Đảo Phú Quý là một trong những đảo biển trọng điểm khởi đầu được Chính phủ quan tâm đầu tư xây dựng về kinh tế quốc phòng và hệ thống cơ sở hạ tầng trên đảo trong vài năm gần đây. Nhiều hạng mục công trình với mức đầu tư lớn đã, đang và sẽ tiếp tục được thi công xây dựng, sớm hoàn thiện và đưa vào sử dụng. Ðặc biệt là cảng biển, hệ thống đường giao thông vành đai liên xã, nhà máy điện, trung tâm y tế, trung tâm quân dân y kết hợp… đã kịp thời hoàn thành và đưa vào khai thác phục vụ nhu cầu dân trí, phát triển kinh tế của đảo. Ðây là những yếu tố thuận lợi cho môi trường địa lý du lịch của đảo Phú Quý phát triển kinh tế trong tương lai. Tuy có nhiều điều kiện phát triển thuận lợi, nhưng du lịch Phú Quý vẫn còn ở dạng tiềm năng, chưa khai thác triệt để.
Trang 1MỤC LỤC 1
KEY WORDS AND SUMMARY 2
PHẦN MỞ ĐẦU 3
PHẦN NỘI DUNG 8
PHẦN KẾT LUẬN 67
TÀI LIỆU THAM KHẢO 68
Trang 2KEY WORDS AND SUMMARY
KEY WORDS
1 Phu Quy Island (Đảo Phú Quý)
2 Touring resourses (Tài nguyên du lịch)
3 Historical monument ( Di tích lịch sử)
4 Famous landscape ( Danh lam thắng cảnh)
5 Folk festival ( Lễ hội dân gian)
Touring resources are important for economic development of Phu Quy Island Therefore there should have many projects in order that tourism can quick and strong development
Trang 3Từ thực tế nói trên, đồng thời với mong muốn tìm hiểu về các đảo của Việt Nam cũng như để tích luỹ thêm tư liệu làm hành trang cho bản thân nhằm phục vụ
cho công tác giảng dạy sau này em chọn đề tài em chọn đề tài “Môi trường địa lý đảo Phú Quý – Tiềm năng và định hướng phát triển du lịch ” làm đề tài nghiên cứu cho tiểu luận môn Môi trường địa lý để qua đó nhằm tìm hiểu về tiềm năng du
lịch của đảo Qua đó, đưa ra định hướng và giải pháp để phát triển du lịch đảo Phú Quý trong những năm tới góp phần phát triển kinh tế toàn diện của đảo Phú Quý
.2 2 Mục đích nghiên cứu
- Việc nghiên cứu đề tài nhằm củng cố, vận dụng và mở rộng những kiến thức đã học trong nhà trường vào thực tế Qua đó, có thể cụ thể hóa kiến thức môi trường địa lý đã học được để giải quyết một số vấn đề mang tính thực tiễn trong đời sống và phát triển kinh tế xã hội
- Tìm hiểu, đánh giá các tiềm năng du lịch tự nhiên và nhân văn để phát triển
du lịch ở đảo Phú Quý cũng như đánh giá sơ bộ hiện trạng phát triển du lịch của đảo Phú Quý, để từ đó đưa ra các định hướng và các giải pháp để phát triển du lịch trong những năm tới ngày càng hợp lí, lâu dài và bền vững
.3 3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu, đề tài cần giải quyết các nhiệm vụ sau:
- Thu thập tài liệu, phân tích, xử lý tổng hợp các số liệu, tài liệu trên tất cả các phương tiện sách, báo, tạp chí, các trang web… có liên quan đến nội dung nghiên cứu
Trang 4- Sử dụng khái niệm và công cụ địa lý môi trường đánh giá tiềm năng phát triển du lịch của hệ thống di tích Địa lý - lịch sử - văn hóa, lễ hội, danh lam thắng cảnh đảo Phú Quý.
- Xây dựng cơ sở dữ liệu của hệ thống Địa di tích lịch sử văn hóa, lễ hội, Địa sinh cảnh đảo Phú Quý phục vụ phát triển du lịch sinh thái hay kết hợp du lịch sinh thái và du lịch văn hóa;
- Xây dựng những sản phẩm đặc trưng Vùng địa lý, phục vụ phát triển du lịch
- Đưa ra định hướng và đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm đảm bảo cho
sự phát triển lâu dài, bền vững và hiệu quả trong hoạt động du lịch
.5 5 Lịch sử nghiên cứu
Hiện nay, các nghiên cứu khoa học về du lịch rất thường gặp Đặc biệt là các
đề tài nghiên cứu du lịch sinh thái, du lịch theo quan điểm phát triển bền vững… Ở khoa Địa lý trường Đại học các khóa trước cũng có các đề tài nghiên cứu du lịch
trên địa bàn tỉnh Bình Thuận Chẳng hạn: “Du lịch sinh thái tỉnh Bình Thuận, Hiện trạng và hướng phát triển – Dương Thị Tưởng”, “Định hướng khai thác du lịch sinh thái Tỉnh Bình Thuận – Nguyễn Thị Gương”, “Du lịch Huyện Hàm Thuận Nam – Tỉnh Bình Thuận Hiện trạng và giải pháp – Nguyễn Thị Kiều Oanh”… Hầu
hết các đề tài này đều nghiên cứu tiềm năng, hiện trạng phát triển du lịch trên một địa bàn ở đất liền Sau đó đề xuất định hướng phát triển du lịch trong tương lai Tuy nhiên các nghiên cứu đánh giá du lịch trên cơ sở địa lý môi trường còn khá mới mẻ Và đảo Phú Quý có lẽ rất xa lạ đối với ai chưa từng đặt chân lên mảnh đất này Được mệnh danh là hòn đảo tiền tiêu của đất nước, là vùng đất – đất lành chim đậu, nên việc phát triển kinh tế - xã hội nơi đây là điều cần thiết, đặc biệt là du lịch
Em nghiên cứu đề tài này, với mong muốn sẽ tìm hiểu được đời sống của người dân trên đảo so với đất liền Nghiên cứu tiềm năng vốn có của huyện đảo Phú
Trang 5Quý, những tập tục kì lạ, con người hiền lành chất phát ở Phú Quý Qua đó, đưa ra những định hướng cho sự phát triển du lịch trên cơ sở địa lý môi trường – một ngành khá mới mẻ của vùng đất này.
.6 6 Hệ quan điểm và phương pháp nghiên cứu
.6.1 Hệ quan điểm
.6.1.1 Quan điểm hệ thống
Tính hệ thống được hiểu là sự phối hợp chặt chẽ, ăn khớp, lôgic giữa các bộ phận của sự vật, hiện tượng Bất kì sự vật, hiện tượng địa lý nào đều có tính hệ thống Cần phải nghiên cứu sự vật, hiện tượng toàn diện, nhiều mặt để thấy vai trò của từng mặt trong hệ thống, thấy được sự liên kết giữa các bộ phận thành hệ thống
và yếu tố nào là yếu tố kết cấu liên kết bộ phận
Đảo Phú Quý là một bộ phận của biển Đông Hoạt động du lịch của huyện đảo cũng nằm trong mối tương quan thống nhất trong vấn đề phát triển kinh tế của huyện nói riêng và cả tỉnh Bình Thuận và định hướng “Hướng ra biển Đông”nói chung của Đảng và Nhà nước ta
Tìm hiểu hoạt động du lịch của đảo Phú Quý để thấy được những tiềm năng của nó đối với sự phát triển kinh tế nhằm tiến tới phát triển bền vững Từ đó, khai thác có hiệu quả hoạt động du lịch với những nguồn lợi vô cùng quý giá của mà thiên nhiên đã ban tặng
Khi nghiên cứu chúng ta cần cô lập từng mặt, từng bộ phận trong hệ thống
để rồi liên kết các mặt đó, các bộ phận đó, cuối cùng nhìn sự vật, hiện tượng trong một chỉnh thể Để làm tốt nhà khoa học vừa phải có cái nhìn tổng thể, vừa phải có
óc phân tích sâu sắc
.6.1.2 Quan điểm tổng hợp lãnh thổ
Tài nguyên du lịch cũng như những hoạt động của ngành này có sự phân bố không giống nhau theo không gian Chính sự phân bố đó đã dẫn đến những nơi khác nhau sẽ có những loại hình, những hoạt động không giống nhau Vì vậy khi nghiên cứu cần phải tìm ra nét đặc trưng của vùng trong đó có sự kết hợp nhất định giữa các loại tài nguyên và các loại hình hoạt động
Tuy nhiên chúng ta biết rằng tổ chức lãnh thổ ngày nay không chỉ gắn liền trên lãnh thổ (có ranh giới cụ thể) mà còn phát triển theo không gian ba chiều (xuống sâu trong lòng đất, vươn cao lên bầu trời, vượt ra ngoài biển khơi, thềm lục đia…)
và trong nền kinh tế thị trường mở theo xu thế toàn cầu hóa, các mối liên hệ kinh tế
- xã hội – môi trường còn vượt ra ngoài ranh giới quốc gia có những tác dụng lớn không thể xem thường
Trang 6Cũng như phát triển du lịch ở đảo Phú Quý cũng là một mắt xích quan trọng trong hệ thống phát triển du lịch của tỉnh Đồng thời, khi nghiên cứu tiềm năng của đảo Phú Quý, sẽ cho thấy sự khác biệt về tiềm năng giữa các huyện trong tỉnh Bình Thuận Từ đó, sẽ đưa ra những định hướng, giải pháp thích hợp để du lịch đảo Phú Quý trở thành tâm điểm trong sự phát triển kinh tế - môi trường của tỉnh Bình Thuận.
