xuất khẩu ra thị trường nước ngoài Xuất khẩu gián tiếp có các hĩnh thức chủ yếusau:
a) Đại lý
Đại lý là tự nhiên nhân hay pháp nhân tiến hành một hoặc nhiều hành vi theo sự ủythác của người ủy thác, quan hệ giữa người ủy thác và đại lý là quan hệ họp đồng đại lý.Trên thực tế đại lý chỉ thực hiện một công việc nhất định nào đó cho người ủy thác vànhận được khoản thù lao của mình, đại lý không chiếm hữu và sở hữu hàng hóa mà chỉ làngười thiết lập quan hệ hợp đồng giữa người xuất khẩu và khách hàng ở thị trường nướcngoài
b) Công ty quản lý xuất khấu
Là công ty nhận ủy thác và quản lý công tác xuất khẩu hàng hóa Công ty quản lýxuất khẩu hoạt động dựa trên danh nghĩa của người ủy thác với chức năng cơ bản là thựchiện các hoạt động cũng như hoàn thiện các thủ tục xuất khẩu và thu phí dịch vụ xuấtkhẩu Xét về bản chất, các công ty quản lý xuất khẩu là trung gian thực hiện các dịch vụđại lý cho người ủy thác và nhận được một khoản thù lao định mức từ các hoạt động củaminh
c) Công ty kỉnh doanh xuất khẩu
Là loại hĩnh công ty hoạt động như nhà phân phối độc lập với chức năng cơ bản làkết nối các khách hàng tại thị trường nước ngoài với công ty xuất khẩu của quốc giaminh, từ đó tạo điều kiện đưa các hàng hóa trong nước ra nước ngoài tiêu thụ Hoạt độngcủa các công ty kinh doanh xuất khẩu là thực hiện tất cả các hoạt động dịch vụ xuất khẩu
từ những hoạt động trực tiếp liên quan đến xuất khẩu cho tới các hoạt động gián tiếp liênquan như thiết lập và mở rộng kênh phân phối, tài trợ cho các dự án thương mại và đầu tưcho tới trực tiếp tham gia một công đoạn sản xuất bổ trợ nào đó cho quá trình sản xuấtsản phẩm Trên thực tế, các công ty kinh doanh xuất khẩu đều là những công ty có tiềm
Trang 8lực và sự đảm bảo về tài chính cũng như có kinh nghiệm chuyên sâu về một mảng thịtrường nào đó với những chuyên gia làm dịch vụ xuất khẩu Chi phí hoạt động của công
ty kinh doanh xuất khẩu là nguồn vốn của công ty và thu hồi lại từ các dịch vụ xuất khẩu
mà công ty thực hiện
d) Đại lý vận tải
Là các công ty thực hiện dịch vụ thuê vận chuyển và những hoạt động có liên quanđến xuất nhập khẩu hàng hóa: khai báo hải quan, áp biểu thuế quan, thực hiện giao nhậnchuyên chở và bảo hiểm Các đại lý vận tải cũng thực hiện các nghiệp vụ xuất khẩu vàphát triển nhiều loại hĩnh dịch vụ giao nhận đến tận tay người nhận Khi các công ty xuấtkhẩu thông qua các đại lý vận tải hay các công ty chuyển phát hàng thì các đơn vị nàycũng làm các dịch vụ xuất nhập khẩu liên quan đến hàng hóa của công ty Như vây, thựcchất hoạt động của các đại lý vận tải cũng chính là hoạt động của các công ty kinh doanhgiao nhận vận chuyển và dịch vụ xuất nhập khẩu, thậm chí nó còn đi sâu hơn khi bao gồm
cả dịch vụ bao gói hàng hóa cho phù họp với phương thức vận chuyển và mua bảo hiểmcho hàng hóa xuất khẩu trong phạm vi hoạt động, quyền hạn của mình
1.1.3 NỘỈ dung xuất khẩu
Hoạt động xuất khẩu hàng hóa có hai khâu liên hệ mật thiết với nhau đó là thu mua,huy động hàng xuất khẩu từ các đơn vị kinh tế trong nước và tiến hành ký kết, thực hiệnhọp đồng xuất khẩu với nước ngoài Trong hai khâu đó, thu mua hàng xuất khẩu là tiền
đề vật chất của xuất khẩu hàng hóa
1.1.3.l Thu mua, cune ứne hànexuẩtkhẩu
Khi doanh nghiệp tiến hành hoạt động xuất khẩu, trước hết doanh nghiệp phải cóđược nguồn hàng và phải biết được những quy định của Nhà nước đối với mặt hàng đó.Đối với các doanh nghiệp thương mại, để có nguồn hàng xuất khẩu doanh nghiệp phảitiến hành hoạt động thu mua Đe tổ chức tốt việc thu mua, bên cạnh việc quán triệt tốtquan điểm, đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước về khuyến khích phát triển sảnxuất hàng xuất khẩu thi doanh nghiệp còn phải làm tốt việc quản lý nguồn hàng xuất khẩucủa minh một cách chủ động, có biện pháp phát triển nguồn hàng đó cũng như phươngthức huy động thích họp
Đối với phân loại nguồn hàng xuất khẩu, có ba chỉ tiêu phân loại:
Trang 9Thứ nhất theo chế độ phân cấp quản lý bao gồm nguồn hàng thuộc chỉ tiêu kế
hoạch Nhà nước và nguồn hàng ngoài kế hoạch
Thứ hai phân loại nguồn hàng theo đơn vị giao hàng gồm: từ các xí nghiệp, các
cơ sở sản xuất, các họp tác xã
Thứ ba phân loại theo phạm vi phân công của đơn vị kinh doanh xuất khẩu bao
gồm nguồn hàng trong địa phương và nguồn hàng ngoài địa phương
Việc nghiên cứu nguồn hàng xuất khẩu, đây là công việc bắt buộc để doanh
nghiệp có thể khai thác và phát triển nguồn hàng Thông qua nghiên cứu nguồn hàngdoanh nghiệp có thể nắm được khả năng cung cấp hàng xuất khẩu của từng đơn vị nguồnhàng đồng thời nó là cơ sở đảm bảo chắc chắn cho doanh nghiệp tiến hành ký kết và thựchiện hợp đồng xuất khẩu Có hai phương pháp nghiên cứu nguồn hàng xuất khẩu:
Thứ nhất, lấy mặt hàng làm đơn vị nghiên cứu Phương pháp này chủ yếu
nghiên cứu tình hình và khả năng cung ứng cũng như tiêu thụ của một mặt hàng từ đó cóquyết định kinh doanh xuất khẩu mặt hàng đó không
Thứ hai, lấy cơ sở sản xuất làm đơn vị nghiên cứu Theo phương pháp này
người ta theo dõi năng lực sản xuất và cung ứng sản phẩm của từng cơ sở sản xuất thôngqua các chỉ tiêu: số lượng và chất lượng hàng cung cấp hàng năm, giá thành, tình hĩnhtrang thiết bị, trình độ kỳ thuật, số lượng công nhân, trình độ tổ chức và quản lý
1.1.3.2 Ký kết và thực hiên hợp đồns xuất khẩu
Với tư cách là doanh nghiệp ngoại thương kinh doanh hàng xuất khẩu, sau khi đã cóđược nguồn hàng xuất khẩu, doanh nghiệp tiến hành ký kết họp đồng ngoại thương Songsong với ký hợp đồng ngoại, doanh nghiệp cũng phải tiến hành đồng thời việc lưu khohàng xuất khẩu tiếp nhận từ các đơn vị nguồn hàng, việc lưu kho nhằm mục đích đónggói bảo quản hàng hóa trong thời gian hoàn tất thủ tục xuất hàng và sau khi đã hoàn tấtcác thủ tục, trong thời gian thỏa thuận của họp đồng, doanh nghiệp tiến hành xuất khohàng hóa cho người nhập khẩu Việc xuất hàng cho đối tác phải dựa trên cơ sở họp đồng
đã ký kết, người xuất khẩu phải có trách nhiệm đóng gói, phân lô phân loại, bảo đảm về
số lượng và chất lượng hàng hóa cho đến khi làm biên bản giao nhận với người nhậpkhẩu, khi đó người xuất khẩu mới hết trách nhiệm
Trang 10Sau khi giao hàng, tùy theo thỏa thuận của hai bên mà hàng hóa có thể được bảohành trong phạm nhất định của người xuất khẩu Còn người nhập khẩu sau khi nhận hàngphải có trách nhiệm thanh toán đầy đủ tiền hàng cũng như những chi phí được hai bênthỏa thuận Sau khoảng thời gian được quy định trong hợp đồng mà hai bên không có bất
cứ khiếu kiện nào thì hoạt động xuất khẩu được thực hiện hoàn tất
1.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến xuất khẩu
1.1.3.1 Các nhân tổ thuộc về môi trường kinh doanh
Thứ nhất, môi trường vãn hóa Văn hóa nói chung có thể được coi là tổng thể của
đức tin, các giá trị, niềm tin, thông lệ, ngôn ngữ và tôn giáo Văn hóa của mỗi quốc gia cónhững nét đặc thù khác biệt Chính sự khác biệt về văn hóa sẽ kéo theo sự khác biệt vềnhu cầu và thị hiếu tiêu dùng, sự lựa chọn sản phẩm tiêu dùng theo đó cũng có sự khácbiệt lớn, người ta không thể xuất khẩu thịt lợn sang các quốc gia đạo hồi Như vậy yếu tốvăn hóa tại một thị trường nào đó là cơ sở để doanh nghiệp đưa ra quyết định lựa chọnhàng hóa nào để xuất khẩu và thị hiếu của thị trường đó đối với sản phẩm ra sao để cónhững điều chỉnh nhất định đối với sản phẩm Sự khác nhau về yếu tố vãn hóa của mộtquốc gia sẽ tạo ra sự khác nhau về mặt hàng xuất khẩu sang thị trường đó
Thứ hai, môi trường chính trị luật pháp Không một doanh nghiệp xuất khẩu nào
