Trong bối cảnh đất nước đầy biến loạn chỉ trong vòng 50 năm mà có tới 40 cuộc chiến tranh tương tàn giữa Nam Triều và Bắc Triều, sau đó lại là sự phân chia chính quyền Đằng Trong và Đằng Ngoài, kết hợp với sự du nhập của nền kinh tế hàng hoá tất cả những nhân tố trên tác động một cách sâu sắc tới tình hình kinh tế chính trị xã hội của Việt Nam mà chúng ta đã nghiên cứu ở các bài trước, hôm nay cô và các em sẽ tiếp tục nghiên cứu về tình hình văn hoá để thấy được bức tranh toàn cảnh của Đại Việt trong thế kỉ XVIXVIII.
Trang 1Bài 24: TÌNH HÌNH VĂN HOÀ Ở CÁC THẾ KỈ XVI-XVIII
I Mục đích, yêu cầu
a Giáo dưỡng.
Thế kỉ XVI-XVIII đất nước ta chia làm 2 miền Đàng Trong và Đàng Ngoài lấy vĩ tuyến 17 làm ranh giới nên đã dẫn tới những biến đổi to lớn
về kinh tế, chính trị, xã hội đã đưa tới nhiều cuộc đấu tranh giai cấp gay gắt
Tuy vậy, văn hoá nước ta thời kì này có nhiều điểm mới, phản ánh thực trạng của xã hội Việt Nam đương thời Trong khi văn học nghệ thuật chính thống mất đi những nét tích cực của giai đoạn trước thì văn học học dân gian vẫn phong phú, đậm đà bản sắc dân tộc
Những thành tựu trong văn học và khoa học nghệ thuật
Nêu được nguyên nhân suy thoái của Nho giáo cũng như kể tên một số tôn giáo mới ở thế kỉ XVIIII,
b Giáo dục.
- Bồi dưỡng ý thức xây dựng và bảo vệ tổ quốc thống nhất, tinh thần tự hào dân tộc
- Trân trọng các di sản văn hoá
- Tự hào về năng lực sáng tạo của nhân dân lao động một khi dân trí được nâng cao
c Kĩ năng.
Các kĩ năng phân tích, tổng hợp, khái quát, liên hệ thực tiễn và đánh giá
II Phương tiện dạy học.
- Sách giáo khoa
- Tranh: Tượng La Hán chùa Tây Phương- Hà Nội
Tượng phật bà quan âm chùa bút tháp
Chùa thiên mụ…
- Một số câu ca dao tục ngữ, tác phẩm văn học…
III Tiến tình và phương pháp dạy học
1 Ổn định lớp học, nắm bắt kiểm tra sĩ số lớp.
2 Kiểm tra bài cũ.
Câu hỏi: Em hãy đánh giá vai trò của phong trào nông dân Tây Sơn trong
việc thống nhất đất nước
3 Dẫn nhập vào bài.
Vào thế kỷ XVI - XVIII cùng với sự xuất hiện của những cuộc chiến tranh phong kiến, sự khủng hoảng của nền kinh tế, thì đời sống văn hoá ở nước ta cũng có nhiều chuyển biến Nho giáo tuy vẫn giữ được vị trí thống trị trong xã hội nhưng không còn giữ vai trò độc tôn, Phật giáo và Đạo giáo có phần được phục hồi, các tín ngưỡng dân gian, văn học, nghệ thuật phát triển mạnh Vậy sự phát triển của nền văn hoá được biểu hiện như thế nào, chúng ta cùng nghiên cứu bài ngày hôm nay
Bài 24: TÌNH HÌNH VĂN HOÀ Ở CÁC THẾ KỈ XVI-XVIII
Trang 24 Tổ chức nghiên cứu kiến thức mới.
Kiến thức cần đạt Hoạt động của thầy và trò
I Tư tưởng, tôn giáo.
a Tôn giáo
- Nho giáo từng bước suy
thoái: trật tự phong kiến bị
đảo lộn, do vua Lê ngang
hàng với chúa Trịnh
Trong bài này chúng ta cùng nghiên cứu 3 nội dung lớn:
I Tư tưởng, tôn giáo
II Giáo dục, văn học III Nghệ thuật, khoa học - kĩ thuật Trước hết chúng ta cùng nghiên cứu phần I
GV: Dựa vào kiến thức đã học em nào cho thầy biết Nho giáo là gì? Nội dung của nó?