.6.1.3 Quan điểm lịch sử – viễn cảnh
Bất kỳ một đối tượng tự nhiên và kinh tế - xã hội nào cũng có một quá trình phát sinh, phát triển Mỗi một hiện tượng đều tồn tại trong một thời gian nhất định Nói cách khác các hiện tượng này có quá trình phát sinh phát triển và suy vong Trong quá trình nghiên cứu, khi xem xét hay đánh giá cần phải đứng trên quan điểm lịch sử
Hơn nữa, cần có cái nhìn viễn cảnh để đánh giá và xây dựng chiến lược, phương hướng phát triển du lịch ở đảo Phú Quý trong tương lai
.6.1.4 Quan điểm sinh thái và phát triển bền vững
Quán triệt quan điểm sinh thái và phát triển bền vững đòi hỏi phải đảm bảo
sự bền vững về cả ba phương diện kinh tế - xã hội - môi trường Phát triển bền vững là một khái niệm tương đối mới, ra đời trên cơ sở đút rút kinh nghiệm phát triển của các quốc gia trên hành tinh, phản ánh xu thế phát triển của thời đại và định hướng cho tương lai của nhân loại Đối với việc nghiên cứu địa lý môi trường phát triển bền vững có thể coi vừa là quan điểm vừa là mục tiêu nghiên cứu để không chỉ góp phần khai thác hợp lý và có hiệu quả các tiềm năng du lịch tự nhiên và nhân văn nhằm đạt hiệu quả về kinh tế mà qua đó còn tạo ra nền tảng cho sự bền vững về
xã hội, bền vững về môi trường hướng tới phát triển bền vững một cách toàn diện
.6.2 Phương pháp nghiên cứu
.6.2.1 Phương pháp thu thập tài liệu:
Thu thập các tài liệu có liên quan tới đề tài nghiên cứu như du lịch, các nhân
tố ảnh hưởng đến du lịch cũng như tiềm năng du lịch tự nhiên và nhân văn của đảo Phú Quý, sự phát triển và phân bố các cơ sở du lịch trên đảo cùng các vấn đề có liên quan…Nguồn cung cấp gồm các đề tài nghiên cứu, các báo cáo, sách, báo, Internet…
.6.2.2 Phương pháp phân tích tổng hợp:
Phương pháp này được sử dụng trong việc xử lý các số liệu, phân tích, tổng hợp tài liệu đã thu thập được để đánh giá, liên hệ, so sánh và rút ra nội dung cần trình bày
Trang 7.6.2.3 Phương pháp sinh thái
Khi nghiên cứu tiềm năng của điều kiện tự nhiên và nhân văn đối với sự phát triển du lịch trên phạm vi một lãnh thổ nhất định và sự phát triển kinh tế, chúng ta nên xem xét mối quan hệ giữa tự nhiên với tự nhiên, tự nhiên với con người trong khai thác các điều kiện tự nhiên và nhân văn cũng như sản xuất và phục vụ cho con người
Bên cạnh việc khai thác và sử dụng các điều kiện tự nhiên con người còn phải
có biện pháp bảo vệ, cải tạo điều kiện tự nhiên và nhân văn, để có thể phát triển các ngành kinh tế một cách toàn diện nhưng vẫn giữ cân bằng sinh thái, cân bằng môi trường
.6.2.4 Phương pháp biểu đồ – bản đồ:
Phương pháp bản đồ là một phương pháp truyền thống của khoa học Địa lí –
“bắt đầu và kết thúc bằng bản đồ” Phương pháp bản đồ đựơc sử dụng trong tất cả các khâu của quá trình nghiên cứu nhằm xác định ranh giới nghiên cứu một cách cụ thể, chính xác, tranh sư nhầm lẫn về không gian
Phương pháp bản đồ được áp dụng nhiều trong chương 2 và chương 3 Qua những bản đồ, sơ đồ…chúng ta sẽ khái quát và làm rõ dược những nội dung cần thiết như đánh giá chất lượng, mức độ ảnh hưởng của môi trường và sau cùng là phân chia vùng
Ngoài ra để tiện cho việc nghiên cứu bản thân thường sử dụng và phân tích các biểu đồ, các bảng số liệu thống kê… nhờ đó việc nghiên cứu sẽ cụ thể và mang tính trực quan hơn
Trang 8PHẦN NỘI DUNG
.1 CHƯƠNG 1: ĐỊA LÝ MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN VÀ KINH
TẾ XÃ HỘI ĐẢO PHÚ QUÝ
.1.1 Địa lý môi trường tự nhiên đảo Phú Quý
.1.1.1 Vị trí địa lý
Đảo Phú Quý (còn gọi là Cù Lao Thu) có diện tích tự nhiên 17,82 km2, là một phần đảo gồm 10 đảo nhỏ: Phú Quý, Hòn Tranh, Hòn Trứng, Hòn Đen, Hòn Giữa, Hòn Đỏ, Hòn Đồ lớn, Hòn Đồ nhỏ, Hòn Tí và Hòn Hải Trong đó, đảo Phú Quý có diện tích lớn nhất, Hòn Hải nằm trên đường cơ sở để tính lãnh hải của Việt Nam là phần nhô ra xa nhất của đường viền nội thuỷ Việt Nam ở phần Đông Nam của biển Đông, Huyện đảo Phú Quý có toạ độ địa lý:
+ Từ 10º28´58˝ đến 10º33΄35˝ vĩ độ Bắc
+ Từ 108º55΄13˝ đến 108º 58΄12˝ kinh độ Đông
• Cách thành phố Phan Thiết khoảng 56 hải lí (hơn 100 km) về hướng Đông Nam
• Cách quần đảo Trường Sa 540 km về phía Tây Bắc
• Cách thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa 150km (về phía Nam)
• Cách Côn Đảo 330km (về phía Đông Bắc)
• Cách thành phố Vũng Tàu 200km (về phía Đông)
Huyện đảo Phú Quý có 3 xã:
• Long Hải: thôn Tân Hải, Quý Hải, Đông Hải, Phú Long
• Ngũ Phụng (huyện lỵ): thôn Phú An, Thương Châu, Quý Thạnh
• Tam Thanh: thôn Mỹ Khê, Hội An, Triều Dương
Trang 9Hình 1.1 Bản đồ hành chính đảo Phú Quý – tỉnh Bình Thuận
(Nguồn:Tác giả thiết lập bằng MapInfo)
Phú Quý nằm tiếp cận với các đường hàng hải quốc tế quan trọng với lượng
chu chuyển hàng hoá rất lớn (đó là các tuyến từ Đông Bắc Á tới vùng Vịnh Thái Lan, từ Thái Bình Dương sang Ấn Độ Dương) và gần khu vực khai thác dầu khí lớn
nhất nước ta hiện nay Với vị trí địa lý như vậy, đảo Phú Quý có ưu thế lớn về phát
triển và cung ứng các loại dịch vu vận tải đường biển (dịch vụ đóng, sửa chữa tàu
Trang 10thuyền, dẫn đường, cung cấp các dịch vụ hàng hải khác…), cung cấp các dịch vụ
thăm dò và khai thác dầu khí, khai thác hải sản, đánh bắt xa bờ, dịch vụ tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn…
Với vị trí địa lý đó đã cho phép Phú Quý phát triển các loại hình du lịch, nổi bật nhất vẫn là hình thức tham quan và nghỉ dưỡng
• Hạn chế
Quy mô kinh tế nhỏ bé, trình độ phát triển thấp, nền kinh tế mang đặc trưng của một nền kinh tế làng chài (ngư nghiệp) Dân số tập trung khá cao trên một diện tích không gian nhỏ (mật độ trên 1.466 người/km2, năm 1010), diện tích đất đá hạn chế, các điều kiện thiết yếu phục vụ đời sống nhân dân còn rất hạn chế
Vì nằm giữa biển khơi, nên các phương tiện di chuyển từ đất liền ra đảo cũng rất khó khăn Đặc biệt là các tháng chịu ảnh hưởng của áp thấp nhiệt đới, bão Vì vậy, các tiềm năng du lịch của Phú Quý vẫn chưa được khai thác một cách triệt để Nên việc phát triển du lịch ở đây là vấn đề rất khó khăn
.1.1.2 Đặc điểm địa chất
1.1.2.1 Đặc điểm địa tầng
Một số công trình có nghiên cứu, điều tra địa chất, địa chất thủy văn ở một
số công trình đã phản ánh một số đặc điểm địa chất:
Ở một số độ sâu nhất định, vùng đảo Phú Quý được tạo thành bởi các hoạt động núi lửa và các thành tạo nguồn gốc biển, gió có tuổi từ Pleistocen đến Holocen Từ dưới lên trên gồm có các thành tạo địa chất sau:
Hệ tầng Phan Thiết, trầm tích biến tuổi Pleistocen giữa, tướng bar cát ở trung tâm đảo Thành phần trầm tích gồm: Cát thạch anh hạt vừa – thô lẫn ít sét – bột màu nâu đỏ
Trầm tích biển tuổi Pleistocen muộn, tướng bar cát “cát dính kết Phú Quý” (mbQ13)2: Phân bố chủ yếu ở phía Đông Nam và Nam đảo với diện tích khoảng 3km2 Thành phần trầm tích: cát, cát sạn thạch anh, dính kết chắc màu xám trắng chứa vụn sinh vật biển, san hô, di tích Foramifera và di tích bào tử, phấn hoa…
Trầm tích biển tuổi Holocen sớm – giữa (mQ21-2): Phân bố dọc bờ biển của đảo với diện tích khoảng 4km2 Thành phần trầm tích gồm: Cát hạt vừa màu xám, gắn kết yếu, chứa vụn san hô, bột sét màu xám xanh, có chứa bào tử phấn hoa, tảo biển
Trầm tích gió tuổi Holocen sớm – giữa (vQ21-2): Phân bố trên mặt sườn và chân các đồi thấp, chủ yếu phần phía đông của đảo, với diện tích khoảng 5km2 Thành phần trầm tích gồm: cát thạch anh có chứa ít vụn nhỏ sạn hô, vỏ sò có màu vàng nhạt, vàng da cam, hạt mịn đến vừa, chọn lọc tốt