muốn bán sản phẩm của minh sang thị trường có thể chế chính trị bất ổn với tâm lý longại sự mất ổn định chính trị sẽ khiến cho các doanh nghiệp nhập khẩu trong trường họpxấu không thể thanh toán mọi chi phí tiền hàng Yeu tố luật pháp cũng ảnh hưởng đếnhoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp thông qua tác động của hàng rào thuế quan và phithuế quan Neu mức thuế suất đối với các sản phẩm nhập khẩu cao hoặc mức độ bảo hộsản xuất trong nước của quốc gia đó lớn sẽ làm giảm kim ngạch xuất khẩu của các quốcgia khác sang thị trường nước đó, ngược lại mức thuế mà một quốc gia áp dụng cho sảnphẩm nhập khẩu ở mức trung bĩnh cũng như các hàng rào yêu cầu kỳ thuật không quákhắt khe, sản phẩm của doanh nghiệp dễ dàng hơn trong việc tiếp cận thị trường và từ đó
sẽ làm tăng lượng hàng hóa xuất khẩu sang những thị trường dễ tính
Thứ ba, môi trường kinh tế Môi trường kinh tế của một quốc gia bao gồm tốc độ
tăng trưởng kinh tế, quy mô của nền kinh tế và quy mô thị trường, cơ cấu của nền kinh
Trang 11tế Một quốc gia luôn đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và ổn định tức là tổng thunhập quốc dân cao, theo đó thu nhập bĩnh quân đầu người cũng ở mức cao, đời sống nhândân được nâng lên, nhu cầu tiêu dùng của người dân và toàn nền kinh tế sẽ tăng lên,lượng hàng hóa nhập khẩu sẽ nhiều hơn, điều này sẽ kích thích hoạt động xuất khẩu từcác công ty nước ngoài vĩ họ nhìn thấy tiềm năng thị trường lớn của quốc gia Quy môcủa nền kinh tế lớn cũng khiến cho nhu cầu nhập khẩu tăng lên, và cũng tạo ra nhữngđiều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp xuất khẩu Cơ cấu của nền kinh tế ảnh hưởng đến
cơ cấu xuất khẩu vào một quốc gia Các nhà xuất khẩu khi lựa chọn thị trường xuất khẩuthường phải có những đánh giá xem thị trường nội địa của quốc gia đó đang sản xuấtđược cái gì, chủng loại ra sao để từ đó sẽ quyết định đưa mặt hàng nào xuất khẩu, khi lựachọn mặt hàng xuất khẩu doanh nghiệp cũng cần phải đánh giá yếu tố thị trường, thịtrường nào đang có nhu cầu về mặt hàng mà doanh nghiệp có khả năng cung cấp thidoanh nghiệp sẽ quyết định lựa chọn thị trường đó
1.1.3.2 Nhân tổ thuộc về doanh nghiệp
Trước hết phải đề cập tới chiến lược hoạt động của doanh nghiệp Nếu doanh
nghiệp đặt ra một mức tăng trưởng cao trong kim ngạch xuất khẩu trong một khoảng thờigian nhất định, khi đó mọi hoạt động của doanh nghiệp đều phải hướng tới đạt được mụctiêu đó, hoạt động xuất khẩu được đặt lên hàng đầu, doanh nghiệp sẽ nỗ lực trong việctim kiếm thị trường, xây dựng quảng bá hĩnh ảnh của doanh nghiệp cũng như sản phẩmvới mong muốn người tiêu dùng tại thị trường nước ngoài sẽ ưu thích sản phẩm của minhtạo cơ hội cho doanh nghiệp xuất khẩu nhiều hàng hóa hơn
Thứ hai, chi phí sản xuất Chi phí sản xuất sẽ quyết định một phần quan trọng giá cả
của hàng hóa Bằng cách kiểm soát tổng chi phí sẽ kiểm soát được giá cả hàng hóa ở mứcthấp, giá cả thấp khiến cho sản phẩm có khả năng cạnh tranh tốt hơn Ngoài ra chi phí sảnxuất thấp cũng mang lại nhiều lợi nhuận hơn cho doanh nghiệp vĩ cùng một điều kiệnthương mại bĩnh thường, mức giá của một loại sản phẩm trên 1 thị trường là như nhautrong khi chi phí sản xuất ra sản phẩm lại thấp hơn các đối thủ, như vậy doanh thu củadoanh nghiệp tăng lên, từ đó doanh nghiệp có điều kiện đầu tư khoa học công nghệ tăngcường sản xuất sản phẩm xuất khẩu Chi phí vận chuyển cũng là một nhân tố tác động tới
Trang 12giá cả hàng hóa, chi phí vận chuyển cao làm tăng giá thành sản phẩm, chi phí thấp, giá cảhàng hóa sẽ thấp.
1.1.3.3 Yếu tố sản phẩm
Sản phẩm là cái liên quan trực tiếp tới hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp Dođặc tính của mỗi loại sản phẩm khác nhau nên thị trường xuất khẩu sản phẩm cũng khácnhau Căn cứ vào những tính chất và điều kiện của sản phẩm mà doanh nghiệp lựa chọnhĩnh thức xuất khẩu phù họp, như các sản phẩm rau quả, các loại hải sản tươi sống trướckhi xuất khẩu phải qua khâu bảo quản sản phẩm Những chi tiết kiểu dáng cũng như tínhchất công dụng của cùng một loại sản phẩm có sự khác nhau ở từng thị trường tiêu dùng,trong đó giá cả và chất lượng sản phẩm có ảnh hưởng lớn nhất tới quyết định mua hàng,nhưng sự phân chia này chỉ mang tính chất tưcmg đối Trên thực tế việc đánh giá một sảnphẩm là khác nhau giữa các thị trường: thị trường EU đánh giá và lựa chọn sản phẩm dựatrên kiểu dáng mẫu mã tức là tính thẩm Hoa Kỳ sản phẩm, dựa trên thương hiệu của sảnphẩm; trong khi đó thị trường Hoa Kỳ lại đánh giá sản phẩm trên góc độ giá cả và chấtlượng , trong xu hướng tiêu dùng của minh, người Hoa Kỳ không quá đòi hỏi cầu kỳ, chỉcần một chất lượng đảm bảo với giá cả họp lý là có thể chính phục thị trường Hoa Kỳ Như vậy yếu tố sản phẩm có ảnh hưởng tới quyết định lựa chọn thị trường xuất khẩu củadoanh nghiệp
1.2.Sự cần thiết phải thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ trong điều kiện hội nhập KTQT
Sau hơn 1 năm kể từ khi Hoa Kỳ bãi bỏ cấm vận, ngày 11/7/1995, tổng thống Hoa
Kỳ Bill Clinton đã chính thức tuyên bố bĩnh thường hóa quan hệ thương mại, ngoại giaovới Việt Nam Đây là sự kiện quan trọng ghi nhận những nỗ lực không ngừng của cả haiquốc gia trong tiến trình cải thiện mối quan hệ phức tạp Với chiến lược hướng mạnh vàoxuất khẩu, phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Chính phủ Việt Nam đã chủtrương mở rộng các quan hệ kinh tế đối ngoại trong đó Hoa Kỳ là thị trường trọng điểm.Quan hệ Việt Hoa Kỳ trong những năm qua được xây dựng trên tinh thần tự nguyện họptác hữu nghị, hai bên đều có nhu cầu hướng tới mối quan hệ hợp tác kinh tế, mở rộng xuấtnhập khẩu các mặt hàng mang tính bổ sung lẫn nhau Hoa Kỳ đang hướng tới Việt Nam
Trang 13như một thị trường đông dân đầy tiềm năng, một thị trường sản xuất hàng nông, thủy sảnđầy tiềm năng của châu Á Còn Việt Nam hướng tới thị trường Hoa Kỳ như một thịtrường tiêu thụ khổng lồ có nền công nghệ kỹ thuật hiện đại và có nguồn vốn dồi dào vàobậc nhất thể giới Có thể thấy tính quy mô của thị trường này qua bảng 1.1 dưới đây:
Bảng 1.1.Nhu cầu nhập khẩu của thị trường Hoa Kỳ và xuất khẩu của Việt Nam
Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế (KTQT) của Việt Nam diễn ra chủ động vàtích cực với việc tham gia các tổ chức, các liên kết và các định chế KTQT ở nhiềucấp độ khác nhau: gia nhập ASEAN (1995), tham gia AFTA (1996), gia nhập APEC(1998) và việc ký kết BTA là cơ sở cho việc gia nhập WTO năm 2006 - bước pháttriển quan trọng trong tiến trình hội nhập của Việt Nam Gia nhập WTO, cơ hội xuấtkhẩu cho hàng hóa Việt Nam là rất lớn, chúng ta sẽ được cạnh tranh bĩnh đẳng, thị
Đơn vị: Triệu USD
(Nguồn: Thương vụ Việt Nam tại Hoa Kỳ)
Trang 14trường tiêu thụ được mở rộng Trong sân chơi thương mại toàn cầu đó, Hoa Kỳ làquốc gia có tầm ảnh hưởng lớn tới các chính sách thương mại quốc tế của nhiều quốcgia, trong đó có Việt Nam Khi trở thành thành viên chính thức của WTO, chúng ta sẽđược hưởng sự đãi ngộ như các quốc gia thành viên khác vĩ thế các doanh nghiệpxuất khẩu của Việt Nam phải biết khai thác mọi lợi thế để thúc đẩy xuất khẩu hànghóa của minh sang thị trường này, xuất khẩu sang Hoa Kỳ thuận lợi sẽ tạo điều kiệncho xuất khẩu sang các thị trường khác Và phát triển quan hệ hợp tác với Hoa Kỳkhông chỉ đơn thuần là hợp tác kinh tế để khai thác lợi ích lẫn nhau, mà phát triểnquan hệ thương mại là cơ sở đảm bảo cho phát triển các quan hệ trên mọi lĩnh vựckhác nhau mà nhất là quan hệ đối ngoại giữa hai Chính phủ Chính vĩ vậy, Đảng vàNhà nước ta vẫn luôn rất coi trọng việc phát triển quan hệ mọi mặt với Hoa Kỳ vĩ lợiích của nền kinh tế, lợi ích quốc gia của cả hai nước.