Nó được du nhập vào nước ta từ khi nào Rút ra nhận xét?
HS suy nghĩ trả lời:
GV nhận xét, chốt ý: Nho giáo là giáo lý của những người có học thức, do Khổng
Tử sáng lập ra
Nội dung của Nho giáo được thể hiện
trong Ngũ Kinh (Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh
Lễ, Kinh Dịch và Kinh Xuân Thu) và Tứ Thư (Luận ngữ, Đại học, Trung Dung,
Mạnh Tử) Quan điểm của nho giáo thể hiện trong Tam Cương đó là các mối quan
hệ vua - tôi, cha - con, chồng - vợ và Ngũ Thường (Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín)
Nho giáo được du nhập vào nước ta cùng với sự đô hộ của phong kiến phương Bắc và phát triển rất nhanh trong khoảng thời gian
từ thế kỷ X - XIII
Trong thời đại ngày nay Nho giáo được chọn lọc và cần gìn giữ để phát triển những mặt tích cực của nó như coi trọng việc học khuyên con người ta phải tu thân, sau khi tu thân phải đem tài ra giúp đời, giữ gìn nét đẹp văn hóa trong lối sống gia đình
Sau này do hạn chế bởi tính cứng nhắc sùng
cổ của nho giáo ràng buộc con người ta vào những khuôn lí khuôn phép chật hẹp, và nó được các triều đại phong kiến sử dụng làm công cụ cai trị
GV: Dựa vào kiến thức đã học ở bài 20,
Trang 3một em cho thầy biết đặc điểm Nho giáo nước ta giai đoạn thế kỷ X - XV?
Từ thế kỉ X - XV nước ta tồn tại hiện tượng tam giáo đồng nguyên, cả ba loại tôn giáo: Nho giáo, Phật giáo và Đạo giáo cùng tồn tại Trong đó, Phật giáo phát triển nhất dưới thời Lý - Trần với nhiều chùa chiền được xây dựng Nho giáo được chọn làm quốc giáo dưới thời Lê Thánh Tông
+ GV: Căn cứ vào SGK em nào cho thầy biết tình hình Nho giáo nước ta thời này có điểm gì nổi bật? Biểu hiện của nó?
Trong các thế kỷ XVI - XVIII, Nho giáo từng bước bị suy thoái Tống Nho tiếp tục được nhà nước quân chủ chuyên chế bảo
vẹ, coi đó là nền tảng ý thức hệ của chế độ phong kiến, là kỷ cương của đời sống xã hội Tuy nhiên, cùng với sự suy thoái của nhà nước quân chủ từ đầu thế kỷ XVI, Nho giáo cũng mất dần tính lợi hại của một công
cụ thống trị tinh thần
Với những biểu hiện:
Trật tự phong kiến bị đảo lộn, vua không ra vua, tôi không ra tôi, vua Lê ngang hàng với Chúa Trịnh Vua Lê chỉ là bù nhìn, quyền lực nằm trong tay chúa Trịnh, trong các buổi thiết triều vua Lê ngồi ngang hàng với chúa Trịnh
+ Tại sao Nho giáo thời kì này lại suy thoái như vậy?
Từ thế kỉ 16 -18 đất nước loạn lạc, chiến tranh liên miên, chính quyền phong kiến trung ương suy yếu, trật tự phong kiến bị đảo lộn Kinh tế ngoại thương phát triển kéo theo sự phát triển của kinh tế hàng hoá
và sự hưng thịnh của các đô thị dẫn đến Nho giáo dần suy thoái
+ Trong khi Nho giáo suy thoái thì Đạo giáo và Phật giáo có đặc điểm như thế nào?Những biểu hiện phục hồi và phát triển của Phật giáo và Đạo giáo?