Trang 11Trầm tích biển tuổi Holocen muộn (mQ22-3): Phân bố thành những dải nhỏ gần sát mép nước biển, với diện tích khoảng 1km2 Thành phần trầm tích gồm: Cát thạch anh chứa vụn sinh vật biển; màu xám hạt vừa thô, chọn lọc trung bình đến tốt
Trầm tích gió tuổi Holocen muộn (vQ22-3): Có diện phân bố hẹp, tạo những cồn cát cao 5 – 10m Thành phần trầm tích gồm: cát thạch anh chứa ít vụn sinh vật biển; màu trắng xám, vàng nhạt; hạt mịn đến vừa, chọn lọc tốt Dày 3 – 7m
Trầm tích biển tuổi Holocen muộn (mQ23): Phân bố thành những dải nhỏ sát mép nước biển, với diện tích khoảng 1km2 Thành phần trầm tích gồm: cát, cát sạn chứa vụn san hô màu xám trắng hạt vừa – thô
1.1.2.2 Đặc điểm kiến tạo và khoáng sản
Đảo Phú Qúy với vị trí là phần chuyển tiếp giữa vùng nâng Đà Lạt và vùng sụt lún Biển Đông Kế thừa những giai đoạn kiến tạo trước, vào Pleistocen, vùng đảo Phú Quý chịu chế độ sụt lún mạnh và biển tiến Đầu Pleistocen muộn, toàn vùng được nâng lên: bề mặt địa hình bị bóc mòn mạnh và kèm theo các hoạt động núi lửa Vào cuối Pleistocen muộn, trở lại quá trình sụt lún, biển tiến Đầu Holocen, toàn vùng vẫn tiếp tục sụt lún; ở các hố trũng ven rìa, thực vật phát triển khá mạnh
Qua các tài liệu đã điều tra ở đảo Phú Quý chưa phát hiện được loại khoáng sản nào có giá trị có khả năng khai thác ở quy mô lớn ngoài các loại:
Than bùn: Trong tầm tích biển Holocen dưới, giữa khu vực xã Ngũ Phụng nhưng chưa đánh giá được trữ lượng và quy mô
Đá xây dựng: trong phun trào Bazan Pleistocen trung lượng và phun trào Bazn holocen có thể phục vụ làm vật liệu xây dựng.Tuy nhiên do nguồn đá hạn chế, phải bảo vệ cảnh quan môi trường (chống xói mòn, sạt lở) nên hiện nay huyện Phú Quý nghiêm cấm việc khai thác đá này trên đảo
Cát nén: Là một nguồn vật liệu xây dựng của huyện Nguồn cát này phân bố trên 3 xã có bề dày từ 3- 4m Hiện nay do bảo vệ chống xói mòn và xâm thực của biển nên huyện Phú Quý nghiêm cấm việc lấy nguồn cát trên
- Lương mưa trung bình năm 1.300 mm/năm, nhưng lại phân bố không đều
trong năm Mùa mưa thương bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 11 (tháng 10 có lượng
Trang 12mưa cao nhất 300 mm ) Mùa ít mưa từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau với lương
mưa trung bình 10 mm/tháng
- Gió trên đảo hoạt động gồm 2 hướng gió chính: Gió mùa Đông Bắc từ
tháng 11 đến tháng 4 năm sau (trùng với mùa khô ), tốc độ trùng bình 5m/s, tốc độ
cực đại (tháng 1) có thể đạt 16 – 18 m/s; gió mùa Tây Nam bắt đầu từ tháng 5 đến
tháng 10 (trùng với mùa khô), tốc độ trung bình 3,8 – 4,7 m/s, vào buổi chiều (17 –
20 giờ) thường có giông, có gió giật từ 14 đến 18 m/s có lúc đạt 20 đến 22 m/s
Trong những thời gian có gió mùa và gió lớn thường tạo sóng lớn, ảnh hưởng đến hoạt động khai thác hải sản và giao thông của huyện đảo
- Bão: Vùng đảo Phú Quý mùa bão thường chỉ giới hạn trong vòng 2 tháng
10 và 11 và khả năng có bão ở khu vực này ít hơn so với các khu vực khác, tần suất
0,66 lần/năm (trong vòng 60 năm trở lại đây) Một số cơn bão đở bộ vào đảo Phú
Quý từ năm 1968 đến nay theo số liệu thống kê đươc như sau:
+ Tháng XI năm 1968 cơn bão Mamie cấp 8, cấp 9
+ Tháng X năm 1963 cơn bão Kim cấp 8, cấp 10, cấp 11
+ Tháng XI năm 1994 cơn bão Tess cấp 10, cấp 11
+ Tháng IX năm 2006 cơn bão Chan Chu
Mặc dù ít có bão, nhưng trên đảo Phú Quý thường xuyên chịu ảnh hưởng của
áp thấp nhiệt đới và cũng chính áp thấp nhiệt đới là loại nhiễu động rất mạnh của thời tiết trong vùng này Bão và áp thấp nhiệt đới sinh ra rất to, mưa lớn, biển động mạnh gây nên xói lở vùng bờ biển trên đảo làm thay đổi đường bờ, thay đổi cán cận vật lý tại khu vực, làm thiệt hại không nhỏ cho người dân trên đảo nhất là nhiều khi
áp thấp nhiệt đới kéo dài, biển thường xuyên bị động mạnh nên nhiều tàu, thuyền không thể ra khơi đánh bắt hải sản được
- Độ ẩm không khí trung bình trong năm từ 82% đến 84%, thấp nhất là tháng 1 với 78% và cao nhất là tháng 9 đạt 88% Nhìn chung không khí quanh năm thường khô
Khí hậu huyện Phú Quý mang tính chất của khí hậu đại dương, khá thích nghi cho việc phát triển du lịch Khí hậu quanh năm ấm áp, dễ chịu, điều này tạo thuận lợi cho việc tổ chức các chuyến du lịch hoặc các hoạt động du lịch của du khách Tuy nhiên, do bị ảnh hưởng của thiên tai: áp thấp nhiệt đới, gió, bão…nên ảnh hưởng không nhỏ đến các hoạt động du lịch, đặc biệt là phương tiện di chuyển
từ đất liền ra đảo
.1.1.4 Thủy văn
Là một đảo diện tích không lớn, bao quanh bởi biển cả và xa đất liền, nước ngọt cho tiêu dùng trong sinh hoạt và sản xuất là yếu tố quan trọng, có ý nghĩa
Trang 13quyết định bậc nhất sống còn đối với sự phát triển kinh tế, xã hội và đời sống của nhân dân trên đảo Phú Quý.
1.1.4.1 Tài nguyên nước mặt
Nguồn nước mặt trên đảo phụ thuộc vào việc tích trữ nước mưa qua các lớp
phủ thực vật Tuy nhiên trên đảo hiện không có sông, hồ hoặc ao đầm chứa nước
Phần lớn nước mưa, sau khi thấm thấu vào lòng dất (không được nhiều) đều chảy ra
biển bằng các dòng chảy mặt Nguồn sinh thuỷ phụ thuộc vào lượng mưa được thấm thấu xuống đất và độ che phủ bằng cây rừng và cây lâu năm Việc tích tụ nước mưa hiện nay chủ yếu là do các hộ gia đình tự lo liệu, phân tán và kết quả không nhiều Để tăng thêm nguồn nước mặt, cần xây dựng các hồ chứa nước và trồng
thêm nhiều cây lâu năm để giữ nước và giảm bốc hơi
Do được bao quanh bởi biển, diện tích đảo không lớn vì vậy một phần khá lớn nước mưa rơi trên đảo được thoát trực tiếp ra biển, đặc biệt đối với các đảo địa hình ít phân cắt, ít các thung lũng cung như các vùng trũng có khả năng trữ nước, giữ nước tạm thời cũng như không có các tầng cách nước để chặn nước dưới đất không thoát trực tiếp ra biển nên trên các đảo dòng mặt không phát triển, thường chỉ tồn tại các dòng chảy tạm thời, ít các dòng chảy thường xuyên có lưu lượng lớn
Vùng đảo có khả năng xâm nhập nước mặm vào các tầng nước nông, gây thêm những khó khăn về nguồn nước ngọt để phát triển kinh tế, dân sinh trên huyện đảo
1.1.4.2 Nước ngầm
Tài nguyên nước dưới đất đóng vai trò hết sức quan trọng trong cung cấp nước phục vụ ăn uống sinh hoạt và sản xuất trên đảo Đất đá nằm dưới mặt đất là các bể chứa nước ngầm có vai trò trữ nước mưa để cung cấp cho đảo
Theo kết quả dự án “Điều tra đánh giá nguồn nước ngầm vùng đảo Phú Quý – Tỉnh Bình Thuận” do liên đoàn Địa chất thuỷ văn và Địa chất công trình miền
Trung thực hiện năm 1997 cho thấy: Trên đảo Phú Quý đã phát hiện 2 tầng chứa nước Tầng chứa nước lỗ hổng và tầng chứa nước khe nứt có tuổi đệ tứ không phân chia (q) chủ yếu là phun trào baza Nguồn cung cấp chủ yếu của 2 tầng này là nước mưa đước thẩm thấu, tích tụ lại và nhận nguồn cung cấp ở các tầng năm trên
Nước trong tầng chứa (q) là nước nhạt, ở các giếng mép biển là nước hỗn hợp, ở trung tâm đảo thì có nước Clorua – Natri Tầng chứa nước (q) này là nguồn cung cấp chủ yếu cho đao Phú Quý hiện nay
Khai thác tổng hợp, hợp lý tài nguyên nước
Tài nguyên nước trên đảo hạn chế vì vậy để đáp ứng yêu cầu nước trên các đảo cần phải sử dụng kết hợp sử dụng tổng hợp các nguồn nước trong đó các giải
Trang 14pháp quan trọng là khai thác nước dưới đất kết hợp với xây dựng các công trình trữ nước mặt và bổ sung nhân tạo nước dưới đất.