1.3.Kỉnh nghiệm của Trung Quốc trong đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa sang thị trường Hoa Kỳ
Năm 2006 đánh dấu việc Trung Quốc tròn 5 năm gia nhập WTO, đánh giáchung của các tập đoàn, các tổ chức quốc tế như WB hay IMF đối với sự phát triểncủa nền kinh tế Trung Quốc trong những năm trước và cho tới thời điểm hiện tại đềurất tích cực với tốc độ tăng trưởng nhanh, hiệu suất cao và lạm phát thấp Với tốc độtăng trưởng 2 con số liên tục giúp Trung Quốc trở thành nền kinh tế lớn thứ 4 trên thếgiới Theo số liệu thống kê, kim ngạch xuất khẩu năm 2006 của Trung Quốc đạt 960
tỷ USD tăng 26,8% so với mức trung bĩnh hàng năm, thặng dư thương mại đạt 150 tỷUSD và Hoa Kỳ là đối tác thương mại lớn thứ 2 của Trung Quốc (sau EU) với kimngạch thương mại đạt 142,16 tỷ USD Có thể nói không chỉ gia tăng về lượng xuấtkhẩu một cách nhanh chóng mà điểm cần nhấn mạnh trong xuất khẩu của TrungQuốc đó là cơ cấu xuất khẩu ngày một hoàn thiện hơn theo hướng xuất khẩu các sảnphẩm máy móc điện tử và hàng công nghệ cao: trong 4 tháng đầu năm 2006, tốc độtăng trưởng xuất khẩu là 25,8% trong đó tăng trưởng của các mặt hàng truyền thốngnhư dệt may chỉ khoảng 24%, giày dép là 19% trong khi đó mức tăng của các ngànhcông nghiệp nặng và khoa học công nghệ cao lại khá nhiều (đồng hồ điện tử là 46%,
Trang 15xe ô tô và lỉnh kiện tăng 43% ) trong đó xuất khẩu sang Hoa Kỳ của Trung Quốccũng đạt được những hiệu quả mà Việt Nam cần tham khảo.
Trước hết là đối với ngành hàng dệt may Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt maycủa Trung Quốc vào Hoa Kỳ không những lớn mà còn có tốc độ tăng trưởng cao.Năm 2005 Trung Quốc xuất sang Hoa Kỳ khoảng 27 tỷ USD tăng 42,5% so với năm
2004 và chiếm khoảng 27% tổng kim ngạch nhập khẩu dệt may của Hoa Kỳ Sứcmạnh cạnh tranh của hàng dệt may Trung Quốc là nhờ vào các nhân tố: chi phí laođộng trên mỗi sản phẩm thấp do mức lương thấp và năng suất lao động cao; TrungQuốc có thể sản xuất vải, phụ kiện trang trí, bao bĩ và hầu hết các phụ kiện khác dùng
để sản xuất hàng dệt may và các sản phẩm khác; Trung Quốc được giới chuyên mônđánh giá là một nơi tốt nhất về sản xuất quần áo và các sản phẩm dệt may khác vớibất kỳ chất lượng nào hay với bất kỳ mức giá nào; Trung Quốc có thể cung cấp hàngdệt may với số lượng lớn trong thời gian ngắn, tạo tâm lý an tâm với người nhậpkhẩu Là một ngành truyền thống, lợi thế Trung Quốc có một lực lượng lao động có
kỷ luật và lành nghề, đây cũng là quốc gia tự đảm bảo được nhu cầu về sợi tổng họp
và tự nhiên Ngành dệt may Trung Quốc là ngành đầu tiên sử dụng Internet để tiếnhàng giao dịch trực tuyến Một điểm nổi bật nữa là Trung Quốc hiện đang sử dụng cóhiệu quả phương cách one - stop - shopping, theo đó các nhà máy kết nối với nhau, sửdụng nguyên liệu có sẵn để thực hiện tất cả các khâu: kéo sợi, dệt, nhuộm, cắt vàmay Một kinh nghiệm trong hoạt động xuất khẩu của Trung Quốc là giao hàng đúnghạn với chất lượng tốt, điều này có ý nghĩa quyết định đến sự thành bại của ngành dệtmay và thực tế Trung Quốc luôn là người giao hàng đầu tiên và tốt nhất Với nhữnglợi thế vốn có cũng như những cố gắng nỗ lực của chính mình, Trung Quốc là nhàcung cấp hàng đầu, một đối thủ cạnh tranh nặng ký mà không một ai muốn đối đốiđầu Qua những kinh nghiệm của Trung Quốc, Việt Nam có thể học tập ở cách thứcsản xuất hiện đại, việc cung ứng sản phẩm đảm bảo một giá trị nội địa lớn, phươngcách one - stop - shopping Ngoài ra chúng ta cũng cần học hỏi cách làm sao đảm bảochữ tín trong quan hệ thương mại quốc tế
Mặt hàng thứ hai mà Trung Quốc vẫn luôn đạt được sự tăng trưởng trong xuấtkhẩu vào thị trường Hoa Kỳ, đó là các sản phẩm gia dụng, nội thất Trung Quốc làquốc gia xuất khẩu mặt hàng này lớn nhất vào Hoa Kỳ, năm 2005 đạt 11,7 tỷ USDtăng 2 tỷ so với năm 2004 và chiếm 48% thị phần nhập khẩu mặt hàng này của Hoa
Trang 16Kỳ Nguyên nhân của điều này là: giá thành của các sản phẩm của Trung Quốc ngàymột thấp trong khi chất lượng lại ngày càng nâng cao; nhiều công ty nước ngoài thậmchí kể cả một số công ty hàng đầu của Hoa Kỳ đã di chuyển sản xuất sang TrungQuốc để tận dụng giá lao động rẻ làm tăng khả năng cung của nước này; chi phí vậntải thấp; quan hệ giữa nhà sản xuất ở Trung Quốc với các nhà bán lẻ của Hoa Kỳngày càng chặt chẽ Với những phân tích trên, Việt Nam cần tham khảo kinh nghiệmcủa Trung Quốc trong việc thu hút đầu tư sản xuất từ các nhà đầu tư nước ngoài mànhất là nhà đầu tư Hoa Kỳ vào những ngành mà chúng ta có lợi thế, đồng thời cần giatăng củng cố quan hệ với hệ thống bán lẻ của Hoa Kỳ, đây là cầu nối quan trọng chohàng hóa Việt Nam đến được với người tiêu dùng.