Trang 4- Phật giáo, Đạo giáo phục
hồi:
+ Chùa quán được xây
dựmg nhiều thêm
+Nhiều vị chúa quan tâm,
góp tiền của sửa sang chùa
Đạo giáo: Chấn võ quán
được xây dựng ở thời Lê
Trịnh
- Thiên chúa giáo: xuất
hiện
+ Nguồn gốc: Từ Trung
GV chốt ý: Phật giáo, Đạo giáo phục hồi: + Chùa quán được xây dựmg nhiều thêm + Nhiều vị chúa quan tâm, góp tiền của sửa sang chùa
+ Nhân dân, quan chức góp tiền của, ruộng đất sửa sang chùa chiền, đúc chuông, tô tượng
+ Chấn Võ quán được xây dựng ở thời Lê -Trịnh
Như chúng ta đã biết thời Lý - Trần, Phật giáo có vị trí đặc biệt quan trọng và phổ biến, Đạo giáo phát triển Đến cuối thề kỉ thứ XIV hai tôn giáo suy dần, đặc biệt thời
Lê Sơ, do sự hạn chế của nhà nước phong kiến nó mất hẳn vị trí của mình Đến thế kỉ XVI - XVIII nó khôi phục vị trí vì đất nước loạn lạc, chiến tranh liên miên mà nhà nước phong kiến khủng hoảng, phân tán Nho giáo và Phật giáo với giáo lý của mình: Phật giáo hướng con người đến điều thiện, “từ
bi, hỉ xả, lục hòa” cứu khổ cứu nạn; Đạo giáo với tư tưởng “vô vi” tất cả thuận theo
tự nhiên, nó phù hợp với nguyện vọng của quần chúng nhân dân nên con người tìm đến Phật giáo và Đạo giáo để mong giải thoát Tuy nhiên, Phật giáo và Đạo giáo không thể có vị trí như thời Lý - Trần
=> Như vậy cả 3 tôn giáo đều suy yếu
Cùng với những tôn giáo lâu đời thì nước ta lúc này xuất hiện một tôn giáo mới Đó chính là thiên chúa giáo.
+ Thiên chúa giáo được truyền vào nước ta bằng con đường nào?
+ Tại sao khi Thiên chúa giáo vào nước ta lại nhanh chóng được chấp nhận như vậy? + Tác động của Thiên chúa giáo với nước ta?
Trong bối cảnh lịch sử thế kỉ XVI - XVIII một tôn giáo mới được truyền vào nước ta,
đó là đạo Thiên chúa giáo, đây là tên gọi của người Việt Nam chỉ những người thờ chúa Giê su Đạo này ra đời ở thế kỉ I tại
Trang 5Đông, phổ biến ở phương
Tây thời kì phong kiến
+ Con đường: Theo con
đường buôn bán của
thương nhân
+ Tác động: số lượng giáo
dân đông, nhà thờ nhiều,
chữ quốc ngữ xuất hiện
b Tư tưởng, tín ngưỡng:
+ Tín ngưỡng truyền thống
được phát huy như thờ
cúng tơ tiên, người có công
Rôma cổ đại Thiên chúa giáo được truyền
bá vào nước ta theo thuyền buôn của các thương nhân Đời sống cơ cực của các tầng lớp nhân dân dưới sự thống trị của các chính quyền quân chủ thời Mạc - Lê Trịnh, Nguyễn cùng với những cuộc chiến tranh tương tàn kéo dài hàng ngàn thế kỷ là môi trường thuận lợi cho đạo này được nhân dân đón nhận
Tuy nhiên, Thiên Chúa giáo không phù hợp với ý thức hệ Tống Nho vì vậy hoạt động truyền đạo của các giáo sĩ bị nhà nước phong kiến Đàng trong- Đàng ngoài cấm đoán
Trong những năm của thế kỷ XVII đã có 21 giáo sĩ vào Đại Việt, nhà thờ TCG được xây dựng ở nhiều nơi
Vào thế kỷ XVII, cùng với sự truyền bá đạo Thiên chúa giáo, chữ quốc ngữ đã ra đời Người có công hoàn thiện và truyền bá chữ quốc ngữ vào nước ta là giáo sĩ người Pháp Alêcxang Đơrốt với quyển từ điển Việt - Bồ
La tinh, nhưng mãi đến thế kỉ XX chữ quốc ngữ mới trở thành chữ viết phổ biến của nước ta
Câu hỏi củng cố
1 Những biểu hiện nào chứng tỏ trong các thế kỉ XVI - XVIII, Phật giáo, Đạo giáo và các tín ngưỡng dân gian khác được phục hồi và phát triển?