Để trữ nước mặt nên phát triển các ao hồ, ao nhỏ trong các vùng địa hình thấp Các ao hồ nhỏ không chỉ nhằm mục đích trữ nước để cung cấp cho ăn uống sinh hoạt sản xuất mà còn góp phần cung cấp cho nước ngầm, vì vậy các công trình trữ nước mặt có thể chỉ là công trình trữ nước tạm thời
Bố trí các công trình khai thác nước ngầm một cách hợp lý để có thể khai thác được tối đa dòng ngầm song không gây ra xâm nhập mặn Vì vậy, khi thiết kế công trình khai thác phải xác định khoảng cách từ giếng tới ranh giới mặn nhạt, cũng như tính toán chiều sâu phân bố đới nước mặn để lựa chọn dạng công trình và chiều sâu khai thác hợp lý
Áp dụng các biện pháp tăng cường lượng cung cấp thấm của nước mưa cho nước ngầm như áp dụng biện pháp canh tác hợp lý, trồng rừng, tận dụng các vùng trũng để trữ nước ngầm làm nguồn cung cấp cho ăn uống, sản xuất cũng như để bổ sung cho nước dưới đất
Khai thác hợp lý tài nguyên nước tốt còn phục vụ cho việc phát triển du lịch Đáp ứng được các nhu cầu sinh hoạt của du khách: có nước ngọt để sử dụng, tắm, giặt…
.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
.1.2.1 Lịch sử hình thành đảo Phú Quý – Thời kì đầu sơ khai
Đã từ lâu đảo Phú Quý trở nên rất quen thuộc với nhiều người qua sử sách xưa dưới nhiều tên gọi: Cổ Long, Thuận Tịnh, Cù Lao Khoai Xứ, Cù Lao Thu Từ niên hiệu trị thứ 4 (1844) vì tiềm năng kinh tế dồi dào và số lượng đặc sản đáng kể biệt nạp cho Triều đình Huế, đảo được đổi tên từ Tổng Hạ sang Tổng Phú Quý trực thuộc huyện Tuy Phong, phủ Ninh Thuận, tỉnh Bình Thuận Hiện nay, Phú Quý là một huyện đảo xa của tỉnh Bình Thuận
Tuy là một hòn đảo nằm biệt lập giữa trùng dương nhưng dấu tích phát hiện được cho thấy đảo đã được khai phá tạo nên cuộc sống ở đảo từ rất sớm Trong quá trình khai thác đá quánh, nhân dân đã tìm thấy những mộ vò lớn Trong mộ có chôn theo một số công cụ lao động như rìu, bôn và cả những chiếc vòng đeo tay bằng đá với kỹ thuật chế tác rất tinh xảo Điều này phù hợp với những giai thoại được lưu truyền rằng trước khi có sự khai phá thiên nhiên của những con người từ lục địa, ở đây đã có một giống người "Thượng" sinh sống bằng nghề hái lượm và bắt cá ven biển Trải qua những biến thiên của lịch sử, Phú Quý là nơi hội tụ của nhiều luồng dân di cư từ lục địa ra với nhiều thành phần dân tộc khác nhau Trong đó người Kinh đóng vai trò chủ thể
Trang 15Khi bắt đầu phát triển mạnh kỹ thuật đóng thuyền buồm với những chiếc thuyền ra được khơi xa thì cũng là lúc có nhiều người từ lục địa đặt chân lên đảo Cùng với những phần mộ còn xót lại trên đảo, sự tích công chúa Bàng Tranh chứng
tỏ người Chăm đã có mặt ở đảo này Sự tích kể rằng: Bàng Tranh là một công chúa xinh đẹp vì chống lệnh vua cha nên bị kết tội phản nghịch nên bị kết đày ra đảo
Bên cạnh đó, do không chịu nổi sự hà khắc của chế độ nông nô, bất mãn với triều đình phong kiến, nhiều người đã tìm đường ra đây lập kế sinh nhai Người Kinh có mặt ở đảo cũng từ rất sớm Lúc bấy giờ, vào một thời điểm mà triều đại phong kiến Việt Nam đang trượt nhanh trên con đường mục nát, nạn đói xảy ra ở nhiều nơi Ở các tỉnh miền trung lúc bấy giờ, những người cùng khổ hoặc phải bán
vợ đợ con hoặc phải phiêu dạt đi khắp nơi để kiếm sống Và Phú Quý là một điểm đến an lành mà họ đã tình cờ bắt gặp Trong thời kỳ Trịnh - Nguyễn phân tranh (1627–1672), rất nhiều ngư dân thuộc các tỉnh duyên hải miền trung, hoặc chạy giặc lánh nạn, hoặc đi tìm nguồn cá, thuyền của họ vượt sóng trùng dương đã gặp phải những trận cuồng phong khốc liệt và "xiêu" lên đảo
Cùng với người Kinh, một số người Hoa cũng hoà nhập vào cộng đồng cư dân ở Phú Quý Vào thế kỷ 17, một số quan lại nhà Minh sau khi chống nhà Thanh thất bại, đã phải trốn ra nước ngoài Từng đoàn thuyền vượt biển tiến về phía nam, trong số đó có hàng chục thuyền đã quyết định dừng chân lập nghiệp ở Phú Quý Người Hoa đến đây sống dựa vào các ngành nghề như dệt tơ lụa, buôn bán Quá trình phát triển về sau, một số người do làm ăn trở nên giàu có đã lần lượt tìm vào các thành phố lớn ở đất liền, chỉ một số ít còn lại trên đảo
Khi dân cư ngày một đông hơn thì các hình thức tổ chức xã hội cũng dần dần được hình thành Vào thời chúa Nguyễn Phúc Khoát (1738-1765), chính quyền Đàng Trong đã tổ chức trên đảo thành từng hộ bạch bố đến đội bạch bố rồi dần dần trở thành ấp và làng Tuy số dân lúc bấy giờ chưa đông đúc nhưng Phú Quý có đến
14 làng và 1 ấp Mỗi làng được lập trên cơ sở một nhóm nhỏ ngư dân, đôi lúc chỉ có
từ 10 đến 12 tránh đinh và thường mang những tên cũ của địa phương trước khi đến đây lập nghiệp: Thoại Hải, Thế Hanh, Thế An, Hội Thiên, Hội Hưng, Hương Lăng,
Mỹ Xuyên, Phú Ninh, An Hoà, Hải Châu, Thương Hải, Triều Dương, Hội An, Mỹ Khê và ấp Quý Thạnh Từ niên hiệu Đồng Khánh - Nguyễn Cảnh Tông năm thứ 1 (1886), toàn đảo được tổ chức thành 11 làng và đến năm 1930 do sự sáp nhập ba làng Phú Ninh vào Phú Mỹ và Hương Lăng vào Quý Thạnh nên chỉ còn lại 9 làng: Long Hải, Phú Mỹ, An Hoà, Hải Châu, Thương Hải, Quý Thạnh, Triều Dương, Mỹ Khê và Hội An Hiện nay, đảo được chia làm 3 xã: Long Hải, Ngũ Phụng, Tam Thanh
Trang 16Phú Quý trong một thời gian dài đã sống trong điều kiện khép kín tự cung tự cấp với những hoạt động kinh tế như trồng trọt, đánh bắt hải sản, một số ngành nghề thủ công như dệt vải, đan võng, ép dầu Trong đó, ngư nghiệp đóng vai trò chủ đạo.
.1.2.2 Dân cư, dân tộc
Về dân số: Theo niên giám thống kê năm 2010, dân số toàn huyện là 26.107 nhân khẩu, mật độ dân số bình quân 1.466 người/km² Tốc độ dân số cao, nếu tính
từ năm 2000 đến nay tốc độ tăng dân số tự nhiên ngày càng tăng từ 1,74% năm
2000 lên 2,2% năm 2005
Biểu đồ 1.1 Dân số trung bình đảo Phú Quý giai đoạn 2005 - 2010
Bảng 1.1 Diễn biến dân số của đảo Phú Quý năm 2010
24763
Trang 17Dân số trung bình nông thôn Người 26.107
Tỷ lệ học sinh THPT đỗ tốt nghiệp (%) Học sinh 74,15
Nguồn: Phòng VHTT huyện Phú Quý
Về dân tộc: Kinh chiếm đa số và một số dân tộc khác qua quá trình lập nghiệp ở đảo: Chăm, Hoa Cho đến nay, những di tích còn lại ở Phú Quý đã tạo điều kiện cho các nhà nghiên cứu khoa học, các khách du lịch về đây tìm hiểu, tham quan
Năm 2005 là năm cuối thực hiện kế hoạch 5 năm (2001 – 2005), tình hình kinh tế - xã hội luôn được phát triển, đời sống văn hoá tinh thần của nhân dân ngày càng được cải thiện, trình độ dân trí ngày càng nâng lên Tuy nhiên, trong công tác tuyên truyền vận động còn gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là sự nhận thức của nhân dân còn mang nặng tư tưởng “sinh con trai để nối dõi tông đường, sinh con dự
phòng ”, một số phong tục, tâp quán lạc hậu, chưa khác phục được (dựng vợ, gả
chồng quá sớm) Bên cạnh đó một số cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức còn sinh con thứ 3 trở lên đã làm cho tốc độ tăng dân số của huyện ngày càng tăng lên
Nhìn chung nguồn lao động của huyện tương đối dồi dào, là điều kiện thuận lợi trong phát triển kinh tế - xã hội Tuy nhiên, lực lượng lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật và được đào tạo còn chiếm tỷ lệ thấp Do vậy, trong tương lai còn có hướng đào tạo nghề cho người lao động nhất là khoa công nghệ mới có thể đáp ứng được nhu cầu lao động trong điểu kiện khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển
Trang 18.2 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN ĐỊA LÝ MÔI TRƯỜNG DU LỊCH ĐẢO PHÚ QUÝ
Thời gian gần đây, nhằm tăng cường quảng bá về hình ảnh và thu hút khách
du lịch đến, Phú Quý đã tiến hành xây dựng các ấn phẩm quảng cáo, bên cạnh đó quan tâm đầu tư xây dựng mới một số khu du lịch, khu vui chơi giải trí đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu và phát triển du lịch Sở du lịch kết hợp với UBND huyện
đã tiến hành khảo sát, quy hoạch các tuyến điểm du lịch như: Khu du lịch bãi tắm Doi dừa, Khu du lịch Bãi Nhỏ - Gành Hang, Khu du lịch nghĩ dưỡng Mộ Thầy, Khu
du lịch Vịnh Triều Dương, Khu du lịch Hòn Tranh…
Song song với các khu dịch UBND huyện cũng đã quy hoạch, hình thành các tuyến du lịch gồm:
• Tuyến Du lịch trên bển bằng ca nô (Tàu dịch vụ) câu cá gắn với tham quan các đảo lẻ như Hòn Tranh, hòn Trứng, hòn Hải, hòn Bố
• Tuyến tham quan núi cao cát, Chùa Linh Sơn, Miếu Bà Chúa Bàng Tranh, Mộ Thầy gắn với khu nuôi trồng hải sản ở Mộ Thầy
• Tuyến tham quan ngọn Hải Đăng, Núi cấm, Chùa Linh Bửu
• Tuyến tham quan Vạn An Thạnh xem nhà trưng bày xương Cá Voi và tham quan các chùa: Linh Quang, Thạnh Lâm, Linh Bửu
• Tuyến tham quan bè nuôi cá Mú Lạch dù và tắm biển
.2.1 Cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch đảo Phú Quý
.2.1.1 Giao thông vận tải
Giao thông vận tải là nền tảng của mọi sự phát triển, những nỗ lực của ngành giao thông vận tải trong suốt thời gian qua đã giúp cho Phú Quý có hệ thống giao thông hoàn thiện hơn
Mạng lưới giao thông đường bộ trên đảo chủ yếu là các tuyến nối trung tâm huyện với các xã, đường liên xã đã được cải tạo và nâng cấp khá tốt, bao gồm một
Trang 19
Hình 2.1 Đường vòng quanh đảo xã đảo Long Hải
Ngoài ra trên địa bàn huyện có khoảng 60 km đường nội bộ trong các khu dân cư đa phần là đường đất, chất lượng kém bề rộng từ 2 đến 4 m rất khó khăn cho giao thông đi lại khi kinh tế huyện đảo ngày càng phát triển
Toàn huyện có 43 xe ô tô vận tải các loại đáp ứng nhu cầu vận chuyển hàng hoá của đảo, việc đi lại của người dân trên đảo chủ yếu bằng xe gắn máy (90% hộ gia đình có xe máy)
Năm 1978 huyện thành lập hợp tác xã vận tải biển có 6 thuyền với công suất 120CV, trọng tải 60 tấn Năm 1991 toàn huyện có 12 thuyền vận tải đường biển của các thành phần kinh tế tham gia chở hàng hóa và hành khách với 1.284 CV và 420 tấn trọng tải
Cùng với công ty vận tải biển, hợp tác xã vận tải biển đã đáp ứng nhu cầu đi lại của cán bộ, nhân dân và vận chuyển hàng hóa Trong quá trình khai thác, hầu hết
số thuyền máy đều tu sửa, đưa trọng tải từ 60 lên 200 tấn/ năm
Để tạo điều kiện cho việc lưu thông dễ dàng hơn thì việc cải tiến phương tiện giao thông là điều rất cần thiết Các đội ngũ tàu được trang bị đầy đủ và dần dần cải thiện Hiện tại có các đội tàu được trang bị để phục vụ cho việc đi lại của khách như: tàu Bình Thuận 16, 18; tàu Quê Hương, tàu Phú Quý 07…Ngoài ra, để rút ngắn thời gian đi lại thì tầu cao tốc đã ra đời, do tư nhân làm chủ
Trưa ngày 13/6/2011 đúng 10 giờ 15 phút, chiếc tàu cao tốc mang tên Hoàng Phúc 01 đã cập cảng Phú Quý, đây là chiếc tàu cao tốc đầu tiên do tư nhân Phú Quý đầu tư với tổng kinh phí gần 22 tỷ đồng Tàu có chiều dài 32 m, chiều rộng 8,8 m, chở được 255 hành khách Tàu cao tốc này thiết kế dạng 2 thân, 2 tầng nên tàu có thể chạy được thời tiết gió cấp 7 với vận tốc 23 hải lý/giờ, kính và cửa ra vào của
Trang 20tàu có hệ thống chống thấm nước, toàn bộ tàu đều trang bị hệ thống máy lạnh cao cấp tạo cảm giác thoải mái và an toàn cho hành khách khi đi tàu.