Đối với các mặt hàng công nghiệp có hàm lượng khoa học công nghệ cao,Trung Quốc cũng là nhà cung cấp lớn cho thị trường Hoa Kỳ Hiện nay Trung Quốc
là nước xuất khẩu lớn nhất hàng điện tử vào Hoa Kỳ, năm 2005 giá trị xuất khẩu củangành này là 86,7 tỷ USD tăng 25,4% so với năm 2004 chiếm 28,5% tổng nhập khẩuhàng điện tử của Trung Quốc Còn xuất khẩu máy tính và phụ kiện của Trung Quốcvào Hoa Kỳ cũng chiếm thị phần lớn nhất với tốc độ tăng trưởng cao nhất, năm 2005kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này đạt khoảng 40,3 tỷ USD tăng 18,6 % so với năm
2004 chiếm 43% thị phần của Hoa Kỳ Nguyên nhân chủ yếu của sự tăng trưởng xuấtkhẩu cao các mặt hàng này là do nhiều nhà sản xuất lớn trên thế giới đã chuyển vàođầu tư sản xuất tại Trung Quốc do giá nhân công rẻ Việt Nam cũng là quốc gia cómột đội ngũ lao động cần cù sáng tạo, chi phí lao động của nước ta không cao vĩ thếchúng ta nên học hỏi kinh nghiệm của Trung Quốc để thu hút nhiều hơn các nhà đầu
tư nước ngoài vào đầu tư sản xuất trong nước, mà trước hết cần phải xây dựng hệthống các khu công nghệ cao, các khu chế xuất và hoàn thiện các chế tài tạo môitrường thuận lợi và tâm lý an toàn cho hoạt động đầu tư nước ngoài
Trang 17Chương 2: Thực trạng xuất khẩu hàng hóa Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ trong điều kiện hội nhập
kinh tế quốc tế
2.1 Thị trường Hoa Kỳ
2.1.1 Những đặc điểm CO’ bản của thị trường Hoa Kỳ
Tên nước: Họp Chủng quốc Hoa Kỳ (The United State of America)
Vị trí địa lỷ\ Nằm ở Bắc Hoa Kỳ, phía đông là Bắc Đại Tây Dương, phía Tây là
Bắc Thái Bĩnh Dương, phía Bắc giáp với Canada và phía Nam giáp với Meehico
Diện tích' 9.629.091 km2 chiếm 6,2% diện tích toàn cầu trong đó diện tích đất
liền là 9.158.960 km2 và diện tích mặt nước là 470.131 km2
Dân số Hoa Kỳ tính đến tháng 7/2005 là 295.734.134 người trong đó độ tuổi 0
-14 chiếm 21%; có 66,4% dân số trong độ tuổi 15 - 64 và có 12,6% dân số ở độ tuổitrên 65 Tuổi thọ trung bĩnh của người dân Hoa Kỳ là 77,4 tuổi trong đó nam trungbĩnh là 75,5 tuổi và nữ là 80,2 tuổi Đây là một quốc gia đa sắc tộc với người da trắngchiếm 77,1%; người da đen chiếm 12,9%; người châu Á chiếm 4,2% còn lại là thổdân và các dân tộc khác Có khoảng 30% dân số Hoa Kỳ hiện nay là người nhập cư
và trung bĩnh hàng năm có khoảng một triệu người nhập cư vào Hoa Kỳ
Hoa Kỳ là quốc gia theo thể chế Cộng hòa Tổng thống, chế độ lưỡng viện (từnăm 1789) Hiện nay Hoa Kỳ có 50 bang, 1 quận (Washington DC - District ofColumbia) và 13 lãnh thổ quốc đảo phụ thuộc khác
Thủ đô của Hoa Kỳ là Washington DC với diện tích 176 km2 và khoáng 600
nghìn dân Các thành phố chính: New York, Los Angeles, Chicago, San Prancisco,Philadelphia và Boston Người ta biết đến Hoa Kỳ là một quốc gia có tiềm lực quân
sự mạnh nhất, một nền kinh tế phát triển năng động với cơ cấu kinh tế: công nghiệpchiếm 18% GDP, 2% nông nghiệp và 80% là ngành dịch vụ Mặc dù nông nghiệp chỉchiếm tỷ lệ nhỏ trong cơ cấu kinh tế của Hoa Kỳ nhưng quốc gia này lại đứng đầu thếgiới về sản lượng ngũ cốc, nông nghiệp đã có những thay đổi nhanh chóng và giữ vị
Trang 18trí bất biến trong đời sống hàng ngày, các sản phẩm nông nghiệp, lương thực thựcphẩm của quốc gia này được sản xuất rất an toàn, phong phú và giá cả phù họp Vớingành công nghiệp, Hoa Kỳ là quốc gia phát triển hàng đầu thế giới về những sảnphẩm tiên tiến và có tính cạnh tranh cao Lợi thế của Hoa Kỳ là có nguồn tài nguyênthiên nhiên phong phú như than đá, đồng chi đã khiến cho trong giai đoạn nhữngnăm 1880 và 1900, thậm chí tới tận ngày nay Hoa Kỳ vẫn nổi lên là một quốc giaphát triển mạnh về công nghiệp với các ngành chủ chốt là sản xuất thép, xe hơi, cơkhí điện và điện tử, ô tô, hàng không, viễn thông, chế biến thực phẩm, hóachất trong đó riêng ngành công nghiệp chế tạo chiếm trên 80% giá trị toàn ngành.
2.1.1.l Hoa Kỳ là thỉ trườns cổ tính mở cao
Hoa Kỳ là quốc gia tiên phong trong việc ủng hộ tự do hóa thương mại vĩ vậycác quy chế xuất nhập khẩu mà quốc gia này đã và đang áp dụng đều phù họp vớinhững nguyên tắc cơ bản của WTO, đây là quốc gia nhập khẩu với khối lượng lớncác mặt hàng có hàm lượng lao động cao: dệt may, giày dép trong đó có nhiều mặthàng tiêu dùng thông thường mà Hoa Kỳ hầu như không sản xuất Một thực tế là sựphát triển của nền kinh tế Hoa Kỳ đã liên tục đóng góp cho sự phát triển toàn cầu nhờduy trì chính sách mở cửa thị trường Thông qua chính sách mở cửa của minh, cácnhà sản xuất cũng như người tiêu dùng Hoa Kỳ có thể tiếp cận với hàng hóa dịch vụ
từ nước ngoài với những điều kiện ưu đãi nhất Trong hầu hết các chính sách pháttriển kinh tế, Hoa Kỳ luôn chủ trương đặt hệ thống thương mại đa phương vào trungtâm của các quan hệ thương mại quốc tế của mình, luôn có xu hướng mở cửa thịtrường một cách cao độ thông qua các cuộc đàm phán từ song phương cho tới khuvực để đạt tới một chiến lược tự do hóa thương mại mang lại nhiều lợi ích quốc gianhất
Tính mở của thị trường còn được thể hiện ở nhu cầu thị hiếu cũng như nhữngyêu cầu trong tiêu dùng của người Hoa Kỳ không quá khắt khe, nhu cầu tiêu dùngnhiều nhưng họ không quá kỹ tính như những người tiêu dùng châu Âu hay NhậtBản Mặt khác, là đất nước đa sắc tộc, các tầng lớp dân cư trong xã hội cũng có sựphân hóa nhất định vĩ vậy nhu cầu tiêu dùng của các tầng lớp khác nhau thi cũngkhác nhau, hàng hóa bán trên thị trường Hoa Kỳ cũng sẽ đa dạng phong phú hơn cả
Trang 19về chủng loại lẫn chất lượng Sức tiêu thụ hàng hóa trên thị trường Hoa Kỳ là vôcùng hấp dẫn với bất kỳ nhà xuất khẩu nước ngoài nào Theo một khảo sát mới đâythi bĩnh quân một năm, một người phụ nữ Hoa Kỳ mua khoảng 54 bộ quần áo và 6đôi giày, và người tiêu dùng chủ yếu hiện nay là phụ nữ sau đó đến giới trẻ Thịtrường đồ gỗ cũng hấp dẫn không kém khi kim ngạch nhập khẩu gỗ, các sản phẩm gỗ
và đồ nội thất là trên 40 tỷ USD/ năm, nhu cầu tiêu dùng đối với mặt hàng này hàngnăm không ngừng tăng lên Với mặt hàng thủy sản thi trung bĩnh một người Hoa Kỳtiêu dùng khoảng 16,3 pound/ người/ năm, tức là họ đã tiêu thụ khoảng 8 % tổng sảnlượng thủy sản thế giới Có thể thấy, những mặt hàng mà thị trường Hoa Kỳ có kimngạch nhập khẩu lớn và có nhu cầu cao đều là những hàng hóa Việt Nam hoàn toàn
có khả năng cung ứng tốt, điều đó đồng nghĩa với việc doanh nghiệp Việt Nam sẽ cóthêm nhiều cơ hội kinh doanh tại thị trường này
khẩu vào thỉ trườns Hoa Kỳ
Là thị trường rộng, sức mua lớn, nhu cầu đa dạng nhưng đồng thời cũng là thịtrường có những quy định tương đối chặt chẽ đối với hàng hóa nhập khẩu Thôngthường, hàng hóa được các doanh nghiệp Hoa Kỳ nhập về phải có khối lượng lớn,phải đảm bảo đúng quy chuẩn, đúng thời hạn và đặc biệt là không được phương hạiđến lợi ích quốc gia cũng như lợi ích của các công ty nhập khẩu Hàng hóa trước khiđưa vào phân phối đến tay người tiêu dùng đều phải được kiểm nghiệm chặt chẽ, chỉkhi đã đáp ứng được các chuẩn mực nhất định mới được phép đưa vào lưu thông tớingười tiêu dùng cuối cùng Ngoài ra, trong quá trĩnh nhập khẩu hàng hóa vào thịtrường nội địa, Hoa Kỳ cũng đưa ra những quy định chung về cách tính trị giá hảiquan, về nội dung hĩnh thức của một hóa đơn thương mại đặc biệt vấn đề xuất xứ sảnphẩm rất được coi trọng Mức thuế nhập khẩu được áp dụng khác nhau cho các hànghóa đến từ các nhóm nước khác nhau và một số mặt hàng còn chịu sự quản lý bànghạn ngạch phân bổ theo quốc gia do đó việc xác định được xuất xứ hàng hóa là hếtsức quan trọng
Trang 202.1.1.3 Thi trườns Hoa Kỳ cổ hê thốne phân phối thốne nhất và ổn đỉnh
Do đặc tính là thị trường lớn, thị hiếu tiêu dùng đa dạng nên việc cung ứng cácloại hàng hóa tới người tiêu dùng cũng phải có quy mô tương ứng Thực tế đã chothấy hệ thống phân phối hàng hóa ở Hoa Kỳ phát triển ở trình độ cao và có một tổchức hoàn chỉnh Tại Hoa Kỳ hiện nay có nhiều loại công ty lớn, vừa và nhỏ sử dụngcác kênh phân phối sản phẩm khác nhau Các công ty lớn thường có hệ thống phânphối riêng và tự minh thực hiện các khâu từ nghiên cứu, sản xuất, tiếp thị, phân phối
và tự nhập khẩu Còn đối với các công ty vừa và nhỏ thi vận động xung quanh hệthống thị trường và được sự hỗ trợ từ phía Chính phủ Các công ty vừa và nhỏ củaHoa Kỳ tiến hành nhập khẩu hàng hóa về và bán tại thị trường trong nước thông quanhiều cách khác nhau: bán cho các cửa hàng bán lẻ, bán cho các nhà phân phối, tiếnhành bán lẻ trực tiếp Khi nói tới các kênh phân phối trên thị trường Hoa Kỳ khôngthể không nhắc tới vai trò của hệ thống bán lẻ Hiện nay Hoa Kỳ có trên 1 triệu doanhnghiệp bán lẻ chiếm khoảng 11,7% tổng số việc làm tại Hoa Kỳ, riêng trong ngànhmay mặc đã có hàng trăm cửa hàng bán lẻ quần áo với doanh thu khoảng 93 tỷ USD/năm Với mặt hàng thủy sản, việc cung ứng cũng rất tiện lợi với hệ thống các nhàhàng, hệ thống cung cấp cho các cơ sở ăn uống công cộng như trường học, hộ giađinh; hệ thống bán lẻ là các chuỗi siêu thị, các cửa hàng bán lẻ, các chợ, các cửahàng
2.1.1.4 Hoa Kỳ là thị trườns có cườns độ cạnh tranh cao
Như đã biết, nhu cầu nhập khẩu của Hoa Kỳ hàng năm là lớn nhất thế giới, đây
là cái đích hướng tới của nhiều nhà xuất khẩu Do đó trên thị trường này luôn có mặtcủa rất nhiều nhà cung cấp lớn nhỏ từ khắp nơi trên thế giới, đó chính là nguyên nhân
cơ bản của sự cạnh tranh gay gắt giữa các nhà xuất khẩu với nhau, giữa nhà xuấtkhẩu với nhà sản xuất nội địa, và trong những chiến lược cạnh tranh đó, giá cả vàchất lượng là hai yếu tố cơ bản nhất giữ vai trò quan trọng cần được các doanhnghiệp xuất khẩu lưu tâm Trong hai yếu tố đó, giá cả đôi khi có sức cạnh tranh hơn
so với chất lượng sản phẩm bởi người tiêu dùng Hoa Kỳ thường không muốn trả tiềntheo giá niêm yết, hàng hóa bán tại trị trường Hoa Kỳ phải kèm theo dịch vụ sau bánhàng, số lượng và chất lượng của những dịch vụ này có ý nghĩa quan trọng trong sự
Trang 21lựa chọn mua hàng của họ Nắm được đặc điểm này mà các doanh nghiệp thường tậptrung cao vào phục vụ tốt các dịch vụ sau bán hàng cũng như tim cách để hạ thấp giáthành sản phẩm đến mức tối thiểu có thể Các nhà kinh doanh tại thị trường Hoa Kỳphải chấp nhận cạnh tranh gay gắt và cái giá phải trả cho sự nhầm lẫn là rất lớn.