2 Thiên Chúa giáo bắt đầu được du nhập vào nước ta khi nào và ở đâu?
3 Cùng với sự du nhập của Thiên Chúa giáo là sự ra đời của chữ Quốc ngữ,
vì sao?
GV: Căn cứ vào SGK em nào cho thầy biết của tình hình tư tưởng nước ta thời này có
gì nổi bật?Kể tên những tín ngưỡng truyền thống của dân tộc ta? Những tín ngưỡng đó còn được lưu giữ không? Biểu hiện?
GV chốt ý: Thờ cúng tổ tiên, tôn thờ thần linh, anh hùng dân tộc là những tín ngưỡng
Trang 6với làng với nước.
+ Miếu thờ lăng tẩm được
xây dựng ở nhiều nơi
=> Đời sống tín ngưỡng
phong phú
II Giáo dục, văn học
1 Giáo dục
* Mục tiêu: Đào tạo đội
ngũ quan lại phục vụ cho
nhà nước phong kiến
* Nội dung:
* Hình thức thi cử:
* Thành tựu:
- Nhà Mạc: tiếp tục phát
triển, tổ chức đều đặn các
kì thi
- Thời Lê Trịnh: GD mở
rộng
+ Đàng trong: Năm 1646
chúa Nguyễn mở khoa thi
đầu tiên mở khoa thi đầu
tiên
- Thời Quang Trung thơ
văn chữ Nôm vào nội dung
thi cử
- Nội dung: GD kinh sử,
KH - TN không được chú
ý
Kinh tế không phát triển
truyền thống của dân tộc, đã ăn sâu vào nếp sống, suy nghĩ của con người Chính vì vậy
mà nó được lưu giữ và phát huy qua các thế
hệ cho đến ngày nay như: Thờ cúng tổ tiên,
lễ hội đền Gióng…được lưu giữ như một tài sản văn hoá
Do khủng hoảng của nền kinh tế, chính trị đã tác động sâu sắc tới tư tưởng, tôn giáo của nước ta còn Giáo dục và văn học
có điểm gì mới chúng ta cùng nghiên cứu phần II
Hoạt đông 2: Cá nhân và cả lớp Thời Lý - Trần, tình hình kinh tế, chính trị
ổn định nên giáo dục phát triển mạnh, nội dung học tập được quy định chặt chẽ, quy chế thi cử rõ ràng Nhưng đến thế kỉ XVI - XVIII do tác động của tình hình kinh tế, chính trị đã ảnh hưởng đến giáo dục của nước ta
Các triều đại phong kiến tiếp tục quan tâm đến giáo dục, duy trì nền giáo dục Nho học
để đào tạo đội ngũ quan lại và củng cố vương quyền của mình
- GV: Nghiên cứu SGK em nào cho cô biết tình hình giáo dục nước ta thời kì này có gì đặc biệt.
+ Thời nhà Mạc? vậy em có biết triều nhà mạc tồn tại bao nhiêu năm?
Nhà Mạc (1527- 1592) 65 năm Thời kỳ nhà Mạc, giáo dục tiếp tục phát triển, tổ chức đều đặc các kỳ thi (Theo lệ, cứ 3 năm
mở một kỳ thi, năm trước thi Hương thì năm sau thi Hội), lấy đỗ 485 tiến sỹ và 13 Trạng nguyên, trong đó có Trạng nguyên
Nguyễn Bỉnh Khiêm (tức Trạng Trình)
và bà Nguyễn Thị Duệ - nữ tiến sĩ đầu tiên
và duy nhất trong lịch sử khoa cử Nho học Việt Nam
+ Thời Lê - Trịnh:
Trang 7Nhiều khoa thi được tổ chức với hơn 50 khoa thi, lấy đỗ tổng cộng 500 tiến sỹ
Trong số những người đỗ đạt cao, có nhiều người tài giỏi và có cống hiến lớn cho đất nước
+ Đàng Trong:
Ở Đàng Trong, hình thức khoa cử xuất hiện muộn và không được chú trọng như Đàng Ngoài Năm 1646, chúa Nguyễn mới mở khoa thi đầu tiên
+ Thời Quang Trung:
+ Nội dung giáo dục là gì?
Thơ văn chữ Nôm được đưa vào nội dung thi cử Tuy nhiên, nội dung giáo dục vẫn chủ yếu là Kinh sử các bộ môn khoa học tự nhiên không được chú trọng
+ Hạn chế?