Tuy nhiên, do nằm cách xa với đất liền nên việc đi lại của người dân cũng rất khó khăn Vào những lúc chịu ảnh hưởng của áp thấp nhiệt đới, bão…các phương tiên di chuyển ra đảo rất khó khăn Thiếu lương thực trên đảo, người dân bị cô lập, ảnh hưởng đến tâm lí của các du khách Vì vậy, ngoài việc cải tiến các tàu khách, thì việc xây dựng sân bay cũng rất cần thiết, vừa tạo điều kiện cho việc di chuyển dễ dàng, vừa thuận lợi cho việc quảng bá hình ảnh Phú Quý
• Hệ thống điện
Trên huyện đảo hiện có trạm phát điện với 6 máy phát diezen, công suất 500 KW/máy, tổng công suất 3 MW, thực hiện phát điện liên tục 16 giờ/ ngày Ngoài ra còn có 2 tổ máy phát điện diezen của bưu điện và 2 tổ máy phát điện diezen của quân đội Về cơ bản, sản xuất điện đáp ứng nhu cầu điện sinh hoạt và sản xuất của toàn đảo, đảm bảo 100% hộ sử dụng điện với số giờ sử dụng điện được nâng lên 6 giờ/ngày năm 2001 lên 16 giờ/ngày năm 2005 Lượng điện năng tiêu thụ tính bình quân đầu người mới chỉ đạt khoảng 30KWh/người/tháng Tuy nhiên, so với nhu cầu sản xuất, dịch vụ và sinh hoạt thì còn thiếu điện trầm trọng (mới chỉ cấp điện được 16/24 giờ/ ngày) Hiện nay đang tích cực thực hiện nhiều giải pháp để tăng thêm nguồn điện cấp cho huyện đảo băng các nguồn năng lượng mặt trời và sức gió…Đồng thời để đáp ứng cung cấp điện cho người dân, dự án Nhà máy điện gió Phú Quý do Tổng Công ty Điện lực Dầu khí đầu tư, với công suất lắp đặt 6 MW đã được khởi công xây dựng, với tổng vốn 335 tỷ đồng Dự kiến Nhà máy hoàn thành vào cuối năm 2011, khi đưa vào vận hành sẽ cung cấp sản lượng điện hàng năm 25,4 triệu kW/h và được đấu nối lên đường dây 220kV, vận hành đồng bộ với Nhà máy điện diezen hiện có, sẽ góp phần giải quyết tình trạng thiếu điện hiện nay
Trang 21.2.1.3 Bưu chính viễn thông
Hệ thống thông tin liên lạc của huyện trong những năm gần đây có những bước phát triển mới Huyện có thể gửi thư điện tử, điện thoại, fax, dịch vụ EMS…
đến tỉnh và các tỉnh khác trong và ngoài nước
Hình 2.2 Trung tâm viễn thông Phú Quý
Phát triển mạnh nhất ở đảo hiện nay là tiếp nhận những thông tin thông qua các hệ thống thông tin đại chúng Toàn đảo có trên 97% số hộ dân có ti
vi, có đài thu phát các kênh của VTV và đài tỉnh Tính bình quân trên đảo hiện 18 máy điện thoại/100 dân Vùng phủ sóng điện thoại di động được mở rộng, chất lượng dịch vụ được cải thiện, với 5 trạm thu phát sóng (BTS) của các mạng di động Các cơ quan, đơn vị trên đảo đều trang bị hệ thống ADSL Nhờ vậy, việc tiếp cận thông tin của nhân dân, cán bộ trên đảo được nhanh chóng và thuận lợi hơn trước Công tác cứu hộ, cứu nạn được tiến hành chủ động, hạn chế thấp nhất thiệt hại về người và của khi mưa bão xảy ra
Đến nay, có hơn 100 tàu thuyền sử dụng tần số vô tuyến điện loại máy VTĐ tầm xa, trong đó đã cấp phép gần 40 máy ICOM 718, trên 1.000 tàu thuyền sử dụng loại máy vô tuyến điện tầm ngắn; hệ thống VSAT-IP được lắp đặt phục vụ công tác phòng chống lụt bão thay thế hệ thống VSAT cũ, giúp ngư dân liên lạc về đất liền thuận lợi, đồng thời trong mùa mưa bão, công tác thông tin phòng chống lụt bão được nhanh chóng hơn
Huyện đảo Phú Quý là một trong những đảo biển trọng điểm khởi đầu được Chính phủ quan tâm đầu tư xây dựng về kinh tế - quốc phòng và hệ thống cơ sở hạ tầng trên đảo trong vài năm gần đây Nhiều hạng mục công trình với mức đầu tư lớn
đã, đang và sẽ tiếp tục được thi công xây dựng, sớm hoàn thiện và đưa vào sử dụng Ðặc biệt là cảng biển, hệ thống đường giao thông vành đai liên xã, nhà máy điện, trung tâm y tế, trung tâm quân - dân y kết hợp… đã kịp thời hoàn thành và đưa vào khai thác phục vụ nhu cầu dân trí, phát triển kinh tế của đảo Ðây là những yếu tố thuận lợi cho du lịch Phú Quý phát triển trong tương lai
.2.2 Cơ sở vật chất kĩ thuật phục vụ du lịch đảo Phú Quý
Cơ sở vật chất kĩ thuật du lịch là yếu tố cấu thành quan trọng của sản phẩm
du lịch, là tiêu chí quan trọng cho sự lựa chọn của du khách Nó là yếu tố quan trọng góp phần tạo nên sự độc đáo và tạo dựng hình ảnh của khu du lịch và tạo nên
Trang 22sự khách biệt của sản phẩm du lịch so với các khu du lịch khác Cơ sở vật chất kĩ thuật du lịch bao gồm các tiện nghi lưu trú, tiện nghi ăn uống, các tiện nghi thể thao
và vui chơi giải trí, phương tiện vận chuyển và các tiện nghi phục vụ du lịch khác
.2.2.1 Hệ thống các cơ sở lưu trú
Để tạo điều kiện cho việc nghỉ ngơi cho khách du lịch, việc xây dựng thêm nhà nghỉ, khách sạn ở đảo Phú Quý là điều cần thiết Mặc dù chưa có các khách sạn, nhà nghỉ có quy mô lớn, nhưng cũng đã đủ đáp ứng được các nhu cầu của du khách Kết hợp vào đó là phong cách phục vụ nhiệt tình, mến khách đã để lại nhiều lưu luyến cho khách du lịch
Tuy nhiên, số lượng khách sạn, nhà nghỉ ở Phú Quý chiếm tỉ lệ rất ít Chủ yếu là các nhà trọ nhỏ, do các chủ nhà tự xây dựng và kinh doanh với quy mô nhỏ
Bảng 2.1 Danh sách các nhà trọ trên địa bàn đảo Phú Quý
Số giường
1 Nguyễn Thị Thanh Thảo Triều Dương Thanh Thảo 12/12
2 Phạm Thị Hạnh Triều Dương Minh Tân 1+2 12/15
4 Châu Văn Diễn Triều Dương Hướng Dương Lầu 09/12
Nguồn: Phòng VHTT huyện đảo Phú Quý
.2.2.2 Các cơ sở ăn uống
Các cơ sở ăn uống trong huyện Phú Quý khá phong phú, đa dạng về loại hình: nhà hàng sinh thái, quán cà phê, quán rượu có phục vụ ăn… Các cơ sở có thể nằm trong các cơ sở lưu trú nhằm phục vụ nhu cầu ăn uống nghỉ ngơi, hội họp và giao lưu của khách đang lưu trú tại khách sạn Các cơ sở ăn uống cũng có thể nằm độc lập bên ngoài các cơ sở lưu trú, ở các điểm tham quan du lịch, trên các bãi biển, trong các cơ sở vui chơi giải trí…nhằm phục vụ các đối tượng khác nhau Trong thời gian qua, các cơ sở ăn uống phát triển tương đối nhanh
Bảng 2.2 Danh sách các quán ăn trên địa bàn đảo Phú Quý
Trang 23TT Tên chủ quán Số bàn/
Số ghế Địa điểm Ngành nghề
3 Huỳnh Văn Hớn 6/30 Triều Dương Ăn uống bình dân
4 Nguyễn Thị Phửu 14/60 Triều Dương Café-nhậu-Karaoke
5 Nguyễn Thị Kim Thanh 21/90 Triều Dương Café - nhậu bình dân
6 Nguyến Thị Hoài Lan 12/54 Triều Dương Nhậu bình dân
7 Nguyễn Thị Khai 13/56 Triều Dương Café - nhậu bình dân
9 Đỗ Thị Quyết 12/55 Triều Dương Ăn uống bình dân
Nguồn: Phòng VHTT huyện đảo Phú Quý
.2.2.3 Cơ sở dịch vụ vui chơi giải trí, thể thao, cơ sở y tế.