2.1.1.5 Vai trò của các Hiệp hội kinh doanh và hê thốne tư vấn rất được đề cao
Mặc dù là thị trường có tính mở khá cao nhưng trên thực tế các chính sáchthương mại của quốc gia này vẫn mang xu hướng bảo vệ các doanh nghiệp sản xuấttrong nước tương đối chặt chẽ và nghiêm ngặt Điều này được thể hiện ở một sốlượng lớn các Hiệp hội, các tổ chức của các nhà kinh doanh giữ vai trò hướng dẫn,phối hợp hoạt động và bảo vệ lợi ích các doanh nghiệp trong nước trước sự thâmnhập mạnh mẽ của các doanh nghiệp nước ngoài Điều này vừa tạo ra những tháchthức và những cơ hội mà nếu doanh nghiệp nước ngoài khai thác được thi sẽ có đượcmột sự đảm bảo vững chắc cho xuất khẩu hàng hóa vào thị trường Hoa Kỳ là: thôngqua thiết lập mối quan hệ tốt đẹp bĩnh đẳng với các tổ chức Hiệp hội ngành hàng củaHoa Kỳ, nhà xuất khẩu nước ngoài sẽ có thể dễ dàng tim cho minh những đối tác làm
ăn là các doanh nghiệp nội địa phù họp nhất từ đó thiết lập quan hệ thương mại, cơ sởcho việc mở rộng thị trường xuất khẩu, đây là cách tiếp cận thị trường hiệu quả cao
và đảm bảo được sự tin cậy
Hệ thống pháp luật Hoa Kỳ vốn phức tạp nên để có thể hiểu được những vấn đềliên quan đến pháp luật cũng như có một sự đảm bảo pháp lý vững chắc cho hoạtđộng kinh doanh của mình, nhà xuất khẩu thường lựa chọn cho mình những cố vấnluật pháp riêng Các nhà nhập khẩu Hoa Kỳ rất đề cao vai trò của các dịch vụ tư vấnđặc biệt là dịch vụ tư vấn luật, họ rất sợ trong hợp đồng của mình có bất cứ điều gìkhông rõ ràng hay không đúng với quy định của pháp luật, và họ cũng muốn các đốitác làm ăn của mình nắm vững cơ sở pháp lý cho các điều khoản hợp đồng Các nhàxuất khẩu, doanh nghiệp nước ngoài luôn cần phải có sự hỗ trợ của các loại hĩnh dịch
vụ này cho quá trình hoạt động của minh trong quan hệ làm ăn với thương nhân Hoa
Kỳ, tuy nhiên cũng cần phải tính toán cụ thể vĩ giá của những dịch vụ này tại Hoa Kỳ
là tương đối cao Với người Hoa Kỳ, “thời gian là tiền bạc”, họ cũng coi thời gian làmột loại hàng hóa như tất cả các loại hàng hóa khác, người Hoa Kỳ tiết kiệm thời
Trang 22gian như tiết kiệm tiền bạc đặc biệt là những người làm dịch vụ tư vấn, luậtsư thường tính phí hoặc tiền công dựa trên số giờ làm việc với khách hàng Vĩ vậy,các nhà kinh doanh nước ngoài khi cần phải sử dụng các dịch vụ này phải hết sức lưuý: chuẩn bị đầy đủ và chu đáo mọi câu hỏi cần giải đáp cũng như nội dung cần tư vấn
để đi thẳng vào vấn đề, tiết kiệm tối đa thời gian sử dụng các dịch vụ này Cũngchính vĩ tiết kiệm thời gian mà các nhà kinh doanh Hoa Kỳ không có nhiều thời giancho những câu chuyện rông dài hoặc đọc những bức thư dài hoặc phải chờ đợi sự trảlời chậm trễ Do đó, các bức thư chào hàng hoặc giao dịch trước hết phải đảm bảođược sự ngắn gọn súc tích thu hút được sự chú ý của đối tác, nội dung phải rõ ràng vàtrả lời thẳng vào vấn đề mà đối tác quan tâm Sự chậm trễ trả lời các thư hỏi hàng sẽlàm mất cơ hội kinh doanh
2.1.2 Rào cản thương mại đối với hàng hóa nhập khẩu vào Hoa Kỳ
Là một quốc gia theo thể chế Cộng hòa Liên bang do đó ngoài hệ thống phápluật liên bang thi mỗi bang đều có hệ thống pháp luật riêng nhưng không được tráivới Hiến pháp chung của quốc gia, trong trường hợp có sự mâu thuẫn giữa luật liênbang, luật của bang hoặc luật địa phương thì luật liên bang sẽ có hiệu lực Tất cả cácbang của Hoa Kỳ (trừ bang Luoisiana theo hệ thống Luật châu Âu) đều theo hệ thốngLuật Anh - Hoa Kỳ Theo hệ thống Luật pháp này thì những giải thích luật của Tòa
án sẽ trở thành luật áp dụng trong các trường họp sau và tương tự do đó với các nhàxuất khẩu nước ngoài khi tìm hiểu luật pháp Hoa Kỳ cũng cần phải nghiên cứu tìmhiểu các phán quyết của Tòa án
Hệ thống luật pháp Hoa Kỳ phức tạp nhưng về cơ bản nó bao gồm:
Thứ nhất, Luật bồi thường thương mại được sử dụng với mục đích chống lại sự
cạnh tranh không công bằng của hàng nhập khẩu với hàng hóa được sản xuất trongnước và bảo vệ lợi ích của các doanh nghiệp trong nước Luật bồi thường thương mạibao gồm 2 phân nhánh là Luật chống trợ giá và Luật chống bán phá giá
Thứ hai, Luật hạn chế nhập khẩu bao gồm: Hạn chế nhập khẩu nông sản và
hàng dệt; Hiệp định đa sợi/ Hiệp định hàng dệt may; Nông nghiệp và Luật thực hiệncác Hiệp định vòng đàm phán Urugoay; Hạn ngạch thuế quan đối với sản phẩm
Trang 23đường; Hạn ngạch thuế quan đối với thịt; và Luật cấm nhập khẩu một số loại rau quảnếu không đáp ứng được phẩm cấp tiêu thụ
Thứ ba, các điều Luật hạn chế nhập khẩu căn cứ theo các Luật môi trường: Luật
bảo vệ động vật biển có vú 1972 (MMPA); Luật thực thi lệnh cấm đánh cá ngoàikhơi xa bờ bàng lưới quét; Luật bảo tồn chim rừng năm 1992
Thứ tư, Luật về trách nhiệm đối với sản phẩm
Thứ năm, Luật bảo vệ người tiêu dùng bao gồm: Luật an toàn sản phẩm tiêu
dùng; Luật liên bang về các chất nguy hiểm; Luật về vải dễ cháy; Luật về an toàn tủlạnh gia đĩnh; Luật về đóng gói phòng ngộ độc
2.1.2.1 HỆ thốne thuế và biểu thuế nhập khẩu đổi với hàne hóa nhập khẩu vào Hoa Kỳ
Biểu thuế nhập khẩu (biểu thuế quan) HTS hiện hành của Hoa Kỳ được banhành trong Luật thương mại và cạnh tranh Omnibus năm 1988 và có hiệu lực từ ngày01/01/1989 Hệ thống thuế quan của Hoa Kỳ được xây dựng trên cơ sở hệ thống thuếquan HS của Hội đồng Họp tác Hải quan - một tổ chức liên Chính phủ có trụ sở tạiBruxen Theo biểu thuế này thì mức thuế với các hàng hóa nhập khẩu vào Hoa Kỳ cóthể thay đổi và được công bố hàng năm
a) Các loại thuế
Mặc dù có rất nhiều loại thuế khác nhau được áp dụng đối với hàng hóa nhậpkhẩu vào Hoa Kỳ nhưng về cơ bản hiện nay quốc gia này đang áp dụng các loại thuếsau, cách phân chia này được dựa trên phương thức tính thuế:
Thứ nhất, thuế theo giá trị Đây là thuế được đánh theo tỷ lệ trên giá trị, tức là
bằng một tỷ lệ % trị giá giao dịch của hàng hóa nhập khẩu
Thứ hai, thuế theo trọng lượng/ khối lượng Loại thuế này được áp dụng chủ
yếu cho hàng nông sản và hàng sơ chế, nó chiếm khoảng 12% số dòng thuế trongbiểu thuế HTS của Hoa Kỳ
Thứ ba, thuế gộp Thuế gộp được áp dụng cho hàng nông sản, theo cách tính
thuế này hàng hóa nhập khẩu sẽ phải chịu gộp cả thuế theo giá trị và thuế theo sốlượng/ khối lượng
Trang 24Thứ tư, thuế theo hạn ngạch Hàng hóa nằm trong phạm vi hạn ngạch cho phép
sẽ được hưởng mức thuế thấp hơn, còn đối với những hàng hóa nhập khẩu vượt quáhạn ngạch sẽ phải chịu mức thuế cao hơn và có nhiều trường hợp còn bị trừng phạtbàng biện pháp cấm nhập khẩu Thuế này áp dụng với các sản phẩm thịt bò, sảnphẩm sữa, đường, các sản phẩm đường
Thứ năm, thuế theo thời vụ Theo những quy định của loại thuế này thi mức
thuế đối với một loại nông sản có thể thay đổi tùy theo thời điểm nhập khẩu vào Hoa
Kỳ do đó nó áp dụng chủ yếu cho các loại nông sản có tính chất mùa vụ
Thứ sáu, thuế leo thang Thuế leo thang được tính trên cơ sở mức độ chế biến
của sản phẩm, các mặt hàng có tỷ lệ chế biến cao thi thuế suất nhập khẩu càng cao.Loại thuế này còn được gọi là thuế lũy tiến: thuế nhập khẩu đối với các sản phẩm thô
