Ở Việt Nam, hệ sinh thái thảm cỏ biển là một đề tài đã được nhiều sinh viên, học viên, nhiều nhà khoa học quan tâm tìm hiểu từ lâu dưới nhiều góc độ tiếp cận và giải quyết vấn đề cùng phạm vi nghiên cứu khác nhau. Tuy nhiên, nhìn chung thì những nghiên cứu về hệ sinh thái cỏ biển, đặc biệt là tại vùng Biển Đông nước ta, còn rất hạn chế so với các hệ sinh thái biển khác. Hơn nữa, sự quản lý lỏng lẻo của các cơ quan chức năng, đa phần các chất thải sinh hoạt và sản xuất chưa qua xử lý của con người được đổ thẳng ra biển cùng tình trạng đánh bắt, khai thác quá mức nguồn lợi thủy sản bằng các biện pháp tận diệt của đại bộ phận ngư dân miền biển, đã dẫn đến hậu quả là các thảm cỏ biển tại vùng biển Việt Nam đang bị hủy hoại dần, gây ảnh hưởng xấu đến môi trường địa lí Biển Đông.
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Cùng với rạn san hô, thảm cỏ biển cũng là một hệ sinh thái biển đặc trưng củavùng nước nông ven bờ nhiệt đới và cận nhiệt đới Với khả năng ổn định nền đáy,bảo vệ vùng bờ, tổng hợp các chất hữu cơ từ các chất vô cơ, tham gia vào chuỗithức ăn, chu trình dinh dưỡng và là nơi cư trú, bãi sinh sản cho nhiều loài sinh vậtbiển có giá trị kinh tế cao, thảm cỏ biển đóng một vai trò rất quan trọng trong việcduy trì quá trình sinh lý, sinh thái trong môi trường biển và tạo cảnh quan để pháttriển ngành du lịch biển
Ở Việt Nam, hệ sinh thái thảm cỏ biển là một đề tài đã được nhiều sinh viên,học viên, nhiều nhà khoa học quan tâm tìm hiểu từ lâu dưới nhiều góc độ tiếp cận
và giải quyết vấn đề cùng phạm vi nghiên cứu khác nhau Tuy nhiên, nhìn chung thìnhững nghiên cứu về hệ sinh thái cỏ biển, đặc biệt là tại vùng Biển Đông nước ta,còn rất hạn chế so với các hệ sinh thái biển khác Hơn nữa, sự quản lý lỏng lẻo củacác cơ quan chức năng, đa phần các chất thải sinh hoạt và sản xuất chưa qua xử lýcủa con người được đổ thẳng ra biển cùng tình trạng đánh bắt, khai thác quá mứcnguồn lợi thủy sản bằng các biện pháp tận diệt của đại bộ phận ngư dân miền biển,
đã dẫn đến hậu quả là các thảm cỏ biển tại vùng biển Việt Nam đang bị hủy hoạidần, gây ảnh hưởng xấu đến môi trường địa lí Biển Đông
Trước tình hình suy thoái hệ sinh thái cỏ biển ở vùng biển Việt Nam, việcnâng cao nhận thức về giá trị, vai trò và tầm quan trọng của hệ sinh thái cỏ biển chocộng đồng dân cư ven biển, các cán bộ quản lý nhằm tạo tiền đề cho việc tìm ra cácbiện pháp bảo tồn, khôi phục và khai thác sử dụng hợp lý nguồn lợi cỏ biển ở nước
ta là một nhiệm vụ cấp thiết Vì vậy, sau khi kết thúc học phần Địa lí môi trường,mặc dù vốn kiến thức còn hạn hẹp nhưng em cũng xin được đóng góp những quan
điểm và nhận thức của mình về vấn đề này thông qua bài tiểu luận có đề tài “Ảnh hưởng của đặc trưng sinh thái và hiện trạng thảm cỏ biển vùng biển Việt Nam đến môi trường địa lí Biển Đông”.
2 Mục tiêu – Nhiệm vụ - Phạm vi nghiên cứu của đề tài
2.1 Mục tiêu
Tìm hiểu về đặc trưng sinh thái thảm cỏ biển vùng biển Việt Nam
Trang 2 Nghiên cứu hiện trạng một số thảm cỏ biển tiêu biểu trong vùng biển ViệtNam, ảnh hưởng của chúng đến môi trường địa lí Biển Đông, từ đó đưa ra nhữnggiải pháp nhằm góp phần vào công tác bảo tồn, khai thác và sử dụng hợp lý nguồnlợi cỏ biển ở nước ta.
Tập trung tìm hiểu đặc trưng sinh thái thảm cỏ biển, những giải pháp nhằmbảo tồn, khai thác và sử dụng hợp lý nguồn lợi cỏ biển ở vùng biển Việt Nam
Sưu tầm hình ảnh minh họa cho đề tài nghiên cứu
2.3 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
cơ quan chức năng có liên quan Riêng bản thân đang là học viên, vì thời gian vàtrình độ kiến thức còn hạn chế lại không có điều kiện đi khảo sát, tìm hiểu thực tếnên chỉ nghiên cứu dưới góc độ lý luận, tập trung vào các yếu tố cơ bản về đặctrưng sinh thái và hiện trạng một số thảm cỏ biển vùng biển Việt Nam, ảnh hưởngcủa chúng đến môi trường địa lí Biển Đông, từ đó đưa ra những giải pháp nhằm bảotồn, khai thác và sử dụng hợp lý nguồn lợi này
3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Tại Việt Nam, từ năm 1999 đến nay đã có khoảng 60 công trình nghiên cứu về
hệ sinh thái cỏ biển Mặc dù còn nhiều hạn chế so với việc nghiên cứu các hệ sinh
Trang 3thái biển khác ở Việt Nam nhưng đó cũng là những cố gắng nỗ lực đáng ghi nhậncủa các nhà khoa học để giúp cho hệ sinh thái cỏ biển Việt Nam theo kịp với thếgiới
Một số công trình nghiên cứu tiêu biểu đã được công bố tính đến thời điểmhiện tại có thể kể đến là:
Báo cáo khoa học “Quan trắc các thảm cỏ và Dugongs ở Côn Đảo, 2002” của hai nhà nghiên cứu Nguyễn Xuân Hòa và Trần Công Bình được trình bày
1998-tại Hội nghị khoa học Biển Đông 2002 tổ chức 1998-tại Nha Trang
“Tiếp cận quản lý hệ sinh thái cỏ biển Việt Nam” gồm nhiều bài viết rất có
giá trị thể hiện kết quả nghiên cứu của các tác giả Nguyễn Văn Tiến, Lê ThanhBình, Nguyễn Hữu Đại, Trần Hồng Hà, Từ Thị Lan Hương, Đỗ Nam, Đàm ĐứcTiến được Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật xuất bản năm 2004