Cơ sở y tế: Mạng lưới cơ sở vật chất nghành y tế từng bước đươc củng cố để đáp ứng tốt hơn nhu cầu khám, chữa bệnh của nhân dân Hiện tại trên đảo có 4 sở y
tế, gồm 1 bệnh viện quân dân y kết hợp và 3 trạm y tế xã
Cơ sở vật chất nghành y tế thông qua vốn đầu tư của chương trình biển Đông – hải đảo đã có sự cải thiện đáng kể Tổng số dường bệnh có 65 giường (bệnh viện
50 giường, trạm y tế xã 15 giường) Số lượng y, bác sĩ qua các năm đèu tăng, hiện
có 26 y, bác sĩ và 9 y tá, hộ lý
Bệnh viện quân dân y kết hợp có 50 giường bệnh, được trang bị các máy móc, thiết bị (Monitoring theo dõi bệnh nhân, máy trợ thở, máy gây mê, X-Quang, máy siêu âm…) do ngành và dự án EU tài trợ đang phục vụ
Tram y tế xã: Có 3 xã đều có trạm y tế được xây dựng kiên cố, có điện thắp sáng và trang thiết bị điện thoại Các trạm đều có trang thiết bị, dụng cụ y tế tương đối đầy đủ, đảm bảo điều kiện cần thiết để thực hiện các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ ban đầu tại trạm, 100% trạm y tế các xã có bác sĩ, nữ hộ sinh hoặc y sĩ sản nhi Bình quân có cán bộ y tế/trạm
Y tế thôn: hầu hết các thôn đều có nhân viên y tế hoạt động nhưng chất lượng còn nhiều hạn chế do chế độ đãi ngộ đối vối lực lượng này còn thấp
.2.2.4 Phương tiện vận chuyển
Tuyến hàng hải nội địa Phan Thiết – Phú Quý đã hình thành từ lâu và là tuyến vận tải chủ yếu giữa đất liền và đảo Theo Sở giao thông vận tải Bình Thuận,
Trang 24hiện tại, có năm tàu vận chuyển hàng hóa, hành khách chạy tuyến này, trong đó có hai tàu của Nhà nước và ba tàu của tư nhân Bình quân mỗi chuyến, mỗi tàu này chở được khoảng 160 hành khách và 50 tấn hàng hóa, chạy tốc độ tối đa 10 hải lý/ giờ và có tuổi thọ bình quân khoảng 10 năm
Năm 2010 Hợp tác xã Vận tải Phú Hưng đã đưa vào sử dụng tàu trung tốc Phú Hưng, nhưng cũng chỉ đáp ứng được một phần nhu cầu đi lại và thông thương giữa đất liền và Phú Quý Đầu năm 2011, Công ty trách nhiệm hữu hạn thương mại
và dịch vụ du lịch Hoàng Phúc đã mạnh dạn đầu tư mua tàu cao tốc Hoàng Phúc 01 trị giá 21 tỉ đồng về phục vụ nhu cầu thông thương, giao lưu kinh tế cũng như việc
đi lại của người dân Đây có thể coi là cầu nối mới góp phần đưa Phú Quý gần hơn với đất liền, tạo điều kiện thúc đẩy kinh tế nơi đây phát triển
Nhận xét chung về cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kĩ thuật phục vụ du lịch:
Nhìn chung cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kĩ thuật phục vụ du lịch Phú Quý còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu để phát triển du lịch của huyện
Về cơ sở lưu trú, quy mô, số lượng, chất lượng còn nhỏ, hẹp, hoạt động dịch
vụ còn đơn sơ, chưa khai thác hết tiềm năng sẵn có của mình
Về hệ thống thương mại – dịch vụ, các tụ điểm trung tâm văn hóa, vui chơi giải trí…còn mới bắt đầu phát triểm, cần được đầu tư trang bị hiện đại trong tương lai
.2.3 Hiện trạng môi trường phục vụ phát triển du lịch
.2.3.1 Các vấn đề môi trường phát sinh trong quá trình phát triển du lịch
Du lịch đem lại nguồn lợi ích rất lớn cho phát triển kinh tế và xã hội tuy nhiên, khi phát triển ngành du lịch thì phải có các sản phẩm du lịch đi kèm và hỗ trợ
để phát triển Các sản phẩm phục vụ đi kèm này không ít thì nhiều đều gây ảnh hưởng đến môi trường, phá vỡ cân bằng sinh thái như: việc khai phá và chuyển đổi mục đích sử dụng các vùng đất tự nhiên để xây dựng khách sạn, nhà nghỉ, các khu vui chơi giải trí, cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch… làm mất nơi cư trú của nhiều loài động vật hoang dã, phá vỡ các hệ sinh thái tự nhiên, gây suy giảm đa dạng sinh học
và làm thay đổi điều kiện địa mạo thủy vực Chính vì vậy, phát triển du lịch cần quan tâm đến công tác bảo tồn và lập kế hoạch bảo vệ môi trường cho các hoạt động phát triển du lịch để giảm thiểu các tác động tiêu cực có thể xảy ra Điều này
có ý nghĩa đặc biệt đối với ngành du lịch bởi môi trường luôn là yếu tố được quan tâm hàng đầu, tác động trực tiếp tới sự tồn tại và phát triển của các hoạt động du lịch
Trang 25Hoạt động du lịch phát triển đồng nghĩa với việc gia tăng lượng du khách tới các địa điểm tham quan du lịch, tăng cường phát triển cơ sở hạ tầng, dịch vụ và khai thác tài nguyên để phục vụ phát triển du lịch Vì vậy, nếu chúng ta không quy hoạch, quản lý tốc độ phát triển du lịch một cách hợp lý thì sẽ làm tăng áp lực của phát triển du lịch lên môi trường, đặc biệt là vào mùa du lịch hoặc thời điểm tổ chức
lễ hội và sẽ dễ nảy sinh một trong số các vấn đề sau:
• Gia tăng lượng chất thải sinh hoạt góp phần làm tăng nguy cơ ô nhiễm môi trường đất, nước
• Tăng lượng khí thải ở các khu du lịch do việc gia tăng các hệ thống điều hòa nhiệt độ trong hệ thống khách sạn, các máy phát điện dự phòng, lưu lượng
xe chuyên chở khách ra vào khu du lịch
• Đa dạng sinh học có nguy cơ bị đe dọa do việc săn bắt để phục vụ nhu cầu ẩm thực, đồ lưu niệm, và việc chặt phá cây rừng lấy gỗ củi, khắc tên lên cây của
du khách
• Ngoài ra, còn có những tác động tiêu cực khác như sự lan truyền dịch bệnh đến cộng đồng, xói mòn và thoái hóa đất
.2.3.2 Hiện trạng môi trường phục vụ phát triển du lịch
2.3.2.1 Hiện trạng môi trường nước
Chất lượng nước chịu tác động mạnh do các hoạt động sản xuất công nghiệp, quá trình đô thị hoá và sinh hoạt hàng ngày của người dân… Những năm vừa qua, công nghiệp cũng như du lịch ở đảo Phú Quý còn chư phát triển do đó nguồn nước cũng như chất lượng nước còn được bảo tồn tương đối tốt
Nhìn chung một số kết quả phân tích về nước biển ven bờ vào thời điểm năm
2008 - 2009 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bình Thuận công bố thì chất lượng nước biển ven bờ tương đối ổn định, các chỉ tiêu có biến đổi nhưng không nhiều
Chất lượng nước mặt tại các điểm du lịch tương đối tốt, đa số các chỉ tiêu được xác định là không vượt quá QCVN 08:2008/BTNMT
Hiện nay, dân số và lượng khách du lịch còn ít do đó nước thải từ các khu dân cư, khu du lịch, nhà hàng, khách sạn có tác động nhất định song chưa phải là nguồn ô nhiễm môi trường nước mặt
Tuy nhiên dự báo số lượng du khách sẽ tăng nhanh trong những năm tới, do
đó, nước thải cần phải được xử lý đạt tiêu chuẩn trước khi thải ra môi trường, nơi tiếp nhận nước thải sau xử lý, đặc biệt là nguồn nước mặt trong khu vực
2.3.2.2 Rác thải
Trang 26Theo niên giám thống kê năm 2010, dân số toàn đảo là 26.107 người Ước tính mỗi ngày trên địa bàn toàn đảo thải ra khoảng trên 14 tấn rác thải sinh hoạt từ dân định cư Hiện tại, tỷ lệ thu gom rác còn rất thấp chủ yếu do các hộ gia đình tự
xử lý dưới hình thức đốt
Ngoài ra, toàn bộ lượng rác thải thu gom trên địa bàn đảo hiện nay được thu gom rồi đem đổ tại các bãi chứa rác, chưa có biện pháp xử lý hoặc xử lý còn thô sơ (đốt, sử dụng chế phẩm), chưa được tổ chức phân loại tại nguồn Các bãi rác nằm gần khu dân cư và chưa được xử lý triệt để nên cũng góp phần gây ô nhiễm môi trường
.2.3.3 Quản lý nhà nước về môi trường trong khu, điểm du lịch
Nhằm bảo vệ môi trường du lịch, ngăn ngừa và giảm thiểu các tác động xấu đến môi trường trong quá trình tiến hành các hoạt động du lịch, Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ra quyết định số 02/2003/QĐ-BTNMT ngày 29/07/2003
về việc ban hành “Quy chế Bảo vệ môi trường trong lĩnh vực du lịch” Quy chế này bao gồm 6 chương và 23 điều khoản với những nội dung nhằm đảm bảo phát triển
du lịch một cách bền vững, góp phần bảo vệ môi trường của đất nước
Để thực hiện chức năng quản lý nhà nước về du lịch, đảm bảo phát triển du lịch theo hướng du lịch văn hóa, du lịch sinh thái, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa, thuần phong mỹ tục của dân tộc Việt Nam, quyết định 1783/QĐ/CT-UBND ngày 10/5/2005 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Thuận về phê duyệt đồ án quy hoạch chung xây dựng đảo Phú Quý; Quyết định số 45/2006/QĐ-UBND ngày 02/10/2006 của Ủy ban nhân dân huyện Phú Quý về việc quy hoạch các điểm xây dựng trung tâm hành chính xẫ, hệ thống trường học, các điểm kinh doanh, dịch vụ trên địa bàn huyện Phú Quý giai đoạn 2006 – 2010 và định hướng đến năm 2020
Các hoạt động du lịch trên địa bàn đảo từng bước được chú trọng đầu tư ổn định và đi vào nề nếp, đảm bảo việc bảo tồn và giữ gìn các cảnh quan thiên nhiên đặc trưng, việc khai thác và sử dụng các tài nguyên hợp lý hơn Đồng thời kết hợp đan xen giữa hoạt động phát triển của ngành du lịch với việc thực hiện đánh giá tác động môi trường Từ năm 2005 đến nay, Phòng văn hóa thông tin huyện đảo Phú Quý đã phối hợp với các ngành, các cấp xây dựng chương trình, kế hoạch khai thác một cách có hiệu quả các nguồn tài nguyên; tăng cường công tác quản lý nhà nước trên lĩnh vực du lịch, trong đó chú trọng công tác lập quy hoạch và quản lý quy hoạch, vệ sinh môi trường, an toàn thực phẩm, an toàn cho du khách Khuyến cáo một số mô hình du lịch lưu trú mới như nhà cho thuê, cắm trại, tổ chức lễ hội ẩm
Trang 27thực, các loại hình vui chơi giải trí mới lạ, hấp dẫn phù hợp với điều kiện từng khu vực
Như vậy, tình hình thực hiện công tác bảo vệ môi trường trong phát triển du lịch đã có những chuyển biến tích cực, khả năng nhận thức và quản lý môi trường khu du lịch ngày càng được tăng cường và chặt chẽ hơn Việc quy hoạch môi trường, lập kế hoạch và khai thác tài nguyên được chú trọng nhiều hơn nhằm hạn chế các tác động của du lịch đến môi trường
.2.4 Hiện trạng sử dụng tài nguyên du lịch tự nhiên đảo Phú Quý
.2.4.1 Danh thắng du lịch
Địa hình của đảo không bằng phẳng, nổi lên có 3 ngọn núi chính là núi Cấm (108m), núi Cao Cát (85m) và núi Ông Đụn (44.9m) Trong số những ngọn núi này, núi Cấm với ngọn hải đăng được coi như một công trình thiên nhiên rất quan trọng
để ngư dân “bắt” được đảo trong những cuộc hải trình Năm 1996, Trung ương đầu
tư xây dựng ngọn hải đăng cao 28m trên núi Cấm phục vụ việc đi lại trên biển của ngư dân, hàng hải quốc gia và quốc tế Những khi thời tiết trong xanh, từ trên đỉnh núi Cấm ta có thể trông thấy các điểm cao ở đất liền như: núi Tà Cú (Hàm Thuận Nam), mũi Cà Ná (Ninh Phước) và cả dãy núi Nam Trường Sơn nên cũng dễ dàng trong việc xác định phương hướng Trung tâm đảo có những dãy đồi cao từ 20 – 30m và vên bờ thường cao khoảng 5m, có nơi đồi cao từ 7 – 8m Thấp nhất là bãi Triều Dương, chỉ cao 2m so với mực nước biển
Hình 2.3 Núi Cấm và hải đăng trên đỉnh núi Cấm
Đảo Phú Quý còn có 9 đảo nhỏ bao bọc xung quanh, tạo thành một quần đảo, nhân dân địa phương gọi là những “hòn lẻ” Các hòn đảo này được chia làm hai khu vực, nơi xa nhất cách đảo lớn 35 hải lí
Khu vực gần đảo lớn có 6 đảo nhỏ, gồm: hòn Trứng lớn nằm cách đảo lớn khoảng 5 hải lí về phía Tây Bắc, có diện tích 3.600m2 Ở hướng Bắc Phú Quý và
Trang 28cách xa bờ chừng 200m đến 30m có 3 đảo lẻ: hòn Đen gồm toàn đá đen, có diện tích 23.100m2 (hòn Đen nhân dân địa phương còn gọi là hòn Nghiêng hay hòn Mực); hòn Đỏ gồm toàn đá màu đỏ, có diện tích 28.500m2 (nhân dân địa phương còn gọi là hòn Bút, hòn Son, hòn Bút Nghiêng); hòn Giữa là một dãy đá gành nằm vắt ngang như một nhịp cầu nối liền hòn Đen với hòn Đỏ, có diện tích 2.900m2.