là rất thấp trong khi thuế đối với sản phẩm chế biến là rất cao Chính vĩ vậy mà thuếleo thang được sử dụng với mục đích khuyến khích nhập khẩu nguyên liệu và hàng
sơ chế thay vĩ nhập khẩu thành phẩm
b) Các mức thuế
Theo một cách phân chia khác, trong từng loại thuế, hàng hóa nhập khẩu vàoHoa Kỳ còn được điều chỉnh theo các mức thuế suất khác nhau mà cơ sở để điềuchỉnh được dựa trên nguồn gốc của sản phẩm:
Thứ nhất, mức thuế tối huệ quốc (MFN) hay còn được gọi là mức thuế dành cho
các nước có quan hệ thương mại bĩnh thường (NTR) Mức thuế này được áp dụngcho các nước thành viên WTO và những nước tuy chưa phải là thành viên WTOnhưng đã ký Hiệp định thương mại song phương Theo quy định của Hoa Kỳ, mứcthuế MFN nằm trong phạm vi giới hạn từ dưới 1% đến gần 40%, trong đó hầu hết cácmặt hàng đều chịu mức thuế từ 2% - 7% và theo giá trị bĩnh quân là khoảng 4%
Thứ hai, mức thuế phi tối huệ quốc (Non - MFN) được áp dụng với những quốc
gia chưa phải là thành viên của WTO và chưa ký Hiệp định thương mại song phươngvới Hoa Kỳ, mức thuế suất nằm trong khoảng 20% -110%
Trang 25Thứ ba, mức thuế áp dụng với khu vực mậu dịch tự do NAFTA: hàng hóa được
nhập khẩu từ Mexico và Canada sẽ được miễn thuế nhập khẩu hoặc được hưởng mứcthuế suất ưu đãi thấp hơn mức thuế MFN
Thứ tư, chế độ ưu đãi thuế quan phổ cập (GSP): Một số hàng hóa xuất khẩu từ
một số quốc gia đang phát triển được Hoa Kỳ cho hưởng GSP sẽ được miễn thuếnhập khẩu Hiện nay có khoảng 3500 sản phẩm từ trên 140 quốc gia và vùng lãnh thổđược hưởng ưu đãi này, trong đó có Việt Nam Những hàng hóa được hưởng GSP lànhững sản phẩm công nghiệp và bán công nghiệp, một số mặt hàng nông thủy sản vàcác nguyên liệu công nghiệp Chương trình GSP của Hoa Kỳ thực sự được thực hiện
từ ngày 01/01/1976 với thời hạn ban đầu là 10 năm Từ đó đến nay, chương trình này
đã được gia hạn nhiều lần cùng với một số sửa đổi
Thứ năm, sáng kiến khu vực lòng chảo Caribe (CBI) quy định rằng tổng thống
có quyền đơn phương dành ưu đãi thương mại cho hàng nhập khẩu từ các nước vàlãnh thổ nằm trong khu vực lòng chảo Caribe Hiện nay có 24 quốc gia và vùng lãnhthổ được hưởng lợi của CBI theo đó hàng hóa xuất khẩu từ các quốc gia này vào Hoa
Kỳ không bị hạn chế về số lượng và được miễn thuế
Thứ sáu, cấc Hiệp định thương mại tự do song phương Theo thỏa thuận trong
các hiệp định này thì hàng hóa nhập khẩu vào Hoa Kỳ nằm trong phạm vi Hiệp địnhgiữa Hoa Kỳ và một quốc gia nào đó sẽ được hưởng mức thuế thấp hơn mức thuếMFN
Thứ bảy, cấc ưu đãi thuế quan khác Đây là những ưu đãi đối với các loại hàng
hóa nhập khẩu vào Hoa Kỳ thuộc diện hưởng lợi của Luật Thương mại các sản phẩm
ô tô, Hiệp định Thương mại máy bay dân dụng, Hiệp định thương mại các sản phẩmDược và những cam kết giảm thuế của vòng Uruguay đối với hóa chất nguyên liệutrực tiếp của thuốc nhuộm Đối với các mặt hàng kim loại chế biến ở nước ngoài từkim loại mua của Hoa Kỳ khi nhập khẩu vào Hoa Kỳ sẽ được miễn thuế nhập khẩuđối với phần giá trị mua của Hoa Kỳ Với hàng lắp ráp từ các bộ phận mua của Hoa
Kỳ khi nhập khẩu vào Hoa Kỳ sẽ được miễn thuế nhập khẩu đối với phần trị giá muacủa Hoa Kỳ
Trang 262.1.2.2 Hàns rào phi thuế quan
Hệ thống rào cản phi thuế quan trong thương mại cũng như các rào cản kỳ thuật
là công cụ phổ biến được Hoa Kỳ sử dụng để bảo vệ thị trường nội địa trước hànghóa nhập khẩu nhưng quan trọng là bảo vệ các doanh nghiệp, bảo hộ nền sản xuấttrong nước Các biện pháp cản trở phi thuế quan được Hoa Kỳ sử dụng trong quản lýhoạt động nhập khẩu:
a) Quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm
Bất cứ hàng hóa nào khi nhập khẩu vào Hoa Kỳ đều phải đảm bảo các tiêuchuẩn giống như các sản phẩm nội địa cùng loại Nhà nhập khẩu và chế biến đều phảituân theo các quy định trong Bộ luật Liên bang Hoa Kỳ (CFR) để đảm bảo rằng sảnphẩm đó không có độc tố, an toàn trong sử dụng và được sản xuất trong điều kiện vệsinh Cũng theo Bộ luật này quy định từ ngày 18/12/1997, chỉ có các doanh nghiệpnước ngoài đã thực hiện kế hoạch HACCP có hiệu quả mới được đưa hàng hóa vàoHoa Kỳ
HACCP là kế hoạch quản lý chất lượng theo cách tiếp cận mang tính phòngngừa nhằm đảm bảo an toàn thực phẩm và chất lượng thực phẩm thông qua việc phântích mối nguy và thực hiện các biện pháp kiểm soát tại các điểm kiểm soát tới hạn
Ke hoạch HACCP nhấn mạnh vai trò của nhà sản xuất, thường xuyên ngăn ngừa và
xử lý kịp thời những mối nguy có thể xâm nhập vào sản phẩm từ khâu nguyên liệu tớisản phẩm cuối cùng
HACCP yêu cầu phải phân tích, kiểm soát dây chuyền công nghệ sản xuất tạicác điểm kiểm soát trong suốt quá trình để đảm bảo sản phẩm an toàn, vệ sinh, usFDA là cơ quan có thẩm quyền của Hoa Kỳ có quyền kiểm tra chương trình
HACCP Các doanh nghiệp xuất khẩu hàng hóa muốn xuất hàng sang Hoa Kỳ cầnphải lập kế hoạch HACCP cho sản phẩm xuất khẩu của minh và gửi cho cơ quanFDA trước mỗi chuyến hàng thông qua nhà nhập khẩu Một điều cần lưu ý đối vớicác doanh nghiệp xuất khẩu là để đảm bảo đúng tiêu chuẩn HACCP thi nhà sản xuấtphải có cơ sở sản xuất theo các quy chuẩn về an toàn vệ sinh phổ biến trên thế giớinhư GMP hay SSOP Tiêu chuẩn HACCP được áp dụng các thực phẩm đóng hộp,dược phẩm và hóa Hoa Kỳ phẩm
Trang 27b) Quy định về trách nhiệm xã hội
Với mỗi sản phẩm được nhập khẩu vào Hoa Kỳ đều phải chứng minh được sảnphẩm đó không vi phạm các quy định về trách nhiệm xã hội trong SA8000, đó là:Không được sử dụng lao động trẻ em (vị thành niên)
Không được sử dụng lao động khi không đảm bảo các điều kiện sức khỏecho người lao động
Tôn trọng quyền tự do hiệp hội và quyền thỏa ước tập thể Không phânbiệt đối xử lao động về: tuyển dụng, lương bổng, đào tạo Không áp dụng hĩnhphạt thể xác, tinh thần, không vi phạm tiêu chuẩn làm việc
Đảm bảo tiền lương và thời gian làm việc theo quy định của pháp luậtBảo đảm an toàn lao động và đền bù cho lao động khi xảy ra tai nạn
c) Quy định về nhãn mác sản phấm
Luật pháp Hoa Kỳ quy định các nhãn hiệu hàng hóa phải được đăng ký tại CụcHải quan Hoa Kỳ Đạo luật về nhãn hiệu năm 1946 cấm nhập khẩu những sản phẩmlàm nhái theo những thương hiệu đã được đãng ký tại Hoa Kỳ, hoặc những nhãn hiệutương tự đến mức gây nhầm lẫn Với những hàng hóa nhập khẩu không đáp ứng đượcyêu cầu về ghi mác sẽ bị giữ ở khu vực hải quan Hoa Kỳ cho tới khi người nhập khẩuhoàn tất thủ tục để tái xuất trở lại hoặc phá hủy Neu nhãn hàng hóa có ghi bàng tiếngnước ngoài thì trên nhãn đó bắt buộc phải ghi cả bàng tiếng anh tất cả những thôngtin theo quy định đặc biệt là tên nước xuất xứ Với tên nước xuất xứ, Luật hải quancủa Hoa Kỳ quy định mọi hàng hóa nhập khẩu vào Hoa Kỳ đều phải ghi vào một vịtrí dễ thấy, bằng cách không thể phai mờ và tùy theo bản chất hàng hóa cho phép, tênnước xuất xứ phải ghi bàng tiếng anh - trừ một số mặt hàng theo danh sách riêngđược miễn ghi tên nước xuất xứ Tất cả những quy định chi tiết về ghi nhãn mác sảnphẩm đều tuân theo điều Luật 21CFR - 101