Nói chung, các triều đại phong kiến ở các thế kỷ XVI - XVIII vẫn tiếp tục duy trì và
có lúc còn mở rộng chế độ giáo dục thi cử nhằm đào tạo đội ngũ quan lại đáp ứng nhu cầu của bộ máy nhà nước ngày một cồng kềnh Tuy nhiên, cùng với sự suy thoái của nhà nước TW tập quyền, chất lượng giáo dục cũng giảm sút dần Những nguyên tắc đạo đức và lễ giáo Tống nho không còn tác dụng, chỉ là giáo lí suông Nội dung giáo dục nông cạn, ngày càng khuôn sáo, không phù hợp với thực tế, việc tổ chức thi
cử nặng về hình thức và gian lận công khai nên chất lượng giáo dục ngày một suy giảm Quan tước đã trở thành một thứ hàng hoá Nhân dân có câu:
Trăm quan thì được tước hầu
Mười quan tước bá ai nào kém ai
Thuyết chính danh định phận một nội dung quan trong của ý thức hệ Nho giáo nhằm bảo vệ tôn ti trật tự của nhà nước phong kiến TW tập quyền và củng cố chế độ đẳng cấp cũng mất dần ý nghĩa Sức mạnh của đồng tiền đã tấn công và làm rạn nứt thành trì lễ giáo Tống nho Triết lí “danh phận”
Trang 82 Văn học:
- Văn học chữ Hán giảm
sút
- Văn học chữ Nôm xuất
hiện và được chú trọng
phát triển: Nguyễn Bỉnh
Khiêm, Đào Duy Từ…
nhường chỗ cho quan niệm :
Còn bạc còn tiền còn đệ tử Hết cơm hết rượu hết ông tôi
+ Bộ môn KH - TN không được chú ý đã ảnh hưởng như thế nào tới xã hội?
Không chú ý tới KH - TN đã cản trở kinh
tế phát triển do tư tưởng: Nội hạ ngoại di, trọng nông ức thương….giá trị giáo dục phai nhạt
Sự suy thoái của Nho giáo đã tác độgn như thế nào đến Văn học, chúng ta cùng tìm hiểu sang phần
GV: Những đặc điểm của văn học thế kỉ X-XV?
HS: suy nghĩ trả lời
Văn học chữ hán giảm sút: Từ thế kỉ X -
XV văn học chữ Hán rất phát triển với các tác phẩm tiêu biểu như: Nam quốc sơn hà, Hịch tướng sĩ, Bạch đằng giang phú…đã có chữ Nôm nhưng chưa phổ biến, nội dung văn học thể hịên tinh thần dân tộc sâu sắc
Văn học chữ Nôm xuất hiện
Ở giai đoạn này, tuy văn học chữ Hán vẫn chiếm ưu thế nhưng văn học chữ Nôm đã xuất hiện hơn trước và giữ vị trí trọng yếu Với những nhà thơ Nôm nổi tiếng như Nguyễn Bỉnh Khiêm, Đào Duy Từ Điều đáng chú ý qua nội dung của tác phẩm là khuynh hướng ca tụng cảnh “thái bình thịnh trị” của văn học thế kỷ XV hầu như biến mất, nhường chỗ cho trào lưu bi quan, bất lực với những trăn trở, nhức nhối của kẻ sĩ
trước thế sự đảo điên Như : Tác phẩm
“Chinh phụ ngâm” của Đặng Trần Côn, tác
phẩm ra đời trong hoàn cảnh giữa thế kỷ
18 khi chiến tranh ở Đàng Ngoài diễn ra liên miên, lên án chiến tranh chia cắt hạnh phúc
Sau “Chinh phụ ngâm”, là tác phẩm “Cung oán ngâm khúc” của Nguyễn Gia
Trang 9- Văn học dân gian nở rộ
với các hình thức ca dao,
hò vè
+ Nội dung: thể hiện
nguyện vọng của quần
chúng nhân dân, mong
muốn sống tự do, hoà bình
Thiều phản ánh nỗi cô đơn, phẫn uất của những người cung nữ, cũng được người đời truyền tụng
Những tác phẩm trên Đề cao hạnh phúc và vai trò của con người, nhất là vai trò phụ nữ
mà những thời kỳ trước chưa đề cập Phụ
nữ trong văn học thời kỳ này là những người tài sắc, có đức hạnh, không chịu sự ràng buộc theo lễ giáo phong kiến, không chấp nhận cảnh vợ chồng chia ly vì chinh chiến… Họ nói lên tiếng nói đấu tranh để được hưởng những quyền lợi tối thiểu nhất
là tự do yêu đương và hạnh phúc Hay tác phẩm của Ng uyễn Bỉnh Khiêm , một
ông quan thanh liêm , chính trực Là
nhà thơ lớn của dt với bài thơ “Cảnh nhàn” Một mai, một cuốc, một cần câu
Thơ thẩn dầu ai vui thú nào
Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ Người khôn, người đến chỗ lao xao Thu ăn măng trúc, đông ăn giá Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao
thể hiện lối sống hoà hợp với tự nhiên, xa vời danh lợi của kẻ sĩ trước những biến động của thời cuộc
Bên cạnh văn học chữ nôm thì văn học dân gian nở rộ? Nội dung của nó?