Báo cáo khoa học “Bước đầu nghiên cứu nguồn lợi cá trong thảm cỏ biển đảo Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang” của tác giả Nguyễn Văn Quân tại “Hội thảo
Khoa học, công nghệ và kinh tế biển phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đạihóa đất nước” vào năm 2006
Công trình nghiên cứu gần đây nhất là đề tài “Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học, sinh thái thảm cỏ biển ven bờ Quảng Ninh, Hải Phòng, Thừa Thiên - Huế, Kiên Giang và đề xuất giải pháp sử dụng hợp lý” Đây là luận án Tiến sĩ
cấp Nhà nước của Nghiên cứu sinh Từ Thị Lan Hương – Chuyên ngành Thủy sinhvật học được Hội đồng đào tạo sau đại học của Viện Nghiên cứu Hải sản tổ chứcbảo vệ vào ngày 30/06/2010
Tuy nhiên, đa phần các công trình nghiên cứu trên đều thể hiện tính chuyênsâu của chuyên ngành Thủy sinh vật học, lại ít được phổ biến rộng rãi nên sinh viên,học viên các ngành học có liên quan khá khó khăn trong việc tiếp cận, tìm hiểu và
sử dụng chúng làm nguồn tài liệu tham khảo Vì vậy, so với những công trình khoahọc trên, đề tài của em mang một nét mới: các vấn đề liên quan đến hệ sinh tháithảm cỏ biển vùng biển Việt Nam sẽ được xem xét, giải quyết và trình bày dưới góc
độ và quan điểm của Địa lí môi trường, tạo điều kiện cho sinh viên, học viên mọingành học có liên quan có thể dễ dàng tiếp thu và vận dụng nhưng vẫn đảm bảo giátrị khoa học và tính thực tiễn cao của đề tài
Trang 44 Hệ quan điểm và phương pháp nghiên cứu
4.1.2 Quan điểm tổng hợp lãnh thổ
Trong đề tài này, hệ sinh thái thảm cỏ biển được nghiên cứu, xem xét mộtcách tổng thể trên địa bàn rộng lớn của vùng biển Đông thuộc chủ quyền Việt Nam,suốt từ Nam ra Bắc Ngoài ra, các khía cạnh liên quan đến nội dung đề tài đượcnghiên cứu trong mối quan hệ với các hiện tượng kinh tế – xã hội khác có liên quan,đảm bảo tính khách quan và khoa học của đề tài
4.1.3 Quan điểm lịch sử viễn cảnh
Quá trình nghiên cứu đặc trưng sinh thái, tìm hiểu hiện trạng thảm cỏ biểnvùng biển Việt Nam được nhìn nhận cả từ quá khứ, đảm bảo giải thích thỏa đángtình hình sinh trưởng của các thảm cỏ biển ở thời điểm hiện tại và dự báo khả năngphát triển của chúng trong tương lai
4.1.4 Quan điểm sinh thái và phát triển bền vững
Các giải pháp bảo tồn, khai thác và sử dụng hợp lý nguồn lợi cỏ biển ở vùngbiển Việt Nam được đề xuất trong giai đoạn sắp tới luôn đảm bảo sự bền vững về cả
ba mặt: kinh tế, xã hội và môi trường Đặc biệt là về phương diện môi trường, cácgiải pháp đề ra trong đề tài này còn có tác dụng bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, giữgìn tính đa dạng sinh học, ngăn chặn sự ô nhiễm và xuống cấp của môi trường biểnViệt Nam
Trang 54.2 Phương pháp nghiên cứu
4.2.1 Phương pháp thu thập tài liệu
Để thực hiện đề tài này, tác giả đã tham khảo một nguồn tài liệu phong phú, đadạng được thu thập từ nhiều nguồn Nhiều tài liệu xuất bản thu thập tại thư viện, các
đề tài nghiên cứu có liên quan cùng những thông tin trên mạng Internet, sách báo…
đã được tác giả sưu tầm và sử dụng
4.2.2 Phương pháp thống kê
Các dẫn chứng và số liệu minh họa cụ thể trong đề tài được thu thập, thống kê
từ nhiều nguồn khác nhau Hầu hết các nguồn này đều rõ ràng và đáng tin cậy nêncác thông tin, số liệu đưa ra trong đề tài là khá chính xác
4.2.3 Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh
Phương pháp này được sử dụng trong đề tài thông qua việc tổng hợp, phântích, xử lý và so sánh rất nhiều thông tin, số liệu từ các nguồn khác nhau về đặctrưng sinh thái và hiện trạng một số thảm cỏ biển tiêu biểu trong vùng biển ViệtNam Đây là cơ sở khoa học cho việc đề xuất các giải pháp nhằm bảo tồn, khai thác
và sử dụng hợp lý nguồn lợi cỏ biển ở vùng biển nước ta
4.2.4 Phương pháp sinh thái
Khi nghiên cứu tiềm năng hệ sinh thái thảm cỏ biển đối với sự phát triển kinh
tế, chúng ta nên xem xét mối quan hệ giữa tự nhiên với con người tới sản xuất, khaithác tài nguyên và phục vụ cho con người, xem xét về sự phụ thuộc của các ngànhkinh tế vào nguồn lợi này, đặc biệt là ngành nuôi trồng và đánh bắt thủy hải sản.Bên cạnh việc khai thác và sử dụng tài nguyên con người còn phải có biệnpháp bảo vệ, cải tạo tài nguyên thiên nhiên, để có thể phát triển bền vững các ngànhkinh tế một cách toàn diện hơn nhưng vẫn giữ cân bằng sinh thái, cân bằng môitrường
4.2.5 Phương pháp biểu đồ – bản đồ
Phương pháp bản đồ là một phương pháp truyền thống của khoa học Địa lý.Các loại bản đồ cho ta biết được đặc điểm địa lý, sự phân bố, phát triển của các đốitượng địa lý được đề cập trong đề tài Phương pháp bản đồ được sử dụng trong một
số khâu của quá trình nghiên cứu đề tài này với các loại bản đồ như bản đồ Cácmiền tự nhiên Việt Nam, bản đồ biển Đông…
Trang 61 5 Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung đề tài gồm có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về đặc trưng sinh thái thảm cỏ biển
Chương 2: Khái quát về vùng biển Đông Việt Nam