d) Quy định về tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm
Trong điều Luật 21CFR 103 - 169 đã nêu chi tiết các tiêu chuẩn thực phẩm củaFDA Tiêu chuẩn về nhận diện sản phẩm định nghĩa các loại thực phẩm, xác định têngọi, các thành phần và các yêu cầu về nhãn mác Còn tiêu chuẩn về chất lượng là cáctiêu chuẩn tối thiểu về chất lượng trên mức yêu cầu theo luật FDCA MỘt cách khái
Trang 28quát, các sản phẩm hàng hóa khi muốn được chấp nhận tại thị trường Hoa Kỳ thitrước hết phải đáp ứng được các yêu cầu tiêu chuẩn theo quy định của pháp luật Hoa
Kỳ đưa ra Ngoài các quy định tiêu chuẩn cơ bản, luật pháp Hoa Kỳ còn đưa ranhững quy định về kiểm dịch hàng hóa nhập khẩu, quy định về truy xuất nguồn gốcsản phẩm Với những kiểm soát chặt chẽ mọi mặt như thế buộc nhà xuất khẩu nướcngoài phải nghiên cứu rất kỳ và tuyệt đối nghiêm chỉnh chấp hành
2.2 Quan hệ thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ
Quan hệ thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ được chính thức thiết lập với một thờigian ngắn, tuy nhiên nền tảng của quan hệ thương mại hiện tại mới là quan hệ buônbán hàng hóa giữa hai quốc gia đã tồn tại từ lâu - vào khoảng thế kỷ XIX - khi các tàubuôn của Hoa Kỳ đưa hàng vào bán tại Việt Nam, đó là các mặt hàng dầu hỏa và đènthắp bàng dầu hỏa (đèn Hoa Kỳ) Cho đến sau Cách mạng tháng 8 và trong cả thời kỳkháng chiến chống Pháp, thông qua con đường viện trợ và cung ứng của Hoa Kỳ chothực dân Pháp mà hàng hóa của Hoa Kỳ đã được tiêu dùng rất nhiều bao gồm cả quândụng và dân dụng, hàng tiêu dùng, vũ khí và các phương tiện chiến tranh khác
Năm 1954, sau Hiệp định Giơnevơ, miền Bắc được giải phóng, Hoa Kỳ trựctiếp tham chiến tại miền Nam Việt Nam, theo đó, Hoa Kỳ thực hiện viện trợ hàng hóacho ngụy quyền chính vĩ thế trong giai đoạn này có khoảng 90% hàng hóa lưu thông
ở miền Nam là hàng hóa Hoa Kỳ
Sau ngày 30/04/1975, Hoa Kỳ đã chấm dứt quan hệ mọi mặt với Việt Nam, thựchiện cấm vận kinh tế và cô lập nước ta kéo dài gần 20 năm Trong thời gian này, mặc
dù Chính phủ Hoa Kỳ ngăn cản quan hệ thương mại giữa hai nước nhưng trên thực tếhàng hóa của Việt Nam và Hoa Kỳ vẫn được lưu thông với nhau một cách khôngchính thức thông qua các cầu nối trung gian Năm 1990 kim ngạch thương mại haichiều Việt Nam - Hoa Kỳ là 0,61 triệu USD, đến năm 1993 là 4 triệu USD
Đến năm 1993, sau gần 20 năm cấm vận, tổng thống B.Clinton tuyên bố bắt đầuthực hiện lộ trình bĩnh thường hóa quan hệ với Việt Nam với các dấu mốc quantrọng:
Ngày 3/2/1994 Chính phủ Hoa Kỳ tuyên bố bãi bỏ lệnh cấm vận với ViệtNam
Trang 29Ngày 11/7/1995 Hoa Kỳ tuyên bố chính thức bĩnh thường hóa quan hệ vớiViệt Nam, quan hệ ngoại giao giữa hai nước bắt đầu được nối lại.
Ngày 5/8/1995 Bộ trưởng ngoại giao Hoa Kỳ Chritopher thăm chính thức ViệtNam
Ngày 5/9/1995 cựu tổng thống Bush thăm Việt Nam
Tháng 4/1996 Hoa Kỳ trao cho Việt Nam bản yếu tố bĩnh thường hóa quan hệkinh tế - thương mại với Việt Nam
Tháng 7/1996 Việt Nam trao cho Hoa Kỳ “Năm nguyên tắc bĩnh thường hóaquan hệ kinh tế - thương mại và đàm phán về Hiệp định thương mại”
Ngày 10/3/1998 Hoa Kỳ tuyên bố miễn thi hành điều luật Jackson - Vanik vớiViệt Nam
Tháng 9/1996 bắt đầu đàm phán về Hiệp định thương mại song phương
Ngày 13/7/2000 quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ đã được đánh dấu một bước pháttriển quan trọng bàng việc ký kết Hiệp định thương mại song phương (viết tắt làBTA) - một hiệp định đã mở ra cơ hội lớn cho các nhà xuất khẩu Việt Nam thâmnhập vào một trong những thị trường lớn nhất thế giới Và đến ngày 10/12/2001,BTA được Quốc hội hai nước phê chuẩn và chính thức có hiệu lực
Ke từ khi quan hệ Việt Hoa Kỳ chính thức được bĩnh thường hóa, thương mạigiữa hai quốc gia đã có những bước phát triển nhảy vọt Theo số liệu của Hải quanHoa Kỳ, năm 1993 Việt Nam chưa xuất khẩu sang Hoa Kỳ một sản phẩm nào thi đếnngay năm đầu tiên sau khi lệnh cấm vận được bãi bỏ trị giá xuất khẩu của Việt Namsang Hoa Kỳ đạt 50,5 triệu USD và sau khi BTA có hiệu lực thi con số này đã tănglên 1,026 tỷ USD (năm 2001) và đến năm 2004 đạt 4,992 tỷ USD sau 10 năm bĩnhthường hóa, đưa Hoa Kỳ trở thành thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với tỷtrọng xuất khẩu sang Hoa Kỳ chiếm 18,8% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam(thị trường Nhật Bản chiếm 18,2% và EU chiếm 18,5%)
2.3 Thưc trang xuất khẩu hàng hóa của Viêt Nam sang thi
trường Hoa Kỳ
Trang 302.3.1 Xuất khẩu hàng hóa sang Hoa Kỳ trước khi BTA có hiệu lực
2.3.1.1 Kim nẹgch xuất khẩu của hànẹ hóa Việt Nam sang Hoa Kỳ
Mặc dù quan hệ thương mại Việt Hoa Kỳ chính thức nối lại từ năm 1995 nhưngcho đến trước khi ký BTA (2001) tiến trình phát triển thương mại giữa hai quốc giavẫn còn nhiều trở ngại lớn do Hoa Kỳ chưa dành cho Việt Nam quy chế MFN hayPNTR, vĩ vậy hầu hết hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam sang Hoa Kỳ phải chịu mứcthuế cao hơn rất nhiều so với nhiều quốc gia khác, do đó trong giai đoạn này chỉ một
số mặt hàng có lợi thế cạnh hanh của Việt Nam mới có thể duy trĩ mức tăng trưởngtại thị trường này và nhìn chung kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Hoa Kỳvẫn tăng qua các năm: 50,6 triệu năm 1994 tăng lên 325,30 triệu USD vào năm 2001;thặng dư thương mại cũng luôn đạt được tăng trưởng từ 101,9 triệu USD năm 1997lên 453,8 triệu USD năm 2000 Ở giai đoạn này, Việt Nam luôn là nước nhập siêutrong quan hệ thương mại với Hoa Kỳ, điều này được thể hiện khá rõ ở bảng 2.2:
Bảng 2.2.Quan hệ thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ giai đoạn 1992 - 2001
Trang 31Qua bảng trên có thể thấy, trong giai đoạn từ 1992 - 1996 Việt Nam luôn trongtình trạng nhập siêu Nguyên nhân của điều này là do Việt Nam chưa được hưởng ưuđãi thuế quan nên hàng hóa của ta khó có thể cạnh tranh với hàng hóa các nước kháctrên thị trường Hoa Kỳ trong khi đó hàng hóa Hoa Kỳ vào Việt Nam lại được hưởngquy chế ngang bằng bĩnh đẳng không phân biệt xuất xứ Mặt khác, do mới tái thiết quan
hệ nên hai bên chưa có những hiểu biết tốt về thị trường và luật pháp của nhau, đặc biệt
từ phia Việt Nam nên chưa có những biện pháp hữu hiệu để tăng cường hoạt động xuấtkhẩu
Từ năm 1997, Việt Nam luôn có thặng dư thương mại với Hoa Kỳ, năm 1997 là101,90 triệu USD và năm 2000 là 453,80 triệu USD Tính từ năm 1992 đến hết năm
2000 Việt Nam đã xuất siêu sang Hoa Kỳ tổng giá trị là 680,70 triệu USD
Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam sang Hoa Kỳ trong giai đoạn này chủyếu nghiêng về các mặt hàng nông sản, nguyên liệu thô, chỉ tập trung vào một số ít mặthàng cơ bản, khả năng đa dạng hóa thấp Cơ cấu mặt hàng này đã thể hiện trình độ pháttriển kinh tế thấp của nước ta:
Bảng 2.3 Các mặt hàng xuất khẩu chính của Việt Nam sang Hoa Kỳ
Đơn vị: Triệu USD
(Nguôn: Bộ Thương mại Việt Nam, 3/2000)
Trang 32này cũng giúp Việt Nam khắc phục được những hạn chế về thiếu vốn và thiếu kỹ thuậtcông nghệ cao.