Cùng với sự phát triển của văn học viết, văn học dân gian thời kỳ này cũng có những bước phát triển mạnh mẽ Phong trào đấu tranh của quần chúng cùng với tài năng của mình, nhân dân đã sáng tạo ra hàng loạt ca dao, tục ngữ, truyện cười, vừa nói lên tâm
tư nguyện vọng của mình vì một cuộc sống
ăm no, tự do, hạnh phúc, vừa đả kích sự mục rỗng của chế phong kiến Những câu
ca dao phản ánh sự phân biệt giai cấp và sự phản kháng của quần chúng bị áp bức:
Con vua thì lại làm vua
Con sãi ở chùa thì quét lá đa Khi nào dân nổi can qua Con vua thất thế lại ra quét chùa
Trang 10III Nghệ thuật và khoa
học - kĩ thuật.
1.Nghệ thuật.
Có 3 loại hình nghệ thuật
- Nghệ thuật kiến trúc điêu
khắc phát triển; chùa Thiên
Mụ, tượng Phật bà quan
âm, tượng La hán
Hoặc những câu phản ánh đời sống trong phủ chúa cùng sự tranh chấp quyền lực trong bộ máy chính quyền:
Trăm quan có mắt như mờ
Để cho Huy quận vào sờ chính cung Đục cùn thì giữ lấy “tông”
Đục long “cán” gãy còn mong nỗi gì?
Tình hình văn hoá của Việt Nam không chỉ được thể hiện ở tư tưởng, tôn giáo, giáo dục, văn học mà còn được thể hiện ở nghệ thuật và khoa học kĩ thuật Vậy nó được thể hiện như thế nào chúng ta cùng nghiên cứu phần III.
GV: Theo dõi SGK cho cô biết nghệ thuật
có phát triển không? Với những công trình nghệ thuật nào?
Chùa Thiên Mụ hay còn gọi là chùa Linh
Mụ là một ngôi chùa cổ nằm trên đồi Hà Khê, tả ngạn sông Hương, cách trung tâm thành phố Huế khoảng 5 km về phía tây, được xây dựng vào năm 1601 dưới thời chúa Nguyễn Hoàng
Truyền thuyết kể rằng, khi chúa Nguyễn Hoàng vào làm Trấn thủ xứ Thuận Hóa kiêm trấn thủ Quảng Nam, ông đã đích thân đi xem xét địa thế ở đây nhằm chuẩn
bị cho mưu đồ mở mang cơ nghiệp, xây dựng giang sơn cho dòng họ Nguyễn sau này Trong một lần rong ruổi vó ngựa dọc
bờ sông Hương ngược lên đầu nguồn, ông bắt gặp một ngọn đồi nhỏ nhô lên bên dòng nước trong xanh uốn khúc, thế đất như hình một con rồng đang quay đầu nhìn lại, ngọn đồi này có tên là đồi Hà Khê
Người dân địa phương cho biết, nơi đây ban đêm thường có một bà lão mặc áo đỏ quần lục xuất hiện trên đồi, nói với mọi người:
"Rồi đây sẽ có một vị chân chúa đến lập chùa để tụ linh khí, làm bền long mạch, cho nước Nam hùng mạnh" Vì thế, nơi đây còn
được gọi là Thiên Mụ Sơn