Chương 3: Ảnh hưởng của đặc trưng sinh thái và hiện trạng thảm cỏ biểnvùng biển Việt Nam đến môi trường địa lí Biển Đông
Trang 7bậc cao có hoa duy nhất thích ứng với điều kiện sống ở biển
Hình thái cỏ biển được chia thành 4 phần rõ rệt bao gồm thân bò, thân đứng, lá
và rễ bám chặt vào nền đáy Chúng chiếm ưu thế ở vùng nước trong và lặng sóngven bờ biển, đặc biệt ưa thích vùng nước ven chân đảo và trong các vũng vịnh, đầmphá Cỏ biển được tìm thấy ở các vùng nhiệt đới và vùng nước ấm trên thế giới và làmột thành phần quan trọng của hệ sinh thái ven bờ Trên thế giới, chúng gồmkhoảng 60 loài, thuộc 4 họ, 13 chi, chủ yếu sống ở vùng nước nông ven bờ Ở Ấn
Độ – Tây Thái Bình Dương hiện nay thấy khoảng 50 loài, trong vùng Đông Nam Ácho tới năm 1993 mới chỉ thống kê được 16 loài
1.1.2 Thảm cỏ biển
Thảm cỏ biển được mệnh danh là “rừng mưa nhiệt đới dưới biển” vì tính phứctạp về cấu trúc và tính đa dạng sinh học đi kèm, cũng như năng suất sinh học rấtcao Theo tính toán của các nhà khoa học, trung bình 1 ha cỏ biển mỗi năm tạo ra 25tấn lá, đủ cung cấp thức ăn cho 40.000 con cá, và 50 triệu động vật không xương
sống nhỏ, là nơi sinh cư của rùa, bò biển (Dugong dugon) và heo biển Thảm cỏ
biển cùng với rạn san hô và rừng ngập mặn tạo thành bộ ba hệ sinh thái quan trọngbậc nhất vùng bờ
1.1.3 Quần xã sinh vật
Quần xã sinh vật là một hệ thống, một thể tổng hợp có quy luật của tất cả cácsinh vật (bao gồm thực vật, động vật và vi sinh vật) sống trong một khu vực nào đó,gắn bó với nhau về mặt lịch sử, sinh lý, sinh thái, thành một thể thống nhất do tínhchất cộng đồng của các điều kiện sinh tồn
1.1.4 Quần xã thực vật
Quần xã thực vật là một tập hợp có quy luật của tất cả các loài thực vật sốngtrong một khu vực (vùng, phạm vi, lãnh thổ) nào đó, đồng nhất về các yếu tố vật lý
Trang 8(nhiệt độ, ánh sáng, độ ẩm…) do các quan hệ bên trong giữa các loài thực vật đó chiphối dưới ảnh hưởng của điều kiện môi trường và quá trình phát triển lịch sử lâudài.
1.1.5 Hệ sinh thái
Hệ sinh thái là một hệ thống động lực tự nhiên, một tổng thể tự nhiên trongphạm vi một lãnh thổ được xác định, lãnh thổ đó bao gồm toàn bộ các yếu tố tựnhiên (yếu tố vô sinh và hữu sinh) mà trong nó tất cả các yếu tố tự nhiên đều có một
sự đồng nhất tương đối và gắn kết với nhau bằng các mối quan hệ bên trong, cácmối quan hệ đó không chỉ chi phối lẫn nhau, quy định lẫn nhau mà còn phù hợp vớinhau
1.2 Các yếu tố tự nhiên tác động đến đặc trưng sinh thái thảm cỏ biển
1.2.1 Thành phần không khí trong khí quyển
Sự trao đổi CO2 cũng xảy ra giữa khí quyển và đại dương, nước biển chứađựng CO2 lớn hơn 50 lần so với không khí và vì vậy đại dương đóng vai trò điềuchỉnh nồng độ CO2 của khí quyển Hoạt động của núi lửa, quá trình cháy, quá trình
hô hấp của sinh vật, sự phân hủy các hợp chất hữu cơ là nguồn bổ sung khí CO2
thường xuyên cho khí quyển Ngày nay, các dòng khí CO2 tỏa vào không khí cónguồn gốc nhân tác đã tăng lên rõ rệt, làm hiện tượng “Hiệu ứng nhà kính” tăng lên
và đây là một trong những nguyên nhân gây ra vấn đề biến đổi khí hậu trên toàn
Trang 9cầu, ảnh hưởng trực tiếp đến sự suy giảm diện tích các thảm cỏ biển trên vùng biểnĐông Việt Nam
Ngoài ra, lượng Nitơ trong nước biển còn giữ vai trò là chất làm loãng Oxy,điều tiết nhịp điệu oxy hóa và ảnh hưởng đến tốc độ và cường độ của các quá trìnhsinh học diễn ra trong cơ thể cỏ biển
Khí Oxy (O 2 )
Oxy chiếm gần 21 % thể tích khí quyển, là chất có khả năng hấp thu có chọnlọc một số tia bức xạ Mặt Trời góp phần vào việc điều tiết chế độ nhiệt khí quyển.Lượng Oxy hòa tan trong nước biển rất cần cho quá trình hô hấp của cỏ biển, quátrình oxy hóa các chất do cơ thể cỏ biển đồng hóa được Trong quá trình hô hấp, cỏbiển hút Oxy hòa tan trong thành phần nước biển và thải ra khí cacbonic Ngoài ra,Oxy còn cần thiết cho sự phân giải chất hữu cơ, chất thải và sự tàn dư của những cơthể cỏ biển đã chết, qua đó góp phần làm sạch môi trường biển
1.2.2 Bức xạ Mặt Trời
Bức xạ Mặt Trời là dòng vật chất năng lượng đến bề mặt Trái Đất gồm 2 bộphận cơ bản là bức xạ nhiệt và ánh sáng Bức xạ Mặt Trời không chỉ có vai trò quantrọng trong việc ấn định khí hậu và các kiểu thời tiết khác nhau mà còn là nguồnnăng lượng chủ yếu đảm bảo sự sống cho các sinh vật, trong đó có cỏ biển
Sự tương tác của bức xạ Mặt Trời với nước và không khí đảm bảo duy trìnhiệt độ của Trái Đất trong giới hạn mà các loài cỏ biển có thể tồn tại Cường độánh sáng không chỉ có tác dụng điều chỉnh tốc độ hoạt động, sinh trưởng và pháttriển của nhiều loài cỏ biển mà còn ảnh hưởng đến sắc tố và hình thái của chúng.Ngoài ra ánh sáng còn giúp cho cỏ biển định hướng trong không gian, cơ thể có xuhướng nghiêng và phát triển về những khu vực biển có nhiều ánh sáng
Trang 101.2.3 Độ muối nước biển