Cà phê
Trước khi BTA được ký kết, cà phê luôn giữ vị trí số 1 trong số các mặt hàng xuấtkhẩu sang Hoa Kỳ: trị giá xuất khẩu năm 1994 chiếm 59,4% tổng kim ngạch xuất khẩusang Hoa Kỳ, đến năm 1995 là 72,97% Cà phê là loại đồ uống được người Hoa Kỳ ưathích do đó sức tiêu thụ của thị trường này lớn, cùng với lợi thế không bị đánh thuế nhậpkhẩu và được hưởng chính sách không phân biệt đối xử nên mặt hàng này của Việt Nam
có nhiều cơ hội gia tăng lượng xuất khẩu cũng như có điều kiện cạnh tranh bĩnh đẳng vớicác quốc gia xuất khẩu khác
Hải sản
Hải sản cũng là một trong những mặt hàng được miễn thuế nhập khẩu vào Hoa Kỳ
Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ chủ yếu là tôm cua đông lạnh, độngvật thân mềm, cá tươi là những loại sản phẩm mà Việt Nam có thế mạnh nhờ vùng biểnkhai thác rộng lớn Tuy nhiên khả năng mở rộng xuất khẩu hải sản sang Hoa Kỳ là hạnchế bởi các doanh nghiệp Việt Nam còn nhiều yếu kém trong khâu chế biến, bảo quản sảnphẩm và chưa khai thác được tài nguyên đánh bắt xa bờ
Dêt may
Dệt may là mặt hàng xuất khẩu lớn thứ ba sau cà phê và dầu thô trong kim ngạchxuất khẩu sang Hoa Kỳ Với những số liệu trên có thể thấy trị giá của hàng dệt may tăngđều qua các năm, nhưng mức độ gia tăng này là thấp so với các mặt hàng khác cũng như
so với mức độ tăng trưởng chung (thể hiện ở trị giá xuất khẩu của tăng nhưng kim ngạchxuất khẩu trong tổng kim ngạch xuất khẩu chung lại giảm) Thực tế là mặt hàng dệt may
Trang 33xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ mới chỉ chiếm 2% kim ngạch xuất khẩu toàn ngành,tức là thị phần của thị trường này vẫn còn rất nhỏ Nguyên nhân của tình trạng này là dotrong giai đoạn đầu này chúng ta chưa thực sự coi trọng thị trường Hoa Kỳ, mặt kháchàng dệt may của Việt Nam chưa được hưởng quy chế MFN cùng với sự chênh lệch thuếsuất MFN và Non - MFN là tương đối lớn đã khiến cho hàng Việt Nam bị yếu thế so vớicác nước được hưởng MFN xuất khẩu dệt may khác ( thuế MFN là 20 - 25% trong khiViệt Nam phải chịu mức thuế là 40 - 90%) Ngoài ra còn phải kể đến những rào cảnthương mại đối với hàng dệt may của Việt Nam còn khá nghiêm ngặt, tính phù hợp vớithị hiếu người tiêu dùng của hàng Việt Nam chưa cao (yếu tố thời trang trong hàng maymặc xuất khẩu của Việt Nam còn thấp)
Rau auả
Rau quả là mặt hàng có tỷ trọng xuất khẩu sang Hoa Kỳ thấp nhưng tăng nhanh vềgiá trị và tương đối ổn định Thực tế này có thể được lý giải bởi hai nguyên nhân cơ bản:
Thứ nhất, giá của các mặt hàng rau quả của Việt Nam còn cao so với sản phẩm cùng
loại đến từ các quốc gia khác do chúng ta chưa được hưởng quy chế MFN
Thứ hai, thị trường Hoa Kỳ luôn muốn nhập rau quả “sạch” trong khi nước ta chưa
có vùng chuyên canh lớn trồng rau sạch cho xuất khẩu, chúng ta lại thiếu những nhà máychế biến rau quả hiện đại vĩ vậy hiệu quả sản xuất chế biến rau quả còn thấp
Giày dép
Dung lượng thị trường của mặt hàng giày dép tại Hoa Kỳ không ngừng được mởrộng Tuy nhiên tốc độ tăng trường của mặt hàng này càng về sau càng có chiều hướnggiảm do trong giai đoạn đầu mặt hàng này của Việt Nam xuất khẩu sang Hoa Kỳ có mứcchênh lệch thuế suất MFN và Non - MFN không nhiều (thuế có MFN là 20% và không cóMFN là 35%) nên giày dép của ta có điều kiện cạnh tranh bĩnh đẳng và tăng nhanh vềlượng bán, nhưng đến giai đoạn sau mức chênh lệch này tăng lên (mức thuế có MFN chỉcòn 8,5% - 10%) khiến cho hàng của Việt Nam bị bất lợi hơn về giá do đó lượng hàngbán được cũng bị giảm nhanh chóng
Do mới tái thiết lập quan hệ với Hoa Kỳ nên các doanh nghiệp Việt Nam chưa cónhiều kinh nghiệm trong hợp tác thương mại với thị trường này, do đó hĩnh thức xuất
Trang 34khẩu chủ yếu của hàng hóa Việt Nam trong những năm đầu bĩnh thường hóa quan hệ này
là thông qua các trung gian thương mại, các doanh nghiệp Việt Nam không trực tiếp cungcấp hàng hóa tới tay người tiêu dùng mà chủ yếu xuất khẩu
cho các công ty thương mại của Mỳ hoặc một nước thức ba Thực tế là trong thời kỳnày, hàng hóa bán cho các trung gian thương mại cũng không phải là hàng tiêu dùng
mà các doanh nghiệp Việt Nam tập trung vào xuất khẩu nguyên liệu thô, các sảnphẩm sơ chế mà chưa có khả năng xuất khẩu sản phẩm chế biến, đây là hiện tượngphổ biến ở các mặt hàng nông thủy sản Còn hàng dệt may, giày dép chúng ta chủ yếuxuất khẩu gia công cho các doanh nghiệp nước ngoài, điều này khiến cho giá trị giatăng trong sản phẩm của Việt Nam là thấp
2.3.2 Xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ từ
khi BTA có hiêu lưc
• •
2.3.2.1 Kim nsach xuất khẩu của Viêt Nam saneHoa Kỳ
Hiệp định thương mại song phương BTA được ký ngày 13/07/2000 đã đánh dấumốc quan trọng trong quan hệ thương mại giữa hai quốc gia, nhiều cơ hội kinh doanhmới mở ra cho các nhà xuất khẩu Việt Nam khi mà sau khi ký kết Hiệp định này,thuế suất nhập khẩu đối với nhiều mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam sang Hoa Kỳ sẽđược giảm xuống Và thực tế cho thấy từ năm 2001 tới nay kim ngạch xuất khẩu củaViệt Nam sang Hoa Kỳ luôn tăng nhanh và duy trì ở mức cao Với cơ sở pháp lý làHiệp định thương mại, mức thuế đánh vào hàng hóa Việt Nam xuất khẩu sang Hoa
Kỳ đã giảm từ 40% xuống còn 3 - 4% điều đó mang lại nhiều lợi ích cho hàng hóanội địa Sự tăng trưởng trong quan hệ thương mại hai quốc gia có thể thấy rõ quabảng 2.6:
Bảng 2.4 Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Hoa Kỳ
giai đoạn 2001 - 2006
Đơn vị: Triệu USD