Hình 2.4 Hòn Trứng và hòn Tranh nhìn từ khúc quanh
Lớn nhất trong các hòn lẻ ở Phú Quý là hòn Tranh, cách đảo khoảng 0,5 hải
lí về phía Đông Nam Hòn Tranh có hình dạng chữ S, diện tích 0,57 km2 Trước kia hòn này là một đảo hoang, cỏ tranh mọc um tùm, nhân dân địa phương thường đến đây cắt cỏ tranh lợp nhà nên gọi là hòn Tranh Về phía Đông Nam đảo, cách hòn Tranh khoảng từ 100m còn có hòn Trứng nhỏ, có diện tích 2000m2
Khu đảo lẻ xa đảo lớn có 3 hòn, gồm: hòn Hải (hòn Khám) cách đảo lớn 35
hải lí về phía Nam – là đường A6, đường cơ sở để tính lãnh hải Việt Nam, cũng là mũi nhọn xa nhất của đường viện nội thủy Việt Nam ở hướng Đông Nam biển Đông Đây là khối đá lớn, thẳng đứng, cao hơn 100m, có diện tích 46.100m2 Hòn
Đồ lớn (hòn Bố) cách hòn Hải 11 hải lí về phía Tây, cách đảo lớn 27 hải lí về phái Nam, có diện tích 38.900m2 Cứ đến tháng 4, tháng 5 âm lịch hằng năm, chim biển
về làm tổ, sinh sản ở hòn Đồ, nhân dân thường đi lấy trứng chim về sử dụng Hòn
Tý (hòn Vung) cách hòn Hải 3 hải lý về phía Tây Bắc, có diện tích 5.800m2 Hòn
Tý có hình dạng của cái vung nồi đất ngày xưa nên nhân dân thường gọi là hòn Vung Theo truyền tụng của những cụ cao niên thì trước đây đã tìm thấy nhiều tiền kẽm của các triều đại trước để lại ở hòn Tý, nên nhân dân còn gọi là hòn Tiền
Ngoài ra, còn có hòn Đồ Nhỏ (hòn Trào) cách hòn Đồ Lớn khoảng 2 hải lí về phía Đông, dài khoảng 10m, rộng 5m, gồm nhiều ghềnh đá lộ đầu lổm chổm, khi nước ròng (cạn) mới nổi lên, khi nước lớn chỉ thấy nhấp nhô trên mặt biển
Hòn Tro (hòn Mới) - Là một hòn lẻ mới hình thành vào năm 1923 Lịch sử hòn Tro được các bô lão ở địa phương kể lại rằng: Đêm 30 tháng chạp năm Nhâm
Trang 29Tuất, vào lúc nhân dân đang chuẩn bị đón giao thừa thì bỗng nhiên nhà cửa bị rung chuyển, làm nghiêng đổ các chân đèn trên bàn thờ Các đợt rung chuyển mỗi lúc một mạnh thêm và tiếp tục mãi cho đến hai tuần sau thì đột nhiên ngoài biển khơi phía Tây Nam làng Mỹ Khê (thôn Mỹ Khê, xã Tam Thanh ngày nay) có một cột khói đen dựng đứng phun lên mù mịt cả một vùng trời Khoảng 5 ngày sau xuất hiện một cột lửa đỏ rực bốc lên cao và cũng chừng 5 ngày sau nữa khi cột lửa từ từ
hạ xuống và tắt hẳn thì dân làng thấy một hòn đảo nhỏ nhô lên khỏi mặt nước cao
độ vài chục mét và ở cách xa khoảng 32 hải lí Hòn này hình tròn với đường kính khoảng 40m, trên mặt có cát trắng và xung quanh có những cạnh đá bậc thang thoai thoải Sau 3 tháng kể từ ngày có hiện tượng lạ đó, hòn này bị chìm xuống cách mặt nước 33m và hình thành nên một bãi đá ngầm dài 700m và rộng gần 500m, nhân dân Phú Quý gọi là hòn Rạn Mới
Ngoài những hòn Lẻ, Phú Quý còn có nhiều doi, lạch, mũi, bãi như: doi Dừa, doi Ông Tỉnh, doi Thầy, lạch Chà Tre, lạch Bãi Lăng, lạch Dù, lạch Thế, lạch Chõi, lạch Ông Bền, mũi Cây Thẻ, mũi Gành Hang, bãi Láng, bãi Phủ, bãi Nhỏ, mũi Trâu Nằm…
vị trí của mình, ngoài ra nó còn có mục đích quan trọng là xác định chủ quyền biển đảo đất nước Muốn chinh phục ngọn Hải đăng, du khách phải đi bộ, leo núi với hơn 120 bậc đá men theo sườn núi, dài khoảng 200m Từ đây chúng ta có thể thu vào tầm mắt toàn cảnh Phú Quý, là điểm ngắm cảnh lý tưởng cho du khách với phong cảnh hết sức hữu tình và nên thơ
2.4.1.2 Núi Cao Cát
Trang 30
Hình 2.5 Núi Cao Cát và đảo Phú Quý nhìn từ núi Cao Cát
Núi Cao Cát được dân đảo xem như ngọn núi thiêng, tọa lạc ở phía Bắc đảo, nơi đây có tượng Phật Bà Quan Âm rất uy nghi được đặt trên đỉnh núi Từ trên đỉnh Cao Cát, du khách có thể phóng tầm mắt xuống cả một vùng không gian rộng lớn quanh đảo Ngôi chùa cổ Linh Sơn tọa lạc trên núi Cao Cát, ở độ cao gần 80m so với mực nước biển Đây là một công trình kiến trúc độc đáo kết hợp giữa thiên nhiên và nhân tạo Tổng thể kiến trúc chùa Linh Sơn với những hạng mục kiến trúc độc đáo được tạo dựng khá khang trang và bề thế Từ khi tạo dựng đến nay ngôi chùa trởthành nơi thu hút đông đảo tín đồ Phật tử và người dân trên đảo đến chiêm bái Phật Đây là nơi mà du khách không nên bỏ qua khi đến với đảo Phú Quý
2.4.1.3 Nét đẹp của Bãi Nhỏ - Gành Hang
Đến với Phú Quý, du khách như được về với thiên nhiên, hưởng sự tinh khiết của đất trời, bởi biển đảo còn nguyên nét hoang sơ với nhiều bãi tắm đẹp
Hình 2.6 Bãi Nhỏ - Gành Hang
Bãi Nhỏ - Gành Hang nằm dưới một ngọn đồi cách trung tâm huyện khoảng
10 phút đi xe máy, là một trong những bãi tắm đẹp của Phú Quý với bờ cát trắng mịn tinh khiết, nước biển màu xanh ngọc trong vắt Bãi cát hình lưỡi liềm được giới hạn bởi những mũi đá nhô ra biển Khu du lịch Bãi Nhỏ - Gành Hang được quy hoạch với diện tích đất từ 10 - 20 ha, theo dự án nơi đây sẽ đầu tư từ 2-3 Resort kết
Trang 31hợp với nghỉ dưỡng, tắm biển, lặn biển và trồng cây xanh Khu vực này không có nhà cửa, còn khá hoang sơ, trên bờ quanh bãi là những mỏm đá đen với nhiều hình thù kỳ thú Nước biển ở đây trong xanh, ít ghe thuyền neo đậu, không khí trong lành, là nơi lý tưởng cho bất cứ du khách nào muốn hòa mình vào với thiên nhiên Vào những lúc mặt trời mọc, nước biển ở đây sáng rực, long lanh như được dát một lớp kim tuyến óng ánh Bên tiếng sóng rì rào, trước mặt biển sáng bạc mênh mông bao la của trời mây sóng nước làm người ta dễ lâng lâng bay bổng tâm hồn Nơi đây còn giữ nguyên được vẻ hoang sơ, môi trường chưa bị ô nhiễm
Vào những lúc trời yên biển lặng, Bãi Nhỏ chính là thiên đường của nắng vàng, nước mát và không gian du dương tĩnh lặng đầy hoang sơ Đúng như tên gọi của nó, Bãi tắm có diện tích khá nhỏ Bãi cát tuy nhỏ nhưng rất thoáng đãng và yên tĩnh
2.4.1.4 Hòn Tranh
Đảo Phú Quý được xác định là một trong những đảo trọng điểm của hệ thống các đảo của Việt Nam Nằm trên tuyến giao thông đường thuỷ nội địa và quốc tế, cách thành phố Phan Thiết 120km về hướng Đông Nam Phú Quý là quần đảo gồm
10 hòn đảo lớn nhỏ, trong các hòn đảo nằm xung quanh đảo Phú Quý, hòn Tranh có diện tích lớn nhất và đây cũng là nơi thu hút nhiều du khách đến thhăm quan chiêm ngưỡng những cảnh đẹp còn mang đậm nét hoang sơ và lãng mạn Hòn Tranh, một hòn đảo nhỏ nằm giữa bốn bề sóng vỗ, cách đảo lớn (Phú Quý) khoảng 15 phút đi xuồng máy Hòn Tranh nổi lên như một niềm kiêu hãnh giữa đại dương bao la ngập sóng Gọi là hòn Tranh, vì lúc xưa nơi đây mọc nhiều cỏ tranh, người dân từ hòn lớn qua hòn Tranh làm rẫy, cắt cỏ tranh về lợp mái nhà Theo những người cao tuổi
ở đảo kể lại: “Trước đây, hàng năm vào mùa gió bấc, hải vật thường tấp vào bãi nồm của hòn Tranh, người ta lập đội Hải Môn để đi lấy Trên hòn Tranh có Miếu thờ một vị tướng đã bảo vệ cho Nguyễn Phúc Ánh khi bị quân Tây sơn truy đuổi, được sắc vua Minh Mạng phong chức “Bắc Quân Đô Đốc Phủ Chưởng Phủ Sư Tạng Thái Bảo Trấn Thủ Quân Chi Thần” Năm 1976, Tôn Thất Quỳ, nha phái viên hành chính của chế độ cũ đặt thêm trong miếu thờ ảnh Vua Gia Long
Đi dọc theo ven biển phía Nam hòn Tranh, ta sẽ đến vũng Gấm, vũng Bàn, mũi Xương cá, vũng Phật…nơi đây có nhiều loại đá bột, có thể khắc tượng rất tốt Tượng Thích Ca Mâu Ni ở Linh Sơn Trà (tức chùa Linh Quang Tự) ở xã Tam Thanh, được ông Huỳnh Khâm tạo bằng loại đá này vào đầu thế kỷ XX Hòn Tranh còn có hang Cò Nước và hang Cò Khô là nơi nghỉ đêm của nhà họ cò Trong hang
Cò Khô có nhiều hốc đá vào mùa gió Bấc, cò thường về đây để sinh sôi nảy nở Nơi
Trang 32đây, năm 1945 dân đảo Phú Quý tập trung vũ khí để chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền.