Độ muối là một chỉ tiêu quan trọng để phân biệt giữa nước biển với nước sôngngòi và nước đại dương thế giới Trong thành phần nuớc biển, ngoài các chất rắnhòa tan, các chất lơ lửng, các chất khí thì độ muối là quan trọng nhất vì muối biểnchiếm tỷ lệ lớn trong các chất hòa tan này (chủ yếu là NaCl) Độ muối trung bìnhcủa nước đại dương thế giới là 35 %o, còn độ muối trung bình của nước biển thấphơn, chỉ khoảng 32 %o Các muối là một nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến mật độ
và tỉ trọng nước biển, do đó cũng ảnh hưởng đến các dạng chuyển động của nướcbiển (sóng, hải lưu) Các dạng chuyển động này tất nhiên cũng sẽ ảnh hưởng đến sựphân bố, tốc độ sinh trưởng và phát triển của các loài cỏ biển sống trong môi trườngbiển
1.2.4 Nhiệt độ nước biển
Nhiệt độ nước biển là một yếu tố rất quan trọng của vật lý đại dương Các đặctrưng của nhiệt độ nước biển đều khác của nước ngọt: điểm sôi là 100,960C, điểmbăng hà là -1,910C và nhiệt độ tỉ trọng cực đại là -3,520C Nguyên nhân của sự khácbiệt này là do các chất hòa tan trong nước biển và nhất là muối biển
Nhiệt độ nước biển có ảnh hưởng nhiều đến các phản ứng hóa học, sinh học vàcác quá trình vật lý khác trong môi trường biển cũng như các quá trình phát triển vàtồn tại của nhiều loài cỏ biển Những nơi có nhiệt độ nước biển vừa phải, ấm áp sẽtạo điều kiện thuận lợi cho các thảm cỏ biển phân bố dày đặc, sinh trưởng và pháttriển tốt Ngược lợi, cỏ biển hầu như không thể thích nghi, sinh trưởng hay pháttriển được ở những khu vực có nhiệt độ nước biển quá lạnh
Trang 11CHƯƠNG 2 KHÁI QUÁT VỀ VÙNG BIỂN ĐÔNG VIỆT
NAM
2.1 Vị trí địa lý
Vùng biển Đông thuộc chủ quyền Việt Nam nằm phần lớn ở trung tâm biểnĐông, một phần mở rộng ra phía Tây và Tây Nam biển Đông, trải rộng trongkhoảng từ 99000’Đ đến 117000’Đ, trải dài từ 6000’B đến 21000’B, diện tích khoảng1.000.000 km2 Phía Bắc giáp bờ biển Nam Trung Quốc, phía Tây là đường bờ biểnViệt Nam, phía Đông Bắc, Đông Nam và Tây Nam nằm trọn trong phần còn lại củabiển Đông
Hình 2.1 Bản đồ chủ quyền vùng biển Đông Việt Nam – Năm 2010
Trang 12những miền núi già được Tân kiến tạo nâng lên làm trẻ lại với các cao nguyên ởnhững độ cao khác nhau Nhìn chung, địa hình trong lưu vực rất phức tạp và đượcchia làm nhiều bậc: bậc núi
cao khoảng 3.000m
(Phanxipang 3.143m, Tả
Yang Phình 3.096m…), bậc
núi trung bình khoảng
2.000m (Pu Sam Sao
2.286m…), bậc núi thấp
(Ba Vì 1.000m, Tam Đảo
1.591m…), tiếp theo là các bậc 500 -700 m, 200 m và cuối cùng là các đồng bằngchâu thổ ở các cửa sông
Hình 2.2 Đỉnh Phanxipang
Đường bờ biển dài 3.260 km, được hình thành do tác động đồng thời củanhiều nhân tố như thủy động lực của sông và biển, vận động Tân kiến tạo Dựa vàoqua trình phát sinh và phát triển, bờ biển ở đây có thể chia làm 2 loại cơ bản: xâmthực và bồi tụ
Đáy biển rộng, sâu và có dạng lòng chảo Thềm lục địa sâu trung bình 65 m,nằm sát bờ, có địa hình tương đối bằng phẳng, nghiêng dần về phía trung tâm Sườnlục địa sâu 200 – 2.000 m, rộng 74 – 250 m, độ dốc lớn Vực sâu nằm ở trung tâm,địa hình khá bằng phẳng, hơi nghiêng về phía Phillippines, sâu hơn 3.000 m Tronglòng biển còn tồn tại hàng nghìn hòn đảo lớn nhỏ, trong đó có 2 quần đảo san hô lớn
là Trường Sa và Hoàng Sa.Các đảo và quần đảo có sựkhác nhau về kích thước, độcao, nham thạch cũng nhưnguồn gốc phát sinh Nhiềuđảo có dân cư sinh sống lâuđời (Cô Tô, Phú Quý, CônĐảo, Phú Quốc…), có đảokhông có dân cư sinh sống
Trang 13Hình 2.3 Đảo ngọc Phú Quốc
2.2.2 Khí hậu
Các đặc trưng khí hậu lưu vực biển Đông khá phức tạp vì phụ thuộc vào nhiềunhân tố: vị trí địa lý, địa hình, bức xạ Mặt Trời, hoàn lưu khí quyển và nhất là hảilưu Nền tảng cơ bản nhất là tính chất nhiệt đới song lại bị nhiễu loạn nhiều vàmang những nét độc đáo, đôi khi khắc nghiệt Khí hậu phía Bắc mang tính chất ánhiệt đới khá rõ ràng, mùa đông chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc Trong khi
đó khí hậu phía Nam lại mang tính chất á xích đạo điển hình Những tháng đầu mùa
hạ, khối khí nhiệt đới biển Bắc Ấn Độ Dương hoạt động mạnh khiến phía Nam cócác cơn mưa giông nhiệt, còn sườn Đông Trường Sơn và khu Tây Bắc chịu hiệuứng phơn khốc liệt với thời tiết rất khô nóng Sau thời gian này, gần như cả nướcchịu ảnh hưởng của gió mùa Tây Nam với những cơn mưa lớn trong suốt mùa hạ
Nhiệt độ
Nhìn chung, lượng bức xạ tổng cộng ở đây khá lớn, khoảng 126Kcal/cm2/năm Nhiệt độ trung bình năm của không khí khá cao: 26,60C và có xuhướng giảm dần từ Nam ra Bắc Biên độ nhiệt năm trung bình ở phía Nam nhỏ hơnnhiều so với phía Bắc
Mưa
Lượng mưa trung bình năm lớn, khoảng 2.000 mm Chế độ mưa có sự phânhóa theo mùa: mùa mưa là các tháng 5 – 10, chiếm khoảng 70 % tổng lượng mưa cảnăm, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau
Các đặc trưng khác
Việt Nam hằng năm chịu ảnh hưởng trực tiếp của khoảng 4 – 5 cơn bão trong
số 9 – 10 cơn bão hình thành trong vùng biển này Mùa bão chính thường xuất hiệntrong các tháng 6 – 10 dương lịch và chậm dần từ Bắc vào Nam cùng với sự tồn tại
và dịch chuyển của dải hội tụ nhiệt đới Ngoài ra, trong vùng còn có hiện tượngsương mù xảy ra ở phía Bắc, số ngày có sương mù bình quân trong năm là 2 ngày
2.2.3 Thủy văn
Do điều kiện khí hậu nhiệt đới nóng ẩm nên đặc trưng thủy văn của khu vựcbiển Đông khá phong phú Trên lãnh thổ Việt Nam có mạng lưới sông ngòi với gần2.500 sông suối lớn nhỏ, mật độ trên 1 km/km2 Tổng lượng nước bình quân nhiềunăm là 840,38.109 m3/năm Module dòng chảy trung bình 35 l/s/km2, hệ số dòng
Trang 14chảy 0,56 Chế độ nước nhìn chung đơn giản với một mùa lũ nối tiếp một mùa cạn
và thời đoạn lũ có sự chênh lệch giữa các vùng Riêng sông ngòi khu vực BắcTrung Bộ có thêm mùa lũ tiểu mãn vào đầu mùa mưa, khoảng tháng 5, tháng 6
2.2.4 Thổ nhưỡng
Do tác động của nhiều nhân tố hình thành, trong đó quan trọng hơn cả là đá
mẹ và khí hậu, đã làm cho thổ nhưỡng ở đây rất đa dạng về loại hình cũng như về
số lượng Điều kiện khí hậu nóng ẩm, nhiệt độ cao, mưa nhiều làm gia tăng tốc độcủa các quá trình phong hóa vật lý, hóa học và sinh học, từ đó giúp cho quá trìnhhình thành đất diễn ra thuận lợi song cũng làm cho đất dễ bị rửa trôi, bị chua hóa vàtrở nên nghèo dinh dưỡng
Phổ biến nhất là đất feralit phát triển trên nhiều loại đá mẹ khác nhau tại cácmiền đồi núi thấp cũng như trong rừng rậm Ở các vùng thấp, hiện tượng kết vonxảy ra mạnh, nhất là ở những nơi lớp phủ thực vật bị tàn phá Loại đất này khôngquan trọng lắm và thường phát triển trên các hải đảo như Côn Đảo, Phú Quốc…Đất mặn (đất sú vẹt) được hình thành ở những vùng ven biển bị ngập nướcthường xuyên do tác động của thủy triều Đất có thành phần cơ giới nặng, chủ yếu
là sét và cát pha với lớp trầm tích dày, đôi khi có lẫn vỏ sò, hến Trong đất chứanhiều muối Cl và SO4 nên không thuận lợi cho cây trồng phát triển Chỉ có các loàithực vật ưa mặn phát triển mạnh trên loại đất này như bần, đước, sú, vẹt, cóc,trang…
Ngoài hai loại đất kể trên cũng còn nhiều loại đất khác do các nhân tố và quátrình khác tạo nên như đất feralit hình thành trên sản phẩm phong hóa của đá vôi,đất phù sa, đất phèn, đất glay…
2.2.5 Sinh vật
Sinh vật trong lưu vực biển, đặc biệt là giới thực vật phát triển vô cùng phongphú với khoảng 14.624 loài thực vật (Thái Văn Trừng, 1963) Nguyên nhân là docác điều kiện tự nhiên thích hợp như khí hậu nhiệt đới gió mùa, địa hình núi nonhiểm trở, nham thạch và thổ nhưỡng đa dạng, lịch sử phát triển lâu dài của tự nhiên
và sinh vật… Sự phong phú của thực vật rừng một phần là do thành phần đặc hữuhình thành và phát triển tại chỗ, song chủ yếu là thành phần ngoại lai vì đây là giaođiểm của 3 luồng thực vật di cư lớn: Trung Hoa từ Đông Nam Trung Quốc, XíchKim – Himalaya, Ấn Độ - Mã Lai Thành phần thực vật ở đây được phân bố như
Trang 15sau: đặc hữu 11,9 %; nhập nội 20,8 %; di cư 67,3 % Đặc biệt, Việt Nam có diệntích rừng ngập mặn đứng thứ hai thế giới sau Brazil
Ở dưới biển có khoảng 11.000 loài (Nguyễn Chu Hồi, 1998), bao gồm cácsinh vật điển hình cho miền biển nhiệt đới như hải miên hình chén, vẹm xanh, traitai tượng, ốc xà cừ, san hô… và nhiều loài theo hải lưu xâm nhập từ biển Nhật Bảnxuống và Ấn Độ Dương lên
2.2.6 Đặc trưng hải văn
2.2.6.1 Nhiệt độ nước biển
Nhiệt độ nước biển Đông khá cao, trung bình nhiều năm là 27,30C Nhìnchung, nhiệt độ nước biển ở phía Nam cao hơn phía Bắc Do ảnh hưởng của tínhchất khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ cực đại lên đến 34 – 350C Nhiệt độ cựctiểu xảy ra phức tạp hơn: phía Nam giá trị này cao hơn 200C, còn ở phía Bắc khoảng
10 – 110C hoặc thấp hơn nữa
Chế độ nhiệt năm trên biển Đông rất phức tạp do tác động mạnh mẽ của cácdòng chảy biển Ở đây có nhiều loại chế độ nhiệt khác nhau: đơn giản, khá phứctạp, phức tạp và rất phức tạp Biên độ nhiệt năm nhỏ, chỉ khoảng 4 – 50C Từ Namlên Bắc và từ biển khơi vào bờ, nhiệt độ bình quân nhiều năm càng có xu hướnggiảm dần, biên độ nhiệt năm tăng dần Càng xuống sâu, nhiệt độ nước biển và biên
độ nhiệt năm càng giảm dần
2.2.6.2 Độ muối nước biển
Độ muối của biển Đông chịu ảnh hưởng khá sâu sắc của các diều kiện khítượng – thủy văn như nhiệt độ, hoàn lưu gió mùa, lượng mưa, lượng nước sông ngòi
và các hải lưu từ Thái Bình Dương vào qua eo Basi và từ Ấn Độ Dương qua eoGaspa
Độ muối bình quân của biển khá cao, hơn 33 %o (ven bờ là 28,7 %o, ngoàikhơi 33,2%o) Độ muối cực đại thường trên 34 %o, độ muối cực tiểu thường thấphơn 2 %o Chế độ muối năm thay đổi tùy theo khu vực Chế độ muối đơn giản(trong năm chỉ có một mùa mặn và trong mùa này chỉ có mộ đỉnh mặn) thường xảy
ra ở các vùng vĩ độ cao ven bờ như Của Ông, Hòn Gai, Hòn Dáu, Cô Tô, BạchLong Vĩ… hay ở miền Nam với vĩ độ thấp như Vũng Tàu, Côn Đảo, Phú Quốc…Chế độ muối khá phức tạp xảy ra dọc bờ biển miền Trung như Hòn Ngư, Cửa Tùng,Phú Quý… Biên độ muối năm khá lớn, khoảng 7 – 8 % song chỉ đáng kể ở vùng
Trang 16ven bờ, nhất là ở các cửa sông Về mặt không gian, nhìn chung độ muối tăng dần từNam lên Bắc, từ Tây sang Đông và tăng theo chiều sâu, biên độ muối thì ngược lại.