Dọc theo bãi trước phía Tây hòn Tranh, là một dải cát trắng mịn đậm nét hoang sơ và lãng mạn Du khách đến hòn Tranh để hoà nhập với thiên nhiên, thả hồn theo lời ru của gió, đắm mình trong sự mát dịu của nước biển trong xanh, hoặc
có thể ngẩn ngơ khi hoàng hôn rắc đầy trên sóng Trên đảo hòn Tranh, một hệ thống đường bê tông hóa được làm bao quanh đảo thật kiên cố Động thực vật ở hòn Tranh cũng vô cùng phong phú, dứa dại là nguồn thực phẩm quý bổ dưỡng, hệ thống bụi rậm là nơi cư ngụ cho một số loại động vật trên cạn như: tắt kè, rắn biển, thằn lằn đá, cua dẹp…Đến với hòn Tranh của đảo Phú Quý, du khách có dịp tận hưởng một không khí trong lành, làn nước biển trong xanh, du khách có thể thỏa thích bơi lặn dưới đáy biển chiêm ngưỡng những dãy san hô kỳ thú, ngoài thú tắm biển, du khách còn tự tạo cho mình thú vui đi bắt cua, ghẹ trong các gộp đá ven biển hoặc bắt ốc các loại Đây là những món ăn ngon lạ để du khách nặng lòng với hòn Tranh
Hình 2.7 Bãi biển Hòn Tranh
Những năm gần đây, hòn Tranh đang dần trở thành điểm đầy hứa hẹn về đầu
tư du lịch sinh thái biển của huyện đảo Phú Quý Nhằm khai thác tiềm năng phong phú và đa dạng của hòn Tranh Với cơ chế, chính sách thông thoáng, khuyến khích đầu tư vào du lịch của Trung ương và tỉnh, huyện Phú Quý mong nhận được sự hợp tác của các doanh nghiệp trong và ngoài nước cùng đến với vùng đất đầy hứa hẹn
và hấp dẫn của hòn Tranh Phú Quý
2.4.1.5 Bãi tắm vịnh Triều Dương
Vịnh Triều Dương thuộc thôn Triều Dương (hay còn gọi là làng Triều), nằm địa phận xã Tam Thanh Cách Cảng Phú Qúy khoảng 300m về phía Tây, cùng
Trang 33tuyến liên thông qua Bãi Nhỏ - Gành Hang, là nơi có khoảng cách gần nhất với Hòn Tranh Với bãi cát rộng và trải dài nhất so với các bãi tắm khác trên Đảo, những dải cát trắng mịn và là một bờ vịnh theo đúng nghĩa, lại có hướng nhìn đẹp ra Hòn Tranh, nên nơi đây luôn là sự lựa chọn cho những dịp tụ tập vui chơi, không hẳn là
đi tắm Nhất là khi chiều về, vào những dịp lễ tết hay những ngày rằm trăng sáng luôn thu hút đông mọi người , không chỉ có thế mà nơi đây trở bãi tắm lý tưởng của Phú Quý
Thú vui câu cá gần bờ của những đứa trẻ mùa thổi, tuy gần bờ nhưng nếu kiên trì bạn cũng được một xâu cá kha khá đủ cho bữa cơm chiều ấm cúng Đúng mùa này bãi tắm nhìn như thấy có 2 bãi vậy, (bãi trong - bãi ngoài), thật ra do được bồi đắp bởi eo đất dài tạo nên một bờ Vịnh với những đường cong quyến rũ mang nét đẹp riêng mà không phải bãi biển nào cũng sở hữu được, có lẽ do đó mà nơi đây được gọi là Vịnh chăng? Buổi chiều sẽ thấy những cảnh nô đùa của trẻ thơ Ngoài
ra, nơi đây còn là điểm hẹn lý tưởng của các đôi tình nhân
Địa hình huyện Phú Quý khá đa dạng cho phép tổ chức các loại hình du lịch khác nhau: du lịch thể thao (leo núi, bóng đá, bóng chuyền…), du lịch nghỉ ngơi (giải trí), du lịch tham quan…, làm hấp dẫn khách du lịch trong và ngoài nước Với địa hình đa dạng, Phú Quý còn cho phép các nhà khoa học, sinh viên về đây nghiên cứu, tìm hiểu các dạng địa hình phục vụ cho các đề tài nghiên cứu, luận văn
.2.4.2 Đặc sản du lịch
Phú Quý nằm trong ngư trường Ninh Thuận – Bình Thuận – Bà Rịa – Vũng Tàu, đây là một trong 4 ngư trường lớn của Việt Nam Với những điều kiện thuận lợi cho việc phát triển ngành đánh bắt và nuôi trồng hải sản, nên hải sản là ngành mũi nhọn của huyện Thực hiện các chính sách khuyến khích phù hợp, nhân dân đã đầu tư phát triển các đội thuyền đánh bắt xa bờ Sản lượng hải sản khai thác năm
2005 đạt 14.000 tấn
Động thực vật sinh sống dưới biển có các loại như: đồi mồi, tôm hùm, cua huỳnh đế, cua mặt trăng, hoa đỏ nền vàng, ốc xà cừ ngọc nữ…với nhiều màu sắc dùng làm những mặt hàng mĩ nghệ rất hấp dẫn và có giá trị
Biển Phú Quý có nhiều loại đồn đột (hải sâm) Đồn đột ở đây rất phong phú
về chủng loại: táo, gấm, huyết, mít, lựu, sâu choc, hoa thơm, vú đen và vú trắng Hầu hết các loại đồn đột này có ở cách bờ biển khoảng 1000 m trở ra
Dưới đáy biển Phú Quý còn có san hô San hô định cư thành tập đoàn ở mực nước sâu Lúc còn nhỏ, chúng thường kết tạo thành hình thù giống như những cành cây hoặc gạc hươu, gạc nai màu trắng đục Trong quá trình phát triển, chúng kết
Trang 34chum lại với nhau hết lớp này đến lớp khác tạo thành những khối lớn và trồi lên mặt biển làm nên những hòn đảo san hô
Ở ven biển có các loại rong, như: rong đông sương, rong chân vịt, rong cổ óng, rong lá mơ, rong xà lách, rong câu, rong câu chỉ, rong sa, rong sói (mức)…dùng chế biến thành nhiều loại thức ăn phục vụ cho con người
Ở phía Tây – Tây Bắc, từ vùng biển Tuy Phong kéo dài ra tới hòn Đỏ, hòn Đen, doi Thầy của đảo là một gò lồi (rạn lồi) tập trung những loại khá lớn sinh sống như: mú chiên, mú giấy, hồng heo, hồng then, hồng chúi, hồng chữ…Cùng nhiều loại mực là những nguồn lợi tự nhiên to lớn Ở đây, mực nước không sâu vừa tầm đánh cá, là nơi trú ngụ của nhiều loại cá: mập, cào, xà, cồn, bông, giống…có giá trị kinh tế cao
Bảng 2.3 Sản lượng thủy sản qua các năm ở đảo Phú Quý
(ĐVT: Tấn)
Tồng sản lượng thủy sản 2.009 14.745 17.192 18.313 20.690 2.183Sản lượng thủy sản khai thác 2.009 14.686 17.105 18.195 20.598 22.033
Nguồn: Cục thống kê Tỉnh Bình Thuận
Nằm ở ngư trường lớn của cả nước, Phú Quý có sản lượng thủy sản đứng thứ
4 của tỉnh (đứng đầu là Thị xã Lagi: 55.487 tấn/năm) Đến với Phú Quý bạn sẽ thưởng thức được nhiều món ăn đặc sản Nếu bạn là người thích ẩm thực, đặc biệt
là các loại hải sản thì Phú Quý sẽ chẳng thiếu thứ gì: mực ống, mực thẻ, cá, tôm, hay cá mú chấm mù tạt Chẳng cần tốn nhiều tiền, bạn có thể ra chợ, hoặc để thỏa sức lựa chọn, có thể đến bè nuôi cá hay các công ty hải sản, bạn sẽ có những bữa
ăn, với các loại đặc sản mà bạn yêu thích nhất Nguồn sinh vật phong phú, đa dạng
đã tạo điều kiện để các nhà khoa học nghiên cứu, sinh viên các ngành hải dương học, sinh vật Hoặc các nhà du lịch thích tham gia loại hình du lịch lặn biển, thám hiểm đại dương…
Về con người, một tác giả đã ví người dân Phú Quý “hiền lành như đất” Quả thật như vậy, mặc dù bị ảnh hưởng cơ chế thị trường, nhưng người dân Phú Quý vẫn giữ được vẻ chân chất của người dân biển ngày nào Họ sống hiền lành, chịu thương chịu khó, và đặc biệt hiếu khách Người dân Phú Quý sống với nhau trong tình làng nghĩa xóm, chân tình ấm áp
Các loại hải sản Phú Quý