2.2.6.3 Thủy triều
Do ảnh hưởng của nhiều nhân tố như lực hấp dẫn của các thiên thể (mà quantrọng là Mặt Trăng và Mặt Trời), đặc biệt là độ sâu đáy biển, kích thước vùng biểncùng các dạng địa hình phức tạp khác như cửa sông, mũi đất, vũng vịnh và hải đảo
đã hình thành nên tính chất phức tạp của đặc trưng triều ở đây Thứ nhất là dạngsóng triều được truyền từ đại dương vào Biển Đông tuy khá kín nhưng vẫn thôngvới với Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương Sự truyền sóng này cũng phức tạp songchủ yếu là từ Thái Bình Dương vào qua eo Basi, bao gồm cả sóng nhật triều và bánnhật triều Thủy triều trong biển Đông mang nhiều nét độc đáo chủ yếu là do sựhình thành và phát triển của các tâm truyền sóng ngay trong biển, đặc biệt là ở cửahai vịnh lớn: vịnh Bắc Bộ và vịnh Thái Lan
2.2.6.4 Sóng biển
Sóng trên biển Đông không lớn lắm và chủ yếu là do gió gây ra vì biển nằm ởtrung tâm miền gió mùa châu Á Tuy vậy, sóng ở đây cũng khá phức tạp do tácđộng của nhiều nhân tố, trong đó quan trọng là các điều kiện khí tượng – thủy văn
và địa chất, địa hình đáy
Sóng gió là loại sóng chủ yếu trên biển Đông và chịu tác dụng trực tiếp củagió Trong mùa gió Đông Bắc, sóng truyền theo hướng chính là Đông Bắc với tầnsuất trung bình khoảng 70 – 75 %, tốc độ gió trung bình khoảng 4 – 8 m/s, độ caosóng tới 1,5 – 2 m, chu kỳ là 6 – 7 giây Trong mùa gió Tây Nam, sóng truyền chủyếu theo Tây Nam với tần suất trung bình là 60 %, tốc độ gió trung bình khoảng 3 –
6 m/s, độ cao sóng khoảng 1 – 1,5 m, chu kỳ là 5 giây
Sóng lừng tồn tại và phát triển quanh năm, là loại dao động không chịu tácđộng trực tiếp của gió Có nhiều nguyên nhân gây ra sóng lừng như sự thay đổihướng hay sự giảm đột ngột của tốc độ gió, do bão… Sóng có đặc điểm là đỉnhkhông nhọn, sườn thoải và dài, độ cao chỉ khoảng 1 – 2 m, chu kỳ 13 – 14 giây,thậm chí tới 1 – 2 phút
Ngoài ra, trên biển Đông còn có sự xuất hiện của sóng bão vào mùa mưa bãohằng năm Thời gian hoạt động của sóng không dài lắm nhưng có độ cao trên 6 m,
Trang 17chu kỳ trên 10 giây, chiều dài bước sóng trên 120 m và đặc biệt, sóng có sức pháhoại ghê gớm, gây nhiều thiệt hại về người và của.
2.2.6.5 Hải lưu
Biển Đông là một biển lớn, lưu vực rộng đồng thời lại thông với Thái BìnhDương và Ấn Độ Dương nên các dòng chảy ở đây cũng khá phức tạp Các nhân tốtác động đến quá trình vận động của nước biển rất đa dạng: thiên văn, khí tượng –thủy văn, địa hình bờ biển và thềm lục địa Do các nhân tố này mà trong biển Đông
đã phát sinh và tồn tại nhiều hệ thống dòng chảy khác nhau mà cơ bản là hệ thốnghải lưu gió và hải lưu trôi, các dòng chảy thẳng đứng bao gồm nước trồi và nướcchìm, triều lưu…
Vào mùa gió Đông Bắc, một phần nước của dương lưu Kuro Sivo chảy qua eoBasi và Đài Loan vào biển Đông, hợp với hải lưu gió Đông Bắc chạy dọc bờ biểnViệt Nam, trong đó một bộ phận quan trọng chảy ra biển Java, phần còn lại tạothành hải lưu trôi ở phía bờ Tây Phillippines Ngược lại, trong mùa gió Tây Nam,nước lại từ eo Flores và biển Java chảy vào biển Đông hình thành dòng chảy trongbiển và đại bộ phận lại hòa nhập vào dương lưu Kuro Sivo
Trang 18CHƯƠNG 3 ẢNH HƯỞNG CỦA ĐẶC TRƯNG SINH
THÁI
VÀ HIỆN TRẠNG THẢM CỎ BIỂN VÙNG BIỂN VIỆT
NAM ĐẾN MÔI TRƯỜNG ĐỊA LÍ BIỂN ĐÔNG
3.1 Đặc trưng sinh thái thảm cỏ biển vùng biển Việt Nam
3.1.1 Thành phần loài
Kết quả điều tra khảo sát cỏ biển trong các năm 1996 – 2003 đã thống kê đượctrong vùng biển Việt Nam 14 loài cỏ biển thuộc 9 chi, 3 họ, bổ sung thêm 5 loàimới cho Việt Nam Số loài này đã vượt gấp đôi số loài do tác giả trước đây(Dawson, Phạm Hoàng Hộ) đã phát hiện (chỉ có 9 loài) Với số loài cỏ biển đã đượcphát hiện này, vùng biển nước ta đã có thể xếp ngang hàng với vùng biểnPhilippines, cho tới nay vẫn được coi là nơi có thành phần loài cỏ biển phong phúnhất trong khu vực Đông Nam Á (16 loài)
Về thành phần phân loại học, chi Halophila có nhiều loài nhất (4 loài), các chikhác chỉ có 1 – 2 loài Nhìn chung, thành phần loài cỏ biển trong vùng biển nước ta,theo các dẫn liệu này, không sai khác với thành phần loài cỏ biển các nước ASEAN(Philippines, Malaysia, Thái Lan, Singapore, Indonesia) Tuy nhiên, xét về số lượngphong phú hơn hẳn các nước Malaysia, Thái Lan, có đường bờ biển dài xấp xỉ ViệtNam (3000 – 4000 km) song chỉ có 10 loài, trong khi Việt Nam có tới 15 loài,tương đương với Philippines có đường bờ biển dài tới 22.500 km (gấp 7 lần nướcta) Đáng chú ý là loài Zostera japonica là loài cận nhiệt đới – ôn đới, thấy cả ở bờbiển Nhật Bản và cả ở vùng phía Bắc Việt Nam, tạo nên nét đặc trưng của thànhphần loài cỏ biển Việt Nam Có thể bước đầu nhận xét: thành phần loài cỏ biển ViệtNam mang tính chất chung của hệ cỏ biển nhiệt đới Đông Nam Á, bên cạnh đó lại
có những yếu tốcận nhiệt đới, saikhác với các nướctrong khu vực
Trang 19Hình 3.1 Loài cỏ Zostera japonica
3.1.2 Đặc trưng số lượng cỏ biển
Cỏ biển có kích thước lớn, có loài như E acoroides lá có khi dài tới 2,5 m.
Mật độ trong các địa điểm nghiên cứu có khi rất cao, từ vài nghìn đến hàng chụcnghìn cá thể/m2 Vì vậy, khối lượng cỏ biển (tươi) có thể đạt từ vài trăm tới vàinghìn g/m2 Rõ ràng, đây là nguồn tài nguyên sinh vật đáng kể của biển nước ta chotới nay còn chưa được đánh giá
Bảng 3.1 Số lượng cỏ biển tại một số vùng biển Việt Nam
Chiều dài thân trung bình
Mật độ (cây/m 2 )
Sinh lượng tươi trung bình (g/m 2 )
12,712,7
300 – 850
68 – 116
11.62512.700
2.290,31.710,6432206,72.028,8
1.366,74.333,3
84 – 656
Vùng biểnphía BắcVùng biểnphía BắcVùng biểnphía BắcVùng biểnphía BắcVùng biểnphía Bắc
Mỹ GiangVùng biểnphía BắcCam Ranh –
Mỹ Giang –Khánh HòaThủy Triều– KhánhHòa
Thủy Triều
Trang 20– KhánhHòa
Đảo PhúQuý
(Nguồn: Bảo tồn đa dạng sinh học biển Việt Nam, Đặng Ngọc Thanh)
Ở vùng biển phía Bắc, các loài cỏ biển thường phát triển tốt vào mùa đôngxuân từ tháng 11 tới tháng 5 – 6 năm sau Ở các đảo xa bờ, cỏ biển phát triển quanhnăm, nhưng tốt nhất vào mùa mưa, độ mặn giảm từ 30%o xuống 25 đến 28%o là độmặn thích hợp Ở ven biển miền Trung, cỏ biển phát triển tốt từ tháng 3 đến tháng
9, tháng 10, mùa mưa độ mặn giảm đột ngột tới 10%o, cỏ biển chết hàng loạt Ởvùng phía Nam, thời gian thuận lợi cho cỏ biển phát triển là từ tháng 3 – 4 đếntháng 9 – 10 Sau tháng 4, nhiệt độ cao cùng triều xuống vào ban ngày làm cỏ biểnchết nhiều Sau tháng 10 là mùa mưa, làm cỏ biển dễ thối rửa
Nhìn chung trên toàn vùng biển, mùa khô với độ mặn nước ổn định là mùaphát triển thuận lợi cho cỏ biển ở ven bờ, nhưng do lịch thời tiết ở hai miền Bắc,Nam khác nhau nên thời gian cụ thể ở mỗi miền cũng có sự khác nhau
3.1.3 Đặc trưng phân bố tự nhiên
Các kết quả nghiên cứu ở nhiều địa điểm khác nhau trong vùng biển Việt Namnhất là vùng biển ven bờ trong các năm 1996 – 1999 có thể cho thấy được phân bốkhái quát của cỏ biển theo các khu địa lý cũng như các điều kiện môi trường thủy
vực khác nhau (xem bản đồ Phân bố rạn san hô và thảm cỏ biển vùng biển Việt Nam và kế cận, phần Phụ lục).
3.1.3.1 Đặc trưng phân bố Bắc Nam
Do đặc trưng khí hậu môi trường biển Bắc, Nam khác nhau ở nước ta, nêncũng như sinh vật biển nói chung, thành phần loài cỏ biển cũng có sự sai khác giữahai vùng biển phía Bắc (từ Quảng Ninh đến Đà Nẵng) và phía Nam (từ Đà Nẵngđến vịnh Thái Lan)
Thành phần loài cỏ biển phía Bắc ít hơn, cho tới nay chỉ mới biết 9 loài, với
đặc trưng cận nhiệt đới – ôn đới thuộc chi Zostera Các loài còn lại đều có phân bố
rộng trong vùng Ấn Độ - Thái Bình Dương, thấy cả ở vùng biển phía Nam, trừ loài
H decipiens
Trang 21Vùng biển phía Nam có thành phần loài giàu hơn (12 loài), với các loài phân
bố từ Đông Phi tới Australia (T ciliatum, C rotundata, C serrulata, S isoetifolium) Các loài còn lại phân bố rộng trong khu vực, thấy cả ở vùng biển phía
Bắc Đáng chú ý là loài cỏ lá dừa
Enhalus acoroides cũng có loài phân
bố rộng, nhưng cho tới nay mới chỉthấy ở vùng biển phía Nam
Hình 3.2 Loài cỏ lá dừa Enhalus acoroides
Ở vùng biển phía Bắc, có một số vùng cỏ biển tương đối tập trung là: vũng HàCối (150 ha), Đầm Hà (80 ha), Cái Quít – Quan Lạn (100 ha), khu đầm Nhà Mạc(500 ha) thuộc Quảng Ninh; Đình Vũ (120 ha), Tràng Cát (60 ha), Cát Hải (100 ha)– Hải Phòng; Đông Long thuộc Thái Bình; Cồn Ngạn, Cồn Lu (30 ha) – Nam Định;Kim Trung (120 ha) – Ninh Bình; Xuân Hội (50 ha) – Hà Tĩnh; vùng Cửa Gianh(500 ha) và sông Nhật Lệ (200 ha) – Quảng Bình; phá Tam Giang – Cầu Hai (1000ha), Lăng Cô (120 ha) – Thừa Thiên – Huế; vùng cửa sông Hàn (300 ha) – Đà Nẵng
và cửa Đại (500 ha) – Quảng Nam
Ở vùng biển phía Nam cũng có một số bãi cỏ biển phân bố tập trung là: đầmThị Nại (200 ha) – Bình Định; đầm Cù Mông (250 ha); đầm Ô Loan (10 ha) – PhúYên; Xuân Tự, Xuân Hà (70 ha) – vịnh Vân Phong, Vạn Ninh; Hòn Khói (100 ha),
Mỹ Giang (80 ha), đầm Nha Phu (20 ha) – Khánh Hòa; Mỹ Hòa (10 ha) – NinhThuận; Vĩnh Hảo (10 ha), đảo Phú Quý (300 ha) – Bình Thuận; Côn Sơn (200 ha) –
Bà Rịa – Vũng Tàu
3.1.3.2 Đặc trưng phân bố theo thủy vực
Sự phân bố của cỏ biển khác nhau theo các sinh cảnh: vũng vịnh nhỏ, đầm pháven biển, vùng đảo, vùng cửa sông, bãi triều và đầm nước lợ
Trang 22Vũng, vịnh nhỏ
Vũng Hà Cối (Quảng Ninh) phía Bắc giáp lục địa, phía Đông án ngữ bởi bánđảo Trà Cổ, phía Đông Nam, Nam và Tây Nam che chắn bởi các dãy đảo VĩnhThực, Cái Chiên Cỏ biển trong vũng Hà Cối phát triển khá tốt, ở đây có một loài cỏ
lươn (Zostera japonica).
Vũng Đầm Hà (Quảng Ninh) là một vũng nhỏ nửa kín, phía Tây và Tây Nam
là đất liền (xã Đầm Hà), phía Đông và Đông Nam là các dãy núi án ngữ (núi Chú,
Cái Nứa, Hòn Mui, núi An…) ở đây có 2 loài cỏ biển là cỏ lươn (Zostera japonica)
và cỏ xoan (Halophila ovalis) phân bố Chúng tồn tại quanh năm, có kích thước(chiều dài) và sinh lượng cao hơn các vùng khác
Vũng Lăng Cô (Thừa Thiên – Huế) dài 16,1 km, rộng 4 km với diện tích 16
km2 Đây là vũng kín, nước mặn, phía Bắc giáp đèo Phú Gia, phía Đông là bãi tắmLăng Cô, phía Tây và Nam là đất liền (ga xe lửa Lăng Cô) Trong vũng Lăng Cô đã
phát hiện 4 loài: cỏ hẹ tròn (Halodule pinifolia), cỏ lươn (Zostera japonica), cỏ xoan (Halophila ovalis) và cỏ bò biển (Thalassia hemprichii)
Hình 3.3 Loài cỏ xoan Halophila ovalis và cỏ hẹ tròn Halodule pinifolia
Đầm phá ven biển
Trong các đầm phá lớn ven biển miền Trung như Thị Nại, Cù Mông, Ô Loan,Thủy Triều, vịnh Cam Ranh, Vân Phong có môi trường thích hợp cho sự phân bố
của cỏ biển, nhất là các loài cỏ lá dừa có kích thước lớn Enhalus acoroides Trong
đầm Thủy Triều và vịnh Cam Ranh cỏ biển hầu như bao phủ khắp các vùng nướcnông trong vịnh với hơn 800 ha, với sự ưu
Trang 23thế của loài E acoroides, lá có nơi dài đến 2,5 m, mật độ nơi cao nhất đến 100 cá
thể/m2
Hầu hết các loài đều được gặp trong môi trường này nhưng do sự thay đổi của
độ mặn, sự phân bố của các loài tùy thuộc vào khả năng thích nghi của chúng với
độ mặn Các loài thích nghi rộng như cỏ xoan (H ovalis), cỏ hẹ ba răng (Halodule uninervis) có thể xuất hiện ở đầu nguồn của đầm nhưng loài T hemprichii chỉ gặp ở
cuối đầm Ngoài ra vào mùa mưa khi độ mặn giảm đột ngột, phần lá bị thối rữanhưng phần thân ngầm vẫn còn sống, mau chóng mọc ra các thân đứng khác khiđiều kiện thuận lợi
Ở xung quanh đảo Hòn Nồm, Hòn La (Quảng Trạch – Quảng Bình) đã phát
hiện 2 loài cỏ hẹ tròn (Halodule pinifolia), cỏ xoan (H ovalis) Ở phía Tây Nam
Hòn Nồm và phía Đông hòn Đá Bàn, cỏ hẹ tròn phân bố trên diện tích rộng, ở độsâu 3 – 4 m
Theo các tài liệu và mẫu vật thu được trước đây, ở đảo Trần (Chàng Tây –
Quảng Ninh) đã biết 2 loài cỏ biển (Zostera japonica, Halophila ovalis); loài sau
này còn thấy cả ở các đảo Cô Tô – Thanh Lân (Quảng Ninh), đảo Long Châu Ở
đảo Bạch Long Vĩ (Hải Phòng) thấy cỏ xoan đơn (Halophila decipiens)
Hình 3.4 Loài cỏ hẹ ba răng Halodule uninervis
Trang 24Hình 3.5 Loài cỏ xoan đơn Halophila decipiens và loài Thalassia hemprichii
Ở đảo Phú Quý (Bình Thuận), cỏ mọc xung quanh đảo trên các bãi san hô chếtbằng phẳng, ngoại trừ vùng phía Đông và Đông Nam bờ biển sụt sâu không có cỏ
Khu hệ cỏ ở đây vắng loài Enhalus acoroides Loài ưu thế là Thalassia hemprichii,
cỏ kiệu tròn (Cymodocea rotundata) và cỏ lăng biển (Syringodium isoetifolium) Sự xuất hiện của loài cỏ (Syringodium isoetifolium) là đặc trưng của khu hệ cỏ ven biển
ở đảo, nhưng vài năm gần đây không tìm thấy
Hình 3.6 Loài cỏ Cymodocea rotundata và loài Syringodium isoetifolium
Ở đảo Côn Sơn – Bà Rịa – Vũng Tàu: trong vịnh Côn Sơn, cỏ biển phân bốchừng 200 ha, thành phần loài rất phong phú mọc từ vùng triều thấp đến sâu hơn 20
m Loài ưu thế là cỏ bò biển (Thalassia hemprichii), cỏ kiệu răng cưa (Cymodocea serrulata, Halodule pinofila, Syringodium isoetifolium) Chúng mọc trên san hô
chết hay trên đáy cát, cát bùn, giữa các lạch Đây là khu vực đang được Vườn quốcgia Côn Đảo bảo vệ, đặc biệt là các loài động vật ăn cỏ biển như rùa và bò biển.Trên các khu vực bãi đẻ chính của rùa biển tại hòn Bảy Cạnh đó có hàng trăm ổ đẻđược bảo vệ Theo số liệu được ghi nhận của Vườn quốc gia Côn Đảo, bãi cỏ phía